Các bài suy niệm Chúa Nhật II Phục Sinh

Đăng lúc: Thứ sáu - 06/04/2018 16:55 - Người đăng bài viết: Ban Truyen Thong

 

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH, năm B

( CHÚA NHẬT LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA )

Lời Chúa: Cv 4, 32 – 35;  1 Ga 5, 1 – 6;  Ga 20, 19 – 31

——— 

DẪN NHẬP

Lời Chúa: “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20,29)

Nhập lễ:

Kính thưa cộng đòan phụng vụ,

Phụng vụ Lời Chúa chúa nhật 2 phục sinh hôm nay cho chúng ta thấy, Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra để đem bình an và cũng cố niềm tin cho các Tông đồ, nhất là với ông Tôma, một con người đa nghi và thực nghiệm. Tôma đã xem thấy, đã sờ vào các lỗ đinh và đã tuyên xưng niềm tin Chúa đã sống lại:

Tám ngày Chúa lại hiện ra,

Nhờ nơi dấu Thánh Tô - ma tin Người.

Nhưng còn diễm phúc cho ai,

Vững tin Lời Chúa chẳng nài dấu chi,

Lời Người ta quyết thực thi,

Sống nhờ danh Chúa, ai bì được chăng ?

Hiệp dâng Thánh lễ kính Lòng Thương Xót Chúa hôm nay, xin Chúa cho tâm hồn chúng ta được tràn đầy bình an của Chúa Kitô phục sinh, xác tín niềm tin vào Chúa sống lại để can đảm sống đức tin giữa những nghịch cảnh của cuộc đời. Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta hãy thành tâm sám hối.

Sám hối:

X. Lạy Chúa, Chúa đã sống lại thật rồi. Alleluia! Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa Kitô, Chúa đã sống lại và hiện ra với các Tông đồ để đem bình an và cũng cố niềm tin cho các Tông đồ. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa, Chúa mời gọi chúng con hãy trở nên chứng nhân Tin Mừng của Đấng Phục sinh. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

Kết: Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.

CĐ: Amen.

Suy niệm:

Kính thưa quý ông bà và anh chị em,

Chúa Kitô Phục sinh không phải là sự kiện hiển nhiên có thể được chấp nhận dễ dàng. Ngay tâm trạng hoài nghi của các Tông đồ, nhất là của Tôma. Những ám ảnh về cuộc thương khó và khổ nạn của Chúa Kitô vẫn còn in đậm trong tâm trí của các Tông đồ. Ám ảnh này làm các Tông đồ chán nản và sợ sệt, nhưng Thiên Chúa đã kiên nhẫn giúp họ dần dần tiến sâu vào mầu nhiệm Phục sinh khiến họ phải reo ca lên: Chúa đã sống lại thật rồi. Alleluia!

Thưa anh chị em, Chúa đã sống lại thật rồi. Alleluia! Niềm vui này khởi đi từ các Tông đồ, “các ông vui mừng vì xem thấy Chúa”, và cũng là niềm vui cho toàn thể nhân loại. Vui vì nhờ cuộc khổ nạn và Phục sinh của Chúa Kitô, chúng ta được thông phần vào đời sống mới, với tư cách là con cái Thiên Chúa, được đồng thừa tự với Chúa Kitô. Nếu sự chết là nỗi sợ hãi nhất của con người thì sự Phục sinh là niềm hy vọng lớn nhất cho kiếp người chúng ta. Sự nghi ngờ của các Tông đồ, lòng cứng tin của Tôma giờ đây đã trở nên bằng chứng đầy thuyết phục đối với chúng ta, và chúng ta vinh dự được lãnh nhận niền tin vào Chúa Kitô Phục sinh không phải bằng giác quan nhưng nhờ ân sủng “phúc cho ai không thấy mà tin”. Nhờ tin vào Chúa Kitô Phục sinh, các tín hữu thời Giáo Hội sơ khai đã quây quần bên nhau hợp nhất cầu nguyện, đồng tâm nhất trí với nhau. Sự đồng tâm nhất trí không chỉ trong tư tưởng, lời nói mà được thể hiện trong việc chia sẻ của cải vật chất, sẵn sàng góp công góp của, coi mọi sự làm của chung. Các tín hữu thời Giáo Hội sơ khai đã làm chứng cho nhau bằng chính đời sống đức tin mạnh mẽ, đời sống cầu nguyện sống động và đời sống bác ái chân thành. Chính cuộc sống yêu thương hiệp nhất về tinh thần và vật chất này sẽ trở thành lời mời gọi mọi người đón nhận Tin mừng Chúa Kitô Phục sinh. “Cứ dầu này chúng ta nhận biết chúng ta là con cái Thiên Chúa là chúng ta yêu mến Thiên Chúa và thực hành các giới răn của người”. Lòng tin luôn vượt quá những gì chúng ta có thể chứng minh. Lòng tin vào Chúa Kitô Phục sinh mời gọi chúng ta phải dấn thân tin tưởng và hoán cải để có thể gặp được Đấng Phục sinh vẫn đang hiện diện trong đời sống mỗi người chúng ta.

