Các bài suy niệm Chúa Nhật 31 B

Đăng lúc: Thứ sáu - 02/11/2018 23:21 - Người đăng bài viết: Ban Truyen Thong

 

CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN – B

 

Lời Chúa: Đnl 6, 2-6;  Dt 7, 23-28;  Mc 12, 28b-34

——-

DẪN NHẬP

Lời Chúa:“Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng; ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình” (Mc 12,30-31).

Nhập lễ:

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,

Phụng vụ Lời Chúa chúa nhật 31 thường niên hôm nay cho chúng ta thấy, qua cuộc trao đổi giữa Chúa Giêsu và người Luật sĩ về giới răn trọng nhất, Chúa Giêsu xác định giới răn quan trọng nhất làm nền tảng cho cuộc sống là mến Chúa và yêu người.

Giới răn tóm lại hai điều:

Một là mến Chúa, hai yêu thương người.

Tôn thờ Thiên Chúa trọn đời,

Yêu người khắp chốn khắp nơi trọn tình.

Ai ơi ghi nhớ đinh ninh,

Thực thi Lời Chúa với tình mến yêu.

Hiệp dâng thánh lễ hôm nay, xin Chúa giúp chúng ta ý thức cốt lõi của Đạo Công giáo là mến Chúa yêu người, để chúng ta biết  nhiệt tâm tuân giữ và đem ra thực hành trong đời sống mình. Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta hãy thành tâm sám hối.

Sám hối:

X. Lạy Chúa, Chúa là Thiên Chúa, là Đấng cứu độ trần gian. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa Kitô, Chúa dạy chúng con yêu mến Thiên Chúa hết lòng và yêu thương anh em như chính mình. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa, Chúa chính là tình yêu. Chúa yêu thương hết thảy mọi người. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

Kết: Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.

CĐ: Amen.

Suy niệm:

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Dân tộc Israel được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn làm dân riêng của Ngài. Thiên Chúa giải thoát họ khỏi cảnh nô lệ nhà Ai cập, dẫn đưa họ vào hoang địa đến núi Sinai gần chóp đỉnh của một bán đảo, một nơi vắng vẻ và kinh hoàng. Chính nơi đây đã diễn ra một biến cố, một sự kiện làm nên tính tôn giáo, hơn nữa nó là trung tâm của lịch sử cứu độ mà muôn đời dân Israel phải ghi nhớ, đó là Giao Ước Sinai. Thiên Chúa đã ký kết với họ một giao ước do Môsê làm trung gian. Giao ước này được ký kết vào khoảng thế kỷ 13 trước công nguyên có nội dung như sau: Thiên Chúa là Đấng nhận Israel làm dân riêng của Ngài và luôn yêu thương phù trợ họ; Israel nhận Thiên Chúa là Chúa duy nhất họ phải tôn thờ. Chính trong bối cảnh đó, ông Môsê kêu gọi họ: các ngươi hãy kính sợ Chúa là Thiên Chúa, hãy tuân giữ mọi huấn lệnh và giới răn của Ngài để được sống lâu, được hạnh phúc trong miền đất chảy sữa và mật. 

Thưa anh chị em, trang Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu nhắc lại một lần nữa tính ưu việt của lề luật khi trả lời người Luật sĩ: “Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng; ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình”. Đó là giới răn quan trọng nhất làm nền tảng cho cuộc sống tôn giáo đã được ghi chép cẩn thẩn với 613 khoản luật Do thái, và Chúa Giêsu  xác định: “không giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó”. Nói cách khác, yêu mến là giới răn lớn nhất: yêu mến Thiên Chúa và yêu mến đồng loại. Cựu ước cũng đã đòi hỏi dân chúng yêu thương đồng loại. Nay Chúa Giêsu tái xác nhận. Điều này không có gì mới. Tính mới mẻ của giáo huấn Chúa Giêsu chính là nối kết hai giới răn đó nên một luật lớn nhất, một giới răn duy nhất nhờ tình yêu không chỉ bằng lời nói suông, nhưng bằng hành động thực sự. Đây là một kết luận tuy đơn sơ nhưng rất sắc bén của thánh Gioan: “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?”. Một tình yêu chân thật đối với Thiên Chúa thôi thúc chúng ta đem hết tài năng và của cải mà phục vụ người khác.

Có một câu chuyện kể rằng, người con gái của Karl Marx có lần tâm sự với người  bạn: “Tôi lớn lên mà không hề biết bất cứ tôn giáo nào. Tôi cũng không tin tưởng Thiên Chúa. Thế rồi tình cờ tôi đọc một quyển sách trong đó có lời kinh khác lạ. Tôi đọc hết lời kinh ấy và tự nhủ: nếu quả thật Thiên Chúa của lời kinh đó hiện hữu, tôi nghĩ rằng tôi có thể tin Ngài được”. Người bạn hỏi cho biết đó là lời kinh nào. Người con gái của Karl Marx mới từ từ đọc lại Kinh Lạy Cha.

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Tình cha con và tình anh em được Chúa Giêsu mặc khải qua Kinh Lạy Cha. Hãy sống với Cha trong tình phó thác, với anh em trong tình bác ái. Tình yêu Thiên Chúa và tha nhân này còn được Chúa Giêsu đẩy xa hơn nữa: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: đó là Chúa Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em”. Chính trong khung cảnh này mà tính mới mẻ của giáo huấn Chúa Giêsu đạt tới đỉnh cao: “như Thầy đã yêu mến anh em, anh em cũng hãy yêu mến nhau. Chính nơi điều này mà mọi người nhận ra anh em là môn đệ của Thầy là anh em có lòng yêu thương nhau”. Tựu trung, tình yêu làm cho chúng ta nên giống Chúa Kitô: yêu mến Thiên Chúa thì phải yêu mến tha nhân và muốn yêu mến tha nhân thì cũng phải tôn thờ Thiên Chúa.

Nguyện xin Chúa xin giúp chúng ta biết yêu mến Chúa bằng chính cuộc sống thương yêu chia sẻ của chúng ta đến với anh chị em đồng loại, để chúng ta luôn thi hành lệnh Chúa truyền cách trọn hảo trong cuộc sống hằng ngày. Amen.

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang.

 

 

Mục lục

1. Lời nói và việc làm (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Luật tối thượng  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Sống yêu thương giữa thế giới hận thù (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

4. Luyện lòng nhân  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

5. Mến Chúa yêu người (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

6. Thể hiện tình yêu đối với Thiên Chúa qua việc phục vụ tha nhân (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

7. Tình yêu là sự hoàn thiện của con người  (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)

8. Yêu thương  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

9. Suy niệm Chúa Nhật 31 Thường niên_B  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

10. Tin mừng Chúa Nhật 31 (Jorathe Nắng Tím)

11. Việc làm của đức tin là đức ái  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

12. Thực hành mến Chúa yêu người trong cuộc sống (Lm. Đan Vinh)

13. Giới răn mến Chúa yêu người  (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

14. Mến Chúa yêu người. (Lm. Gioan Nguyễn Thiên Khải, CRM)

15. Đạo yêu thương  (PM. Cao Huy Hoàng)

16. Giới răn hàng đầu (JM. Lam Thy, ĐVD)

17. Tình yêu Chúa (Lm. Vũ Đình Tường)

18. Điệu lý yêu thương (Trầm Thiên Thu)

.

.

LỜI NÓI VÀ VIỆC LÀM

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Có người đã nhận định một cách khôi hài: từ miệng đến bàn tay, khoảng cách không bao xa, mà phải mất nhiều thời gian đến thế! Cũng từ miệng đến bàn tay, chẳng bao xa, mà lời nói đã phôi phai nhạt nhòa. Điều đó có nghĩa, việc làm cụ thể phù hợp với lời nói thật khó biết bao. Người ta thường nhắc đến những mỹ từ, những công thức văn chương, như những câu thuộc lòng, nhưng ít khi người ta chú trọng đến việc thực hiện những ngôn từ ấy trong cuộc sống cá nhân của mình. Trung tín và làm theo những gì đã nói, quả thật là một điều thật khó khăn. Lời Chúa hôm nay muốn chúng ta suy tư về điều này, đồng thời nhắc ta hãy cố gắng làm cho lời nói đi đôi với việc làm.

Lâu nay, trong quan niệm truyền thống, các ngành nghề như bác sĩ, giáo viên luôn được tôn trọng, vì họ là những người làm việc theo lương tâm nhà nghề. Tuy vậy, nhiều sự kiện xảy ra gần đây cho thấy, những người mang danh hiệu cao quý này cũng đánh mất niềm tin, có nghĩa là lời nói của họ không đi đôi với việc làm. Đáng buồn hơn nữa, giữa những cộng đoàn đức tin hoặc những người lãnh đạo tinh thần của các cộng đoàn, việc làm của họ cũng không phản ánh trung thực như những gì họ thường tuyên xưng. Đó chính là một rào cản lớn cho sự phát triển của Giáo Hội và cho công cuộc truyền giáo. Làm sao mà chứng từ của chúng ta có tính khả tín, khi giữa cộng đoàn đức tin còn nhiều tranh chấp, chia rẽ, khi lối sống của chúng ta hoàn toàn đi ngược với những gì chúng ta nói và rao truyền?

“Hỡi Israen, hãy nghe và lo đem những điều ấy ra thực hành; như vậy, anh em sẽ được hạnh phúc và trở nên thật đông đảo, trong miền đất tràn trề sữa và mật, như Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em đã phán với anh em”. Qua những lời này, ông Môi-sen muốn khẳng định với những người Do Thái: những mệnh lệnh Chúa truyền dạy không thể chỉ được lắng nghe, nhưng phải được thực hành. Một số người Do Thái đạo đức quá chú trọng đến tuân giữ Lề luật một cách tỉ mỉ, mà lại lãng quên việc thực thi tinh thần của Lề luật. Vì vậy, Chúa đã khiển trách họ: “Dân này chỉ tôn kính Ta bằng môi bằng mép, còn lòng chúng thì xa Ta” (Mc 7,6). Thực hành lời Chúa dạy là bảo đảm cho chúng ta được hạnh phúc đời này và đời sau. Lời hứa miền đất tràn trề sữa và mật, trong truyền thống Do Thái, là niềm hy vọng nuôi dưỡng niềm tin của dân riêng Chúa đã chọn. Đối với người Ki-tô hữu, đó chính là hạnh phúc đời đời Thiên Chúa ban cho những ai thực thi lòng mến Chúa yêu người.

Mến Chúa hết lòng và yêu tha nhân như chính mình. Có thể nói, hai vế của giới luật này bao gồm lý thuyết và thực hành. Bởi lẽ, yêu mến Chúa chỉ được thể hiện qua những công thức hoặc qua những lời cầu nguyện tôn vinh, còn yêu tha nhân thì phải được thực hành bằng những việc làm cụ thể. Nói mến Chúa xem ra không khó, nhưng yêu người thực sự là vô cùng khó khăn. Những ai chỉ khẳng định mình mến Chúa, mà trong thực tế, không thực hiện đức yêu người, xem ra họ chỉ dừng lại ở lời nói, mà chưa thể hiện qua việc làm.

Trước câu hỏi của ông kinh sư: “Đâu là giới răn hàng đầu?”, Chúa Giê-su muốn nhắc lại giới răn quan trọng của Cựu ước, là giới răn mến Chúa yêu người. Theo nội dung Tin Mừng, dường như Chúa Giê-su muốn kết hợp hai giới răn này thành một, khi Người gọi vế thứ nhất là “điều răn đứng hàng đầu, và sau đó Người tuyên bố: “Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều đó”. Như thế, giáo huấn của Chúa thâm sâu hơn giáo huấn của Cựu ước. Lời kinh được ghi trong sách Đệ nhị luật (Bài đọc I) được gọi là “Shema Israel – Nghe đây, Israel” được coi như kinh Lạy Cha của các Ki-tô hữu hôm nay. Đó là lời kêu gọi hãy mến Chúa một cách trọn vẹn. Giáo huấn của Chúa Giê-su không chỉ dừng lại ở tâm tình mến Chúa, mặc dù đó là tình mến “hết lòng, hết dạ, hết sức”, nhưng thúc đẩy mọi người chứng tỏ tình mến ấy qua những hành động cụ thể với những con người bằng xương bằng thịt đang sống xung quanh.

“Ông không còn xa nước Thiên Chúa bao nhiêu!”. Đây vừa là lời tán thưởng, và cũng là lời cảnh báo. Chúng ta không biết rõ ông kinh sư có thực thi những gì Chúa dạy, hay ông chỉ học thuộc lòng như một cái máy. Tác giả Mác-cô kết luận: “Không ai dám chất vấn Người nữa”. Đây là cách diễn tả rất độc đáo của Thánh Mác-cô, vì dưới ngòi bút của tác giả, lời giảng dạy của Chúa Giê-su luôn có sức thuyết phục ngay cả những đối phương của Người, vì Người là vị Ngôn sứ cao cả và uy quyền.

Lời nói phải đi đôi với việc làm, mến Chúa phải được thể hiện qua tình yêu đối với tha nhân. Đó là thông điệp quan trọng mà Lời Chúa muốn nhắn gửi chúng ta. Thành tâm đón nhận và chuyên cần thực thi Lời Chúa sẽ giúp chúng ta đạt tới hạnh phúc trong tâm hồn, và hân hoan tin tưởng hướng về đời sau.

Về mục lục

.

LUẬT TỐI THƯỢNG

Tgm. Ngô Quang Kiệt

Không có dân tộc nào say mê luật như dân tộc Do Thái. Người Do Thái đặt ra đủ các thứ luật. Họ giữ luật cặn kẽ chi li. Họ học luật ngay từ khi còn nhỏ. Họ đeo cả lề luật trên trán, trên tay. Nhưng vì quá say mê luật nên họ bị luẩn quẩn trong một mớ bòng bong, không còn biết giữ luật thế nào cho đúng, không còn biết đâu là luật quan trọng đâu là luật bình thường. Hôm nay, nhân một thắc mắc rất hợp lý, Chúa Giêsu đã giải thích cho họ những điểm then chốt trong lề luật. Đó là:

Thiên Chúa là độc nhất vô song. Đây là một chân lý nhưng nhiều khi bị lãng quên. Thiên Chúa là chủ tể muôn loài. Ngài là Đấng duy nhất cao cả. Không ai có thể sánh bằng. Ngài dựng nên muôn loài muôn vật. Ngài là nguồn mạch sự sống của muôn loài muôn vật. Ngài là mục đích của muôn loài muôn vật. Vũ trụ chỉ tồn tại trong Ngài. Vì thế ta phải yêu mến Ngài trên hết mọi sự.

Yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự. Tuy nhiên Chúa là chúa tể mọi loài. Quyền uy vô song tuyệt đối. Nhưng Ngài là Thiên Chúa rất mực yêu thương. Ngài ban cho ta sự sống. Ngài nhận ta làm con của Ngài. Ngài cai quản vũ trụ không bằng quyền uy nhưng bằng tình thương. Ngài là người cha luôn yêu thương con cái. Ngài mong muốn ta đáp lại bằng tình yêu mến Ngài. Yêu mến Thiên Chúa không những là điều công bằng và hợp tình hợp lý, mà còn đem lại cho ta sự sống và hạnh phúc. Xa lìa Thiên Chúa đưa ta đến diệt vong vì mất sự sống và mất hạnh phúc. Nhưng con người yếu hèn, lại bị ma quỉ cám dỗ, nên thường lãng quên Thiên Chúa, coi thường Thiên Chúa và phản bội tình yêu của Ngài.

Yêu tha nhân như chính mình. Thiên Chúa là Đấng vô hình vô ảnh ta không thấy được. Ta nói yêu mến Thiên Chúa, điều đó khó mà kiểm chứng được. Nên Thiên Chúa đã ràng buộc điều răn mến Chúa vào điều răn yêu người. Yêu Chúa thì phải yêu tha nhân. Yêu tha nhân là bằng chứng yêu mến Chúa. Còn hơn thế nữa, yêu tha nhân chính là yêu Chúa. Vì Chúa đã tự đồng hóa với con người, với những người bé nhỏ nhất trong xã hội. Điều này chính Chúa Giêsu đã công khai minh định: “Ta bảo thật, mỗi lần các ngươi giúp đỡ một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”. Thành ra hai giới răn chỉ là một. Đó chỉ là hai khía cạnh của cùng một giới răn.

Qua lời dạy hôm nay Chúa muốn cho ta hiểu rằng tình yêu là quan trọng nhất. Tình yêu là giới răn đứng hàng đầu trong các giới răn. Mọi lề luật đều phải hướng đến tình yêu. Ai chu toàn tình yêu là chu toàn lề luật. Như câu kết của kinh Mười điều răn: Mười điều răn ấy tóm về hai điều này mà nhớ: Trước kính mến một Thiên Chúa trên hết mọi sự. Sau lại yêu người như mình ta vậy.

Qua lời dạy hôm nay Chúa muốn cho ta hiểu rằng lề luật của Chúa thật nhẹ nhàng vì lề luật chính là tình yêu. Nếu yêu mến Chúa và yêu mến anh em, ta sẽ thấy việc giữ luật không còn gì khó khăn nữa. Tình yêu sẽ làm cho ta cảm nếm sự ngọt ngào trong việc tuân giữ lề luật. Như lời Chúa mời gọi: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng”.

Qua lời dạy hôm nay Chúa muốn giúp ta xây dựng một thế giới mới chan chứa tình người. Thế giới còn chiến tranh, xã hội còn nhiều bất công vì con người chưa tuân giữ luật Chúa. Nếu mọi người biết yêu mến Chúa và yêu mến nhau, thế giới sẽ tươi đẹp, cuộc sống sẽ hạnh phúc.

Lạy Chúa, xin dạy con biết yêu mến Chúa.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Yêu mến Chúa trên hết mọi sự. Bạn có thấy điều này là hợp tình hợp lý không?

2) Tại sao ta phải yêu mến tha nhân?

3) Bạn hãy tưởng tượng ra một thế giới trong đó mọi người giữ luật yêu mến Chúa và yêu mến tha nhân. Bạn thấy thế giới đó thế nào?

Về mục lục

.

SỐNG YÊU THƯƠNG GIỮA THẾ GIỚI HẬN THÙ

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Hàng ngày đọc tin tức ta sẽ thấy chán ngán thế sự mà thốt lên như Nguyễn Du đã từng than rằng:

“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”

Vâng”, mạng xã hội chúng ta sẽ thấy gì?

Tôi đã thấy mộtbác sĩ lợi dụng lúc mẹ của bệnh nhi đi lấy giấy xét nghiệm, hắn hãm hiếp đứa bé mới 3 tuổi.

Tôi cũng thấy những nữ sinh phải ngủ với thầy giáo để được điểm tốt, những sinh viên ra trường phải trao thân mới có việc làm. Tôi còn thấy bộ trưởng gíao dục mặc nhiên cho phép sinh viên bán dân 3 lần, nếu lần thứ tư mới bị đuổi học!

Tôi còn thấy những bảo mẫu đánh trẻ không chút nương tay. Những nghịch tử bất hiếu ra tay độc ác với đấng sinh thành.

Tôi không chỉ thấy một gã thanh niên có học chặt chém bạn gái mình thành từng khúc,màcả người vợ ân ái lại chặt chồng thành nhiều khúc vất vương vãi trên đường.

Tôi thấy người đi đường bị cướp, may mắn giật lại được túi tiền, nhưng túi rách, tiền bay ra, xung quanh thiên hạ xúm lại nhặt, nhưng không phải nhặt giúp, mà nhặt hết đi không chừa lại đồng nào. Thay vì bị 1 đứa cướp, anh ta bị cả con đường đè ra mà cướp… Còn rất nhiều tin.

