Các bài suy niệm Chúa Nhật 25 B

Đăng lúc: Thứ năm - 20/09/2018 14:14 - Người đăng bài viết: Ban Truyen Thong

 

CÁC BÀI SUY NIỆM LỜI CHÚA

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN – NĂM B

DẪN NHẬP

Lời Chúa: “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết” (Mc 9,35).

Nhập lễ:

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,

Phụng vụ Lời Chúa chúa nhật 25 thường niên hôm nay cho chúng ta thấy, Chúa Giêsu dạy các Tông đồ bài học khiêm nhường phục vụ như là điều kiện cho những ai muốn làm lớn trong vương quốc tình yêu của Người:

Muốn làm người lớn Nước trời,

Hạ mình phục vụ giúp người anh em.

Giê – su gương Chúa nhìn xem,

Sẵn sàng hiến tế để đem an bình.

Nếu ta yêu Chúa thật tình,

Hãy thương nâng đỡ hy sinh giúp người.

Hiệp dâng thánh lễ hôm nay, xin Chúa giúp chúng ta biết sống khiêm nhường phục vụ trong yêu thương như Chúa để xứng đáng là môn đệ của Ngưởi. Trong tâm yình đó, giờ đây chúng ta hãy thành tâm sám hối.

Sám hối:

X. Lạy Chúa, Chúa là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu độ trần gian. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa Kitô, Chúa dạy chúng con, ai muốn làm lớn thì hãy tự làm người rốt hết. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa, Chúa đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

Kết: Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.

CĐ: Amen.

Suy niệm:

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Sau năm 1975, tôi thấy ở những nơi công cộng hay các trường học với câu biểu ngữ: “cán bộ là đầy tớ của nhân dân” như là một chuẩn mực của những người làm lớn trong xã hội phục vụ dân. Nhưng đã có chuyện gặp cảnh sát giao thông người dân sợ! Gặp cán bộ chính quyền cấp cơ sở người dân sợ! Đấu tranh cho công lý người dân sợ! … đứng trước người “đầy tớ” của mình mà “ông chủ” sợ!. Điều gì mà cán bộ các cấp chính quyền khiến nhân dân sợ hãi? Phải chăng, bởi một số cán bộ đang lợi dụng sức mạnh của quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị để biến đó thành quyền lực cá nhân. Điều đó cũng đã từng xảy ra trong cựu ước, bài đọc 1 sách sáng thế thuật lại cho chúng ta khi những kẻ gian ác âm mưu chống lại người công chính: “Chúng ta hãy vây bắt kẻ công chính, vì nó không làm ích gì cho chúng ta, mà còn chống đối việc chúng ta làm, khiển trách chúng ta lỗi luật và tố cáo chúng ta vô kỷ luật”. Do sự tham vọng quyền lực, kêu ngạo họ vận dụng tất cả mưu kế và sức mạnh để gài bẫy, nhục mạ, tra tấn và loại trừ người công chính vì nếp sống của những người công chính tố cáo nếp sống vô luân của họ.

Thưa anh chị em, các Tông đồ đi theo Chúa Giêsu cũng không tránh khỏi tham vọng đầy quyền lực của kẻ làm lớn theo kiểu dân gian: Ước mong được ngồi bên phải, bên trái Chúa trong vương quốc Nước trời, ghen tị với người khác. Bài Tin Mừng hôm nay đã tố giác thái độ tranh dành địa vị của các ông: “vì, dọc đàng các ông tranh luận xem ai là người lớn nhất”. Nhân đây, Chúa Giêsu gọi mười hai ông lại hướng dẫn và dạy bảo các ông rằng: “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người”. Vì, “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”. Để cụ thể hóa giáo huấn, Chúa Giêsu đem một em bé lại đặt giữa các ông, ôm nó mà nói với các ông rằng: “Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy”. Chúa Giêsu đề cao tinh thần trẻ nhỏ, vì chúng là hạng người hèn kém, đơn sơ. Phục vụ những người hèn kém là công việc của những người muốn làm lớn. Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã làm gương cho các ông về việc phục vụ: Người quỳ xuống rửa chân cho các ông. Qua đó, Chúa muốn dạy các Tông đồ bài học khiêm nhường phục vụ như là điều kiện cho những ai muốn làm lớn trong vương quốc tình yêu của Người.

Có câu chuyện kể rằng, Đức Cha Gioan Cassaigne Sanh là một giám mục người Pháp thuộc Hội Thừa Sai Paris, phục vụ tại Việt Nam. Ngài nổi tiếng là vị giám mục người phong vì các quan tâm đặc biệt của ngài đến người bị bệnh phong cùi. Khi biết mình bị nhiễm phong ngài cười và nói: Có đau mới hiểu người đau và biết thương họ nhiều hơn. Ngài là mẫu gương tuyệt vời của đời sống giản dị, khiêm nhường, phục vụ tận tuỵ và yêu thương hết thảy mọi người.

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Tấm gương và tinh thần phục vụ hy sinh tự hạ của Đức Cha Cassaigne Sanh giúp chúng ta suy nghĩ tinh thần yêu thương phục vụ của người làm lớn. Để có tinh thần làm lớn theo quan điểm của Tin Mừng, chúng ta phải thay đổi não trạng. Thánh Giacôbê đã giúp chúng ta thực hiện quan điểm này bằng cách: bãi bỏ ganh tị, cãi vã, óc hưởng thụ, lạm dụng quyền hành để thao túng, hống hách, cửa quyền vì đó là sự hỗn độn và đủ thứ tệ đoan. Đồng thời, tích cực học đức khôn ngoan của Nước trời:  sống hiền lành chính trực, ôn hòa, bao dung, nhu mì, hướng thiện, đầy lòng nhân từ và hoa quả tốt lành, không xét đoán thiên vị, không giả dối. Hoa quả của công chính được gieo vãi trong bình an cho những người xây đắp an bình.

Chúa Giêsu đã tự hạ cho đến chết vì yêu thương và phục vụ chúng ta. Vì thế, Người đã được tôn vinh. Nguyện xin Chúa giúp chúng ta biết phục vụ trong khiêm nhường yêu thương, càng phục vụ càng nên giống Chúa hơn để chia sẻ hạnh phúc cho người khác. Amen.

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang.


 

BẢN VĂN CÁC BÀI ĐỌC –  Nguồn: UBPT/HĐGMVN ấn bản năm 1973  2

SỰ CAO CẢ CỦA KITÔ HỮU(*)– Chú giải của Noel Quession. 6

LOAB BÁO LẦN THỨ HAI VỀ CUỘC KHỔ NẠN VÀ PHỤC SINH CỦA CHÚA GIÊSU (*)- Lm Inhaxiô Hồ Thông. 14

AI LÀ NGƯỜI LỚN NHẤT- Chúa giải của Fiches Dominicales. 25

KHUÔN MẶT MỘT CON TRẺ- Chú giải mục vụ của Jaques Hervieux. 33

NGƯỜI CÔNG CHÍNH BỊ BÁCH HẠI- Lm. Carolo Hồ Bặc Xái 43

ĐỐI DIỆN VỚI MỤC ĐÍCH– Chú giải mục vụ của William Barclay. 64

NỀN VĂN MINH MỚI-  ĐTGM. Jos. Ngô Quang Kiệt 71

LÃNH ĐẠO LÀ NGƯỜI PHỤC VỤ – Lm. Giuse Nguyễn Hữu An. 76

LÀM TÔI TỚ– Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm.. 85

MIẾNG TIẾNG-  Lm. Vũ Đình Tường. 90

HÃY CÙNG DÌU NHAU TIẾN BƯỚC- Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 95

HÌNH THÀNH CHÍNH MÌNH QUA CHỌN LỰA- Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ  99

NGƯỜI LỚN HƠN CẢ LÀ AI?- Lm  Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB.. 104

PHỤC VỤ LÀ ƠN GỌI CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÚA KITÔ- Lm. Giuse Nguyễn Thành Long  109

THIÊN VỊ – Lm Giuse Trần Việt Hùng. 114

TRỜ NÊN NGƯỜI CAO QUÝ- Lm Inhaxiô Trần Ngà. 119

CHẤT NGƯỜI TRONG TÔI- Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn. 123

NGƯỜI LỚN VÀ TRẺ EM- Lm. Aphong Trần Đức Phương. 128

BƯỚC THEO CHÚA TRONG KHIÊM HẠ-  Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ  132

AI LÀ NGƯỜI LỚN NHẤT-  Lm Gioan M. Nguyễn Thiên Khải, CMC.. 137

LÀM ĐẦY TỚ CHO MỌI NGƯỜI  –  Lm. Phêrô Lê Văn Chính. 141

YÊU THƯƠNG PHỤC VỤ-  Trích Logos B.. 146

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

BẢN VĂN CÁC BÀI ĐỌC –  Nguồn: UBPT/HĐGMVN ấn bản năm 1973

BÀI ĐỌC I: Kn 2, 12. 17-20

“Chúng ta hãy kết án cho nó chết cách nhục nhã”.

Bài trích sách Khôn Ngoan

(Những kẻ gian ác nói rằng:) “Chúng ta hãy vây bắt kẻ công chính, vì nó không làm ích gì cho chúng ta, mà còn chống đối việc chúng ta làm, khiển trách chúng ta lỗi luật và tố cáo chúng ta vô kỷ luật. Vậy chúng ta hãy xem điều nó nói có thật hay không, hãy nghiệm xét coi những gì sẽ xảy đến cho nó, và hãy chờ xem chung cuộc đời nó sẽ ra sao. Vì nếu nó thật là con Thiên Chúa, Chúa sẽ bênh vực nó, sẽ giải thoát nó khỏi tay những kẻ chống đối nó. Chúng ta hãy nhục mạ và làm khổ nó, để thử xem nó có hiền lành và nhẫn nại không. Chúng ta hãy kết án cho nó chết cách nhục nhã, vì theo lời nó nói, thì người ta sẽ cứu nó!”. Chúng nghĩ như vậy, nhưng chúng lầm, vì tội ác của chúng đã làm cho chúng mù quáng. Và chúng không biết ý định mầu nhiệm của Thiên Chúa, nên cũng chẳng hy vọng phần thưởng công chính, và cũng không ưa thích vinh dự của những tâm hồn thánh thiện.

Ðó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 53, 3-4. 5. 6 và 8

Ðáp: Chúa đang nâng đỡ tâm hồn con (c. 6b).

1) Ôi Thiên Chúa, xin cứu sống con nhân danh Ngài, và xin sử dụng uy quyền phán quyết cho con! Ôi Thiên Chúa, xin nghe tiếng con cầu, xin lắng tai nghe lời miệng con xin.

2) Vì những kẻ kiêu căng nổi lên chống đối, và bọn người hung hãn tìm sát hại con, bọn chúng không nhớ Thiên Chúa ở trước mặt mình.

3) Kìa, Thiên Chúa phù trợ con, Chúa đang nâng đỡ tâm hồn con. Con sẽ tự nguyện hiến dâng lễ vật lên Chúa. Lạy Chúa, con sẽ ca tụng danh Ngài, vì danh Ngài thiện hảo.

BÀI ĐỌC II: Gc 3, 16 – 4, 3

“Hoa quả của công chính được gieo vãi trong bình an cho những người xây đắp an bình”.

Bài trích thư của Thánh Giacôbê Tông đồ.

Anh em thân mến, ở đâu có ganh tị và cãi vã, ở đó có hỗn độn và đủ thứ tệ đoan. Nhưng sự khôn ngoan từ trời xuống, thì trước tiên là trong trắng, rồi ôn hoà, bao dung, nhu mì, hướng thiện, đầy lòng nhân từ và hoa quả tốt lành, không xét đoán thiên vị, không giả dối. Hoa quả của công chính được gieo vãi trong bình an cho những người xây đắp an bình.

Bởi đâu anh em cạnh tranh và cãi cọ nhau? Nào không phải tại điều này: tức tại các đam mê đang giao chiến trong chi thể anh em đó sao? Anh em ham muốn mà không được hưởng, nên anh em giết nhau. Anh em ganh tị mà không được mãn nguyện, nên anh em cạnh tranh và cãi cọ. Anh em không có là tại anh em không xin. Anh em xin mà không nhận được, là vì anh em xin không đúng, cứ mơ tưởng thoả mãn các đam mê của anh em.

Ðó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 8, 12

All. All. – Chúa phán: “Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống”. – All.

PHÚC ÂM: Mc 9, 29-36

“Con Người sẽ bị nộp. Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ từ trên núi xuống, rồi đi ngang qua xứ Galilêa và Người không muốn cho ai biết. Vì Người dạy dỗ và bảo các ông rằng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta và họ sẽ giết Người. Khi đã bị giết, ngày thứ ba, Người sẽ sống lại”. Nhưng các ông không hiểu lời đó và sợ không dám hỏi Người. Các ngài tới Capharnaum. Khi đã vào nhà, Người hỏi các ông: “Dọc đàng các con tranh luận gì thế?” Các ông làm thinh, vì dọc đàng các ông tranh luận xem ai là người lớn nhất. Bấy giờ Người ngồi xuống, gọi mười hai ông lại và bảo các ông rằng: “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người”. Rồi Người đem một em bé lại đặt giữa các ông, ôm nó mà nói với các ông rằng: “Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Ðấng đã sai Thầy”.

Ðó là lời Chúa.

 CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

SỰ CAO CẢ CỦA KITÔ HỮU(*) Chú giải của Noel Quession

Đức Giêsu và các môn đệ ra khỏi đó, đi băng qua miền Galilê. Nhưng Đức Giêsu không muốn cho ai biết.

Một lần nữa, chúng ta lặp lại đề tài Chúa muốn ẩn thân. Đức Giêsu không được người ta hiểu, bị đám đông dân chúng bỏ rơi, bây giờ hoàn toàn chỉ chăm lo cách riêng vào việc đào tạo một số môn đệ của Người.

Phát xuất từ những vùng miền Bắc đi về miền Xêxarê Phi-líp-phê, ở nguồn sông Giođan, Đức Giêsu tiến gần về Giê-ru-sa-lem. Người băng qua xứ Galilê mà ở đó cách đây vài tháng Người đã rất thành công, nhưng một sự thành công không rõ rệt. Lần này Người không tìm dịp nói chuyện trước công chúng. Người chỉ nói với các tông đồ, là mầm mống của cộng đoàn Kitô hữu tương lai và những gì Người sắp nói với họ, là chính những luật lệ giúp họ sống trong cộng đoàn Giáo Hội.

Vì Người đang dạy các môn đệ rằng: “Con người sẽ bị nộp vào tay người đời”.

Trong khi Đức Giêsu không muốn người ta dùng tước vị “Con Thiên Chúa”. Người luôn đúng, nhất là trong giai đoạn thứ hai đời sống tác vụ của Người, tước vị “Con Người”. Ngược lại những gì thoạt tiên chúng ta có thể nghĩ, đây không phải là việc nhấn mạnh đến nhân tính của Đức Giêsu. Thực tế, những Kitô hữu đầu tiên, phát xuất từ đạo Do Thái đã gán cho tước vị này một ý nghĩa sâu đậm: Đối với họ, tước vị này ám chỉ Đấng Mêsia do ngôn sứ Đanien đã báo trước (7,13-14). “Con Người” này có nguồn cội từ trời, Người từ trên mây trời mà xuống… Người đến nhân danh Thiên Chúa để hoàn tất công trình của Chúa.

Chúng ta thấy cách nói của Đức Giêsu muốn điều chỉnh lại ý niệm mà các tông đồ đã có về Đấng Mêsia. “Con Người Thần Thánh” từ trên mây trời hiện đến cách vinh quang mà các bạn đang mơ ước, thì Đấng đó sẽ bị giao nộp không chút tự vệ “vào tay loài người”. Các bạn chớ nhầm lẫn Đấng Mêsia, chớ nhầm lẫn Thiên Chúa! Đức Giêsu thực sự do Thiên Chúa mà đến, nhưng không phải là Đấng mà loài người thường tưởng nghĩ.

Bị giao nộp.

Một Thiên Chúa ‘bị giao nộp’, một Thiên Chúa được ‘tăng ban’, một Thiên Chúa ‘Tình yêu’ chứ không phải một Thiên Chúa toàn năng, toàn quyền. Chúng ta tin không phải ở một Thiên Chúa toàn năng, nhưng là một Người Cha Toàn Năng, tin ở Đấng đã trao hiến hết mình, Đấng đã giao nộp mình vì chúng ta, mà Thập giá của Đức Giêsu là “mạc khải” rõ ràng và dứt khoát.

Cụm từ “bị giao nộp vì chúng ta” là những từ chủ yếu trong khoa thần học ban sơ. “Bị giao nộp vì tội lỗi chúng ta, và đã được Thiên Chúa làm cho sống lại để chúng ta được nên công chính” (Rm 4,25).

“Người đã không tha chính con của Người, mà đã giao nộp cho tất cả chúng ta” (Rm 8,32).

“Người đã thương yêu và thí mạng vì tôi” (Gl 2,20).

“Anh em hãy sống trong tình bác ái như Chúa Kitô đã thương yêu chúng ta và đã nộp mình” (Ep 5,2).

“Chúa đã giao nộp Người vì tội của chúng ta” (Is 53,2).

Chứng từ này được nhắc lại cho chúng ta mỗi khi cử hành Thánh Thể; “Đây là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con”.

Họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau, Người sẽ sống lại.

Kể từ lúc Thánh Phêrô tuyên xưng đức tin tại Xêxarê Phi-líp-phê, thì đây là việc loan báo lần thứ hai về cuộc thương khó. Toàn thể Tin Mừng của Maccô dẫn đưa chúng ta đến chóp đỉnh này: Sự tử nạn và Phục sinh. Đó là trọng tâm kinh Tin kính của chúng ta: Hai biến cố lịch sử. Đây thật là tiểu sử lạ lùng của một con người. Không phải sự sống của Người là quan trọng mà là “cái chết” của Người và việc Người “sống mãi”. Chúng ta không thể không lưu ý con người đó luôn luôn báo trước, cùng một lúc và một cách bình tĩnh rằng, Người sẽ “sống lại” sau khi chết. Đó cũng như Người coi cuộc sống thứ nhất của Người ở Palestine thời đó, không phải là cuộc sống quan trọng nhất.

Ngày nay, chúng ta có thực sự tin rằng Đức Giêsu vẫn đang sống không?

Mầu nhiệm Phục sinh là cốt yếu của Đức tin chúng ta. Và đó là đặc quyền duy nhất và căn cốt của Đức Giêsu. Không có một vĩ nhân nào khác dám tự phụ giải phóng được con người, khỏi định mệnh cuối cùng, là cái chết. Cả Đức Phật và Mahômét hay bất cứ một chủ thuyết nhân bản nào khác, cũng không đưa ra được một giải pháp trước thái độ lo âu lớn lao của con người luôn biết mình sẽ phải chết. Chỉ có Đức Giêsu, một cách bình tĩnh và chân thành đã dám nói: “Họ sẽ giết Tôi, nhưng Tôi sẽ sống lại”.

Đó là ánh sáng chủ yếu Chúa đã soi chiếu trên cái chết: Đức Giêsu biết rằng đó không phải là chấm dứt tất cả. Người biết những gì đang chờ đợi Người. Khi trải qua giây phút bi thảm của “hơi thở cuối cùng”, Đức Giêsu biết rằng Người không rơi vào hố đen của hư vô, nhưng vào vòng tay của Chúa Cha. Và điều đó đã dệt nên bài ca hy vọng của người Kitô hữu trong nghi thức từ biệt cuối cùng với người chết: “Chúa Cha đợi bạn, và cánh tay của Thiên Chúa sẽ mở ra đón bạn”.

Chúng ta cứ tin chắc rằng cái chết là như vậy không? Đây là sứ điệp của mọi người tử vì đạo. Đó là niềm tin vững chắc của những tín hữu đích thực. Nhưng các môn đệ không hiểu lời ấy, lại sợ không dám hỏi Chúa. Tin Mừng không hề tô vẽ cho các tông đồ. Đó cũng là những con người đáng thương như chúng ta. Thánh Maccô không những nhấn mạnh đến trí óc trì trệ, nông cạn, hẹp hòi của các ông. “Họ không hiểu”(Mc 6,52; 8,17; 8,21; 9,32). Do đó nhóm Mười Hai là một tiêu biểu cho những con người thông thường, trung bình. Người ta tự hỏi làm sao Giáo Hội và suốt dòng lịch sử vĩ đại của Giáo Hội, lại phát sinh từ những tưởng tượng và dự án của các tông đồ được. Quả thực các ông đã được một biến cố thay đổi. Các ông đã được nâng lên cao khỏi chính mình, và được một sức mạnh mới bao bọc. Và luôn diễn ra như thế đối với Giáo Hội.

Nếu chỉ là một Giáo Hội của loài người, thì Giáo Hội đã bị tiêu diệt từ lâu bởi những khiếm khuyết và tội lỗi của các nhà lãnh đạo và thành phần của Giáo Hội. Nhưng chúng ta có nên xét đoán Giáo Hội đơn thuần theo quan điểm của con người không?

Trong lúc này, các tông đồ đã sợ Đức Giêsu và họ giữ một thứ im lặng đến khó chịu “họ đã sợ không dám hỏi Chúa”.

Đức Giêsu và các môn đệ đến thành phố Caphácnaum. Khi về tới nhà, Đức Giêsu hỏi các ông: “Dọc đường, anh em đã tranh luận với nhau về chuyện gì vậy?”. Các ông làm thinh.

Các ông chưa nói được lời nào. Các ông giữ im lặng trước câu hỏi của Chúa. Sự “lúng túng” giữa họ trở nên nặng nề như trong một nhóm mà người ta không còn đồng ý với nhau nữa.

Các ông làm thinh, vì khi đi đường, các ông đã cãi nhau về chuyện ai là người lớn hơn cả.

Thật là hoàn toàn bất đồng ý kiến với Thầy của họ!

Chúa thì nghĩ đến cái chết của mình, khiến Người “giao nộp” mạng sống. Còn các ông thì chỉ nghĩ đến những “địa vị cao”. Các ông vẫn một mực bám vào quan niệm sai lầm về Đấng Mêsia, và về Thiên Chúa. Các ông vẫn tiếp tục mong chờ một “biến cố vẻ vang”, chứng tỏ quyền năng của Đấng Mêsia, một vương quốc trần gian, mà các ông đã tranh luận xem ai là “thủ tướng” khi Chúa và các ông thắng thế.

Nhưng xin các bạn đừng quá nghiêm khắc xét đoán việc các Ngài không hiểu vai trò của Chúa Giêsu. Mặc dù đã được soi dẫn với ánh sáng Phục sinh, ngày nay, chúng ta có thể nói rằng mình chấp nhận sự vắng mặt hiển nhiên của Thiên Chúa, sự im lặng của Người, sự thất bại của Thập giá không? Chúng ta không tiếp tục xin Chúa can thiệp để chiến thắng sao?

Rồi Đức Giêsu ngồi xuống, gọi mười hai môn đệ lại mà nói: “Ai muốn làm đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm tôi tớ mọi người”.

Trong cuộc thương khó mà Chúa vừa loan báo, Chúa Giêsu đã tự hạ thành “kẻ sau rốt và là “đầy tớ” của mọi người. Thực sự, Thiên Chúa là như thế. Tại sao lời khẳng định này lại có vẻ như một cậu phạm thượng đối với một số người? Đúng ra, Thiên Chúa là Đấng trên hết, cao cả nhất, nhưng Chúa cũng là “Người đứng đầu trong phục vụ”, Người đứng đầu trong tình yêu.

Các con gọi Ta là Thầy, là Chúa và điều đó phải lắm, vì Ta đúng là như thế, thế mà Ta đã rửa chân cho các con, như một người đầy tớ” (Ga 13,13). Thiên Chúa thực sự là Đấng Toàn Năng, nhưng là Toàn Năng để “phục vụ đến cùng”. “Ta ở giữa các con như một người phục vụ” (Lc 22,27). “Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng làm giá cứu chuộc muôn người” (Mc 10,42-45).

Trong xã hội và tập thể con người (và cũng là luật tự nhiên trong thế giới động vật), người ta thường tìm kiếm sức mạnh, sự kính nể, uy tín, danh dự và quyền lợi. Đức Giêsu lật đổ nhào tận gốc rễ thứ trật tự này: Người “thứ nhất” trở thành “người sau rốt”, “ông chủ” trở nên “đầy tớ”. Chắc chắn Đức Giêsu đã nói một cách có vẻ khiêu khích và cách mạng.

Nhưng một lần nữa, đó không phải là để làm một cuộc “cách mạng” nghĩa là thay đổi “chữ” mà thôi! ở đây, nhằm đưa ra giải pháp thực sự cho nội tâm con người, giúp chế ngự xu hướng tranh đấu không ngừng giữa loài người, để thống trị để đoạt giầu sang, quyền thế, bằng cách đè bẹp người khác.

Người dắt một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai đón tiếp một em nhỏ như em này, vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”.

Trong những tập thể chúng ta sống, trong lòng chúng ta và trên thế giới, bạo lực không ngớt gia tăng. Trong cơn thủy triều đen tối đang dâng lên như thế, Đức Giêsu đề nghị cách tượng trưng sự yếu đuối của đứa trẻ như một lý tưởng. Đứa trẻ là sinh vật nhỏ bé trong xã hội, ít được kính nể, và người ta gạt bỏ nó dễ dàng, kể cả bằng cách tội lỗi mà lại hợp pháp. Đứa trẻ đúng là kẻ “nghèo hèn”, không tự vệ được, “bị giao nộp” cho những kẻ mạnh mẽ quyền thế hơn nó. Nhưng Chúa lật ngược những tiêu chuẩn xã hội về quan niệm ngôi thứ: Người ta nói, kẻ sau rốt là kẻ đứng đầu. Bây giờ Người nói tiếp, dưới mắt Thiên Chúa kẻ nhỏ bé lại là người lớn nhất. Đức Giêsu đặt đứa trẻ ở giữa cộng đoàn Kitô hữu.

Tôi dành ít thời giờ để niệm tưởng hình ảnh Đức Giêsu đang vuốt ve và ôm ấp đứa bé này. Sự cao cả của Kitô hữu được đo nghiệm theo phẩm chất của việc phục vụ những người “thấp hèn” nhất, những kẻ kém may mắn nhất. Chúng ta sẽ bị xét đoán theo tiêu chuẩn đó (Mt (25,31). Vả lại, đây không phải là một sự “nô lệ”, vì chúng ta phục vụ Đức Giêsu khi chúng ta phục vụ những kẻ thấp hèn. Và qua Đức Giêsu, chúng ta phục vụ chính “Đấng” đã tạo nên thế gian và đã trao ban Con Một của Người.

 (*)Tựa đề do BTT.GPBR đặt

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

LOAN BÁO LẦN THỨ HAI VỀ CUỘC KHỔ NẠN VÀ PHỤC SINH CỦA CHÚA GIÊSU (*)- Lm Inhaxiô Hồ Thông

Như Chúa Nhật trước, Chúa Nhật XXV tuần nầy nêu bật viễn cảnh về cuộc Tử Nạn và Phục Sinh được Đức Giê-su loan báo lần thứ hai theo sách Tin Mừng Mác-cô. Ở nơi chủ đề nầy, ngầm chứa những tranh cãi phàm nhân có thể dẫn đến ghen tuông, thù hận, thậm chí sát hại đối thủ của mình. Người Công Chính (Bài Đọc I và Tin Mừng) là nạn nhân tiêu biểu cho sự ghen tuông và thù hận nầy.

Kn 2: 12, 17-20

Trong Bài Đọc I trích từ sách Khôn Ngoan, chính vì cuộc sống trọn tình vẹn nghĩa với đạo mà Người Công Chính bị quân vô đạo bách hại cho đến chết.

Gc 3: 16-18; 4: 3

Đoạn trích thư của thánh Gia-cô-bê là cuộc bút chiến lên án những ghen tuông tranh chấp xuất phát từ những đam mê và những khuynh hướng xấu. Trái lại, Đức Khôn Ngoan Thiên Chúa là yêu thương anh em mình cho đến quên bản thân mình.

Mc 9: 29-36

Trong Tin Mừng, Đức Giê-su loan báo lần thứ hai cuộc Tử Nạn và Phục Sinh sắp đến của Ngài, nhưng các ông chẳng những không chịu hiểu mà còn tranh luận với nhau xem ai là người lớn nhất trong nhóm họ. Chúa Giê-su muốn họ hiểu rằng trong Giáo Hội của Ngài người lớn nhất là người hầu hạ mọi người. Đó là bầu khí thân thương của một gia đình trong đó cha mẹ là người lớn nhất lại trở thành người hầu kẻ hạ tận tình phục vụ con cái của mình.

BÀI ĐỌC I (Kn 2: 12, 17-20)

Tác giả sách Khôn Ngoan là một người Do thái sinh trưởng ở thành A-lê-xan-ri-a, ông đã viết tác phẩm của mình vào giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên. Thành A-lê-xan-ri-a lúc đó là một trong những trung tâm rực rỡ nhất của văn hóa Hy lạp và đồng thời là một trong những thành phố quan trọng nhất của những người Do thái Hải Ngoại.

Quả thật, cộng đồng Do thái ở đây gìn giữ nét đặc thù của mình. Tuy nhiên, sức cám dỗ của môi trường ngoại giáo chung quanh là một thực tế hằng ngày: tính đa dạng của những lý luận triết học, sự phát triển của các bộ môn khoa học, tôn giáo tổng hợp, sức hấp dẫn của những tôn giáo bí nhiệm, vân vân. Ở thành phố này, số lượng những người bội giáo càng lúc càng đông. Tác giả viết sách Khôn Ngoan để phòng ngừa những sa ngã mới ở nơi những anh em đồng đạo của ông. Với tâm trí sáng suốt của một hiền nhân, ông ra sức chận đứng sự thù ghét càng ngày càng gia tăng ở giữa họ: từ ước muốn dập tắt những lời trách cứ gây phiền hà cho cuộc sống vô đạo của mình, cho đến ước muốn làm khổ và làm hại người công chính lòng dạ sắc son.