Kính thưa quý ông bà và anh chị em

Chúa nhật hôm nay được gọi là Chúa nhật của Lòng Thương Xót Chúa. Giáo hội kính Lòng Thương Xót của Chúa. Giáo hội mời gọi chúng ta hãy sám vì những thiếu sót và lầm lỗi của mình để có thể từ đó cảm nghiệm sâu xa về tình yêu và Lòng Thương Xót của Người. Thánh Gioan Tông đồ đã định nghĩa, Thiên Chúa là Tình Yêu. Nếu tình yêu là bản tính của Thiên Chúa thì Lòng Thương Xót là cách thức Chúa bày tỏ tình yêu của Ngài đối với kẻ tội lỗi.

Có câu chuyện kể rằng, một vị linh mục là một người rất yêu mến Chúa, nhưng ngài luôn bị ám ảnh bởi một tội mà ngài đã phạm trong quá khứ. Ngài đã ăn năn sám hối nhưng vẫn không bình an tâm hồn. Cho tới một hôm nghe nói có một phụ nữ trong giáo xứ hay được tiếp xúc và nói chuyện với Chúa trong giấc mơ. Vị linh mục không tin, nên muốn thử bà ta và nói: lần sau bà có nói chuyện với Chúa thì hỏi xem, tôi đã phạm tội gì? Thế là mấy ngày sau gặp lại, vị linh mục đã hỏi bà là Chúa đã nói gì? Bà trả lời: Chúa nói rằng, Ta chẳng còn nhớ gì nữa!

Ước gì mỗi người chúng ta nhận ra Lòng Thương Xót của Thiên Chúa và nhìn nhận mình là một tội nhân đã được Chúa cứu chuộc bằng giá máu. Đồng thời, nhìn lại thái độ của mình khi đối xử với những người tội lỗi, những người xúc phạm đến mình để từ đó, tỏ lòng xót thương đối với anh chị em mình. Nguyện xin Chúa Kitô là Đấng Phục sinh vinh hiển, Đấng giàu Lòng Thương Xót, xin xót thương và ban ơn bình an cho mỗi người chúng ta. Amen.

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang.

Mục lục

1. Phúc cho ai không thấy mà tin (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Gặp gỡ Đức Kitô Phục sinh (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Quyền năng của Thần khí (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

4. Lòng thương xót Chúa tồn tại đến muôn đời  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

5. Gặp Chúa trong tâm hồn(Bông Hồng Nhỏ, Tiền Tập sinh MTG.Thủ Đức)

6. Tin để thấy  (Anna Cỏ May, Tiền Tập sinh MTG.Thủ Đức)

7. Lòng thương xót Chúa đổ tràn trên Giáo hội  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

8. Suy niệm Chúa Nhật 2 Phục sinh_B (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam)

9. Suy niệm Chúa Nhật 2 Phục sinh_B.  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

10. Lòng Chúa xót thương (Lm Gioan Nguyễn văn Ty, SDB)

11. Làm chứng cho Đấng Phục sinh  (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)

12. Mầu nhiệm thương xót (Trầm Thiên Thu)

13. Lòng thương xót Chúa dành cho Tô-ma (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

14. Vết thương của lòng thương xót (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

15. Điểm hẹn Galilê (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

16. Đóng bè để giữ vững đức tin  (Lm. Trần Bình Trọng)

17. Bình an  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

18. Đức tin là một ân ban của lòng thương xót  (Tu sĩ Jos.Vinc.Ngọc Biển, SSP)

19. Nghi ngờ  (Lm. Vũ Đình Tường)

20. Dấu chỉ thánh giá bảo đảm đức tin (Lm. GB. Nguyễn Minh Hùng)

21. Suy niệm chú giải Lời Chúa – Chúa Nhật 2 Phục sinh (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

22. Chúa Nhật 2 Phục sinh_B  (Lm. Antôn)

 

 

.