Đây là những hình ảnh đáng buồn của con người Việt Nam hôm nay.  Sự hoà khí, hoà hợp giữa con người với nhau đang mất dần mà thay vào đó là bạo động, là tranh chấp, thù hận. . . Ngày nay, người ta có thể đánh nhau, thậm chí giết người vì những nguyên nhân nhỏ nhặt. Chuyện đi đường va chạm giao thông, va chạm không xin lỗi, nhìn đểu, nói lớn tiếng, nặng lời,…đều dẫn đến ẩu đảgây thương tích cho nhau.

Không chỉ bạo lực trong sinhhoạt thường ngày mà ngay cả những nơi thánh thiêng của lễ hội Chùa chiền vẫn có những thảm án đẫm máu bởichen lấn, giành giựt . . . như ở Đền Trần hay Đền Gióng  , . . .

Các chuyên gia tội phạm cho rằng đây là hệ lụy của sự vô cảm, thái độ sống ích kỷ, chỉ biết mình, tâm lý chụp giật, tôn thờ vật chất, sống thực dụng… dẫn đến thái độ sống thơ ơ trước nỗi đau đồng loại, vô cảm trước việc làm sai trái xảy ra hàng ngày.

Xã hội là vậy nhưng còn người Công giáo thì sao? Liệu chúng ta có thể sống làm chứng cho tình yêu như Thiên Chúa mời gọi hay không?

Trong những dịp bác ái cứu trợ tôi thấy người Công giáo ít ra không vô cảm với khổ đau của tha nhân. Ai cũng rộng lòng của ít lòng nhiều cùng chia sẻ với những người bị thiên tai. Tôi cũng thấy rất nhiều những cá nhân tự nguyện dấn thân để đem tình thương đến cho người nghèo, người tâm thần, người bất hạnh qua những chén cơm, chén cháo đầy tình nghĩa. Tôi cũng thấy nhiều giáo xứ, nhiều đoàn hội bao bọc cho một cô nhi viện hay một nhà dưỡng lão dành cho người vô gia cư.

Đây là nét đẹp của người Công giáo. Đây là điểm son mà chúng ta cần phát huy hơn nữa. Vi chưng “người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy là hãy yêu thương nhau”.

Lời Chúa hôm nay còn mời gọi chúng ta là người ky-tô hữu phải biết sống yêu thương. Yêu thương là lẽ sống của người tín hữu. Yêu thương cũng là nét đẹp của người tín hữu. Yêu thương là trở nên giống Thầy Giê-su. Vì Thầy đã từng làm gương về một đời sống yêu thương.

Cuộc đời Chúa Giê-su luôn yêu thương. Ngài yêu thương nhân loại nên luôn xả thân cứu người. Từng hơi thở. Từng bước chân của Ngài luôn là những nhịp cầuyêu thương. Ngài đã trở nên khuôn mẫu cho mọi tình yêu, vì “không có tình yêu nào cao quý hơn, tình yêu dám thí mạng vì bạn hữu”.

Hôm nay Chúa bảo người biệt phái: “ông không còn xa Nước Trời bao nhiêu”. Từ ngữ không còn xa như muốn nói tình trạng của ông hiểubiết luật nhưng chưa thực sự sống yêu thương. Ông hiểu luật. Ông biết luật mến Chúa yêu người. Nhưng cái biết còn phải đi đến thực hành mới vào được Nước Trời.

Là người ky-tô hữu Chúa cũng bảo “không phải ai nói lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời đâu”. Điều quan yếu là thực hành những điều Chúa dạy mới được ở bên Chúa trong Nước Trời.

Ước gì chúng ta hãy noigương ThầyGiê-su để trở thành con người đẹp, con người có nhân cách, có nghĩa khí trước mặt mọi người. Xin cho chúng ta được vào Nước Trời khi sống những điều mình tin bằng việc mang ra thực hành lời Chúa dạy. Amen

Về mục lục

.

LUYỆN LÒNG NHÂN

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Lòng nhân ái liên quan đến lòng mến Chúa, như là thước đo của lòng mến. Nhân ái là một thành phần quan trọng của con người vốn có và có thể mất đi nếu không chuyên lo bồi dưỡng và thực luyện. Chúa Giê su dạy: Mến Chúa hết lòng hết sức và tha nhân cũng yêu mến như vậy. Luyện lòng nhân ái thế nào như Chúa muốn?

Nuôi dưỡng tâm tình tạ ơn từ buổi sớm:

Lòng nhân không ở bên ngoài mà ở bên trong tâm hồn của chính mình. Thế nên, nuôi dưỡng lòng nhân trước tiên là nuôi dưỡng tâm hồn mình bằng cách nhìn ra những hồng ân Chúa ban. Tạ ơn vì một ngày mới, một sự sống mới của ngày bắt đầu, những bạn bè, những công việc, biết bao điều tốt lành Chúa ban. Nuôi dưỡng là bơm vào tâm hồn mình những điều tích cực để sống ngày vui tươi. Chúa Giê su cũng đã thực hiện như thế mỗi buổi sớm lên núi cầu nguyện và dâng lên tâm tình tạ ơn: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.” (Mt 11, 25)

Nuôi dưỡng tâm hồn cảm thông.

“Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9, 36). Ai trong chúng ta đều cần có sự cảm thông, vì mỗi người đều có những nỗi niềm riêng và cả những lúc bồng bột trong lời nói, việc làm làm phiền lòng người khác. Lắm lúc chẳng hiểu về chính mình tại sao lại như thế! Cảm thông là một điều cần thiết tạo nên tính hiệp thông, cùng nhau chia sẻ niềm vui nỗi buồn, san sẻ những lo âu, buồn phiền, giúp nhau sống tốt hơn qua những thăng trầm.

Thực hành cảm thông

Cảm thông xuất phát từ lòng nhân ái và từ trong lòng sẽ xuất hiện cần làm gì cho người khác vơi bớt đau khổ. Trong nhiều trường hợp, Chúa Giêsu chữa người què, cho người mù được thấy, chữa những tâm hồn tan nát bằng lòng thương xót… Chính lòng nhân sẽ chỉ làm gì tốt nhất, từ lời nói, việc làm. Khi thực hành lòng nhân, chính mình sẽ thấy nhu cầu chung của mọi người, dù giàu sang hay thấp hèn là đi tìm hạnh phúc và hạnh phúc chỉ tìm thấy được khi sống niềm vui với người khác.

Tình yêu cao quý là tình yêu chết cho người mình yêu, mang lấy thập giá cuộc đời của nhau. “Thật vậy, Đức Ki-tô đã chịu đau khổ vì anh em, để lại một gương mẫu cho anh em dõi bước theo Người. Người không hề phạm tội; chẳng ai thấy miệng Người nói một lời gian dối. Bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa lại, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe; nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bình. Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành.” (1Pt 2, 21 – 24)

Nguyên Tắc Vàng

“Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7, 12)

Một điều rất đơn giản trong cuộc sống tương quan, thế nhưng cũng đã bao lần làm cho những người khác điều không thích cho mình. Có nhiều nguyên nhân:

Biết nghĩ cho mình mà không biết nghĩ cho người. Biết tốt cho mình mà không biết tốt cho người… Chung quy cũng vì cái tôi ích kỷ mà đánh mất người khác trong trái tim mình. Bao nhiêu điều sống phiền lòng anh chị em cũng vì cái tôi ích kỷ.

Để sống như Chúa dạy, đôi khi làm ơn mắc oán, đôi khi bị hiểu lầm, hoặc mình hiểu lầm người khác…

Nuôi dưỡng đức ái.

Bằng những thực hành cụ thể, Thánh Phaolô phác họa con đường đức ái: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.” (1 Cor 13, 4 – 7)

Dành buổi tối kiểm lại đời sống.

Những gì đã làm được và chưa làm được. “Chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn” (Ep 4, 26). Quyết tâm hơn mỗi ngày “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5, 48)

Xin Chúa dạy chúng con có lòng thương cảm như Chúa, biết đem ra thực hành Lời Chúa mỗi ngày và sửa lại những lỗi lầm với anh chi em mà chúng con đã vấp phạm.

Về mục lục

.

MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Đạo Công giáo có mười giới răn. Những giới răn này do ông Môsê nhận từ  Thiên Chúa trên núi Sinai, để dạy dỗ dân chúng sống theo luật Chúa. Do Thái giáo khi xưa cũng dựa trên Thập giới để răn bảo dân chúng sống theo đường lối của Chúa. Tuy nhiên, qua nhiều thế hệ, họ đã chú giải thêm thành 613 điều luật.Trong đó có 248 luật khuyên làm và 365 luật cấm không được làm. Họ không đồng ý với nhau được điều răn nào là điều răn trọng nhất, nên hôm nay mới có câu chuyện một luật sĩ đến hỏi Chúa Giêsu :” Trong các giới răn, điều nào trọng nhất ? “.

Vâng, người luật sĩ là người rất thông luật trong Đạo Do Thái, tuy nhiên đứng trước nhiều luật lệ khuyên làm và cấm làm. người  luật sĩ này cũng phân vân không biết đâu là điều luật quan trọng và đâu là điều con người phải hết sức trân trọng, giữ gìn. Chúa Giêsu đã không trả lời úp mở với người này. Ngài nói ngay:”Hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi.Còn giới răn thứ hai : Hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi “ ( Mc 12,30-31 ). Chúa Giêsu trích dẫn đoạn văn Shema của dân Ít-ra-en : Sách Đệ Nhị Luật đoạn 6,4-5 :” Nghe đây hỡi Ít-ra-en …”. Đây chính là đoạn văn tóm kết tất cả nội dung và giáo huấn quan trọng trong Sách Luật :” Mến Chúa và Yêu người”. Thực vậy, Đức Giêsu đã nâng giới răn yêu người ngang tầm với mến Chúa. Ngài đã đưa luật yêu người lên tầm cao mới, chiều sâu mới nghĩa là “Nếu ai nói mến Chúa mà không yêu người, đó là người nói láo như thánh Gioan đã quả quyết dứt khoát, mãnh liệt :” Nếu ai nói : “ Tôi yêu mến Chúa “ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy,thì không thể yêu mến Thiên Chúa, Đấng mà họ không thấy “ ( 1Ga 4, 20 ).

Thiên Chúa không hiện ra như đã trực tiếp ở với các môn đệ khi xưa để dạy dỗ, uốn nắn các ngài và minh chứng cho các ngài Lòng Thương Xót của Ngài. Ngài dạy các môn đệ thờ lạy một Thiên Chúa duy nhất và yêu mến tha nhân như chính mình. Ngày nay, Chúa cho chúng ta sống bên cạnh những người xung quanh, họ là hiện thân của Chúa. Chính vì thế, khi chúng ta giúp đỡ,chia sẻ và yêu thương họ là chúng ta cũng đang yêu thương Chúa.Thiên Chúa thật rộng lượng bởi vì qua Đức Giêsu, Ngài đã đồng hóa minh với người đói, người khát, người rách rưới, người nghèo, người tù tội vv…và mỗi lần chúng ta giúp đỡ một trong những người này là gchúng ta đang giúp chính Chúa.

Chúng ta dành cho Chúa những tình cảm sâu xa,trái tim tinh tuyền của mỗi người chúng ta bởi vì Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu, chậm bất bình và hết mực yêu thương. Đàng khác với những cử chỉ chân thành, một nụ cười, một lời nói dịu dàng, yêu thương, chúng ta có thể sưởi ấm tâm hồn của những người đang gặp thử thách, những tâm hồn băng giá cuộc đời. Lúc đó, chúng ta sẽ ra khỏi sự giới hạn của tình yêu bình thường của con người, để vươn cao tới tình yêu Thiên Chúa. Bởi vì, thước đo của tình yêu của chúng ta dành cho Thiên Chúa cũng là thước đo tình yêu của chúng ta đối với nhau.  Yêu như Chúa yêu :” Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu “ ( Ga 15, 13 ).

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con cảm nghiệm sâu xa lời nói của thánh Augustinô :” Tình yêu có đôi chân đến với người nghèo.Tình yêu có đôi mắt để thấy nỗi bất hạnh và thiếu thốn.Tình yêu có đôi tai để nghe được tiếng than thở và nỗi buồn phiền của tha nhân”.Xin cho chúng con luôn xác tín : Chúng con chỉ thực sự mến

Chúa khi chúng con hết lòng yêu mến tha nhân.Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Người luật sĩ Do Thai đã hỏi Chúa Giêsu điều gì ?

2.Chúa Giêsu đã đáp lại làm sao ?

3.Tại sao nói mến Chúa mà không yêu anh em là người nói dối ?

4.Thánh Gioan đã nói sao về việc này ?

5.Tại sao không yêu thương nhau, chúng ta không thể mến Chúa ?

Về mục lục

.

THỂ HIỆN TÌNH YÊU ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA

QUA VIỆC PHỤC VỤ THA NHÂN

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Trong đạo Do-Thái, từ “Mười Điều Răn” Đức Chúa Trời ban cho ông Mô-sê trên núi Xi-nai, các thầy Ráp-bi diễn giải thêm thắt thành 613 điều khoản, trong đó có 248 điều buộc và 365 điều cấm.

Khi có người thông luật đến hỏi xem điều răn nào trọng nhất trong số 613 khoản luật ấy, Chúa Giê-su trả lời ngay: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi (Đnl 6,5); Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình (Lv 19,18). Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.” (Mác-cô 12, 29-31)

Chúa Giê-su nhập hai giới răn thành một

Điều răn mến Chúa được ghi trong sách Đệ Nhị Luật, điều răn yêu người được chép ở sách Lê-vi, thuộc về hai bộ sách khác nhau đã được Chúa Giê-su liên kết thành một điều răn duy nhất là mến Chúa yêu người.

Thế nhưng, có nhiều tín hữu vẫn xem việc mến Chúa và yêu người là hai điều riêng biệt, chẳng liên hệ gì đến nhau. Người ta tưởng có thể hết lòng tôn kính phụng thờ Thiên Chúa nhưng đồng thời vẫn ghét bỏ, bạc đãi con người.

Chúa Giê-su phá bỏ quan điểm sai lầm đó khi nối kết giới răn mến Chúa và yêu người thành một và Người nhấn mạnh rằng chính khi yêu người cũng là lúc mến Chúa và tình yêu đối với Thiên Chúa phải được thể hiện qua tình yêu thương anh chị em chung quanh và những gì ta làm cho tha nhân là làm cho chính Chúa.

Tại sao lại như thế?

Thiên Chúa và con người chỉ là một

Khi Sao-lê bắt bớ các tín hữu đầu tiên theo Chúa Giê-su, ông bị Chúa Giê-su quật ngã trên đường Đa-mát và Người lên tiếng quở trách: “Sao-lê! Tại sao ngươi bắt bớ Ta?”

Thực ra, lúc bấy giờ, Sao-lê chỉ lùng bắt các tín hữu của Chúa Giê-su thôi, còn Chúa Giê-su thì đã phục sinh và lên trời rồi thì làm sao có thể bắt bớ Người được. Vậy mà Chúa Giê-su không hạch ông: “Tại sao ngươi bắt bớ các tín hữu của Ta”, mà lại nói: “Tại sao ngươi bắt bớ Ta” (Cv 9, 4).

Sở dĩ Chúa nói như vậy là vì các ki-tô hữu là hiện thân của Chúa, là những chi thể trong thân mình Người, nên ai bắt bớ họ là bắt bớ Chúa.

Đặc biệt qua dụ ngôn về ngày phán xét cuối cùng, Chúa Giê-su dạy cho ta biết Người đồng hóa mình với những anh chị em chung quanh khi phán rằng: “Những gì các ngươi đã làm cho các anh em bé nhỏ của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta” và “những gì các ngươi đã không làm cho các anh em bé nhỏ của Ta đây là các ngươi đã không làm cho chính Ta”. (Mt 25, 40.45)

Dựa vào lời dạy trên đây của Chúa Giê-su, Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI, qua sứ điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu” cũng xác nhận rằng Thiên Chúa và con người chỉ là một. Ngài viết:

“Chúa Giê-su đồng hóa mình với những người cùng quẫn, những người đói khát, những khách lạ, những kẻ trần truồng, đau yếu và những người đang trong vòng lao lý. Người phán: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” (Mt 25:40) Như thế, mến Chúa và yêu người đã trở thành một: Trong những người anh em bé nhỏ nhất, chúng ta tìm thấy chính Chúa Giêsu… (sđd số 15)

Việc phụng thờ Thiên Chúa phải đi đôi với việc phục vụ con người.

Phát xuất từ sự thật Thiên Chúa đồng hóa với con người và những gì ta làm cho tha nhân là làm cho chính Chúa Giê-su, Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI dạy rằng việc phụng thờ Thiên Chúa phải đi đôi với việc phục vụ con người, không được phép xao lãng một trong  hai. Ngài viết: chúng ta “không thể tách rời tình yêu mến Thiên Chúa và tha nhân vì cả hai chỉ là một giới răn duy nhất.” (sđd số 18)

Qua số 22 trong sứ điệp nầy, Ngài viết tiếp:

Vì thế, “tình yêu đối với các quả phụ, kẻ mồ côi, người bị tù đày, người bệnh tật và người túng thiếu dưới mọi hình thức, thì cũng thiết yếu đối với Hội Thánh như là cử hành các bí tích và rao giảng Tin Mừng. Hội Thánh không thể lơ là việc phục vụ bác ái cũng như không thể lơ là việc ban các bí tích và rao giảng Lời Chúa.” (sđd số 22)

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa tự đồng hóa mình với con người và mỗi người thật sự là một phần thân thể của Chúa là một sự thật lớn lao cao cả trước mắt mọi người; thế mà tiếc thay, không mấy ai nhìn thấy, không mấy người nhận ra; mà vì không nhận ra sự thật cao cả nầy nên con người liên tục gây ra vô vàn đau thương, bất hạnh cho nhau trên cõi đời nầy.

Xin ban Thánh Thần Chúa cho chúng con và cho toàn thể nhân loại, để Người khai mở tâm hồn mọi người nhận ra sự thật vĩ đại nầy; nhờ đó, nhân loại sẽ luôn được sống trong hòa bình và yêu thương.

Về mục lục

.

TÌNH YÊU LÀ SỰ HOÀN THIỆN CỦA CON NGƯỜI

Lm. GB. Trần Văn Hào

Một nữ văn sĩ đã viết: “Cuộc đời con người vốn trống trải như một quán trọ. Không ai trên cõi đời này có thể sống mà không yêu một người nào hay yêu một cái gì. Bao giờ trái tim còn rung lên những nhịp đập, bao giờ đôi mắt còn nhìn thấy mặt trời mọc, mặt trời lặn bên kia đồi, bao giờ còn khoảng cách mênh mông của những vì tinh tú trên bầu trời cao, con người còn phải yêu để sống”.

Tư tưởng của nhà văn ngụ ý nói rằng tình yêu là một nhu cầu thiêng liêng và cao quý của kiếp sống hiện sinh nơi mỗi người chúng ta. Chỉ có gỗ đá và thú vật mới không biết rung cảm và yêu thương, còn đã là người, chúng ta cần phải yêu để có thể tồn tại. Đó là quy luật thiết yếu mà Thiên Chúa đã đặt để nơi cuộc sống mọi người.

Nhưng thật trớ trêu, người ta đã và đang lợi dụng cũng như bóp méo ý niệm thân quen này. Có những tình yêu đáng lẽ rất trong sáng, lại bị đánh đổi bằng chút ít tiền bạc. Có những tình yêu thoi thóp nơi những trái tim chỉ biết đợi, biết chờ mà không bao giờ được đáp trả. Có những bạn trẻ lao đầu vào những cuộc tình quái gở, vội trao ban những gì quý giá nhất của đời con gái để suốt đời phải ôm một nỗi sầu mênh mang. Có những con người điên điên khùng khùng rao bán tình yêu chỉ với vài ba chỉ vàng, hoặc dùng vốn tự có để đổi lấy một mảnh tình rách. Biết bao phũ phàng và xót xa vẫn đang xảy ra đặc biệt nơi các bạn trẻ, khi họ muốn vươn tới một tình yêu trong sáng nhưng không thể nào có được. Ai cũng biết và cảm thấu sự cao quý của tình yêu, nhưng tình yêu thực sự là gì?

