Các Bài Suy Niệm CHÚA NHẬT 5 PHỤC SINH

Đăng lúc: Thứ năm - 11/05/2017 19:53 - Người đăng bài viết: Ban Truyen Thong

 

CHÚA NHẬT 5 PHỤC SINH – Năm A

Lời Chúa: Cv 6,1-7; 1Pr 2,4-9; Ga 14,1-12

———

DẪN NHẬP

Lời Chúa : “Thầy là Đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6).

Nhập lễ :

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,

Phụng vụ Lời Chúa chúa nhật 5 Phục sinh hôm nay Chúa Giêsu cho chúng ta biết, Ngài là đường, là sự thật và là sự sống dẫn chúng ta đến cùng Chúa Cha, ai qua Ngài sẽ nhận nguồn ơn cứu độ, ai bước đi trong đường nẻo của Ngài sẽ gặp Chúa Cha từ nhân:

Muốn tìm ý Chúa ở đâu,

Hay nguồn sức mạnh cao sâu nhiệm mầu?

Hãy luôn sốt sắng nguyện cầu,

Thành tâm gắn bó Chúa đâu chối từ!

Nguyện cầu cùng Chúa Giê-su,

Ơn thiêng bảo đảm thiên thu vững bền.

Hiệp dâng thánh lễ hôm nay, xin Chúa giúp chúng ta nhận ra lời mời gọi của Chúa, vững tin bước đi trên con đường Chúa đã đi. Ðó là con đường tìm kiếm và thực thi thánh ý Chúa dẫn đưa chúng ta về bến bình an. Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta hãy thành tâm sám hối.

Sám hối :

X. Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa tỏ lòng từ bi của Chúa cho chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa Kitô, Chúa là đường dẫn chúng con đến cùng Chúa Cha. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

X. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

Đ. Lạy Chúa, Chúa tuyển chọn chúng con làm dân riêng để chúng con loan truyền ơn cứu độ của Chúa. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

Kết: Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.

CĐ: Amen.

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang.

Mục lục

1. Nhà Cha Thầy (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Đường Giê-su  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Cuộc trò chuyện thân mật  (Anna Cỏ May, Thanh tuyển sinh MTG.Thủ Đức)

4. Đường Giêsu  (Bông Hồng Nhỏ, Thanh tuyển sinh MTG.Thủ Đức)

5. Thầy là Đường   (Lm. Tôma Nguyễn Hoàng Phượng)

6. Ai biết tôi là biết Chúa Cha  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

7. Sống hiệp thông trong Giáo hội   (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)

8. Thiên Chúa của Đức Giêsu  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

9. Biết và thấy Chúa  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

10. Mệnh lệnh phủ định  (Trầm Thiên Thu)

11. Tại sao Đức Giêsu lại căn dặn các môn đệ “Đừng xao xuyến” (Tu sĩ Jos. Ngọc Biển, SSP)

12. Hãy tin tưởng vào Chúa  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

13. Cùng đích  (Lm. Trần Việt Hùng)

14. Trở nên chân dung đẹp của Chúa Giêsu   (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

15. Người là Con Đường  (AM. Trần Bình An)

16. Con đường Giêsu (JM. Lam Thy, ĐVD)

 

 

NHÀ CHA THẦY

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

Bài Tin Mừng hôm nay thường được đọc trong thánh lễ an táng hoặc thánh lễ cầu hồn. Vào lúc tang thương nhất của kiếp sống nhân sinh, tức là khi đối diện với cái chết, những lời Chúa Giêsu đem lại cho chúng ta niềm hy vọng lạc quan. Dù sống chết âm dương cách biệt, chúng ta vẫn tin rằng người thân yêu của chúng ta không tan biến vào cõi hư vô, nhưng đến nơi Chúa Giêsu đã dọn sẵn. Chúa Giêsu đã dùng một hình ảnh rất ý nghĩa và sinh động, đó là nhà Cha. Nhà Cha bao giờ cũng gợi nên tình cảm thân thương nồng ấm, là nơi trú ẩn an toàn trước những thử thách thị phi của người đời. Nơi nhà Cha, mọi lỗi lầm đều được tha thứ bao dung.
 
Những lời an ủi ngọt ngào của Chúa không chỉ hướng tới những người đã chết, mà còn giúp chúng ta, là những người đang sống, suy tư về ý nghĩa cuộc đời. Chúa nhật tuần trước, hình ảnh người Mục Tử nhân lành khẳng định với chúng ta, trên đường đời dương thế, chúng ta có Chúa Giêsu hướng dẫn, nhờ đó, chúng ta không sợ lạc đường. Người dẫn chúng ta như mục tử dẫn chiên tới suối mát lành và đồng cỏ xanh tươi. Chúa nhật hôm nay, Phụng vụ khẳng định với chúng ta, Đấng Phục sinh chuẩn bị và dọn sẵn cho chúng ta một nơi cư ngụ bền vững trên trời, nơi mà Người gọi là “Nhà Cha”. Đây không phải là một lời hứa suông, nhằm ru ngủ chúng ta giữa những lo toan bận rộn trần thế. Trái lại, đó là một khẳng định chắc chắn. Bởi lẽ Chúa Giêsu từ Chúa Cha mà đến. Người có sứ mạng nói với chúng ta về Chúa Cha. Thánh Gioan đã khẳng định: “Chưa ai thấy Thiên Chúa bao giờ, Con Một Ngài từ cung lòng Chúa Cha đến nói với chúng ta về Chúa Cha” (Ga 1,18). Vì vậy, những gì Chúa Giêsu nói với chúng ta về Nước trời và về Chúa Cha đều lả những điều chân thật và xác tín.
 
Đôi khi chúng ta tự hỏi: cái chết và sự phục sinh của Chúa có liên quan gì đến chúng ta, những người sống hai mươi thế kỷ sau Chúa Giêsu. Kinh Thánh đưa ra cho chúng ta câu trả lời: Đức Giêsu Phục sinh mở lối cho chúng ta về quê trời. Người cũng cho chúng ta một cái nhìn mới mẻ lạc quan về kiếp sống nhân sinh. Con người sau khi sống cuộc đời trần thế, nếu họ sống ngay chính và thánh thiện, được mời gọi về hưởng phúc vĩnh cửu nơi thiên quốc. Đức Giêsu gọi nơi ấy là nhà Cha. Còn hình ảnh nào sinh động và thân thương hơn là nhà Cha, nơi đó mình được sinh ra và lớn lên chập chững vào đời? Sau khi kết thúc hành trình trần thế, theo ngôn ngữ đời thường gọi là sau khi chết, người tin Chúa sẽ được về nhà Cha, là đấng sinh ra mình, là cội nguồn nơi chúng ta hướng về. Nhà Cha là nơi thân thương trìu mến. Nhà Cha cũng là nơi mọi người con, dù hư đốn đến đâu chăng nữa, cũng có một chỗ để cư ngụ và được đón tiếp. Nơi nhà Cha, những người con dù bất hiếu đến mức nào, nếu thành tâm sám hối, đều được tha thứ và yêu thương. Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh thân thương này để nói về đích điểm của người tín hữu. Những ai xa quê đều hiểu nhà Cha có ý nghĩa như thế nào. Đó là nơi mọi người, nhất là khi gặp thất bại trên con đường công danh sự nghiệp, đều mong tìm về, với hy vọng tìm lại nơi trú ẩn bình yên.
 
Chúa Giêsu Phục sinh đã đi trước chúng ta để dọn đường cho chúng ta. Người luôn muốn những điều tốt đẹp cho chúng ta, mặc dầu chúng ta bất xứng và tội lỗi. Thánh Phêrô đã khẳng định điều này (Bài đọc II). Người tín hữu phải luôn tự hào, vì mình là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân tộc thánh thiện, dân riêng của Chúa. Danh xưng và vinh dự này dẫn chúng ta đến bổn phận phải loan truyền quyền năng của Thiên Chúa giữa các dân nước và trong môi trường chúng ta đang sống. Bởi lẽ những ai đã cảm nghiệm được những điều tốt lành Chúa đã làm đối với cuộc đời của mình, thì họ có bổn phận phải tuyên xưng Danh Chúa, đồng thời nói cho môi trường xung quanh rằng: Chúa đã làm cho tôi những điều kỳ diệu. Ngài yêu thương tôi và hôm nay, ngay lúc này, Người đang hiện diện để đỡ nâng tôi trong cuộc đời còn đầy những gian nan vất vả và những thử thách cam go khắc nghiệt trên đường đời.
 
Tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu, cộng đoàn tín hữu luôn thi hành sứ mạng phục vụ. Tác giả sách Công vụ Tông đồ kể cho chúng ta vào thời sơ khai, Giáo Hội đã ý thức được sứ mạng quan trọng này và đã thiết lập bảy phó tế đầu tiên chuyên chăm lo việc đáp ứng những nhu cầu vật chất cho cộng đoàn. Nhờ đó, Giáo Hội vừa rao giảng Lời Chúa, vừa phục vụ những nhu cầu trần thế của con người. Giáo Hội vừa thi hành sứ mạng của Chúa Giêsu khi coi việc loan báo Lời Chúa là ưu tiên số một, vừa đáp ứng những nhu cầu bức thiết của con người mọi thời đại, nhằm nâng đỡ họ về tinh thần cũng như vật chất, để họ sống xứng với phẩm giá con người và nhờ đó, họ nhận ra Đấng Tối cao. Trong suốt hai mươi thế kỷ đã qua, Giáo Hội vẫn luôn trung thành với sứ mạng ấy.
 
Người công giáo là người đang tiến bước trong hành trình về quê trời. Tuy vậy, hướng về quê trời không làm cho họ quên đi những bổn phận trần thế. Bởi lẽ hạnh phúc nước trời chính là kết quả của một cuộc sống yêu thương vị tha và bác ái mà chúng ta thực hiện ờ đời này. Chúa Giêsu Phục sinh và là Mục tử đang hướng dẫn cuộc đời của mỗi chúng ta. Hãy nghe theo lời người. Hãy quảng đại tiến bước theo Người. Hãy chọn Người như lý tưởng hoàn hảo của đời sống chúng ta, để Người dẫn chúng ta đến bến bờ của hạnh phúc. Đó là Nhà Cha, nơi không còn u buồn và tang chế, nhưng là nơi hạnh phúc tràn đầy, là nơi Chúa Giêsu dọn sẵn cho chúng ta nơi nhà Cha vĩnh cửu.
 
Khi nghĩ đến cái chết, người ta thường lo sợ và coi như một điều xui xẻo. Nhưng cái chết là một thực tại gắn liền với kiếp nhân sinh. Không ai tránh khỏi cái chết, dù giàu có và nhiều tiền bạc. Khi đối diện với cái chết, người vô tín đồng nghĩa với sự trở về hư vô. Đối với người tin Chúa, chết là trở về nhà Cha. Chết là sự  biến đổi. Chết là cuộc vượt qua với Chúa Giêsu để về cõi sống. Nói cách khác, sự chết chỉ là sự biến đổi từ tình trạng hư nát hữu hạn sang tình trạng tồn tại vĩnh viễn.
 
Bài Tin Mừng hôm nay cũng được đọc trong lúc chúng ta chuẩn bị mừng lễ Chúa Giêsu lên trời. Việc Chúa về cùng Chúa Cha mang nhiều ý nghĩa. Cụ thể đối với chúng ta là người tín hữu, Chúa về trời mà không xa chúng ta. Trái lại, Người vẫn ở với chúng ta như lời Người đã hứa. Nếu Người có đi xa, là để dọn chỗ cho chúng ta, để nhờ đó, chúng ta được ở cùng Người trong hạnh phúc vĩnh cửu. Đó là niềm hy vọng và là lý tưởng của người tín hữu chúng ta.

Về mục lục

.

ĐƯỜNG GIÊ-SU

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

Băn khoăn về nguồn cội con người, thắc mắc về ý nghĩa cuộc đời, thao thức truy tìm cứu cánh của đời người đã tiếp nối bằng bao thế kỷ mà không có được câu trả lời thoả đáng. Con người bơ vơ giữa ngã ba không biết phải đi về đâu. Khi xuống trần, Chúa Giêsu đã cho ta biết nguồn cội của Người là Đức Chúa Cha, ý nghĩa đời Người là thi hành thánh ý Chúa Cha, và cùng đích đời Người là trở về với Chúa Cha. Muốn về với Đức Chúa Cha, ta phải theo một con đường. Đường ấy có tên là GIÊSU. Đường này chắc chắn an toàn đi đến nơi về đến chốn vì Chúa Giêsu là người mở đường. Người chính là con đường và Người là tâm điểm của đích tới.

Chúa Giêsu là người mở đường.

Đi đâu cũng cần có đường. Không con đường nào tự nhiên có. Phải có người mở đường.

Có người mở ra những con đường vật chất, nhờ có óc phiêu lưu mạo hiểm, có tầm nhìn bao quát, có óc tính toán thực tế.

Có người mở ra những con đường suy tư triết học, sáng tác nghệ thuật, nhờ trí tuệ thông minh xuất chúng, có tư duy sáng tạo, có trực giác bén nhạy, có trí tưởng tượng phong phú.

Nhưng không ai có thể mở con đường lên trời. Đường lên trời hoàn toàn vượt khả năng con người. Phải có Đấng, ấy là Chúa Giêsu, Người đã đến từ Đức Chúa Cha, nay Người trở về cùng Đức Chúa Cha. Người lại hứa dọn chỗ cho ta trong Nhà Cha. Với những thông tin như thế, Người đã cho ta biết Trời chính là Nhà Cha. Quê Trời trở thành Quê Cha. Nước Trời trở thành một cõi đi về thân thương của con người. Con đường đi về ấy, chính Chúa Giêsu đã mở.

Chúa Giêsu là đường.

Không chỉ là người mở đường. Chúa Giêsu chính là con đường. Để về Nhà Cha, ta không chỉ đi theo, đi với mà còn phải đi trong Người. Không chỉ đi trong đường lối, trong tinh thần, nhưng trong chính bản thân Người. Như cành nho gắn liền với thân nho và sống bằng sự sống của thân nho. Như bánh rượu tan hoà vào trong máu thịt trở nên thành phần của bản thân ta. Như bản tính Thiên Chúa kết hợp với bản tính loài người trong bản thân Người. Đi trong Người để ta ở trong Người như Người ở trong Chúa Cha. Đi trong Người để ta mang hình ảnh của Người, để ai thấy ta cũng như thấy Người, như “Ai thấy Thầy là thấy Cha Thầy”.

Chúa Giêsu là đích tới của con đường.

Đi trong Chúa Giêsu là một hành trình dài. Đi suốt cả đời chưa chắc đã tới.

Để đi trong Chúa Giêsu ta phải từ bỏ hết những gì của bản thân mình, kết hiệp trọn vẹn với Người, cũng như Người đã từ bỏ ý riêng để hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa Cha, để trở nên một với Chúa Cha.

Khi đã hoàn toàn từ bỏ hết ý riêng và trở nên một với Người cũng là lúc ta đạt tới đích điểm, là lúc ta gặp được Chúa Cha, là lúc ta ở trong Nhà Cha, là lúc ta đạt tới Quê Hương yêu dấu trên trời.

Lạy Chúa Giêsu là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, xin cho con biết đi trong con đường của Người.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Bạn hãy thử tìm ra những đặc điểm của con đường Giêsu (Vd: hiền lành, khiêm nhường…)

2) Bạn còn xa hay đã gần con đường Giêsu?

3) Bạn có mong đi trọn vẹn trong con đường Giêsu không? Nếu muốn, bạn cần những điều kiện nào nữa?

Về mục lục

.

CUỘC TRÒ CHUYỆN THÂN MẬT

Anna Cỏ may

Trong những thời gian Chúa Giêsu ở với các môn đệ, đã không ít lần thầy trò ngồi lại nói chuyện, đàm đạo thân mật với nhau. Hôm nay, Tin Mừng Gioan sẽ cho chúng ta biết một cuộc đàm đạo thân thiết giữa Chúa Giêsu với các môn đệ. Cuộc đàm đạo này diễn ra sau khi Chúa Giêsu loan báo Giuđa sẽ phản bội. Đây cũng là lời cáo biệt, lời hứa hẹn Chúa Giêsu sẽ quay trở lại với các môn đệ. Trong cuộc đàm đạo có bốn môn đệ là Phêrô, Tôma, Philípphê và Giuđa. Nhưng Tin Mừng chúng ta nghe hôm nay nói về Chúa Giêsu với hai mộn đệ là Tôma và Philípphê.