PHÚC CHO AI KHÔNG THẤY MÀ TIN

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

Trong xã hội hiện đại hôm nay, việc kể lại một người đã chết ba ngày rồi sống lại sẽ bị coi là chuyện cổ tích hay ảo tưởng. Tuy vậy, sự kiện Chúa phục sinh từ cõi chết là sự kiện lịch sử và là nền tảng đức tin cho các Kitô hữu. Hai ngàn năm sau cái chết của Chúa Giêsu, có nhiều người xác tín vào sự phục sinh của Chúa, nhưng vẫn có những người phủ nhận sự sống lại của Người. Người ta dựa vào những chứng lý của khoa học và dựa vào kinh nghiệm đời thường để không tin Chúa đã sống lại. Đối với chúng ta là Kitô hữu, dựa trên lời Chúa: “Phúc cho ai không thấy mà tin”, chúng ta tuyên xưng vững vàng Đức Giêsu “ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại“. Quả vậy, trước một vấn đề mà con mắt thể lý chúng ta không nhìn thấy, chúng ta cần có đức tin. Vì nếu nhìn thấy rồi, thì đâu cần tin nữa. Chấp nhận tin như thế được Chúa tuyên bố là người có phúc.
 
Tin vào Chúa phục sinh không phải là ảo tưởng và mù quáng. Bởi lẽ Thiên Chúa là Đấng quyền năng, từ hư vô Ngài đã dựng nên trời đất, con người và muôn vật. Nếu ở khởi đầu của lịch sử, Chúa đã lấy bùn đất mà nắn thành con người, thì nay, Chúa Cha đã cho Con của Ngài từ cõi chết sống lại là điều dễ dàng và có thể hiều được. Nhiều người phủ nhận Chúa phục sinh, bởi họ chỉ dựa trên lý luận theo kiểu của con người, mà không tin rằng Chúa quyền năng có thể làm mọi sự. Đối với Ngài, mọi sự đều có thể.
 
Tôma, một trong mười hai tông đồ, là người đã lý luận theo kiểu con người. Ông đòi phải có những điều kiện này nọ mới tin. Nói cách khác, ông chỉ tin vào những gì ông nhìn thấy. Đây là một cách lý luận nơi nhiều người, do ảnh hưởng thuyết duy vật hôm nay. Họ chỉ tin vào vật chất và phủ nhận những thực tại thiêng liêng. Đối với họ, những gì liên quan đến thế giới siêu hình đều bị coi những điều nhảm nhí, chỉ dành cho một số người lạc hậu và dân trí thấp. Vẫn còn đó xung quanh chúng ta những Tôma, tức là những người hoài nghi sự hiện hữu của Thiên Chúa và chỉ tin vào những gì mà họ kiểm chứng bằng giác quan.
 
Chúa Giêsu đã đáp trả những thách thức của Tôma. Tám ngày sau, cũng vào ngày thứ nhất trong tuần, Người đã hiện đến với các tông đồ, cùng với những thương tích trên thân thể Người. Trước đó, Tôma đã ra điều kiện để tin, như tận mắt thấy những vết thương của Chúa, thì nay Người đã cho ông thấy rõ ràng. Ông chẳng còn lòng dạ nào mà xỏ ngón tay vào lỗ đinh, đặt bàn tay vào cạnh sườn Chúa. Đúng hơn, ông chẳng cần làm những điều đó, vì Chúa đang ở trước mặt ông bằng xương bằng thịt và đang nói với ông: “Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”. Qua lời nói với Tôma, Chúa Giêsu phục sinh muốn gửi đến cho chúng ta một thông điệp: “Phúc thay những người không thấy mà tin”. Thông điệp ấy vẫn có giá trị đến ngày hôm nay. Là những tín hữu, chưa ai trong chúng ta được thấy Chúa trực tiếp. Chúng ta chỉ cảm nhận Chúa bằng Đức tin. Con tim và lý trí mách bảo chúng ta Chúa đang hiện diện và những ai tin vào Người thì sẽ không phải thất vọng. “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”. Tôma không còn biết nói gì khác hơn là một lời tuyên xưng quyền năng của Thiên Chúa với niềm xác tín nơi Ngài. Đó là lời tuyên xưng Đức tin của một người đã hoàn toàn bị chinh phục. Đó cũng là tâm tình sám hối của một người đã chậm tin những chứng từ của anh em mình.
 