Lập luận cực đoan của quân vô đạo:

Đoạn trích sách Khôn Ngoan nầy không là sấm ngôn trực tiếp liên quan đến cuộc Tử Nạn của Đức Ki-tô, nhưng là một phân tích tâm lý mô tả tình trạng tinh thần của những người Do thái bội giáo trước cuộc sống đạo hạnh của người công chính. Cuộc sống trọn tình vẹn nghĩa với đạo của người công chính khiến quân vô đạo chướng tai gai mắt không thể nào chịu nỗi. Lòng căm tức đã đẩy họ đến lập luận quá khích, dẫn họ đến làm khổ và sát hại người công chính: “Ta hãy gài bẫy hại người công chính, vì nó làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm luật Chúa và hạch ta không giữ lễ giáo. Ta hãy xem những lời nó nói có thật không và nghiệm xem cuối cùng nó sẽ ra sao”. Tiến trình thù ghét nầy một ngày kia được áp dụng chống lại Người Công Chính tuyệt hảo là Đức Giê-su. Vì thế, sứ điệp nầy mặc lấy một khía cạnh ngôn sứ.

Người công chính chịu đau khổ:

“Nếu người công chính là con Thiên Chúa, thì Người sẽ phù hộ nó”. Tước hiệu “con Thiên Chúa” được dành cho dân Chúa chọn, họ hãnh diện vì Thiên Chúa đã công bố họ là con cái của Ngài. Nhưng trong trường hợp nầy, tước hiệu “con Thiên Chúa” mặc lấy một sấm ngôn, vì đó sẽ là lý do mà Thượng Hội Đồng Do thái sẽ nại đến để kết án tử Đức Giê-su: “Người nầy tự xưng mình là Con Thiên Chúa”.

“Ta hãy lên án cho nó phải chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm”. Những lời nầy nhắc nhớ Tv 22 mô tả người công chính bị bách hại kêu gào nỗi khốn khổ của mình, nhưng cũng đặt niềm cậy trông của mình vào Đức Chúa. Chính Thánh Vịnh này mà trên Thập Giá Đức Giê-su thốt lên cách thống thiết: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”.

Những kẻ thù của Đức Giê-su cũng sẽ trích Thánh Vịnh này để nói với nạn nhân của họ đang hấp hối trên thập giá: “Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu quả thật Người thương hắn! Vì hắn đã nói: Ta là Con Thiên Chúa” (Mt 27: 43). Tác giả sách Khôn Ngoan phác họa trước dung mạo Người Công Chính lý tưởng gần một trăm năm sau đó.

BÀI ĐỌC II (Gc 3: 16-18; 4: 3)

Chúng ta tiếp tục đọc thư của thánh Gia-cô-bê. Đoạn trích thư hôm nay chứa đựng những lời khuyên bảo theo hình thức châm ngôn gợi nhớ cách thức mà các bậc hiền nhân Cựu Ước đã sử dụng, nhưng mang hơi thở Tin Mừng. Thánh Gia-cô-bê đã nhiều lần khai triển mối phúc thứ nhất: “Phúc thay những người nghèo khổ!”. Đoạn văn trích dẫn hôm nay minh họa một mối phúc khác: “Phúc thay ai xây dựng hòa bình!”. Đoạn văn nầy có hai phần đối nghịch nhau:

Những danh thơm tiếng tốt của Đức Khôn Ngoan Thiên Chúa (3: 16-18)

Trong phần thứ nhất, tác giả liệt kê những danh thơm tiếng tốt của Đức Khôn Ngoan Thiên Chúa. Đức Khôn Ngoan Thiên Chúa “làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, mến chuộng điều lành, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình”. Việc liệt kê những phẩm chất của Đức Khôn Ngoan nhắc nhớ bài ca đức mến trong thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tuông, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13: 4-7). Nhưng thánh Gia-cô-bê đặt dấu nhấn chủ yếu trên việc xây dựng hòa bình: “người xây dựng hòa bình là người gieo giống trong hòa bình; và hoa trái họ thu hoạch được là cuộc đời công chính”.

Những hận thù, ghen ghét của con người (4: 1-3)

Đối nghịch với những phẩm chất của Đức Khôn Ngoan Thiên Chúa là những xung đột ở bên trong con người, trong đó những ham muốn là nguyên do sâu xa nhất của “những hành động hung ác”. Cung giọng của tác giả trở nên khẩn thiết, văn phong được đẩy cao đến mức ngoa dụ: “Anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột nhau, gây chiến với nhau”. Cách diễn tả dữ dội nầy, chúng ta cũng gặp thấy ở nơi thư thứ nhất của thánh Gioan: “Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân” (1Ga 3: 15). Những từ ngữ và hình ảnh ở đây thuộc thể loại bút chiến.

Là thủ lãnh của cộng đồng tín hữu Giê-ru-sa-lem, Giáo Hội Mẹ, thánh Gia-cô-bê cảm thấy mình chịu trách nhiệm về những tín hữu ở xa của mình; vì thế, thánh nhân đặt tất cả hồn tông đồ của mình vào những lời kêu gọi sống cuộc đời Ki-tô hữu chân chính.

TIN MỪNG (Mc 9: 30-37)

Trong đoạn trích Tin Mừng hôm nay, ý tình đan quyện vào nhau, tâm tư tình cảm dạt dào cảm xúc. Đức Giê-su thực hiện giai đoạn sau cùng sứ vụ tại miền Ga-li-lê của Ngài. Ngài trở lại lần cuối cùng thành Ca-phác-na-um được xem là bản doanh sứ vụ của Ngài. Từ đó, Ngài sẽ lên Giê-ru-sa-lem để bước vào con đường Thương Khó và Tử Nạn, Phục Sinh và Lên Trời của Ngài. Chúng ta biết rằng trong các sách Tin Mừng Nhất Lãm, Chúa Giê-su chỉ lên Giê-ru-sa-lem một lần, trong khi Tin Mừng Gioan tường thuật Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem nhiều lần vào các đại lễ trong năm.

Loan báo lần thứ hai cuộc Tử Nạn và Phục Sinh:

Khi đi ngang qua miền Ga-li-lê, Đức Giê-su tránh gặp gỡ đám đông; Ngài giới hạn giáo huấn của Ngài chỉ trong vòng các môn đệ của Ngài. Khi Thầy trò đang đi trên đường, Ngài gợi lên lần thứ hai viễn cảnh cuộc Tử Nạn và Phục Sinh sắp đến của Ngài bằng những ngôn từ hầu như y hệt lời loan báo thứ nhất.

“Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời”. Động từ “nộp” ở đây có một ý nghĩa rất mạnh, nhưng được dùng ở thể thụ động “bị nộp” muốn nói lên điều gì? Sau nầy, thánh Mác-cô sẽ vạch mặt chỉ tên những kẻ nộp Đức Giê-su đưa Ngài đến cái chết: đó là ông Giu-đa (14: 10), các thượng tế (15: 1) và quan tổng trấn Phi-la-tô (15: 15). Tuy nhiên, đây cũng là hình thức thụ động thần linh thông dụng mà người Do thái thường dùng để chỉ Thiên Chúa là tác nhân bằng cách tránh nêu danh Người vì lòng tôn kính. Vì thế, cái chết của Đức Giê-su có thể quy trách cho những kẻ tội lỗi gây ra, nhưng nhất là nằm trong ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa. Đó cũng là điều mà lời loan báo đầu tiên diễn tả: “Con người phải chịu nhiều đau khổ”. Đây không là cái tất yếu của định mệnh mà Đức Giê-su phải chịu, nhưng là kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa mà Đức Giê-su phải thực hiện.

“Vào tay người đời”, đây là diễn ngữ Kinh Thánh để chỉ những kẻ thù không có lòng xót thương. Ở đây kiểu nói nầy hình thành nên một sự đối chiếu thống thiết với danh xưng “Con Người”. Qua danh xưng “Con Người”, Đức Giê-su nhấn mạnh nhân tính của Ngài. Như bao nhiêu con người khác, Ngài cũng biết đau khổ và sự chết đang chờ đợi Ngài, nhưng vận mệnh của Ngài được hoàn tất theo thị kiến của Đa-ni-en về Con Người trong vinh quang. Vì thế, như trong lần loan báo đầu tiên, trong lời loan báo thứ hai này, sau khi báo trước cuộc Tử Nạn của mình, Đức Giê-su cũng báo trước cuộc Phục Sinh của Ngài. Như vậy Tử Nạn và Phục Sinh là hai mặt của một thực tại bất khả phân.

Nỗi cô đơn của Đức Giê-su:

Mỗi lần Chúa Giê-su loan báo rõ ràng cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài, thánh Mác-cô đều nhấn mạnh đến “sự ngu muội” chậm hiểu của các môn đệ (8: 32; 9: 32). Các ông không hiểu, nhưng không dám hỏi Ngài; thay vì đó, các ông lại nghĩ đến việc khác. Các ông đinh ninh rằng việc đi lên Giê-ru-sa-lem lần nầy chắc hẳn Thầy mình sẽ thực hiện sứ mạng của Đấng Mê-si-a, Ngài sẽ thiết lập vương triều của Ngài; vì thế, các ông bắt đầu tranh luận với nhau về những đặc quyền đặc lợi, xem ai là người lớn nhất trong nhóm.

Đức Giê-su không dự phần vào cuộc tranh luận của họ; chắc chắn Ngài đi một mình riêng ra. Không ai trong nhóm Mười Hai, những người đã gắn bó với Ngài suốt ba năm nay, hỏi Ngài về vận mệnh đau thương mà Ngài mời gọi họ dự phần vào. Nói cho cùng, ở nơi họ Ngài không gặp thấy sự đồng hội đồng thuyền đồng sinh đồng tử với Ngài. Đây là khúc dạo đầu cho việc bỏ rơi hoàn toàn mà Ngài sẽ nhận biết vào lúc Ngài bị bắt. Chúng ta cảm thấy nỗi đau đớn của Ngài qua cách trình bày giản dị của đoạn Tin Mừng nầy.

Bài học về sự phục vụ:

Khi đến thành Ca-phác-na-um, vào trong nhà, Đức Giê-su hỏi các môn đệ: “Dọc đường, anh em tranh luận với nhau về chuyện gì vậy?”. Các ông làm thinh, không ai dám thú nhận điều làm họ bận lòng trên đường. Nhưng Đức Giê-su không cần ai nói với Ngài. Vả lại, bài học mà Ngài sắp cho họ có thể giúp cho họ hiểu một cách gián tiếp những lời của Ngài mà vào giây phút nầy, họ đã không thể hiểu được: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”.

Với giáo huấn về sự phục vụ nầy, Đức Giê-su đả đảo ngược cơ cấu phẩm trật thông thường của nhân loại theo đó người đứng đầu là người chiếm những chỗ ngồi danh dự, ăn trên ngồi trước, hưởng những đặc quyền đặc lợi, mà Ngài đã rất dị ứng ở nơi cách sống của giai cấp lãnh đạo Do thái. Có lần Ngài đã nói lên sứ mạng của Ngài: “Con Người đến không để được người ta phục vụ nhưng để phục vụ”.

Đức Giê-su sẽ đưa ra một mẫu gương rõ ràng hơn nữa vào bữa ăn cuối cùng của Ngài với các môn đệ, khi Ngài rời chỗ ngồi danh dự của Ngài, mặc bộ đồng phục của người hầu và cúi xuống rửa chân cho các môn đệ của Ngài (Ga 13: 4-16) kèm theo với lời dạy rõ ràng: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13: 13-15).

Nhưng ngay từ bây giờ, Ngài ban cho họ một bài học đặc biệt, soi sáng mặc khải trên đường lên Giê-ru-sa-lem, con đường tiến về cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Ngài, ở đó Ngài đích thân hiện thực sứ điệp của Ngài: Ngài sẽ bị đối xử như người rốt hết và sẽ chịu khổ hình như kẻ nô lệ. Sau điều đó, Ngài sẽ là người đầu hết, trưởng tử của một nhân loại mới. Ngài ngầm hướng tư tưởng của các môn đệ Ngài về sấm ngôn Người Tôi Trung đau khổ của I-sai-a, chịu thương chịu khó kể cả hy sinh mạng sống mình để đem lại ơn cứu độ cho muôn người.

Bài học về đức khiêm hạ:

Để có thể nhổ tận gốc rể tính tự cao tự đại và tự mãn của các môn đệ Ngài, Đức Giê-su đưa ra một ví dụ khác. Ngài đem một em nhỏ đặt giữa các ông và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em nầy vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”. Chúa Giê-su đối lập thế giới người lớn tự phụ và tham vọng với thế giới trẻ thơ. Trẻ thơ có nhiều đức tính mà người môn đệ của Ngài phải học: chúng biết rõ thân phận nhỏ bé của mình, vì thế, chúng không phô trương sự khôn ngoan và quyền hành của mình, nhưng bày tỏ một niềm tin tưởng đơn sơ và chân thành. Hơn thế nữa, trong Tin Mừng, những người phận nhỏ lại là đoàn chiên của Ngài mà Ngài tận tình chăm sóc và hy sinh mạng sống mình cho chúng (Ga 10: 11-15). Đó cũng là những “chiên con” mà Ngài sẽ trao gởi cho thánh Phê-rô chăm sóc với lời căn dặn đến ba lần phải yêu mến đoàn chiên của Ngài như yêu mến Ngài hơn bất cứ ai (Ga 21: 15-16).

Trang Tin Mừng nầy là một trong những trang làm chứng về sự chân thật của các tác giả sách Tin Mừng. Các Tông Đồ chẳng có lý do gì để mà tự phụ về mình ở nơi những tình tiết nầy; tuy nhiên họ đã để lại một mẫu gương cho những thế hệ mai sau, họ khiêm tốn nhận ra tâm trí chậm hiểu và thiếu độ nhạy bén của mình.

Sức hấp dẫn và lôi cuốn của Giáo Hội Đức Ki-tô không phải ở nơi việc phô trương những quyền cao chức trọng, nhưng ở nơi thái độ khiêm tốn hạ mình xuống mà phục vụ những anh chị em bé nhỏ cách đơn sơ chân thành. Nói cho cùng, đây là bầu khi thân thương của một gia đình, ở đó cha mẹ là người lớn nhất nhưng đã tự biến mình thành con sen, đứa ở để phục vụ con cái của mình, con cái càng nhỏ thì cha mẹ càng tận tình yêu thương phục vụ hơn nữa.

(*) Tựa đề do BTT.GPBR đặt

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN-Năm B

AI LÀ NGƯỜI LỚN NHẤT- Chúa giải của Fiches Dominicales

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

‘Trên đường’, một lời loan báo làm hoang mang.

Ngay sau khi Phêrô tuyên tín ở miền Xê-sa-rê Phi-lip-phê, lần đầu tiên, Đức Giêsu loan báo cuộc thương khó và sống lại của Người (Mc 8,27-31). Sau cuộc hiển dung trên núi cao (9,2-8), Chúa đang băng qua miền Galilê cùng môn đệ. “Người không muốn cho ai biết, thánh sử ghi rõ, bởi vì từ này Người muốn dùng thời gian để huấn luyện các môn đệ. Người cố gắng hướng dẫn các ông chấp nhận cái viễn tượng đảo lộn hướng tư duy là: một Đấng Mêsia bị chính dân Người ruồng bỏ.

‘Trên đường’ (câu 33), địa điểm tượng trưng cho cuộc hành trình về Giêrusalem, Người giáo huấn họ bằng cách nhắc lại lời loan báo lần trước: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại” Từ ngữ Chúa dùng hầu như giống hệt lần trước.

Cũng như ở câu 8,31, Đức Giêsu nói về chính mình bằng cụm từ “Con Người”, một nhân vật bí nhiệm và uy quyền, mà ngày tận thế sẽ đến trên đám mây để phán xét loài người (Đn 7,1 3-14).

– Nhưng khác lần trước, lần đó, Chúa loan báo Người sẽ phải “chịu đau khổ nhiều” “bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ”, còn ở đây, Người chỉ nói “bị nộp vào tay người đời”, giống những vị tử đạo trong Cựu ước bị nộp vào tay quân bách hại (Gr 26,24; Tv 71,4; Tv 1401 Đn 7,22).

Khi áp dụng cách nói này cho chính mình, Đức Giêsu coi cuộc khổ nạn của Người giống với cuộc bách hại các ngôn sứ và người công chính trong Cựu ước phải chịu; và Người cũng như bước trên con đường trung tín với Thiên Chúa đến tận cái chết.

“Bị nộp”. Đức Giêsu quả thật đã bị Giuđa nộp cho các thượng tế (14,10): bị các thượng tế nộp cho Philatô (15,10) và sau cùng bị Philatô giao nộp cho lý hình (15,15).

Một chi tiết đáng ngạc nhiên: Đức Giêsu nói về cuộc khổ nạn của Người thì hiện tại: Con Người bị nộp vào tay người đời”. Chắc chắn thánh sử muốn chỉ một tương lai gần, khi dùng thì hiện tại. Nhưng cũng có thể ông muốn nói rằng kế hoạch cứu độ: của Chúa Cha đã bắt đầu được thực hiện, tuy không thấy nhưng cũng không thể đảo ngược.

Các môn đệ vẫn một mực nghe mà không hiểu. Hervieux giải thích: Vẫn là vấn đề không hiểu của các môn-đệ trước những cố gắng của Đức Giêsu, khi Người muốn đưa các ông vào mầu nhiệm cuộc đời Người. Như ta đã thấy, Phêrô đã tỏ thái độ phản loạn đích thực khi nghe loan báo về cái chết của Chúa (8, 32) Còn lần nầy, tâm trí kín mít của các môn đệ được tỏ rõ bằng cách các ông không dám hỏi Thầy, không dám bàn tiếp với những thử thách đang chờ đợi Thầy. Qua đó, chúng ta thấy rằng trực diện với cái chết khó chừng nào! (“L’evangile de Marc”, Centurion, trang 133).

‘Ở nhà’, lời dạy gây kinh ngạc.

Giờ đây chúng ta ở Ca-phác-na-um tức là “ở nhà”, địa điểm tượng trưng cho những cuộc trò chuyện kín đáo, chủ ý dạy dỗ các với cương vị một tôn sư dầy dạn kinh nghiệm, Người hỏi các môn đệ về đề tài mà trên đường các ông đã tranh luận sôi nổi, những cuộc tranh luận mà người ta thường coi là quan trọng trong quá trình huấn luyện của các vị tôn sư. Các ông không dám nói sự thật nên ngậm miệng làm thinh. Bởi vì trong khi Thầy mình loan báo về con đường khổ nạn sắp tới, thì các ông chỉ tranh luận về ngôi thứ, về vinh dự: “Các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả “.

Rồi, Đức Giêsu ngồi xuống gọi “Mười Hai ông lại”. “Mười Hai ông” một danh xưng hiếm thấy nơi Máccô (3,14; 6,7), điều đó nghĩa là giáo huấn mà Chúa sắp nói đây nhằm nhóm các Tông đồ, những người nắm giừ trọng trách trong Giáo Hội tương lai. Giáo huấn này đảo lộn ngôi thứ thường tình trong phẩm trật nhân loại: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”.

  1. Hervieux giải thích: Chúa lấy ‘người rốt hết’ đối chọi với ‘người đứng đầu’, lấy ‘người đầy tớ mọi người’ đối chọi với ‘người cai quản’. Điều nghịch lý này tất nhiên có nghĩa rõ rệt nhất khi nhìn cuộc đời Đức Giêsu, Đấng đã thực hiện trong bản thân và trong sứ mạng của Người. Người là Đấng cao cả hơn hết đã tự đặt mình vào chỗ rốt hết để phục vụ mọi người (Sđd, trang 35).

– Và để biết chắc mọi môn đệ đều hiểu, Chúa đã soi sáng lời nói bằng một cử chỉ đầy ý nghĩa. Thời đó người ta coi trẻ nhỏ là “đồ bỏ” vậy mà Đức Giêsu đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy. Và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy.

  1. Hervieux giải thích tiếp: Cử chỉ này có một tầm quan trọng không ngờ. Đem một em nhỏ đặt vào giữa nhóm môn đệ và ôm hôn nó: các cử chỉ này đều đi ngược phong tục hồi đó. Xã hội cổ đại không quan tâm tới trẻ em. Trái lại, thay vì đối xử với chúng như những người sẽ lớn, người ta coi chúng như “vô giá trị”, như đồ bỏ. Tục lệ còn dạy người ta loại bỏ, khai trừ chúng ra khỏi cộng đoàn tôn giáo vì chúng không hiểu biết Lề Luật (Sđd, trang 135- 136).

Như vậy, đặt một em nhỏ vào giữa nhóm môn đệ, em nhỏ ở đây tượng trưng cho những người nghèo, những người bị loại trừ, Đức Giêsu đã trả lời rõ ràng cho vấn đề các ông tranh cãi lúc đi đường: “Ai là người lớn nhất?” – “Tìm kiếm vinh dự là điều trơ trẽn nơi những người theo Đức Giêsu, lúc người đang bước vào con đường khổ nhục của cái chết. Làm “đầy tớ ” mọi người mở cửa pháo đài Hội Thánh cho những người hèn kém nhất, những người nghèo đói nhất, đó là “dịch vụ” mà Đức Giêsu truyền cho các môn đệ phải thi hành. Để thêm trọng lượng cho giáo huấn này, Đức Giêsu kết luận bằng từ “đón nhận”: Người là Đấng Chúa Cha sai đến. Đón nhận Người qua những ai nhỏ bé là đón nhận chính Chúa. Thiên Chúa mặc hình dáng một trẻ nhỏ đó là một sứ điệp bất ngờ, rất độc đáo của trang Tin Mừng đẹp đẽ hôm nay (Sđd trang 136).

BÀI ĐỌC THÊM

Thang giá trị mới (Đức Cha L. Daloz trong “Qui don est-il?”, DDB, trang 55-56).

Đây là lần thứ hai Đức Giêsu loan báo cho môn đệ điều sẽ xảy đến cho Người. Người biết mình sẽ đi về đâu và người nói không úp mở về cái chết gần kề và sự sống lại của Người. Phải chăng Người đã phải chịu nỗi lo âu về cuộc khổ nạn: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho Con khỏi uống chén này?”. Người còn lo lắng hơn không hiểu gì và họ sợ không dám hỏi Người. Phải chăng họ cũng tiên cảm được mối nguy đang rình chờ? Chúng ta đôi khi cũng không hiểu Đức Giêsu nói gì. Có lẽ vì ta sợ phải hiểu chăng? Qua im lặng, các môn đệ bình thản ở lại trong sai lầm: Nước Trời mà họ mơ tưởng là nước mà ở đó họ đóng vai ông lớn, là nơi mà họ tranh cãi xem ai trong nhóm họ là người lớn nhất. Khi Đức Giêsu hỏi họ: “Lúc đi đường các anh đã tranh luận gì thế?”, họ làm thinh. May thay, Đức Giêsu dịu dàng và kiên nhẫn loại bỏ sự im lặng và suy nghĩ sai lầm của họ. Vương quốc của Chúa là vương quốc của người phục vụ, là nơi người trước hết trở nên rốt hết, người nhỏ bé nhất trở nên người lớn nhất. Đức Giêsu hiểu rất rõ bản tính con người. Người không cho phép các môn đệ giam mình trong sự thinh lặng để che giấu nỗi sợ hãi và tham vọng. Người đi bước đầu, loan báo, chất vấn, giải thích. Rồi Người đặt một em bé ở giữa các ông, để tỏ cho các ông thang giá trị mới, nó bắt nguồn từ tình yêu đối với Chúa Cha”.

“Ai là người lớn nhất?” (Noel Quesson, trong “Les entretiens du Dimanche. Année B”, Droguet & Ardant, trang 194-195).

“Trong xã hội loài người, tự nhiên ai cũng muốn chiếm được vị trí quan trọng. Đó cũng là luật lệ của thế giới loài vật, một thế giới rất có phẩm trật: luật rừng xanh, nơi kẻ mạnh đè bẹp kẻ yếu, nơi người lớn thống trị người bé. Nhưng Đức Giêsu đến đảo ngược lô-gic đó: “Ai muốn làm đầu thì hãy làm người rốt hết. Ai muốn làm người lớn thì hãy làm đầy tớ mọi người”.

Những câu nói khiêu khích, cách mạng này không do các tông đồ sáng chế ra đâu, vì chính họ là người mong chiếm được địa vị cao. Nhưng chính Đức Giêsu đã đảo ngược khuynh hướng tự nhiên của con người. Nếu chỉ đổi chủ mà thôi thì không hơn gì: nếu người bị thống trị lại trở thành người thống trị, nào có thay đổi gì. Vậy mà lịch sử loài người lại đầy dẫy những cuộc nguỵ cách mạng, những người hò hét “đả đảo quân bóc lột” lại trở thành nỗi kinh hoàng cho những người thấp cổ bé miệng.

Đức Giêsu đề nghị một giải pháp khác: ông chủ tự nguyện đầy tớ mọi người. Đây là một cuộc cách mạng diễn ra trong nội tâm con người: một cuộc đổi mới tâm hồn, một sự từ bỏ truyền thống trị người khác.

Để làm điều đó Đức Giêsu nêu ra một minh hoạ: đứa bé. Trẻ em là một sinh vật nhỏ bé, không được trọng vọng loài xã hội, không có khả năng tự vệ, lại dễ bị người ta loại bỏ, cả bằng cách phạm pháp, như giết nó ngay khi còn trong bào thai nghĩa là vào lúc nó không có một chút khả năng nào để tự vệ. Đứa bé là một kẻ nghèo hèn đúng nghĩa nhất vì nó chẳng có quyền gì. Lúc nào và ở đâu, người ta cũng có thể trao nó vào tay kẻ mạnh, kẻ có quyền lực.

Vào những ngày này, khi bắt đầu các hoạt động, chúng ta tự hỏi xem mình sẽ phục vụ ở đâu?.

CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN- Năm B

KHUÔN MẶT MỘT CON TRẺ- Chú giải mục vụ của Jaques Hervieux

LẦN THỨ HAI LOAN BÁO VỀ CUỘC KHỔ NẠN (9,29-32)

Điểm khởi hành của Chúa Giêsu không được xác định rõ. Tuy nhiên ghi chú địa lý lần trước cho thấy Ngài đang hiện đang ở miền cực bắc xứ Phalestin tức miền Cêsarê Phillipphê (8,27). Như thế là Chúa Giêsu băng ngang khắp miền Gialilê với các môn đệ Ngài (c. 30a) theo hướng bắc – nam. Ngài đang thực hiện điều mà người ta thường gọi là “cuộc tiến về Giêrusalem”. Giống như Matthêu và Luca, Maccô chỉ ghi nhận một hành trình duy nhất của Chúa Giêsu tiến về Giuđê và thủ đô Israel (9.30-11,1). Cuộc hành trình tối hậu này sẽ dẫn Chúa Giêsu tới định mệnh đẫm máu của Ngài. Nhưng Ngài “không muốn cho thiên hạ biết” (c.30b). Luôn luôn quy luật “bí mật Mêsia” được nêu ra. Quần chúng Galilê đã nhận được từ Chúa Giêsu những lời nói và phép lạ minh chứng đầy đủ về sứ mệnh Mêsia của Ngài. Thế mà họ đã không hoán cải. Giờ đây Chúa Giêsu phải cống hiến hoàn toàn cho việc dạy dỗ các môn đệ Ngài để, nếu có thể, dẫn dắt họ đón nhận viễn cảnh một Đấng Mêsia bị dân tộc mình ruồng bỏ (c.31a).

Đây là lần thứ hai Chúa Giêsu loan báo cho các bạn hữu mình về cuộc khổ nạn. Ngài sử dụng lại các từ ngữ hầu như y hệt lần trước (x. 8,31). “Con Người” sẽ bị “nộp vào tay người ta. Động từ “nộp” dùng ở đây có nghĩa rất mạnh. Ngài sẽ bị ai nộp? Về sau Maccô sẽ xác nhận rõ những người nào sẽ bị nộp Chúa Giêsu để đưa Ngài đến cái chết: đó là Giuđa (14,10), các thượng tế (15,1) và Philatô (15,15). Tuy nhiên, ở đây hình thức động từ nằm ở thể thụ động: Chúa Giêsu sẽ “bị nộp”. Đây là một cách thức rất thông dụng dân Do Thái thường dùng để chỉ Thiên Chúa là tác nhân mà tránh không nêu danh Người ra vì lòng tôn kính. Cần phải nhớ kỹ rằng: Cái chết của Chúa Giêsu có thể quy trách cho những kẻ tội lỗi gây ra trong lịch sử. Các Kitô hữu cắt nghĩa “điều chướng kỳ” này bằng cách cho thấy nó nằm trong ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa. Đây là điều mà công thức đột ngột được dùng trong lần loan báo đầu tiên muốn đề cập: con người “phải” chịu khổ và chết (8,31). Cũng như lần trước, lần này lời hứa Phục sinh thêm vào ngay sau đó (c.31b) cũng chẳng an ủi được các môn đệ trước viễn cảnh đớn đau của cái chết. Các bạn hữu của Chúa Giêsu vẫn khư khư chẳng hiểu gì lời giáo huấn của Thày mình (c. 32). Đây là chủ đề về “sự ngu muội” của các môn đệ trước nỗ lực liên lỷ của Chúa Giêsu nhằm dẫn dắt họ hiểu ra được định mệnh của Ngài. Như chúng ta từng thấy, Phêrô đã biểu lộ sự phản kháng thực sự trước lời loan báo về cái chết của Chúa Giêsu (x. 8,32). Lần này, sự “khép lòng” của các môn đệ được ghi nhận qua nỗi sợ hãi không dám “hỏi Ngài”, họ tránh né mọi cuộc trao đổi với Ngài về những thử thách đang chờ đợi Ngài. Như thế, độc giả có thể hiểu được rằng quả thực là khó khăn khi phải trực diện với cái chết.

VẤN ĐỀ ĐỊA LÝ TRONG PHÚC ÂM MACCÔ

Tác giả Phúc Âm đã đóng khung cuộc đời Chúa Giêsu trong môt ranh giới rất đơn giản ở đó người ta thấy lộ rõ ra hai cực: Galilê và Giêrusalem. Thực thế, sau khi chịu phép rửa ở sông Giođan (1,9). Chúa Giêsu đã thi hành sứ vụ của mình ở Galilê, nằm ở mạn bắc xứ Palestin (1,14-9,29). Chỉ mãi về sau Ngài mới băng ngang Galiê theo hướng nam để “lên” Giêrusalem, thủ phủ xứ Giuđêa (9,30). Chính ở đó Ngài sẽ đương đầu với các nhà cầm quyền tôn giáo của dân tộc mình để rồi trải qua cuộc khổ nạn và Phục Sinh (11,10-16,8).