        Khi nghe Chúa Giêsu nói những lời cáo biệt cùng câu trả lời dành cho ông Phêrô: “ Nơi Thầy đi, bây giờ anh không thể theo đến được, nhưng sau này anh sẽ đi theo” (x. Ga 13,36). Có lẽ các ông lo sợ nên Chúa Giêsu đã an ủi. Ngài dùng những lời nói thân mật, xác tín và đầy tâm tình để làm cho họ vững tin. Ngài nói: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi” (Ga 14, 1- 4).

        Chúa Giêsu tỏ lộ và xác quyết ý định của Thiên Chúa về chỗ ở. Chỗ ở đã có, nhưng chưa dọn sẵn vì công trình cứu chuộc chưa thực hiện. Nhờ sự chết, Ngài dọn sẵn chỗ ở và nhờ sự thăng thiên, Ngài mở cửa Nước Trời, để rồi Ngài lại đến và đem các ông về cùng với Ngài.

        Khi Thầy đang nói, thì ông Tôma vẫn đang bối rối và chia trí, không nghe Thầy nói thì hỏi: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?”. Chúa Giêsu đang nói về việc Ngài về với Chúa Cha nên Ngài trả lời cho ông: “Chính Thầy là con đường, là sự thật, là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (x Ga 14, 5-6 ). Ngài nói cho các ông hay rằng: Đường để các ông đi là những con đường Chúa đã và đang đi, sự thật để các ông tin và sự sống để các ông chia sẻ cho nhau.

Chúa Giêsu là sự sống, là con của Chúa Cha, cùng đồng bản thể với Chúa Cha nên Ngài muốn các ông hiểu rõ hơn nữa. Ngài nói: “Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ giờ, anh em biết Người và đã thấy Người” (x Ga 14, 7).

        Nghe những lời ấy, Philípphê liền hình dung ngay một cuộc hiển dung như ông đã từng nghe. Vì thế ông hỏi Thầy một cách thật thà: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” (Ga 14, 8). Với giọng âu yếm, có chút trách móc, Chúa Giêsu nói: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philipphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha’? (Ga 14, 9). Chúa Giêsu đã công bố cho ông rõ về sự hiệp nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa. Nhưng để chứng minh điều ấy Chúa Giêsu tiếp tục cho các ông biết rằng Ngài không tự mình nói ra, chính Chúa Cha ở trong Ngài, và hãy nhìn và tin vào việc  Ngài làm (x Ga 14, 10-11).

        Chúa Giêsu đã khẳng định và công bố cho ông Tôma rằng Ngài là con đường, là sự thật và là sự sống. Còn ông Philipphê, Ngài nói lên chân lý về sự đồng bản thể của Ba Ngôi Thiên Chúa. Những lời ấy sẽ giúp chúng ta nhìn thấy rõ con đường của chúng ta đi và cho chúng ta thấy sự hiệp nhất nên một của Ba Ngôi Thiên Chúa. Ngoài ra chúng ta thấy sự yếu đuối, đa nghi, thiếu lòng tin và sự hiểu biết của các môn đệ khi ở cùng với Chúa Giêsu. Vậy sao các ông vẫn được Chúa tuyển chọn, yêu thương, dạy dỗ, sai đi và còn chúc bình an nữa?

        Vậy chúng ta đừng lo sợ gì về bản thân chúng ta mà hãy tin vào Chúa. Năng học hỏi tìm hiểu Lời Ngài qua bài Tin Mừng hằng ngày. Vì Ngài mãi luôn dẫn dắt chúng ta đi trên muôn nẻo đường.

        Lạy Chúa Giêsu, Ngài là đường, là sự thật và là sự sống. Xin cho chúng con vững tin vào Lời Chúa, để chúng con đứng dậy hân hoan lên đường về bến bình an là Nước Trời. Amen.

Về mục lục

.

ĐƯỜNG GIÊSU

Bông hồng nhỏ

Trời nắng đổ lửa. Đường xấu, gập ghềnh, khúc khuỷu. Người lữ khách bước đi miệt nhoài. Mặt đường in chiếc bóng liêu xiêu của người lữ hành. Bàn chân trần không chịu được sức nóng của mặt đường sỏi đá.

Trên một hành trình dài, người ta dễ dàng phàn nàn vì tình trạng con đường: đường ổ gà ổ voi, đường sục bùn lấm bẩn, đường gai góc sỏi đá,… Người ta thích một con đường rộng rãi, thênh thang và bằng phẳng hơn là một con đường chật hẹp khó đi.

  1. Đức Giêsu- con đường mới

Đức Giêsu nói: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống.” (x. Ga,14,6a). Con đường Giêsu là con đường như thế nào, con đường ấy có gì đặc biệt để có thể dẫn chúng ta đến sự thật và sự sống? Con đường Giêsu là con đường duy nhất dấn đến Chúa Cha. “Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.” (x. Ga 14,6b).

Nhìn vào cuộc đời của Đức Giêsu, ba mươi năm sống trong gia đình Nadaret, Đức Giêsu âm thầm lắng nghe lời Chúa Cha. Ngài học làm người, lớn lên trong ân nghĩa Chúa. Thời kỳ đã mãn, Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ  và ra đi rao giảng Tin Mừng, mạc khải về Chúa Cha. Ba năm, những niềm vui mà các môn đệ nhận lãnh nhiều quá thể. Danh thơm tiếng tốt của Thầy đồn ra khắp các vùng lân cận. Dân chúng tung hồ Thầy, muốn đặt Thầy làm vua. Cuộc đời các ông sẽ lên như diều gặp gió. Đời người đến đây xem như đã công thành danh toại. Phải chăng, đây chính là con đường mà Thầy Giêsu nói đến?

Theo chân Thầy, chúng ta ngậm ngùi trong những lần Thầy khóc thương trước bao cảnh đời lầm than khốn khó. Những ngày cuối đời, Thầy bước đi trên một con đường gần như đơn độc, cô đơn và hãi hùng quá. Các môn đệ không ai hiểu được để chia sẻ với Thầy những nỗi niềm. Con đường ấy chỉ mình Thầy bước đi. Khi báo trước ngày mình chịu nạn, Đức Giêsu nói rõ, không úp mở. Các môn đệ ai nấy buồn rầu hết sức nhưng chẳng ai dám lên tiếng hỏi. Có kẻ đứng ra can ngăn Thầy: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải những chuyện ấy.” (x. Mt 16,22).  

Nhưng đường Thầy đi, Thầy nhất định sẽ bước đến cùng. Bởi Thầy yêu họ đến cùng. Đường hiến tế trên đồi Canvê, Thầy chịu đóng đinh để cứu chuộc nhân loại tội lỗi. Đường Thầy đi là đường tình yêu hiến tế.

  1. Trải nghiệm trên đường

Trước cái chết tức tưởi của Thầy, các ông buồn đau, sợ hãi. “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.” (x. Ga14,1). Tương lai tối mịt, giấc mơ ngày nào như bong bóng vỡ tan tành, tựa làn khói tan đi. Đức Giêsu biết trước các môn đệ sẽ xao xuyến. Trước khi mọi việc xảy đến, Đức Giêsu an ủi và dạy dỗ các ông.

Theo chân Thầy là chấp nhận từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. Con đường hẹp hứa hẹn những vấp ngã, nhưng theo gương Thầy, dù ngã quỵ nhiều lần các ông vẫn vực dậy để bước tiếp.  Đường tình yêu là đường hiến tế, tha thứ và yêu cho đến cùng. Đó là con đường mà chính Thầy đã đi qua. Chính Thầy là con đường của sự thật và sự sống. Nơi Thầy, chúng ta được dấn đến Chúa Cha. “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha.” (x.Ga14,9b).

  1. Dấn thân cho con đường sứ vụ

Muốn bước đi trên con đường Giêsu đồi hỏi mỗi chúng ta phải bước vào cuộc khám phá khuôn mặt của Ngài. Theo Chúa, chúng ta biết trước con đường mình sẽ đi chắc chắn sẽ gặp những thách đố. Bởi thế gian thích bóng tối còn những ai bước theo Thầy sẽ đi trong ánh sáng. Ngày xưa Chúa chịu thử thách trăm bề nhưng tình yêu Chúa Cha nơi Ngài đã vượt lên trên mọi trở ngại và Thầy đã chiến thắng tử thần. Sự chết chẳng có quyền chi trên Người. Với một tâm hồn đầy lửa yêu mến Chúa và có “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi” (2 Cr 5, 14), chúng ta sẽ hiên ngang làm chứng cho Nước Trời. Dù ở thời đại nào, người môn đệ cũng được mời gọi từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Thầy. Bước vào cuộc hiệp nhất, nên một  với nhau như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha. Như thế, bước trên đường sứ vụ, dù làm việc gì, chúng ta cũng hướng về Thiên Chúa và làm vinh danh Chúa hơn. Để đạt được điều đó, mỗi chúng ta phải nỗ lực lắng nghe và thực hành lời Chúa mỗi ngày trong cuộc sống. Ai sẵn sàng bước đi trên con đường Giêsu, người ấy sẽ đến đích là Nhà Cha dấu yêu.

Lạy Chúa, đường Giêsu đòi hỏi chúng con can đảm theo chân Thầy. Xin Chúa gia tăng đức tin và lòng mến cho chúng con. Nếu có khi nào chúng con ngã gục, xin Chúa dìu chúng con lên và dấn bước chúng con. Amen.

Về mục lục

.

THẦY LÀ ĐƯỜNG

 Lm Tôma Nguyễn Hoàng Phượng

            Chúa Giêsu dạy: “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”.

  1. Đường đi là phương tiện liên kết mọi người lại với nhau. Đường đi còn là phương tiện để mọi người gặp gỡ nhau. Sống trên mặt đất, loài người vạch ra không biết bao nhiêu là đường đi: Từ những con đường mòn nhỏ bé, quanh co, xuyên qua rừng, băng qua núi như đường mòn Hồ Chí Minh, đến những con đường cái quan, đường sa lộ: rộng thông thanh, tráng nhựa nhãn bóng. Ngoài ra, con người còn vạch ra những con đường mơ hồ, mênh mông ngoài đại dương, hay trên không trung. Con đường nào cũng có khởi điểm và đích điểm.

            – Loài người chúng ta là khách bộ hành, là khách đi đường. Là lữ khách đi trên đường trần. Bước lên đường, người đi phải ngoan ngoãn, phải tín nhiệm con đường mình đi.

            ∙ Ngoan ngoãn: Vì khi đi, khách bộ hành không được rẽ ngang mà phải đi theo hướng chỉ của con đường.

            ∙ Tín nhiệm: Vì khi đã chọn đứng đường hướng, thì chắc chắn théo nào ta cũng tới đích.

            – Con đường tuy câm nín, không nói năng chi, nhưng rất oai vệ và có vẻ độc tài. Dường như con đường nào cũng nói với khách bộ hành rằng: “Bao lâu ngươi còn ở lại trên con đường, bấy lâu ngươi được an toàn. Bao lâu ngươi rẽ trái hay rẽ phải, ngươi sẽ bị lạc lối và không bao giờ tới đích”.

  1. Chúa Kitô là con đường, vì Chúa muốn liên kết đất với trời, liên kết loài người với Thiên Chúa. Từ khi loài người phạm tội, con đường dẫn tới hạnh phcú vinh quang, con đường tới Thiên Chúa bị phá hoại, bị đứt quãng. Chúa Kitô đã tái lập giao thông, đã trở thành “chiếc cầu” làm cho con đường về nước trời được mở lại như cũ. Ai muốn đến với Thiên Chúa, muốn về quê trời đều phải đi con đường đó. Con đường Chúa là con đường độc đạo, tuy gồ ghề, chật hẹp, nhưng dẫn tới đích. Vì Chúa Giêsu đã từng dạy: “Đường chật hep và nhiều chông gai là con đường đưa ta lên quê trời hạnh phúc, còn con đường rộng thênh thang và nhiều hoan lạc, là con đường đưa ta đến chốn diệt vong”.
  2. Là khách bộ hành, con người được tự do chọn một trong hai con đường vừa nói:

            – Đa số người đời chọn con đường rộng thênh thang, vì con đường này dễ dãi, hợp với tính ươn lười của con người. Đi trên con đường này, không phải khó khăn vất vả. Nhưng ta đã biết tử thần luôn luôn rình rập trên con đường rộng thênh thang. Từ ngày người ta làm ra những xa lộ, hàng ngày biết bao tai nạn xe cộ đã xảy ra và giết chết hàng ngàn, hàng vạn người trên các trục giao thông ở khắp thế giới.

            – Ở thành phố Nữu Ước, nước Mỹ, một đêm lễ Chúa Giáng Sinh, chết tới 2000 người về tai nạn xe cộ. Riêng ở xa lộ Biên Hòa, không ngày nào không xảy ra tai nạn đụng xe chết người. Đúng như lời Chúa Giêsu phán: “Đường rộng thênh thang dễn con người đến chốn diệt vong, đến chỗ chết, nhất là chết đời đời trong hỏa ngục”.

            – Nhưng có một số người khôn ngoan, can đảm, chọn con đường gồ ghề, chật hẹp. Con đường này là con đường Chúa đã chọn, đã đi. Ai đi con đường này phải bỏ mình, vác thánh giá hằng ngày theo chân Chúa, phải khép mình vào kỷ luật, phải giữ giới răn Chúa, phải sống hy sinh vất vả, nghèo khó, phải chịu những đau khổ thử thách ở đời này. Nhưng con đường này đưa tới chiến thắng, đi tới hạnh phúc bất diệt, đưa tới nước trời.

            – Nhận mình là đường, Chúa Kitô muốn chúng ta đi theo con đường của Chúa. Đường của Chúa là đường chật hẹp, hy sinh. Đường của Chúa là đường sống khó nghèo, khiêm nhường, bác ái. Chỉ đi theo con đường Chúa đã vạch mới dẫn con người tới hạnh phúc bất diệt.

            Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường đi của Chúa, xin hướng dẫn con bướ theo nước bước của Ngài.

Về mục lục

.

AI BIẾT TÔI LÀ BIẾT CHÚA CHA

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện”, thiết tưởng lời thỉnh cầu của tông đồ Phi-lip-phê cũng đồng thời diễn tả ước nguyện sâu xa của mỗi người chúng ta, các Ki-tô hữu hôm nay. Như biết bao người ‘có đạo’ khác, tôi vẫn đinh ninh rằng: mình thật sự tin có Thiên Chúa, và mình có trách nhiệm phải nói, phải chứng minh, phải thuyết phục để mọi người cùng tin rằng: thật sự có Thiên Chúa, Thiên Chúa thực sự hiện hữu. Thế nhưng thú thật, khi làm công việc đó tôi thấy mình cần phải là một triết gia, một nhà lý luận hơn là một tín hữu; đồng thời cũng nhận ra rằng, cho dầu có học hành thông thái tới mấy chưa chắc mình có thể thuyết phục nổi ai. Nhiều người trong chúng ta đã từng có lần tự vấn: có thật tôi biết, tôi tin cách xác thực Thiên Chúa, như thể tôi đã tận mắt thấy Ngài chưa? Trong thâm tâm biết bao người trong chúng ta vẫn thầm ấp ủ mộng ước một ngày nào đó mình sẽ được ‘thấy’ Thiên Chúa, qua một phép lạ nhãn tiền chẳng hạn, khi Ngài tỏ lộ cách công khai quyền năng và thượng trí khôn ngoan của Ngài…

Có thể cũng tương tự như thế đối với các môn đệ, cụ thể hai tông đồ Tô-ma và Phi-lip-phê; mong muốn được biết cách sâu hơn về Thiên Chúa đã là ước vọng hai ông ấp ủ từ lâu, đồng thời cũng là mục đích của việc các ông đi theo Thầy Giê-su. Chắc chắn các ông đã từng được nghe Thầy nói nhiều về Chúa Cha; tuy nhiên giữa những gì Thầy trình bày và khái niệm các ông có về Đức Chúa Cựu Ước xem ra chẳng mấy ăn khớp với nhau. Trong thâm tâm các ông vẫn mơ ước một ngày nào đó Đức Giê-su tỏ cho các ông được thấy Chúa Cha trong quyền uy sáng láng, như hình ảnh các ông vẫn có về Đức Chúa. Các ông đinh ninh rằng, chỉ như thế các ông mới cảm thấy toại nguyện: “xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha!