Các bài đọc Lời Chúa hôm nay vạch dẫn cho ta câu giải đáp. Những môn đệ của Đức Giêsu phải thâm tín rằng không thể có một tình yêu chân chính nếu không quy tập về chính Thiên Chúa, bởi lý do giản đơn như thánh Gioan tông đồ đã xác quyết: “Thiên Chúa là tình yêu”. Nói cách khác, Thiên Chúa vốn tự bản chất là Tình yêu, đã thiết định một lề luật căn bản nơi nội tâm mỗi người, đó là luật yêu thương. Càng sống sung mãn ơn gọi tình yêu, con người càng trở nên hoàn hảo, và trở nên giống Thiên Chúa.

Giới răn quan trọng nhất

Mẩu đối thoại giữa Đức Giêsu và vị kinh sư mà Tin mừng hôm nay thuật lại xoay quanh chủ đề ‘Đâu là giới răn quan trọng nhất’. Chủ đề này đã được Đức Giêsu lập đi lập lại khá nhiều lần, ví dụ qua bài giảng trên núi, hoặc khi Ngài nói chuyện với chàng thanh niên muốn nên trọn lành, và đặc biệt trong diễn từ Chúa nói với các học trò trước khi đi thụ nạn. Quả thật, Đức Giêsu đến trần gian không phải để sáng lập một tôn giáo, nhưng để công bố cho chúng ta một Tin mừng, đó là tin mừng về tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Ngài chính là bí tích biểu thị tình yêu của Chúa Cha đối với chúng ta. “Thiên Chúa yêu trần gian đến nỗi đã ban chính con một Ngài” (Ga 3, 16). Đức Giêsu chính là nhịp cầu nối kết con người với Thiên Chúa, đồng thời cái chết của Ngài trên Thập giá chính là câu định nghĩa hoàn hảo nhất về tình yêu Thiên Chúa dành trao cho ta. Tình yêu mà Ngài nói tới không phải là những biểu hiện tình cảm ngốc nghếch mà rất nhiều bạn trẻ thường hay nghĩ tưởng. Chúa nói với các môn sinh “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Chúng ta phải học, phải hiểu và phải sao chép lại chính tình yêu mà Đức Giêsu đã diễn bày.

Tình yêu mà Chúa Giêsu khai mở và giải thích cho vị kinh sư khi ông ta đến hỏi Ngài gồm hai chiều kích: đối nhân và đối thần, tức yêu mến Thiên Chúa và yêu thương đồng loại. Thực sự đây là hai cách diễn bày, nhưng tình yêu chỉ là một thực tại duy nhất. Thánh Giacôbê đã viết: “Ai nói mình yêu mến Thiên Chúa mà giận ghét anh em, đó là người nói dối” Cụ thể, chúng ta không thể nào mở miệng thưa với Chúa: “Lạy Chúa con yêu mến Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự”, mà lại không thể nở một nụ cười thân thiện với người hàng xóm bên cạnh. Chúng ta vẫn mở miệng đọc kinh Lạy Cha: “Xin Cha tha cho chúng con như chúng con cũng tha kẻ mắc nợ chúng con”, nhưng lắm khi chúng ta vẫn ôm nơi mình biết bao dao găm và lựu đạn khi đến nhà thờ cầu nguyện với Chúa. Những lời cầu nguyện như thế rất giả dối, nhằm đánh lừa Thiên Chúa và rốt cục chỉ là những sáo ngữ rỗng tuếch.

Tình yêu là sự hoàn thiện của con người.

Thánh Phanxicô Salê, tiến sĩ về đức ái, đã viết: “ Con người là sự hoàn thiện của vũ trụ. Tình yêu là sự hoàn thiện của con người. Đức ái là sự hoàn thiện của tình yêu”. Vì thế, càng sống sung mãn ơn gọi tình yêu, chúng ta càng vươn đạt đến sự hoàn thiện theo lời mời gọi của Chúa Giêsu: “ Anh em hãy nên trọn lành như Cha anh em trên trời là Đấng trọn lành.” Hai ngàn năm trước, Chúa Giêsu đã đến trần gian để khải thị cho ta Tin mừng về lòng yêu thương của Thiên Chúa. Khi nói chuyện với Nicôđêmô, Chúa Giêsu đã vén mở cho ông điều này. “Thiên Chúa yêu trần gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16). Nhiều nhà chú giải cho rằng đây là câu tóm kết toàn bộ sách Tin mừng, diễn tả sứ mạng cứu thế của Đức Giêsu. Ngài đi vào trần gian để loan báo cho ta về tình yêu của Thiên Chúa. Cái chết của Đức Giêsu là tột đỉnh diễn bày tình yêu tuyệt vời này. Trong 3 năm rao giảng, Đức Giêsu đã thiết lập một ngôi trường, ngôi trường đó mang tên Trường học Tình yêu. Ngài quy tập những người học trò để truyền thụ cho họ một môn học duy nhất, đó cũng chính là môn học về tình yêu. Trong bữa tiệc vượt qua cuối cùng trước khi đi thụ nạn, Chúa Giêsu để lại cho các môn sinh bản di chúc tối hậu: “Thầy để lại cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau”; “Cứ dấu này người ta nhận biết anh em là môn đệ Thầy là anh em hãy yêu thương nhau.”

Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người không loại trừ ai, cho dù người đó hiện như thế nào. Một đứa con đi hoang vẫn được vòng tay cha nó ôm đón khi nó trở về. Một cô gái điếm vẫn có thể bình thản ngồi tâm sự sát kề bên Chúa và hôn lên đôi chân thánh thiện của Ngài. Thậm chí một tên cướp khét tiếng, với một quá khứ đan kín tội ác vẫn có thể là một vị đại thánh, được chính Đức Giêsu mở cửa Thiên Đàng đón đưa vào. Tình yêu Thiên Chúa luôn là một mầu nhiệm khó hiểu, là một nghịch lý vĩ đại và tình yêu ấy trở thành khuôn mẫu nội tâm để tất cả chúng ta noi theo.

Yêu như Chúa yêu

Các bài đọc Lời Chúa hôm nay nhắc lại cho chúng ta những giáo huấn căn bản về tình yêu. Tình yêu mà Đức Giêsu mời gọi không mang dáng vẻ lãng mạn và ủy mị như nhiều bạn trẻ thường hay mơ nghĩ. Chúa Giêsu đã sống tận căn mầu nhiệm tình yêu và Ngài mời gọi các học trò hãy sao chép lại tình yêu ấy. “ Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Cái chết trên Thập giá là câu định nghĩa tuyệt vời nhất về tình yêu mà Đức Giêsu diễn bày, đồng thời Ngài mời gọi chúng ta dần dần tiến sâu vào quỹ đạo yêu thương độc đáo này.

Thánh Gioan Tông đồ là chuyên gia về tình yêu. Khi tự giới thiệu về mình, vị tông đồ đã không theo kiểu cách thế gian. Ngài không khoe khoang chức vụ hay học vị của mình như người đời vẫn hay làm, ví dụ: ông Nguyễn Văn A, Tổng giám đốc, Tiến sĩ này, thạc sỹ nọ v..v. Thánh Gioan chỉ nói đơn giản về bản thân mình là ‘Người môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến’. Trong bữa tiệc ly, Gioan đã tựa đầu vào ngực Chúa, lắng nghe những nhịp đập từ con tim thổn thức của người Thầy quý mến. Đứng dưới chân Thập giá cùng với Đức Maria, Gioan cũng chứng kiến trái tim Chúa mở toang, vọt trào cho đến giọt nước và giọt máu cuối cùng, biểu tượng tình yêu dạt dào như một dòng chảy bất tận. Cảm nghiệm được tình yêu sâu xa này, nên trong Tin Mừng thứ tư và đặc biệt trong cả 3 lá thư Ngài viết, Thánh Gioan hầu như chỉ nói đi nói lại một chủ đề duy nhất, đó là tình yêu “ Hãy yêu như Thầy đã yêu.” Trong bài đọc thứ hai của phụng vụ hôm nay, tác giả thư Do Thái cũng nhắc đến hiến tế Thập giá của Đức Giêsu, như là nguyên mẫu cho tình yêu mà chúng ta được mời gọi sao chép lại.

Kết luận

Để kết luận, tôi xin trích dẫn một câu chuyện ngắn của tác giả Trường Long. “Sau khi ly hôn, người chồng dọn đồ đạc ra khỏi nhà. Đứa con gái hỏi mẹ nó: Sao mẹ lại đuổi bố? Mẹ trả lời “Tại bố hư.” Để đứa bé khỏi vặn vẹo lôi thôi, Người mẹ mua cho nó một cái bánh. Đứa anh từ đâu phóng tới chộp cái bánh bỏ vào miệng. Con bé khóc ré lên bắt đền. Mẹ nó dỗ: “Anh này hư quá, nín đi con, bỏ qua cho anh một lần”. Đứa bé phụng phịu: “Thế sao mẹ không bỏ qua cho bố? Bà mẹ trẻ nhìn xa xăm rồi thở dài: “Ừ, thì ra mẹ cũng hư.”

Chúng ta cũng dễ thường hay ‘hư’ như thế vì đã không sống triệt để mầu nhiệm tình yêu, trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Tình yêu đó đòi hỏi chúng ta phải biết sẵn sàng cho đi và biết quảng đại tha thứ cho nhau. Chúng ta hãy lập lại tâm tình trong kinh Lạy Cha mà chính Chúa Giêsu đã dạy: “Xin Cha tha cho chúng con, như chúng con cũng tha….”. Chúng ta cũng nhớ lại lời dạy của Thánh Augustinô: “Bạn hãy yêu mến đi, rồi bạn muốn làm gì thì làm (Ama et fac quod vis).

Về mục lục

.

YÊU THƯƠNG

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Các thầy Luật Sĩ hỏi rằng:
Điều nào trọng nhất, giới răn luật truyền.
Hỡi Is-ra-él nghe khuyên,
Hãy yêu Thiên Chúa, tinh tuyền trí khôn.
Hết lòng, hết sức linh hồn,
Giới răn tiếp nối, kính tôn mọi người.
Yêu thương như chính mình ngươi,
Hai điều trọng nhất, gọi mời thực thi.
Thưa Thầy, đúng lẽ ai bì,
Ba Ngôi duy nhất, từ bi vô ngần.
Mến yêu Thiên Chúa, tha nhân,
Thì hơn lễ vật, ân cần dâng lên.
Toàn thiêu hy lễ trong đền,
Quan tâm nghi thức, để trên bàn thờ.
Lòng thành tâm thiện mong chờ,
Thương yêu bác ái, đơn sơ chân thành.

Giới răn trọng nhất chính là: Yêu Chúa trên hết mọi sự và yêu thương anh chị em như chính mình. Hai giới răn gồm tóm tất cả điều luật Chúa truyền. Chúng ta có thể nói chúng ta yêu mến Thiên Chúa hết lòng, nhưng khó mà yêu anh chị em. Thiên Chúa vô hình làm sao chúng ta có thể đo lường được tình yêu của chúng ta dành cho Chúa. Nếu chúng ta nói chúng ta yêu Chúa mà ghét anh em mình, chúng ta là những kẻ nói dối.

Anh chị em là những người ngay bên mà chúng ta không yêu thương được, thì làm sao chúng ta có thể yêu thương Đấng mà chúng ta không thấy và không cảm được. Chúa mời gọi chúng ta không những yêu thương anh chị em mà còn yêu cả kẻ thù. Yêu anh chị em không dễ đâu, vì ngay cả những người trong gia đình đôi khi còn khó thương.

Yêu tha nhân bao gồm mọi thành phần và không phân biệt. Không chỉ yêu những người chúng ta quen biết hay giầu sang phú qúi hoặc có danh vọng. Yêu mọi người không trừ một ai. Chúa đã yêu thương nhân loại. Chúa yêu thương chúng ta trước. Ngài hạ thân làm người cũng chỉ vì yêu. Chúa đã yêu đến nỗi đã hy sinh mạng sống vì người yêu. Một tình yêu vô điều kiện. Chỉ có tình yêu mới có thể làm những việc vĩ đại như thế. Đôi khi người ta nói yêu như điên rồ.

Tại sao mẹ Têrêxa và các Nữ tử Bác Ái dám ôm những kẻ cùi hủi, bệnh hoạn, vết thương hôi thối vào trong lòng ? Các Dì đã nhìn thấy gì nơi những người hấp hối, nếu không phải là hình ảnh của Chúa Kitô. Làm sao các Dì dám động sờ vào vết thương lở loét hôi thối và bẩn thỉu đó? Tình yêu của Chúa phủ trùm tất cả.

Tình yêu dẫn chúng ta đến việc hy sinh và phục vụ tha nhân. Chúa ẩn náu nơi những kẻ nghèo hèn và nơi những mảnh đời bất hạnh. Mỗi lần chúng ta bày tỏ tình yêu thương với họ là chúng ta đang bày tỏ tình yêu thương chính Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã đồng hóa chính mình với những kẻ bần cùng nhất. Phục vụ tha nhân là phục vụ chính Chúa

Yêu Chúa, yêu người sẽ hơn mọi lễ vật toàn thiêu và mọi lễ vật hy sinh. Lạy Chúa, chúng con yêu mến Chúa. Xin cho chúng con biết chia xẻ tình yêu Chúa nơi anh chị em chúng con.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN_B

Lm Giuse Đinh Tất Quý

Kính thưa anh chị em,

Bài Tin Mừng hôm nay chúng ta đã nghe đi nghe lại nhiều lần. Những gì Chúa muốn nói với chúng ta qua bài Tin Mừng hôm nay chúng ta cũng dư biết. Ở đây tôi chỉ xin được đưa ra một vài nhận định để rồi sau đó chúng ta cố rút ra một vài bài học thực tế cho chúng ta.

  1. Trước hết là vấn đề được đặt ra với Chúa hôm nay.

Đây là vấn đề vốn được bàn cãi rất nhiều trong giới Rabbit Do thái.

Vào thời của Chúa Giêsu thì Luật được coi là chính thức gồm 613 điều trong đó có 248 điều buộc phải làm và 365 điều cấm không được làm.

Vấn đề mà người luật sĩ đặt ra với Chúa hôm nay không phải là vấn đề con số nhưng là giá trị. Trong số những khoản luật đó, khoản nào là quan trọng nhất?

Để trả lời, Chúa Giêsu đã trưng ra hai điều luật tương đối được nhiều người cho là quan trọng. Điều thứ nhất như sau:

“Hỡi Israel, hãy nghe đây, Giavê Chúa chúng ta là Thiên Chúa độc nhất

Đây là điều mà người Do thái coi là hết sức quan trọng. Chính vì thế mà

+ họ phải được đọc câu này lên mỗi khi khởi sự giờ thờ phượng trong nhà hội,

+ những người Do thái ngoan đạo còn ghép câu này lại trong các thẻ bài bằng da rồi đeo trên trán và trên cườm tay để đọc mỗi khi cầu nguyện

+ Rồi còn được chép lên một tấm bảng đặt vào trong một hộp nhỏ hình trụ gọi là Mezuzah để treo lên trước cửa nhà cũng như trên cửa các phòng trong nhà, để nhắc cho người ta nhớ đến Chúa lúc đi ra cũng như đi vào.

Khi Chúa Giêsu trích dẫn câu này và coi như một điều răn quan trọng, thì ai cũng thấy điều đó là quá đúng rồi, không còn phải bàn cãi chi nữa.

Tiếp đến Chúa trưng ra một câu thứ hai. Câu này được trích từ sách Lêvi 19,18.”Hãy yêu thương người lân cận như chính mình” Trong câu này, Chúa Giêsu có sửa đổi lại một chút. Sách Lêvi xác định rất rõ kẻ lân cận là người Do thái, chứ không bao giờ bao hàm cả những người ngoại bang, là kẻ mà dân Do thái được phép thù ghét. Còn Chúa khi trích dẫn câu này thì Ngài không xác định, cũng không giới hạn đối tượng của nó. Như vậy Ngài đã lấy một điều luật cũ rồi đổ vào đó một ý nghĩa mới.

Và sau đây mới là điều hoàn toàn mới: Chúa ghép chung hai điều răn này lại với nhau. Trước đó chưa hề có một rabbit nào dám làm như vậy. Với việc ghép chung lại như thế, Chúa muốn xác định một cách dứt khoát đạo của Chúa là đạo Tình yêu: Yêu Chúa và yêu người. Và Ngài cũng ngụ ý dạy rằng phương pháp duy nhất để người ta chứng minh được mình yêu mến Thiên Chúa  yêu thương người khác.

Ông kinh sư hôm nay quả là một người rất thông minh. Ông nắm bắt được ý của Chúa một cách rất nhanh. Ông cũng là người biết tôn trọng sự thật, dám công khai nhìn nhận những điều Chúa dạy là đúng là phải trước mặt mọi người.

  1. Nội dung câu chuyện đơn sơ như vậy, nhưng nó cho chúng ta thấy cốt lõi đạo của Chúa nằm ở chỗ nào: Nằm trong hai tiếng yêu thương.

Thánh Gioan Tông đồ viết: Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình yêu. (1Ga 1, 7- 8).

Albert Camus một nhà văn lớn của Pháp tuy không có cảm tình gì mấy với Chúa Giêsu nhưng ông cũng đã nói một cách rất chân thành: “Nếu tôi phải viết một cuốn sách về luân lý, thì cuốn sách ấy sẽ dài 100 trang, mà 99 trang để trống, trên trang cuối cùng, tôi sẽ viết: tôi chỉ  biết có một nghĩa vụ, và nghĩa vụ đó là yêu thương.”

Pascal cũng đã từng nói: “Tất cả những gì không dẫn đến yêu thương đều là giả tạo.”

Léon Bloy Bạn sống như thế nào đối với người bạn thân của bạn mỗi ngày: kính trọng hay khinh khi? Nào bạn không biết rằng Đức Kitô ở giữa mọi người, Ngài đảm nhiệm tất cả, gánh chịu tất cả, đau khổ vì tất cả. Bởi thế, xúc phạm đến một người là xúc phạm đến Ngài, hạ nhục một người là hạ nhục chính Ngài, nguyền rủa một người là nguyền rủa chính Ngài, giết hại một người là giết hại chính Ngài.”

Mục tiêu của toàn bộ Kinh thánh cũng chính là lòng bác ái yêu thương.

Trong thư gửi tín hữu Rôma, thánh Phaolô viết: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, trừ phi là tình mến, vì kẻ yêu người là chu toàn lề luật.”

Chúa Giêsu đã đến không phải là để hủy bỏ lề luật và các tiên tri, mà là để kiện toàn. Và Ngài kiện toàn lề luật bằng cách qui mọi giới răn và lệnh truyền vào giới răn: mến Chúa yêu người. Luân lý Kitô-giáo do đó không phải là một hệ thống gồm những điều phải làm và những điều không được làm, mà thiết yếu là con đường dẫn đến sự sống và hạnh phúc thật.

  1. Không có tình yêu cuộc sống sẽ không còn ý nghĩa nhưng sống yêu thương điều đó mới đẹp làm sao!

Một vị Giám mục kiểm tra khả năng của một nhóm ứng viên xin lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy. Ngài hỏi:

– Bằng vào dấu chỉ nào người khác nhận ra các con là người Công giáo?

Không có tiếng trả lời. Rõ ràng không có ai ngờ một câu hỏi như thế. Vị Giám mục lập lại câu hỏi và ngài lập lại thêm một lần nữa, lần này ngài làm dấu thánh giá có ý mách nước cho các người dự tòng một câu trả lời đúng. Bất chợt một ứng viên trả lời:

– Đó là “Tình yêu”.

Hãy nhớ lại lời của Chúa Giêsu: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy là chúng con thương yêu nhau”.

Tại đất nước Bangladesh, một trong những nước nghèo nhất thế giới, có một người đàn ông nọ đi bộ về nhà sau một ngày làm việc cực nhọc tại xưởng thợ.