Ngày hôm nay, xung quanh ta, Chúa Giêsu vẫn hiện diện với những thương tích do cuộc khổ nạn thập giá. Đó không còn phải là một con người mang dấu đinh và vết thương ở cạnh sườn, nhưng đó là những anh chị em đang bầm dập vì cuộc sống đầy gian nan thử thách. Cộng đoàn tín hữu tiên khởi đã sớm nhận ra Chúa hiện diện trong Giáo Hội và nơi những người nghèo. Vì thế mà họ chuyên cần cầu nguyện, hăng hái chia sẻ và quan tâm đến những người bất hạnh. Chính Đấng Phục sinh đã dạy họ thực thi những điều đó, và liên kết họ trong tình bác ái thân thương, để rồi, qua những nghĩa cử bác ái đó, họ càng nhận ra sự hiện diện của Chúa một cách cụ thể hơn (Bài đọc I). Thánh Gioan tông đồ đã quảng diễn tình yêu dành cho Chúa và đức bác ái dành cho tha nhân đi song song với nhau không thể tách rời. Hơn thế nữa, những ai tin vào Chúa và thực thi lời dạy của Người sẽ chiến thắng thế gian và sẽ được an bình giữa biển cả ba đào đầy gian nguy thử thách (Bài đọc II).
 
Tin vào Chúa phục sinh được kể là người có phúc. Đó là phần thưởng cho người tin. Trong chúng ta, chưa ai nhìn thấy Chúa Phục sinh như ông Tôma và các tông đồ, nhưng chúng ta tin chắc điều đó, vì Chúa là Đấng có thể làm được mọi sự. Nhờ niềm xác tín này, chúng ta được chúc phúc, giống như Đức Trinh nữ Maria, qua lời chào của bà Elisabeth: “Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1, 45). “Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”. Chúa Giêsu Phục sinh đang nói điều đó với tôi, với bạn và với cả thế giới hôm nay.
 
“Tất cả những gì không thể hiểu được, ít nhằm để người ta không hiểu được cho bằng để người ta hiểu nhiều hơn” (Blaise Pascal).
 
“Đức tin là sự tin tưởng sống động và táo bạo vào ơn Chúa, chắc chắn và vững bền tới mức một người có thể cược cả đời mình cho nó hàng nghìn lần” (Sưu tầm).

Về mục lục

.

GẶP GỠ ĐỨC KITÔ PHỤC SINH

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

Trong suốt tuần Bát Nhật, từ đêm vọng Phục sinh tới hôm nay, Chúa nhật 2 Phục sinh, các bài đọc đã trình bày cho ta nhiều lần Đức Kitô phục sinh hiện ra. Từ những lần thấy Đức Kitô phục sinh hiện ra ấy, các môn đệ đã có những cảm nghiệm sau đây:

  1. Cảm nghiệm đầu tiên là, Đức Kitô đồng hành với họ trên mọi nẻo đường.

Đức Kitô phục sinh không còn bị giới hạn trong không gian. Người có thể cùng lúc xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau. Ngươì xuất hiện trong vườn, gần mồ chôn Người. Người xuất hiện bên bờ hồ, nơi các môn đệ đang chài lưới. Người xuất hiện ở làng Emmau, cách Giêrusalem một quãng đường dài. Người xuất hiện trong phòng đóng kín cửa, nơi các môn đệ tụ họp. Sau này, Người còn xuất hiện ở mãi tận Damas, bên nước Syrira, nơi Phaolô lùng bắt người theo đạo. Không gian xa xôi không làm chậm bước Ngài. Không gian khép kín không ngăn được bước Ngài. Đức Kitô phục sinh ra khỏi mồ có mặt trên mọi nẻo đường của cuộc sống.

Đức Kitô phục sinh cũng không bị giới hạn trong thời gian. Người xuất hiện với Maria khi trời còn đẫm sương khuya. Người xuất hiện bên bờ hồ với các môn đệ khi bình minh vừa ló rạng. Người xuất hiện trong phòng tiệc ly ngay giữa ban ngày. Người xuất hiện ở Emmau khi trời sụp tối. Trong mọi lúc của cuộc đời, Đức Kitô luôn có mặt. Không có thời gian nào Người không ở bên ta.

Đức Kitô phục sinh không còn bị giới hạn, trong một cảnh ngộ cuộc sống nhất định. Trong vườn, Người xuất hiện như người làm vườn.. Bên những người chài lưới, Người xuất hiện như một bạn chài chuyên nghiệp, rành rẽ đường đi của đàn cá. Trên đường Emmau, Người xuất hiện như một khách hành hương, đồng hành với hai linh hồn buồn bã, e ngại đường xa. Người xuất hiện để khích lệ các môn đệ đang lo buồn sợ hãi. Người xuất hiện để soi chiếu niềm nghi ngờ tăm tối của Tôma.