Đức Giê-su tỏ thái độ vô cùng kinh ngạc trước lời thỉnh nguyện của các ông: “Tại sao anh lại nói: ‘Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha’?” Quả thật, Người ngạc nhiên có lẽ vì vẫn yên trí rằng: sự hiện diện trần thế của Người hiển nhiên là để mạc khải Chúa Cha, rằng Người chính là Lời của Cha. Người coi như minh nhiên việc các môn đệ phải hiểu được điều căn bản đó. Vậy mà cho tới giờ này các ông vẫn hoàn toàn mù tịt! “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà… anh chưa biết thầy ư? Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người… Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”.

Cuộc đối thoại trên cho chúng ta thấy: có rất nhiều cách để một người tin hoặc biết về Thiên Chúa; sơ đẳng nhất vẫn là người ta mơ hồ biết rằng có Thiên Chúa; sau đó người ta có thể biết thêm một vài yếu tính của Ngài như Ngài tự hữu, Ngài tạo dựng trời đất, Ngài quyền năng, thông minh, thánh thiện vô cùng… Đầu óc suy luận của con người có thể dẫn chúng ta tới một niềm tin, hay hiểu biết về Thiên Chúa đại loại như thế (các tôn giáo khác đều ít nhiều tin như vậy). Thế nhưng có một thứ ‘biết’ khác, thứ biết mà Tin Mừng sử dụng, đó là biết trong tương quan sống động và mật thiết mà chỉ có tiếp xúc trực tiếp mới có. Thứ ‘biết’ này nhất thiết cần ‘chạm tới’, hay ít ra qua một cầu nối cụ thể…, và như thế thì chỉ duy nhất một mình Giê-su Na-da-rét, Đấng từ cung lòng Thiên Chúa mà đến, mới có thể cho biết được: “Không ai đã lên trời (để mà thật sự hiểu biết được Thiên Chúa là ai), ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3:13). Thiên Chúa mà người Ki-tô hữu tin khác xa một trời một vực với Thiên Chúa của triết học, hay của các tôn giáo khác. Vì thế cho nên, dầu không phủ nhận những khái niệm về Đức Chúa Gia-vê của người Do Thái đương thời, Đức Giê-su, bằng lời giảng dạy nhưng nhất là bằng chính cuộc sống và cái chết thập giá của Người, đã tỏ lộ cho các môn đệ thấy một Thiên Chúa vô cùng độc đáo: “Ngài yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một… Ngài không lên án thế gian… nhưng muốn thế gian được cứu độ” (Ga 3:16-17).

Trong cụ thể, một linh mục như tôi đã bao giờ được ‘thấy’ Thiên Chúa như thế chưa, hay ít ra tôi đã có ‘hiểu biết’ nào về Người?;  Cái ‘biết’ nào chi phối cuộc sống tôi và làm nền tảng cho những gì tôi trình bày cho giáo dân trong hướng dẫn mục vụ? Rất có thể hình ảnh và hiểu biết mà tôi có về Thiên Chúa, sau bao năm tu học, vẫn quá nặng tính triết lý hay thần học, hay quan niệm cũ của Cựu Ước, chứ chưa thực sự là diện mạo mà Đức Giê-su rắp tâm trình bày? Tôi vẫn thấy một Đức Chúa hùng mạnh, thưởng phạt công minh vừa dễ hiểu lại vừa thiết thực hơn, nhất là trong việc dạy cho các tín hữu làm lành lánh dữ…; thậm chí đôi lúc tôi còn dám đối kháng chính Đức Giê-su với Cha của Người khi khảng định: cái chết của Người trên thập giá là để làm nguôi cơn thịnh nộ công thẳng của Chúa Cha?! Chính cái lô-gích hạ đẳng, lối suy nghĩ cách nhân cách hóa Thiên Chúa đó đã bị Đức Giê-su thẳng thừng gạt bỏ, vì nó phá vỡ nội dung Tin Mừng của sứ điệp cứu độ: Người và Chúa Cha chỉ là một, không thể bị chia cắt hay đối kháng nhau; “Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy”. Khi khảng định Thiên Chúa là Đấng từ bi và giầu lòng thương xót, chúng ta không ngụ ý chỉ nói riêng về Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã chết trên thập giá để cứu độ chúng ta! Cái chết đó là một khảng định hùng hồn rẳng, chính Thiên Chúa – toàn bộ Thiên Chúa Cha, Con và Thánh Thần, là giầu lòng thương xót, là từ bi nhân hậu. Ta nghe biết điều đó qua những lời giảng dạy của Đức Giê-su; ta đã thấy điều đó trong cái chết Thập Giá tự hiến của Người, và ta gọi điều đó là Tin Mừng, là niềm tin cất chúng ta khỏi mọi nỗi sợ hãi, kể cả trong trường hợp ta có lỗi phạm và sa ngã vào những tội tày trời. Thấy và biết một Thiên Chúa như thế sẽ làm cho toàn bộ đời sống ta trở thành một niềm vui bất tận, cho dầu vẫn tồn tại nơi bản thân những yếu đuối và thất bại nặng nề. Tông đồ Phao-lô, trong chương 5 thư gửi các tín hữu Rô-ma, khảng định với chúng ta rằng: niềm tin Ki-tô hữu chính yếu hệ tại ở điều này.

Như thế trong tư cách Ki-tô hữu, tôi không cần cầu xin được thấy Chúa Cha…, vì Đức Giê-su đã cho tôi thấy tất cả rồi. Người cho tôi được thấy tỏ tường bộ mặt thật của Thiên Chúa qua Thập Giá  và cái chết tự hiến của Người, và đó là bộ mặt rất thực của một Thiên Chúa nhân hậu, từ bi và cứu độ!

Lạy Chúa từ nhân, kể từ lần được thoáng gặp Chúa qua biến cố chết lâm sàng tại Mongolia vào cuối năm 2007, con mới thực sự được‘thấy’ Chúa, trước hết như một Thiên Chúa vôcùng nhân từ và hay thương xót. Lẽ ra con đã phải nhận biết điều này từ lâu trước rồi, từ những năm tháng khi con học giáo lý và thần học. Tạ ơn Chúa vì đã cho con được‘thấy’ với cảm nghiệm, Chúa Cha là như thế, và điều đó đã đủ cho con lắm rồi. Con cầu xin để tất cả các Ki-tô hữu đều cùng con có sự hiểu biết qua cảm nghiệm rằng: Thiên Chúa của Đức Giê-su là như thế; để niềm vui của chúng con được nên trọn vẹn, và để chúng con vui mừng lên đường loan báo Tin Mừng về một Thiên Chúa yêu thương cứu độ cho hết thảy mọi người. A-men.

Về mục lục

.

SỐNG HIỆP THÔNG TRONG GIÁO HỘI

Lm. GB. Trần Văn Hào

Chúa Kitô Phục sinh đã khai sinh Hội thánh, nhiệm thể của Ngài. Chúng ta vẫn tuyên xưng đức tin : Tôi tin Giáo hội Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền. Đây là 4 thuộc tính căn bản của mầu nhiệm Hội thánh. Trong các Chúa nhật Phục sinh, Giáo hội chọn các bài đọc Lời Chúa trong phụng vụ để dẫn đưa chúng ta đi sâu vào cảm thức về Giáo hội (Sensus Ecclesiae). Ý thức thuộc về Giáo hội giúp chúng ta kiện cường đức tin và cũng là cách thế thể hiện niềm tin vào Đấng Phục sinh một cách rõ nét nhất.

Tôi tin Giáo hội Duy nhất.

Trong bài đọc 1, tác giả sách Tông đồ Công vụ thuật lại một số hoạt động của cộng đoàn Giê-ru-sa-lem tiên khởi với con số tín hữu khá đông, gồm cả những người gốc Do Thái và những người gốc Hy Lạp. Công việc mỗi lúc một nhiều, nên 12 Tông đồ không thể quán xuyến hết, nhất là cần có người đảm trách việc phân phối lương thực hằng ngày. Cuối cùng, các Tông đồ đã chọn thêm 7 phó tế, đặt tay trên các ông để các ông thi hành tác vụ. Trong thư gửi Giáo đoàn Êphêsô chương 4, Thánh Phaolô đã liệt kê ra 5 đặc sủng trong Hội thánh : Ơn làm Tông đồ; ơn làm Ngôn sứ; ơn đi Rao giảng Tin mừng; ơn làm Người lãnh đạo và ơn Dạy dỗ. Nhưng tất cả những đặc sủng ấy đều hợp nhất trong đức tin, để mọi người với những tác vụ khác nhau, đều gắn kết nên một với Đức Kitô là đầu (Eph 4,11-13). Vì vậy, Giáo hội vẫn luôn là một thực thể duy nhất, không thể bị chia cách, cho dù trong quá khứ, Giáo hội hữu hình vẫn có những vết thương của sự rạn nứt. Công đồng chung Vatican II khi nói về Giáo hội đã dùng thuật ngữ ‘Hiệp nhất trong dị biệt’ (Unity in Diversity). Nét giáo lý này cũng được thánh Phaolô nói tới rất nhiều trong các lá thơ Ngài viết, ví dụ trong thơ gửi giáo đoàn Galat, Thánh nhân viết : “Anh em đều thuộc về Đức Kitô, không có chuyện phân biệt Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà, nhưng tất cả chỉ là một trong Đức Kitô (Gal 3,28).

Đọc lại sách Tông đồ Công vụ, chúng ta cũng nhận ra những dị biệt trong cộng đoàn đầu tiên tại Giêrusalem. Hai Tông đồ trưởng là Phaolô và Phêrô cũng có những xung khắc trong quan điểm, nhất là về việc có cần phải cắt bì hay không cắt bì. Công đồng đã được triệu tập, và chính Thánh thần đã hóa giải những khác biệt để tất cả trở nên một lòng một trí với nhau. Thánh thần là sự sống của Đấng Phục sinh, và Thần Khí luôn hoạt động trong Hội thánh để nối kết mọi người trong một nhiệm thể duy nhất.

Tôi tin Giáo hội Thánh thiện.

Đây là tín điều thứ hai nói về Hội thánh. Trong phụng vụ hôm nay, Giáo hội trích đọc lại lá thư thứ nhất của Thánh Phêrô. Ngài mời gọi các tín hữu hãy trở nên những viên đá sống động để xây nên ngôi đền thờ thiêng liêng, vì Thiên Chúa đã chọn chúng ta để hình thành nên hàng tư tế thánh, dâng của lễ lên Thiên Chúa. Thánh Tông đồ viết : ‘Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa (1P 2,9)’. Đức Giêsu là đầu và chúng ta là chi thể. Ngài thông truyền sự thánh thiện của Ngài cho tất cả chúng ta, bao lâu chúng ta còn gắn kết với Ngài như cành nho tháp nhập vào thân cây nho. Vì vậy, thánh Phaolô vẫn quen gọi các tín hữu là các ‘Đấng Thánh của Thiên Chúa’. Chúng ta là thánh không phải chỉ khi nào được Giáo hội tuyên phong (canonize), nhưng tự bản chất ơn gọi Kitô hữu, chúng ta là những vị thánh khi còn thông hiệp với Giáo hội. Tư tưởng này có thể làm cho nhiều người dị ứng, bởi vì chúng ta nhìn thấy bao nhiêu tội lỗi và những gương mù trong Giáo hội, ngay cả nơi các phẩm trật cao cấp. Tuy nhiên, Giáo hội hữu hình luôn đi đôi với Giáo hội vô hình, và đây không phải là hai thực tại tách biệt. Hiểu như một mầu nhiệm thánh thiêng và là nhiệm thể của Đức Giêsu, tự bản chất, Giáo hội vẫn luôn thánh thiện. Trong thực tế, Giáo hội lữ hành trần thế vẫn luôn bao gồm những con người yếu đuối đầy tội lỗi, và tất cả chúng ta không ai dám vỗ ngực tự hào nói tôi là một con người thánh thiện. Vì thế, trong cuộc lữ hành trần gian, Hội thánh luôn mời gọi con cái mình phải thực hành cuộc hoán cải (conversion) không ngừng. Hoán cải là trở về, là canh tân, là làm mới lại con người chúng ta trong máu Đức Kitô. Năm 2002, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã chuẩn nhận văn kiện ‘Bắt đầu tiến trình làm mới lại từ Đức Kitô (Starting afresh from Christ) của Thánh bộ đặc trách đời sống thánh hiến và các tu đoàn tông đồ, để mời gọi các tu sĩ canh tân lại đời sống, khởi nguồn từ Đức Kitô. Bắt nguồn từ Đức Kitô, Đấng Thánh của Thiên Chúa, chúng ta mới có thể thực hiện cuộc hoán cải canh tân này, và khi sống trong lòng Giáo hội, chúng ta luôn ý thức mình là những chi thể thuộc về một nhiệm thể thánh thiêng.   

Khởi nguồn từ Đức Kitô, là Đường, là Sự thật và là Sự sống.

Vào năm 1989, Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tiếp tổng thống Gorbachop, bấy giờ là tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Xô. Trước khi từ giã, Đức Thánh Cha đã tặng ông ta một cuốn Kinh thánh ở ngoài bìa có viết dòng chữ ‘Tôi là Đường, là Sự thật và là Sự sống’. Đây chính là câu nói của Chúa Giêsu, ngỏ cho Tôma và các Tông đồ, mà Giáo hội đọc lại trong bài Tin mừng hôm nay. Toàn thể Giáo hội đều quy hướng về Đức Giêsu là đầu của nhiệm thể. Ngài cũng là con đường, là chính lộ dẫn đưa chúng ta tới hạnh phúc. Ngài là Sự thật giải thoát chúng ta khỏi những lầm lạc gây nên do tội lỗi. Ngoài Ngài ra, không có sự sống và ơn cứu độ. Những tư tưởng thần học của Thánh Gioan dẫn đưa chúng ta đến mầu nhiệm ngôi hiệp giữa Chúa Cha và Chúa Con : Chúa Con ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Chúa Con. Cũng vậy, lưu lại trong Chúa Giêsu, chúng ta sẽ được thông truyền sự sống khởi nguồn từ Chúa Cha.

Cả 3 bài đọc lời Chúa hôm nay đều khơi dậy nơi chúng ta ý thức ‘thuộc về’(sense of belonging). Chúng ta thuộc về Hội thánh, và Hội thánh thuộc về Đức Giêsu. Điều quan trọng là khi sống trong lòng Giáo hội lữ hành, chúng ta đã sống cảm thức thuộc về như thế nào, không phải trên lý thuyết, nhưng bằng lối sống chứng tá cụ thể hàng ngày.

Kết luận

Tôi tin Hội thánh duy nhất, thánh thiện. Giáo hội lữ hành đã trải qua 2000 năm với biết bao vết thương của sự rạn nứt và chia rẽ. Những vết rạn nứt này không phải chỉ do những nhóm ly khai gây ra, nhưng trong đây còn là trách nhiệm của mỗi người chúng ta. Nhà văn Sienkievic người Ba Lan, trong cuốn sách ‘Quo vadis’ đã viết : “Đế quốc Rôma hùng mạnh của bạo chúa Neron rồi sẽ ngã đổ, nhưng con thuyền mộc mạc của bác dân chài miền Galilê vẫn luôn vững vàng lướt sóng”. Con thuyền đó chính là Giáo hội, là nhiệm thể thánh thiện của Chúa Giêsu mà chúng ta đang thuộc về.

Về mục lục

.

THIÊN CHÚA CỦA ĐỨC GIÊSU

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Phúc Âm Thánh Gioan chương 14 là lời tâm sự của Chúa Giêsu với các môn đệ. Nó có cấu trúc xoay quanh cuộc trở về với Chúa Cha của Chúa Con và vai trò độc nhất của Chúa Con trong việc đưa dẫn các môn đệ về với Chúa Cha.