Vì quá mệt mỏi, ông dừng lại ngồi nghỉ dưới bóng cây ven đường và ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Khuôn mặt tiều tụy của ông khiến người đi đường tưởng ông là một người hành khất kiệt sức và ngất xỉu. Và người ta chạnh lòng thương, ai đi qua cũng bỏ vào chiếc mũ của ông vài đồng xu.

Khi thức giấc người công nhân già hết sức ngạc nhiên thấy chiếc mũ cũ kỹ của mình đầy những đồng xu. Số tiền đếm được còn nhiều hơn một ngày công thợ của ông. Ông mỉm cười tự nghĩ mình đã là một người hành khất bất đắc dĩ.

Trên đường về nhà, ông nhìn thấy nhiều người ăn mày đui mù tàn tật, ông lặng lẽ chia đều cho họ số tiền vừa mới nhận được. Và hơn ai hết, người công nhân nghèo ấy hiểu được: được nhận lãnh và được chia sẻ cũng đều là một niềm hạnh phúc không gì có thể sánh bằng.

Lạy Chúa,

xin ban cho chúng con ánh sáng đức tin

để nhận ra Chúa hôm nay và hằng ngày,

nơi khuôn mặt khốn khổ

của tất cả những người bị thử thách,

những kẻ đói không chỉ vì thiếu của ăn,

nhưng vì thiếu Lời Chúa;

những kẻ khát, không chỉ vì thiếu nước,

nhưng còn vì thiếu sự bình an, sự thật,

công bằng và tình thương;

những kẻ vô gia cư,

không chỉ tìm kiếm một mái nhà,

nhưng còn tìm trái tim hiểu biết, yêu thương; những kẻ bệnh hoạn và hấp hối,

không chỉ trong thân xác,

nhưng cả trong tinh thần,

bằng cách thực thi lời hy vọng này:

“ Điều các con làm cho

người bé mọn nhất trong anh em

là các con làm cho chính Ta”.

                                         Mẹ Têrêxa Calcutta

Về mục lục

.

TIN MỪNG CHÚA NHẬT 31

Jorathe Nắng Tím

Do Thái giáo là đạo có rất nhiều lề luật, nhiều đến độ đi đâu, ở đâu, tín đồ cũng bị luật xâm xoi, xét nét; làm gì cũng bị luật trói buộc, đe loi, ngăm nghe trừng phạt. Người Do Thái giáo nói về luật như thực thể thần thiêng và chu chắm giữ từng đòi hỏi rất chi tiết của mọi điều luật. Chính vì tinh thần vị luật và trong bầu khí nặng nề, ngột ngạt vị luật này, câu hỏi đã được đặt ra cho Đức Giêsu hôm nay trong Tin Mừng Máccô : “Giới răn nào là giới răn trọng nhất ?” (Mc 12, 28).

Nhiều người đã muốn hỏi Đức Giêsu câu hỏi này, vì tận thâm tâm, tất cả đều mong đợi một cải cách để đời sống đạo nhẹ nhàng, dễ thở hơn; để gánh lề luật từ nay sẽ bớt trì nặng đôi vai, nên khi  nghe viên ký lục đặt câu hỏi, ai nấy đều vui mừng, thở phào nhẹ nhõm.

Trả lời trước đám đông, Đức Giêsu đã rất vắn gọn trình bầy  Luật mới của Ngài:  “Giới răn thứ nhất là : Hãy lắng tai nghe, hỡi Israel, Chúa Thiên Chúa của chúng ta là  Chúa độc nhất và ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi, hết trí khôn ngươi và hết cả sức lực ngươi. Thứ đến là ngươi phải yêu mến đồng loại ngươi như chính mình. Hẳn không có giới răn nào khác lớn hơn các điều ấy”  (Mc 12, 29-31).

Đức Giêsu đã chính thức công bố đạo mới của Ngài là Đạo yêu thương : Yêu mến Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất và thương mến anh em đồng loại như chính mình.

  1. Yêu mến Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất:

Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng độc nhất, là Đấng Cứu Độ độc nhất, là Đấng Quan Phòng độc nhất luôn gìn giữ, chăm nom các thụ tạo của Ngài, trong số đó, con người là thụ tạo được Thiên Chúa dấu yêu đặc biệt.

Tính độc nhất nơi Thiên Chúa nói lên Thiên Chúa là Đấng toàn năng và tất cả chúng ta đến từ Ngài, thuộc về Ngài, quy chiếu về Ngài, và sẽ trở lại với Ngài. “Thuộc về Thiên Chúa” là căn tính và  hạnh phúc của con người. Thuộc về một Đấng toàn năng, chúng ta còn sợ ai, sợ gì ? Thuộc về một Đấng yêu thương, chúng ta còn lo lắng chi, xao xuyến  nỗi gì ? Thuộc về một Đấng nắm toàn quyền sinh tử của mọi thụ tạo, chúng ta còn băn khoăn, hoang mang gì trước tương lai ?

Sở dĩ chúng ta chưa “toàn tâm, toàn ý, toàn thân” yêu mến Thiên Chúa, chưa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực yêu mến Chúa; chưa  yêu mến Chúa hết mình, yêu mến Chúa bằng cả đời sống, yêu mến Chúa bằng hết con người, là vì chúng ta chưa xác tín: Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất.

Vì chưa đủ tin Thiên Chúa là Đấng tạo dựng độc nhất, nên chúng ta vẫn chờ ở đâu đó một sức mạnh dự phòng, để giúp chúng ta, nếu Thiên Chúa chơi không đẹp , khi không nghe lời ta cầu xin. Vì chưa đủ tin Thiên Chúa là Đấng cứu độ độc nhất, nên chúng ta vẫn giấu giếm ở ngõ ngách nào đó trong cuộc sống một hình bóng thần linh khác với Thiên Chúa độc nhất, để hy vọng được cứu mạng, nếu chẳng may Thiên Chúa nổi giận bỏ rơi ta. Vì không dám đặt để trọn vẹn niềm tin nơi Thiên Chúa là Tình Yêu độc nhất tuyệt đối, nên phiá sau con tim, ta vẫn giữ những dáng dấp khác Thiên Chúa, với chút hy vọng sẽ được ủi an, vỗ về ngày Chúa nổi cơn lôi đình xua đuổi ta xa khỏi mặt Ngài.

Tóm lại, trong tương quan với Thiên Chúa, ta vẫn muốn đi nước đôi, vừa thân thiết với Thiên Chúa độc nhất, vừa thân thiện với những đối tượng không thân thiết, thân thiện với Thiên Chúa. Và tâm hồn ta sẽ ở trong tình trạng bị giằng co, căng thẳng, mâu thuẫn, cho đến khi ta thực sự và quyết tâm thuộc trọn về Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất.

Như thế, điều kiện để có thể yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực, nghiã là yêu một mình Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất của đời ta từng giây phút của cuộc sống, yêu Thiên Chúa trong tư tưởng, lời nói, việc làm , yêu Thiên Chúa mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh, tình huống, thì tiên vàn chúng ta phải xác tín Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất, và  tuyên xưng:  ngoài Ngài ra, không còn một thiên chúa nào khác.

  1. Thương mến anh em đồng loại như chính mình:

Giới răn thứ hai chỉ là mặt sau của giới răn thứ nhất: Yêu mến Thiên Chúa, bởi một khi đã “toàn tâm toàn ý, toàn thân” yêu mến Thiên Chúa độc nhất rồi, chúng ta sẽ tự động nhận ra hạnh phúc được thương mến anh em đồng loại như mình, bởi chính tình yêu Thiên Chúa thúc bách, lôi cuốn, hướng dẫn chúng ta đến với anh em, đi vào trái tim người khác bằng chính con đường tình yêu của Chúa.

Như chúng ta biết, định luật tự nhiên và căn bản của tình yêu là thông ban hạnh phúc của mình cho người khác, do căn tính của tình yêu là : ước mơ và làm cho người khác được hạnh phúc. Vì thế, khi đã thuộc trọn về Thiên Chúa là Tình Yêu rồi, khi đã hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực yêu mến Thiên Chúa rồi, chúng ta không thể không thương mến anh em mình, bởi Tình yêu chúng ta dành cho Thiên Chúa thúc bách chúng ta trao ban hạnh phúc mình đang có trong tình yêu với Thiên Chúa cho mọi người chung quanh, bởi mọi người đều là đối tượng của một Tình Yêu độc nhất tuyệt đối là Thiên Chúa.

Kinh nghiệm còn cho chúng ta thấy: tình yêu rất năng động  và không bao giờ chịu ngưng nghỉ. Chẳng thế mà khi đã thực sự yêu ai, ta yêu đến cùng, yêu đến chết, yêu bất chấp mọi chống đối, rào cản, hoàn cảnh khó khăn. Tình yêu dâng hiến cho Thiên Chúa cũng vậy, sẽ không nằm yên hưởng thụ, không đóng cửa gài then, nhưng bung ra xa, mở rộng mãi, phóng  tới những đối tượng mới, những đối tượng không chỉ của tình yêu trong ta, mà còn là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa . Nói cách khác, khi đã yêu Thiên Chúa rồi, ta không thể không yêu anh em đồng loại, vì lúc đó, ta không còn yêu anh em bằng tình yêu nhỏ bé, bất toàn của mình, nhưng bằng tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa, Đấng sẽ  dìu ta đến gặp tha nhân, bởi Ngài cũng yêu thương họ như yêu thương chúng ta.

Hơn thế nữa, khi yêu ai, ta muốn họ hạnh phúc, bằng  làm vui lòng họ, nên ta sẽ qúy người họ yêu, thương người họ mến. Vì thế, sẽ không ngạc nhiên khi người yêu mến Thiên Chúa sẽ mến thương anh em mình, bởi đó là ý muốn của Thiên Chúa, bởi đó là điều làm vui lòng Thiên Chúa hơn cả. Sở dĩ Ngài muốn chúng ta yêu anh em đồng loại như chính mình, vì Ngài đã tạo dựng mọi người,  yêu thương mọi người, muốn cứu độ  mọi người, trao ban hạnh phúc cho mọi người , bằng cớ là Ngài đã chết cho mọi người được sống, cũng như làm mưa nắng trên cả người lành, kẻ dữ, không loại bỏ, ruồng rẫy một ai.

Vâng, Đức Giêsu đã đến trong thế giới, không  để loan báo khơi khơi một sứ điệp, và lập ra một tôn giáo mới với  giáo lý và lề luật nặng nề, gò bó;  nhưng vạch rõ con đường Tình Yêu  Chúa đã đến với con người và  hành trình Tình Yêu con người đến với Thiên Chúa. Trên con đường tình này, Thiên Chúa và con người gặp gỡ nhau cách sống động, cụ thể, trong mọi sinh hoạt của đời sống con người.

Tóm lại, Thiên Chúa của Kitô giáo không  xa vời, huyền hoặc  nhưng  ở giữa con người để yêu thương. Tình yêu Thiên Chúa trong Đức Giêsu không còn là tình yêu chỉ để súyt xoa chiêm ngưỡng, nhưng là tình yêu  hiện diện, chia sẻ cứu sống về phiá Thiên Chúa, đồng thời về phiá con người, tình yêu ấy  làm rạo rực  tim người, làm phấn khởi đời người, và mang về hạnh phúc cho con người biết yêu mến Thiên Chúa và mến thương anh em mình.

Tin Mừng là Lời Thiên Chúa, và Lời Thiên Chúa là chân lý vĩnh cửu, nên chúng ta sẽ không còn thắc mắc như những người Do Thái xưa : Giới răn nào là giới răn trọng nhất ?  Bởi chỉ có một giới răn duy nhất dành cho những người đi theo Đức Giêsu, đó là yêu mến Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất, và  thể hiện tình yêu ấy bằng làm theo ý muốn duy nhất của Thiên Chúa, ý muốn vừa đẹp lòng Ngài, vừa đem lại hạnh phúc đời đời cho chúng ta là thương yêu anh em như chính  mình.

Về mục lục

.

VIỆC LÀM CỦA ĐỨC TIN LÀ ĐỨC ÁI

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Trong Do Thái giáo có tất cả 613 điều luật. Học thuộc những điều luật này đã là khó, nói chi đến việc cắt nghĩa cho chính xác và tuân thủ vẹn toàn. Vì thế trong đầu óc một tín hữu Do Thái giáo luôn thấp thoáng câu hỏi: Luật nào là quan trọng nhất?

Không có dân tộc nào say mê luật như dân tộc Do Thái. Người Do Thái đặt ra đủ các thứ luật. Họ giữ luật cặn kẽ chi li. Họ học luật ngay từ khi còn nhỏ. Họ đeo cả lề luật trên trán, trên tay.Nhưng vì quá say mê luật nên họ bị luẩn quẩn trong một mớ bòng bong, không còn biết giữ luật thế nào cho đúng, không còn biết đâu là luật quan trọng đâu là luật bình thường.

Ðạo Do Thái dựa trên 10 điều răn. Trải qua các thế hệ, họ chú giải thêm thành 613 luật. Trong đó có 248 luật khuyên làm và 365 luật cấm làm. Họ không đồng ý với nhau về điều luật nào trọng nhất, nên trong câu chuyện Tin Mừng hôm nay, có một luật sĩ đã đến hỏi Chúa Giêsu: “Trong các giới răn, điều nào trọng nhất?”. Chúa Giêsu, trích dẫn sách Đệ nhị luật, đáp: “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và tâm trí của ngươi. Đó là giới răn thứ nhất và trọng nhất”. Chúa Giêsu nói thêm điều mà vị tiến sĩ Luật không hỏi: “Giới răn thứ hai giống như giới răn thứ nhất: ngươi hãy yêu thương tha nhân như chính mình”. Cả giới răn thứ hai này Chúa Giêsu không sáng chế ra, nhưng ngài lấy lại từ sách Lêvi. Sự mới mẻ của Ngài hệ tại đặt hai giới răn này chung với nhau – mến Chúa và yêu người – qua đó Ngài tỏ lộ rằng hai giới răn ấy không thể tách biệt, nhưng bổ túc cho nhau. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã bình giải rất hay về vấn đề này trong Thông điệp “Thiên Chúa là tình yêu”.

Cũng đặt vấn nạn về điều răn lớn nhất, nhưng Tin Mừng Luca cho ta một câu hỏi lý thú và sâu sắc: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Lc 10,25). Câu trả lời của Chúa Giêsu cho thấy điều răn quan trọng nhất và có ý nghĩa nhất trong toàn bộ cuộc sống con người là điều răn yêu thương: yêu thương Thiên Chúa trước hết và trên hết, rồi đến yêu thương người lân cận như Chúa Giêsu đã yêu thương ta. Yêu mến Chúa nên yêu thương người lân cận, và yêu thương người lân cận chứng tỏ ta có lòng yêu mến Chúa. Chính lòng yêu thương Chúa và tha nhân ấy làm ta trở nên giống Chúa, được chia sẻ phẩm chất của Ngài, nghĩa là có sự sống đời đời như Ngài.

Chúa Giêsu đã nâng luật yêu người ngang với luật mến Chúa. Ngài đã kết hợp thành một luật duy nhất: “Mến Chúa yêu người”.

1. Yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự.

Thiên Chúa là chủ tể trời đất. Ngài dựng nên muôn loài muôn vật. Ngài là nguồn mạch sự sống và là cùng đích của muôn loài muôn vật.

Thiên Chúa là Cha yêu thương tất cả con cái. Cho nên người tín hữu yêu mến Ngài trên hết mọi sự. Thiên Chúa là quan trọng nhất của con người.

Thực tế ở đời có rất nhiều điều quan trọng, tuỳ ở hoàn cảnh và tuỳ ở từng người. Nhưng nếu điều gì cũng quan trọng nhất thì cuối cùng chẳng có gì là nhất cả, mọi sự đều tương đối. Mọi sự đều tương đối, nhưng mọi sự đều quan trọng, kể cả niềm tin tôn giáo, kể cả Chúa. Đó là não trạng của con người thời nay, là cám dỗ của thời đại.
Người tin Chúa và theo Chúa, cũng có người nghĩ như vậy: tiền quan trọng, mà Chúa cũng quan trọng. Có những người khá hơn, trên lý thuyết vẫn cho Chúa là quan trọng nhất, nhưng trong thực tế có những lúc tiền bạc, tình yêu và thành công ở đời cũng quan trọng như Chúa.

Nhiều người nghĩ rằng ở thế gian này không có gì là duy nhất, kể cả những điều loài người thường cho là cao quý như là chân thiện mỹ chẳng hạn. Có những điều đối với người này là chân lý, đối với người kia lại là sai lầm; đối với người này là tốt, đối người kia là không; đối với một số người là đẹp, đối với những người khác là xấu. Không có gì tuyệt đối ở trần gian. Cám dỗ tương đối hoá mọi sự là cám dỗ lớn nhất của thời đại chúng ta. Cám dỗ này rất nguy hiểm. Dễ sa ngã vì con người không muốn bị ràng buộc và hướng chiều về hưởng thụ.

Thế gian không có gì là duy nhất, không có gì là tuyệt đối.

Thiên Chúa là Siêu Việt, là Vĩnh Hằng. Mọi sự đều qua đi. Chỉ có Chúa mới là quan trọng nhất, chỉ có Chúa mới là Tuyệt Đối. Do đó chúng ta được mời gọi yêu mến Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực của mình.

Chúa Giêsu đã lập lại lời kêu gọi đó, khi trả lời cho người thông luật muốn hỏi trong các giới răn điều nào quan trọng nhất. Yêu mến Thiên Chúa là điều quan trọng nhất.

2. Yêu tha nhân như chính mình.

Thiên Chúa là Đấng vô hình vô ảnh ta không thấy được. Ta nói yêu mến Thiên Chúa, điều đó khó mà kiểm chứng được. Nên Thiên Chúa đã ràng buộc điều răn mến Chúa vào điều răn yêu người. Yêu Chúa thì phải yêu tha nhân. Yêu tha nhân là bằng chứng yêu mến Chúa. Còn hơn thế nữa, yêu tha nhân chính là yêu Chúa. Vì Chúa đã tự đồng hóa với con người, với những người bé nhỏ nhất trong xã hội. Điều này chính Chúa Giêsu đã công khai minh định: “Ta bảo thật, mỗi lần các ngươi giúp đỡ một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”. Thành ra hai giới răn chỉ là một. Đó chỉ là hai khía cạnh của cùng một giới răn.Thánh Gioan quả quyết: “Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là một kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa, Ðấng mà họ không thấy” (1Ga 4,20); “Ai nói rằng mình ở trong ánh sáng mà lại ghét anh em mình, thì vẫn ở trong bóng tối”(1Ga 2,9).

Đối với Chúa Giêsu, tình yêu là giới răn đứng hàng đầu trong các giới răn. Mọi lề luật đều phải hướng đến tình yêu. Ai chu toàn tình yêu là chu toàn lề luật.

Lề luật của Chúa thật nhẹ nhàng vì lề luật chính là tình yêu. Nếu yêu mến Chúa và yêu mến anh em, ta sẽ thấy việc giữ luật không còn gì khó khăn nữa. Tình yêu sẽ làm cho ta cảm nếm sự ngọt ngào trong việc tuân giữ lề luật.

Lề luật của Chúa cô đọng trong một thái độ là yêu mến.Giữ luật mà quên yêu mến có thể dẫn đến óc nệ luật.Giữ luật phải trở nên phương thế để bày tỏ tình yêu. Vì “Yêu mến là chu toàn lề luật” (Rm 13,10).

3. Việc làm của Đức tin là Đức ái.

Thánh Giacôbê nói một câu bất hủ: “Đức tin không việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). “Việc làm” mà Thánh Tông Đồ nói đến là thực hành bác ái. Thánh Phaolô ca ngợi đức mến: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng,chũm chọe xoang xoảng” (1Cr 13,1).

Đức tin và Đức mến liên hệ mật thiết với nhau.