  1. Cảm nghiệm thứ hai là, Đức Kitô phục sinh khơi dây niềm bình an, tin tưởng.

Biết các môn đệ đang buồn sầu, bối rối, bấn loạn sau cái chết của Thầy, Đức Kitô phục sinh mỗi lần hiện ra, đều chúc các ông: “Bình an cho các con”. Người còn thổi hơi vào các ông và nói: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần”.

Cử chỉ thổi hơi nhắc cho ta nhớ lại việc sáng tạo. Khi ấy vũ trụ còn là một khối hỗn mang, vô định hình. Rồi Thần Linh Chúa bay là là trên mặt nước. Nhờ đó mọi vật dần dần có hình hài vóc dáng, đi vào trật tự, ổn định.

Sau cuộc khổ nạn của Đức Kitô, tâm hồn các môn đệ cũng tan nát như một khối hỗn mang, vô định hình. Đức Kitô thổi hơi ban Thánh Thần trong một tạo dựng mới, đem lại trật tự ổn định, uốn nắn các môn đệ thành những con người mới, tràn đầy bình an của Chúa Thánh Thần. Sau khi gặp Đức Kitô phục sinh, Maria buồn bã trở nên vui tươi, hai môn đệ Emmau u sầu tuyệt vọng trở nên phấn khởi, các môn đệ chài lưới mệt mỏi rã rời được hồi phục sức lực, các môn đệ sợ sệt bối rối ẩn núp trong phòng được bình an, Tôma nghi nan bối rối được vững niềm tin mến. Đức Kitô phục sinh chính là niềm bình an cho các ông.

  1. Cảm nghiệm thứ ba, cũng là cảm nghiệm quan trọng nhất, Đức Giêsu phục sinh làm cho cuộc đời có ý nghĩa.

Sau khi Đức Kitô bị hành hình, cả một bầu trời sụp đổ. Các môn đệ tuyệt vọng. Họ sống trong lo sợ, buồn bã, chán chường. Không, họ không còn sống nữa vì cuộc đời đối với họ chẳng còn ý nghĩa gì. Họ như đã chết với Thầy. Chỉ còn nỗi lo sợ, nỗi buồn, niềm tuyệt vọng sống trong họ thôi. Đức Kitô là linh hồn của họ. Linh hồn đã ra đi. Xác sống sao được.

Khi Đức Kitô phục sinh trở lại, những xác chết bỗng hồi sinh, những bộ xương khô bỗng chỗi dậy, mặc lấy da thịt, trở lại kiếp người, những trái tim nguội lạnh trở lại nhịp đập, ánh mắt nụ cười lại rạng rỡ tươi vui, vì cuộc sống từ nay có một linh hồn, cuộc sống từ nay có một ý nghĩa.

  1. Cảm nghiệm cuối cùng là, Đức Kitô phục sinh sai họ đi loan báo Tin Mừng Phục sinh.

Đức Giêsu Phục sinh đã biến đổi toàn bộ cuộc đời các môn đệ. Đức Kitô phục sinh là Tin Mừng lớn lao trọng đại đem lại ý nghĩa cho cuộc đời. Nên các môn đệ không thể không loan báo Tin Mừng lớn lao đó. Maria lập tức chạy về loan tin cho các môn đệ, mời Phêrô và Gioan đến xem ngôi mộ trống. Hai môn đệ Emmau lập tức trở về Giêrusalem bât chấp trời đã tối đen. Phêrô chạy bay ra mồ dù còn sáng sớm và còn bị nỗi sợ người Do Thái ám ảnh. Và sau này, Phaolô, sau khi ngã ngựa, đã trở thành một người loan báo Tin Mừng không biết mệt mỏi.

Hôm nay chính Đức Kitô Phục Sinh nói với các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”.

Tất cả những người đã thấy Đức Giêsu Phục Sinh đều trở thành những sứ giả loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Tất cả các môn đệ đều đã lấy máu mình mà làm chứng cho lời rao giảng. Vì Đức Kitô phục sinh là một Tin Mừng không thể không chia sẻ. Vì lệnh sai đi của Đức Kitô là một lệnh truyền không thể chống cưỡng. Như Thánh Phaolô sau này đã nói: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”.

Hôm nay Đức Giêsu Phục Sinh cũng đang hiện diện bên ta. Người luôn ở bên ta trong mọi thời gian. Từ buổi bình minh khi ta mới chào đời cho đến lúc mặt trời chói lọi của tuổi thanh niên. Từ lúc xế chiều của đời xế bóng cho đến lúc bóng đêm tuổi già phủ xuống đời ta.