Tôma và Philipphê đã hỏi Chúa 2 câu và Chúa đã mạc khải 2 chân lý thật quan trọng:

– Thầy là đường là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy.

– Ai thấy Thầy là thấy Cha; Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy.

Chỉ có thể đạt tới Cha khi chúng ta đi theo Đấng tự nhận là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Và cũng không ai có thể tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa mà lại không do Thánh Thần. Hiểu biết đích thực về Cha và Con mang dấu ấn Thánh Thần. Chính trong Thánh Thần mà Thiên Chúa là Cha và Đức Giêsu là Con ( x. Gm. Bùi Văn Đọc, Thiên Chúa Cha, Đấng giàu lòng thương xót, trang 184 ). Thiên Chúa mà mọi tín hữu tôn thờ và yêu mến hết linh hồn, hết sức lực, hết trí khôn, chính là Thiên Chúa hiện thân nơi Đức Giêsu Kitô “Ai thấy Thầy là thấy Cha” ( Ga 14, 9 ) vì “Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy” ( Ga 14, 10 ).

Toàn bộ Lịch Sử Cứu Độ được xây dựng trên tương quan Cha – Con “Chúa Cha yêu Chúa Con”. Hai chữ Tình Yêu là cách diễn tả sâu thẳm nhất tương qua Cha – Con. Tình yêu đó được Chúa Giêsu thể hiện qua đời sống nhân hậu, bao dung vô bờ của Ngài. Lời nói việc làm của Ngài chính là lời nói việc làm của Chúa Cha ( Ga 14, 10 ). Toàn bộ cuộc đời của Ngài được Chúa Cha chiếm ngự. Ngài như tấm gương trong suốt phản chiếu khuôn mặt và trái tim Chúa Cha.

Chúa Giêsu dạy cho chúng ta biết về Chúa Cha bằng nhiều cách: bằng lời nói, bằng việc làm, nhưng nhất là chính phận làm Con. Nhiều lần và bằng nhiều cách khác nhau, Chúa Giêsu đã nói với con người về Thiên Chúa là Cha, Đấng mà họ phải tin tưởng phó thác ( Mt 6, 32 ), noi gương ( Mt 5, 45 – 48 ), nguyện cầu ( Lc 11, 2 ), phải tôn thờ vì Ngài là Chúa trời đất ( Mt 10, 28 ), là Cha đầy quan tâm ân cần ( Mt 6, 25 – 32 ) và đặc biệt gần gũi với những kẻ tội lỗi ( x. sđd tr. 191 ).

Điều kỳ diệu và tuyệt vời là chính Đấng Tuyệt Đối, Đấng Toàn Năng, Cao Cả, Chí Thánh Chí Tôn và Hằng Hữu đã có thể trở thành tương đối, thấp hèn, bạn với quân thu thuế với phường tội lỗi, cuối cùng phải chết khổ hình. Nơi Đức Giêsu, sự uy nghi của Thiên Chúa tỏ hiện trong khiêm tốn và yếu đuối cách nghịch thường. Điều đó, sự khôn ngoan của bậc hiền triết không lý giải được, nhưng nói như Pascal, trái tim lại hiểu được vì nó có lý lẽ riêng của nó. Thiên Chúa của Đức Giêsu không phải là Thiên Chúa ngự trên toà cao cho người ta sấp mình thờ lạy mà không dám nhìn đến tôn nhan, không dám gọi tên mà chỉ dám cầu xin với niềm sợ hải. Thiên Chúa của Đức Giêsu dễ gần, dễ thấy, dễ quen. Thiên Chúa hiện diện nơi con người Đức Giêsu khiêm hạ. Chính Ngôi Lời làm người đã chọn máng cỏ làm tổ ấm lúc chào đời, đã chọn xóm làng Nadarét làm nơi sinh sống, đã chọn những kẻ thấp hèn trong xã hội làm bầu bạn, đã quỳ gối rửa chân cho các Môn Đệ, rồi chọn cây thập giá làm giường khi chết cùng với hai kẻ cướp làm bạn đồng hành đi vào thế giới bên kia. Thiên Chúa làm người đã chọn nhà Dakêu để tạm trú, chọn người thiếu phụ Samari để gặp gỡ đối thoại, đã chấp nhận cử chỉ biết ơn của người phụ nữ tội lỗi Mađalêna, đã chọn kẻ trộm lành làm ứng viên đầu tiên vào Thiên Đàng, đã chọn Phaolô kẻ bắt bớ Giáo Hội làm Tông Đồ Dân Ngoại…

Quả thật Thiên Chúa của Đức Giêsu chẳng giống tí nào với Thiên Chúa các đạo binh của Ítraen. Người Do thái nghĩ rằng Thiên Chúa chỉ về phe với dân Người chọn, chỉ bênh vực những người Do thái ngoan Đạo và lên án nguyền rủa, trừng phạt các dân ngoại cùng người tội lỗi. Thiên Chúa của Đức Giêsu không về phe với kẻ cầm quyền độc ác, người giàu có ích kỷ hay người đạo đức giả. Vì thế các bậc kinh sư, tư tế, kỳ lão trong dân không chấp nhận Thiên Chúa ấy mà trái lại họ đã giết Đức Giêsu để bảo vệ Thiên Chúa của họ. Họ đã giết Đấng Thánh để bảo vệ đền thờ, đã chà đạp và xoá bỏ “hình ảnh Thiên Chúa vô hình” ( Cl 1, 15 ) để bảo vệ Thiên Chúa của lề luật.

Thiên Chúa của Đức Giêsu, Thiên Chúa của chúng ta cũng không phải là Thiên Chúa của các triết gia, không phải là Thiên Chúa của các nhà du hành vũ trụ tìm kiếm mà là Người Cha nhân hậu, từ bi, đầy lòng thương xót. Người chỉ muốn lòng nhân chứ không cần lễ tế. Người không phải là Người Cha nghiêm khắc độc đoán, Người Cha dễ tính xuề xoà mà là Người Cha yêu thương, tha thứ. Một Người Cha chuẩn bị sẵn sàng quần áo, giày dép, nhẫn đeo tay và vỗ béo con bê chờ sẵn đứa con hoang đàng trở về và hơn thế nữa còn ra ngoài ngóng trông rồi vui sướng tiến về phía con đón nó vào lòng hôn lấy hôn để ( Lc 15, 11 – 32 ). Lòng nhân hậu được tỏ bày khi tha thứ. Thánh Phaolô là người cảm nhận sâu xa lòng từ bi, nhân hậu, thứ tha ấy ( 2 Cr 3, 7 – 11 ).

“Thiên Chúa không ai thấy bao giờ, Con Một, Đấng ở nơi cung lòng Cha, chính Người đã thông tri” ( Ga 1, 18 ). Con người có thể biết Thiên Chúa qua công trình sáng tạo và lịch sử cứu độ, nhưng chưa ai thấy khuôn mặt Ngài. Chính Chúa Con tỏ bày cho nhân loại biết sự thật sâu xa của Thiên Chúa “Ai thấy Thầy là thấy Cha”. Qua cuộc sống và lời giảng dạy, Chúa Giêsu đã chỉ cho nhân loại thấy Chúa Cha, một Thiên Chúa là Cha nhân hậu từ bi, đầy lòng xót thương, tha thứ và còn hơn thế nữa Chúa Giêsu là con đường độc nhất dẫn đến Cha “Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” ( Ga 14, 6 ). Mọi con đường cứu độ đều phải đi vào Con Đường Giêsu: “Thiên Chúa không ban một danh nào khác dưới bầu trời, để nhờ danh đó mà chúng ta được ơn cứu độ” ( Cv 4, 12 ). Nhân loại được cứu độ nhờ Danh Đức Giêsu.

Đức Giêsu đã về với Chúa Cha trong vinh quang Phục Sinh, sau khi đã sống một đời yêu thương tự hiến. Cuộc đời Đức Giêsu trở thành con đường cho chúng ta đi. Đọc và suy niệm Tin Mừng trong tin yêu, Chúa sẽ dạy chúng ta nghĩ gì, nói gì, làm gì. Khi đi vào con đường Chúa đã đi qua chúng ta cũng trở nên nẻo đường cho anh chị em mình, nẻo đường dẫn lối về Thiên Chúa là Cha yêu thương.

Về mục lục

.

BIẾT VÀ THẤY CHÚA

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Chúa Giêsu sau khi sống lại đã hiện ra nhiều lần với các môn đệ của Ngài và minh chứng cho các môn đệ, cho nhân loại, cho mọi ngưởi rằng Ngài đã sống lại từ cõi chết. Hôm nay, khi Chúa Giêsu sắp trở về cùng Chúa Cha, Ngài đã mặc khải cho ông Philipphê biết :” Nếu anh em biết Thầy, thì anh em cũng biết Cha của Thầy “. Như thế, Chúa Giêsu muốn cho chúng ta hay Ngài chính là Thiên Chúa, là hình ảnh đích thực của Chúa Cha.

Thực tế, thắc mắc của ông Philippê cũng là thắc mắc của nhiều môn đệ, và nhiều người. Nhưng được Chúa mặc khải về Cha, nên vấn nạn ấy được ông Philipphê và nhiều người vững tin, an tâm. Chúng ta biết Chúa Giêsu trước những thử thách, trước những gian nan của cuộc khổ nạn, Ngài đã thực sự xao xuyến. Tuy nhiên, Ngài đã vững lòng, tin tưởng thật sự vào Thiên Chúa Cha, Đấng luôn luôn yêu thương Ngài. Do đó, Ngài đã khuyên các môn đệ hãy vững vàng, đừng xao xuyến vì chính Ngài đã mang lấy những xao xuyến đó và mách bảo cho các môn đệ bí quyết để “ đừng xao xuyến “. Bí quyết :” Hãy tin vào Thiên Chúa, và tin vào Thầy “. Và hôm nay, Chúa Giêsu lại quả quyết cho các môn đệ và cho chúng ta :” Thầy là Đường, là sự Thật và là sự Sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy “, và ai thấy Thầy là thấy Cha, nếu các con biết Thầy thì cũng biết Cha “. Vâng, Thiên Chúa đã nhập thể làm người, đã chấp nhận kiếp sống con người ngoại trừ tội lỗi,Ngài đã dùng ngôn ngữ con người với tất cả những giới hạn của nó để mặc khải cho nhân loại, cho chúng ta biết Thiên Chúa Cha là Đấng nào, là ai và con đường nào, lối nào chúng ta phải đi để đến với Ngài mà không sợ bị lầm đường, lạc lối vv…

Chúa Giêsu luôn mời gọi chúng ta tin vào Thiên Chúa và tin vào Ngài. Tin vào Thiên Chúa vì Chúa Giêsu là hình ảnh đích thực của Thiên Chúa. Nếu Chúa không mặc khải thì nhân loại và chúng ta không thể nào biết được Chúa Cha. Đức Kitô đã chết để cứu rỗi con người, cứu độ nhân loại, cứu thoát chúng ta khỏi tội lỗi và ban cho chúng ta sự sống đời đời. Đức Kitô đã sống lại như lời Ngài đã nói và chúng ta là con cái của Chúa, chúng ta cũng sẽ được sống lại với Ngài :” Hãy tìm kiếm những sự trên trời, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa “ ( Cl 3, 1 ). Chúa Giêsu Kitô đã trở thành hình ảnh của Thiên Chúa Cha cho tất cả mọi người chúng ta. Ngài đã đến trần gian, sống giữa nhân loại, sống giữa chúng ta để mặc khải sự thật của Thiên Chúa Cha cho tất cả chúng ta. Chúa Giêsu đến trần gian để giúp, để hướng dẫn, chỉ đường dẫn lối cho chúng ta để chúng chúng ta biết Cha, trở về cùng Cha và đồng thời trở về với chính Ngài vì Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa Cha đích thực và Ngài cũng muốn chúng ta trở thành hình ảnh của Ngài cho anh chị em, cho những người anh em xung quanh chúng ta.

Mỗi người chúng ta có ý thức và vinh dự vì chúng ta là con cái của Chúa Giêsu Kitô hay không ? Bởi vì con mắt xác thịt chúng ta không thể nào nhìn thấy Chúa Cha là Đấng vô hình, nhưng với con mắt đức tin qua Kinh Thánh, qua Con người thật của Chúa Giêsu Kitô, chúng ta có thể nhìn thấy Thiên Chúa. Có Đức Giêsu Kitô, chúng ta không chỉ thấy mà còn đến được với Thiên Chúa vì Ngài là Đường, là sự Thật và là sự Sống.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin tạ ơn Chúa vì Chúa đã chấp nhận xuống thế làm người để chúng con được tham dự vào sự sống của Chúa. Amen.

Gợi ý để chia sẻ :

1. Ai mặc khải Thiên Chúa Cha cho chúng con ?
2. Tại sao Chúa Giêsu lại nói :” Ai thấy Thầy là thấy Cha ? “.
3. Chúa có mời gọi chúng ta trở thành hình ảnh của Ngài cho những người xung quanh không ?
4. Tại sao chúng ta lại khắc khoải tìm kiếm Nước Trời ?

Về mục lục

.

MỆNH LỆNH PHỦ ĐỊNH

Trầm Thiên Thu

Trong các ngôn ngữ đều có dạng mệnh lệnh cách (imperative), dạng câu ngắn nhất: chỉ một động từ. Mệnh lệnh dùng để khuyến khích hoặc ngăn cấm, có thể là mệnh lệnh xác định – hãy làm điều này, hãy nhớ điều kia, hoặc mệnh lệnh phủ định – chớ làm điều kia, đừng làm điều nọ. Mỗi dạng mệnh lệnh đều có đặc tính nhất định.

Mệnh lệnh xác định thường dùng để khuyến khích hoặc động viên, mệnh lệnh phủ định thường dùng để ngăn cấm. Tuy nhiên, Chúa Giêsu lại sử dụng mệnh lệnh cách phủ định để khuyến khích chứ không để ngăn cấm. Ngài động viên: “Đừng xao xuyến!” (Ga 14:1; Ga 14:27). Tương tự, Thánh Phêrô cũng khuyến khích: “Đừng sợ những kẻ làm hại anh em và đừng xao xuyến” (1 Pr 3:14). Câu nói động viên chúng ta “đừng sợ và đừng xao xuyến” cũng chính là bảo chúng ta “đừng nhút nhát và đừng lo lắng”. Như vậy có nghĩa là phải can đảm, muốn can đảm thì phải mạnh mẽ, muốn mạnh mẽ thì phải cầu xin Chúa Thánh Thần: “Veni Sancte Spiritus! Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến!”.

Chính Chúa Giêsu đã mặc khải cho chúng ta biết Ngôi Ba Thiên Chúa là Chúa Thánh Thần hoặc Thánh Linh, cũng gọi là Thần Khí. Nhưng đôi khi người ta có thể ảo tưởng mà lầm lẫn, cái gì cũng bảo là “Ý Chúa”. Vì thế, Thánh Gioan Tông Đồ đã khuyên chúng ta PHẢI cảnh giác và đưa ra cách nhận biết: “Anh em ĐỪNG cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy CÂN NHẮC các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian. Căn cứ vào điều này, anh em nhận ra thần khí của Thiên Chúa: thần khí nào tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Đấng đã đến và trở nên người phàm thì thần khí ấy bởi Thiên Chúa; còn thần khí nào không tuyên xưng Đức Giêsu thì không bởi Thiên Chúa, đó là thần khí của tên phản Kitô. Anh em đã nghe nói là nó đang tới, và hiện nay nó ở trong thế gian rồi” (1 Ga 4:1-3).

Quả thật, lời cảnh báo của Thánh Gioan thực sự đáng sợ! Và chúng ta cũng đã và đang thấy nhiều thứ giả, trong đó có “người giả” đủ loại – cả đời và đạo. Những điều tương tự cũng đã được Đức Mẹ nhiều lần tiên báo. Do đó, sự cảnh giác càng cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết, đặc biệt trong thế kỷ XXI đầy những khó khăn này, càng văn minh càng nhiêu khê. Đúng là cái chữ @ nó “vòng vo” rắc rối quá chừng!