Lộ trình theo sát đường kẻ kiểu này chắc chắn là sản phẩm của một sự “khái quát hóa”, bởi vì theo như Phúc Âm của Gioan cho biết, sứ vụ của Đấng Mêsia trải dài trên hoặc ba năm. Chắc hẳn Chúa Giêsu đã lên Giêrusalem nhiều lần theo như tập tục vào các dịp lễ của người Do Thái (x. Ga 5,1; 7,2; 10,22; 12,12).

Như thế, nơi Phúc Âm Maccô, địa lý đã được dùng để “phục vụ” cho một ý đồ cao siêu. Quả thực đối với Maccô, Galilê và Giêrusalem là hai địa danh đối kháng nhau, mỗi nơi mang một ý nghĩa riêng biệt. Galilê là nơi Chúa mở đầu sứ vụ và đồng thời là nơi Chúa thi hành sứ vụ, rao giảng cho dân ngoại. Từ thời Cựu Ước, thành phố mạn bắc này từng chịu nhiều cuộc xâm lăng của ngoại bang. Chỉ danh xưng của nó cũng nói lên được điều này: đây là một “khu vực thuộc các dân tộc” chen vai thích cánh với nhau (Is 8,23). Vậy mà chính tại Galilê Chúa Giêsu đã được dưỡng nuôi (ở Nadaret: Lc 4,16). Tại đây Ngài đã khai mạc sứ vụ (1,14). Ngài đã thiết lập ở Caphanaum và bên bờ hồ Tibêria, căn cứ hoạt động và giảng dạy của Ngài (1,16; 2,1.13; 4,1). Ở phần đầu Phúc Âm, người ta thấy đoàn lũ dân chúng Galilê hồ hởi đón nghe và theo dõi các phép lạ Chúa Giêsu ban phát cho họ.

Tuy nhiên, từ chỗ đó, Chúa Giêsu đã đưa các môn đệ Ngài vượt qua các biên giới. Ngài cùng họ vượt hồ Tibêria, từ bờ bên mạn tây thuộc Do Thái đi qua bờ mạn đông thuộc dân ngoại. Với hành vi lặp đi lặp lại này, Ngài không ngừng kêu mời họ mở rộng tầm nhìn để mang Tin Mừng đến với đám dân ngoại (xem toàn bộ từ 4,35-5,20). Càng bành trướng sứ vụ Chúa Giêsu càng gia tăng việc di chuyển đến những vùng không thuộc dân Do Thái chẳng hạn vùng Phênixi (hiện là Liban), vùng Tirô và Siđon (7,24.31a) hay vùng Thập Tỉnh, hiện nay là Giocđani (7,31b).

Qua việc thực hiện các chuyến đi ngắn hoặc dài nơi vùng đất dân ngoại, Chúa Giêsu muốn tập cho các bạn hữu mình quen với tư tưởng rằng Ngài không chỉ là Đấng Mêsia của dân Do Thái mà còn của dân ngoại nữa. Các vị hữu trách tương lai của Giáo Hội phải ý thức rằng Chúa Giêsu mang đến ơn cứu độ phổ quát. Đây chính là ý nghĩa lần hóa bánh ra nhiều lần thứ hai được Chúa Giêsu thực hiện ở mạn đông sông Giocđan (8,1-9), nơi đây Chúa Giêsu đã mở ra bàn tiệc Lời Ngài và ân sủng Ngài cho một dân tộc bên ngoài dân riêng của Chúa. Cũng không phải tình cờ mà ngay tại Betsaiđa, vùng đất dân ngoại, Chúa Giêsu đã mở mắt cho một người mù (8,22-26), hành vi này được ví như khúc nhạc dạo đầu cho sự khám phá ra thân thế Ngài (điều này được thực hiện ở Cêsarê Philipphê, giữa vùng đất dân ngoại: 8,27-29). Như thế không nên ngạc nhiên tại sao ngay khi vừa sống lại, Chúa Giêsu đã bảo các bạn hữu mình đến gặp Ngài “ở Galilê” là nơi Ngài đang chờ họ để sai họ theo chân Ngài ra đi mang Tin Mừng cho toàn thế giới (16,7-8.15).

Đối nghịch với Galilê, Maccô đã biến Giêrusalem, thủ đô của Do Thái, thành một cực khép kín và chống lại Chúa Giêsu. Ngay từ lúc Chúa Giêsu bắt đầu thi hành sứ vụ, nhóm luật sĩ và Biệt phái “đến từ Giêrusalem” đã tố cáo là Ngài bị Satan nhập (3,22) nào là Ngài để các môn đệ mình vi phạm các truyền thống cổ xưa (7,1). Chính tại Giêrusalem, trung tâm đức tin Do Thái Chúa Giêsu sắp phải đương đầu gay gắt nhất với đám thủ lĩnh tôn giáo của dân riêng Chúa (11,1-12,40). Cũng chính ở đó Ngài sẽ bị bắt, bị xét xử, bị kết án tử hình và bị hành hình do lời xúi giục của các vị cầm quyền Do Thái cao cấp nhất (14,1-15,47).

Như thế vấn đề địa lý trong Phúc Âm Maccô chứa đựng một bài học sâu sắc: là người theo Chúa Giêsu, các Kitô hữu không được để cho Phúc Âm bị đóng khung trong bất cứ loại thành “Giêrusalem” nào! Họ phải luôn luôn liên kết với Đấng Phục Sinh là Đấng từ bờ hồ Tibêria đã mời gọi họ “ra khơi”. Bởi vì “trong Chúa Kitô không còn phân biệt ai là Do Thái, ai là Hy Lạp nữa” (Thư Phaolô gởi tín hữu Galat 3,28). Ơn cứu độ phải được mang đi từ Giêrusalem và từ Galilê đến tận cùng thế giới.

THEO CHÚA GIÊSU NHƯ THẾ NÀO: CƯ XỬ VỚI TRẺ EM (9,33-37)

Mỗi lần Chúa Giêsu loan báo rõ ràng về cuộc khổ nạn của Ngài (8,31; 9,31) Maccô đều nhấn mạnh đến sự “ngu muội” không hiểu của các môn đệ (8,32; 9,32). Sau đó, Maccô cho thấy Chúa Giêsu cố gắng nhồi nhét vào đầu óc của bạn hữu mình một bài học thích hợp với chủ đề Ngài nêu: muốn bước theo Ngài họ phải trung thành tự hạ như Ngài. Chúa Giêsu đã thực hiện việc dạy dỗ họ về chủ đề này sau lần loan báo thứ nhất về cái chết của Ngài (x.8,34-9,1). Và giờ đây Ngài lại tiếp tục dạy dỗ họ sau lần loan báo thứ hai.

Tác giả Phúc Âm gợi cho thấy đây là thời gian được chọn lựa đặc biệt để thầy trò trao đổi (c.33). Chúa Giêsu và các bạn Ngài về lại khu vực khởi đầu công việc dạy dỗ, ở tại Caphanaum và tại căn nhà cũ (x.2,1-2). Đây là nơi lý tưởng để tiến hành việc dạy dỗ riêng các môn đệ, xa đám đông ồn ào, về chủ đề mới mẻ nhưng khó khăn liên quan đến Đấng Mêsia “Tôi Tớ”. Với tư cách vị Đạo Sư sành sỏi, Chúa Giêsu khởi đầu bằng việc hỏi các môn đệ về đối tượng những “cuộc tranh luận” của họ trong lúc đi đường. Người ta đều biết rằng trong lối giáo dục của các kinh sư Do Thái, việc tranh luận đóng một vai trò quan trọng. Điều mà trong lúc đi đường các môn đệ tranh luận với nhau mang nhiều ý nghĩa. Nghe Chúa Giêsu hỏi, họ im lặng không trả lời. Thực ra họ đã tranh nhau xem ai là người “lớn” nhất (c.34). Maccô thú nhận là các vị này cảm thấy xấu hổ. Họ không dám thú nhận là đang lo tranh giành nhau danh vọng trong lúc Thầy mình thì đang tiến về một tương lai đầy khiêm hạ. Quả là tương phản rõ ràng!

Chúa Giêsu thấy mình có bổn phận can thiệp để tránh cho các môn đệ mình khuynh hướng đua đòi chay theo quyền lực. Ngài cho họ một bài học sống động (c.35a). Maccô diễn tả cho thấy Chúa Giêsu ngồi xuống để biểu lộ cung cách một vị Sư Phụ mà các đệ tử phải chú tâm lắng nghe. Đây là tư thế của người giảng dạy đầy uy quyền (x.4,1). Ngài quy tụ “ nhóm Mười Hai” lại. Lối nói này hiếm khi được Maccô sử dụng(3,14; 6,7). Và khi sử dụng nó Maccô muốn nói rằng các tông đồ là những vị hữu trách tương lai của Giáo Hội. Chúa Giêsu nói với họ một cách hoàn toàn rõ ràng (c.35b). Đại khái trong lời ngỏ với các vị thủ lãnh tương lai của dân Chúa, Chúa Giêsu đã đảo ngược trật tự thông thường của phẩm trật nhân loại. Muốn làm đầu thì phải làm cuối mọi người, muốn chỉ huy thì phải làm “tôi tớ tất cả”. Nghịch lý này rõ ràng chỉ có ý nghĩa qua tấm gương Chúa Giêsu biểu lộ nơi thân thể và sứ mệnh của Ngài. Là Đấng Thủ Lãnh, Ngài đã đặt mình vào vị trí rốt hết để phục vụ mọi người. Sứ điệp của Ngài liệu có được người ta nghe không? Chúa Giêsu tin rằng cần phải minh hoạ lời Ngài nói bằng một cử chỉ có ý nghĩa. Ngài đặt một em bé vào giữa họ rồi ôm lấy em (c.36a). cử chỉ này tạo ra một ảnh hưởng bất ngờ. Dắt một em bé vào giữa đám môn đệ rồi ôm hôn nó: tất cả điều này đi ngược với tập tục đương thời. Xã hội thời xưa không quan tâm đặc biệt đến trẻ em. Ngược lại, trẻ em không được người lớn đối xử như là những “nhân vật” còn non trẻ, người ta thường xem chúng là những sinh vật vô nghĩa. Chúng mà biết nói năng, lý luận gì cho ra trò. Thậm chí họ còn thường xua đuổi, khai trừ chúng ra khỏi cộng đồng tôn giáo vì cho rằng chúng ngu dốt không biết lề luật.

Như thế Chúa Giêsu đã thực hiện hành động phục hồi mang hai chiều kích (con người và tôn giáo) khi Ngài đặt đứa bé – tiêu biểu một hạng người bị khai trừ – vào giữa đám bạn hữu Ngài. Và Ngài nhấn mạnh hành động này bằng một lời nói nặng trĩu ý nghĩa (c.37a). Cộng đoàn Kitô hữu sẽ phải nhớ tới lời này. Nhân danh Chúa Giêsu tiếp nhận một đứa trẻ – ở đây tượng trưng cho kẻ nghèo khó vào mọi kẻ bị khai trừ – chính là tiếp nhận chính Chúa Giêsu. Đây là câu trả lời đầy kinh ngạc Chúa Giêsu dùng để đáp lại câu hỏi được các môn đệ tranh cãi nhau trong lúc đi đường: “Ai là kẻ cao trọng nhất?”. Việc đua đòi danh vọng đã trở nên sỗ sàng đối với những kẻ bước theo Chúa Giêsu vào lúc Ngài đang đi trên con đường khiêm hạ dẫn đến đau khổ và cái chết. Trở nên “tôi tớ” mọi người, mở rộng vòng đai khép kín của Giáo Hội đến tận những kẻ hèn mọn nhất, trơ trụi nhất chính là “sứ vụ” Chúa Giêsu uỷ thác cho các môn đệ Ngài. Để nhấn mạnh thêm bài học trang trọng này Chúa Giêsu đã kết luận bằng một từ nói về “Sự tiếp đón” (c.37b): Chúa Giêsu chính là sứ giả của Thiên Chúa. Đón nhận Ngài trong bản thân những kẻ bé nhỏ chính là đón nhận chính Thiên Chúa. Thiên Chúa mang khuôn mặt một con trẻ, đó là sứ điệp bất ngờ, rất tân kỳ của trang Phúc Âm khả ái này.

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

NGƯỜI CÔNG CHÍNH BỊ BÁCH HẠI- Lm. Carolo Hồ Bặc Xái

Sợi chỉ đỏ :

– Bài đọc I (Kn 2,12.17-20) : Phường vô đạo âm mưu hãm hại người công chính.

– Tin Mừng (Mc 9,29-36) : Lần thứ hai Đức Giêsu loan báo người sẽ chịu nạn chịu chết.

DẪN VÀO THÁNH  LỄ

Anh chị em thân mến

Trong một thế giới còn nhiều sự dữ và nhiều người xấu, người sống công chính có thể chịu nhiều thiệt thòi vì bị người khác dèm pha, đố kỵ, hãm hại… Tuy nhiên, những khổ đau mà người công chính phải chịu lại sinh nhiều ơn ích cho chính những kẻ làm hại mình.

Kitô hữu chúng ta được kêu mời noi gương Đức Giêsu sống công chính như thế đó. Tuy nhiên, nếu không được Chúa giúp sức thì chúng ta khó mà sống được như thế.

Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta can đảm sống theo gương Ngài.

GỢI Ý SÁM HỐI

– Nhiều lần chúng ta ganh ghét đố kỵ với những người tốt hơn chúng ta.

– Nhiều lần vì sợ dư luận dèm pha, chúng ta không dám sống tốt như lý tưởng kitô giáo đòi hỏi.

– Nhiều lần vì muốn yên thân, chúng ta không can đảm bênh vực những người vì làm tốt mà bị ganh ghét.

LỜI CHÚA

Bài đọc I (Kn 2,12.17-20)

Những lý do khiến phường vô đạo bách hại người công chính : (1) Người công chính chống lại những việc làm xấu xa của phường vô đạo ; (2) Cách sống tốt của người công chính làm lộ rõ cách sống xấu xa của chúng ; (3) Phường vô đạo bách hại người công chính để thử xem Thiên Chúa có bênh vực người công chính hay không.

Đáp ca (Tv 53)

Mặc dù bị phường vô đạo chống đối và tìm hại mạng sống, nhưng người công chính vẫn trông cậy vào Chúa và kêu xin Chúa cứu giúp mình.

Tin Mừng (Mc 9,29-36)

-Chính Đức Giêsu mặc khải cho các môn đệ biết Ngài là ai : Ngài là Đấng Messia đến cứu thoát loài người, nhưng cứu thoát qua con đường chịu nạn, chịu chết và sống lại.

-Do đã quen với quan niệm về một Đấng Messia vinh quang hiển hách, các môn đệ không hiểu gì cả. Nhưng không dám hỏi lại Đức Giêsu. Và cũng vì đã quen với quan niệm thế tục ấy nên dọc đường các ông tranh luận xem ai sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời mà Đức Giêsu thành lập.

-Đức Giêsu sửa dạy các ông : trong Nước Trời, đừng ai để ý tới địa vị lớn hoặc nhỏ. Điều thứ nhất phải để ý là phục vụ : càng có chức vụ cao thì càng phải phục vụ nhiều (để nhấn mạnh ý tưởng phục vụ, Đức Giêsu dùng hình ảnh người đầy tớ). Điều thứ hai phải để ý nữa là có thái độ tiếp đón mọi người không phân biệt gì cả, dù là một người hèn hạ, vô ích thì người môn đệ Chúa cũng phải tiếp đón (để nhấn mạnh ý tưởng tiếp đón, Đức Giêsu dùng hình ảnh trẻ nhỏ, tức là một con người không mang lại lợi ích gì cho kẻ tiếp đón nó, mà còn mang tới phiền muộn).

Bài đọc II (Gc 3,16–4,3) (Chủ đề phụ)

Thánh Giacôbê thuyết phục tín hữu từ bỏ thói xấu ganh tị tranh chấp : (1) Ở đâu có ganh tị tranh chấp thì ở đó có xáo trộn và đủ thứ xấu xa ; (2) Người xây dựng hòa bình sẽ thu hoạch hoa trái là sự công chính ; (3) Xung đột và chiến tranh bắt nguồn từ những ham muốn bất chính của con người.

GỢI Ý GIẢNG

* 1. Người công chính bị bách hại

Elia Wiesel, một nhà văn do thái từng đoạt giải Nobel, kể câu chuyện sau đây :

Hồi đó ông đã bị quốc xã Đức bắt giam trong trại tập trung Auschwitz. Đây là một trại giam nổi tiếng là tàn bạo. Thỉnh thoảng bọn cai ngục bắt một số người đưa vào phòng hơi ngạt cho họ bị chết một cái chết rất khủng khiếp. Một hôm, có một đám trẻ do thái được chọn để hôm sau được đưa vào phòng hơi ngạt ấy. Nhìn thấy đám trẻ ngày mai phải chết, Elia Wiesel động lòng thương nên xin bọn cai tù cho phép ông được ở chung với bọn trẻ ấy một đêm. Thật là ngạc nhiên, bọn cai tù đồng ý ngay. Đêm đó Elia Wiesel kể cho đám trẻ hết chuyện này đến chuyện khác, mong làm chúng được vui. Nhưng kết quả trái ngược hẳn, ông không làm chúng vui được mà chỉ làm cho chúng khóc, và chính ông cũng phải khóc theo. Sáng hôm sau, ông buồn bã tiễn chân đám trẻ vào phòng hơi ngạt rồi trở về phòng giam của mình, mặt mày tiu nghỉu. Bọn cai tù thấy thế thì cười ngặt nghẽo. Thật là vô tình và cũng thật tàn nhẫn.

Câu chuyện trên chứa đựng những ý tưởng chính của Lời Chúa hôm nay. Qua chuyện ấy, chúng ta thấy sự trơ tráo của những kẻ làm điều ác, người vô tội bị bách hại và chiến thắng của sự dữ (bài đọc I) ; chúng ta cũng thấy một tấm gương phục vụ những người bé mọn mà Đức Giêsu đề cao trong bài Tin Mừng.

Trong hoàn cảnh càng tối tăm bi thảm thì hành động phục vụ những kẻ bé mọn càng chói sáng rực rỡ. Trong trại tù Auschwitz, tất cả những gì tốt lành và tử tế đều bị chà đạp, còn những gì là ích kỷ, tự tư tự lợi thì lại được coi là khôn ngoan. Lòng thương xót thì hiếm hoi như một cánh hoa giữa mùa đông giá lạnh.

Elia Wiesel đã vươn lên trên tất cả. Ông dám mạo hiểm cuộc sống để kết bạn với những đứa trẻ sắp bị xử tử. Thực ra ông chẳng có câu trả lời nào để giải đáp cho các em, cũng chẳng làm gì được để cứu các em. Tất cả những gì ông làm được chỉ là cùng sống với các em trong những giờ cuối cùng của cuộc sống, để các em không cô đơn trong đau khổ. Phần nào đó ông là hình ảnh của Đức Kitô.

Đức Kitô là một người công chính. Tuy nhiên Ngài cũng phải chịu khổ : suốt đời Ngài đã bị kẻ thù săn đuổi. Sở dĩ Ngài bị như thế là vì Ngài quá tốt lành, tốt quá nên những kẻ gian ác không chịu nổi. Sự tốt lành của Ngài vạch trần sự gian ác của họ, Ngài càng tốt lành thì sự gian ác của họ càng lộ rõ.

Đức Kitô đã chiến thắng, chiến thắng không phải bằng cách đè bẹp sự gian ác hay trốn tránh sự gian ác, mà bằng cách đối diện với nó và vượt qua nó. Ngài ban can đảm và hy vọng cho tất cả những ai hy sinh bản thân cho tha nhân vì sự công chính. (Viết theo Flor McCarthy)

Bàn về cao vọng

Có cao vọng không phải là gì sai trái cả. Thực vậy, sống thì phải biết đặt mục tiêu cho đời mình, làm việc thì phải muốn thành công. Tuy nhiên cao vọng có thể vượt quá tầm kiểm soát của mình, khiến mình quên hết tất cả mọi sự khác để chỉ còn biết đeo đuổi điều mình ước vọng.

Bởi đó, chúng ta phải cẩn thận để ý xem những gì mình hy sinh khi theo đuổi cao vọng. Chúng ta có thể hy sinh cuộc sống gia đình, sự công bình, sự khả ái và thậm chí cả cuộc sống của mình nữa. Cao vọng có thể khiến người ta đối xử với người khác một cách bất công và tàn nhẫn. Thế nhưng, dù được lời lãi cả thế gian mà phải đánh mất chính mình thì nào có ích gì ?

Trong bài Tin Mừng hôm nay, các môn đệ tranh cãi nhau xem ai là người lớn nhất. Chuyện này chẳng tốt đẹp gì. Nó chứng tỏ các ông chưa học được bao nhiêu từ những giáo huấn của Đức Giêsu. Nó cho thấy các ông chả hiểu gì về sứ mạng Đức Giêsu. Bởi đó, Đức Giêsu gọi họ lại và dạy cho họ biết ý nghĩa của việc làm lớn.

Đức Giêsu không huỷ bỏ cao vọng, nhưng Ngài định nghĩa nó lại cho đúng. Thay vì cao vọng thống trị người khác, Ngài dạy họ phục vụ người khác. Thay vì cao vọng muốn người khác hầu hạ mình, Ngài dạy họ biết hầu hạ người khác. Như thế điều Ngài lên án không phải là cao vọng mà là cao vọng sai.

Cao vọng sai làm hại cho sự hiệp nhất của cộng đoàn, nó biến thành ích kỷ và ganh ghét, và nó có thể sinh ra đủ thứ thái độ xấu xa đối với nhau.

Nghề nghiệp và địa vị

Khi Nelson Mandela còn là một sinh viên trường Luật ở Johannesburg, ông có một người bạn tên là Paul Mahabane, một thành viên của Hội nghị quốc gia Châu Phi và là một người có tiếng tăm. Một hôm, hai người đang đứng ngoài cổng Bưu điện thì gặp một công chức da trắng khoảng 60 tuổi. Ông này bảo Mahabane vào mua cho ông vài con tem. Thời đó việc một người da trắng sai bảo một người da đen làm một việc gì đó cho mình chẳng có gì lạ. Nhưng Paul Mahabane từ chối. Viên công chức rất giận, ông hỏi :

– Mày có biết tao là ai không ?

Paul bình tĩnh trả lời :

– Tôi không cần biết ông là ai. Tôi chỉ biết ông là gì thôi.

Ông công chức da trắng hét lên : “Mày sẽ phải trả giá về việc này đó”. Rồi ông bỏ đi.

Người da trắng này nghĩ rằng phẩm giá của ông cao hơn Paul Mahabane chỉ vì ông là một công chức; và vì là công chức nên ông có quyền sai khiến kẻ khác, nhất là người da đen.

Chúng ta cũng có khuynh hướng đánh giá người khác theo địa vị và nghề nghiệp. Gặp một bác sĩ thì chúng ta kính trọng, còn gặp một người công nhân thì chúng ta coi thường. Nhưng như thế là vừa bất công vừa ngớ ngẩn, bởi vì cái làm nên một con người không phải là địa vị và nghề nghiệp mà chính là con người của người đó. (Viết theo Flor McCarthy)

Bài học bất ngờ về giá trị con người

Nếu muốn hiểu đoạn Tin Mừng này rõ hơn, chúng ta cần xác định thời điểm của nó : Khi ấy, Đức Giêsu đã rao giảng được khoảng 3 năm., sắp tới lúc Ngài kết thúc sự nghiệp của mình ở trần gian, một kiểu kết thúc mà không ai có thể ngờ được, nghĩa là kết thúc bằng cái chết đớn đau tủi nhục trên Thập Giá. Chính vì đoán trước rằng không ai có thể ngờ được việc đó cho nên Đức Giêsu phải nói trước cho các môn đệ mình hay, để khi sự việc xảy ra thì họ sẽ không quá ngỡ ngàng và hoang mang. Những lời báo trước về cuộc khổ nạn mà chúng ta vừa nghe trong đoạn Tin Mừng này là lần loan báo thứ 3 rồi đó. Dù vậy, các môn đệ vẫn không hiểu. Họ cũng đoán là Đức Giêsu sắp kết thúc hoạt động rao giảng, nhưng kết thúc một cách huy hoàng bằng cách chiếm lấy quyền bính và lên ngôi vua. Chính vì nghĩ như vậy nên họ bắt đầu tranh dành nhau xem trong cái chính phủ mà Đức Giêsu sắp lập ấy, ai trong nhóm họ sẽ được giữ địa vị nào.

Chính trong hoàn cảnh ấy, Đức Giêsu dạy cho các môn đệ mình một bài học, bài học thật bất ngờ : Chúa nói : “Ai muốn làm lớn thì phải làm người rốt hết và làm tôi tớ mọi người”.

Bài học này rất bất ngờ. Bởi vì nó không giống quan niệm của người ta vẫn nghĩ từ xưa tới nay. Theo quan niệm cũ ấy thì ai là người lớn ? Thưa là người ở địa vị cao, người được những kẻ khác hầu hạ. Còn ai là người nhỏ ? Thưa là người ở địa vị thấp, người phải hầu hạ kẻ khác. Thí dụ như khi chúng ta thấy một chiếc xe du lịch, trong số có hai người ngồi : một người ăn mặc đàng hoàng sang trọng ngồi ở băng sau, và một người ăn mặc xuề xoà ngồi cầm lái phía trước. Tự nhiên ta biết trong hai người đó, ai lớn, ai nhỏ : người lớn chính là cái ông ăn mặc sang trọng đang ung dung ngồi phía sau, còn người nhỏ là kẻ ăn mặc xuề xoà phải lái xe cho ông kia. Hay khi chúng ta đang ngồi trong một phòng khách : có một người đang ngồi tiếp chuyện với ta, uống nước trà, ăn bánh, hút thuốc, và một người nữa lo bưng bánh, rót nước. Hỏi ai là người lớn ? Dĩ nhiên là người đang ngồi. Còn ai là đầy tớ ? Dĩ nhiên đó là người đang phục vụ.

Nhưng Đức Giêsu thì dạy ngược lại,. Nếu Đức Giêsu cũng chứng kiến những cảnh trên và ta hỏi Chúa : Thưa Chúa, trong chiếc xe du lịch ấy có hai người, ai lớn ai nhỏ ? Đức Giêsu sẽ trả lời ngay : cái ông ngồi phía sau là nhỏ, còn người tài xế là lớn. Nếu ta hỏi tiếp : còn trong phòng khách cũng có hai người, vậy thưa Chúa ai lớn ai nhỏ ? Đức Giêsu cũng trả lời không chần chừ : người đang ngồi là nhỏ, còn người đang phục vụ là lớn.

Tuy nhiên chúng ta đừng hiểu lầm, Đức Giêsu không chủ trương đảo lộn tất cả, biến kẻ ở địa vị cao thành người nhỏ và cho kẻ ở địa vị thấp thành người lớn đâu. Tiêu chuẩn Chúa đưa ra để đánh giá một người, ấy là sự phục vụ. Như thế ai biết phục vụ thì là người lớn. Còn kẻ không phục vụ thì là người nhỏ. Người ở địa vị cao mà biết phục vụ thì vẫn là người lớn, còn kẻ ở địa vị thấp mà không phục vụ thì cũng vẫn là người nhỏ.

Nghĩa là : giá trị của một con người không phải do địa vị của người đó, mà tuỳ vào khả năng phục vụ và mức độ hữu ích của người đó.

Để minh hoạ cho bài học này, sau đó Đức Giêsu đưa ra hình ảnh một em bé. Hình ảnh của một em bé đối với bất cứ người nào nhìn, cũng thấy là dễ thương. Cho nên khi thấy một em bé, ai cũng muốn bồng ẵm, muốn ôm hôn, muốn cho nó ăn bánh, ăn kẹo. Tại sao người ta thương em bé và muốn cho nó đủ thứ như vậy ? Có phải tại nó giỏi giang, tại nó giúp cho người ta được việc này việc nọ không ? Thưa hoàn toàn không, đứa bé còn quá nhỏ, chưa biết là gì, chưa giúp ích được gì. Nhưng người ta thương nói chỉ vì người ta thương nó, thế thôi. Một tình thương hoàn toàn vô vụ lợi. Người ta cho nó cái này cái nọ, cũng không phải để trả ơn nó hay để mong nó làm gì giúp mình. Cũng chỉ vì thương mà phục vụ thôi. Chúa dùng hình ảnh em bé để minh hoạ cho bài học phục vụ trên kia : chúng ta cũng phải cư xử với mọi người theo kiểu chúng ta cư xử với một em bé : hết lòng yêu thương phục vụ một cách hoàn toàn vô vụ lợi. Người nào biết phục vụ kẻ khác như thế thì là phục vụ Chúa, và mới xứng đáng làm môn đệ Chúa.

Chúng ta hãy nhớ bài học của Chúa : giá trị con người không tuỳ vào địa vị của người đó, mà tuỳ vào khả năng phục vụ và mức độ hữu ích của người đó.

– Trong một gia đình, ai là người lớn nhất ? Có phải là người cha, người chồng không ? Bề ngoài là như vậy. Nhưng đối với Chúa thì chưa chắc. Người cha ấy, người chồng ấy nếu chỉ biết có ra lệnh bảo người này người nọ làm mọi việc, nếu chỉ biết ngồi đó mà chê món ăn này dỡ, cái bàn này lau chưa sạch, nhà cửa này lộn xộn lung tung ; nếu chỉ biết ăn no rồi đi chơi, chỉ biết có nhậu nhẹt và để mặc vợ con làm tất cả, thì đó chính là kẻ nhỏ nhất trong nhà, nhỏ hơn cả vợ mình, nhỏ hơn cả con mình. Bởi vì người chồng người cha ấy là một người vô ích.

– Trong một khu xóm cũng vậy, trong một cơ quan cũng vậy, trong một họ đạo cũng vậy. Nếu xét theo tiêu chuẩn của Chúa, thì kẻ lớn nhất không hẳn là người có địa vị cao nhất, không hẳn đó là ông trưởng xóm, không hẳn đó là ông giám đốc, không hẳn đó là ông Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Xứ. Mà rất có thể kẻ được Chúa xét là lớn lại chính là một người mà ít ai để ý tới, người đó không có chức có quyền nào, người đó âm thầm ít nói, nói ít mà làm nhiều ; luôn luôn chu toàn nhiệm vụ mình, luôn tìm cách giúp ích cho người khác.