Trong Tông thư “Cánh Cửa Đức Tin”, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI viết: Năm Đức Tin cũng sẽ là cơ hội thuận tiện để tăng cường chứng tá bác ái. Thánh Phaolô nhắc nhở : “Vì vậy giờ đây còn lại ba điều là đức tin, đức cậy và đức mến. Nhưng lớn hơn cả là đức mến” (1Cr 13,13). Và Thánh Giacôbê Tông Đồ, với những lời càng mạnh hơn nữa, luôn thúc đẩy các tín hữu Kitô, quả quyết rằng : “Hỡi anh chị em, nếu một người nói mình có đức tin mà lại không có việc làm thì ích gì ? Đức tin ấy có thể cứu họ được không ? Nếu một người anh em, chị em, không có y phục và lương thực hằng ngày và một người trong anh chị em nói : “Hãy đi bình an, hãy sưởi ấm và ăn no” nhưng lại không cho họ những gì cần thiết cho thân thể họ, thì hỏi có ích gì ? Đức tin cũng vậy, nếu không có việc làm đi kèm, thì tự nó là đức tin chết. Trái lại một người có thể nói : “Anh có đức tin và tôi có việc làm; hãy tỏ cho tôi đức tin không có việc làm của anh, và tôi, qua việc làm tôi chứng tỏ cho anh đức tin của tôi” (Gc 2,14-18).

Đức tin không có đức mến thì không mang lại thành quả và đức mến không có đức tin thì sẽ là một tình cảm luôn tùy thuộc sự nghi ngờ. Đức tin và đức mến cần có nhau, đức này giúp đức kia thực hiện hành trình của mình. Có nhiều Kitô hữu yêu thương tận tụy dành cuộc đời phục vụ những người lẻ loi, bị gạt ra ngoài lề hoặc bị loại trừ, coi họ như những người đầu tiên cần đi tới và như người quan trọng nhất cần được nâng đỡ, vì chính nơi người ấy có phản ánh khuôn mặt của Chúa Kitô.

Nhờ đức tin, chúng ta có thể nhận ra tôn nhan Chúa phục sinh nơi những người đang xin tình thương của chúng ta. “Tất cả những gì các con đã làm cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Thầy đây, tức là các con đã làm cho Thầy” (Mt 25,40) : những lời này là một lời cảnh giác không nên quên, và là một lời mời gọi trường kỳ hãy đáp trả tình yêu mà Chúa đã chăm sóc chúng ta. Đó là đức tin giúp nhận ra Chúa Kitô và chính tình yêu Chúa thúc đẩy cứu giúp Chúa mỗi khi Ngài trở thành người thân cận của chúng ta trong cuộc sống. Được đức tin nâng đỡ, chúng ta hy vọng hướng nhìn sự dấn thân của chúng ta trong thế giới, trong khi chờ đợi “trời mới đất mới, trong đó có công lý cư ngụ” (2 Pr 3,13 ; x. Kh 21,1). (Porta Fidei, Số 14).

Thư Mục Vụ Năm Đức Tin HĐGMVN nói về mối liên hệ đức tin và đức mến: Cách riêng, trong hoàn cảnh xã hội ngày nay, đức tin của người Công Giáo cần được thể hiện qua việc thực thi bác ái. Đức Tin và Đức Mến cần đến nhau và hỗ trợ cho nhau: “Chính đức Tin giúp chúng ta nhận ra Chúa Kitô và chính tình yêu Chúa thôi thúc chúng ta chạy đến phục vụ Chúa mỗi khi Người trở thành người thân cận của chúng ta trên nẻo đường cuộc sống”. Được Lời Chúa soi sáng và tình yêu Chúa thấm nhập trong suy nghĩ cũng như hành động, chúng ta sẽ trở nên những chứng tá đáng tin trong xã hội ngày nay. (Số 7).

Dưới ánh sáng Lời Chúa Giêsu, tình yêu là mực thước đức tin, và đức tin là linh hồn của tình yêu. Chúng ta không còn có thể tách biệt đời sống tôn giáo ra khỏi việc phục vụ anh em, những người anh em cụ thể mà chúng ta gặp. Chúng ta không còn có thể tách biệt kinh nguyện, cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa trong các bí tích, khỏi sự lắng nghe tha nhân, gần gũi cuộc sống của họ, nhất là những vết thương của họ.

Luật mới của Chúa Giêsu chính là mức độ hoàn hảo nhất của Mười Điều Răn. Đoạn cuối của kinh Mười Điều Răn: “Mười điều răn ấy tóm về hai nầy mà chớ: trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen.”

Lạy Chúa, Chúa đã dạy chúng con: mến Chúa yêu người là điều răn quan trọng nhất, xin cho con biết sống và liên lỉ thực hành giới răn này trong đời sống thường ngày của con.

Về mục lục

.

THỰC HÀNH MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI TRONG CUỘC SỐNG

Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG:  Mc 12, 28b-34

(28b) Khi ấy, có người trong nhóm kinh sư đến gần Đức Giê-su và hỏi: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?” (29) Đức Giê-su trả lời: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en. Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. (30) Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. (31) Điều răn thứ hai là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó”.(32) Ông kinh sư nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, hay lắm. Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất. Ngòai Người ra không có Đấng nào khác. (33) Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ tòan thiêu và hy lễ. (34) Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy thì bảo: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.

2. Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại câu trả lời của Đức Giê-su cho vị kinh sư Do Thái khi ông chất vấn Người về điều răn nào là quan  trọng nhất trong tòan bộ Luật pháp Mô-sê. Người đã nêu ra hai điều răn quan trọng nhất là mến Chúa hết lòng và yêu người thân cận như yêu chính mình. Ông kinh sư cũng nhất trí như vậy và còn cho rằng hai điều này có giá trị hơn mọi của lễ tòan thiêu và hy lễ dâng lên Đức Chúa tại đền thờ.

3. CHÚ THÍCH:

-C 28b-30: +Có người trong nhóm kinh sư: Kinh sư hay Luật sĩ là những nhà chuyên môn về Thánh kinh vì nghiên cứu Thánh kinh kỹ lưỡng và lâu dài. Số ít trong nhóm kinh sư là tư tế, nhưng phần lớn là thường dân ủng hộ lập trường của nhóm Pha-ri-sêu. Họ có uy tín và ảnh hưởng lớn trong dân. Các kinh sư là người giải thích và áp dụng Luật Mô-sê vào đời sống của dân chúng. Các kinh sư cùng với thượng tế và kỳ mục là ba thành phần trong Thượng hội đồng Do thái tại Giê-ra-sa-lem (x. Cv 23,6). +trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?: Trong Tin Mừng Mát-thêu viết cho Kitô hữu gốc Do Thái, câu hỏi là “điều răn nào lớn nhất ?” (Mt 22,35). Còn ở đây Tin Mừng Mác-cô viết cho Kitô hữu gốc lương dân, đã sửa lại câu hỏi theo nghĩa ưu tiên:”điều răn đứng đầu?. Thực ra các nhà kinh sư thời đó thường tranh cãi để tìm ra trong số 613 điều răn trong Thánh Kinh, gồm 248 điều buộc và 365 điều cấm, đâu là điều luật quan trọng nhất. Cho tới lúc ấy các kinh sư vẫn chưa thống nhất ý kiến. Ông kinh sư tin Đức Giê-su là “Đấng rao giảng có uy quyền” sẽ cho câu trả lời chính xác. +Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en. Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất.: Đức Giê-su đã trích khỏan Luật Mô-sê được những người Do Thái đọc mỗi ngày 2 lần (Đnl 6,5). +“Nguơi phải yêu mến Đức Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết  sức lực ngươi”: Thiên Chúa là chủ tể muôn loài, là Đấng duy nhất cao cả. Chính Ngài đã dựng nên muôn vật, là nguồn sự sống và là cùng đích mọi loài. Vũ trụ chỉ tồn tại được nhờ Ngài và trong Ngài. Vì thế người ta có bổn phận phải biết ơn và yêu mến Ngài trên hết mọi sự.

-C 31-33: +Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu mến người thân cận như chính mình: Người Do Thái vẫn mang nặng khuynh hướng bài ngọai theo Luật Mô-sê: “Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù” (Mt 5,43). Ở đây Đức Giê-su thêm “Điều răn thứ hai trích trong Luật Mô-sê (Lv 19,18): Tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với người thân cận là bản tóm lược mười điều răn ghi khắc trên hai bia đá là “mến Chúa và yêu người”. +Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất. Ngòai Người ra không có Đấng nào khác: Vị kinh sư biểu lộ thái độ đồng ý với quan điểm của Đức Giê-su và nhắc lại câu trả lời của Người để nhấn mạnh tính duy nhất của Thiên Chúa (Đnl 4,35; Xh 8,6; Is 45,21), Tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân có liên hệ mật thiết với nhau. +Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình: Ông kinh sư nhắc lại khía cạnh tri thức của tình yêu. + là điều quý hơn mọi lễ tòan thiêu và hy lễ: Khi nhận định như vậy, ông kinh sư không phủ nhận nghi lễ phụng tự tại Đền Thờ, mà cho thấy nghi lễ phụng tự bị hạ thấp giá trị so với việc thực thi lòng mến Chúa và yêu tha nhân.

-C 34: +Ông không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu: Ông kinh sư đã hiểu biết và đánh giá đúng điều răn quan trọng trong Luật Mô-sê. Điều này cho thấy ông đã suy nghĩ giống Đức Giê-su và có khả năng trở thành thành viên trong Nước Thiên Chúa do Người sắp thiết lập (x. 10,13-16).

  1. CÂU HỎI:

1) Kinh sư hay luật sĩ là ai? Phân biệt với người Pha-ri-sêu thế nào?

2) Luật Mô-sê gồm bao nhiêu điều khỏan buộc và cấm? Tại sao ông kinh sư lại hỏi Đức Giê-su về điều luật nào quan trọng và đứng đầu trong bộ Luật Mô-sê?

3) Đức Giê-su đã trả lời cho ông kinh sư khỏan luật quan trọng nhất thế nào? Ngừơi Do thái mỗi ngày phải đọc lại khỏan luật này mấy lần?

4) Đức Giê-su cũng cho biết điều luật thứ hai cũng quan trọng không kém là khỏan luật nào? Hai điều luật này tóm lược Mười điều răn do ai trao cho ông Mô-sê và được ghi khắc trên hai tấm bia đá?

5)Thái độ của ông kinh sư trước câu trả lời của Đức Giê-su thế nào?

II. SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: Đức Giê-su trả lời: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en. Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. (30) Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. (31) Điều răn thứ hai là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó”(Mc 12,29-31).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) LÀM SAO CÓ THỂ YÊU CHÚA ĐƯỢC KHI CHƯA GẶP CHƯA THẤY CHÚA?

Một người mẹ nói với cô con gái nhỏ về tình yêu Thiên Chúa. Cô bé tỏ ra bối rối thưa với mẹ: “Mẹ ơi, làm sao con có thể yêu Chúa được? Con chưa bao giờ gặp Người”. Ít ngày sau, cô bé nhận được một món quà gửi qua đường bưu điện, trong đó có một con búp-bê có thể chớp mắt rất đẹp. Bên cạnh có tấm cart Noel ghi hàng chữ: “Chúc mừng Giáng Sinh vui vẻ. Tặng Maria thân yêu con búp bê, Dì Rosa”. Bé Maria chưa bao giờ gặp dì Rosa vì sống cách nhau hàng ngàn cây số. Khi bé Maria ôm con búp bê vào lòng, em nói với mẹ rằng: “Mẹ ơi, con yêu dì Rosa quá! Dì đã cho con búp bê rất dễ thương này”  Bấy giờ mẹ bé Maria hỏi rằng: “Làm sao con có thể yêu dì Rosa khi chưa bao giờ gặp dì ?”. Maria liền trả lời: “Con biết, nhưng con yêu dì, vì dì đã gởi cho con con búo bê này”.

2) THƯƠNG NGƯỜI, NHƯNG LẠI SỢ NGƯỜI:

Dọc theo triền núi Trường Sơn, có một ngôi mộ lâu đời, trên bia mộ có khắc dòng chữ như sau: “Tôi thương người, nhưng lại khiếp sợ người”. Đây là câu nói của Hy Thanh, người nằm trong ngôi mộ. Câu chuyện như sau: thời bấy giờ, Hy Thanh học cách tìm mạch nước ngầm nơi một ông thầy giỏi nghề. Bạn bè nói với anh rằng: “Dưới đất lúc nào mà chẳng có nước. Mày học làm chi cái nghề vô tích sự ấy”. Cha mẹ anh em trong nhà cũng mắng anh: “Nếu mày cứ muốn học nghề đó thì ra khỏi nhà và đừng bao giờ vác mặt về nhà này nữa!” Hy Thanh đành phải bỏ nhà ra đi. Ban ngày anh vừa đi học vừa kiếm chỗ làm phu khuân vác để kiếm ăn. Tối đến xin vào ngủ trong nhà chùa. Anh cứ kiên trì theo học nghề tìm mạch nước ngầm ấy nhiều năm. Hai mươi năm sau, gặp lúc trời hạn hán, các giếng trong làng đều khô cạn hết. Nhiều người bị chết khát vì không kiếm đâu ra nước uống. Bấy giờ, người ta mới chợt nhớ đến Hy Thanh và cử người đến yêu cầu anh tìm mạch nước giúp dân làng. Hy Thanh đã sớm tìm ra mạch nước ngầm và khơi được nguồn nước chảy ra lênh láng. Dân các nơi khác nghe tin kéo đến xin nước uống râ71t đông. Họ vui mừng ca tụng về tài năng xuất chúng của anh. Nhưng rồi có kẻ do khát lâu ngày, đã uống quá nhiều nước bị ngã ra chết. Thế là nhiều người thay vì tỏ lòng biết ơn lại quay ra chửi bới mạt sát Hy Thanh thậm tệ. Lũ người nhà của kẻ bị chết còn hè nhau xông vào đánh đập anh đến chết. Trước khi nhắm mắt lìa đời, Hy Thanh thều thào nói: “Tôi thương người, nhưng lại sợ người”.

  1. SUY NIỆM:

Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại câu Đức Giê-su trả lời cho ông kinh sư Do Thái khi ông chất vấn Người về điều răn nào là quan  trọng nhất trong Luật pháp Mô-sê. Người đã nêu ra hai điều răn quan trọng nhất là mến Chúa yêu người. Ông kinh sư cũng nhất trí như vậy và còn cho rằng hai điều này có giá trị hơn mọi của lễ tòan thiêu và hy lễ dâng tiến Đức Chúa trong Đền thờ.

1) MẾN CHÚA HẾT LÒNG VÀ YÊU THA NHÂN NHƯ YÊU MÌNH:

Ai trong chúng ta cũng đều ý thức về hai bổn phận đối với Thiên Chúa và tha nhân.  Tin mừng hôm nay đã ghi lại lời Đức Giê-su dạy hai điều răn trọng nhất là “mến Chúa hết lòng hết sức và yêu thương tha nhân như yêu mình”. Hai điều răn này tóm lược tòan thể bộ Luật Tô-ra của Mô-sê. Tuy nhiên Đức Giê-su còn nhấn mạnh điều răn thương người chính là điều kiện để biểu lộ lòng mến Chúa và xứng đáng được Chúa vui nhận lễ vật như sau: “Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5,23-24). Thế nhưng, cụ thể chúng ta phải yêu thương anh em thế nào?

2) KỶ SỞ BẤT DỤC, VẬT THI Ư NHÂN:

– Truyền thống Do Thái có câu chuyện như sau: Ngày kia một người tìm đến với thầy SA-MAI, thuộc phái giải thích luật một cách nghiêm khắc và cho biết mình có ý định tìm kiếm chân lý. Ông hỏi: “Thầy có thể dạy tôi tóm lược tất cả các lề luật trong thời gian tôi đứng trên một chân. Vì tôi không thể ở lại Giê-ru-sa-lem lâu được”. Nghe nói thế, thầy Sa-mai nổi giận và truyền đuổi ông ra khỏi nhà mình. Không mất niềm hy vọng, ông ta tìm đến với thầy GIL-LEN, một người vừa thông thái, vừa cởi mở lại vừa phóng khoáng. Trước cùng một câu hỏi được đưa ra, thầy Gil-len đã trả lời ngay:  “Đừng làm cho người khác điều anh không muốn họ làm cho anh. Đó là cái cốt lõi của lề luật. Tất cả những thứ khác, chỉ là để giải thích cho giới luật này mà thôi”.

– Trong Cưu Ước, Tô-bi-a cha đã khuyên Tô-bi-a con như sau: “Điều con không thích thì đừng làm cho người khác” (Tb 4,15a). Điều không thích còn bao hàm các việc cụ thể như: không nói xấu, không ganh tỵ, không trộm cắp và rất nhiều những điều khác nữa. Nhờ đó cuộc sống của chúng ta sẽ được an vui hạnh phúc. Đức Khổng Tử cũng khuyên đồ đệ tương tự: “Điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác”. Còn trong Tân Ước Đức Giê-su dạy các môn đệ thực hành yêu thương theo hướng tích cực: ”Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó” (Mt 7,12).

3) THỰC HÀNH ĐIỀU RĂN YÊU NGƯỜI CỤ THỂ:

Yêu thương không chỉ bằng lời nói suông, hay bằng tình cảm nhất thời chóng qua, nhưng bằng các việc cụ thể như kinh Thương Người có mười bốn mối, trong đó thương xác bảy mối và thương linh hồn bảy mối. Thánh Gia-cô-bê cũng đòi các tín hữu phải yêu thương cụ thể như sau: “Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: “Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no”, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì ?” (Gc 2, 15-16). “Nhờ hành động mà con người nên công chính, chứ không phải chỉ nhờ đức tin” (Gc 2,24).

4) YÊU THƯƠNG CỤ THỂ THEO LINH ĐẠO CỦA MẸ TÊ-RÊ-SA CAN-QUÝT-TA:

Mẹ Tê-rê-sa Can-quýt-ta đã dạy các nữ tu thực hành yêu thương tha nhân cụ thể như sau:

– Hãy bắt đầu yêu thương các người thân trong gia đình: “Tôi luôn luôn nói rằng, tình yêu phải khởi sự từ gia đình trước đã, rồi sau đó mới đến thành phố hay đô thị. Yêu thương những người ở xa chúng ta thì dễ, nhưng yêu thương những người sống với chúng ta hay ở ngay bên cạnh chúng ta thì lại không dễ chút nào.”

 Đừng xét đoán hay nói xấu tha nhân: “Nếu bạn xét đoán, bạn sẽ không còn giờ để yêu họ”.

– Hãy quảng đại cho đi: “Bạn phải cho đi những gì làm bạn bị thiệt thòi. Như thế, không chỉ cho đi những gì dư thừa, nhưng cho cả những gì bạn không thể sống nếu không có nó, những gì bạn thật sự yêu thích. Như thế, món quà của bạn trở thành lễ hy sinh, có giá trị trước mặt Chúa”.

4. THẢO LUẬN:

Để thực hành lối sống yêu thương cụ thể nói trên, bạn cần tập sống tình mến Chúa yêu người theo phương cách nào hữu hiệu nhất?

  1. LỜI CẦU: Phục vụ trong yêu thương:

Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn sống phục vụ trong yêu thương:

Nơi cộng đoàn, biết tâm đầu ý hợp.

Trong gia đình, biết mặn mà dễ thương.

Ngoài xã hội, biết đối xử tốt và thương xót.

Với mọi người, biết nhân nhượng và tôn kính nhau.

Khi làm việc, biết siêng năng và tận tình.

Trong mọi sự, biết tha thứ, chịu đựng và tin tưởng.

Ở mọi nơi, luôn chiếu tỏa lòng Chúa hiền hậu và khiêm nhường.

Trước cám dỗ, luôn chiến thắng để bền đỗ trong ơn thánh.

Nhờ đó, chúng con trở nên tông đồ được Chúa sai đi,

Mà làm chứng về Chúa cho mọi ngươi.- AMEN.

(Lời cầu của Mẹ Tê-rê-sa Can-quýt-ta).