Trong cuộc sống (đời và đạo) luôn có nhiều thứ khiến chúng ta xao xuyến, chia trí. Ma quỷ có thiên hình vạn trạng, nó len lỏi vào bất cứ nơi nào, thậm chí ma quỷ có thể cám dỗ chúng ta cảm thấy mình đạo đức và thánh thiện. Đó là dạng cám dỗ rất nguy hiểm, vì là dạng GIẢ DANH GIẢ NGHĨA. Thà rằng nó cám dỗ chúng ta khô khan, phạm tội, hoặc “quay lưng” lại với Chúa thì chúng ta dễ nhận biết mà tránh, đằng này nó lại làm cho chúng ta cảm thấy rất gần Chúa, thực ra chỉ là “bẫy ảo giác” nó giăng để chúng ta dễ sập bẫy, thế mới đáng sợ, và chúng ta phải rất tỉnh thức – cảnh giác với cả chính mình!

Một người quen (tại Hoa Kỳ) cho biết rằng em gái của họ lấy chồng là Phật tử, người chồng này làm cho cô vợ bỏ đạo Công giáo và nói xấu Công giáo đủ thứ. Ngay tại Saigon, một thanh niên đã bỏ đạo Công giáo, rồi cạo đầu và quy y, anh ta bảo rằng theo Công giáo phải giữ nghiêm luật nên “căng” quá, theo Phật giáo “khỏe” hơn nhiều. Tại Đồng Nai, một nữ tu bỏ đạo Công giáo rồi đi lập chùa riêng và làm ni cô trụ trì. Thiên hình vạn trạng!

Khi thấy có những trường hợp như vậy, chúng ta đừng vội hoang mang hoặc xao xuyến, vì đó là những trường hợp hiếm hoi, chỉ đủ đếm trên đầu ngón tay mà thôi. Thật ra họ chỉ bất mãn một vấn đề nào đó vì họ không được “như ý”, đồng thời họ là những người “yếu bóng vía” và chẳng hiểu rõ Công giáo, lý luận của họ chỉ là dạng “lý sự cùn”, đầu óc thiển cận hoặc giống như “ếch ngồi đáy giếng” mà thôi. Hãy quên họ đi!

Đối với những người thực sự giỏi (đúng nghĩa), họ không như vậy, thực tế cho chúng ta biết rằng người ta càng giỏi thì càng tin có Thiên Chúa. Đa số các bác học đều là những người tin vào Thiên Chúa. Khoảng 40 năm trước, Đức cố TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình (1910-1995) đã rửa tội cho một Thượng tọa Phật giáo cao niên vào chính đêm mừng Con Chúa giáng sinh. (Nay chợt hồi tưởng liên quan chuyện “theo đạo”, nhưng tiếc rằng lâu quá rồi, tôi không còn nhớ tên ông cựu họ Thích này!). Hơn 20 năm trước, một ni cô chán “ăn chay trường” rồi gia nhập Công giáo, sau đó cô này lấy chồng là người Công giáo. Vợ chồng họ vẫn sống hạnh phúc tại Thủ Dầu Một (Bình Dương).

Thiết tưởng cũng nên xác định rằng không một người nào lập đạo mà dám nói “tôi là Thiên Chúa”, chỉ có Chúa Giêsu. Chẳng có ai làm được những phép lạ như Đức Giêsu đã làm. Và cũng chỉ có Đức Giêsu dám nói: “Tôi là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14:6). Đơn giản như vậy thôi cũng đủ để chúng ta biết đâu là “chân lý thật” và đâu là “chân lý giả”. Chính khoa học và khoa khảo cổ càng ngày càng phát hiện những điều chính xác như Kinh Thánh đã đề cập hàng ngàn năm trước. Các giáo phái ly khai với Công giáo, nghĩa là trước đó chính họ là Công giáo. Họ ly khai vì theo ý riêng chứ không muốn theo ý chung của Giáo Hội.

Sự thật mãi mãi là sự thật, và chỉ có sự thật mới khả dĩ giải thoát chúng ta (Ga 8:32). Sách Công Vụ đưa ra bằng chứng cụ thể: Khi nghe ông Phêrô rao giảng việc ăn năn sám hối, chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô để được ơn tha tội, và nhận được ân huệ là Thánh Thần, ngay lúc đó đã có khoảng ba ngàn người theo đạo (Cv 2:38-41). Đâu có thể đơn giản mà có số người đông như vậy cùng gia nhập đạo một lúc, cũng đâu phải họ theo đạo cho vui hoặc có lợi về vật chất! Hàng tháng, tại nhiều nhà thờ Công giáo vẫn có những người trưởng thành (chứ không nói chi trẻ em) vui mừng lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy. Đó là những bằng chứng hùng hồn, thực sự là phép lạ mà Chúa Thánh Thần vẫn đang tác động không ngừng trong Giáo Hội – Nhiệm Thể Đức Giêsu Kitô.

Chúng ta cũng vẫn thấy có những người gia nhập Công giáo khi họ đã thực sự trưởng thành (tâm sinh lý), thậm chí là lớn tuổi, họ sống đạo rất tốt với một đức tin trưởng thành và vững mạnh. Đặc biệt là có những người theo đạo Công giáo rồi đi tu trở thành tu sĩ hoặc linh mục – trong đó có Lm Thiên Phong Bửu Dưỡng (*). Họ là những người đã trưởng thành, chắc chắn không ai có thể “dụ dỗ” được họ nếu họ không thực sự tin vào Đức-Giêsu-nhập-thể-làm-người-chịu-chết-và-phục-sinh. Ai cảm thấy còn “đắn đo”, hãy cố gắng củng cố và giữ vững lòng tin, hãy hãnh diện về Đức Tin Công giáo, và đừng bao giờ xao xuyến vì bất cứ điều gì!

Chúng ta không phủ nhận rằng Giáo hội Công giáo đặt tiêu chuẩn cao về luân lý, rất cảm thông với người bất đồng ý kiến, nhưng không nhượng bộ bất kỳ áp lực nào. Tất cả chúng ta đều là tội nhân, nhưng Chúa Giêsu không chỉ chịu chết vì chúng ta, mà Ngài còn thiết lập bí tích Hòa giải để tha thứ tội lỗi, để thương xót và ban ân sủng cho chúng ta, giúp chúng ta sống đời sống luân lý tốt hơn. Tất cả là Hồng Ân.

Ngày xưa, khi Chúa Giêsu đã phục sinh và số môn đệ thêm đông, các tín hữu Do Thái theo văn hoá Hy Lạp đã kêu trách các tín hữu Do Thái bản xứ, vì trong việc phân phát lương thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm họ bị bỏ quên. Bởi thế, Nhóm Mười Hai triệu tập toàn thể các môn đệ và nói: “Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống là điều không phải. Vậy, thưa anh em, anh em hãy tìm trong cộng đoàn bảy người được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan, rồi chúng tôi sẽ cắt đặt họ làm công việc đó. Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa” (Cv 6:2-4).

Và trình thuật Cv 6:5-7 cho biết: “Đề nghị đó được mọi người tán thành. Họ chọn ông Tê-pha-nô, một người đầy lòng tin và đầy Thánh Thần, cùng với các ông Phi-líp-phê, Pơ-rô-khô-rô, Ni-ca-no, Ti-môn, Pác-mê-na và ông Ni-cô-la, một người ngoại quê An-ti-ô-khi-a đã theo đạo Do-thái. Họ đưa các ông ra trước mặt các Tông Đồ. Sau khi cầu nguyện, các Tông Đồ đặt tay trên các ông. Lời Thiên Chúa vẫn lan tràn, và tại Giê-ru-sa-lem, số các môn đệ tăng thêm rất nhiều, lại cũng có một đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin. Đó chính là Nhóm Bảy Người, tức là các Phó tế đầu tiên của Giáo hội, trong đó có Phó tế Tê-pha-nô về sau chịu tử đạo. Không chỉ có Phó tế Tê-phan-nô mà còn biết bao vị tử đạo khác đã xả thần vì danh Đức Giêsu Kitô, ở mọi nơi và mọi thời. Ngày nay cũng vẫn có các chứng nhân ở đâu đó trên thế giới…

Đây là niềm hãnh diện của Kitô hữu: “Vinh quang của tôi là Thập Giá của Đức Giêsu Kitô – Mea Gloria est Crux Christi” (Gl 6:14). Chắc chắn không ai và không tôn giáo nào có dạng vinh quang “ngược đời” như Kitô giáo. Trong chúng ta, chắc chắn ai cũng sợ đau khổ, nhưng khi đã cảm nhận được đau khổ, người ta lại bị đau khổ thu hút. Thập Giá có sức hấp dẫn kỳ lạ. Vô tri bất mộ. Người không có niềm tin Kitô giáo sẽ chẳng bao giờ hiểu được điều đó, thế nên người vô thần bảo tôn giáo là thuốc phiện đã “ru ngủ” chúng ta – các Kitô hữu có vinh quang là Thập Giá của Đức Kitô.

Thánh Vịnh gia hân hoan mời gọi: “Người công chính, hãy reo hò mừng Chúa, kẻ ngay lành, nào cất tiếng ngợi khen. Tạ ơn Chúa, gieo vạn tiếng đàn cầm, kính mừng Người, gảy muôn cung đàn sắt” (Tv 33:1-2). Và rồi không thể lặng im lâu, Thánh Vịnh gia phải giải thích ngay lập tức: “Lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu thích điều công minh chính trực, tình thương Chúa chan hoà mặt đất” (Tv 33:4-5).

Thánh Gioan cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa là tình yêu (1 Ga 4:8 và 16), kỳ lạ là Ngài yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân (Rm 5:8), còn thù nghịch với Ngài (Rm 5:10), thậm chí Ngài còn chết để cứu độ chúng ta. Tình yêu đó quá lớn lao, lòng thương xót quá bao la và sâu thẳm. Ngài luôn quan tâm chúng ta: “Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa, kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương, hầu cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi sống trong buổi cơ hàn” (Tv 33:18-19).

Nhưng chính mỗi chúng ta đều phải xem lại chính mình, như Thánh Giacôbê đã phân tích: “Ai cho mình đạo đức mà không kiềm chế miệng lưỡi là tự dối lòng mình, vì đó chỉ là thứ đạo đức hão” (Gc 1:26).

Thánh Phêrô vừa khuyên nhủ vừa động viên: “Anh em hãy tiến lại gần Đức Kitô, viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa và coi là quý giá. Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên ngôi Đền Thờ thiêng liêng, và hãy để Thiên Chúa đặt anh em làm hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người, nhờ Đức Giêsu Kitô. Quả thật, có lời Kinh Thánh chép: Này đây Ta đặt tại Sion một viên đá quý được lựa chọn, làm đá tảng góc tường: kẻ tin vào đó sẽ không phải thất vọng” (1 Pr 2:4-6). Lòng thương xót của Thiên Chúa quá đỗi kỳ diệu, chúng ta không thể nào hiểu nổi!

Thánh Phêrô cho biết thêm về hạnh phúc của các Kitô hữu, những người được tái sinh bởi Nước và Thánh Thần: “Vậy vinh dự cho anh em là những người tin, còn đối với những kẻ không tin thì viên đá thợ xây loại bỏ đã trở nên đá tảng góc tường, và cũng là viên đá làm cho vấp, tảng đá làm cho ngã. Họ đã vấp ngã vì không tin vào Lời Chúa. Số phận của họ là như vậy. Còn anh em, anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánhdân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền” (1 Pr 2:7-9). Có nhiều dạng ơn thiên triệu, nói theo bình dân là “ơn gọi”, và ơn thiên triệu nào cũng cao cả: Ơn gọi tu trì, ơn gọi kết hôn, ơn gọi độc thân,… Ơn gọi nào cũng là để hoàn tất sứ mạng theo kế hoạch của Thiên Chúa.

Cuộc sống không hề đơn giản, nhiệm vụ nào cũng khó, vì thế Chúa Giêsu đã động viên: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14:1). Cuộc sống đã và đang chứng tỏ cho chúng ta thấy như vậy, đúng là chỉ có Thiên Chúa là cứu cách và cùng đích, thiếu Đức Kitô thì chúng ta không thể làm được gì, dù là điều nhỏ nhoi (x. Ga 15:5). Chúng ta có hoang mang hoặc lo sợ thì cũng chẳng “chuyển hóa” được gì, đúng như có lần Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Đừng chỉ lên đầu mà thề, vì anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được” (Mt 5:36). Vì thế mà chúng ta phải sống theo lời khuyên của Ngài: “Đừng xao xuyến!”. Nói theo kiểu nói ngày nay: “Cứ vô tư mà sống!”. Lo bạc râu, sầu bạc tóc. Mà có lo cũng chẳng được, cái gì đến sẽ đến, thế thì lo chi cho khổ? Nghe lời Chúa Giêsu bảo “đừng xao xuyến” cũng chính là tin vào sự TIỀN ĐỊNH và QUAN PHÒNG của Thiên Chúa vậy! Và có một điều thiết tưởng cũng nên lưu ý: cách nói “không xao xuyến” nghĩa là đừng chạy theo những cái mà người ta cho đó là “sự lạ”, dạng này thường xuyên được người ta “chú ý”, mà như vậy là chúng ta chưa thực sự tin vào Thiên Chúa, chưa thực sự tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót. Cẩn tắc vô ưu!

Tại sao không nên xao xuyến? Chúa Giêsu căn dặn: “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14:2-3). Người đời cũng biết nhận định: “Sinh ký, tử quy – sống gởi, thác về”. Thật vậy, thế gian chỉ là chuyến lữ hành về Thiên Đàng, “cuộc đời như chiếc cầu, hãy đi qua chứ đừng dừng lại trên đó” (Thánh nữ Catarina), chết không là hết mà chỉ là biến đổi, chính cái chết là “ngưỡng cửa” để bước vào sự sống đời đời. Thật hạnh phúc cho chúng ta vì được Chúa Giêsu hứa: “Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó”. Đúng là niềm hạnh phúc của mọi niềm hạnh phúc!

Hôm đó, Chúa Giêsu bảo: “Thầy đi đâu thì anh em biết đường rồi”. Nghe vậy, ông Tôma “gãi đầu” và hỏi ngay: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?”. Đức Giêsu cười và đáp: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14:6). Đây là câu “nổi tiếng” trong Kitô giáo, được trích dẫn rất nhiều, và cũng là niềm hy vọng chắc chắn của những người tin vào Con Thiên Chúa, Đấng-nhập-thể-làm-người. Đức Giêsu nói thêm: “Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người” (Ga 14:7).

Sau đó, ông Philípphê xin Thầy Giêsu tỏ cho thấy Chúa Cha để được mãn nguyện., nhưng Ngài trách ông Philípphê ở với Ngài bao lâu rồi mà lại “hỏi ngớ ngẩn” như vậy. Rồi Ngài xác định: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14:9). Chắc chắn đó là cách hiểu vượt quá tầm hiểu của phàm nhân, nếu chúng ta ở bên Chúa Giêsu hồi đó thì chúng ta cũng vẫn “ngớ ngẩn” như Tông đồ Philípphê mà thôi, e rằng chúng ta còn “tệ” hơn thế đấy!

Chúa Giêsu nói thêm để giải thích cho ông Philípphê và các Tông đồ khác – đồng thời cũng là nói với mỗi chúng ta hôm nay: “Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha” (Ga 14:10-12).

Và rồi một lần nữa, Chúa Giêsu lại nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Đức Tin. Thật vậy, khi có đủ niềm tín thác vào Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, luôn quan phòng và tiền định cho mỗi người theo ơn gọi riêng, người ta sẽ thanh thản và sống theo lời khuyên và cũng là lời động viên của Đức Kitô Giêsu: “Đừng xao xuyến!”. Ước gì mỗi Kitô hữu chúng ta đều có thể xác định như Thánh Vịnh gia: “Chúa là gia nghiệp đời con” (Tv 16:5-6).

Lạy Thiên Chúa nhân hậu, con chỉ là hạt bụi bé nhỏ nhất mà đã làm bận mắt Ngài, xin thương ban thêm Đức Tin và lòng can đảm để con không bị dao động trước mọi nghịch cảnh, ngay cả khi đối diện với kẻ thù. Xin làm cho con nên thánh theo ước muốn và kế hoạch mầu nhiệm của Ngài. Xin ban Thần Khí Ngài để con sống can đảm và bình an. Con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô Phục Sinh, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

——-

(*) Lm Bửu Dưỡng (OP, Dòng Đa-minh, 1907-1987). Cậu ấm Bửu Dưỡng thuộc dòng dõi hoàng gia triều Nguyễn, là cháu trực hệ đời thứ năm của vua Minh Mạng. Thân phụ là cụ Ưng Trình, đại thần Cơ Mật viện và đại thần Tôn Nhơn Phủ (1936) và Thượng Thư. Thân mẫu là cụ bà Trần Thị Như Uyển, cũng dòng dõi quan lại cấp Thượng Thư.