– Thí dụ như Linh mục Jean Marie Vianney. Cha là một người vừa kém thông minh và vừa có tư cách cục mịch như một người nhà quê. Sau nhiều năm học ở Chủng viện, Vianney thi không đủ điểm nên đáng lẽ bị loại. Nhưng người ta chỉ thương tình mà cho đậu vớt và được phong chức Linh mục. Vì thấy Cha quá kém cỏi. Đức Giám Mục đưa Cha đi làm Cha sở một họ đạo nhỏ xíu ở miền quê mà giáo dân đã bỏ đạo gần hết, đó là họ Ars. Thế nhưng Cha Vianney đã tận dụng tất cả các khả năng và sức lực Chúa ban để hết lòng phục vụ họ đạo. Mỗi ngày Cha chỉ nghỉ ngơi 3,4 tiếng đồng hồ. Nhưng ngồi toà giải tội thì liên miên, có khi tới 16 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Cha không có giờ nấu cơm, nên chỉ nấu một nồi khoai lớn để ăn dần cho suốt một tuần lễ. Dần dần cả họ Ars trở lại, thành một họ đạo sốt sống gương mẫu. Giáo dân từ các họ khác cũng đến đó để dự lễ, để nghe giảng, để xưng tội. Có cả các tu sĩ, các Linh mục, Giám mục từ khắp nơi đến để nhờ Cha giúp đỡ về mặt linh hồn. Sau này người viết tiểu sử của Cha đã nhận định : Nếu cả Giáo Hội Nước Pháp mà có được chỉ một vài Linh mục như Cha Vianney thôi thì cả nước Pháp đã nên Thánh,. Đó mới là người lớn thật mặc dù chỉ là một Linh mục học kém, một Cha sở nhà quê, bởi vì sức phục vụ của Cha thật là lớn.

Bài học của CG hôm nay thật là dễ hiểu, nhưng lại khó thực hành.

Ai muốn làm lớn thì phải hạ mình phục vụ mọi người như một kẻ đầy tớ.

Giá trị của một con người không phải do địa vị của người đó, mà là do khả năng phục vụ và mức độ hữu ích của người đó.

Xin Chúa ban thêm cho chúng ta sự khiêm nhường và sự siêng năng, để chúng ta có thể thực hành bài học phục vụ mà Chúa dạy chúng ta hôm nay.

Tính ganh ghét

Trong lúc Đức Giêsu gần tới giai đoạn quyết liệt nhất của cuộc đời là sắp bị bắt và chịu chết để chuộc tội loài người, thì các tông đồ lại còn ganh ghét nhau, tranh dành địa vị với nhau xem ai lớn ai nhỏ trong nước mà họ tưởng Chúa sẽ thành lập. Như thế đủ biết cái tính ganh ghét có thể xâm nhập vào bất cứ ai (kể cả các tông đồ), và bất cứ hoàn cảnh nào (kể cả lúc Đức Giêsu sắp chịu chết). Cho nên ganh ghét được coi là một trong 7 mối tội đầu, mối thứ 3.

Trong bài Thánh Thư hôm nay, Thánh Giacôbê cũng bàn về tính ganh ghét này. Ngài nói “Ở đâu có ganh ghét và cải vả thì ở đó có hỗn độn và đủ thứ tệ đoan”. Thánh Giacôbê là một người thực tế, nhận xét này của Ngài cũng rất thực tế. Thật vậy chỗ nào có ganh ghét thì chỗ đó phát sinh đủ thứ tệ đoan :

a/ Gia đình chẳng hạn : lẽ ra đó phải là một tổ ấm hạnh phúc mà mọi người sống trong đó yêu thương, nâng đỡ, nhường nhịn, ủi an nhau. Nhưng nếu chẳng may trong gia đình có một người ganh ghét, thí dụ như một người chị ganh với một đứa em vì nó đẹp hơn, thông minh hơn, được mọi người thương mến hơn…thì trong nhà có những háy nguýt, phân bì, nói bóng nói gió, cải vả nhau, thậm chí xô xát nhau nữa… Gia đình hết là tổ ấm mà trở thành gần như hoả ngục.

b/ Ở sở làm cũng thế, nhất là những chỗ có nhiều đàn bà con gái. Nhiều chị em đã phải vất vả tốn công tốn của để tìm cho được một chỗ làm. Bắt đầu đi làm thì vui vẻ hăng hái lạc quan. Nhưng làm một thời gian rồi thì đụng phải sự ganh ghét của chị em đồng nghiệp, và khởi sự chán nản, buồn bả, bi quan, chỉ muốn thôi việc đi tìm chỗ khác.

c/ Ngay trong những nơi đạo đức như các dòng tu cũng thế. Lẽ ra chốn tu trì phải là nơi sốt sắng thánh thiện. Các Tu sĩ thương yêu nhau và giúp nhau nên thánh. Khi một người đi tu, họ tự nguyện từ bỏ mái ấm gia đình và chọn tu viện là gia đình mới, chọn các tu sĩ sống chung trong nhà là những người anh chị em mới. Lẽ ra họ sẽ được hưởng một thứ hạnh phúc siêu nhiên bù đắp cho thứ hạnh phúc tự nhiên mà họ đã tự nguyện từ bỏ. Nhưng nếu trong cộng đoàn có một vài người ganh ghét, thì chân tu viện trở thành ngột ngạt, đời sống cộng đoàn trở thành gánh nặng.

Quả thực thánh Giacôbê tông đồ đã nói rất đúng “Ở đâu có ganh ghét thì ở đó có đủ thứ tệ đoan”. Ta hãy phân tích thêm câu nói này. Ganh ghét đưa đến những tai hại như thế nào ?

Trước hết là hại cho chính bản thân người ganh ghét :

. Người ganh ghét tự nung nấu ruột gan mình bằng ngọn lửa khó chịu âm ỉ mãi. Thấy người ta dở, người ta xấu, người ta làm sai làm quấy thì mình khó chịu đã đành ; mà thấy người ta hay, người ta tốt, người ta thành công mình cũng khó chịu. Thành ra khi người ta vui thì mình buồn, người ta sung sướng thì mình đau khổ, người ta càng vui sướng chừng nào thì mình càng buồn khổ chừng nấy.

. Hại hơn nữa là người ganh ghét tự làm giảm giá trị và tư cách của mình nữa. Ganh ghét với ai là tự đặt mình vào thế tranh đua với người đó. Mà trong cuộc tranh đua này, nếu mình cảm thấy khó chịu, bực tức khổ sở trước thành công của người khác, thì đó là dấu mình đã thua kém. Thua kém mà còn khó chịu bực tức thì cho thấy tư cách của mình cũng thấp kém nữa.

-Tai hại thứ 2 của tính ganh ghét là gây cho nạn nhân bị mình ganh ghét. Vì ganh ghét mà mình làm cho người ta buồn người ta khổ một cách hết sức bất công. Chứ nếu công bình mà xét thì người ta đều có gì để đáng phải buồn khổ như vậy. Chỉ vì người ta hay, người ta tốt, người ta giỏi mà người ta phải khổ. Lẽ ra người ta phải được khen thưởng, phải được mừng vui thì vì ganh ghét mà mình làm cho người ta khổ sở. Người bị ganh ghét như thế lâm vào một hoàn cảnh thật khó xử : một đàng là công việc phải làm, đã làm thì phải làm cho tốt, cho hay – mà càng tốt càng hay thì càng bị mỉa mai dằn vật. Biết xử thế nào bây giờ ! Thật là khó. Thôi chỉ còn nước cứ tiếp tục làm và cắn răng, nuốt nước mắt mà chịu đựng những lời mỉa mai của kẻ ganh ghét.

-Sau cùng tính ganh ghét còn làm hại cho tập thể nữa. Người ganh ghét như một con sâu, một con vi trùng độc hại, âm thầm mà hiểm độc phá hoại tập thể, làm cho tập thể mất đoàn kết, mất bình an, mất hăng hái. Cho nên thật là tai hại cho tập thể nào có một vài người ganh ghét ; và cũng thật là xui xẻo cho ai lỡ thuộc về tập thể có vài kẻ ganh ghét như thế.

Những tai hại vừa kể dẫu không nói ra thì ai cũng có thể nhận thấy. Nhưng có một điều khó nhận thấy là ít ai nhận thấy mình mang tính ganh ghét. Ai cũng có thể bị tính ganh ghét xâm nhập, nhưng ít ai biết mình đang có tính xấu ấy. Chị em có thể ganh ghét nhau mà không hay ; bạn bè có thể ganh ghét nhau mà không biết ; những người đồng lý tưởng có thể ganh ghét nhau làm hại nhau mà không ngờ. Các con của ông Giacóp ganh ghét đến nỗi bán em là Giuse mà vẫn thản nhiên ; các tông đồ ganh ghét tranh dành địa vị với nhau đang lúc Đức Giêsu sắp bị bắt bị giết mà vẫn không thấy là kỳ. Chúng ta cũng có thể đang ganh ghét với người đồng nghiệp của mình, với người hàng xóm của mình, với chính anh chị em bạn bè của mình mà vẫn không hay. Vì thế chúng ta phải hết sức khiêm nhường mỗi khi xét mình, kiểm điểm dời sống. Dấu hiệu rõ ràng nhất cho biết mình đang có tính ganh ghét là khi mình thấy người khác thành công, mình chẳng những không vui mừng với người ta mà còn bực bội khó chịu với họ, hay thấy người ta thất bại thì mình lại vui sướng.

Xin Chúa giúp chúng ta biết khiêm nhường nhìn đúng khả năng và giới hạn của mình. Và xin Chúa giúp chúng ta biết cố gắng vui với thành công của người khác, buồn với thất bại của người khác, và đoàn kết với nhau, giúp nhau càng ngày càng hay hơn, tốt hơn.

Người lớn nhất

Một linh mục kể lại câu chuyện đầy kịch tính sau đây :

Tại một vùng hoang dã, những tay giang hồ tứ chiếng tập trung trong một khu trại. Một phụ nữ duy nhất sống giữa đám đàn ông sa đọa. Ban ngày cuốc xới bới tìm, đêm về là rượu chè bài bạc. Người phụ nữ đã gian díu với một tay quái nào đó và đang mang thai. Ngày sinh con, chị suy nhược không chịu nổi phút thử thách đã chết trên giường sinh.

Biến cố này bắt những tay giang hồ phải suy nghĩ một cái gì khác hơn là chuyện tranh chấp vàng bạc, rượu chè. Thơ nhi được đặt nằm trên tấm ván cạnh xác người mẹ. Bên dưới người ta đặt một cái nón ngửa để nhận quà tặng. Chiếc nón đầy đồng hồ, dây chuyền, nhẫn cưới, đồng vàng. Tất cả quà tặng dùng để chôn xác người mẹ xấu số và nuôi đứa bé thơ dại. Một ông già tình nguyện lo cho cháu nhỏ.

Người ta vô cùng bỡ ngỡ là ngày góp mặt đứa bé trong trại, cuộc sống đám quái đã đổi hẳn. Họ bỏ đánh bạc đêm để cho em bé ngủ yên, dừng lại những câu tục tĩu khi ở trước mặt bé, những nụ hôn thắm thiết như mưa trên nét mặt vô tội.

Một hôm vỡ đê, nước cuồn cuộn tràn lều. Nhảy khỏi giường, ai cũng đến tìm bé. Không ngờ bé và cụ già bố nuôi đã bị cuốn trôi lúc nửa đêm. Hai tay bé vẫn níu chặt cổ bố. Ngày đào hố chôn hai xác thiên thần cũng là ngày những người trong trại giang hồ chôn hết quá khứ. Họ vẫy tay, từ giã nhau mỗi người về một nẻo. Có phải chính nét thơ ngây thiên thần kia làm cho khách giang hồ trực cảm được một ý nghĩa cao đẹp trong cuộc đời trôi nổi phi lý đó ? Có phải chính ánh mắt, nụ cười, nét đẹp thiên thần đã khơi một hương sống mới lạc quan và tươi vui hơn.

*

“Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy là đón tiếp chính mình Thầy” (Mc.9,37).

“Trẻ nhỏ” ở đây được xem là những người không quan trọng, không đáng kể, không cần lưu ý ; những người nghèo hèn, tàn tật, bị bỏ rơi. Đức Giêsu muốn đồng hòa với những con người bất hạnh ấy, để khi đón tiếp họ, chúng ta hoàn toàn vô vị lợi, vì không mong chờ sự đáp trả của những kẻ khốn khổ ấy. Đó chính là sứ điệp mà Đức Giêsu muốn gởi tới chúng ta qua bài Tin mừng hôm nay.

Người còn khẳng định : “Ai muốn làm lớn nhất hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người” (Mc.9,35). Với tinh thần phục vụ vô vị lợi, chúng ta thực sự lớn lên trước mặt Thiên Chúa và anh em. “Người lớn nhất” là người phục vụ nhiều nhất, hăng say nhất. “Người lớn nhất” là người làm trước nhất và nghỉ sau cùng.

Đó là một cuộc cách mạng về quan điểm “Người lớn nhất” nơi Đức Giêsu. “Người lớn nhất” theo kiểu của Đức Giêsu không dùng quyền để lãnh đạo, nhưng dùng đôi tay để phục vụ. “Người lớn nhất” không dùng sức mạnh để chỉ huy, nhưng dùng con tim để yêu thương. Thế giới ngày nay rất cần những người đứng đầu theo kiểu mẫu ấy : khiêm tốn, phục vụ, và yêu thương. Bourdaloue có nói : “Đặt mình trên kẻ khác chính là tự buộc mình làm việc và phục vụ họ”. Nhà truyền giáo Albert Schweitzer nói : “Người hạnh phúc nhất trong anh em là người đã tìm thấy con đường hiến thân phục vụ”.

*

Lạy Chúa, ai trong chúng con cũng là người đứng đầu trong một tập thể nhỏ bé nào đó, xin cho chúng con biết dùng quyền hạn của mình để phục vụ những người Chúa giao phó cho chúng con. Nhất là xin cho chúng con luôn thao thức, làm cho họ ngày càng được an vui và hạnh phúc hơn. Amen. (Thiên Phúc, “Như Thầy đã yêu”)

Tiếp đón em nhỏ

 “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy”.

Tôi thán phục giáo huấn của Đức Giêsu về cách làm lớn, một giáo huấn rất ngược đời nên rất đặc biệt : “Ai muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ”. Nghĩa là làm lớn không phải để sai khiến người ta phục vụ mình, trái lại phải phục vụ người ta.

Nhưng tôi càng thán phục hơn vì Đức Giêsu đã không nói phục vụ suông, Ngài còn chỉ rõ phải ưu tiên phục vụ những kẻ nhỏ nhất.

Gia đình bên cạnh nhà tôi có một người cha được con cái thương mến còn hơn thương mẹ chúng, bởi vì người cha này tự dành lấy trách nhiệm chăm sóc các con : chính tay ông tắm rửa cho các con ; chính ông dỗ ngủ các con ; ông bồng bế con nhiều hơn mẹ chúng. Ông là người lớn nhất trong nhà nên phục vụ nhiều nhất. Ông còn đặc biệt ở điểm này nữa là quan tâm chăm sóc đứa con nhỏ nhất hơn các đứa khác. Bởi vậy khi có thêm một đứa em chào đời, thì đứa anh hay chị gần nó nhất tự biết “thân phận” của mình, nhường cho em nhỏ được hưởng những chăm sóc ưu tiên của ba.

Tóm lại, bài học phục vụ đã hay, mà bài học ưu tiên phục vụ kẻ nhỏ nhất còn hay hơn.

LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

Chủ tế : Anh chị em thân mến, Đức Giêsu đã dạy : “Ai muốn làm đầu thì phải làm người rốt hết, và làm tôi tớ mọi người”, và chính Người đã thực hành điều Người dạy, là chịu tử hình thập giá để mọi người được cứu độ. Chúng ta hãy cảm tạ Chúa và dâng những lời nguyện sau đây :

  1. Xin cho mọi giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân trong Hội thánh / biết loại bỏ mọi hình thức thống trị và chuyên chế / để trở thành người phục vụ theo gương Chúa Kitô.
  2. Xin cho những người đang làm lớn trong xã hội / đừng lợi dụng chức quyền để tìm hiểu giàu sang danh vọng / nhưng biết quan tâm trước hết đến việc phục vụ đồng bào mình.
  3. Xin cho những người nghèo đói, thất nghiệp, tị nạn, không nhà không cửa, bị xã hội bỏ rơi / được gặp những người biết quan tâm an ủi và giúp đỡ thật tình.
  4. Xin cho mọi người trong họ đạo chúng ta biết chú ý đến những người gặp khó khăn thử thách / người ở trong họ đạo cũng như mọi người mình có thể gặp / để cùng nhau tìm cách phục vụ họ.

Chủ tế: Lạy Đức Giêsu, Chúa đã làm gương và dạy chúng con phục vụ cho nhau, khi Chúa rửa chân cho các môn đệ, và nhất là khi Chúa hy sinh mạng sống chuộc tội chúng con ; xin giúp chúng con luôn sẵn sàng phục vụ mọi người như Chúa đã dạy. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

TRONG THÁNH LỄ

– Sau kinh Lạy Cha : “Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin giải thoát chúng con khỏi những tính xấu ganh ghét, đố kỵ, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an…”

GIẢI TÁN

Sống công chính theo gương Đức Giêsu thật là khó. Nhưng đó là sứ mạng của người môn đệ Chúa. Với sự trợ giúp tích cực của Chúa, chúng ta hãy cố gắng sống công chính, cho dù có thể gặp những khó khăn, thiệt thòi.

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN-  Năm B

ĐỐI DIỆN VỚI MỤC ĐÍCH– Chú giải mục vụ của William Barclay

ĐỐI DIỆN VỚI MỤC ĐÍCH (9,30-32)

Đoạn Tin Mừng này đánh dấu một giai đoạn quan trọng. Bây giờ Chúa Giêsu đã lìa khỏi vùng đất phía Bắc là nơi Ngài được an toàn để đi những bước đầu tiên về Giêrusalem và thập giá đang chờ Ngài tại đó. Lần đầu tiên, Ngài không muốn có đám dân đông đảo chung quanh mình. Chúa Giêsu biết rõ Ngài sẽ thất bại, trừ khi Ngài viết được thông điệp của mình trong những người Ngài đã chọn. Bất kỳ một Rabbi nào cũng để lại cho hậu thế một loạt các lời tuyên bố. Nhưng Chúa Giêsu biết chỉ có vậy thì chưa đủ. Ngài phải để lại sau lưng mình một đoàn người mà những lời tuyên bố của Ngài được ghi khắc trên họ. Ngài phải chắc chắn rằng sau khi thân xác Ngài rời bỏ thế gian này, vẫn còn một số người hiểu –dầu chỉ lờ mờ- những gì Ngài từng phán dạy. Lần này, lời cảnh cáo của Ngài gặp thất bại bi thảm, đau lòng hơn. Nếu đối chiếu đoạn này với đoạn trước đây, trong đó Ngài báo trước sự chết của Ngài (Mc 8,31), chúng ta thấy có câu duy nhất này được thêm vào “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời”. Trong nhóm người ít ỏi đó, Ngài vẫn nhìn thấu suốt cách thức mà Giuđa vận dụng tâm trí. Ngài biết rõ hơn Giuđa biết chính mình. Vì thế, khi Ngài phán “Con Người sẽ bị nộp trong tay người đời” chẳng những Ngài thông báo một sự kiện, đưa ra một lời cảnh cáo, mà Ngài còn thực hiện một lời kêu gọi cuối cùng đối với kẻ mưu tình một kế hoạch phản bội Ngài.

Thế nhưng cho đến lúc đó, các môn đệ vẫn chưa hiểu. Điều họ không hiểu nổi là mấy tiếng ngắn ngủi đề cập sự sống lại. Bấy giờ họ đã ý thức được bầu không khí của tấm thảm kịch, nhưng cho đến tận những ngày chót, họ vẫn không nắm được thật chắc chắn sự Phục Sinh. Đây là một việc kỳ diệu quá lớn lao đối với họ, một việc kỳ diệu mà họ chỉ lãnh hội được khi nào nó trở thành một sự kiện đã hoàn tất.

Khi đã không hiểu thì họ cũng không dám hỏi gì thêm. Họ như những kẻ đã biết quá nhiều rồi, nên sợ biết nhiều hơn nữa. Một người có thể nhận được sự chẩn đoán bệnh tình của mình từ bác sĩ, có thể người ấy nghĩ rằng nội dung tổng quát của sự chẩn đoán ấy không được sáng sủa lắm, nhưng không hiểu hết mọi chi tiết, mà lại sợ không dám hỏi gì thêm, đơn giản chỉ vì người ấy sợ không muốn biết thêm. Các môn đệ của Chúa đang lâm vào tình trạng như vậy.

Lắm lúc chúng ta ngạc nhiên, không hiểu tại sao các môn đệ của Chúa lại không lãnh hội được một việc đã được Chúa nói rõ ra như vậy. Tâm trí con người vốn có năng khiếu lạ lùng để loại bỏ điều họ không muốn thấy. Chúng ta có khác gì họ đâu? Bao nhiêu lần chúng ta đã nghe thông điệp Kitô giáo. Chúng ta vẫn biết, tiếp nhận nó là phước hạnh, là vinh quang, cũng biết rằng khước từ nó là thảm họa, nhưng nhiều người trong chúng ta vẫn xa tránh thông điệp ấy không chịu tuân phục hoàn toàn cũng như không chịu uốn nắn cuộc sống chúng ta cho phù hợp với nó. Nhân loại chỉ tiếp nhận phần nào mình thích và phù hợp với mình và từ chối không chịu hiểu phần còn lại.

CAO VỌNG CHÂN CHÍNH (9,33-35)

Không có việc nào cho thấy rõ các môn đệ nhận thức đến đâu về ý nghĩa đích thực của sứ vụ Mêsia bằng sự việc ở đây. Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại với họ những gì đang chờ đợi Ngài tại Giêrusalem. Thế nhưng, họ cứ nghĩ vương quốc của Chúa Giêsu là một vương quốc trên thế gian này và chính họ là các thượng thư, bộ trưởng trong vương quốc ấy. Ý nghĩ của Chúa Giêsu đang tiến về thập giá, còn các môn đệ lại tranh cãi xem ai được quyền cao chức trọng hơn cả. Là một cái gì khiến Chúa hết sức đau lòng. Dù vậy, tự thâm tâm, họ vẫn biết là họ đã sai quấy. Khi Chúa Giêsu hỏi họ đang cãi nhau về chuyện gì thì họ chẳng trả lời. Đó là im lặng vì xấu hổ. Họ không có lý do gì để bào chữa. Thật lạ lùng khi một việc được bày tỏ dưới mắt Chúa Giêsu thì sẽ đâu ra đấy, đồng thời cũng bộc lộ rõ tính chất của chúng. Bao lâu họ nghĩ Chúa Giêsu chẳng lắng nghe, chẳng nhìn thấy thì cuộc cãi nhau về ai lớn nhất nghe có vẻ hay ho, nhưng khi phải tranh luận trước mặt Ngài, họ thấy mọi sự thật vô nghĩa. Nếu chúng ta đem mọi sự đặt dưới mắt Chúa Giêsu, đời sống chúng ta trên thế gian này sẽ trở thành khác hẳn. Nếu trong mọi việc chúng ta đều đặt câu hỏi “Tôi có thể làm việc này dưới con mắt theo dõi của Chúa Giêsu không?”. Nếu trong mọi lời nói, chúng ta đều đặt câu hỏi “Tôi có thể tiếp tục nói thế này nếu Chúa Giêsu đang lắng nghe tôi không”“. Hẳn chúng ta sẽ tránh được vô số việc làm, nhiều lời nói đáng tiếc. Vấn đề là không có chữ “nếu” trong niềm tin Kitô giáo. Mọi việc chúng ta làm, mọi lời chúng ta nói, đếu phơi bày trước mặt Chúa Giêsu. Nguyện Chúa gìn giữ chúng ta khỏi những việc làm, những lời nói khiến chúng ta phải xấu hổ, khi biết Ngài đang nghe và thấy.

Chúa Giêsu đã giải quyết sự việc này thật nghiêm chính. Kinh Thánh chép “Ngài ngồi lại và gọi nhóm Mười Hai đến”. Khi một Rabbi thật sự dạy dỗ với tư cách Rabbi, như một bậc thầy dạy bảo học trò, khi ông muốn tuyên bố một điều quan trọng, vị Rabbi ấy luôn luôn ở tư thế ngồi để giảng dạy. Trước khi ngỏ lời với họ, Chúa Giêsu đặt mình vào tư thế của một Rabbi dạy dỗ học trò. Ngài bảo họ, nếu muốn làm lớn trong Nước Trời thì sẽ được chức vị cao trọng ấy, không phải bằng cách làm sao để đứng đầu, nhưng phải tìm cách làm kẻ đứng sau rốt, không phải tìm cách làm chủ, nhưng phải làm tôi tớ mọi người. Nói thế không phải là Chúa Giêsu xóa bỏ cao vọng, nhưng Ngài chỉ muốn tái tạo và thăng hoa cao vọng. Ngài đã đem cao vọng giúp đờ tha nhân thay thế cho tham vọng bắt người khác phục vụ chính mình.

Đây không phải là một quan điểm lý tưởng không thể thực hiện, nhưng là một quan điểm hết sức phù hợp. Những nhân vật thực sự vĩ đại, những con người luôn luôn được người ta nhớ ơn vì đã thực sự đóng góp cho đời, không phải là những người vẫn tự nhủ thầm “Ta có thể lợi dụng đất nước này, xã hội này để gây thêm uy tín cho riêng ta, thực hiện những tham vọng của riêng ta như thế nào đây?”. Nhưng tự hỏi “ta phải dùng tài năng mình để phục vụ quốc gia dân tộc như nào?”. Sự vĩ đại của một người không phải là việc người ấy leo được đến tột đỉnh các nấc thang của quốc gia, xã hội nhưng ở trong sự kiện người ấy sẵn sàng phục vụ quốc gia, đồng bào mình bất cứ lúc nào, ở đâu.

Người thật sự không vị kỷ rất ít, nên có người như thế được mọi người ghi nhớ mãi. Người Hy Lạp có một câu chuyện về một người ở Sparta tên gọi Paedaretos. Người ta chọn và bầu ra 300 người để cai trị xứ Sparta. Paedaretos là một ứng cử viên. Khi danh sách những người trúng cử được công bố, không có tên ông. Một bạn thân của ông ta nói: “Tiếc thật, người ta đã không bầu cho anh, thiên hạ không biết nếu bầu cho anh, anh sẽ là một chính khách lỗi lạc đến thế nào”. Nhưng Paedaretos thản nhiên đáp “Trái lại, tôi rất vui vì trong xứ Sparta này còn có 300 người có tài, có đức hơn tôi”. Đây là một người đã đi vào truyền thuyết vì sẵn sàng nhường cho kẻ khác ngôi vị hàng đầu mà không hề tỏ ra cay đắng.

Một vấn đề kinh tế có thể giải quyết nếu mọi người đều sống vì những gì mình có thể làm cho tha nhân, chứ không phải vì những gì họ có thể thâu góp, vơ vét cho chính mình. Và mọi vấn đề về chính trị có thể được giải quyết nếu mọi người luôn luôn có cao vọng chỉ muốn phục vụ quốc gia chứ không phải chỉ lăm le gây uy tín cho riêng mình. Những chia rẽ, tranh giành xâu xé trong Hội Thánh từ bên trong, phần lớn sẽ chẳng bao giờ xảy ra nếu ước vọng duy nhất của Hội Thánh và của các cấp lãnh đạo Hội Thánh là phục vụ Hội Thánh chứ không phải lo củng cố địa vị của mình. Khi Chúa Giêsu đề cập đến tính cách vĩ đại và giá trị tối cao của một người có cao vọng làm tôi tớ kẻ khác là Ngài thiết lập một trong những chân lý thực tiễn quan trọng nhất về cách sống ở đời.

GIÚP ĐỠ NGƯỜI VÔ VỌNG (9,36-37)

Nên nhớ là ở đây, Chúa Giêsu vẫn còn đề cập đến vấn đề cao vọng xứng đáng và tham vọng bất chính. Ngài đem một đứa trẻ đặt ở giữa họ. Một đứa bé thì chẳng có ảnh hưởng gì, không thể giúp được ai thăng tiến trong sự nghiệp hoặc tăng thêm uy tín. Một đứa bé chẳng có gì để cho chúng ta cả, trái lại thì đúng hơn. Một đứa bé cần đến cái này, cái kia, người ta phải làm việc này, việc nọ cho nó. Vì thế Chúa Giêsu phán “Nếu ai tiếp rước kẻ nghèo khó, người tầm thường, những người chẳng có danh tiếng, của cải hoặc quyền thế, những kẻ cần được các người giúp cho việc này việc nọ, ấy là các ngươi đã tiếp đãi Ta. Hơn thế nữa, chính các ngươi đã tiếp đãi Chúa vậy”. Đứa trẻ tiêu biểu cho người có nhu cầu, gặp thiếu thốn, và chính cộng đồng của những người có nhu cầu mà chúng ta phải tìm đến.

Ở đây có một lời cảnh cáo. Thật dễ làm bạn với người có thể giúp đỡ chúng ta, những người mà tiếng tăm của họ có lợi cho ta. Cũng rất dễ cho chúng ta tìm cách xa tránh những người đang sa cơ thất thế, cần được chúng ta giúp đờ. Thật dễ cho chúng ta làm ơn, ưu đãi những người có quyền thế, có địa vị, và xao lãng những ai chất phác, khiêm hạ, tầm thường. Thật dễ cho chúng ta tìm để làm quen với những người được mọi người tôn trọng và tránh những người nghèo khổ, chẳng ai thèm lưu ý. Thật ra, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta không nên tìm cách kết thân với những người có thể giúp đỡ chúng ta việc này, việc nọ, những nên kết thân kết thân với những ai cần được chúng ta giúp đỡ, vì làm thế, là chúng ta tìm cách kết thân với chính Ngài. “Ai làm một việc mọn cho một trong những người nhỏ mọn nhất trong anh em Ta, tức là đã làm việc đó cho Ta vậy”.