Về mục lục

.

GIỚI RĂN MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

Lm Giuse Đinh lập Liễm

A. DẪN NHẬP

Khi nói tới điều răn mến Chúa yêu người thì ai cũng cho là một đề tài quá quen và cũ kỹ rồi, nhưng nếu biết cầu nguyện, suy gẫm, tìm hiểu và nghiên cứu thì đây là một đề tài phong phú, nó sẽ gợi mở ra một chân trời rộng rãi và còn nhiều điều mới lạ. Hầu hết chúng ta mới học thuộc lòng điều răn ấy chứ chưa hiểu hết nội dung, nên chưa thực hành đầy đủ  điều răn ấy.

Cốt yếu của đạo Công giáo của chúng ta là Đức ái “Mến Chúa yêu người” vì Đức Giêsu đã khẳng định : “Ngoài ra không còn điều răn nào khác quan trọng hơn hai điều răn đó” (Mc 12,31).

Thánh Phaolô nói :”Hiện nay đức tin, đức cậy và đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến”(1Cr 13,13). Thánh Tông Đồ còn khẳng định thêm :”Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người… được ơn nói tiên tri… đem hết gia tài ra bố thí mà không có đức mến thì cũng chẳng ích gì cho tôi”(1Cr 13,1-3). Thế mới biết tầm quan trọng của Đức Ái.

 Điểm đặc biệt trong đạo chúng ta là Đức Giêsu đã nâng giới răn yêu người lên ngang tầm với giới răn mến Chúa và gắn liền hai giới răn đó chặt chẽ với nhau đến nỗi mến Chúa mà không yêu người thì chưa giữ trọn luật Chúa, và ngược lại cũng vậy. Hôm nay chúng ta suy niệm về luật mến Chúa yêu người nhưng chúng ta chú trọng hơn đến luật yêu người để thúc giục chúng ta thi hành luật Chúa cho đầy đủ.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

          + Bài đọc 1 : Đnl 6,2-6

Ông Maisen nhắc nhở cho dân Do thái phải thi hành luật cao trọng nhất là :”Kính mến Thiên Chúa hết lòng hết sức”. Lòng yêu mến Chúa trong Đệ nhị luật truyền dạy bao hàm trong sự trung thành thờ phượng Thiên Chúa và tuân giữ các giáo huấn của Ngài.

Dân Do thái tuân giữ giới răn này qua bao thế hệ. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy Cựu ước còn thiếu sót vì chỉ chú trọng tới việc yêu mến Giavê, Thiên Chúa duy nhất, mà chưa nói đến việc yêu thương tha nhân.

Sự thiếu sót này sẽ được Đức Giêsu bổ túc trong bài Tin mừng hôm nay.

          + Bài đọc 2 : Dt 7,23-28

 Thư gửi tín hữu Do thái ca ngợi chức Tư Tế của Đức Giêsu. Chứùc Tư tế của Đức Giêsu Kitô ưu việt trên chức tư tế của dòng họ Lêvi. Nếu so sánh hai chức tư tế ấy chúng ta sẽ thấy :

– Chức tư tế của Do thái chỉ có một đời người, khi chết thì hết; còn chức Thượng Tế của Đức Giêsu thì vĩnh viễn.

– Các tư tế Do thái là những người phàm, vướng mắc nhiều tội lỗi; còn Đức Giêsu là vị Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn.

– Các tư tế Do thái phải dâng lễ nhiều lần; còn Đức Giêsu chỉ dâng lễ đền tội một lần là đủ.

          + Bài Tin mừng : Mc 12,28b-34

Một luật sĩ đến hỏi thử Đức Giêsu xem giới răn nào trọng nhất. Câu hỏi xem ra bình thường nhưng là câu hỏi hóc búa. Lý do vì trong 613 khoản luật không nói đến điều răn nào trọng nhất, tùy theo ý chủ quan của mỗi luật sĩ, thích điều răn nào thì cho là điều răn ấy trọng nhất.

Nhưng Đức Giêsu đã nối kết hai khoản luật ở Đệ nhị luật và ở sách Lêvi trả lời rõ ràng cho luật sĩ  đó là hãy yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và thương yêu tha nhân như chính mình.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

Hai giới răn trọng nhất

I. GIỚI RĂN MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI.

  1. Giới răn trong Cựu ước.

Ông Maisen là nhà lập quốc và lập pháp đã truyền lại cho dân Do thái mười điều răn của Thiên Chúa. Qua bao thế hệ người ta vẫn trung thành giữ các điều răn ấy.

Hằng ngày người Do thái sốt sắng cầu nguyện với kinh Shema tựa như kinh Lạy Cha của chúng ta. Trong đó có câu :”Hãy nghe, hỡi Israel, Giavê Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa độc nhất. Ngươi sẽ yêu mến Thiên Chúa của ngươi hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi, hết sức lực ngươi. Các lời ta truyền cho ngươi hôm nay hãy ở nơi lòng ngươi, ngươi sẽ lặp lại cho con cái ngươi”.

Đó là một kinh tuyên xưng niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất, hết thảy mọi người đều phải tận lực yêu mến Ngài. Tuy mọi người tuyên xưng niềm tin vào một Thiên Chúa độc nhất nhưng chưa đồng ý với nhau trong một rừng luật như vậy, giới răn nào là quan trọng nhất. Đức Giêsu sẽ trả lời cho họ trong Tân ước.

Nhân dịp này chúng ta cũng nên tìm hiểu xem thế nào là sách Đệ nhị luật hay Thứ luật.  Ôâng Maisen đã ra luật cho dân nhưng còn tổng quát và ngắn gọn, sau này luật được diễn dịch rồi  tổng hợp thành bộ luật Thorab. Sách Đệ nhị luật không thành hình trong một ngày và do một tác giả nào. Nó cũng không phải là tác phẩm trong thời Maisen. Nó lấy lại luật Maisen, suy đi nghĩ lại và cùng với lịch sử của dân Chúa. Có thể hàng tư tế đã là nguồn gốc của sách này. Thế nên nó được gọi là Đệ nhị luật hay Thứ luật, tức là luật đến sau luật trước, luật bổ khuyết và diễn giải luật pháp Sinai.

  1. Giới răn trong Tân ước.

Trong thời Đức Giêsu, các luật sĩ là những chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh và luật pháp. Chắc chắn họ phải thông hiểu rành rẽ về Kinh Thánh vì đó là lãnh vực chuyên môn của họ. Thế mà có một luật sĩ nêu ra cho Đức Giêsu một câu hỏi kể cũng hơi lạ !

Nhưng thực ra, vào thời ấy, các luật sĩ đều sôi nổi tranh luận xem giới răn này hay giới răn nọ quan trọng hơn. Họ đã liệt kê ra một rừng giới răn, cả một cánh rừng mù mịt đối với người Do thái. Như vậy, luật Do thái có 613 khoản luật, chia ra 248 việc phải làm và 365 việc không được làm.  Xét về sự quan trọng, người ta lại chia các điều luật đó ra nhiều hạng : khinh giới và trọng giới, đại giới và tiểu giới.  Nhưng các người biệt phái lại không đồng ý với nhau về giới răn nào trọng nhất.  Vì thế, người luật sĩ mới đến dò xem Chúa cho biết điều răn nào là trọng nhất.

 Đức Giêsu đã trả lời cho ông bằng cách đọc lại những lời đầu tiên của kinh cầu nguyện Do thái. Đó là kinh Shema “Hỡi Isrel, hãy lắng nghe” trích trong Đệ nhị luật 6,4-5 :”Hỡi Israel, hãy nghe đây : Thiên Chúa, Chúa chúng ta là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi”.

Nhưng Đức Giêsu không ngừng ở đây, Ngài liên kết giới răn thứ nhất với giới răn thứ hai là phải yêu mến anh em :”Còn đây là giới răn thứ hai : ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi”(Lv 19,18-34).

Trong văn chương Do thái thời ấy, người ta thường thấy  thủ pháp nối kết như thế. Nhưng ở đây Đức Giêsu quả là bậc thầy tuyệt diệu : Ngài nối kết tình yêu Thiên Chúa với tình yêu anh em, và hợp thành một giới răn duy nhất. Để nêu lên tính duy nhất căn bản đó, Marcô đã không ngần ngại dùng lẫn lộn số ít với số nhiều :”Không có giới răn nào quan trọng hơn những giới răn đó”(J. Hervieux)

* Hãy yêu tha nhân.   Tha nhân là ai ? Trong Cựu ước chỉ có nghĩa là người gần gũi với người Do thái về huyết thống và chủng tộc.  Nhưng “tha nhân”  mà Đức Giêsu dùng ở đây có ý hiểu về hết mọi người, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, người nghĩa thiết hay kẻ thù.

* Như chính mình ngươi.   Không có nghĩa là ngươi phải làm cho kẻ khác những gì ngươi làm cho ngươi, nhưng đúng hơn là phải đối xử với kẻ khác cùng một “tình yêu” như ngươi đã xử với ngươi.  Đó là một nét độc đáo của tình yêu Kitô giáo, thứ tình yêu đạp đổ mọi hàng rào ngăn cách chủng tộc, mầu da, vượt lên trên óc phân biệt quốc gia hay tôn giáo, quên đi mọi hiềm khích hay những thành kiến cá nhân hoặc cổ truyền.

II. NÓI VỀ HAI GIỚI RĂN ĐÓ

  1. Liên hệ giữa hai giới răn.

Điều mới lạ mà Đức Giêsu làm là ghép chung hai giới răn này lại với nhau. Từ trước cho đến thời Đức Giêsu chưa có ai nhập chung hai giới răn ấy thành một.  Yêu Chúa và yêu tha nhân, hai tình yêu ấy như hai anh em sinh đôi dính liền nhau. Khi tìm được người này, chúng ta sẽ gặp được người kia. Và khi không tìm được người này chúng ta cũng chẳng gặp được người kia.

Nhưng cần phải phân biệt rõ hai giới răn này. Người ta thường có khuynh hướng hợp nhất hai giới răn này làm một, như thể “yêu Thiên Chúa là đủ” hay “yêu thương anh em” cũng đủ. Giới răn thứ hai không thể thay thế cho giới răn thứ nhất được. Hai giới răn này chỉ là hợp nhất và song hành thôi, chứ giới răn thứ hai không đồng nhất với giới răn thứ nhất được.

Nếu so sánh tình yêu đối với Chúa và anh em thì có nhiều người tưởng rằng yêu mến Thiên Chúa dễ hơn yêu thương anh em. Bởi vì theo họ, anh em là những con người đầy giới hạn, đầy khuyết điểm, trờ trờ trước mắt, nên dễ làm cho chúng ta khó chịu. Còn Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn tốt lành, chẳng có gì không đáng yêu. Thiên Chúa ở xa không đụng chạm, còn anh em ở gần thì đụng chạm hoài. Thiên Chúa dễ để cho mình “hối lộ”, cứ dâng lễ, cầu kinh rồi Ngài xí xóa mọi chuyện.

Cũng không phải yêu anh em dễ hơn yêu Chúa, nhưng yêu thương anh em là việc cụ thể nhất mà Thiên Chúa chờ đợi ở nơi chúng ta. Yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ lời Ngài. Không yêu thương anh em là không giữ lời Thiên Chúa, tức là không yêu mến Thiên Chúa. Rút cục, hai điều khó như nhau, vì không thể thiếu một trong hai, không thể tách rời để chỉ giữ một trong hai (Phạm văn Phượng).

  1. Tình yêu và hành động.

Nếu thánh Giacôbê nói :”Đức tin không có hành động là đức tin chết”, thì chúng ta cũng có thể nói :”Tình yêu không được thể hiện bằng hành động là thứ tình yêu giả dối, chỉ có trên đầu môi chót lưỡi như người ta nói :

Thương thương nhớ nhớ thương thương,

Nước kia muốn chảy mà mương không đào

a) Mến yêu Chúa.

Muốn mến yêu Chúa, chúng ta có muôn vàn cách để yêu mến Ngài nhưng những cách biểu lộ ấy có tính cách chủ quan, mỗi người một cách, nhưng theo Tin Mừng, chúng ta thấy Đức Giêsu đã nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại điều kiện tiên quyết để biết ai là người mến Chúa, đó là thực thi Lời Chúa, sống theo giới răn của Chúa. Chúng ta hãy nghe những  lời Chúa dạy :

 “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em hãy giữ các điều răn của Thầy… Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy, mà ai yêu mến Thầy thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ mình ra cho người ấy… Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy”(Ga 14,15-21.23).

b) Yêu tha nhân.

Muốn yêu tha nhân cho xứng đáng, hãy sống theo khuôn vàng thước ngọc này :”Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta như vậy”(Mt 7,12). Hay nói ngắn gọn hơn :”Ngươi hãy yêu thân cận ngươi như chính mình”(Mc 12,30). Yêu mình thế nào, thì phải yêu người như vậy. Tất nhiên mình luôn luôn muốn cho mình được những điều tốt lành, hạnh phúc và lợi ích. Không ai muốn mình bị xấu xa, khổ cực, tai họa; vậy yêu người thì cũng phải làm như vậy cho người.

Có lần một người mới gia nhập Do thái giáo yêu cầu thầy Hillel dạy ông ta toàn thể thông điệp của luật pháp trong thời gian ông ta có thể đứng trên một chân.  Câu trả lời của thầy Hillel là “Điều gì ngươi ghét thì đừng làm cho người khác. Đó là trọn vẹn luật pháp, phần còn lại là nhằm giải thích, hãy đi và học lấy”.

Ngay bên  Đông phương, trước Đức Giêsu, Đức Khổng Tử đã để lại một câu nói để đời:”Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”: điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác. Sau này ngài cũng nói một câu khác tương tự nhưng với khía cạnh tích cực :”Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân”. Tư tưởng của ngài cũng giống như ở trên.

c) Tình yêu tha nhân bắt đầu từ đâu ?

Tình yêu tha nhân phải bắt đầu từ gần đến xa. Nhưng bi đát thay, việc yêu thương tha nhân của chúng ta thường lại gặp thất bại từ đầu ngay trong chính gia đình chúng ta. Không yêu các thành viên trong gia đình mình, chắc chắn chúng ta sẽ không thể nào yêu thương những người khác được. Và ngược lại cũng thế. Khi yêu thương các thành viên trong gia đình mình, chắc chắn chúng ta sẽ yêu thương được những người khác nữa.

Chúng ta hãy đặt một câu hỏi cho mình : Chúng ta đã dành tình thương  cho những người trong gia đình mình thế nào ? Nếu chúng ta trả lời là “chưa mặn mà lắm” thì có lẽ tình yêu ta dành cho láng giềng cũng chẳng thể khá hơn. Và nếu chúng ta chẳng yêu tha nhân, chẳng yêu láng giềng mặn nồng thì chúng ta cũng không thể  yêu mến Chúa nồng nạn được. Ngược lại, nếu chúng ta yêu quí mọi người trong gia đình mình, chúng ta mới có thể yêu quí người hàng xóm, và một khi yêu được người hàng xóm, thì chúng ta cũng dễ dàng yêu mến Thiên Chúa.

Trong ý nghĩa đó, Thomas Merton đã nói :”Không yêu thương và nhân từ với kẻ khác, thì tình yêu của chúng ta dành cho Đức Kitô chỉ là tưởng tượng”.

  1. Thành quả của hai giới răn đó.

Nhờ hai tình yêu đó mà con người có thể tìm lại được chính mình. Các tác giả  tu đức nói rằng lệnh truyền của Đức Giêsu đòi buộc chúng ta yêu tha nhân và lệnh truyền của Ngài đòi buộc chúng ta yêu mến Chúa. Hai lệnh truyền đó tương quan mật thiết với nhau đến nỗi nếu chúng ta  không thương yêu anh em mình thì chẳng bao lâu chúng ta cũng chẳng còn  yêu mến Thiên Chúa nữa. Có một câu châm ngôn rất phổ biến diễn tả chân lý ấy thật sống động như sau :

Nơi nào không có tình yêu, ta hãy gieo tình yêu và ta sẽ gặt được tình yêu,

Nơi nào không có tình yêu, ta hãy đặt tình yêu vào đấy và ta sẽ tìm thấy tình yêu.

Tôi đi tìm Chúa nhưng tôi không gặp được Ngài,

Tôi đi tìm linh hồn tôi nhưng linh hồn trốn né tôi,

Tôi đi tìm người láng giềng, và tôi gặp được cả ba.

Chúng ta có thể quả quyết : Bí quyết để gặp được Thiên Chúa và gặp được chính mình là tìm gặp và yêu thương người lân cận của mình.

III. THỰC HÀNH GIỚI RĂN CHÚA.

Chúng ta không còn thắc mắc gì nữa. Lệnh truyền của Chúa thật rõ ràng. Phải yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, nhưng đồng thời  cũng phải thương yêu anh em như chính mình.  Yêu anh em như mình là chuyện khó vì anh em là những con người cụ thể với biết bao những khuyết điểm, dễ va chạm, nhiều khi tha nhân bị coi như kẻ thù của ta.

Nhìn rõ thực tế đó nên thánh Gioan Tông đồ đã viết :”Nếu anh em cụ thể mà không yêu được thì làm sao có thể yêu  mến Chúa được”(1Ga 4,20)..

Theo lời thánh Giêrônimô khi Thánh Tông Đồ về già, ngài nguyên giảng về bác ái :”Các con thân mến, các con hãy yêu thương nhau”. Giáo hữu thưa với thánh nhân :”Sao cha giảng điều ấy hoài” ? Thánh Tông Đồ đã trả lời :”Vì đó là điều luật Chúa dạy, và nếu thi hành được  duy một điều đó là đủ rồi”.

Đức Giêsu đã phán :”Các con muốn được người ta  làm cho các con thế nào thì các con hãy làm cho người ta như vậy” (Lc 6,31). Ngài còn phán thêm :”Hãy cho đi thì các con sẽ được người ta cho lại. Người ta sẽ lấy đấu hảo hạng, đã dằn, đã lắc đầy tràn tóe ra mà đổ vào vạt áo các con. Vì các con đong bằng đấu nào thì cũng sẽ đong trả bằng đấu ấy”.

Napoléon tuyên bố không thèm thân với ai, thì ông đã chết đơn độc trong đảo Sainte Hélène

Hitler, con hùm xám Đức quốc xã, chủ trương dùng bạo lực thì đã chết trong khói lửa đúng theo lời Thánh Kinh “cái ác giết ác nhân”(Tv 33,22).

Trở lại với bài Tin mừng hôm nay, nghe Đức Giêsu trả lời, vị luật sĩ rất tâm đắc với ý kiến rất khôn ngoan của Ngài và diễn tả tâm tình thiện cảm và xác tín của ông đối với tuyên phán của Đức Giêsu về giới răn trọng nhất :”Mến Chúa và yêu người thì hơn mọi lễ vật toàn thiêu và lễ vật hy sinh”. Việc mến Chúa yêu người có giá trị làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn những lễ hiến dâng có tính cách hy lễ và vật chất.

Lời phát biểu của vị luật sĩ phát xuất từ sách 1 Samuel 15,22 (bản văn này kêu gọi sự vâng lời).  Lời ấy được lấy lại trong Ôâsê 6,6 (Ta thích lòng nhân từ chứ không thích lễ tế). Người ta có thể nhận biết trong lời đó sự quở trách mà Thiên Chúa, qua các tiên tri, đã ngỏ với dân Ngài : dân chỉ thực hiện những nghi thức nhưng kèm theo bóc lột và những bất công.

Truyện : Bỏ tội thiếu tình thương

Thứ tội mà chúng ta phạm nhiều nhất là tội không yêu thương. Tuy nhiên chúng ta lại không coi đó là tội, vì chúng ta vẫn nghĩ  cái gì làm hại đến người khác mới là tội.