Cậu Bửu Dưỡng là con trai thứ năm. Thiếu thời, cậu học trường Quốc Học Huế, rồi trường Cao Đẳng Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp, cậu trở về Huế làm thông phán sở Bưu Chính. Sinh trưởng trong gia đình hoàng tộc và tôn sùng đạo Phật, Bửu Dưỡng cũng rất ác cảm với Công giáo, nhưng “duyên Trời” ấn định khác.

Thượng tuần tháng 5-1928, cậu Bửu Dưỡng lên đường ra Quảng Trị, tìm lên vùng núi Phước Sơn, xin học giáo lý để nhận bí tích Rửa tội và gia nhập dòng Xitô (Cistercians). Lm Bề Trên Henri Denis (Cố Thuận, người Pháp) trực tiếp dạy giáo lý. Lễ rửa tội được cử hành ngày lễ Đức Mẹ lên trời, 15-8-1928. Tân tòng Bửu Dưỡng nhận thánh danh Bô-ni-pha-xi-ô (Bonifacius), nghĩa là “bộ mặt đẹp”. Bề Trên Dòng chủ lễ, bên cạnh là Phó tế Ta-đê-ô Lê Hữu Từ (sau đó làm giám mục).

Sau một năm ở tập viện Xitô Phước Sơn, tu sinh Bửu Dưỡng vì sức khỏe yếu, đau bao tử, bị chứng tê thấp, lại bị mụt nhọt ở chân, được Bề Trên cho về nhà nghỉ dưỡng bệnh tại gia đình ở Huế. Trong thời gian nầy, thầy Bửu Dưỡng có nhiều quan hệ với Dòng Chúa Cứu Thế, với ý muốn nhập dòng nầy nhưng không thành…

Trong khi dịch giùm cho các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế một số bài giảng, thầy được đọc sách của Thánh Tôma Aquinô, thầy say mê triết lý và thần học của vị tiến sĩ nổi tiếng thuộc Dòng Đa Minh và có ý muốn theo chân ngài trong một dòng tu chuyên nghiên cứu và thuyết giảng đạo lý Kitô giáo.

Linh mục Bề Trên Dòng Chúa Cứu Thế giới thiệu thầy với Dòng Đa Minh mới đến Hà Nội lập dòng và thầy được chấp nhận để thử một thời gian. Mọi sự đều êm xuôi. Thầy Bửu Dưỡng cảm thấy mình đi đúng hướng và được gởi đi du học tại Pháp ở Dòng Đa Minh chi nhánh Lyon.

Sau một năm tập viện, ngày 26-11-1936, tu sinh Bửu Dưỡng là người Việt Nam đầu tiên của tỉnh Dòng Đa Minh Lyon được tuyên khấn. Mặc dù mụt nhọt ở chân trở nên trầm trọng, thầy Bửu Dưỡng phải chịu giải phẩu cưa một chân, gắn chân giả. Bề Trên Dòng vẫn chấp nhận phong chức linh mục cho thầy vì khả năng trí tuệ đặc biệt của thầy.

Lễ phong chức được cử hành ngày 2-2-1940. Từ đó, linh mục con dòng cháu giống của vua chúa triều Nguyễn không còn gì trăn trở băn khoăn mà thẳng đường trực chỉ dấn thân rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Giêsu cho đến trọn đời.

Trong “Cuộc Hành Trình Của Đời Tôi”, Lm Bửu Dưỡng viết: “Trước kia tôi rất ghét Kitô giáo và không muốn có một liên hệ nào dù xa dù gần với các linh mục hay người có đạo. Tôi không bao giờ đọc một cuốn sách báo nào dính dáng đến đạo Công giáo. Cái ấn tượng ghét đạo đã khiến tôi trở thành cực đoan một cách vô lý, đến độ mỗi khi nhìn thấy chữ ‘Thiên Chúa’, tôi cảm thấy khó chịu và nếu có thể, tôi sửa thành chữ ‘Trời’. Khi dạy học cho các trẻ em, tôi chống lại việc dùng chữ Thiên Chúa. Lòng ác cảm đã khiến tôi trở thành điên rồ. Có những thời gian tôi cảm thấy bất an trong đời sống, dường như tôi đang trải qua những cơn khủng hoảng của đời sống, cái tâm trạng nầy kéo dài trong suốt ba năm liền… Những lần tôi không giải trí với các bạn trong giờ giải trí, những đêm dài mất ngủ, những buổi chiều trống rỗng, sau khi nghe vài bản nhạc buồn… Tất cả những tâm trạng ấy đưa tôi đến việc tự hỏi: ‘Có phải Kitô giáo là một tôn giáo thật và tôi phải theo hay không?’. Tôi phải theo? Thật là một điều ngoài trí tưởng tượng. Không bao giờ! Dù nó đúng, nó trật, nó hay… nhưng ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”.

Ý Chúa nhiệm mầu, một Bửu Dưỡng thù ghét Công giáo đã trở thành một Bửu Dưỡng yêu mến Công giáo, và trở thành Linh mục Công giáo. Lm Bửu Dưỡng còn là người mở Học viện Minh Đức (Thủ Đức) nổi tiếng một thời trước năm 1975. May mắn tôi được gặp ngài một lần, được đọc cuốn “Ý Nghĩa Sự Đau Khổ” của ngài và “Công Đồng Vatican III” do ngài viễn tưởng. Trí óc của ngài đúng là một học giả hiếm có.

Về mục lục

.

TẠI SAO ĐỨC GIÊSU LẠI CĂN DẶN CÁC MÔN ĐỆ

“ĐỪNG XAO XUYẾN”

Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển

Trong buổi tĩnh tâm các linh mục quốc tế ngày 12.10.1998 tại thành phố Monterrey, nước Mexico, qua bài nói chuyện của đức cố Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận, ngài đã chỉ ra một số điểm sai xót của Đức Giêsu, một trong những điểm sai xót đó là những lời giảng dạy, hành động xem ra mâu thuẫn.

Ví dụ như: có lần, Ngài đưa ra lời mời gọi: phúc cho kẻ nghèo, kẻ phải đói, kẻ phải khóc, kẻ bị người ta oán ghét (x. Lc 6, 20-22); hay “ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9, 24); hoặc làm sao có thể ví Nước Thiên Chúa, Nước của Ðấng toàn năng, vô tận với một hạt cải (x. Lc 13, 18-19); và điều mâu thuẫn lớn nhất chính là “Con Thiên Chúa, Ðấng hằng sống”; “Đấng công chính!” lại phải chấp nhận sự chết và chết nhục nhằn trên Thập giá??? (x. Lc 23, 47).

Những mâu thuẫn kiểu như thế, hôm nay lại được Đức Giêsu cất lên khi căn dặn các môn đệ: “Anh em đừng xao xuyến!” (Ga 14,1). Phải chăng lời của Đức Giêsu nói với các môn đệ giờ này xem ra có vẻ không tâm lý, mâu thuẫn với hoàn cảnh hiện tại, bởi lẽ các ông rất buồn vì Thầy trò sắp phải xa nhau. Vậy, câu hỏi được đặt ra là chính Đấng đang nói: “Anh em đừng xao xuyến!” (Ga 14,1), Ngài có xao xuyến không? Và từ đó, như một hệ luận, chúng ta tin hay không tin vào lời nói của Đức Giêsu!

  1. Sự xao xuyến của Đức Giêsu

Thực ra trong cuộc đời của Đức Giêsu, Ngài cũng đã nhiều lần xao xuyến, chẳng hạn như:

Nhìn niềm tin trong viễn cảnh tương lai, Đức Giêsu đã thốt lên: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18,8); rồi khi về Giêrusalem, Ngài cũng thốt lên lời than thở “Giêrusalem, Giêrusalem! […] Ðã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các người không chịu” (Lc 13,34); hay trong bữa Tiệc Ly với các môn đệ, Ngài cũng trải qua nỗi xao xuyến thực sự, bởi vì chỉ còn một ít nữa thôi, Ngài sẽ từ biệt các môn đệ, sẽ bị bắt, do chính môn đệ thân tín của mình trao nộp, rồi Ngài cũng thấy trước được những đau khổ vì mình mà các ông phải chịu. Nỗi xao xuyến ấy bao trùm lên Thầy trò, khi kẻ đi người ở… Sự xao xuyến ấy dần càng tăng lên khi trong vườn Cây Dầu, Đức Giêsu cảm thấy sợ hãi, và Ngài đã than thở với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức!” (Mc 14,34), và Ngài mướt mồ hôi máu. Sau đó, Ngài đã cầu nguyện tiếp: “Ápba, Cha ơi! Cha có thể làm được mọi sự, xin tha cho con khỏi uống chén này. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mc 14, 36). Cuối cùng, nỗi xao xuyến này được dâng lên đến tột đỉnh trên Thánh Giá, khi cơn đau đớn thấu con tim, báo hiệu giờ hấp hối đã gần, Ngài đã lớn tiếng kêu lên Thiên Chúa Cha: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 14, 34).  

Như vậy, cả cuộc đời của Đức Giêsu đã trải qua những cơn xao xuyến. Thật ra, sự xao xuyến của Đức Giêsu cho thấy, Ngài vừa là Thiên Chúa và cũng là con người, nên những nỗi xao xuyến đó của Ngài như là con đường để dẫn đưa chúng ta là những người cũng xao xuyến đến sự sống đời đời.

Tại sao chúng ta lại xác tín điều đó, thưa, vì lời căn dặn của Ngài  “Anh em đừng xao xuyến!” (Ga 14,1), là khả tín, đáng tin. Bởi vì sự xao xuyến này đã ngang qua cuộc đời của chính Đức Giêsu, và Ngài đã biến nó thành niềm hy vọng khi tin tưởng và tín thác nơi Thiên Chúa Cha là Đấng khơi nguồn và cùng đích của mọi sự.

  1. Sự xao xuyến của các môn đệ

Sau Đức Giêsu, sự xao xuyến cũng không buông tha các môn đệ. Các ông xao xuyến là bởi vì trước khi nói những lời ly biệt, Đức Giêsu đã tiên báo Phêrô sẽ trối Thầy (x. Ga 13, 38); Giuđa thì bán Thầy (x. Ga 14, 21); các môn đệ sẽ bỏ chốn (x. Mt 26, 56). Như thế, các ông thấy trước những viễn cảnh đó sẽ xảy ra, nên các ông lo sợ cho giờ phút kinh hoàng này sẽ đến với Thầy mình và các ông đều bị liên lụy là lẽ tất yếu.

Nỗi xao xuyến của các ông còn là nỗi sợ cô đơn. Các ông đã bỏ mọi sự, vợ con, nhà cửa, sự nghiệp để đi theo, ấy vậy mà giờ đây các ông sắp phải chia tay Thầy của mình. Sự chia tay này theo lối hiểu của các ông chẳng khác gì “rắn mất đầu”; hay “tàu không người lái”. Vậy thì các ông sẽ đi đâu và về đâu đây???

Thêm một lý do nữa khiến các môn đệ xao xuyến, đó là: khi còn sống với các ông, Đức Giêsu hướng dẫn, dạy dỗ và dẫn dắt các ông từng ly từng tý, vậy Ngài sắp ra đi thì ai là người dẫn lối chỉ đường cho các ông?

Buồn sầu và xao xuyến của các môn đệ là lẽ thường tình nơi thân phận con người trước những điều không may, nguy hiểm, chia ly, từ biệt, rồi phải đối diện với chốn trần gian đầy tục lụy, thù hằn, thử thách và ngay cả cái chết như Thầy của mình.

Tuy nhiên, những sự xao xuyến đó của các ông đã được Đức Giêsu trấn an khi nói: “Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1). Chỉ có niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa mới có thể giúp các ông vượt qua mọi gian nan, thử thách xảy đến trong cuộc sống trần gian; còn khi các ông xao xuyến không biết về đâu thì chính Ngài đã nói: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14,3), rồi khi các ông xao xuyến không biết định hướng cho cuộc sống tương lai thì Đức Giêsu lại nói: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14, 6). Đường ở đây không phải Đức Giêsu muốn nói về một lối đi theo nghĩa đen, nhưng Ngài muốn các ông hiểu rằng: Ai yêu mến, tôn thờ, sống theo lời Ngài thì chắc chắn đến được với Chúa Cha. Vì Đức Giêsu và Chúa Cha là một. Thấy Đức Giêsu là thấy Chúa Cha!; cuối cùng, sự ra đi của Đức Giêsu đem lại lời hứa hẹn tràn đầy niềm vui và bình an khi Ngài hứa trao ban Chúa Thánh Thần trên các ông. Như vậy, Đức Giêsu ra đi thì tốt hơn cho các ông, vì Ngài sẽ ban Chúa Thánh Thần đến dạy dỗ các ông biết những điều mà trước đây, các ông không thể hiểu được! (x. Ga 14, 26).

Như vậy, qua lời trấn an của Đức Giêsu “Anh em đừng xao xuyến!” (Ga 14,1), Ngài muốn mặc khải cho các ông thấy rằng: quê hương họ ở trên trời (x. Pl 3, 19), mà Đức Giêsu sẽ là người đầu tiên trở về với nguồn cội, nơi mà từ đó được phát xuất ra để dọn chỗ cho họ. Vì thế, các ông đừng xao xuyến, hãy tin vào Thầy, trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở.

  1. Sự xao xuyến của con người ngày hôm nay

Trong thực tại cuộc sống, chúng ta thường gặp những cảnh ngộ nhiều lúc không được như lòng mong muốn. Tâm trạng này của mỗi chúng ta cũng chính là tâm trạng của các môn đệ khi xưa, nào là: sự cô đơn; quan điểm và thực trạng xã hội hoàn toàn xa lạ với đường lối của Thiên Chúa, của Tin Mừng; rồi ốm đau; bệnh tật… nào là con cái hư hỏng; nào là buôn bán không gặp thời; nào là thất vọng vì những gương xấu trong cuộc đời; hay chính những chuyện tốt ta muốn làm mà cũng không được… Những sự xao xuyến ấy luôn luôn ở bên cạnh chúng ta, nó theo chúng ta như hình với bóng, vì thế, triết gia Martin Heideiger khi suy tư về con người, ông đã nói về sự xao xuyến này như sau: “Con người là một hữu thể bị ném ra cuộc đời, hiện hữu giới hạn trong thời gian, nghĩa là con người sống để mà chết. Và bởi con người sống và đi đến cái chết không thể tránh khỏi, nên con người mang nỗi khắc khoải khôn nguôi. Cái chết và nỗi khắc khoải được định nghĩa là thành tố làm nên con người hiện sinh. Đời người là như vậy. Chẳng ai làm người mà vô sự”.

Tuy nhiên, đối với chúng ta là người kitô hữu, chúng ta có một niềm tin mạnh mẽ, đó là: đằng sau cái chết là sự sống vĩnh hằng. Niềm tin này hôm nay được Đức Giêsu mặc khải: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha của Thầy, có nhiều chỗ ở […] Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó”(Ga 14, 1-3); hay lúc khác Đức Giêsu nói: “… tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6, 40).

Như vậy, chết không phải là hết. Cuộc sống này chỉ là một sự chuyển tiếp mà thôi. Khi tin như thế, Chúng ta có quyền hy họng vào lời căn dặn, trấn an của Đức Giêsu: “Anh em đừng xao xuyến!” (Ga 14, 1).

Một mẫu gương đáng để chúng ta noi theo khi sống niềm tin của mình vào Đấng là đường, là sự thật, và là sự sống…. đó chính là triết gia Pascal. Cả cuộc đời và sự nghiệp của ông đã đi vào trong lối suy tư mang đậm niềm tin nơi Đức Giêsu. Điều này được chứng minh khi người nhà của Pascal tìm thấy nơi gấu áo của ông lúc ông đã qua đời, tấm giấy chính tay ông viết và lưu giữ suốt cuộc đời, ông viết: “Sự sống đời đời là hiểu biết và yêu mến Ðức Kitô và Ðấng đã sai Ngài… lửa, lửa, lửa; nước mắt, nước mắt, nước mắt của tình yêu”.