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

NỀN VĂN MINH MỚI-  ĐTGM. Jos. Ngô Quang Kiệt

Vào năm 2000, hàng tỷ người trên thế giới say mê theo dõi những cuộc tranh tài giữa các vận động viên hàng đầu của hành tinh trong Đại hội Olympic Sydney. Điểm đặc biệt của Olympic cuối cùng của thiên niên kỷ này là có sự tham dự của các vận động viên phụ nữ. Đây là một điểm son không của riêng Olympic mà của cả nhân loại. Điều đó chứng tỏ phụ nữ đang được trân trọng. Càng ngày vị trí của người phụ nữ càng được nâng cao. Nữ giới đang đi vào bình đẳng với nam giới trên hầu hết mọi lãnh vực. Thế giới đang đi vào một nền văn minh mới mà Đức Giêsu tha thiết truyền dạy cho các môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay.

Thời xa xưa, khi còn sống hoang dã, con người ta đối xử với nhau thật tàn nhẫn. Người ta tranh giành thực phẩm. Người ta tranh chấp đất đai. Tất cả đều theo định luật cạnh tranh sinh tồn. Trong cuộc cạnh tranh thì dĩ nhiên mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé.

Khi con người đã biết tổ chức thành xã hội, sự cạnh tranh được định chế hóa trong giai cấp, quyền chức. Người có quyền có chức bao giờ cũng được lợi. Người dân đen thấp cổ bé miệng bao giờ cũng phải chịu thiệt thòi. Người nghèo không được có tiếng nói. Chính vì thế, ai cũng cố gắng vượt lên trên người khác hoặc bằng tiền bạc hoặc bằng chức quyền. Ai cũng muốn làm người đứng đầu. Ai cũng muốn làm lớn. Vì thế luôn luôn có sự cạnh tranh ngôi thứ. Trong cuộc cạnh tranh, người ta nhìn nhau như đối thủ cần phải chà đạp, cần phải loại trừ.

Hôm nay, khi thấy các môn đệ có dấu hiệu ham hố chức quyền, cạnh tranh ngôi thứ, Đức Giêsu đã nhân cơ hội dạy cho các ông biết tinh thần mới mà người môn đệ trong Nước Thiên Chúa phải có. Đó là: “Ai muốn làm đầu, thì phải làm người rốt hết và làm tôi tớ mọi người”.

Đây thật là một cuộc cách mạng. Vị trí trong xã hội bị đảo lộn. Người đứng đầu không còn phải để ra lệnh, nhưng để phục vụ. Người làm lớn không còn ăn trên ngồi trốc, nhưng chọn chỗ hèn mọn nhất. Người bé nhỏ nhất trở nên người lớn nhất. Người yếu đuối nhất trở nên người được trọng vọng nhất.

Đây là một cuộc cách mạng không đổ máu. Vì người đứng đầu trở thành người phục vụ không phải vì ép buộc nhưng do tự nguyện. Vì người làm lớn xuống chỗ hèn mọn nhất không buồn sầu nhưng trong niềm vui. Thế giới biến đổi không do những đấu tranh giành quyền lợi, nhưng do người có quyền tự nguyện từ bỏ đặc quyền đặc lợi.

Với lời dạy dỗ ấy, Đức Giêsu đã mở ra một nền văn minh mới. Trong nền văn minh mới này, người ta không còn nhìn nhau như những đối thủ phải loại trừ trong cuộc cạnh tranh. Người ta nhìn nhau như những người anh em phải yêu thương nâng đỡ. Sẽ không còn tranh giành. Sẽ không còn xâu xé, chà đạp nhau. Sẽ chỉ có yêu thương. Sẽ chỉ có quan tâm nâng đỡ. Người mạnh sẽ quan tâm dắt dìu người yếu. Người lớn sẽ cúi xuống bồng bế người bé. Chức quyền là để phục vụ lợi ích của mọi người. Địa vị chỉ là sự phân công hợp lý. Mỗi người một việc vì lợi ích của tập thể.

Để làm gương cho ta, chính Đức Giêsu đã tự hạ mình trước. Là Thiên Chúa, nhưng Người đã tự nguyện trở nên người phàm. Là Đấng cầm quyền, nhưng Người đã tự nguyện vâng lời. Là thầy nhưng Người đã tự nguyện phục vụ môn đệ. Là người lãnh đạo, nhưng Đức Giêsu không đòi hỏi đặc quyền đặc lợi, trái lại Người sẵn sàng hiến mạng sống để cứu chuộc nhân loại.

Người đã hóa thân làm một con người bé nhỏ, nghèo túng, hèn yếu nhất. Để từ nay, ai đón tiếp một người bé nhỏ nhất là đón tiếp chính Người. Ai giúp đỡ một người yếu hèn nhất là giúp đỡ chính Người. Ai yêu mến một người nghèo túng nhất là yêu mến chính Người.

Với sự hạ mình của Người, số phận con người từ nay thay đổi tận gốc rễ. Người bé nhỏ trở thành đối tượng được quan tâm phục vụ. Người yếu đuối được nâng niu chăm sóc. Người nghèo hèn được kính trọng yêu thương. Vì họ đã trở thành hình ảnh của chính Thiên Chúa.

Từ nay, nhân loại đi vào một nền văn minh mới, nền văn minh của tình thương. Nhân loại không còn tranh chấp nhau, nhưng trở nên anh em đoàn kết thương yêu nhau. Sức khỏe, của cải, chức quyền không phải là những phương tiện để chà đạp, nhưng là những phương tiện phục vụ. Lãnh đạo không còn là một quyền lợi, nhưng trở thành một nhiệm vụ nặng nề vì phải quan tâm phục vụ mọi người.

Suy gẫm Lời Chúa dạy hôm nay hẳn phải khiến ta giật mình lo lắng. Không những ta không đi vào con đường Chúa đã vạch ra, mà rất nhiều khi còn chống lại Lời Chúa dạy bảo. Ta vẫn nuôi những tham vọng thống trị người khác. Ta vẫn muốn chiếm giữ những địa vị quan trọng. Ta vẫn coi thường những người bé nhỏ, hèn yếu. Ta đang đi ngược trở lại thời tiền sử. Ta đang đi ngược lại con đường Chúa đã đi.

Hôm nay Chúa mời gọi ta hãy trở lại con đường của Chúa. Hãy tự nguyện trở thành người bé nhỏ khiêm nhường. Hãy biết nâng dậy những số phận hẩm hiu. Hãy biết kính trọng những mảnh đời nghiệt ngã. Hãy góp phần xây dựng nền văn minh mới, trong đó những người yếu đuối như phụ nữ và trẻ em được quan tâm và được kính trọng.

Lạy Trái Tim Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) Ngày nay, trẻ em phụ nữ, những người bệnh tật được quan tâm hơn ngày xưa. Bạn có thấy đó là dấu hiệu Lời Chúa dạy đang được thực hiện không?

2) Tại sao Chúa Giêsu sinh làm một người bé nhỏ, nghèo hèn?

3) Tại sao con người không nên tranh chấp nhau nhưng phải yêu thương phục vụ nhau?

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

LÃNH ĐẠO LÀ NGƯỜI PHỤC VỤ – Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Trang Tin mừng Chúa nhật hôm nay đánh dấu một giai đoạn quan trọng. Chúa Giêsu rời vùng đất phía Bắc tiến về Giêrusalem, nơi đó thập giá đang đợi chờ Người.

Trên hành trình đó đã ba lần Chúa mạc khải cho các môn đệ biết: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người và Người bị giết chết, rồi sau ba ngày Người sẽ sống lại” (x.Mc 8,31-10,34). “Các môn đệ không hiểu và cũng không dám hỏi lại” (Mc 9, 32). Họ đang sôi nổi tranh luận về vương quốc mà Thầy sẽ thiết lập. Ai là thượng thư, ai là bộ trưởng trong vương quốc ấy! Thầy đang hướng về thập giá, khổ nạn. Các môn đệ lại tranh cải xem ai được quyền cao chức trọng hơn cả (x.Lc 22, 24-27; Mc 10,35-40). Chúa đã phải đau lòng biết bao!

Vì thế, để sửa dạy uốn nắn lối suy nghĩ các môn đệ, Chúa hỏi: “Dọc đường anh em bàn tán điều gì vậy?”. Chúa hỏi là ‘bàn tán’ cho nó nhẹ nhàng thôi, chứ thực ra Chúa biết các môn đệ vừa cãi nhau nảy lửa. Các ông im lặng vì xấu hổ về những gì đang tranh luận. Rồi Chúa dạy cho các môn đệ bài học, người lớn nhất là người khiêm tốn phục vụ anh em.

Nền văn minh mới

Chúa Giêsu “ngồi xuống và gọi các môn đệ tới”. Một Rabbi dạy bảo học trò, hay tuyên bố một điều gì quan trọng thì luôn luôn ở tư thế ngồi để giảng dạy. Chúa ngồi xuống thư thái và dạy rằng: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người”. Bằng hình ảnh cụ thể, Chúa đem một em bé đặt giữa các học trò, ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”. Lời dạy của Chúa Giêsu thật dễ hiểu mà thật khó thực hành. “Yêu thương phục vụ” là môn học khó nhất nhưng lại là môn học phổ thông nhất. Môn học này người môn đệ phải học cả đời mà không có ngày ra trường, học tới chết mà vẫn chưa xong.

Người lớn nhất, người đứng đầu là người phục vụ hết mình. Chức tước, chức vụ, chức vị, chức quyền chỉ là phương tiện để phục vụ. Ai sống tinh thần phục vụ đó là người lớn nhất. Ai không biết phục vụ thì là người nhỏ nhất. Giá trị của một con người không do địa vị chức tước mà tuỳ vào khả năng phục vụ và mức độ hữu ích của người đó. Chúa Giêsu mở ra một nền văn minh mới. Người lớn nhất không dùng quyền để lãnh đạo, nhưng dùng khả năng để phục vụ. Người lớn nhất không dùng sức mạnh để chỉ huy, nhưng dùng trái tim để yêu thương.

Lãnh đạo là người có uy tín

Người lãnh đạo phải là người có uy. Đó là uy tín và uy quyền. Thông thường, người lãnh đạo tự khẳng định được uy tín thì tự nhiên có uy quyền một cách thực thụ nhờ niềm tin của lòng dân. Khi lãnh đạo phải dùng uy quyền thay cho uy tín thì họ tự tạo ra nguyên cớ của sự xung đột.

Dân chúng nể trọng uy tín của người lãnh đạo nhưng họ lại sợ uy quyền. Uy quyền, cường quyền càng dấn lên tới mức cao thì sinh ra thói độc đoán chuyên quyền dẫn đến độc tài. Khi người lãnh đạo đã mất hết uy tín, lẽ ra nên tự biết mà từ chức thì còn vớt vát được chút danh dự. Nhưng khi đã không còn uy tín mà lại gia tăng uy quyền thì chỉ có hại cho xã hội, căng thẳng cho cộng đồng, họ trở thành lố bịch và làm trò cười cho thiên hạ.

  Không ai có thể tự vỗ ngực là “ta uy tín nhất”, bởi vì uy tín của cá nhân nằm trong lòng người khác, tùy thuộc sự ghi nhận và đánh giá của cộng đồng xã hội một cách khách quan. Uy tín phải được minh chứng qua quan điểm, tư tưởng, động cơ làm việc, đạo đức, lối sống và chất lượng thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Có những người có chức cao quyền trọng nhưng khi làm việc cụ thể và trong cuộc sống chẳng có uy tín gì, chỉ để lại sự trách cứ, chê cười, đàm tiếu. Có uy tín, tự khắc có uy quyền, một uy quyền tự thân, không phải thứ uy quyền lên gân. Không có uy tín, nhưng vì muốn thể hiện uy quyền nên thường gây hậu họa, làm hỏng cho công việc chung và tác hại khôn lường đối với xã hội và đất nước khi người này thuộc tầng lớp lãnh đạo ở tầm vĩ mô. Trên thực tế không ít người, khi có quyền thì đụng chút việc là dùng quyền uy, hống hách, quan liêu, mệnh lệnh.

Người thích uy quyền thường dùng quyền hành và quyền lực, kể cả quyền lực của đồng tiền. Họ sẽ đưa ra những khả năng đe dọa, mua chuộc như thăng giáng chức tước, lên lương, bố trí, sắp xếp chỗ này, vị trí kia, vừa câu móc, vừa hăm dọa hay cô lập đối tượng khi không “tranh thủ” được. Nếu ai đó làm phật lòng trái ý, hoặc có nguy cơ làm ảnh hưởng uy quyền thì sẽ bị trù úm, bày kế, lập mưu kỷ luật hay ép đương sự xin chuyển đổi công tác hay về “hưu non”.

Người dùng uy lực đồng tiền thường đi kèm lòng tham, tính toán cá nhân vị kỷ, vơ vét và thu vén. Cho nên, những kẻ bất tài, vô dụng, thất đức có đủ thứ thủ đoạn, mánh khóe để khi đã nắm được quyền thì dùng uy quyền trấn áp thiên hạ, “cả vú lấp miệng em”, kéo bè, kết vây cánh…hình thành nhóm lợi ích. Từ tuyển dụng, bổ nhiệm, giao chức cũng chọn trong những người thân trong gia đình, dòng tộc, huyết thống, cùng mục đích, cùng động cơ, cùng mặt bằng “quan trí”, cốt sao thế lực của mình ngày càng được cũng cố và khuynh loát. Sự cố tình tâng bốc nhau, bao che, tung hứng cho nhau, hùa nhau lập mưu kế phạm pháp, tìm mọi mánh khóe, thủ đoạn đục khoét của công, thu lợi bất chính cũng từ đó mà ra.

Khi đã không đủ uy tín mà phải dùng uy quyền đến mức độc đoán, chuyên quyền, người ta sẵn sàng trừ khử, sát phạt, làm hại người khác có đối trọng (kể cả đồng chí, bạn hữu, người thân), mua bán chức quyền, dùng đủ mánh lới tinh vi để giữ ghế, tiến thân,che lấp khuyết điểm, tích lũy của cải bất minh, vùi dập chân lý, phủ nhận lẽ phải một cách khôn lanh và rất ma mãnh !

Thế nhưng, như người đời đã đúc kết: “Uy tín trường tồn, uy quyền đoản vị” – người có uy tín sẽ để lại tiếng thơm lâu dài, người không uy tín mà thích dùng uy quyền thay cho uy tín chỉ được nhất thời, gây thù chuốc oán, tự làm mất hậu phúc, có chăng chỉ được một vài việc trước mắt, không thể có sức bền. Cho nên, làm lãnh đạo cần nâng cao uy tín, phải thu phục được nhân tâm, không nên lộng hành, lạm dụng uy quyền để tự đề cao cá nhân, quên cả lợi ích quốc gia, dân tộc, quên nhân dân, chỉ biết vun xén cho cá nhân, gia đình và nhóm lợi ích gây hậu quả khôn lường cho đất nước và nhân dân.(x. buivanbong.blogspot.com). Đối với các vị lãnh đạo tại Việt Nam, Ông Vũ Ngọc Hoàng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương nhận định ‘Câu nói cửa miệng của dân là liệu có bao nhiêu quan chức “không chạy”? Cách sử dụng cán bộ “cậu này ngoan, cô kia biết điều” của văn hoá tiểu nông làm sao sử dụng được người tài?  Trên thực tế, kiểu hình thành đội ngũ cán bộ theo cách thức: “Có tiền chuyển hóa thành có quyền lực. Có quyền lực chuyển hóa thành có tiền. Người có tiền sẽ có quyền lực và người có quyền lực sẽ có tiền. Họ cùng nhau hành động để có quyền lực và có tiền ngày càng nhiều hơn. Đồng tiền cộng với quyền lực tạo thành sức mạnh khống chế, lũng đoạn tổ chức và xã hội…”.

Lãnh đạo là người phục vụ

Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ con đường trở nên lớn lao thật sự. Đó là con đường phục vụ. Con đường phục vụ thay thế cho tham vọng thống trị. Giúp đỡ tha nhân thay cho tham vọng bắt người khác phục vụ chính mình. Chức quyền là để phục vụ lợi ích của mọi người. Địa vị chỉ là sự phân công hợp lý. Mỗi người một việc vì lợi ích của tập thể.

Để làm gương cho các môn đệ, Chúa Giêsu đã tự hạ mình: “không phải để được phục vụ mà đến để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc nhiều người” (Mt 20,25-28). Là Thầy nhưng Người đã tự nguyện phục vụ môn đệ. Là lãnh đạo nhưng Người sẵn sàng hiến mạng sống “để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Tinh thần phục vụ của Chúa Giêsu được thể hiện rõ nét nhất trong cử chỉ rửa chân “Nếu Thầy là Chúa mà còn rửa chân cho anh em thì anh em phải rửa chân cho nhau”. (Ga 13,14-15). “Ta ở giữa các con như một người phục vụ” (Lc 22,27). Phục vụ lên đến tuyệt đỉnh trong hành vi tự hiến “không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình” (Ga 15,13).

Quyền bính và phục vụ gắn liền với nhau làm nên bản chất người môn đệ Chúa Giêsu. Người lãnh đạo theo gương Chúa Giêsu là người có tâm, có tầm, có đức và có tài để phục vụ tha nhân theo tinh thần đức ái mục tử. Mục tử rao giảng chân lý và dám sống chân lý ấy cho dù phải hy sinh tính mạng.

Thánh Phêrô đã thấm nhuần lời dạy của Thầy Chí Thánh nên sau này ngài viết những lời tâm huyết cho các mục tử:“Cùng các bậc kỳ mục trong anh em, tôi xin có mấy lời khuyên nhủ, vì tôi cũng thuộc hàng kỳ mục, lại là chứng nhân những đau khổ của Đức Kitô và được dự phần vinh quang sắp tỏ hiện trong tương lai. Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi ích thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt tình tận tụy. Đừng lấy quyền mà thống trị những người mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên” (1 Pr 5,1-4). Thánh Phêrô cũng khuyên các tín hữu: “Ơn riêng của Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa. Ai có nói, thì nói lời Thiên Chúa; ai phục vụ, thì phục vụ bằng sức mạnh Thiên Chúa ban.” (1Pr 4, 8-11).

Quyền bính đòi chiếm hữu và kiểm soát. Nhưng trong Giáo hội, quyền bính được xây trên nền tảng tình yêu Chúa. Chính vì thế, Chúa Giêsu mới cần Phêrô xác quyết tới ba lần : “Thầy biết con yêu mến Thầy.” (Ga 21,15-17). Quyền bính được xây dựng trên tình yêu nên người mục tử luôn khiêm tốn phục vụ tha nhân.

Lời dạy của Chúa Giêsu đưa nhân loại đi vào nền văn minh của tình thương. Và kể từ đó, hàng triệu vị Thánh được tôn vinh như là những chứng từ sống động cho hình ảnh “Người lớn nhất” trong nền văn minh mới của Tin Mừng. Mẹ Têrêxa Calcutta trở thành vĩ nhân của thời đại bằng con đường yêu thương và phục vụ người nghèo. Phục vụ luôn gắn liền với yêu thương.Thánh Augustinô nhận định: Trong đời sống người kitô hữu, có một cuộc chiến đấu giữa hai thứ tình yêu: yêu Thiên Chúa cho đến từ bỏ bản thân mình và yêu bản thân cho đến nỗi chối bỏ Thiên Chúa.

Người thành công nhất là người phục vụ cho đồng loại nhiều nhất. Một vĩ nhân không hệ tại ở địa vị xã hội của người ấy mà là sự cống hiến cuộc đời cho sự phát triển của nhân loại. Giáo hội tuyên phong một người lên bậc hiển thánh chung quy cũng là tuyên dương tinh thần phục vụ của người ấy vì Nước Chúa. Phục vụ để trở nên phong phú, có giá trị, nên hoàn thiện và trở nên gần Chúa Giêsu hơn.

“Nghệ thuật làm lớn” của Chúa Giêsu chính là khiêm tốn phục vụ. Người thật sự cao cả là người dâng đời mình cho lợi ích của cộng đoàn. Thiên Chúa đã tự liên đới với người nhỏ bé, nghèo hèn, không đáng kể nhất. Phục vụ một người không đáng kể nhất cũng là phục vụ chính Thiên Chúa. Con đường tự hạ, làm người bé nhỏ và phục vụ anh em là con đường để trở nên vĩ đại, trở nên người lớn nhất trước mặt Chúa.

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

LÀM TÔI TỚ– Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm

Trong phim truyện Tây Du Ký, vai trò nổi bật nhất là Ngộ Không. Ngộ Không bá chủ loài khỉ, chưa đủ, anh học 78 phép biến hóa, rồi đi thống trị các lân bang. Vẫn chưa hài lòng, Ngộ còn đòi lên trời làm Tề Thiên Đại Thánh: Tề Thiên là bằng Trời, Đại Thánh là cao sang vĩ đại nhất. Ngọc Hoàng Thượng Đế biết Ngộ ngạo mạn quá trớn phong cho Ngộ làm mã quan, Ngộ hý hửng tưởng bở, nhưng khi bị sai đi chăn ngựa, Ngộ mới hiểu mã quan là quan coi ngựa, Ngộ bực tức vì ngu mà mắc bẫy. Ngộ giận dữ phá phách, bị đại tướng nhà trời đánh đuổi rơi xuống đất bị đè bẹp dưới tảng đá lớn suốt 500 năm để thấy mình bất lực mà ăn năn cải thiện. Khi đã cải thiện, Ngộ được cứu thoát và gia nhập phục vụ đoàn đi tìm chân lý. Khi Ngộ bất mãn, bất phục lệnh, Ngộ lại bị cái vòng kim cô xiết vào đầu làm Ngộ Không nhức óc kêu la thảm thiết. Khi biết tuân lệnh quay về đường phục vụ, thì Ngộ được lành mạnh, tài giỏi.

Nhờ biết đi vào con đường phục vụ như tôi tớ, Ngộ Không đã tìm được chân lý và hạnh phúc, và giúp cho cả đoàn tới được chân lý. Phim truyện có hai màn đối nghịch nhau:

Màn đầu: diễn tả cảnh tranh bá đồ vương khủng khiếp của Ngộ Không.

Màn sau: diễn tả những việc phục vụ rất đắc lực của Ngộ Không.

Lời Chúa hôm nay cũng diễn tả một vở kịch có hai cảnh mâu thuẫn nhau: một cảnh phục vụ, một cảnh tranh chấp.

Sau lời tuyên bố khai mạc của Đức Giêsu: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người và ba ngày sau Người sẽ sống lại”. Các môn đệ không hiểu lời tuyên bố đó, cũng chẳng hỏi xem Thầy muốn nói gì. Các ông cứ diễn đại cái màn kịch theo sở thích của mình. Ông nào cũng say sưa nhiệt liệt tranh giành cho mình được địa vị cao, lớn nhất, danh vọng nhất, vĩ đại nhất. Có lúc các ông cãi nhau to tiếng đến độ gây cấn mà cứ tưởng Thầy lủi thủi đi ở xa không biết. Khi vào tới nhà, ngồi bình tĩnh đàng hoàng, Thầy mới gọi các ông lại hỏi: Dọc đường các con tranh luận gì thế. Các ông cúi đầu làm thinh không dám trả lời, vì các ông đã tranh nhau quá lố về địa vị cá nhân, mong được chức quyền danh vọng vinh hoa, phú quý trong nước Thầy sắp thành lập.

Các màn kịch tranh giành quyền bính này đã diễn ra xưa hơn trái đất. Lúc mới dựng nên loài thiên thần, Luxiphe đã tranh ngôi bá chủ với Thiên Chúa. Thiên Chúa buộc lòng tống Luxiphe xuống làm bá chủ hỏa ngục. Ađam Evà cũng đòi đồng hàng với Thiên Chúa và cũng bị tống cổ khỏi vườn địa đàng, đến làm vua trái đất khô cằn cực khổ và chết chóc.

Đến đời con cháu vẫn ngoan cố diễn lại màn kịch bi thảm, chém giết lẫn nhau để tranh bá đồ vương. Cả đến anh đánh dậm kéo tép như Mặc đăng Dung, khi có cơ hội, cũng dám giết vua Chiêu Tôn để chiếm ngôi vua, đến khi quân Minh bên Tầu kéo sang đánh, Đăng Dung khiếp sợ, tự trói mình ra hàng nhục nhã (năm 1537).

Chúa Giêsu phải chạy trốn cái cảnh làm vua tranh giành danh lợi nhơ bẩn của loài người, nhưng Người không chạy trốn sự hy sinh phục vụ con người như một tôi tớ đắc lực.

Người là Thiên Chúa cao cả, nhưng lại trở nên tôi tớ mọi người. Người đã từ bỏ địa vị Thiên Chúa, nhận lấy thân phận tôi đòi (Phil. 2, 1). Làm tôi đòi với người thợ mộc làm thuê làm mướn. Khi rao giảng Tin mừng, Người hầu hạ chữa lành các bệnh nhân què, câm, điếc, mù, hủi, liệt, chết, Người không tự cao tự đại như một thầy dạy, hay một bác sĩ, mà chỉ khiêm tốn, hiền lành, âm thầm phục vụ như một tôi tớ bưng nước rửa chân cho môn đệ và mọi người. Chẳng những như tôi tớ mà còn như một nô lệ giơ mặt cho kẻ khạc nhổ, vả mắng, giật râu, phơi lưng cho kẻ đánh đòn, cúi mình xuống, vác thập giá, giang tay chân cho kẻ đóng đinh. Không một tôi tớ, không một nô lệ nào chịu cực khổ, cực hình như vậy, chỉ có Đức Giêsu, làm lớn nhất, đã trở nên bét nhất, như Người đã nói: “Ai muốn làm đầu thì phải làm người rốt hết, và làm tôi tớ mọi người”. Kế đó, Người dắt một em nhỏ đặt giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: Ai tiếp đón một em nhỏ như em này, vì danh Thầy, là tiếp đón Thầy … Tiếp đón một em nhỏ là tiếp đón kẻ hèn mọn, yếu đuối, vô danh, không có một chút quyền lực, không có một tấc đất nào. Mà ta lại làm tôi tớ phục vụ kẻ bé nhỏ đó, thì mới thật là môn đệ, là người tin theo Chúa, mới thực là người tôi tớ trung tín và khôn ngoan của Thầy và của Cha Thầy. Tôi tớ trung tín và khôn ngoan cần có tinh thần sau đây:

Một là không tranh giành địa vị, lợi lộc: Đức Giêsu đã đuổi satan đem bả vinh hoa của cải, địa vị cả thiên hạ đến cám dỗ Người. Người còn dạy: được lời lãi cả thế gian, mà mất mạng sống mình thì có ích gì? Người đã ngăn chận tức khắc thói ham danh lợi của môn đệ. Người đã dạy phải rửa chân cho nhau. Giuđa vì ham lợi mà mất mạng sống. Vì thế, tuy Phêrô đứng đầu Hội thánh, ông đã xin mọi người cầu nguyện để bầu một tông đồ thế cho Giuđa, các ông bầu chứ không tranh cử, cũng không dám tự ý đề cử hay ứng cử. Truyền thống này đã là kiểu mẫu bầu Giáo Hoàng, Giám mục cũng như Linh mục và giáo dân, loại bỏ mọi thói tranh giành địa vị lợi lộc.

Hai là hoàn toàn vâng lời: Không được tranh giành nhưng cũng không được từ chối, đó là tư cách của đầy tớ, khác với thế gian: có lợi thì tranh đấu cho được, có hại thì bỏ không dám hy sinh.

Đức Cha Lê hữu Từ đã kể lại trong Tuần giảng Tĩnh tâm cho Tiểu chủng viện Trung Linh, Bùi Chu năm 1952. Khi được sắc phong Giám mục, ngài run sợ, từ dòng Châu Sơn Thanh Hóa, đạp xe đạp cũ kỹ xuyên qua rừng núi hơn 400 km vào Huế, xin Đức Khâm sứ Tòa thánh ban cho được từ chức. Hầu hết các Đức Giáo hoàng và Giám mục đều muốn xin từ chức như vậy. Nhưng vẫn phải vâng theo ý Chúa như Đức Giêsu đã cầu nguyện trong giờ hấp hối: “Lạy Cha, xin cất chén đắng này đi, nhưng đừng theo ý Con, một theo ý Cha”.

Ba là hoàn toàn trung tín với nhiệm vụ được trao phó. Từ Giáo hoàng, Giám mục, Linh mục cũng như giáo dân đều phải lo chu toàn trách nhiệm: có trách nhiệm chung với mọi người, như phải sống công bình bác ái, tuân giữ giới răn Chúa, truyền giáo, rao giảng Tin mừng. Có trách nhiệm riêng theo chức phận mình, như nhiệm vụ Giáo hoàng, Giám mục, Linh mục, tu sĩ, quý Chức, cha mẹ, con cái, thầy dạy, học trò, công dân, tín hữu, làm vợ, làm chồng.

Lạy Chúa, Chúa đã thiết lập Giáo hội để tiếp tục công cuộc của Chúa phục vụ cứu độ con người, xin cho chúng con, dù ở địa vị nào, đều nhiệt tâm theo gương Chúa, trở thành những đầy tớ trung tín và khôn ngoan phục vụ mọi người.

Xin Chúa cải thiện các nhà cầm quyền trở nên chính quyền, biết chăm lo xây dựng xã hội tốt đẹp chứ không phải hạng tà quyền xảo quyệt, giành giựt danh lợi, vinh thân phì gia để khi chết, cho dòi bọ rúc rỉa thây ma.

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

MIẾNG TIẾNG-  Lm. Vũ Đình Tường

Miếng và tiếng không mấy khi sống đời độc thân. Người ta luôn tìm cách cho chúng kết hôn. Đủ miếng ăn rồi, cần phải có chút danh phận với đời. Miếng và danh thứ nào đến trước cũng được miễn là chúng chung đôi. Có miếng mà thiếu tiếng không mấy ai hài lòng. Chính vì thế khi ăn uống không còn là mối lo, người ta kiếm danh. Có kẻ hám danh, thèm tiếng đến độ nhịn ăn, dành tiền, mua sắm, chưng diện, mong có tiếng.