Một người kia bán một chiếc xe “dỏm” cho một người khách lạ. Một hôm anh vừa đi nhà thờ xưng tội ra thì gặp một người bạn. Người bạn nói :”Chắc là anh có kể cho Cha giải tội nghe chuyện anh bán chiếc xe dỏm” ? Anh đáp lại :”Tôi chỉ xưng các tội thôi. Còn chuyện buôn bán thì có ăn thua gì tới ông cha đó” ?

Một nguy hiểm lớn cho tín hữu thường đi nhà thờ là không thấy sự liên hệ giữa điều họ làm ở nhà thờ ngày Chúa nhật với điều họ làm trong tương quan với người khác vào những ngày trong tuần. Nhiều người xét mình theo đủ mọi điều răn nhưng không hề xét tới những tội thiếu sót; thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu ngay thẳng trong việc làm ăn, thiếu tôn trọng những người sống chung với mình… Đối với những người đó, đạo và đời hoàn toàn tách biệt nhau (Theo Flor McCarthy).

Mở đầu sách giáo lý Tân Định có một câu hỏi rất hay : Hỏi :”Ta sống ở đời này để làm gì” ? Thưa: “Ta sống ở đời này để nhận biết thờ phượng, kính mến Đức Chúa Trời là Cha chúng ta  và yêu thương mọi người như anh em, cùng nhau xây dựng một xã hội tốt đẹp, cho ngày sau được hạnh phúc đời đời”.

Như vậy, cuộc đời con người là phải mến Chúa và yêu người thì mới mong được hưởng hạnh phúc đời đời.  Chính vì thế nữ tu Rosalie mới nói :”Nước Thiên đàng không dành cho những người cằn cỗi yêu thương”.

Về mục lục

.

MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI.

Lm, Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

Thưa anh chị em,

Dân Do thái được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn giữa bao dân tộc khác. Ngoài việc thiết lập Giao ước, Thiên Chúa còn ban cho họ Mười Điều Răn được khắc trong hai Bia Đá, qua đại diện ông Môisê trên núi Sinai. Đó là luật căn bản, nhưng với thời gian, trải qua nhiều thế hệ, giới lãnh đạo Do thái đã giải thích thêm thành 613 điều, chia ra 248 điều tích cực phải làm, và 365 điều cấm làm. Khi đặt ra nhiều luật lệ như thế, thì họ không biết điều nào quan trọng hơn cả.

Chính vì thế, có một nhà luật sĩ tìm đến hỏi Đức Giêsu: “Thưa Thầy, trong các giới răn, giới răn nào trọng nhất?”. Đức Giêsu đưa ra hai điều: một trong sách Đệ Nhị Luật: “Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn” (Đnl 6,5). Và một trong sách Lêvi: “Ngươi hãy yêu thương người thân cận như chính mình” (Lv 19,18). Đó là hai điều căn bản, quan trọng nhất , thật rõ ràng và đầy đủ. Chỗ khác Chúa nói: toàn bộ Thánh kinh và các lời ngôn sứ đều qui tóm lại hai điều đó là: Mến Chúa yêu người thôi.

Mến Chúa và yêu người tuy không đồng hạng nhưng phải đồng hành với nhau một cách khắng khít. Thánh Gioan tông đồ nói rằng: nếu ai nói mình yêu mến Chúa mà lại ghét tha nhân là kẻ nói dối, vì tha nhân là những người cùng chung sống mà chúng ta không yêu thương, thì làm sao yêu mến Đấng vô hình được .

Thật vậy, Đức Chúa Trời ban 10 điều răn, nhưng chỉ dành 3 giới đầu trong việc thờ phượng kính mến Chúa, còn lại 7 giới răn sau, Chúa dành cho việc đối xử với tha nhân. Như vậy, Chúa coi việc đối xử với tha nhân là thước đo lòng yêu mến Chúa. Thế thì, tại sao ta phải thương yêu tha nhân? Thưa vì :

Tha nhân là hình ảnh của Chúa (St 1, 26). Ta yêu Chúa thì phải yêu những gì thuộc về Chúa.

Tha nhân là chi thể của Chúa. Nói theo tư tưởng của thánh Phaolô về mầu nhiệm hiệp thông. Chúa Giêsu là đầu nhiệm thể, còn tất cả chúng ta là chi thể của nhau (1Cr 6,15).

Tha nhân là giá máu cứu chuộc của Đức Kitô. Đức Kitô đã trả giá rất cao để cứu độ từng người chúng ta, nên chúng ta cũng phải biết kính trọng tha nhân.

Tha nhân là đền thờ Chúa Thánh Thần. Ngày chúng ta lãnh Bí tích rửa tội, đã trở nên đền thờ Chúa Ba Ngôi ngự trị, vậy ta phải tôn kính đền thờ sống động này (1Cr 6, 19).

Ấy thế mà thưa anh chị em, thế giới càng văn minh thì dường như phần đông nhân loại trái tim lại hẹp hòi ích kỷ hơn, do chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng thụ. Vì thế, thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II nhận định: “Đó là nền văn minh của sự chết “.

Mặc dầu thế giới văn minh, nhưng vẫn còn rất nhiều nơi thiếu thốn lương thực. Đức Chúa Trời tạo dựng nên vũ trụ này tốt đẹp và ban cho con người trí óc thông minh. Thế mà tại sao vẫn còn tình trạng thiếu thốn đói khát như vậy?. Thưa bởi vì con người thiếu tình liên đới quan tâm đến nhau.

Phần lớn của cải được cất giữ trong ngân hàng, trong két sắt, tủ áo của những nhà tỉ phú, của những đại gia kếch sù.

Người ta bỏ ra hàng bao nhiêu tiền của để đầu tư vào những vũ khí tối tân, những thiết bị y tế, nhằm bảo vệ đất nước, bảo vệ mạng sống con người, nhưng trong khi đó người ta sẵn sàng giết chết những đứa con ngay từ trong dạ mẹ.

Người ta bỏ bao nhiêu thời giờ, bao nhiêu tiền bạc, thời giờ đi du lịch nước này nước nọ chơi được, nhưng lại khó lòng dành ra một chút thời giờ đi thăm viếng những người đau yếu, bệnh tật, những người neo đơn bị con cháu bỏ rơi trong những khu ổ chuột ngay trong làng xóm ngỏ chúng ta.

 Có khi người ta không chết vì chén cơm manh áo, nhưng người ta chết vì đói lòng thương xót, đói tình người, đói sự quan tâm chia sẻ với nhau. Cho nên, thế giới ngày nay con người rất cần những tấm lòng yêu thương, đồng cảm, chia cơm xẻ áo cho nhau.

Xin anh chị em nhớ cho rằng: Ngày nhắm mắt lìa đời, khi đối diện trước mặt Thiên Chúa là người Cha nhân lành. Chúa không hỏi chúng ta mỗi ngày con đi mấy lễ, con vào mấy hội đoàn, con đọc mỗi ngày bao nhiều kinh…. Nhưng chỉ hỏi một điều duy nhất là con có yêu mến Ta không?. Mà thước đo lòng yêu mến Chúa được căn cứ vào đức bác ái đối với tha nhân mà thôi.

Cầu mong cho mỗi chúng ta, ngày sau hết được nghe những lời Chúa mời gọi: “Hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến lãnh lấy phần gia nghiệp là sự sống đời đời mà Cha Ta đã dành sẵn cho các ngươi, vì xưa Ta đói các ngươi cho Ta ăn, Ta khát các ngươi cho Ta uống, Ta bệnh tật các ngươi viếng thăm… hãy vào hưởng sự vui mừng hạnh phúc với Ta”(Mt 25, 34-35). Amen.

Về mục lục

.

ĐẠO YÊU THƯƠNG

PM. Cao Huy Hoàng

Nhớ lại, chiều ngày 23-11-2009, Tại Sở Kiện, trong dịp khai mạc Năm Thánh kỷ niệm 350 năm Giáo Hội Công Giáo Việt Nam và 50 năm thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, tôi đặc biệt tâm đắc lời phát biểu bằng cung giọng miền Nam rất đơn sơ chân chất của Đức Hồng Y GB Phạm Minh Mẫn, chủ tịch Ủy Ban Năm Thánh Toàn Quốc: “Người Công giáo Việt Nam hãy viết lại định nghĩa Đạo Công Giáo vào trong cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình và cộng đoàn nơi chúng ta sống. Ước mong sử sách sẽ ghi nhận lại định nghĩa này vào trong văn hóa và tiềm thức của mỗi người: Đạo Công giáo – Đạo Yêu Thương, người Công giáo là người luôn ý thức rằng Chúa yêu thương mình và do đó ý thức được bổn phận phải yêu thương tất cả mọi người”.

Có thể có nhiều triết gia, nhà thần học, nhà ngôn ngữ học, hoặc những người thông thái cho rằng câu nói tầm thường ấy có gì mà đáng tâm đắc. Nhưng với tôi, tâm đắc chính chỗ tầm thường ấy, giản dị ấy mà chất chứa cả một mầu nhiệm Nước Thiên Chúa.

Có người cho rằng việc yêu thương nhau là chuyện hẳn nhiên như “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”  hoặc “thương người như thể thương thân”, “máu chảy ruột mềm” … theo cách văn hóa của người Việt vốn có từ ngàn xưa trong cái xã hội đình làng, lũy tre, bờ xe, bến nước…

Nét đẹp văn hóa ấy ở đâu ra? Tự nhiên mà có hay là có cùng thời với Tiếng Việt, cùng thời với việc loan báoTin Mừng cho người Việt bằng Tiếng Việt? Thiết nghĩ, câu trả lời dành cho các nhà sử học.

Phần chúng ta, có thể hiểu rằng, Tin Mừng đến quê hương này là đã có ngay luật điều căn bản cho người công giáo:

 “Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen”.

Những người công giáo đầu tiên trên đất nước nầy đã sống và giữ luật điều quan trọng ấy đến nỗi người lương có thể nhận thấy và chúc tụng: Đạo Công Giáo chính là Đạo Yêu Thương.

Bởi cách thể hiện tình yêu thương của người công giáo không giống như của người chưa thấm nhập Tin Mừng. Người công giáo yêu thương người vì kính mến Chúa. Người chưa phải công giáo thì yêu thương người để được người khác yêu thương lại, để tạo một tương quan thuận lợi trong cuộc sống. Vì kính mến Chúa, vì lề luật tích cực của Chúa trở thành một bổn phận của lẽ công bằng: yêu người vì Chúa đã yêu ta, yêu người như Chúa đã yêu ta, cho nên, người công giáo yêu thương cả người thân, kẻ sơ, cả người giàu có lẫn kẻ nghèo khó, cả người thương lẫn kẻ ghét, cả người tôn trọng tự do tín ngưỡng lẫn người bức bách cấm cách, bắt bỏ tù, tra tấn, ngục hình chém giết dã man…Nếu không phải yêu người như Chúa dạy, hẳn là người Công Giáo đã nổi loạn lên rồi, thay vì âm thầm chấp nhận làm chứng cho Đức Tin vào sự sống lại và cầu nguyện cho người dám đưa chân đạp mũi nhọn biết đàng ăn ăn trở lại.

Nhìn lại Đạo Yêu Thương của những người Công Giáo Việt Nam đi trước chúng ta, là cha ông chúng ta, hẳn mỗi chúng ta phải đặt lại cách sống đúng với Tin Mừng như Chúa muốn, như cha ông ta đã nêu.

Đạo Yêu Thương bắt đầu nơi các gia đình: vì yêu Chúa, kính sợ lề luật của Thiên Chúa, cha mẹ sốt sắng thờ phượng Chúa qua các giờ kinh chung tối sáng, giờ cầu nguyện chung trong gia đình, nhắc nhớ nhau đời sống bí tích, đời sống giáo hội. Nhờ đó, kín múc ân sủng của Thiên Chúa mà trung thành với nhau trong tình yêu hôn nhân để làm gương sáng cho con bằng một tình yêu tận hiến. Gương sáng Đạo Yêu Thương của gia đình này sẽ là ngọn đèn soi cho gia đình kia, tạo nên một xóm làng sống Đạo Yêu Thương, không kể là lương hay giáo.

Đạo Yêu Thương từ gia đình đến Giáo Xứ. Uy tín của Chúa Giê-su mỗi ngày mỗi lớn lao, được mọi người tôn kính khi họ nhìn thấy cộng đoàn giáo xứ sống chan hòa yêu thương từ mục tử đến đoàn chiên, từ những người giúp việc giáo xứ đến những người nghèo khổ nhất. Không có gì đau khổ cho Chúa Giê-su bằng việc chính những người có Đạo Yêu Thương lại không yêu thương nhau, không đoàn kết với nhau, lại còn hơn thua nhau, ganh tị với nhau, tố cáo lẫn nhau, và tồi tệ hơn nữa là tranh giành nhau có chức có quyền hơn là tranh giành nhau mà phục vụ mọi người.

Đạo Yêu Thương của Cộng Đoàn Giáo Hội Địa Phương, cấp Giáo Phận, hẳn là bằng chứng hùng hồn nhất của Giáo Hội Chúa Ki-tô Toàn Cầu. Nếu các Giáo Xứ chân thành nêu gương đời sống yêu thương, hẳn là Giáo Hội Địa Phương của Chúa Giê-su đang có một sức mạnh thẩm thấu thế giới này, cho dẫu là thế giới của những kẻ không muốn tin vào Thiên Chúa. Sự Hiệp Nhất, Nên Một trong Chúa Ki-tô nguồn mạch Tình Yêu, nguồn mạch Sự Sống, không cho phép các Ki-tô Hữu, các cộng đoàn Giáo Xứ tách lìa nhau cách tự trị, nhưng ngược lại, luôn tương trợ nhau trong đời sống Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến.

Dường như Ông Môi-sê cũng đang nói với các gia đình, các giáo xứ, các giáo phận, với tất cả chúng ta “Các ngươi hãy kính sợ Chúa là Thiên Chúa các ngươi, hãy tuân giữ mọi huấn lệnh và giới răn của Người mà tôi truyền dạy cho các ngươi, cho con cái cháu chắt các ngươi tuân giữ mọi ngày trong đời sống các ngươi, để các ngươi được sống lâu dài”. (x.Đnl 6, 2-6)

Và Chúa Giê-su đang nhắc lại:

“Giới răn trọng nhất chính là: Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi. Còn đây là giới răn thứ hai: Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi. Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó”. (Mc 12, 29-31)

Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con biết sống Đạo Yêu Thương để dạy cho con cháu, hậu duệ bằng gương sống “Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen”.

Về mục lục

.

GIỚI RĂN HÀNG ĐẦU

JM. Lam Thy

Trong Thánh lễ sáng Thứ Năm (23/3/2018), Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô đã nói về Tình Yêu Thiên Chúa: “Tình yêu của Thiên Chúa thì giống như tình yêu của một người mẹ. Ngài không bao giờ lãng quên chúng ta. Không bao giờ. Ngài trung thành với giao ước của Ngài. Điều này mang lại cho chúng ta sự an toàn và ngay cả trong những thời khắc khó khăn thì chúng ta cũng có thể chắc chắn rằng Ngài đã không lãng quên chúng ta.” (nguồn: Đài Vatican).

Tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại đã lên tới tuyệt đỉnh: Vì tình yêu, Người đã dựng nên loài người có nam có nữ; cũng vì tình yêu, Người đã ban cả Con Một làm giá chuộc muôn người. Và chính Con Một Thiên Chúa – Đức Giê-su Ki-tô – luôn luôn dạy: “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó.” (Mt 7, 12); “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12); “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Ga 13, 15).

Quả thật tình yêu Thiên Chúa dành cho loài người là vô cùng vô tận. Ngay khi dựng nên vũ trụ, Đấng Sáng Tạo đã vì tình yêu bao la (tình bác ái) mà dựng nên con người theo hình ảnh Người, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất (St 1, 28). Tuy vậy, nhưng Thiên Chúa vẫn không quên con người là vật thụ tạo (được dựng nên), để tồn tại và phát triển thì vẫn rất cần đến một thứ tình yêu giới tính (tình ái), và vì thế nên “Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người.” Và rồi Thiên Chúa phán với con người có nam có nữ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất” (St 1, 27-28).

Trong Thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu”, Đức Giáo hoàng Bê-nê-đic-tô XVI đã lý giải rất rõ ràng về Tình Yêu Thiên Chúa. Luận điểm của ĐGH đã đi từ Cựu Ước tới Tân Ước theo “nhãn quan tôn giáo” (thần học – triết lý siêu nhiên) để nhận định và lý giải Tình Yêu của Thiên Chúa đối với loài người. Tuy nhiên, ĐGH vẫn không quên “nhãn quan triết học” (triết lý nhân sinh), khi ngài viết: “Chiều kích triết học đáng nêu ra trong hình ảnh Thánh Kinh này, và tầm quan trọng từ quan điểm lịch sử các tôn giáo, là một mặt chúng ta thấy mình đứng trước một hình ảnh rất siêu hình của Thiên Chúa: Thiên Chúa là Đấng Tuyệt Đối và là nguồn mạch của mọi loài; nhưng mặt khác, chủ tể tác tạo hoàn vũ này – Logos, Đấng Thượng trí – lại đồng thời là một người biết yêu với tất cả đam mê của một tình yêu thật sự. “Eros” (tình ái) vì thế đã nên tột cùng cao quý, nhưng đồng thời thuần khiết đến độ nên một với “agape” (bác ái).” (Thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu “Deus Caritas Est”, số 19).

Thời Cựu Ước, Luật Mô-sê đuợc ban bố cho dân thi hành có tới 613 điều (trong đó có 365 điều xấu cấm làm và 248 điều tốt dạy phải làm). Tuy nhiên, giới luật của Thiên Chúa được ghi trên bia đá và trao cho ngôn sứ Mô-sê trên núi Si-nai (Xh 20, 1-21) chỉ có 10 điều, trong đó bao gồm 3 điều về yêu mến Thiên Chúa và 7 điều còn lại là yêu thương đồng loại. Như vậy, rút gọn lại, chỉ còn 2 điều cơ bản: Mến Chúa + yêu người. Và để tìm ra 2 giới luật căn bản này thì lại thấy ở 2 sách khác nhau trong Cựu Ước: Điều răn đầu trong sách Đệ nhị luật: “Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), hết lòng, hết dạ, hết sức của anh (em)”  (Đnl 6, 5); điều răn sau trong sách Lê-vi: “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv 19, 18). Đến thời Tân Ước thì chính Đức Giê-su Ki-tô – hiện thân của Thiên Chúa Tình Yêu – giảng dạy: “Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.” (Mc 12, 29-31).

Tuy rằng Đức Ki-tô vẫn nói đó là 2 điều răn, nhưng thực chất giới răn này chỉ có một nội dung duy nhất là “Tình Yêu” được thể hiện bằng 2 chiều kích: Mến Chúa + yêu người. Hai chiều kích đó vừa là tiền đề vừa là kết quả của nhau, đan quyện vào nhau, không thể tách rời. Thật vậy, không thể yêu Thiên Chúa cách đích thực mà không yêu tha nhân, và ngược lại, không thể yêu tha nhân mà lại không yêu Thiên Chúa được. Vì thế ngay sau Lời dạy của Đức Ki-tô, thì chính kẻ đã thắc mắc – một kinh sư – cũng phải thốt lên: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ.” (Mc 12, 32-33); và được Thầy Chí Thánh chúc  phúc: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” (Mc 12, 34).

Thánh Gio-an đã xác quyết: “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1Ga 4, 20). Và thánh Phao-lô cũng đã viết: “Tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Gl 5, 14); “Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Ki-tô” (Gl 6,2). Ấy là chưa kể chính Đức Ki-tô trong lời dạy về ngày cánh chung cũng khẳng định: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” Muốn yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và sức lực, thì phải yêu tha nhân như yêu chính mình. Và chỉ có yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình mới thực sự là yêu mến Thiên Chúa.