Ðó là bí quyết sống niềm tin, phó thác của B. Pascal một văn hào, một triết gia, một nhà toán học. Đây cũng phải là bí quyết sống của mỗi chúng ta khi xác định quê hương của chúng ta ở trên trời. Nơi quê hương ấy hoàn toàn khác với quê hương hay những thực tại mà chúng ta thấy hiện nay, vì thế, mọi việc làm, lời nói… của chúng ta hãy quy chiếu về đó như là điểm đến của cuộc đời nơi những người có niềm tin vào Chúa và cuộc sống đời sau.

Quê hương ấy được thánh Giáo phụ Augustinô diễn tả như sau: “Hội Thánh được biết có hai cuộc sống Thiên Chúa đã mạc khải và trao ban, đó là cuộc sống trong đức tin và cuộc sống trực kiến, cuộc sống lữ hành và cuộc sống nơi cư ngụ vĩnh viễn, cuộc sống lầm than vất vả và cuộc sống nghỉ ngơi an nhàn, cuộc sống ra sức làm việc và cuộc sống chiêm ngắm tôn nhan Thiên Chúa là phần thưởng”.

Lạy Chúa, xin cho mỗi người chúng con không bị rơi vào tình trạng xao xuyến trước những điều bất trắc trong cuộc sống, xã hội và con người hôm nay, bởi xác tín rằng, quê hương chúng con ở trên trời, và mọi điều trái ý đó xảy đến như là một điều kiện cần cho được cứu rỗi. Có thế, chúng con hy vọng sẽ được vào nơi mà Đức Giêsu đã đi trước dọn đường và chuẩn bị cho chúng con. Amen.

Về mục lục

.

HÃY TIN TƯỞNG VÀO CHÚA

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Theo nguồn tin của Tổ Chức Khí Tượng Thế Giới (WMO: World Meteorological Organization) nói hôm Thứ Năm (27/01/2011). Các lớp băng ở Bắc Cực tan thêm và bởi thời tiết cực đoan khiến trái đất này đang nóng dần lên. Có một số khác lại cho rằng trái đất đang lạnh đi, ngày 06/01/2014 cơn bão Hercules đi qua khu vực phía bắc Mỹ khiến nhiệt độ nơi này xuống thấp kỷ lục trong vòng 20 năm -31 độ C ở Chicago, thậm chí đến – 60 độ C tại một số thành phố làm 13 người chết, gần 3.000 chuyến bay bị hủy. Ngày 7/1, 50 bang nước Mỹ đều có nhiệt độ dưới 0 độ C vào một thời điểm. Ngay tại Sapa, Việt Nam có tuyết phủ nhiều ngày.

Số khác trung dung hơn, cho rằng nhiệt độ Trái đất đang thay đổi nóng lạnh, đột ngột bất thường, từ mức lạnh gần như thấp nhất chuyển sang mức nóng đỉnh điểm chưa từng thấy trong lịch sử suốt gần 100 năm qua.

Tóm lại, sự sống trên mặt đất của con người và mọi sinh vật đang bị đe dọa, và người ta đi tìm một hành tinh xanh khác dễ sống hơn.

Về phương diện con người, nạn phá thai đã lến tới mức báo động chưa từng thấy trong lịch sử loài người. Mỗi năm chỉ riêng Việt Nam đã có gần 3 triệu ca phá thai. Có nghĩa là mỗi ngày có khoảng 8 ngàn ca phá thai. Thứ nhất Sài Gòn, kế đến là Hà Nội, Huế, Cần Thơ… Duy trì sự sống là một yếu tố căn bản cho sự tồn tại của một dân tộc, ấy vậy mà họ đang tiêu hủy sự sống con người.

Con người đã dùng vũ khí sinh học giết người hàng loạt để hủy diệt nhau. Có những chuyện chưa từng nghe thì nay đã thấy, như “Bất hiếu với cha mẹ nơi cửa tử bệnh viện” gây nỗi xót xa, tức giận trong cộng đồng, nghĩa là mẹ ốm có thể chữa được, 8 người con cãi nhau rồi quyết định mang mẹ về chờ chết. Hay cả năm người con đồng ý với án tử hình bố. Một vài dẫn chứng cụ thể trên cho thấy Trái đất này, con người ngay nay thật khó sống và khó yêu.

Những ngày hè thật là nóng, phiến quân IS đã làm thế giới lo sợ, nay cộng thêm khủng hoảng quan hệ Liên – Triều, khiến người ta lo âu về chiến tranh thế giới có thể xảy ra.

Trái đất và con người đang như thế, lời Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng : “Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy ” (Ga 14, 1). Tại sao Chúa Giêsu nói những lời ấy? Thưa là vì trước sự ra đi sắp đến của Người đã làm cho các môn đệ cảm thấy bất an. Các ông lo cho chính mình, sợ bị bỏ rơi, phải sống cô đơn, và bằng một lời hứa Chúa Giêsu nâng đỡ các ông : ” Thầy đi để dọn chỗ cho các con ” (Ga 14, 2), và sau đó ” Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó ” (Gn 14,2-3). Qua thánh Tôma, các tông đồ đáp lại lời trấn an của Chúa Giêsu như sau: “: ” Lạy Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường đi? ” (Ga 14, 5). Nhân định nầy rất đúng, và Chúa Giêsu đã không tránh né câu hỏi đi kèm theo đó. Câu trả lời của Chúa Giêsu qua bao thế kỷ vẫn còn giá trị như là ánh sáng rõ ràng cho bao thế hệ tiếp đến: “” Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy “(Ga 14, 6).

“Chỗ” mà Chúa Giêsu ra đi để chuẩn bị, là ở nơi “nhà Cha”; ở đó, người môn đệ sẽ có thể được sống đời đời với Thầy mình, và tham dự vào niềm vui của Người. Tuy nhiên, để đạt đến mục tiêu nầy, thì chỉ có một đường mà thôi: đó là Chúa Kitô, là Ðấng mà người môn đệ phải từ từ đồng hóa chính mình theo đó. Sự thánh thiện thật sự hệ tại ở điểm nầy: đó là không phải người Kitô sống, nhưng Chúa Kitô sống trong người đó (x. Gal 2,20). Ðây là đích điểm cao cả, được đi kèm với một lời hứa cũng hết sức khích lệ: ” Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm những việc Thầy đã làm. Người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn, vì Thầy về với Cha”(Ga 14,12).

Chúng ta lắng nghe những lời trên của Chúa Giêsu: ” Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy…” Thử hỏi, cuộc sống của chúng ta sẽ ra như thế nào, nếu vô thần, nếu người kitô hữu không thực hành và liên lỉ sống đức tin, được củng cố bởi Ðức Cậy hướng về Trời Cao, nơi con người có thể gặp Chúa Kitô? “Thầy đi để dọn chỗ cho các con … để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó ” (Ga 14, 2).

Vậy, đừng xao xuyến lo âu vì những bất ổn của địa cầu, của tình anh em hữu nghị đổi thay, hay lòng người thay lòng đổi dạ. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Chúa Đức Giêsu Kitô. Hãy phó thác hoàn toàn cho Chúa, như trẻ nhỏ trong vòng tay của nguời Mẹ. Vì thế giới này là tạm bợ, con người là thay đổi, không phải là chổ nương thân. Chỉ trong Thiên Chúa chúng ta mới tìm được nguồn vui tột đỉnh của tâm hồn. Ước chi lời khuyên của Chúa Giêsu hôm nay thấm nhập vào trong tâm trí chúng ta, như là nguồn mạch của hòa bình, sự thanh thản và niềm an vui. Nếu Chúa Giêsu Kitô là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, chúng ta còn lo sợ hãi gì? Tại sao không tin tưởng vào Thiên Chúa, là Cha Đức Giêsu, Cha chúng ta và tin vào Đức Giêsu, Chúa chúng ta?

Còn hạnh phúc nào hơn khi có Thiên Chúa là sức mạnh thiêng liêng giúp chúng ta không bị gục ngã dưới sức nặng của khổ nhọc, của tuyệt vọng và buồn phiền…

Xin Mẹ Maria giúp chúng ta chăm chú nhìn lên Thiên Chúa Cha. Xin Mẹ hãy nắm tay hướng dẫn và thôi thúc chúng ta luôn vững tin vào Chúa như Mẹ. Amen.

Về mục lục

.

CÙNG ĐÍCH

Lm. Trần Việt Hùng

Các con xao xuyến làm chi.

Tin vào Thiên Chúa, từ bi vô ngần.

Thầy đi dọn chỗ ân cần,

Nơi nhiều chỗ ở, dự phần phúc vinh.

Nhà Cha cư ngụ thiên đình,

Các con dõi bước, bình sinh bên Thầy.

Là đường, sự thật đong đầy,

Thầy là sự sống, dựng xây Nước Trời.

Chính Cha hiện hữu muôn đời,

Mọi loài tạo tác, tuyệt vời cao sang.

Ngôi Hai Con Chúa dẫn đàng,

Tìm về chính lộ, nhẹ nhàng hân hoan,

Chúa Con chiến thắng khải hoàn,

Vinh quang thập giá, thành toàn ước mơ.

Cha Thầy yêu mến vô bờ,

Qua Thầy mạc khải, tôn thờ Ngôi Ba.

Thấy Thầy là thấy Chúa Cha.

Dục lòng tin kính, mưa sa phúc lành.

Ngợi khen chúc tụng thánh danh,

Phụng thờ kính mến, lòng thành tri ân.

Chúa Kitô là tảng đá sống động đã bị người ta loại bỏ, nhưng đã trở nên tảng đá góc tường. Chúa đã trở thành trung tâm điểm của đời sống con người. Sau khi hoàn tất sứ mệnh nơi trần gian, Chúa đã trở về cùng Thiên Chúa Cha. Chúa về trời để dọn chỗ cho chúng ta. Rồi Ngài sẽ trở lại đem chúng ta đi với Ngài. Thật là hạnh phúc biết bao. Chúng ta sẽ có chỗ dung thân đời đời bên Chúa.

Nhiều người băn khoăn về ý nghĩa cuộc đời. Không biết kết cục cuộc đời sẽ ra sao? Sau khi chết sẽ đi về đâu? Cha ông nói chết là qua đời, quá vãng, từ trần, qui tiên và là vào thế giới bên kia. Các ngài cố gắng đi tìm ý nghĩa và cùng đích của cuộc đời. Tự con người đi tìm và tìm mãi vẫn không có một giải đáp đích thực. Có nhiều người cố tìm hạnh phúc ở đời tạm này và dừng tại đó.

Phúc âm hôm nay, Chúa đã mở cho chúng ta một con đường. Chúng ta tìm thấy ý nghĩa và cùng đích của cuộc đời trong Chúa. Chúa phán: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống”. Qua con đường của Chúa, chúng ta sẽ đạt tới đích. Con đường của Chúa là con đường yêu thương và tha thứ. Con đường của sự đơn sơ khiêm tốn. Con đường của sự từ bỏ và dấn thân. Sau cùng là con đường của thập giá. Đi đúng đường chúng ta sẽ hướng tới cùng đích. Chúng ta đừng lo lắng, vì Chúa Giêsu đã nói rằng trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở. Các con hãy tin vào Cha và vào Thầy.

Truyện kể: Vào một ngày nọ, có một nhà truyền giáo phục vụ bên Trung Quốc đã lâu năm và một ca sĩ mới sang khoảng hai tuần, cùng trở về Hoa Kỳ trên một chuyến tầu. Tầu cập bến, có cả ngàn người ra chào đón người ca sĩ, nhưng chẳng có ai để ý đến nhà truyền giáo. Nhà truyền giáo cảm thấy buồn trong lòng, thưa cùng Chúa: Lạy Chúa, con dâng hiến cho Chúa cả cuộc đời. Còn anh ca sĩ chỉ có 14 ngày. Vậy mà có cả ngàn người chào đón anh về. Chúa trả lời: Hỡi con, con chưa về nhà mà.

Thật thế, quê hương trần thế chỉ là quê tạm và là nhà trọ của khách lữ hành. Chúng ta thấy đó, không có nơi đâu là bền vững. Người ta vẫn thường thay đổi chỗ ở trong cuộc sống mà. Ngôi nhà mà chúng ta mong ước và chờ đợi, đó chính là nơi Chúa hứa dọn sẵn cho chúng ta.

Chúng ta không còn lo âu sợ hãi khi đối diện với cuộc sống ngày sau. Có Chúa đi trước dọn chỗ rồi. Chúa sẽ dẫn đường chúng ta đi. Hãy phó thác vào sự quan phòng của Chúa. Hãy đặt bàn tay chúng ta trong lòng bàn tay Chúa. Chúa sẽ dẫn đưa chúng ta về nhà Cha của chúng ta.  

Về mục lục

.

TRỞ NÊN CHÂN DUNG ĐẸP CỦA CHÚA GIÊSU

Lm. Inhaxiô Trần Ngà  

Nhiều lần Chúa Giê-su nói về Chúa Cha khiến các môn đệ đâm ra tò mò: Chúa Cha là Ai? Ngài ở đâu? Ngài là Đấng thế nào? 

Thế nên Phi-líp-phê mới đề nghị với Chúa Giê-su: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” 

Chúa Giê-su là hình ảnh của Chúa Cha  

Bởi vì trăm nghe không bằng một thấy và vì không thể dùng ngôn ngữ hạn hẹp của con người để diễn tả mầu nhiệm cao vời về Chúa Cha, nên Chúa Giê-su chỉ cho Phi-líp-phê cũng như các môn đệ xem chân dung, xem hình ảnh sống động của Thiên Chúa Cha. Chân dung đó, hình ảnh đó chính là Ngài: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9. 12,45). 

Tiếp theo, Chúa Giê-su cũng tỏ cho các môn đệ biết giữa Ngài và Chúa Cha có một mối hiệp thông hết sức mật thiết. Những lời Chúa Giê-su nói chính là những lời của Chúa Cha được phát ra qua môi miệng Chúa Giê-su; những gì Chúa Giê-su thực hiện trong cuộc đời cũng là những hành động của Chúa Cha…: “Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Ngài làm những việc của mình. (Gioan 14, 10). 

Thế là Chúa Cha tự tỏ mình qua Chúa Giê-su. Nhìn vào Chúa Giê-su, nhân loại sẽ nhận biết Thiên Chúa Cha. 

Giáo hội là hình ảnh của Chúa Giê-su  

Tương tự như Phi-líp-phê hôm xưa thỉnh cầu Chúa Giê-su bày tỏ cho các môn đệ biết Chúa Cha, thì nay, nhiều người cũng muốn nhờ chúng ta bày tỏ cho họ nhận biết chân dung của Chúa Giê-su. 

Trước vấn nạn nầy, thánh A-tha-na-si-ô đưa ra một chỉ dẫn cụ thể như sau:  “Chúa Cha được bày tỏ qua Chúa Con và Chúa Con được bày tỏ qua Giáo hội.” Nói khác đi, Chúa Con là hình ảnh trung thực của Chúa Cha, còn Giáo hội là hình ảnh trung thực của Chúa Con, và mỗi người chúng ta, vì là thành phần của Giáo hội, nên cũng phải là hình ảnh trung thực của Chúa Giê-su. 

Trở nên tấm ảnh đẹp của Chúa Giê-su  

Thiên Chúa tạo dựng nên con người theo hình ảnh Chúa. Hơn nữa, ki-tô hữu còn là chi thể của Chúa Giê-su (I Cor 6,15), là hiện thân của Thiên Chúa, được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giê-su (Rm 8, 29. Pl 3,10)). Vì thế, ki-tô hữu thực sự là hình ảnh sống động của Thiên Chúa, bày tỏ chân dung Thiên Chúa cho mọi người. 

Giờ đây, nhìn lại mình, chúng ta có xứng đáng là hình ảnh, là tấm chân dung của Chúa chưa? 