Người vẫn ở bên ta trong mọi không gian: trong nhà thờ, nơi trường học, ở sở làm, nơi giải trí, trong gia đình, trong chòm xóm.

Người vẫn ở bên ta trong mọi cảnh ngộ vui buồn của cuộc đời. Người ở bên em bé mồ côi đang khóc đòi vú me. Người ở bên em học sinh đang miệt mài đèn sách. Người ở bên cô thiếu nữ đau buồn vì bị tình phụ. Người ở bên chàng thanh niên lạc hướng giữa ngã ba đường. Người ở bên ngững cuộc đời bế tắc không lối thoát.

Chỉ cần quay đầu, dừng bước là gặp được Người. Hãy khao khát đón chờ Người. Hãy tỉnh thức lắng nghe tiếng bước chân Người. Bước chân Người rất nhẹ nhàng, không ồn ào. Đừng bỏ lỡ cơ hội gặp Người.

Gặp được Người, lòng ta sẽ bình an, linh hồn ta sẽ hồi sinh, cuộc đời ta sẽ sống, sống mãnh liệt, sống phong phú, sống dồi dào.

Lạy Đức Kitô Phục Sinh, con đang chìm trong cái chết dần mòn. Xin hãy đến và cho con được Phục Sinh với Người.

Về mục lục

.

QUYỀN NĂNG CỦA THẦN KHÍ

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Đức Giêsu đã sống lại thật rồi.Alléluia ! Những điều Thánh Kinh thuật lại đã minh chứng việc Chúa Giêsu sống lại : các Tông đồ và mọi người chúng ta với con mắt đức tin, đã nhận ra Đức Giêsu sống lại, Ngài đang hoạt động trong thế giới và trong mỗi người chúng ta. Hôm nay, Chúa sống lại lại hiện ra với các Tông đồ: việc đầu tiên Ngài ban bình an cho các Tông đồ, và minh chứng cho các Tông đồ thấy tay, chân bị đóng đinh và cạnh sườn bị lưỡi đòng đâm thâu qua, và Ngài thổi hơi vào các Tông đồ và bảo :” Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần…” “ Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em “.

Đọc Lại Kinh Thánh, chúng ta đã nhận ra ngay từ thời Cựu Ước, lúc Thiên Chúa tạo dựng nên trời đất, muôn vật…Thần khí của Thiên Chúa đã bay là là trên mặt nước. Thần khí lúc này là Thần khí sự sống. Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ và muôn loài. Thần khí của Thiên Chúa hả hơi ban sự sống. Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa thổi sinh khí của Người và ban cho con người sự sống. Trình thuật của thánh Gioan hôm nay cũng cho thấy Chúa Phục Sinh thổi hơi vào các môn đệ và ban cho họ năng lực mới, tạo thành mới “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ “. Các môn đệ của Chúa được Chúa sai đi :” Như Cha đã sai Thầy.Thầy cũng sai anh em “.Quyền năng của Đấng Phục Sinh đã biến đổi các môn đệ. Các ngài có sứ mạng đem niềm vui, bình an và kiến tạo sự sống mới cho những ai tin vào Đức Kitô.Bởi vì, các môn đệ đã lãnh nhận quyền năng nơi Đức Kitô Phục Sinh, các ngài có trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ hăng say đem quyền năng ấy đi khắp tận cùng thế giới.

Quả thực, các môn đệ khi được Chúa sống lại thổi hơi ban sinh khí mới, năng lực mới của Chúa Thánh Thần, các ngài đã hiên ngang, mạnh dạn làm chứng cho Chúa Phục Sinh. Lời chứng của các môn đệ càng ngày càng mạnh mẽ, không suy giảm cường độ chút nào cả và càng lúc càng ảnh hưởng đến mọi người. Các môn đệ cảm nghiệm rõ ràng năng lực mới lạ và kỳ diệu đã khiến họ làm được nhiều phép lạ. Sự biến đổi không thể nào giải thích được nơi các môn đệ của Đức Giêsu, khiến cho nhiều người rất đỗi ngạc nhiên và chính những người này nói rằng lý trí cũng đủ minh chứng Chúa Giêsu  Phục Sinh.