Hám danh là nguyên nhân của nhiều sự tội, đầu mối của tranh chấp, bất hoà. Mọi tai tiếng đều bởi đó sinh ra. Có danh phận vẫn chưa xong, còn phải học cách ăn uống, sinh hoạt xã hội hợp với danh phận. Mấy ai vào đường ăn chơi tránh khỏi truỵ lạc.

Kẻ thực tài, sống chân thành phát triển tài năng Chúa ban. Không mong danh, danh vẫn đến và danh tồn tại lâu dài. Kẻ hám danh, nếu có cũng chỉ vang bóng một thời. Thời vang bóng nhập nhóm có danh phận. Đổi đời. Không bao lâu sau, tiếng vang chìm vào dĩ vãng. Bóng lập loè qua đi. Đời đã lỡ hoá thân, đổi kiếp, giờ mất hết phẩm chất, cả tiếng lẫn miếng. Danh mất, phận không còn. Trở về tình trạng khố rách, áo ôm, tệ hơn thời chưa nổi tiếng. Nhận ra chân lí, khi đời đã tàn, sức đã kiệt.

Tai tiếng

Tư tưởng muốn được lừng danh, muốn được mọi người biết đến nảy sinh khi có của ăn, của để. Đã không tạ ơn Chúa, thương người nghèo. Trái lại mong lột xác, chào tạm biệt giai cấp trước. Học làm trưởng giả, tập làm sang bằng cách dán vào mình nhiều nhãn hiệu mới. Thay đổi nhãn hiệu bên ngoài thì dễ; xoá nhoà thực chất bên trong mới khó. Xưa có tình trạng mua quan, bán tước. Nay, mấy ai bán danh tiếng. Giả như có cũng chỉ mua được ‘tiếng hám danh’, không mua được tiếng tốt.

Để có tiếng, phải đeo sắt đá. Làm đẹp cho xã hội hay tự nhận sống đời lệ thuộc. Hám danh lệ thuộc miệng lưỡi thiên hạ. Vui khi được khen. Buồn bực khi bị bình phẩm. Cũng từ miệng đến tai, nhưng là miệng thiên hạ, tai mình. Rõ khổ. Đã mất của lại thiếu tự do. Không sống cho mình, vì mình. Sống vui nhờ lời khen.

Vòng danh lợi

Xã hội hưởng thụ ca tụng kẻ biết cách phơi bày sắc đẹp. Lanh lẹ, lợi khẩu để nổi danh, bất kể, lành mạnh hay sa đoạ. Thành công trên thương trường, sáng tác nghệ thuật, nổi tiếng nhờ khám phá khoa học, kĩ thuật vẫn đi sau làn son, lớp phấn. Thời buổi nhung lụa, son phấn dẫn đầu. Thành tài nhờ lươn lẹo cũng là một cách, miễn sao qua mặt được luật pháp. Có trường sở dậy cách mau thành công, chóng nổi tiếng. Đời sống đạo, đức hạnh, việc lành, bác ái bị coi là thứ yếu. Các tông đồ của Chúa cũng không bị gạt khỏi cái vòng danh lợi. Đi theo Thầy các ông không sợ đói khát. Không phải lo miếng ăn, các ông manh nha tìm chút tiếng tăm.

Đường lối Chúa

Dọc dường các ông tranh biện với nhau ai sẽ là người nổi tiếng hơn ai.

Về đến nơi Đức Kitô hỏi dọc đường các ông tranh luận gì sôi nổi thế?

Các ông nhìn nhau, mắc cở, thẹn thùng không dám nói.

Hám danh còn biết mắc cở vẫn còn thuốc chữa. Đức Kitô dậy. Đường lối Chúa là chọn sống khiêm nhường. Hạ mình xuống phục vụ. Muốn làm đầu hãy học làm bề tôi trước. Muốn được phục vụ thì hãy đi phục vụ. Hãy trở nên giống như Ngài trong lời nói, hành động. Ngài mong các môn đệ bắt chước, thực hành, sống khiêm nhường, không phải một ngày mà mọi ngày trong đời.

Nguyên nhân

Hám danh, ham của vì nội tâm trống rỗng. Một tâm hồn trống rỗng, nghèo đói giá trị tinh thần. Không sai lầm nào nguy hại hơn là chọn lối sống ảo vọng, theo hình, bắt bóng. Danh lợi, vật chất không thoả mãn cơn đói tâm linh. Đời trống vắng vì giá trị đời người nương nhờ vào vật chất. Vật đổi, sao dời đời hụt hẫng. Dùng Lời Chúa nuôi dưỡng tâm linh. Dựa vào Bí Tích, các nhân đức là sống khôn ngoan trong Chúa.

Chúa ban cho mỗi người, từ lúc tạo dựng, một giá trị cao quí, độc nhất vô nhị. Kẻ danh chính ngôn thuận đâu cần đeo vào mình đá quí, kim cương, cẩm thạch mà vẫn nổi danh. Vấn đề là biết phát triển tài năng Chúa ban, bắt chúng sinh hoa, kết trái. Làm giầu đời sống thiêng liêng bằng thực hành bác ái, yêu thương. Chính những giá trị chân truyền này mang lại niềm vui thật, niềm vui nội tâm, lâu bền; cần chi đến niềm vui giả tạo tiếng đời ban cho.

Gặp gỡ Đức Kitô

Bình an thật, niềm hoan lạc vững bền phát xuất từ tâm tình phục vụ với lòng yêu mến. Kẻ sống khiêm nhường an thân vì không ai tranh sống khiêm nhường. Trái lại tiếng và miếng có lắm kẻ giành, nhiều người giật. Ngày đêm sống bất an. Lúc nào cũng sợ mất tiếng và miếng.

Nghèo tinh thần nên nương nhờ vật chất. Dùng tiền của che đậy cái nghèo nội tâm. Dùng quyền lực che đậy thế đứng bấp bênh. Nhờ nịnh nọt, tâng bốc mong khoả lấp khát khao tình yêu thật. Đeo đuổi lợi danh là chọn sống đời lục bình. Sống nhờ biết nương sóng, đón gió.

Gặp gỡ Đức Kitô để được biến đổi, được thánh hoá, được trở nên tốt lành. Muốn được em nhỏ đón nhận hãy trở nên giống, đơn sơ như em. Hiểu em, cảm thông với em sẽ được em cảm thông, đón nhận.

Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là đón tiếp Thầy; và ai đón tiếp Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy. (Mc 9,37)

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

HÃY CÙNG DÌU NHAU TIẾN BƯỚC- Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Tại thế vận hội đặc biệt Seattle (dành cho những người tàn tật) có chín vận động viên đều bị tổn thương về thể chất và tinh thần, cùng tập trung trước vạch xuất phát để tham dự cuộc đua 100m.

Khi súng hiệu nổ, tất cả đều lao đi với quyết tâm chiến thắng. Trừ một cậu bé. Cậu cứ bị vấp té liên tục trên đường đua. Và cậu bật khóc. Tám người kia nghe tiếng khóc, giảm tốc độ và quay lại nhìn. Rồi họ quay trở lại. Tất cả không trừ một ai! Một cô bé bị hội chứng Down dịu dàng cúi xuống hôn cậu bé:

– Như thế này em sẽ thấy tốt hơn.

Cô nói xong, cả chín người cùng khoác tay nhau sánh bước về vạch đích.

Khán giả trong sân vận động đồng loạt đứng dậy, những người chứng kiến vẫn còn truyền tai nhau câu chuyện cảm động này.

Cuộc đua nào cũng cần chiến thắng. Nhưng chiến thắng không phải là tất cả, mà ý nghĩa thật sự của cuộc sống là ở chỗ ta giúp đỡ người khác cùng vươn lên, dù ta phải chậm một bước. Bởi lẽ đó, nền văn minh thực sự chỉ có khi con người cùng dìu nhau tiến bước. Không để ai ở lại phía sau. Không đạp đổ ai ngã quỵ. Nhưng cùng nhau vun trồng cây tình thương giữa nền văn minh hôm nay. Cuộc đời sẽ không còn khoảng cách quá xa giữa người giầu và người nghèo, và phẩm giá con người được tôn trọng khi nhân loại biết xiết chặt vòng tay và dìu nhau tiến bước.

Nhưng đáng tiếc cho nhân loại chúng ta, có quá nhiều người tham quyền cố vị. Họ cần địa vị, cần có chức, có quyền để “ăn trên ngồi trốc” thiên hạ. Họ đua nhau leo lên đài cao danh vọng để hưởng những đặc quyền, đặc lợi mà chức tước sẽ mang lai cho họ. Vì quyền, vì lợi mà biết bao người đã chẳng ngại lừa thầy, phản bạn, sống vô ơn, phản phúc. Vì bổng lộc mà biết bao người đã chẳng sợ đánh mất nhân phẩm của mình để chà đạp người dưới và tâng bốc, luồn cúi cấp trên. Có mấy ai sống vị tha, sống quên mình vì lợi ích đồng loại?

Năm xưa, Chúa Giêsu đã rất đau buồn khi nghe các môn đệ thân tín của mình đang kèn cựa nhau địa vị và bổng lộc. Nỗi lòng của Thầy, các môn sinh đâu muốn chia sẻ. Chúa Giêsu thật cô đơn. Cô đơn vì chẳng ai hiểu mình. Cô đơn vì các môn sinh vẫn còn đó bản tính vụ lợi. Chẳng ai nên giống Thầy Chí Thánh. Thầy quên mình vì lợi ích nhân sinh. Trò lại lo vinh thân phì gia. Thầy đang đi dần đến đỉnh cao của hiến tế để cứu độ nhân loại, các môn sinh lại tìm kiếm vinh hoa phú qúy trần gian.

Chúa Giêsu đã không ngần ngại đặt thẳng vấn đề với các môn sinh: “Dọc đường anh em bàn tán điều gì vậy?”. Các ông im lặng làm thinh. Im lặng vì có mấy ai trong lòng không chứa đầy những toan tính vụ lợi. Có mấy ai thanh sạch lòng ngay trước danh vọng mà các ông tưởng chừng như sắp đến tay mình? Im lặng để lắng nghe. Lắng nghe lòng mình để thấy rằng tính tham sân si vẫn còn đó sau bao ngày tháng theo Thầy tầm đạo. Lắng nghe lời Thầy giáo huấn để sửa đổi và bước đi theo gương Thầy chí thánh đã đi.

Chúa buồn nhưng không trách mắng. Chúa kêu gọi các ông thay đổi cách suy nghĩ chứ không ra lệnh. Chúa mời gọi các ông: “ai làm lớn hãy hết mình phục vụ”. Phục vụ với thái độ như một người đầy tớ. Phục vụ không phân biệt sang hèn. Đỉnh cao của phục vụ là không toan tính theo kiểu “hòn đất ném đi, hòn chì ném lại”. Chúa Giêsu dùng hình ảnh trẻ nhỏ để tượng trưng cho những con người tay trắng, yếu đuối và chắc chắn không có gì để đền ơn đáp nghĩa. Họ mới cần chúng ta giúp đỡ. Họ mới thực sự có nhu cầu để van xin lòng tốt của chúng ta. Họ mới thực sự là đối tượng mà Chúa cần chúng ta rộng tay giúp đỡ. Chúa còn đồng hoá họ trở nên chính Chúa. Thế nên, ai tiếp đón họ là tiếp đón chính Chúa. Và ngược lại, ai từ chối họ là từ chối chính Chúa.

Đó chính là sứ điệp mà Chúa Giêsu hằng ao ứơc các môn sinh của mình phải suy đi nghĩ lại trong cuộc đời và đem ra thực hành với trọn lòng mến yêu. Đó chính là nét đẹp của người kytô hữu sống đạo theo gương Thầy chí thánh Giêsu. Chính Chúa đã từ bỏ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa để mặc lấy thân phận con người như chúng ta, và qua đó thánh hoá chúng ta trở thành con cái Thiên Chúa. Chính Chúa đã cúi xuống rửa chân cho các môn sinh để từ nay “kẻ làm lớn phải trở thành kẻ phục vụ như một đầy tớ” theo gương Thầy đã để lại.

Có lẽ cuộc đời sẽ hạnh phúc hơn khi mỗi người biết từ bỏ tham sân si, để sống bác ái vị tha. Cuộc đời sẽ hết khổ đau bởi ganh ghét, tị hiềm và nhân loại sẽ cùng đan tay nhau xây dựng một thế giới đầy yêu thương. Ước gì mỗi người chúng ta hãy biết dùng khả năng, địa vị Chúa ban để phục vụ lẫn nhau trong yêu thương chân thành.

Nguyện xin Chúa là Đường dẫn đến sự thật và sự sống dẫn dắt chúng ta bước đi trên con người mà Chúa đã đi để mỗi ngày chúng ta được trở nên giống Chúa hơn.

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN-  Năm B

HÌNH THÀNH CHÍNH MÌNH QUA CHỌN LỰA- Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ

Kẻ ác người lành, khác nhau một trời một vực, nhưng lành dữ là do quyết định chọn lựa của mỗi người. Chọn Thiên Chúa là chọn tha nhân và chính mình; chỉ chọn mình là hủy hoại tất cả.

Người công chính bị kẻ dữ ám hại

Sách Khôn Ngoan cho biết những người không tôn thờ Thiên Chúa tìm mưu bày kế hãm hại người công chính, vì người công chính chống lại cách sống của họ, khiển trách họ vi phạm lề luật, tố cáo họ gian dối kiếm lời. Cách sống của người không tôn thờ Thiên Chúa, đã không đặt Chân Thiện Mỹ làm tiêu chuẩn sống. Tiêu chuẩn sống của người không tôn thờ Thiên Chúa là lợi ích cho chính họ; họ không tôn trọng người khác và quyền lợi của những người này, thậm chí cả của những người thân. Những người không sống theo Chân Thiện Mỹ là những người ích kỷ: chỉ nghĩ đến họ, đến quyền lợi của họ.

Tiên tri Yêrêmia là người đã bị những người không thật sự tôn thờ Thiên Chúa thời đó hãm hại, vì tiên tri nói những gì Thiên Chúa đã truyền cho ông nói. Và vì nói những gì không hợp với ý muốn của những người lãnh đạo thời đó, nên tiên tri đã bị người ta ghét và muốn loại trừ ngài khỏi đất của kẻ sống. Tiên tri đã run sợ, và đã bỏ cuộc; nhưng Thiên Chúa đã giúp tiên tri trở lại với Ngài, và Thiên Chúa lại dùng tiên tri để nói cho dân ý định của Thiên Chúa.

Trong lịch sử nhân loại, bao nhiêu người lành bị kẻ dữ ghen ghét và hãm hại. Điều này đã xảy ra và sẽ còn xảy ra. Khi người ta sống theo đường ngay nẻo chính, khi người ta tôn trọng sự thật, tôn thờ Chân Thiện Mỹ, thì người ta tôn trọng phẩm giá con người, tôn trọng tha nhân và quyền lợi của họ; lúc đó, con người được bình an sâu thẩm trong tâm hồn, thế giới sống trong hòa bình, người người sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau, tương thân tương trợ; con người sống hạnh phúc. Nhược bằng nếu con người đặt mình và quyền lợi của mình trên tất cả, nếu người ta không sống theo Chân Thiện Mỹ, không tôn trọng người khác và quyền lợi của tha nhân, thì thế giới sẽ sống trong hỗn loạn; chiến tranh sẽ nổ ra để người ta giành giựt quyền lợi; chết chóc sẽ lan tràn; con người không bình an và hạnh phúc.

Đức Giêsu loan báo ba lần Ngài sẽ bị bắt bị hành hạ và bị giết

Đức Giêsu đã dạy con người những điều tốt lành, đã làm nhiều phép lạ để chữa bao người đau ốm. Tuy nhiên, nhiều người vẫn ghét Ngài, đặc biệt là những người có chức có quyền, bởi vì Ngài không đồng ý với suy nghĩ, cách sống, và cách hành xử của họ. Đức Giêsu mới chỉ đi rao giảng được ba năm, nhưng người ta đã ghét Ngài đến độ muốn loại Ngài khỏi đất kẻ sống.

Đức Giêsu báo cho các tông đồ biết Ngài sẽ bị bắt, bị hành hạ và bị giết, nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại.Chính cách sống, cách hành xử, lời nói của Ngài đã làm một số người quyền thế ghét Ngài và muốn giết Ngài. Đức Giêsu biết điều này; Ngài biết Ngài khó có thể tránh cái chết vì những người ghen ghét muốn giết Ngài. Tuy nhiên Ngài tin rằng Thiên Chúa sẽ phục sinh Ngài, vì Thiên Chúa là Đấng Công Bình. Đức Giêsu tin điều đó là sự thật, nên Ngài đã báo cho các tông đồ biết điều này.

Đức Giêsu đã sống thân phận con người cho đến cùng. Ngài phải chết như bao con người. Là người, nghĩa là có thể bị những bất công, những sự dữ mà người khác gây ra cho mình. Đức Giêsu đã chấp nhận tất cả những cách đối xử bất công của con người thời đó đối với Ngài. Những gì con người gặp trong cuộc sống, chính Đức Giêsu cũng đã gặp. Cách hành xử khi gặp sự dữ của Đức Giêsu, trở thành mẫu mực hành xử cho tất cả mọi người.

Sự dữ từ lòng con người

Tại sao người ta muốn tru diệt người khác? Vì người đó làm nguy hại đến họ hay người khác, nhất là vi phạm đến quyền lợi của họ, đến tính “nhất” của họ. Ai cũng muốn mình là nhất, là người trổi trang và có quyền hành; nếu người khác có ảnh hưởng và người ta thấy uy quyền của họ bị đe dọa, thì người ta có khuynh hướng hủy diệt đối thủ cạnh tranh của mình. Đức Giêsu đã giảng dạy như một người có uy quyền; Ngài không phục tùng uy quyền của họ; Ngài phê bình cách sống quá nệ vào hình thức của họ; Ngài muốn dân chúng đến với Thiên Chúa bằng tất cả con người, chứ không chỉ là giữ một vài hình thức. Chính vì vậy những người có quyền đương thời đã quyết định giết Đức Giêsu.

Các tông đồ cũng là những người muốn có địa vị và quyền thống trị trên người khác. Các ngài khi được Thầy báo tin sẽ bị bắt bị giết, thì các ngài đã vội tranh cãi xem ai sẽ là người lớn nhất giữa họ. Đáng lẽ khi được báo tin thầy sẽ gặp cảnh tang thương như vậy, thì các ông phải buồn sầu, và phải quan tâm đến số phận của thầy; đằng này các ông lại tranh nhau xem ai là người lớn nhất. Đức Giêsu đã phải dạy các tông đồ bằng việc đặt một em bé ở giữa các ông, cho các ông biết ai đón tiếp một em bé là đón tiếp Ngài, ai muốn là đầu thì phải là người chót hết, là người phục vụ người khác. Và khi các ông vẫn chưa hiểu bài học Đức Giêsu dạy, thì Đức Giêsu đã phải rửa chân cho các ông để dạy các ông bài học phục vụ và khiêm tốn.

Từ các tông đồ đến các vị lãnh đạo dân Do Thái, tất cả đều có khuynh hướng muốn trổi trang, muốn có quyền hành; tuy nhiên mỗi người ra sao, thành người như thế nào là tùy chọn lựa của mỗi người. Khuynh hướng, như những cám dỗ, không là yếu tố quyết định hình thành nên con người; chính những chọn lựa mới làm nên chân tính của mỗi người. Nếu tôi luôn tôn thờ Thiên Chúa, nếu tôi luôn sống theo đường ngay lẽ phải, nếu tôi luôn theo những gì là chân thiện mỹ, nếu tôi luôn vâng phục lương tâm làm lành lánh dữ, thì tôi sẽ tôn trọng tha nhân và quyền lợi của họ, thì tôi sẽ sẵn sàng giúp đỡ tha nhân, quan tâm đến nỗi khổ của họ, thông cảm với những lo toan của họ, thì tôi sẽ là người tuyệt vời. Chính hành vi chọn lựa của tôi, làm tôi là người như thế nào.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

Theo kinh nghiệm, hành vi nào hủy hoại nhân cách của bạn nhất? Xin giải thích.

Theo kinh nghiệm, hành vi làm tăng giá trị của bạn nhất? Xin chia sẻ.

Lý tưởng của bạn là gì? Bạn muốn trở thành người như thế nào?

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

NGƯỜI LỚN HƠN CẢ LÀ AI?- Lm  Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB

Thời gian gần đây tôi thường hay phải đi bệnh viện. Những ngày sống trong đó, như bao bệnh nhân khác, tôi đúng là yếu đuối và hoàn toàn lệ thuộc vào sự giúp đỡ của các điều dưỡng, y tá, bác sĩ và những người thân phục vụ… Dưới con mắt của xã hội bệnh viện, tôi đột nhiên biến thành một người rốt hết và yếu hèn nhất. Chính trong bối cảnh đó, cuộc cãi vã giữa các môn đệ khi đi đường ‘xem ai là người lớn hơn cả’, cùng với các ý tưởng Đức Giêsu đã dùng để giải trình vấn nạn đó, đã chiếu một luồng sáng rất mới và rất Tin Mừng vào suy nghĩ của tôi về, thế nào là giá trị đích thực của kiếp sống con người, không những của con người nhân loại mà còn cả của chính Thiên Chúa nữa.

Khi Đức Giêsu cố gắng giải thích cho các môn đệ hiểu rằng, sự vĩ đại đích thực của Thiên Chúa chính là lúc ‘Con Người bị nộp vào tay người đời…’, các ông đã không tài nào nắm bắt được. Cái lô-gích này là hoàn toàn vô lý; làm sao sự khôn ngoan của một Đức Chúa vĩ đại và cao cả lại có thể biểu lộ qua sự thấp hèn và yếu đuối được? Nghịch lý lớn tới độ các môn đệ đâm ra hoảng sợ ‘không dám hỏi lại Người’, và cũng không dám, không muốn tin rằng điều đó thực sự có thể xảy ra (xem Mt 16:21-23). Kitô hữu chúng ta ngày nay cũng thế! Ngay cả khi đã biết tường tận về biến cố Thập Giá và Phục Sinh, chúng ta vẫn luôn có khuynh hướng tách hai biến cố này rời khỏi nhau. Thập giá thường được coi chỉ là giai đoạn tạm bợ để Đức Kitô có thể đạt tới vinh quang đích thực; và vinh quang này chỉ có khi Người sống lại và lên trời vinh hiển. Ngược hẳn với quan niệm đó, khi đề cập tới giờ tử nạn sắp xảy ra, Đức Giêsu đã có suy nghĩ hoàn toàn khác; Người gọi đó chính là thời điểm (Kairos) mà Con Người được tôn vinh; “Giờ đây Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người” (Ga 13:31-32). Như vậy, theo Đức Giêsu, chính trong cái chết thập giá nhuốc khổ mà Thiên Chúa tỏ lộ vinh quang vĩ đại nhất của mình, vinh quang của một thứ tình yêu tự hiến và xót thương; Phục Sinh chỉ là dấu ấn của vinh quang đó, chứ không phải là cùng đích của nó. Có lẽ chính vì thế mà, khi tường thuật về các biến cố phục sinh, cả bốn sách Tin Mừng đã không hề có một lời mô tả nào về Đức Kitô sống lại (kể cả việc Người lên trời vinh hiển, như chúng ta quen nói) như một nhân vật vinh quang khải hoàn đầy uy quyền thống trị.

Vì không vào được tư tưởng của Đức Giêsu nên mà ít ai trong chúng ta có thể hiểu ra rằng, người ‘đứng đầu’ hay ‘làm lớn nhất’ lại phải chính là người ‘rốt hết’, là người cúi mình xuống ‘phục vụ’. Để dễ chập nhận cách lô-gích hơn, chúng ta thường lập luận như sau: để được làm lớn, trước hết ta phải cam lòng phục vụ mọi người, đó là lối sử thế khôn ngoan phổ biến mà dân gian gọi là ‘chịu đấm ăn sôi’, hay ‘luồn cúi cầu vinh’. Chắc hẳn Đức Giêsu đã không suy nghĩ theo thói khôn ngoan người đời như thế (‘cam lòng chịu chết’ ‘Per Crucem ad Lucem’ như chúng ta vẫn quen nói). Tông đồ Phao-lô, một khi đã hiểu biết được phần nào Đức Kitô, đã phải lên tiếng giải thích điều nghịch lý này như sau: “Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1:25). Ông khảng định, khi Đức Giêsu tuyên bố: ‘người đứng đầu phải là kẻ rốt hết, người lớn nhất phải là kẻ phục vụ’, Người đang đưa ra một định luật tuyệt đối cách mạng. Đây không thể là một lý luận tầm thường, mà chính là mạc khải về giá trị đích thực của Thiên Chúa trước hết, rồi sau đó của mỗi môn đệ Kitô chúng ta theo chuẩn mực Tin Mừng.

Rồi khi Đức Giêsu ‘đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó…’ người không chỉ đơn thuần có ý khuyên các môn đệ hãy phục vụ trẻ nhỏ, hạng người được coi là rốt hết trong xã hội Do Thái. Tác giả Mát-thêu trong đoạn song hành đã cho thấy, hàm ý của Người còn thâm sâu hơn nhiều; “Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời? Đức Giêsu liền gọi một em nhỏ đến, đặt vào giữa các ông, và bảo: Thầy bảo thật anh em, nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Tròi… Ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy là kẻ lớn nhất Nước Trời” (Mt 18:1-4). Vậy thì ai phục vụ một trẻ nhỏ hay một kẻ nghèo hèn thì không chỉ phục vụ một Đức Kitô uy quyền tạm ẩn dấu dưới hình hài hèn hạ, mà là phục vụ một Đức Kitô thực sự vinh quang trong sự bé nhỏ, nghèo hèn và tự hủy. Qua việc phục vụ đó, họ đang tham dự vào sự vĩ đại cao sang nhất của Thiên Chúa xót thương và tự hiến; vì đối với một Thiên Chúa cứu độ và tự hiến thì vinh quang lớn nhất chính là lúc Người trở nên rốt hết và cúi xuống phục vụ mọi người.

Trong bài ca Ngợi Khen (Magnificat), đức Ma-ri-a một khi nhìn nhận phận hèn của mình thì đồng thời cũng khám phá ra sự cao cả vĩ đại vô song của kiếp sống mình. Mẹ là người đầu tiên đã nhận thức được, sự cao cả của Thiên Chúa luôn đối nghịch với những gì là ‘biểu dương sức mạnh, quyền thế, giầu có…’, và gần gũi hơn với những gì là ‘khiêm nhu, nghèo đói, thấp kém…’ Lý do duy nhất được đưa ra là, chỉ vì Người là đấng giầu lòng xót thương (Lc 1:46-55). Phao-lô cũng nhìn nhận sức mạnh của mình nằm trong chính sự yếu đuối mình cảm nghiệm, “Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh”, tới độ ông còn vui mừng khi phát hiện ra rằng mình yếu đuối, “tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi” (2 Cr 12:9-10). Khi các ngài khảng định như vậy chắc hẳn phải dựa trên một nguyên lý hiện sinh vững chắc lắm, chứ không chỉ trên một thái độ khiêm cung nhất thời.

Là linh mục của Chúa Kitô Thập Giá, mỗi lần cử hành Thánh Lễ, tôi luôn được nhắc nhở rằng, Thiên Chúa là Đấng cao sang và vĩ đại nhất chính vì Người đã cúi xuống, tự hủy và trở nên rốt hết! Tư tưởng này phải là định hướng cho toàn bộ đời sống thiêng liêng và họat động mục vụ của tôi.

Lạy Thiên Chúa bé nhỏ và mọn hèn! Chỉ khi nào nghiệm thấy được lòng nhân ái và dịu hiền của Chúa, con mới thấu hiểu được thế nào là vĩ đại và vinh quang đích thực, và cũng chỉ khi đó con mới có thể khảng định rằng, mình đã thực sự hiểu biết về Thiên Chúa. Xin cảm tạ Chúa đã ban cho con ơn gọi Kitô hữu để con có thể khám phá ra sự khôn ngoan này. Xin cho con tiếp tục tiến bước trên con đường Tin Mừng phong phú dường bao, khác xa với lối sống tự nhiên của loài người, kể cả những người tốt lành thánh thiện nhất. Amen.

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

PHỤC VỤ LÀ ƠN GỌI CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÚA KITÔ- Lm. GiuseNguyễn Thành Long

Trên đường đến Capharnaum, Chúa Giêsu đã công khai loan báo cuộc thương khó và phục sinh của Ngài lần thứ 2. Lần này Ngài đi thẳng vào vấn đề chứ không rào đón như lần trước. Thế nhưng trước những lời loan báo ấy, thái độ của các mộ đệ thế nào? Xem ra cả hai lần loan báo của Chúa Giêsu không có tác dụng gì đối với tâm thức của các ông cả, chẳng khác nào “nước đổ đầu vịt”. Theo những gì Tin Mừng thuật lại, ta thấy dường như các ông không hiểu gì hết. Không hiểu, một phần vì các ông không muốn hiểu. Không hiểu, một phần vì các ông vẫn còn bám vào quan niệm về một Đấng Kitô theo kiểu phàm trần.

Mặc dù không hiểu, đúng hơn là “khó hiểu” nhưng các ông lại không dám hỏi. Sống với Thầy gần ba năm rồi, tự dưng hôm nay thấy Thầy “khó gần” quá đỗi. Thế mới hay! Đây cũng là một nghịch lý “khó ưa” nơi các môn đệ. Kỳ thực vì các ông sợ. Sợ điều gì? Sợ hiểu rõ điều các ông không muốn hiểu. Sợ biết rõ sự thật các ông không muốn biết. Và nhất là sợ bị Chúa Giêsu cho “ăn đòn” như thánh Phêrô hôm trước.

Hậu quả là khi khư khư giữ lấy quan niệm về một Đấng Cứu Thế mang tính chính trị, ô-tô-ma-tíc các ông đã sa vào cơn cám dỗ kinh điển của con người: tranh giành địa vị, quyền lực. Trong thâm tâm các ông vẫn luôn nghĩ rằng Chúa Giêsu sẽ làm một cuộc cách mạng lật đổ ách thống trị của Đế Quốc La Mã và tái lập một vương quốc Israel hùng mạnh. Lúc bấy giờ, chắc chắn các ông, chứ không ai khác, sẽ được tân vương Giêsu bổ nhiệm vào 12 chức vụ quan trọng trong điều đình. Vì mang não trạng như thế, nên không lạ gì dọc đường các ông đã “giành ghế” với nhau. Ai sẽ là tể tướng? Ai sẽ là Quân sư? Ai sẽ là Phò mã? v.v… Quả đúng, quyền lực luôn là vấn đề muôn thuở của con người, ngay cả những người đi theo Chúa. Chiến tranh, chia rẽ, xung đột, đau khổ… cũng từ đó mà ra!