Có một số người rất sợ bị người khác chụp hình, hoặc khi cần phải chụp hình thì cố tạo dáng, phải nở nụ cười thật duyên, phải làm sao cho ăn ảnh… vì sợ rằng tấm ảnh của mình, khi in ra, không đẹp. 

Tâm lý của người đời là hễ “tốt thì khoe nhưng xấu thì che” do đó, ai cũng sợ phô bày hình ảnh không đẹp của mình cho thiên hạ trông thấy. 

Một khi tấm ảnh được in ra, nếu thấy chân dung của mình tươi đẹp, người ta muốn phóng ra khổ lớn để trưng bày giữa phòng khách, muốn đưa lên “mạng” để cho nhiều người chiêm ngưỡng; ngược lại, nếu thấy chân dung mình xấu xí, người ta giấu kín hoặc huỷ nó đi. 

Mỗi một ki-tô hữu cũng là một tấm ảnh của Chúa Giê-su. Chắc chắn Chúa Giê-su không muốn chân dung của Ngài xấu xí. Có lẽ Chúa Giê-su cũng muốn dùng “nghệ thuật sửa ảnh” để chỉnh sửa tấm ảnh của mình cho xinh đẹp và tất nhiên, Chúa Giê-su cũng muốn trưng bày chân dung tươi đẹp của Ngài ra cho người ta trông thấy (Mt 5,16) và điều đáng buồn, là có lẽ Chúa Giê-su cũng muốn che giấu những tấm chân dung xấu xí của Ngài đi. 

Là ki-tô hữu, là chân dung của Chúa Giê-su, chúng ta cần phải được “chỉnh sửa” hằng ngày, không phải bằng kỹ thuật photoshop hiện đại, nhưng bằng cách chừa bỏ thói hư tật xấu và trau dồi nhân đức, để những vết đen của tội lỗi được xoá bỏ đi, để cho nét đẹp của tâm hồn đạo đức được toả sáng, nhờ đó, Chúa Giê-su sẽ hãnh diện về ta là tấm chân dung tươi đẹp của Ngài.

Lạy Chúa Giê-su, 

Đã bao lần chúng con làm cho chân dung Chúa trở méo mó, biến dạng và có thể là rất khó thương vì đời sống không đẹp của chúng con.

Xin cho chúng con biết nhìn lên Chúa như một khuôn mẫu tuyệt vời để đào tạo bản thân mình thành con người mới, có phẩm chất cao đẹp, có đạo đức và văn hoá để nhờ đó, chúng con trở thành hình ảnh trung thực của Chúa cho thế giới hôm nay.

Về mục lục

.

NGƯỜI LÀ CON ĐƯỜNG

AM. Trần Bình An

Ở La Mã, đường Appia là con đường được làm ra cổ xưa nhất. Đây là con đường dài khoảng 200km nối liền giữa thành phố Capua, Caserta, Campania, với thủ đô La Mã.

Con đường trải dài 200 km đó gần như là một đường thẳng. Đặc trưng nhất của các con đường được người La Mã làm ra, chính là dạng đường thẳng. Về sau, trong hệ thống đường xá trải rộng khắp La Mã, những con đường có thể gọi là huyết mạch, thì chạy dài thẳng tấp vài chục km, xuyên ngang dốc núi hiểm trở, vượt qua thung lũng, san lấp các đầm lầy băng băng thẳng tiến. 

Kể từ khi con đường Appia được bắt đầu làm vào năm 312 trước Công nguyên cho đến năm 180 sau Công nguyên, trải qua 500 năm, người La Mã như bị thôi thúc bởi cái gì đó vẫn tiếp tục làm đường. Tổng chiều dài của các con đường vào khoảng 290.000 km. Theo tính toán là hơn 7 vòng trái đất, chỉ những con đường huyết mạch thôi cũng lên đến chiều dài 86.000 km. Nhân tiện đây cũng xin nói thêm, các xa lộ liên bang của Mỹ cũng chỉ hơn 88.000 km. Thế nhưng, nếu so về diện tích thì Đế quốc La Mã chiếm 7.200.000km2, Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ chiếm 9.360.000 km2 . 

Đường được trải bằng đá. Rất nhiều lớp đá chồng chất lên nhau có độ dày từ 1-1,5 mét. Lớp mặt được lát đá dăm, đá chẻ, bên dưới là đá vụn, dưới nữa là các tảng đá được kết dính bằng vữa. Thật đáng kinh ngạc đường cao tốc hiện đại theo tiêu chuẩn Nhật Bản, thì độ dày các lớp đá cũng 1,4 mét, còn đường thông thường cấp Tỉnh lộ chỉ dày vỏn vẹn có 15cm mà thôi. 

Chiều rộng các con đường không rộng lắm. Bề rộng lòng đường Appia vào khoảng 3 mét. Tuy nhiên, ven mỗi bên đường người ta xây dựng lối dành cho người đi bộ có bề rộng 1,5 mét, và phía ngoài lối đi bộ đó là bãi cỏ rộng 6m. Tổng cộng khoảng không gian 18 mét của con đường được đảm bảo cho việc đi lại. 

Rồi người ta dựng các cột mốc biểu thị lộ trình. Ở những nơi xung yếu, người ta dựng các trạm dừng chân. Nơi đây, lữ khách có thể đổi ngựa, ăn uống và ngủ nghỉ. 

Dĩ  nhiên không phải là tất cả các con đường là đều được trang bị như vậy. Ở các vùng núi hay biên giới sâu xa, bề rộng đường hẹp đi, các trạm dừng chân được thay thế bằng đồn đóng quân của quân đội La Mã. Thế nhưng, các con đường được xây dựng trên toàn thế giới La Mã bao trùm miền Viễn Đông đến Bắc Phi, và phủ cả Châu Âu. (Nguyễn Thị Hồng Lan dịch, Wakyama Shigeru, Đường Nào Cũng Về La Mã) 

Trong Tin Mừng thánh Gioan hôm nay, Đức Giêsu tuyên xưng là “con đường, là sự thật và là sự sống.” Nếu con đường nào cũng dẫn về Roma, thì con đường Đức Giêsu luôn dẫn đi trong sự thật và sự sống. 

Người là Con Đường

Câu trả lời rất minh bạch của Đức Giêsu cho ông Tôma, cũng như cho mỗi người:”Thầy là đường, là sự thật và là sự sống.” Đó là mặc khải vô cùng quan trọng, rất chính xác, rất rõ ràng dành cho những ai đi theo Người. 

Người giới thiệu chính mình là con đường đức tin chật hẹp, chông gai, đầy khó khăn, nhưng hãy chọn đi, nếu muốn được sống: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy.’(Mt 7, 13-14) Đó cũng chính là con đường cứu độ, như Đức Giêsu đã bao lần công khai khẳng định: “Các ông này là tôi tớ Thiên Chúa Tối Cao ; họ loan báo cho các người con đường cứu độ.” (CV 16, 17) 

Người là sự thật 

Trước quan toà Philatô,  Đức Giêsu dõng dạc xác nhận Người đến đem công lý, làm chứng cho sự thật, nhiệm vụ của Người đến thế gian: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.” 

Người ban công lý và sự thật, khi rao giảng Tin Mừng cứu độ: “Cả anh em nữa anh em đã được nghe lời chân lý là Tin Mừng cứu độ anh em.” (Ep 1, 13) Trong thư gửi tín hữu Côlôsê, thánh Phaolô cũng tiếp tục nhấn mạnh Tin Mừng là chân lý:“Lòng tin và lòng mến đó phát xuất từ niềm trông cậy dành cho anh em trên trời, niềm trông cậy anh em đã được nghe loan báo khi lời chân lý là Tin Mừng đến với anh em.” (Cl 1, 5-6) 

Người là sự sống

“Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy.” Không thể nào được sống, được thấy Chúa Cha, mà không qua Đức Giêsu, không qua con đường của Người dẫn dắt, cứu độ và giải thoát khỏi tội lỗi và sự chết. 

Để được sống nhờ Đức Giêsu gia ân, thánh Phaolô kêu gọi điều chỉnh đời sống, như ban đầu chúng ta được tạo dựng tốt lành bắt nguồn từ sự thật:“Anh em hãy cởi bỏ kiểu sống xưa kia, con người cũ đã ra hư hỏng buông theo những đam mê lầm lạc… Hãy mặc lấy người mới đã được dựng nên tạo theo Thiên Chúa, trong công chính và thánh thiện bắt nguồn trong sự thật.” (Ep 4, 22 & 24) 

“Ngôi Lời đã nhập thể, và Đức Chúa Cha đã phán: “Đây là Con Ta yêu dấu và đẹp lòng Ta, hãy nghe lời Người.” Người là sự sống: con chỉ sống bằng tinh thần của Người. Người là đường: con chỉ theo bước chân người.” (Đường Hy Vọng, số 550) 

Lạy Chúa Giêsu, xin mở lòng, mở mắt, mở linh hồn chúng con luôn biết và ghi nhớ rằng, Chúa chính là con đường, là sự thật và là sự sống, để chúng con cải cách đời sống theo Tin Mừng. 

Khấn xin Mẹ Mân Côi, xin cầu bầu chúng con luôn vâng theo lời Mẹ, biết ăn năn, sám hối và cầu nguyện, xin Chúa cứu giúp chúng con trung thành với Chúa luôn mãi. Amen.

Về mục lục

.

CON ĐƯỜNG GIÊSU

JM. Lam Thy

Trong nhóm Mười Hai Tông đồ tiên khởi, ngoài một Giu-đa It-ca-ri-ốt chối Chúa phản Thầy, số còn lại tuy không đến độ quá quắt như Giu-đa, nhưng vẫn còn bán tín bán nghi (khi thì tin Thầy mình là Thiên Chúa, lúc lại ngờ là ma). Vì thế nên mới có cảnh cho đến giờ phút cận kề cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su, sau gần 3 năm theo Thầy nhưng vẫn chưa tin Thầy mình chính là Con Thiên Chúa, nên mới thắc mắc như kiểu Tô-ma và Phi-líp-phê trong bài Tin Mừng hôm nay (CN V/PS-A – Ga 14, 1-12). Cái thắc mắc của Tô-ma (“Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?”) thì còn khả dĩ, vì Đức Giê-su dùng nghĩa bóng trong Lời dạy của Người, nhưng đến câu cuối thì Người lại nói: “Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.” (Ga 14, 4). Tuy nhiên, đến như Phi-líp-phê thì lại đặt một câu hỏi bộc lộ rõ tâm trạng chưa tin tưởng Thầy mình là Con Thiên Chúa, nên khi nghe Thầy nói: “Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người.” (Ga 6-7), Phi-líp-phê mới thưa: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” 

Chính vì những thắc mắc của các Tông đồ bày tỏ tâm trạng nửa tin nửa ngờ như thế, nên Đức Ki-tô mới phải nhắc nhở (gần như quở trách): “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: “Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha”? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình.” Và Người nhấn mạnh: “Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm.” (Ga 14, 9-11). 

Thật là chua xót! Người Thầy ở liền bên, dạy bảo biết bao điều hay lẽ phải, và làm biết bao nhiêu việc chỉ có Thiên Chúa mới làm được. Vậy mà nay phải nói với những người thân cận nhất của mình như thế! Chẳng khác nào nói: Nếu không tin vào lời nói thì hãy tin vào việc làm của Thầy, bởi chính tự bản chất việc làm đã nói lên một cách chắc chắn bản chất của người làm nên những việc ấy! Thế mà chỉ một thời gian ngắn sau đó lại vẫn còn cảnh vừa mới tuyên xưng Thầy mình là Thiên Chúa, đã vội vàng chối bỏ đến 3 lần trong một đêm. Quả thật “Đời là thế, thế thời phải thế!”, biết sao được! Chính vì vậy nên mới nói đó chính là những thử thách nghiệt ngã trên hành trình tìm kiếm một con đường – con đường dẫn tời chân lý vĩnh cửu. 

Đã gọi là hành trình tức là đi trên một con đường (theo từ nguyên thì hành trình là  “Đường đi qua trong một chuyến đi dài”), sao lại còn nói “hành trình tìm kiếm một con đường”. Vấn đề là ở chỗ đó; ví dụ: “Đường nào cũng tới La Mã”, tôi đang trên đường đi tìm con đường ngắn nhất để tới La Mã. Nói cách khác là đang trên một con đường đi tìm một con đường khác. Các thánh Tông đồ tiên khởi đi theo Thầy Giê-su cũng với mục đích tất yếu là đi tìm một con đường – con đường hạnh phúc theo cách hiểu riêng của mỗi người. Đáng lý thấy Thầy giảng dạy, nhất là chứng kiến tận mắt những việc Thầy làm, thì các ngài phải hiểu được Thầy mình là ai. Cho tới khi đã được thấy tỏ tường vinh quang Phục Sinh, tức là được thấy những chứng liệu minh hoạ cho Lời dạy của Thầy – Thầy đã hoàn tất cuộc hành trình cứu chuộc nhân loại mà Chúa Cha đã trao phó; vậy mà vẫn cứ bán tín bán nghi, để đến nỗi Thầy phải nói lên câu nói chua xót như vậy. Đi theo Thầy để tìm kiếm con đường hạnh phúc, mà không biết “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống”.(Ga 14, 6)! Vậy đó!

Tuy nhiên, cũng đừng vội trách người xưa, mà hãy nhìn vào con người thời nay mà xem. “Gần chùa, gọi Bụt bằng anh” (tục ngữ VN) cũng là lẽ thường tình. Thầy sống một cách khiêm nhường quá, thân tình quá, bao dung quá, Thầy không coi học trò là tôi tớ mà là bạn hữu, Thầy không đến để được phục vụ mà là để phục vụ và thậm chí còn hiến dâng cả mạng sống mình làm giá chuộc học trò, cứu độ nhân loại. Thầy là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật mà lại quỳ xuống rửa chân cho học trò, rồi còn dạy “ai tát con má trái thì hãy đưa má phải cho họ tát tiếp”. Không, nếu thật sự Thầy là Thiên Chúa thì Thầy không thể qúa bình thường (đến độ gần như tầm thường) như vậy được. Vì thế mới đi nghe hết thầy bói này đến thày tướng kia, để mò tìm hết đền này, miếu nọ, tìm những thần này, thần khác, rồi cứ mải miết mê muội với những mộng tưởng con đường dẫn tới hạnh phúc. Hoá cho nên cũng chẳng lạ gì khi thấy vẫn còn quá nhiều người tin rằng con đường hạnh phúc là con đường vinh hoa phú quý, giàu sang danh vọng. Vâng, quả thật “gần chùa gọi Bụt bằng anh” vì “Bụt chùa nhà không thiêng”, nên mới ra cớ sự.  

Cuối cùng, thì lại phải nhắc đến một điều mà mỗi khi nhắc tới là y như rằng lại được nghe điệp khúc “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”. Nhưng cho dù có “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, cũng vẫn phải nhắc lại: Đó là vấn đề “Đức tin” – Đức tin và cuộc sống, đức tin trong cuộc sống. “Nếu không tin vào những lời nói của Thầy thì hãy tin vì những việc làm của Thầy” (Ga 14, 11). Thầy đã làm những công vịêc ấy vì ai và để làm gì? Cái mục đích cuối cùng nhắm tới phải chăng là đem lại hạnh phúc, đem lại sự sống cho các môn đệ? Vậy thì phải chăng Thầy chính là con đường hạnh phúc, con đường dẫn tới sự sống đích thực, mà mọi người đang kiếm tìm? 

Ôi! Lạy Chúa! Những sự kiện nhãn tiền xảy ra kề bên con, ngay trong cuộc sống của con, mà con vẫn bán tín bán nghi, lại đi tin vào vào những điều mơ hồ ảo tưởng. Rõ ràng là con đang đi trên một con đường, một hành trình dẫn về chân lý vĩnh cửu, dẫn tới hạnh phúc viên mãn, bởi luôn có Người Thầy Chí Thánh đồng hành; vậy mà con vẫn u mê không nhận thức được. Cúi xin Chúa hãy ban Thánh Thần soi sáng cho con hiểu ra được và vững tin rằng chỉ có một con đường duy nhất dẫn con về quê hương đích thực, sự sống vĩnh cửu, đó là CON ĐƯỜNG GIÊ-SU. Ôi! Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con! Amen.

Về mục lục

.

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
Tin mới