Chúng ta hôm nay, không được diễm phúc như thánh Tôma đối diện với Chúa Phục Sinh, được nhìn chân tay và những lỗ đinh, nhìn cạng sườn của Chúa bị lưỡi đòng đâm thâu qua, để có thể cảm nghiệm trực tiếp Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết. Tuy nhiên, chúng ta đã có chứng cớ của Kinh Thánh, chứng cớ sống động của các Tông đồ, chứng cớ không thể chối cãi của bà Maria Mađalêna đã thuật lại…Chúng ta có thể dùng lý do Chúa tặng ban để xác quyết và nhận ra Chúa đã sống lại thật. Và rồi, chúng ta cũng phải sẵn sàng quỳ gối như thánh Tôma và thưa với Chúa Giêsu :” Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con “. Và Chúa cũng sẽ nói với mọi người chúng ta :” Hạnh phúc thay những ai không thấy mà tin “.

Chúa nhật hôm nay cũng là Chúa nhật kính nhớ Lòng Thương Xót Chúa.Chúng ta luôn tin tưởng, phó thác nơi lòng nhân từ thương xót của Chúa. Như người con hoang đàng, như con chiên lạc, như người phụ nữ ngoại tình, chúng ta luôn tín thác nơi Lòng Thương Xót của Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, cuộc hành trình theo Chúa là một cuộc hành trình đức tin lâu dài, có những lúc chúng con dễ dàng tin nhận, nhưng có những lúc đức tin của chúng con bị thử thách, chao đảo như thánh Tôma, xin giúp chúng con nhớ lại những sự việc đã xảy ra theo lời Kinh Thánh thuật lại vào ngày Chúa nhật Phục sinh, xin Chúa đánh thức đức tin của chúng con để chúng con nhận ra biến cố Phục Sinh không chỉ tác động trên các môn đệ của Chúa năm xưa mà có ảnh hưởng sâu rộng trên lịch sử nhân loại. Xin giúp chúng con biết mau mắn loan báo Chúa Phục Sinh cho nhiều người như Mađalêna và các môn đệ đã mau mắn loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho nhiều người.Xin cho chúng con biết mở rộng tâm hồn để đón nhận năng lực mới của Chúa Thánh Thần : đem niềm vui, hiệp nhất, yêu thương và bình an đến cho mọi người. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Tại sao Chúa Phục Sinh lại ban bình an cho các môn đệ ?

2.Thổi hơi vào các môn đệ có nghĩa gì ?

3.Quyền năng của Đấng Phục Sinh là gì ?

4.Ai đã sai Chúa Giêsu và ai đã sai các Tông đồ ?

5.Quyền tha tội là gì ?

Về mục lục

.

LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA TỒN TẠI ĐẾN MUÔN ĐỜI

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa được tiếp liền sau Đại Lễ Phục Sinh, Phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta cách đặc biệt, kể từ ngày 22 tháng Tư năm 2001 là sùng kính Lòng Thương Xót Chúa. Chính thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II muốn đáp lại ý muốn của Thiên Chúa cách minh nhiên được truyền lại cho vị thánh đồng hương của mình là Faustina Kowalska sứ điệp về lòng thương xót Chúa đối với thế giới là vô cùng vô hạn. Chúng ta cùng nhau thực hành lời khuyên của Chúa, để nhận được ơn tha thứ tội lỗi và mọi hình phạt, do đó, trong lời Ca nhập lễ hôm nay : ” Như những trẻ sơ sinh, anh em hãy khao khát sữa thiêng liêng tinh khiết, nhờ đó anh em sẽ lớn lên để hưởng ơn cứu độ. Allêluia”.

Tin Mừng chung cho cả ba năm Phụng vụ A,B,C được trích từ Phúc Âm theo Thánh Gioan (20, 19-31 ), tường thuật lại sự kiện Đức Giêsu phục sinh hiện ra gặp gỡ các tông đồ thật là cảm động. Cử chỉ trao ban bình an của Chúa cho các môn đệ, biến các ông từ những người đang lo sợ và kinh ngạc, trở nên những tác viên của Lòng Chúa Thương Xót. Chúa đưa đôi tay và cạnh sườn còn in những dấu tích của cuộc thương khó và nói với các ông : ” Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”. Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại” ( Ga 20, 21- 23). Chúa Giêsu trao phó cho các ông hồng ân “tha thứ các tội lỗi” diễn tả lòng xót thương vô bờ của Thiên Chúa đối với nhân loại, hồng ân này phát sinh từ những vết thương của đôi tay, đôi chân và nhất là của cạnh sườn Chúa bị đâm thâu qua. Đó là những vết thương hằn in trên cơ thể của Người lúc còn sống, ngay cả sau khi Phục Sinh. Những vết thương vinh quang, mà Tôma đã tận mắt chứng kiến tám ngày sau, thật không thể nào hiểu nổi và tin được lòng thương xót của Thiên Chúa : ” Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài” (Ga 3, 16). Từ đó, một làn sóng tình thương nhân từ đổ xuống trên toàn thế giới.