Chúa Giêsu đã sửa sai quan niệm và thái độ của các ông ra sao? Chúa Giêsu đã nêu cao tinh thần phục vụ cho các môn đệ của Ngài. Ngài đã, đang và sẽ phục vụ với tư cách là người rốt hết và là người tôi tớ của mọi người: “Ai muốn làm người đứng đầu thì thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9,35); “Nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13,14). Chúa Giêsu muốn các môn đệ học lấy bài học này, bài học mà chính Ngài đã “trả giùm” học phí cho họ bằng cái giá đắt đỏ nhất, là máu châu báu của Ngài trên thập tự. Tuy nhiên, đây cũng là bài học “khó xơi” nhất mà có khi các môn đệ phải vật lộn cả đời mới thấy thấm nghiệm.

Rõ ràng ơn gọi của người môn đệ Chúa Kitô là phục vụ, phục vụ theo gương mẫu của Chúa Kitô. Phục vụ chứ không phải là thống trị, và phục vụ đến độ sẵn sàng hi sinh cả mạng sống mình: “Ta đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc nhiều người” (Mc 10,45). Ngài còn đồng hoá mình với các trẻ nhỏ, đồng hoá mình với những người bé mọn: “Ai đón tiếp trẻ nhỏ này vì danh Thầy, là đón tiếp chính Thầy” (Mc 9,37).

Tắt một lời, khi ta chỉ lo tìm kiếm địa vị danh vọng và tranh giành quyền lực hơn thua là ta đang sống theo tinh thần thế tục. Ngược lại, khi ta sống tinh thần khiêm nhường phục vụ là ta đang sống ơn gọi làm người môn đệ đích thực của Chúa Kitô.

Có một giai thoại lý thú về bác sĩ Charles Mayo, người thường được nhắc tới với cái biệt hiệu là “bác sĩ giám đốc đánh giày”. Cùng với cha và người em của mình, bác sĩ Charles Mayo đã xây dựng bệnh viện Mayo nổi tiếng trên thế giới tại thành phố Rochester, bang Minnnesota, Hoa Kỳ.

Lần kia, một phái đoàn y khoa được cử đến thăm bệnh viện. Theo truyền thống của bệnh viện, quý khách sẽ để giày trước cửa phòng riêng của mình, và bệnh viện sẽ bố trí nhân viên đến đánh bóng các đôi giày ấy. Tối hôm đó, bác sĩ Charles Mayo làm việc trễ và là người về phòng sau cùng. Ông thấy các đôi giày ở trước các phòng của khách vẫn chưa được nhân viên phụ trách đánh bóng! Có thể họ đã quên làm việc này chăng? Ông liền đi kiếm xi và bản chải, rồi lần lượt đến trước mỗi phòng đánh bóng các đôi giày của khách. Khi nhân viên phụ trách đánh giày hôm đó làm nhiệm vụ lúc nửa đêm, anh rất ngạc nhiên khi thấy vị bác sĩ giám đốc bệnh viện vẫn đang loay hoay đánh những chiếc giày cuối cùng cho các khách quý.

Câu chuyện bác sĩ giám đốc đánh giày này đã trở thành một huyền thoại! Bác sĩ Charles Mayo được ca tụng không những vì có tài chữa bệnh, hay vì những công trình y khoa to lớn đem lại nhiều lợi ích cho nhân loại, mà còn vì đời sống khiêm nhường phục vụ của ông. Ông không nề hà làm bất cứ việc gì phục vụ tha nhân, dù việc ấy không xứng với địa vị của ông.

Chúng ta không biết bác sĩ Charles Mayo có thấm nhuần giáo huấn của Đức Kitô hay không, nhưng những việc phục vụ mà ông đã là đúng theo tinh thần của người môn đệ Đức Kitô: càng làm lớn càng phải phục vụ mọi người.

Phẩm giá của người môn đệ Chúa Kitô không được đo bằng chứ này chức nọ trong Giáo Hội hay xã hội, mà được đo bằng chính phẩm chất của việc phục vụ anh chị em đồng loại. Vậy ta đã sống tinh thần phục vụ thế nào? Thường thì ta vẫn thích sai khiến, thích thống trị kẻ khác hơn là phục tùng và phục vụ, và nếu có phục vụ đi nữa, ta chỉ thích phục vụ những kẻ giàu sang quyền thế, hay những kẻ trên mình. Ít khi ta tự nguyện hạ mình phục vụ những kẻ nghèo khó thấp hèn; trong khi đó Chúa lại dạy rằng khi ta phục vụ những kẻ bé mọn là ta đang phục vụ chính Chúa. Mà được phục vụ chính Chúa thì còn vinh phúc nào bằng! Vậy thử hỏi bao nhiêu lần ta đã đánh mất cái phúc vinh lớn lao này vì đã từ chối phục vụ Chúa trong những người anh em bé mọn?

Lạy Chúa, chắc là nhiều nhiều lắm, con đếm không nổi rồi Chúa ơi!!!

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

THIÊN VỊ – Lm Giuse Trần Việt Hùng

Sống chung trong một xã hội, con người không tránh khỏi những va chạm, ganh tị và cãi vã. Con người mang tính ích kỷ trong mình và luôn mong muốn được hơn người khác. Người ta bon chen đua đòi hơn thua về mọi khía cạnh cuộc sống cả về tinh thần lẫn thể xác. Tranh dành về quyền thế, địa vị, danh vọng, tiền bạc và về thành quả công ăn việc làm. Điều gì tốt đẹp và có lợi ích cũng có kẻ ham muốn chiếm đoạt. Sách Khôn Ngoan đã cảnh báo: Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo (Kn 2, 12). Kẻ sống trong lầm lạc, tự do và bất công thì thù ghét những người công chính và ngay thẳng. Họ ghen tị người khác chỉ vì họ yêu thích lối sống tầm thường theo bản năng.

Nhiều người chạy theo những đòi hỏi tạm thời mau qua chóng hết để thỏa mãn cuộc sống. Họ sống buông thả đi ngược lại với luân thường đạo lý. Họ ghét bỏ những người dám lên tiếng trách cứ hành động sai trái và lầm lạc của họ. Những người sống vô kỷ luật thì không muốn nhắc đến luật lệ vì lương tâm của họ có thể sẽ bị cắn rứt nhức nhối. Họ cũng không muốn ai nhắc bảo điều hơn lẽ thiệt vì có thể sẽ mất đi những hương vị ngọt ngào và dễ dãi của kiểu sống hưởng thụ. Tâm hồn của những kẻ gian ác chứa đầy những mầm mống của thù hận, ghen ghét và hủy hoại. Nếu không biết thức tỉnh, những sự thôi thúc nội tâm của bản năng thú tính sẽ đưa đẩy và kéo lôi con người vào sự dữ. Chúng ta không thể tưởng tuợng sự hung dữ cực kỳ của con người có máu lạnh.

Theo lời dạy của thánh Giacôbê tông đồ: Thật vậy, ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa (Giac 3, 16). Trong thế giới, xã hội con người đã trải qua những cuộc tàn phá diệt chủng khủng khiếp ở Đức Quốc, Rwanda và Căm-bốt… Khi cái ác chiếm ngự tâm hồn thì con người giống như những con quái vật. Họ mất đi tính người mà hành động theo thú tính, thực tình mà nói dữ hơn thú dữ. Chúng ta không thể hiểu điều gì đã thôi thúc cháy lửa trong lòng để họ phải hành động dã man như thế. Người ta gọi họ là những người say máu hay khát máu. Khi lương tâm một người bị cuồng say và sa đọa, người đó có thể làm bất cứ điều gì. Sự thiện và sự ác, tình yêu cũng như hận thù, nếu không được khơi dậy, dưỡng nuôi và chăm tưới, nó sẽ lụi tàn. Càng gây hận thù thì lửa hờn ghen báo thù càng mạnh. Chúng ta đừng thêm dầu vào lửa.

Sự ghen tương và tranh quyền đạt lợi đã dẫn đến những cuộc chiến tranh thảm khốc gây nên sự chết chóc, chia ly và phá hủy. Tất cả là do lòng tham sân si của con người. Hai bên thiện ác luôn đối nghịch trong cuộc sống của con người xã hội. Sự ác dữ và sự sai trái có một hấp lực thu hút con người cách mạnh mẽ như nam châm. Tội ác làm chúng ta mê lầm và mù quáng khi xét đoán: Chúng suy tính như vậy thật sai lầm, vì ác độc mà chúng ra mù quáng (Kn 2, 21). Người gian ác chỉ muốn tiêu diệt và phá hủy. Người ác tìm cách giết hại những người công chính. Tác giả sách Khôn Ngoan muốn ám chỉ về Con Thiên Chúa. Như một lời tiên báo Con Người sẽ phải bị kết án và chết cách nào:Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm.”(Kn 2, 20).

Chúa Giêsu dám đối diện với sự thật vì chỉ có sự thật mới có thể giải thoát. Chúa đã từ từ mạc khải cho các môn đệ về đường đi lối bước của Chúa. Chúa chọn con đường khởi từ thấp đi lên và con đường chông gai khổ đau để đạt tới vinh quang. Chúa Giêsu đã dạy các tông đồ một cách rất chân tình:Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại (Mc 9, 31). Đối diện cái chết, thường thì ai cũng tránh né và sợ hãi. Mấy ai dám nói đến sự chết của riêng mình. Vua chúa trần gian tìm mọi cách để bảo vệ sự sống và vương quốc của riêng mình. Họ lo xây dựng và tìm đạt vinh quang qua sự hy sinh của thuộc hạ và toàn dân. Trong khi Chúa Giêsu chọn một con đường khác biệt, con đường thánh giá. Không mấy ai muốn hiến thân đi vào con đường này.

Con đường Chúa đi là con đường đi lên Núi Sọ. Con đường của hiến thân phục vụ và hy sinh mạng sống vì anh chị em. Các tông đồ dù đã đi theo Chúa nhiều ngày, nhiều tháng những vẫn chưa hiểu được ý nghĩa thâm sâu của mầu nhiệm thập giá. Các tông đồ vẫn còn não trạng của con người trần thế tìm đạt vinh quang mau qua chóng hết. Các ngài tranh luận với nhau và tranh dành chỗ đứng trong anh em. Chúa Giêsu mở một đường sống mới: Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người (Mc 9, 35). Làm đầu là để phục vụ. Đây là một tư tưởng hoàn toàn mới lạ đối với các tông đồ và chúng ta. Chúa Giêsu dẫn các tông đồ vào con đường hẹp của thập giá.

Chúa lại chọn con đường khiêm hạ và đau khổ thập giá để đến với nhân loại. Chúa đi con đường khổ hẹp cốt để thuyết phục nhân tâm. Chúa đã hạ mình xuống tận đáy vực thẳm để cảm thông những cùng cực của kiếp người. Chúa dẫn dắt con người vào chính lộ của niềm vui phục vụ và bác ái. Niềm vui tự tại trong tâm hồn. Muốn theo Chúa, chúng ta phải vác thánh giá hằng ngày mà theo. Thánh giá chính là những sự vui buồn và sướng khổ của cuộc sống. Chúng ta vui nhận cuộc sống vô thường này với tất cả ý thức và sự trân qúi. Không có điều gì tốt lành mà chúng ta đã thực hiện mà không sinh ích. Việc tốt sẽ sinh trái tốt. Chấp nhận mọi sự cố xảy đến trong đời với sự bình tâm và thanh thản. Chọn lựa thái độ sống là của chúng ta và không có sự gì có thể làm khó chúng ta.

Thánh Giacôbê khuyên dạy chúng ta hãy có thái độ khôn ngoan: Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình (Giac 3, 17). Hoa trái của sự khôn ngoan là sự hài hòa, tha thứ, bao dung và hợp nhất. Người ta thường nói: Người đầu bạc thì khôn ngoan. Muốn nên hoàn thiện, chúng ta phải kinh qua thử thách như lửa thử vàng, gian nan thử đức. Càng trải nghiệm qua nhiều đau khổ, chúng ta càng có nhiều kinh nghiệm sống và khôn ngoan đối xử. Gian khổ là nấc thang giúp chúng ta bước lên, tiến tới, gạn bỏ đi những lầm lỗi và nết hư tật xấu. Bất cứ nhân đức nào cũng cần phải tu luyện, tập tành và bồi dưỡng hằng ngày.

Chúa Giêsu đã loan báo sự đau khổ, sự chết và sống lại. Chúa đã từng trải tất cả những biến cố đau thương và chết cách nhục nhã trên thánh giá. Từ trên thánh giá nguồn ơn phúc đổ tràn. Chúa tha tội cho mọi người xúc phạm đến Chúa. Chúa mở cửa thiên đàng đón nhận kẻ biết ăn năn hối cải. Chúa giao hòa giữa Thiên Chúa Cha và loài người cùng ban ơn cúu độ cho nhiều người. Thánh giá đã trổ hoa.

Lạy Chúa, Chúa đã đi qua tất cả các chặng đường khổ đau qua sự chết tới sự sống lại. Xin cho chúng con biết kết hợp những sầu khổ vào thánh giá của Chúa, để những khổ đau biến thành những hoa trái của niềm hoan lạc và hạnh phúc muôn đời.

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

TRỞ NÊN NGƯỜI CAO QUÝ- Lm Inhaxiô Trần Ngà

Muốn tỏ ra mình là người có giá trị, hay nói khác đi, muốn tự khẳng định giá trị của mình là một nhu cầu hết sức quan trọng của con người và nhu cầu này được biểu hiện bằng nhiều hình thức trong cuộc sống.

Thời Chúa Giê-su, các vị kinh sư và các người biệt phái tự khẳng định mình bằng cách “đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là “ráp-bi” (Mt 23, 5-7).

Ngay cả các môn đệ Chúa Giê-su cũng thường tranh luận với nhau xem ai trong họ là người lớn nhất. Điều nầy đã được ghi lại nhiều lần trong Tin mừng (Mc 9, 33-34; Lc 9, 46; Mt 18,1; Lc 22, 24).

Có lần, hai môn đệ Gioan và Giacôbê cùng với mẹ mình đến xin Chúa Giê-su cho ngồi bên tả bên hữu Chúa khi đến thời Ngài được hiển vinh. Bấy giờ, mười môn đệ kia tỏ ra bất bình với Gioan và Giacôbê vì anh em nhà nầy muốn giành trước hai chiếc ghế mà họ đang mơ ước (Mt 20, 20-24; Mc 10, 35-37).

Khát vọng của con người là thế đó. Ai cũng muốn nổi bật, ai cũng muốn vươn cao; không ai muốn bị lu mờ. Nói chung, ai cũng muốn làm gia tăng giá trị của mình.

Đây là một khao khát tự nhiên. Chính Thiên Chúa đã đặt vào tâm hồn con người khát vọng đó để thúc đẩy họ vươn lên thành những người cao cả. Chúa Giê-su cũng kêu gọi các môn đệ vươn tới đỉnh trọn lành: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5, 48).

Làm thế nào để trở thành người cao cả thật sự?

Có người cố làm tăng giá trị của mình bằng cách trang điểm và chưng diện. Tuy nhiên, người ta không thật sự trở nên cao cả nhờ nhan sắc, vì “tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.”

Có người tìm cách làm gia tăng giá trị của mình bằng cách sở hữu thật nhiều vàng bạc của cải, nhưng thực ra, “giá trị con người không hệ tại những gì người ta sở hữu.”

Có người trau dồi và phát huy tài năng cho người ta nể phục, hoặc cố giành những địa vị cao trong xã hội để nâng giá trị mình lên.

Còn Chúa Giê-su, nhân cơ hội các môn đệ tranh cãi sôi nổi ai là người lớn nhất, Ngài chỉ cho họ một cách để trở thành cao cả thực sự. Đó là “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9,35).

Lời dạy của Chúa Giê-su xem ra trái nghịch với suy nghĩ của người đời. Thông thường, muốn làm lớn thì phải tôn mình lên để thống trị người khác; đằng nầy Chúa Giê-su dạy phải hạ mình xuống làm tôi tớ hầu hạ mọi người. Thật thế ư?

Ngày 5 tháng 9 năm 1997, cả thế giới xúc động, thương tiếc và bày tỏ lòng ngưỡng mộ sâu xa khi hay tin Mẹ Tê-rê-xa, một nữ tu già nua, thấp bé, nghèo nàn, không có nhan sắc… qua đời tại Calcutta, Ấn-độ ở tuổi 87. Nhà Nước Ấn-độ, một quốc gia phần đông theo Ấn-độ-giáo, đã long trọng tổ chức quốc táng cho Mẹ Tê-rê-xa, một nữ tu công giáo khiêm tốn bình dị, người gốc An-ba-ni! Hơn triệu người dân Ấn-độ tuôn ra đường để tiễn đưa Mẹ Tê-rê-xa đến nơi an nghỉ cuối cùng. Thật là điều không tưởng tượng nổi.

Tại sao Mẹ Tê-rê-xa lại được vinh dự lớn lao như thế?

Vì Mẹ đã thực hành đến mức hoàn hảo điều mà Chúa Giê-su truyền dạy cho các môn đệ trong Tin mừng hôm nay. Đó là hạ mình làm tôi tớ hầu hạ phục dịch những con người khốn khổ nhất thế gian với lòng yêu thương vô hạn.

Cuộc đời của Mẹ Tê-rê-xa Calcutta là một bằng chứng hùng hồn cho thấy rằng giáo huấn của Chúa Giê-su là xác đáng: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9,35).

Như thế, phục vụ trong yêu thương và khiêm hạ chính là con đường đưa tới vinh quang.

Lạy Chúa Giê-su,

Xin cho chúng con tỉnh táo nhận ra rằng giá trị con người không tuỳ thuộc vào những thứ “phụ tùng” mà người ta khoác vào thân như các loại y phục hợp thời trang hay các đồ trang sức xa hoa, đắt giá; giá trị con người cũng không tuỳ thuộc vào của cải, bạc vàng châu báu hay địa vị công danh… nhưng cốt yếu là tuỳ vào đức hạnh, vào phẩm chất cao đẹp của mỗi người.

Xin dạy chúng con biết làm gia tăng giá trị bản thân bằng cách hiến thân hy sinh phục vụ mọi người như Chúa đã nêu gương.

 

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

CHẤT NGƯỜI TRONG TÔI- Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

“Ở đâu có ghen tương, tranh chấp, ở đó có hỗn độn và các thứ tệ đoan… Chinh chiến tự đâu? Đấu tranh tự đâu? Nếu không phải là tại các đam mê dục tình hằng làm giặc nơi chi thể anh em đó sao? Anh em ham muốn mà không được, nên anh em giết nhau. Anh em ghen tương mà không được, nên anh em đấu tranh, chinh chiến và cãi vã” (Gc 3:16-4:2).

Lời chất vấn và khiển trách của Thánh Giacôbê tông đồ khiến tôi nghĩ đến một câu chuyện.

Có một chàng thương gia nọ rất sùng đạo; mặc dầu lo làm ăn vất vả nhưng dường như anh ta không bao giờ bỏ việc khấn vái với thần thánh. Gặp phải thời kỳ có cạnh tranh trong công ăn việc làm, anh ta càng khẩn cầu tha thiết hơn. Động lòng trắc ẩn, một hôm thần tiên đâu đó hiện ra với anh và phán: “Thấy nhà ngươi cứ thành tâm cầu xin nên ta không nỡ làm ngơ. Bây giờ hãy cho ta biết ước muốn của ngươi. Điều gì ta cũng ban cho. Đồng thời để tỏ cho thế nhân biết được lòng quảng đại của ta thì hễ thứ gì đã ban cho ngươi thì ta cũng sẽ ban cho tha nhân, đồng nghiệp của ngươi như thế và có khi gấp đôi luôn.”

Nghe thần phán, lòng anh thương gia chuyển từ vui mừng sung sướng qua ưu tư lo buồn. Anh tự nhủ: “Nếu bây giờ mình xin cho được một chiếc xe Lexus thì mấy người bạn, chúng nó sẽ được hai chiếc. Ái dà, không được đâu! Nhưng nếu xin cho được trúng số một triệu thì mấy nhà xung quanh, họ sẽ được tới hai triệu mất. Thế thì không ổn!”

Anh tiếp tục suy nghĩ: “Nếu mình xin cho có vợ đẹp con khôn, thì rồi đồng nghiệp của ta, chúng sẽ có vợ đẹp gấp đôi vợ mình, con khôn và giỏi gấp đôi con mình. Thế thì lại càng không ổn… Đó là chưa nói tới chuyện chúng có tới hai vợ trong khi mình chỉ được một. Trong thời buổi cạnh tranh như thế này thì phải làm sao cho hơn người chứ. Nhưng nếu xin theo kiểu này thì thật là thất sách vô cùng!”

Chàng thương gia đắn đo không biết nên xin cái gì. Sau một hồi lâu ưu tư, anh ta chợt reo lên như vừa tìm thấy điều chi hay lắm. Anh thành kính quì xuống thưa với thần: “Lạy Ngài, xin cho con đui một con mắt.”

Không xin cho được khá giả may mắn vì sợ người khác sẽ được hơn, nhưng lại xin cho bị rủi ro thiệt hại một tí để kẻ khác bị khốn đốn bất hạnh nhiều hơn. Xin cho mình đui một con mắt để người khác bị mù cả hai quả là quá tiểu nhân và quá dã tâm. Một tâm địa xấu xa nhỏ nhen! Thế nhưng nếu thành thật rà soát lại lòng mình thì không chừng cái chất tiểu nhân kia-những so sánh hơn thua, những đố kỵ ghen ghét-cũng đang ẩn nấp đâu đó trong hồn tôi. Để rồi nếu được thành công, may mắn, xinh đẹp… hơn người, thì nó sẽ nằm yên bất động. Còn như kẻ khác trổi vượt, thì chất tiểu tâm và lòng dã nhân kia sẽ bùng lên với những gì là khó chịu và đắng cay. Thế rồi những xung khắc cay chua, những tổn thương tình người, những xúc phạm nhân phẩm cứ từ đó mà phát sinh và lan đi.

Trong Thánh Kinh không thiếu những câu chuyện như trên. Chẳng hạn trường hợp 12 môn đệ thân tín của Chúa Giêsu. Bỏ tất cả mọi sự đi theo Ngài, bất chấp nắng mưa, cực nhọc, túng thiếu. Ăn ở với nhau rất đề huề vui vẻ. Nhưng rồi một ngày kia, một người đàn bà xuất hiện, xin cho hai anh Gioan và Giacôbê được ngồi bên hữu, bên tả Đức Giêsu sau khi Ngài khải hoàn vinh quang.

Thế là sinh chuyện! Kinh Thánh nói rõ: mười môn đệ kia phẫn uất với hai anh em con nhà Zêbêđê. Không biết chiến tranh nóng lạnh giữa các tông đồ đi đến mức độ nào, chỉ biết rằng sau đó, Chúa Giêsu phải can thiệp và dạy cho các ông một bài học của khiêm nhường, quên mình, thí mạng để làm giá chuộc thay cho nhiều người.

Một ví dụ khác là câu chuyện Người Con Hoang Đàng: Một ông chủ có hai con trai. Đứa em thì ăn chơi phung phí, phá tan sản nghiệp gia đình, làm bại hoại gia phong, giao du với quân đàng điếm. Người anh dường như chẳng care, không quan tâm. Nó đi bụi đời, sống chết mặc nó. Đời mình cứ vậy mà êm trôi. Thế nhưng bất ngờ đứa em trở về và được đón tiếp linh đình. Tức thì anh ta lồng lộn lên. Lòng ghen tuông gia tăng khiến anh cắt đứt luôn những quan hệ cha con anh em khi tuyên bố “thằng con của ông.” chứ không phải “đứa em của tôi”. Tình người bị cắt đứt!

Và khi tình người bị cắt đứt thì còn đâu chuyện thương cảm, lắng lo cho nhau khi gặp rủi ro, sa cơ, hay vui mừng chia sẻ với nhau khi gặp may mắn, hạnh phúc.

Nhưng tại sao người ta lại thiếu tình người? Phải chăng vì họ đã không nhận ra tình Chúa-khi vô tình thì cũng dễ vô ơn và vô tâm? Phải chăng người ta không nhận ra chân lý trong Tin Mừng của Đức Kitô: chỉ là người hơn khi tự làm rốt hết và trở nên tôi tớ mọi người.

Thật lạ kỳ! Thói thường, nhân thế hay tìm đến với danh vị, lợi lộc, quyền uy, kết thân với chốn cao sang để mưu cầu ảnh hưởng. Phần Đức Kitô, Ngài lại dạy người ta tìm đến với những ai hèn kém, nghèo khổ, đơn côi, những kẻ mà xét theo khách quan, chỉ biết đón nhận chứ không thể cho đi. Thế nhưng chính khi trao ban cho những người như thế lại là đang tiếp cận với Đức Giêsu và đón nhận chính Ngài. Bởi lẽ “những gì các ngươi làm cho một trong các anh em hèn mọn nhất của Ta, là các ngươi đang làm cho chính mình Ta” (Mt 25:40).

Càng chân thành trao ban cho các “anh em hèn mọn,” tôi càng làm phong phú chất người trong tôi và tăng thêm sức sống cho đời. Giá trị và mức độ của chất người và sức sống đó lại không tùy thuộc vào chất lượng hay số lượng của vật được cho đi, song là tùy thuộc vào thái độ của việc trao ban. “Để vinh Danh Chúa hay hiển danh tôi?” “Để tỏ mình là người quảng đại hay để ‘anh em hèn mọn’ có được cơ may hạnh phúc?” Đó là những câu hỏi mà tôi phải dùng để tự vấn thường xuyên.

Trở nên đầy tớ mọi người, để mang hạnh phúc cho đời, vui trong niềm vui của người, xót cho nỗi đau của đời. Tập sống như thế là tôi đang trở thành môn đệ đích thật của Đức Kitô vậy.

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

NGƯỜI LỚN VÀ TRẺ EM- Lm. Aphong Trần Đức Phương

Có lần trong một cuộc hội thảo với Hội Các Bà Mẹ Công Giáo về vấn đề giáo dục con cái tại Hoa Kỳ, nhiều bà đã tỏ ra lo lắng vì trong xã hội hiện nay, trẻ em thích sống tự lập, thích thoát khỏi sự che chở và giáo dục của cha mẹ; em nào cũng chỉ mong mau đến ngày sinh nhật thứ 18 (18 tuổi), trở thành người lớn để được sống tự do, thoải mái, ngoài sự kiểm soát của cha mẹ!

Thật ra, tâm trạng chung là chúng ta ai cũng muốn làm ‘Người Lớn’, ai cũng muốn là người quan trọng đáng được chú ý hơn người khác. Bài Phúc Âm hôm nay (Matcô 9: 30-37) cho chúng ta thấy đó cũng là tâm trạng của nhóm 12 Tông đồ của Chúa, nên ngay khi Chúa Giêsu báo trước về cuộc khổ nạn của Ngài, thì mấy ông lại tranh luận với nhau về ai là người ‘lớn nhất’ trong nhóm các ông. Nhưng Chúa Giêsu đã để một em nhỏ đứng giữa các ông, chúc lành cho em, rồi dạy các ông bài học phục vụ trong khiêm tốn: “Ai muốn làm ‘người lớn nhất’, thì hãy hạ mình làm ‘người nhỏ nhất’ và phục vụ mọi người!” Theo Phúc Âm của Thánh Matthêu, Chúa Giêsu còn nhấn mạnh: “Nếu anh em không trở nên như trẻ nhỏ, anh em không thể vào được Nước Trời…” (Mt 18, 1-4).

Chính vì “ai cũng muốn làm lớn hơn người khác, mà sinh ra đủ thứ tranh chấp, hỗn độn và đủ thứ tệ đoan…” như Thánh Giacôbê đã nói trong Bài Đọc II hôm nay (Giac 3,16-4,3). Từ đó nảy sinh ra gièm pha, thù hận, làm hại lẫn nhau.

Những tranh chấp này đưa đến chiến tranh, loạn lạc khắp nơi trên thế giới. Trong phạm vi gia đình, cũng vì những ham muốn ‘làm lớn’, mà gây ra những tranh chấp giữa vợ chồng, rồi đưa đến những đổ vỡ rất đáng tiếc trong một số gia đình hiện nay.

Chúa Giêsu khi xuống thế làm người, Ngài đã không sinh xuống trong cảnh vương giả, giầu sang, nhưng đã chọn nơi hèn mọn, khó nghèo là hang bò lừa để sinh ra và Ngài đã lớn lên trong gia đình Nagiaret bần hàn. Hơn nữa, dù là Thiên Chúa thật, Ngài có thể làm cho người chết sống lại, người mù được thấy…, nhưng Ngài đã không dùng quyền lực Thiên Chúa để giải thoát con người, mà là chọn con đường khổ giá (Philiphê 2:6-8). Chính tên trộm bị treo trên thập tự giá cũng đã mỉa mai Ngài: “Nếu ông là con Thiên Chúa, sao không tự mình xuống khỏi thập giá để cứu mình và cứu chúng tôi với!” (Lc 23,39). Đó là những lời lộng ngôn của những kẻ cao ngạo như đoạn Sách Khôn Ngoan (2, 12. 17-20) trong Bài Đọc I hôm nay ghi lại: “Chúng ta hãy kết án cho nó chết cách nhục nhã. Nếu nó thật là Con Thiên Chúa, Chúa sẽ bênh vực nó… Nhưng những kẻ cao ngạo đó đã trở nên mù quáng, không nhận ra thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa!”