Ôi! Lạy Chúa! Chúa đã dựng nên con, đã ban cho con một tấm lòng, một trí khôn biết phân biệt thiện ác, biết yêu và ghét, và nhất là đã ban cho con sự tự do tuyệt đối, để con có thể tự quyết định cuộc đời của mình bằng cách lựa chọn một con đường. Con đã sai lầm trong lựa chọn để chỉ biết yêu mình trên hết, co mình vào cái vỏ ốc “ích kỷ” đến độ có thể “hại nhân” (“ích kỷ hại nhân”: lợi mình hại người). Cúi xin Chúa đoái thương, ban cho con một tâm hồn quảng đại, một tấm lòng bao dung độ lượng; xin cho con biết yêu người như yêu chính mình, biết coi tất cả mọi người (kể cả những người thù ghét con) đều là anh em một nhà (“tứ hải giai huynh đệ”), cùng con một Cha trên trời. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.

Về mục lục

.

TÌNH YÊU CHÚA

Lm Vũdình Tường

Nhờ có tình yêu Chúa ban mà chúng ta có thể sống trọn vẹn hạnh phúc, tạo được mối giây liên kết mật thiết với Chúa, với tạo vật và với tha nhân. Tình yêu con người thường ích kỉ và có điều kiện. Chúng ta yêu mến thân nhân, thân thuộc và thân hữu và những ai yêu mến ta. Ngoài những người đó ra người khác ta hoặc không có cảm tình hoặc làm ngơ, coi như họ không tồn tại. Tình yêu Chúa giúp ta nhìn thấy Đức Kitô trong mọi người và như thế yêu mến Đức Kitô một cách chân thành là yêu mến tất cả mọi người, không phân biệt ai. Chính sự phân biệt này khiến người Kinh Sư gặp khó khăn làm thế nào để yêu tất cả, nên ông đến hỏi Đức Kitô

Điều răn nào quan trọng hơn cả c.28

Ông hỏi thế bởi phong tục của ông hướng dẫn là có những điều răn tối quan trọng và có những điều cấm kị vì thế họ chia lề luật ra thành nhóm bắt buộc phải tuân thủ và nhóm cần thực hành trong cuộc sống. Điều này gây tranh cãi trong lịch sử dân tộc và đưa ra nhiều giải thích, luật buộc khác nhau. Người Kinh Sư mất nhiều giờ nghiên cứu, tìm hiểu và ông không đồng thuận với những khác biệt kia vì thế ông đến gặp Đức Kitô xin sự khôn ngoan nơi Ngài.

Sau khi nghe Đức Kitô giảng giải ông hiểu rõ điều các tiên tri dậy, điều ông từng nghiên cứu nhưng không hiểu thấu đáo, nay được Đức Kitô khai sáng.

Điều Ta muốn là tình yêu chứ không phải hy lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là của lễ toàn thiêu Hs 6,6
Chúa yêu mến công bình, nhân nghĩa và tâm hồn khiêm nhường Mk 6,6-8

Đức Kitô nói với người Kinh Sư

Đức Chúa,Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình c.32

Đức Kitô đã dùng những điều dậy trong Cựu Ước để giải thích cho người Kinh Sư hiểu rõ hơn về giáo huấn của Chúa. Câu trả lời của Đức Kitô tóm tắt tinh thần giáo huấn của sách Deuteronomy 6,4-5 và sách Levi 19,18. Trong đó hướng dẫn yêu mến Thiên Chúa và yêu mến tha nhân luôn đi chung với nhau. Điều này không thể tách biệt. Tình yêu phải thể hiện qua hành động cụ thể. Chính hành động cụ thể biến tình yêu thành hiện thực. Không ai chứng minh được tình yêu nhưng qua hành động cụ thể con người có thể cảm nhận, nhận biết hành động yêu thương. Nếu chỉ yêu mến người khác bằng cảm nghiệm thì tình yêu đó vừa mông lung vừa trống rỗng bởi nó không có hành động giúp đỡ kèm theo. Yêu người khác bằng hành động cụ thể như giúp đỡ, che chở, bảo bọc trong khả năng của mình chính là làm cho tình yêu Chúa trong ta trở nên thực tế hơn với người cần ta giúp đỡ.

Điều Đức Kitô hướng dẫn người Kinh Sư là giải thích mới mẻ, thực tế và mang tính cách đổi mới. Thời đó người ta tin việc hiến tế súc vật là dấu chỉ lòng yêu mến thần thánh vì thế người ta không thể nào hiểu được làm thế nào không hiến tế súc vật mà có thể lòng yêu mến. Điều này hiện nay vẫn còn xảy ra qua hình thức dâng cúng gia súc, đốt vàng mã. Đức Kitô dậy Ngài muốn tình yêu chứ không phải hy lễ. Ngài muốn nhân nghĩa và khiêm nhường. Chính nhữn giáo huấn mới mẻ này làm cho người Kinh Sư kinh ngạc và nhận ra giáo lí mới của Đức Kitô. Mặc dù rất khâm phục giáo lí và sự khôn ngoan của Đức Kitô nhưng không thấy bằng chứng nào cho biết người Kinh Sư trở thành môn đệ Đức Kitô. Kính trọng và thán phục chỉ là bước đầu dẫn đến tin theo. Để có thể dấn thân, tin theo cần con tim yêu mến chân thành. Chính tình yêu chân thành phát xuất tự tim thúc đẩy chúng ta bước theo Đức Kitô. Tin theo được thể hiện bằng hành động phục vụ Giáo Hội Chúa và phục vụ tha nhân. Thiếu dấn thân phục vụ chỉ là tin nửa vời.

Về mục lục

.

ĐIỆU LÝ YÊU THƯƠNG

Trầm Thiên Thu

Điệu lý là thể loại âm nhạc liên quan quê hương – gọi là dân ca. Các điệu lý có khi rất đơn giản nhưng luôn có sức hút kỳ lạ. Tuy nhiên, trong tất cả các điệu lý hẳn là chẳng có điệu lý nào hấp dẫn và cần thiết bằng Điệu Lý Yêu Thương – đặc biệt là trong lĩnh vực tâm linh.

MẾN CHÚA và YÊU NGƯỜI là toát yếu của Thập Giới – tóm lược Thánh Luật của Thiên Chúa. Chỉ có hai điều và bốn chữ (theo Việt ngữ), nhưng có thể rút gọn thành Yêu Thương (hai chữ), và cũng có thể cô đọng thành Yêu (một chữ) – gọi là Luật Yêu. Nghe chừng rất đơn giản, và cũng quá quen thuộc, thế mà sao khó thể hiện quá chừng. Vâng, “biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”.

Có một sự trùng hợp rất kỳ lạ: Luật Chúa gồm hai điều – liên quan chiều dọc (mến Chúa) và chiều ngang (yêu người), Thập Giá cũng gồm hai nhánh – nhánh dọc (hướng tới Thiên Chúa) và nhánh ngang (hướng tới tha nhân). Thánh Gioan phân tích: “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai KHÔNG yêu thương người anh em mà họ trông thấy thì KHÔNG THỂ yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4:20). Rất thực tế. Yêu thì phải thật, chứ không thể yêu ảo. Thánh nhân tái xác định: “Ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4:21). Rất hợp lý, rất lô-gích.

Chính Chúa Giêsu đã từng nói đến việc “mến Chúa, yêu người”, và nói thẳng ra là Ngài đang trách mỗi chúng ta, trách thật và rất thẳng thắn: “Dân này tôn kính Ta BẰNG MÔI BẰNG MIỆNG, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng VÔ ÍCH, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là GIỚI LUẬT PHÀM NHÂN” (Mt 15:8-9; Mc 7:6-7). Cũng liên quan “luật yêu”, một lần khác Chúa Giêsu xác định: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7:21). Ôi, nghe mà “nhột” quá chừng, chắc hẳn ai cũng thấy giật mình vì ai cũng thấy mình… “có tật”!

Chúa có cách nói nghe chừng “nhẹ nhàng” thế mà “nặng nề” lắm, giản dị mà phức tạp, nhẹ như “xoa” mà “đau” thấm thía! Khi nói đến “luật” thì luôn liên quan “quyền”, nói đến “quyền” thì thường liên quan sự “cạnh tranh”. Thường là thế, vì cái quyền (hành) luôn gây phiền (toái)!

Kinh Thánh cho biết rằng Vua Đariô (người Mê-đi, lên ngôi vua năm 62 tuổi) quyết định đặt trên vương quốc của ông 120 thống đốc để họ cai trị toàn vương quốc dưới quyền 3 tể tướng (tương đương “thủ tướng” ngày nay), trong đó có ông Đanien. Họ phải phúc trình mọi việc cho 3 vị này để nhà vua khỏi bị thiệt hại. Ông Đanien vượt hẳn các tể tướng và thống đốc, nhờ có một THẦN KHÍ SIÊU PHÀM, nên vua có ý định đặt ông đứng đầu cả vương quốc. Do đó, các tể tướng và thống đốc cố tìm cách BẮT LỖI ông Đanien về việc triều chính. Bới lông tìm vết, bới bèo ra bọ. Vì ghen ghét mà con người thường nhỏ nhen và hèn hạ như thế đấy.

Tương tự, người Việt có câu: “Con gà tức nhau tiếng gáy”. Con gà như thế thì con người cũng vậy, ai “gáy” hay thì người khác thường cảm thấy “ngứa” tai và “xốn” mắt. Chúa Giêsu bị ghét và bị giết chết nhục nhã cũng chỉ vì Ngài là “cái gai” trong cách nhìn của người khác. Những người ghen ghét cũng chẳng ai xa lạ vì đó là chính những người thân thiết nhất của mình, như Chúa Giêsu đã nói thẳng: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi” (Mc 6:4 ≈ Mt 13:57; Lc 4:24; Ga 4:44). Quá phũ phàng! Đời là thế! Thật vậy, CHỈ CÓ NGƯỜI GIỎI MỚI KHẢ DĨ CÔNG NHẬN TÀI NĂNG CỦA NGƯỜI GIỎI. Thật đáng sợ, bởi vì “người ta có thể phạm tội chỉ vì một mẩu bánh” (Cn 28:21).

Không ưa dưa cũng có giòi. Ngu dốt thì bị khinh, thông minh thì bị ghét. Quái gở thật! Ông Đanien bị ghét chỉ vì ông “trổi vượt” hơn người khác, âu cũng là lẽ thường. Ngày xưa, trung thần Chu Văn An đã “điểm mặt” 7 nịnh thần nên bị họ triệt tới cùng. Xưa đã vậy, nay cũng thế thôi. NGƯỜI ĐỜI “KÈN CỰA” NHAU ĐÃ ĐÀNH, NGƯỜI THEO ĐẠO CHÚA CŨNG CHẲNG HƠN GÌ, thậm chí người thời nay còn tinh vi hơn nhiều. Vậy làm sao có thể truyền giáo?

Họ ghét thì rất ghét, nhưng họ đã không thể tìm được một cái cớ nào hoặc một sai sót nào để bắt lỗi, vì ông Đanien vốn là người trung tín; họ đã không tìm được điều gì sơ suất hay thiếu sót nơi ông. Do đó, những người ấy mới cùng nhau bày mưu lập kế: “Chúng ta sẽ chẳng tìm được một cớ nào để bắt lỗi tên Đanien này đâu, trừ phi tìm lý do tôn giáo để hại y” (Ðnl 6:6). Ác nhân quá thâm độc, thật đáng sợ tà tâm!

Ngày nay, con người cũng vẫn đã và đang lăn vào “vết xe cũ”, nhưng theo cách thức tân kỳ hơn, kỹ xảo hơn, vậy mà vẫn “hãnh diện” về cái mưu thâm kế độc của mình, rồi biện hộ là “đúng quy trình”. Có lẽ vì thế mà Thiên Chúa soi sáng cho Giáo Hội biết phải khuyến khích việc Tân Phúc Âm hóa, xem xét lại đức tin của chính mình trước rồi mới nói chuyện liên quan người khác. Cứ ảo tưởng và ảo giác thì không thể thay đổi được gì. Nguy hiểm lắm!

Rõ ràng ông Đanien là hiện thân của những người “ăn ngay ở lành”, sống nghiêm túc. Dù hoàn cảnh có thế nào, những con người ấy vẫn một lòng kiên cường tín thác vào Thiên Chúa: “Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con” (Tv 18:2). Họ luôn tin yêu và không ngừng tin cậy Thiên Chúa: “Lạy Chúa là núi đá, là thành luỹ, là Đấng giải thoát con; lạy Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con trú ẩn, là khiên mộc, là Đấng cứu độ quyền năng, là thành trì bảo vệ” (Tv 18:4). Chắc chắn rằng “người công chính nhờ đức tin sẽ được sống” (Gl 3:11).

Trong con mắt của người đời, họ là những kẻ bị lép vế, bị thua thiệt, bị khinh miệt, bị ghen ghét, bị xa tránh, bị trù dập, nhưng họ vẫn âm thầm tin tưởng cầu nguyện và nương tựa vào Chúa. Họ không ngần ngại xác định: “Chúa cho đôi chân này lanh lẹ tựa chân nai, Ngài đặt tôi đứng vững trên đỉnh núi” (Tv 18:46). Ngay trong gian truân, họ vẫn hiên ngang tuyên tín: “Đức Chúa vạn vạn tuế! Chúc tụng Ngài là núi đá cho tôi trú ẩn. Tôn vinh Thiên Chúa là Đấng cứu độ tôi” (Tv 18:47). Đúng như Thánh Vịnh gia đã chia sẻ kinh nghiệm: “Chúa ban nhiều chiến thắng lớn lao cho Đức Vua chính Ngài đã lập. Chúa hằng ưu ái Đấng mà Ngài đã xức dầu tấn phong, là Đa-vít cùng dòng dõi đến muôn đời” (Tv 18:51). Đích thực là người của Chúa mới đáng tin, chứ “đừng mong gì nhiều nơi những người quyền thế của thế gian này – vì hầu hết họ đều bỏ mặc những người nghèo khó trong cảnh bần hàn, họ vừa hèn hạ vừa thiếu quảng đại, giả điếc làm ngơ trước tiếng kêu than của những người yếu đuối và bất lực” (Chân phước Placid Riccardi, 1844-1915).

Vừa phân tích vừa xác định, Thánh Phaolô cho biết: “Trong dòng tộc Lêvi, có nhiều người kế tiếp nhau làm tư tế, bởi vì họ phải chết, không thể giữ mãi chức vụ đó. Còn Đức Giêsu, chính vì Ngài hằng sống muôn đời, nên phẩm vị tư tế của Ngài tồn tại mãi mãi. Do đó, Ngài có thể đem ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai nhờ Ngài mà tiến lại gần Thiên Chúa. Thật vậy, Ngài hằng sống để chuyển cầu cho họ” (Dt 7:23-25). Đó chính là vị Thượng Tế mà chúng ta cần đến, với các đặc tính cần thiết: “Một vị Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn, vô tội, tách biệt khỏi đám tội nhân và được nâng cao vượt các tầng trời” (Dt 7:23-26).

Trong thư gởi giáo đoàn Do Thái có những điều xem chừng không ăn nhập gì, vì nói tới chức tư tế, nói tới thừa tác vụ. Thế nhưng lại vẫn “ăn nhập” lắm đấy. Tại sao? Tư tế là những người có trách nhiệm củng cố đức tin cho giáo đoàn. Cây càng cao, gió càng lay. Tất nhiên thôi! Vì thế, Chúa Giêsu đã hỏi ngư phủ Phêrô không chỉ một lần mà ba lần: “Anh có mến Thầy HƠN các anh em này không?” (Ga 21:15). Và đó cũng là câu hỏi hằng ngày Chúa Giêsu vẫn đặt ra cho mỗi chúng ta. Mỗi người có cách trả lời khác nhau, nhưng đó là điều kiện Chúa đòi hỏi từng người phải thật lòng trả lời và nghiêm túc thực hiện, để chứng tỏ đức tin của chính mình – và cũng chia sẻ niềm tin đó cho tha nhân.

Chắc hẳn là rất dễ đọc: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài”. Thế nhưng vấn đề không chỉ là “thuộc lòng” và “đọc như vẹt”, mà là thể hiện lời tuyên tín đó một cách sống động bằng hành động cụ thể. Ôi chao, chẳng hề dễ dàng chút nào!

Như để giải thích, Thánh Phaolô nói: “Đức Giêsu không như các vị thượng tế khác: mỗi ngày họ phải dâng lễ tế hy sinh, trước là để đền tội của mình, sau là để đền thay cho dân; phần Ngài, Ngài đã dâng chính mình và chỉ dâng một lần là đủ. Vì Luật Môsê thì đặt làm thượng tế những con người vốn mỏng giòn yếu đuối, còn lời thề có sau Lề Luật, lại đặt Người Con đã nên thập toàn cho đến muôn đời” (Dt 7:27-28).

Chính Đức Kitô đã hiến tế, chúng ta không thể làm khác – nghĩa là cũng phải hiến tế. Chúa Giêsu đã hóa thành “tấm bánh” để nuôi sống chúng ta, thế thì chúng ta cũng phải CẦM LẤY, TẠ ƠN, BẺ RA và TRAO TẶNG chính Tấm-Bánh-Cuộc-Đời-Mình cho tha nhân, nhất là đối với những con người bé mọn, yếu đuối, nghèo khổ, lạc loài, cô độc,…

Một hôm, có một người trong các kinh sư đã nghe Đức Giêsu và những người thuộc nhóm Xađốc tranh luận với nhau. Thấy Đức Giêsu đối đáp hay, ông đến gần Ngài và hỏi: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?” (Mc 12:28). Đức Giêsu ôn tồn: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi PHẢI yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi PHẢI yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó” (Mc 12:29-31). Hai điều răn quan trọng nhất với hai động từ PHẢI mạnh mẽ và dứt khoát – không thể không thi hành.

Nghe Đức Giêsu nói vậy, ông kinh sư thấy “đã tai” nên liền nói với Ngài: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là ĐẤNG DUY NHẤT, ngoài Ngài ra KHÔNG CÓ ĐẤNG NÀO KHÁC. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực và yêu người thân cận như chính mình là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ” (Mc 12:32-33). Chắc hẳn chúng ta cũng mang tâm trạng như ông kinh sư này, cũng thấy rất thú vị và hợp lý, nhưng NGHE và CHẤP NHẬN là một chuyện, còn THỰC HIỆN lại là chuyện khác. “Khoảng cách” đó vừa gần vừa xa, vừa hẹp vừa rộng. Trách nhiệm mỗi chúng ta là “lấp đầy” khoảng cách đó.

Có lẽ Chúa Giêsu cũng ngạc nhiên khi thấy ông kinh sư trả lời khôn ngoan như vậy, và Ngài xác nhận: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” (Mc 12:34). Quả thật, không khó gì khi nói “mến Chúa” và “yêu người”. Chỉ là “chuyện nhỏ” mà thôi. Nhưng vấn đề quyết định cuối cùng phải là THỰC HÀNH điều mình nói để chứng tỏ ĐỨC TIN một cách cụ thể. Tại sao? Bởi vì “đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2:26). Nói được – đó chỉ là “chuyện nhỏ”. Làm được – đó mới là “chuyện lớn”, và là điều cần thiết mà Thiên Chúa muốn thấy nơi mỗi chúng ta.

Lạy Thiên Chúa toàn năng chí thánh, thật hạnh phúc khi chúng con được nhận biết và tin vào Ngài nhờ Đức Kitô mặc khải, xin cảm tạ Ngài và xin giúp chúng con sống đức tin qua từng động thái hằng ngày, xin giúp chúng con biết chạnh lòng thương trước nỗi đau của tha nhân và dân tộc, nhất là những con người nhỏ bé và yếu đuối vì bất công xã hội. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của nhân loại. Amen.

Về mục lục

Từ khóa:

thiên chúa, hết lòng

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
Tin Giáo phận

Từ giữa quảng trường Tàpao hôm nay, rực tươi một màu đỏ thắm của phẩm phục mà Đức Cha Tôma, Đức Cha Emmanuel Nguyễn Hồng Sơn - Giám mục Giáo phận Bà Rịa – và hơn 140 linh mục đang...

Tin mới