Trong Thánh Lễ hôm nay, chúng ta hãy cầu xin Chúa cho chúng ta biết suy gẫm cuộc đời của Chúa từ lúc giáng sinh trong hang đá bò lừa, lớn lên trong gia đình khó nghèo Nagiaret, sống cuộc đời nghèo khổ (“Con cáo có hang, con chim có tổ, Con Người không có chỗ dựa đầu”). Cả cuộc đời chỉ lo rao giảng Phúc Âm tình thương, phục vụ mọi người, và sau cùng là chấp nhận vác Thánh giá và chết khổ nhục trên Thánh giá để chuộc tội nhân loại (Mt 20,28)

Khi cuộc đời của Chúa có ảnh hưởng mạnh trong tâm hồn chúng ta, chúng ta sẽ dễ dàng sống khiêm tốn và hòa hợp yêu thương (Mt 11, 28-29). Chúng ta sẽ chung tay xây dựng được những gia đình đầm ấm, tránh được những đổ vỡ đáng tiếc. Xây dựng được những ‘gia đình hòa bình’ là chúng ta đã đã góp được phần vào việc xây dựng hòa bình thế giới. Vì “sự khôn ngoan từ trời xuống thì trước tiên là trong sạch, ôn hòa, bao dung, mềm dẻo, hướng thiện, đầy lòng nhân từ và hoa quả tốt lành, không xét đoán thiên vị, không giả dối. Hoa quả của công chính được gieo rắc trong bình an cho những ai xây đắp hòa bình.” (Giac 3, 17-18).

Xin Mẹ Maria và các Thánh đã sống cuộc đời đau khổ trần gian, nhưng luôn biết yêu thương và phục vụ, nay đã được hưởng phúc trường sinh trên Nước Hằng Sống, nâng đỡ chúng ta trong cuộc sống hàng ngày. Xin cho chúng ta luôn biết sống khiêm tốn, tôn trọng mọi người, để xây dựng sự an vui, hòa hợp trong gia đình, nơi sở làm và trong mọi môi trường sống hàng ngày của chúng ta. Trong “Năm Linh Mục” này, chúng cũng hãy tiếp tục cầu nguyện cho các Chủ Chăn, các Linh Mục, như những sứ giả tình thương của Chúa, luôn biết noi gương Chúa Giêsu, yêu thương, khiêm tốn và vui vẻ phục vụ mọi người.

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

BƯỚC THEO CHÚA TRONG KHIÊM HẠ-  Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Sau khi biến hình, Chúa Giêsu cùng với các môn đệ từ trên núi xuống tiến về Giêrusalem để sống Lễ Vượt Qua cái chết và sự phục sinh của Người. Trước thảm kịch đau thương đang chờ đợi và iết trước cái chết ở Giêrusalem, đối với các môn đệ, niềm tin cần phải được Chúa củng cổ, Người loan báo cuộc thương khó lần thứ hai cho các ông, nhưng Người nhấn mạnh hơn đến sự đánh bại thần chết vào sống lại vinh quang.

Nhưng các môn đệ nào đâu có hiều, dọc đường tới ở Capharnaum họ vẫn tranh luận với nhau xem ai là người lớn nhất. Câu trả lời của Đấng Cứu Thế từ đó đến nay vẫn làm chúng ta ngạc nhiên : “Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Mc 9,37). Như thế kẻ lớn nhất sẽ là người phục vụ mọi người và Nước Thiên Chúa dành cho những ai đón nhận các trẻ nhỏ.         

Đoạn Tin Mừng này không phải hai phần khác biệt : phần thứ nhất Chúa Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn, phần thứ hai Chúa giáo huấn các môn đệ. Đây chỉ là một diễn từ chúng ta có thể gọi là : “Thập giá của Chúa Giêsu và hậu quả của các môn đệ”. Trở thành đầy tớ, đón tiếp trẻ nhỏ nhân danh Chúa Giêsu là hai hành động mà Chúa Giêsu, nhẹ nhàng nhưng cương quyết dạy các môn đệ phải “thi hành” cùng lúc. Thi hành để bắt chước Chúa Kitô, theo Chúa đến chân Thập giá, và như Chúa, trở nên tôi tớ phục vụ mọi người, “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người “(Mc 9, 35).

Từ ngày Con Thiên Chúa nhập thể bước vào lịch sử loài người sau một chặng đường dài, từ cái nôi Belem để “cái nôi” trên đồi Calvariô ở Giêrusalem, đỉnh cao là (cây Thập giá). Những tiêu chí để đánh giá giá trị và nhân phẩm của con người hoàn toàn đảo lộn : phẩm giá của một người không tùy thuộc vào vị trí người ấy đang có, hay chức vụ người ấy thi hành… Sự vĩ đại của con người không lệ thuộc vào cái làm cho người ta quan trọng, nhưng dựa trên sự phục vụ người ấy làm đối với Thiên Chúa và tha nhân để tỏ bày vinh quang, sự tốt lành và tình yêu của Chúa.

Đón nhận là một phương tiện làm thi hành việc phục vụ này. Thánh sử Marcô dùng động từ ” đón nhận ” vào những dịp khác nhau với cách thức khác nhau, nhưng tất cả đều qui về một mối. Thánh sử nói với chúng ta về thái độ đón nhận Lời Chúa (x. Mc 4,20), đón nhậ Nước Thiên Chúa (x. Mc 10,15). Đón nhận có nghĩa là lắng nghe, sẵn sàng, đón nhận Đấng Vô Cùng trở thành Hài Nhi, đón nhận các trẻ nhỏ còn trong nôi, phản ánh của trời cao.

Đem một em bé đặt giữa các môn đệ, ôm nó, Chúa Giêsu dạy các ông một bài học. Đứa trẻ Chúa ôm lấy là chính Người, vì Người là dấu chỉ Chúa Cha sai đến. Trẻ em là dấu chỉ lòng trắc ẩn của Thiên Chúa và sự vâng phục đầy tình con thảo đối với Con Một Chúa đã trở nên bé nhỏ vì yêu thương và chịu đóng đinh trong sự vâng phục giữa những kẻ gian ác. Hài Nhi ấy đến từ Thiên Chúa ; những lời sau đây của Chúa Giêsu : ( “Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy “Mc 9,37) thật rõ ràng : đứa trẻ đặt giữa các ông là hình ảnh của Chúa Kitô, đồng thời cũng là hình ảnh của người kitô hữu, hơn nữa là hình ảnh của chính Thiên Chúa. Đón nhận trẻ nhỏ nhân danh Chúa Kitô là đón nhận mầu nhiệm của Thiên Chúa.

Tin Mừng hôm nay là một bài giáo lý nhấn mạnh đến nhân tính của Con Thiên Chúa: Chúa Giêsu là Con của loài người. Đó là lý do tại sao cái chết và sự phục sinh của Chúa là những điều cụ thể, có thật. Chúa không trách các môn đệ nhưng giải thích cho các ông về cách thức của người đứng đầu: đón nhận trẻ nhỏ là đón nhận chính Chúa và Chúa Cha (x. Mc 9,37).

Các môn đệ phải khó khăn lắm mới hiểu rằng bước theo Chúa Giêsu đồng nghĩa với việc từ bỏ mình vác thập giá mình mà bước, nên họ sợ. Chúng ta cũng thế, chúng ta sợ hiểu, không phải chúng ta không hiểu, nhưng vì chúng ta không muốn hiểu. Em bé được đặt giữa các môn đệ là dấu chỉ nhiệm mầu tự hủy của một vì Thiên Chúa nộp mình cho con người. Nghĩa cử đón nhận “trẻ nhỏ” chứng thực lòng mộ mến Đấng Vô Cùng đã trở nên Hài Nhi bé nhỏ cho chúng ta và vì chúng ta.

Trong cuộc Thương Khó chúng ta thấy có lòng thương xót. Không có tình yêu nào cao cả và lớn lao hơn là trở nên nhỏ bé và trao dâng chính mình vì bạn hữu, bước lên thập giá và tự hào, như thánh Tông Đồ Phaolô khao khát : “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thập giá của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta “(Gal 6,14). Nhưng khi nói đến thập giá, nó không chỉ là hai miếng gỗ, nhưng là toàn thể loài người. Chúng ta là thập giá của Chúa Giêsu, vì khi dang tay ra, con người được coi như là hình hài của cây thập. Trong thực tế, đó là tất cả tình yêu mà Chúa Giêsu đã chấp nhận khi đến với chúng ta, mang vào thân cho đủ mức để sinh ơn cứu độ đời đời cho chúng ta.

Vì thế, việc theo Chúa luôn đòi con người phải có sự hoán cải sâu xa, thay đổi lối sống và suy nghĩ, mở rộng con tim để lắng nghe và biến đổi nội tâm. Nơi Thiên Chúa không có sự kiêu ngạo, chỉ có yêu thương và ban sự sống. Con người tuy bé nhỏ, nhưng lại khao khát được coi là cao cả, được chiếm chỗ nhất, trong khi Thiên Chúa không do dự hạ mình xuống, trở nên người rốt cùng.

Lạy Mẹ Maria, chúng con tín thác khẩn cầu Mẹ là Ðấng hoàn toàn sống hợp với Thiên Chúa, xin dạy chúng con trung thành theo Chúa Giêsu trên con đường yêu thương và khiêm hạ.

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

AI LÀ NGƯỜI LỚN NHẤT-  Lm Gioan M. Nguyễn Thiên Khải, CMC

Thưa anh chị em,

Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe, đây là lần thứ hai Chúa Giêsu báo trước cho các môn đệ biết về cuộc tử nạn và phục sinh của Ngài, vậy mà xem ra các ông không mấy đồng cảm với sứ mạng của Chúa mà lại tranh giành ngôi thứ với nhau.

Nhân cơ hội này, Đức Giêsu dạy các ông biết tinh thần phải có của người môn đệ là: “Ai muốn làm lớn, thì hãy làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người” (Mc 9, 35).

Mặc dù các ông được Chúa kêu gọi sống với Chúa, từng nghe lời Chúa giảng, từng thấy phép lạ Chúa làm, ấy thế mà các ông vẫn còn mang nặng tính thế tục là tranh giành chỗ thấp chỗ cao, vẫn còn hàm ý đi theo Chúa là để mong sau này trở thành công hầu khanh tướng, quyền cao chức cả.

Thế nhưng, Chúa Giêsu không buồn lòng khi thấy các môn sinh của mình có những hành vi đặc quyền đặc lợi như thế, vì Ngài đã gọi chọn các ông với tất cả thực chất những con người đầy tham vọng và yếu đuối, để rồi đây với thời gian, Chúa sẽ biến đổi các ông trở thành những môn đệ đích thực. Điều làm cho con người trở thành người lớn trong Nước Trời, đó là tự hạ mình khiêm tốn và làm đầy tớ mọi người.

Và để dạy cho các môn đệ bài học thực tế, Đức Giêsu gọi một em bé, đặt em đứng giữa các ông và nói: “Ai tiếp đón một em bé như thế này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy” (Mc 9, 37). Em bé đây tượng trưng cho những người tầm thường, thấp cổ bé miệng trong xã hội Do thái lúc bấy giờ.

Như vậy đối với Chúa, người làm lớn sẽ là người phục vụ. Và đối tượng được phục vụ là những người bé nhỏ, nghèo hèn thấp kém trong xã hội. Chúa Giêsu đã nhập thể làm người bé nhỏ, nghèo hèn trong xã hội, để từ nay ai đón tiếp những người như thế, là đón tiếp chính Chúa. Ai giúp đỡ những người nghèo khổ, là giúp đỡ chính Ngài. Ai tận tâm tận tình quan tâm đến những người tàn tật đau yếu là làm cho chính Chúa. Cho nên, điều quan trọng không phải là làm lớn hay làm nhỏ, mà là chúng ta có phục vụ theo tinh thần của Chúa hay không?.

Anh chị em thân mến,

Trước khi Chúa Giêsu dạy các môn đệ sống tinh thần bé nhỏ, khiêm tốn phục vụ, thì Ngài đã làm gương trước rồi.

 Là Thiên Chúa quyền năng làm được mọi sự, nhưng đã tự hạ trở nên phàm nhân giống chúng ta mọi đàng ngoại trừ tội lỗi.

Là Đấng cầm quyền sinh tử vạn vật, nhưng đã hạ mình vâng lời Chúa Cha cho đến chết.

Là Thầy nhưng đã quì xuống rửa chân cho học trò.

Là người lãnh đạo, nhưng không đặc quyền đặc lợi, mà lại sẵn sàng hiến dâng mạng sống để làm giá cứu chuộc nhân loại.

Nếu nhân loại hôm nay bắt chước sống tinh thần khiêm tốn trong cách ứng xử. Khiêm tốn phục vụ theo gương Đức Giêsu. Những người quyền cao chức cả không còn hành quyền loại trừ lẫn nhau. Những vị lãnh đạo không còn hình thức sai khiến nữa, nhưng là tinh thần quan tâm phục vụ dân chúng, thì nhân loại sẽ có một nền văn minh tình thương, đất nước sẽ không còn tranh chấp hận thù, nhưng là sống trong bình an ấm áp tình người với nhau.

Lắng nghe Lời Chúa hôm nay, xin cho chúng ta biết nâng dậy những số phận hẩm hiu. Biết quan tâm những mảnh đời nghiệt ngã đau thương. Mỗi người tích cực góp phần xây dựng nền văn minh tình thương, sống cho người khác. Cần sống tình liên đới quan tâm đặc biệt những người bị xã hội bỏ rơi, những người cần sự hiện diện thăm hỏi của chúng ta. Những người bị con cháu bỏ rơi nằm ở đầu đường xó chợ, hãy đem họ về quán trọ trong trái tim của mình.

Ngày chúng ta nhắm mắt lìa đời, Chúa không hỏi chúng ta làm chức vụ gì, biết được bao nhiêu ngôn ngữ, đọc một ngày bao nhiêu kinh, đi hành hương mỗi năm bao nhiêu lần… nhưng chỉ hỏi chúng ta một điều duy nhất đó là: “Con có yêu mến Ta không?”. Mà thước đo lòng yêu mến Chúa được căn cứ vào đức bác ái đối với tha nhân, đặc biệt là những người bé nhỏ nghèo hèn.

Chớ gì khi đối diện với Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót trong giờ sau hết, chúng ta được nghe những lời âu yếm mời gọi: “Hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến lãnh lấy phần gia nghiệp đã dành cho các ngươi, vì xưa Ta đói các ngươi cho ăn, Ta khát các ngươi cho uống… hãy vào hưởng sự vui mừng hạnh phúc với Ta” Amen.

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

LÀM ĐẦY TỚ CHO MỌI NGƯỜI  –  Lm. Phêrô Lê Văn Chính

Trên trường đời, học hỏi để tự thay đổi, để tự huấn luyện bản thân là điều cần thiết. Học hỏi bằng lắng nghe người khác và nhất là lắng nghe Lời Chúa với lòng chân thành để lần hồi biết sửa đổi chính mình, để thực tập nhân đức, biết khiêm nhường phục vụ. Tự bản tính con người dễ nghiêng chiều theo đường xấu, dễ trở nên ác độc và phê phán làm hại người khác. Bài đọc thứ nhất từ sách Khôn ngoan cho thấy âm mưu của những người gian ác, không biết chân thành lắng nghe để sửa đổi, trái lại âm mưu để làm hại người công chính. Dù người công chính không làm gì chống họ, nhưng những kẻ ác độc này lại lấy việc người công chính sống và hành động ngay thẳng như một lời phê phán và khiển trách họ. Thay vì thành tâm sửa đổi những lỗi lầm của chính mình, những kẻ gian ác lại còn âm mưu bàn tính với nhau để làm hại người công chính. Hình ảnh người công chính bị những người gian ác âm mưu làm hại người  nhắc nhớ cái chết của các tiên tri và nhất là báo trước cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là điều mà Chúa Giêsu bận tâm giải thích cho các môn đệ về vận mệnh của người, Đấng cứu thế bị loại trừ, bị giết chết.

Bài Phúc âm theo thánh Marcô thuật lại hành trình Chúa Giêsu và các môn đệ trên đường đi ngang qua miền Galilêa cách âm thầm kín đáo không để cho ai biết. Sau một thời gian hoạt động và rao giảng ở Galillêa, Chúa Giêsu đã thực hành nhiều phép lạ, đã rao giảng về Nước Thiên Chúa, hoạt động này đã đủ để những người ở Galilêa hiểu người là Đấng cứu thế. Giờ đây, người tập trung vào việc huấn luyện cho các môn đệ nhiều hơn nhằm dẫn đưa các môn đệ đến chỗ nhận thức sâu sắc về căn tính Đấng cứu thế của người là Đấng cứu thế bị loại trừ, bị giết chết: “Con người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết người. Khi đã bị giết, ngày thứ ba người sẽ sống lại”. Đây là lần thứ hai mà Chúa Giêsu lại nhấn mạnh cho các môn đệ hiểu về vận mệnh Đấng cứu thế bị khai trừ của người với những lời như lần trước: con người sẽ bị nộp vào tay người đời. Động từ được nói đến là “trao nộp”. Nhưng ai sẽ trao nộp người. Thánh sử Marcô sẽ cho biết những kẻ trao nộp người chính là Giuđa, các thượng tế, Philatô. Nhưng ở đây, động từ được dùng ở thời thụ động: “bị trao nộp” được hiểu theo nghĩa thể thụ động thần linh. Chính Thiên Chúa là chủ thể của hành động, nhưng không nói rõ ra vì lý do kính trọng. Cái chết của Chúa Giêsu, dù được qui gán cho những người đã lên án và giết Chúa trong lịch sử cụ thể, nhưng cái chết này không phải chỉ là một tình huống đơn giản xảy ra trong lịch sử. Giáo hội, qua giảng huấn của các tông đồ, đã hiểu rằng cái chết này, cớ vấp phạm đối với những người do thái, điều điên rồ đối với những người hy lạp, lại phát xuất từ dự định mầu nhiệm của Thiên Chúa Cha. Đó chính là điều được diễn tả qua lời loan báo của Chúa Giêsu: “Con người phải chịu đau khổ và bị giết chết”. Chính Chúa Giêsu luôn hiểu, dù hoàn cảnh xảy ra như thế nào, mọi sự xảy đến cho người đều không ngoài thánh ý của Chúa Cha, và người vẫn luôn hướng theo thánh ý của Chúa Cha mà người tiến bước. Trong khi đó, thái độ của các môn đệ lại luôn chậm hiểu những điều Chúa Giêsu dạy dỗ nhắc nhở họ. Các ông tỏ ra đóng kín, không mau mắn đón nhận mạc khải của thầy. Các ông sợ hãi không dám hỏi thầy để hiểu rõ ý nghĩa những thử thách và đau khổ mà thầy sẽ gánh chịu. Về phần Chúa Giêsu, người luôn cố gắng để huấn luyện các môn đệ đón nhận một nhận thức mới mẻ và rất quyết định về vận mệnh cứu thế của người.

Sau đó, các ngài trở về nhà ở Carpharnaum. Khung cảnh có vẻ như thuận lợi vì cách xa dân chúng, để Chúa Giêsu có điều kiện để ở riêng với các môn đệ và có thể huấn luyện các ông nhiều hơn. Người hỏi các ông xem dọc đường các ông đã tranh luận gì. Người cũng khởi đầu bằng một phương pháp rất sư phạm là hỏi xem các môn đệ đã tranh luận gì. Các môn đệ thinh lặng bởi vì dọc đường các ông đã tranh luận xem ai là người lớn nhất, một chủ đề nghịch lại với lời dạy khiêm nhường phục vụ của thầy. Thánh sử Marcô đã trình bày rất trang trọng cử chỉ và thái độ của Chúa Giêsu: người ngồi xuống, gọi mười hai vị lại và dạy cho họ. Ngồi giảng dạy là tư thế của người thầy giảng dạy với uy quyền, đồng thời gọi nhóm mười hai lại với người nhằm muốn nói giáo huấn mà người sắp dạy các ông là giáo huấn quan trọng người muốn dành riêng cho các ông là nhóm mười hai sẽ giữ vai trò lãnh đạo các cộng đoàn tương lai. Người đảo lộn trật tự thường tình của con người bằng cách đặt người lớn hơn hết phải là người phục vụ mọi người, và người biết trở nên nhỏ bé để phục vụ mọi người sẽ là người được kể lớn hơn hết giữa mọi người. Và để minh họa cho lời giáo huấn của mình, Chúa Giêsu đã bồng một trẻ nhỏ, đặt em ở giữa và nhắc nhở các môn đệ. Cử chỉ ôm một em nhỏ, đặt em nhỏ ở giữa có nghĩa quan trọng. Theo tập tục của người xưa, họ thường không quan tâm đến vai trò của các trẻ em, mà ngược lại người ta coi thường các trẻ em. Ngay cả người ta vẫn có thói quen loại trừ các trẻ em bởi vì các em không biết lề luật. Thái độ của Chúa Giêsu thực khác thường, người đặt em nhỏ là thành phần bị loại trừ, một cách rất âu yếm ở giữa các môn đệ và nói với các môn đệ: “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người”. Đây quả là câu trả lời rất lạ thường của thầy Giêsu đối với vấn đề mà các môn đệ đang tranh luận : ai là người lớn nhất, bởi vì tranh luận xem ai là người lớn nhất trong khi thầy của mình đang cố gắng để theo con đường khiêm nhường phục vụ bằng cách đón nhận đau khổ và cái chết là điều vô nghĩa. Chúa Giêsu mở rộng viễn tượng cho các môn đệ bằng cách đưa các môn đệ đến một thái độ mới: tiếp đón những người bị loại trừ và khinh dễ, thay vì nhốt kín mình trong việc tìm kiếm những danh lợi cho riêng mình. Chúa Giêsu là người được Thiên Chúa sai đến, đón tiếp người chính là đón tiếp chính Thiên Chúa, nhưng để đón tiếp người, người ta phải can đảm để đón tiếp những người bị loại trừ trong cộng đoàn, đó là câu trả lời quyết định cho vấn nạn mà các môn đệ đang theo đuổi xem ai là người lớn nhất. Người lớn nhất quả là người biết phục vụ trong khiêm nhường cởi mở.

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- Năm B

YÊU THƯƠNG PHỤC VỤ-  Trích Logos B

Năm 1997 là năm của hai người phụ nữ nổi tiếng thế giới. Đó là Mẹ Têrêxa Calcutta và Công nương Diana. Vào ngày 05/9/1997, Mẹ Têrêxa đã qua đời tại Calcutta, Ấn Độ. Cả thế giới đã xúc động trước cái chết của Mẹ. Và trước đó một tuần, Công nương Diana của nước Anh đã qua đời trong một tai nạn xe hơi thảm khốc tại nước Pháp. Thế giới cũng xôn xao về cái chết của vị công nương lừng danh này.

Trong thời gian đó, một số tờ báo trên thế giới đã đăng một tấm hình đầy ý nghĩa về hai người phụ nữ được nhiều người biết đến này. Đó là tấm hình chụp Mẹ Têrêxa đứng bên cạnh Công nương Diana trong một lần hai người đi làm việc từ thiện. Đó là một hình ảnh hoàn toàn tương phản nhau. Công nương Diana cao lớn, xinh đẹp và quý phái, đứng bên cạnh Mẹ Têrêxa thấp bé, xấu xí và hèn kém.

Tuy nhiên, ở nơi Mẹ Têrêxa, một người nhỏ bé và hèn mọn, người ta đã tìm thấy một cái gì đó thật lớn lao và vĩ đại. Mẹ Têrêxa tuy là “người bé nhất” nhưng thật ra lại là “người lớn nhất”. Bởi vì Mẹ đã thực hiện lời Chúa Giêsu dạy trong bài Tin Mừng theo thánh Marcô hôm nay : “Ai muốn làm lớn nhất, hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người”.

Con đường tự hạ

Có một điều nghịch lý giữa Thiên Chúa và con người trong mầu nhiệm Cứu chuộc : Đó là trong khi Thiên Chúa cao cả đã xuống thế “làm người” thì con người thấp hèn lại muốn tôn mình lên “làm Thiên Chúa”. Chúng ta có thể tìm thấy điều nghịch lý đó trong câu chuyện Tin Mừng hôm nay.

Khi đi ngang qua xứ Galilêa, Chúa Giêsu một lần nữa lại loan báo về cuộc khổ nạn của Ngài cho các môn đệ. Đây là lần loan báo thứ hai về con đường đau khổ mà Chúa phải trải qua trước khi bước vào vinh quang Phục Sinh : “Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta và họ sẽ giết Ngài. Khi đã bị giết, ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại”.

Con đường tự hạ đó đã được Chúa Giêsu loan báo cho các môn đệ để chuẩn bị tâm hồn các ông vững vàng đón nhận những đau khổ sắp tới cùng với Thầy mình. Thế nhưng, các môn đệ đã không hiểu những lời tiên báo của Chúa Giêsu. Hay đúng hơn, các ông vẫn còn mang những ảo tưởng về con đường theo Chúa : đó là con đường vinh quang của quyền bính, con đường đem đến những lợi lộc trần thế.

Chính vì sống trong ảo tưởng như thế, trên đường đi, các môn đệ đã tranh luận với nhau xem ai là người lớn nhất. Có lẽ họ có ý tranh giành nhau địa vị và chức quyền trong ánh hào quang họ tưởng tượng ra khi Chúa Giêsu chiến thắng người La Mã và đem lại sự hưng thịnh cho người Israel. Chúa Giêsu đã đọc thấy rõ những ý nghĩ sai lầm đó của các môn đệ, nên Ngài đã dạy họ một bài học thật sâu sắc : “Ai muốn làm lớn nhất, hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người”.

Trở nên người hèn mọn như một người tôi tớ đó là con đường mà Chúa Giêsu đã đi. Ngài đã đi đến tận cùng con đường của người Tôi Tớ Giavê, khi Ngài trở thành Người Công Chính bị bách hại mà bài đọc I, trích sách Khôn Ngoan đã mô tả. Ngài đã mang lấy dung mạo của Người Công Chính bị kết án và chết cách nhục nhã trên cây thánh giá để đem ơn cứu chuộc cho nhân loại. Chúa còn thực sự muốn trở thành kẻ bé mọn khi Ngài đồng hóa mình với một em bé : “Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy”.

Hôm nay, con đường tự hạ đó vẫn tiếp tục mở ra để mời gọi chúng ta bước vào. Và một điều quan trọng nhất ta cần ý thức : chỉ qua con đường tự hạ đó, chúng ta mới thực sự bước vào vinh quang Phục Sinh.

Con đường phục vụ

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu còn khẳng định một nguyên tắc, cũng là một chân lý nền tảng : quyền bính chính là để phục vụ.

Trong xã hội cũng như trong Giáo Hội đều cần có quyền bính. Thế nhưng, quyền bính trong Giáo Hội được thực thi khác với quyền bính trong xã hội. Trong xã hội, quyền bính là thống trị, là dùng quyền lực để điều khiển và chi phối người khác. Nhưng trong Giáo Hội, quyền bính chỉ là phương tiện hay là công cụ để người ta phục vụ và phục vụ như chính Chúa đã phục vụ : Con Người đến để phục vụ chứ không phải để được người ta phục vụ. Và đỉnh cao của tinh thần phục vụ nơi Chúa Giêsu chính là Ngài đã hiến trao mạng sống mình cho nhân loại. Sự phục vụ cao cả và trọn vẹn nhất là Ngài đã chết trên Thánh Giá để mang lại sự sống đời đời cho nhân loại.

Con đường phục vụ mà Chúa Giêsu đã trải qua cũng là con đường mà Giáo Hội phải đi hôm nay. Chúa Giêsu đã phân định một cách rõ ràng con đường phục vụ dành cho Giáo Hội khác hẳn con đường của quyền lực và thống trị : “Các con biết rằng : thủ lãnh các dân thì lấy quyền mà thống trị. Những người làm lớn thì dùng uy quyền mà cai quản. Giữa các con thì không được như thế. Ai muốn làm lớn phải là người phục vụ, ai muốn làm đầu thì phải làm đầy tớ mọi người” (Mt 20, 26-28).

Đi theo con đường phục vụ ấy, Giáo Hội hôm nay đang tiếp tục “rửa chân cho nhau” và còn cúi xuống rửa chân cho những người khác nữa trong tinh thần khiêm tốn của một người tôi tớ. Tinh thần phục vụ ấy được thể hiện qua những đôi tay yêu thương của các chị nữ tu đang xoa dịu những vết thương thể xác nơi các bệnh nhân. Tinh thần phục vụ ấy còn được thể hiện qua những đôi chân thừa sai không biết mệt mỏi của các nhà truyền giáo đang bước đi gieo vãi Tin Mừng trong âm thầm lặng lẽ. Còn tinh thần phục vụ của chúng ta sẽ được thể hiện như thế nào ?

Các Đức Giáo Hoàng Rôma thường tự nhận cho mình tước hiệu “Đầy tớ của các đầy tớ Chúa”. Điều đó luôn được thể hiện trong cuộc đời Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Nhất là ngài đã lặp lại hành động của Chúa Giêsu được diễn tả trong bài Tin Mừng hôm nay : Chúa Giêsu đã ôm lấy một em bé để dạy các môn đệ biết tiếp nhận những người bé nhỏ nghèo hèn.

Đó là vào ngày 17/9/1987, trong chuyến viếng thăm San Francisco, Hoa Kỳ, Đức Cố Giáo Hoàng đến thăm tu viện Dolores, nơi chăm sóc các nạn nhân Aids. Đang bước đi chầm chậm để ban phép lành cho mọi người, ngài bỗng nghe thấy tiếng đứa bé : “Con chào Đức Thánh Cha”. Quay lại, ngài nhìn thấy một em bé xanh xao gầy còm đang bò tới bên ngài. Đôi mắt xanh của em bé đang nhỏ lệ. Ngài dừng lại, cúi xuống bế lấy đứa bé và ôm vào lòng. Đó là bé Brendan, 4 tuổi, nạn nhân của bệnh Aids. Người ta chụp được bức ảnh ngài đang ôm đứa bé vào lòng. Và người ta đã bày tỏ cảm nghĩ : “Đức Thánh Cha muốn chứng tỏ trước hết rằng : khi giúp đỡ một người đau khổ, việc đầu tiên là hãy ôm lấy họ”. Hai năm sau, em bé Brendan đã qua đời. Nhưng có lẽ em rất hạnh phúc vì đã được ở trong vòng tay yêu thương của vị đại diện Đức Kitô ở trần gian.

Hành động của Đức Cố Giáo Hoàng như một lời nhắc nhở dành cho chúng ta hôm nay : hãy biết mở rộng vòng tay để đón nhận những người đau khổ và bất hạnh.

Từ khóa:

làm người

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
Tin Giáo phận
Tin mới