Chúa Kitô Phục Sinh đã ban tặng cho nhân loại hồng ân tha thứ, những con người lầm lạc đang bị thống trị bởi quyền lực sự dữ, của ích kỷ và sợ hãi, tình yêu của Thiên Chúa tha thứ tất cả, hòa giải tất cả và tái tạo tâm hồn, mang lại cho chúng nhân niềm hy vọng . Đó là tình yêu có sức biến đổi con tim và ban tặng bình an. Thế giới ngày nay cần thiết biết bao lòng thương xót của ThiênChúa!

Hôm nay, Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa chúng ta cùng nhau lặp lại câu Thánh Vịnh mà suốt cả tuần Bát Nhật Phục Sinh toàn thế giới ca vang : “Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thủa” (Tv 117, 1). Quả thật : “Tình thương Chúa tồn tại muôn đời! “. Cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô đã thay đổi tận căn số phận của nhân loại nói chung và mỗi người chúng ta nói riêng. Ðây là điều kỳ diệu trong đó được thể hiện trọn vẹn tình yêu thương xót của Thiên Chúa Cha, một tình yêu không ai hiểu thấu, Ðấng vì phần rỗi chúng ta, và để cứu chúng ta, Chúa đã nộp chính Con yêu.

Chúa Giêsu Kitô bị hành hạ và chịu đau khổ vì xót thương chúng ta, thật quá mọi mức độ có thể tưởng nghĩ được. Cả sau biến cố Phục Sinh của Con Thiên Chúa, Thập Giá nói lên và không ngừng nói về Thiên Chúa là Cha, Ðấng tuyệt đối trung thành với tình thương muôn đời của Ngài đối với con nguời. Tin vào tình thương này có nghĩa là tin vào lòng nhân từ của Thiên Chúa”( Dives in misericordia, số 7).

Hãy cảm tạ Chúa vì Chúa hảo tâm, một tình thương mạnh hơn sự chết và tội lỗi. Giờ đây, nhân loại vẫn đang tiếp tục được thừa hưởng tình thương và sự tha thứ của Thiên Chúa đổ ra từ những vết thương vinh hiển và từ trái tim của Chúa, nguồn mạch không bao giờ cạn.

Trái Tim của Chúa Kitô đã trao ban tất cả cho con người: sự cứu chuộc, ơn cứu rỗi, sự thánh hóa. Từ Trái Tim Chúa tuôn tràn sự dịu dàng, thánh nữ Faustina Kowalska thấy xuất phát ra hai tia sáng chiếu tỏa thế gian. Theo lời Chúa giải thích cho thánh nữ, “Hai tia sáng nầy tượng trưng cho máu và nước”. Máu nhắc lại hy tế trên đồi Golgotha và mầu nhiệm Thánh Thể; còn nước, theo hình ảnh phong phú của thánh sử Gioan, làm cho ta nghĩ đến bí tích Rửa Tội và hồng ân Chúa Thánh Thần (x. Ga 3, 5; 4, 14).

Lời kinh chúng ta vẫn đọc: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa”, diễn tả đúng thái độ mà chúng ta muốn có, để chúng ta đặt niềm tin tưởng và phó thác tuyệt đối vào tay Thiên Chúa, Ðấng cứu rỗi duy nhất của chúng ta ! Những tia sáng của lòng nhân từ Chúa ban lại niềm hy vọng, một cách đặc biệt, cho những ai cảm thấy mình bị đè bẹp dưới gánh nặng của tội lỗi.

Chúa Nhật Kính Lòng Chúa Thương Xót do chính thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II thiết lập. Ngài mất vào đúng vọng ngày Kính Lòng Chúa Thương Xót năm 2005. Ngài được tuyên phong hiển thánh đúng Đại Lễ này, ngài quả là vị thánh của Lòng Xót Thương. Cùng với thánh Giáo hoàng Gioan XXIII nhân hậu hay tỏ lòng thương xót đối với mọi người, phần nào diễn tả thái độ nội tâm của ngài trước Thiên Chúa giàu lòng nhân hậu và hay thương xót.

Lạy Chúa, nhờ sự chết và sự sống lại của Chúa, Chúa đã mạc khải tình yêu của Thiên Chúa Cha cho chúng con, chúng con tin thác vào Chúa, chúng con lặp lại ngay lúc này với xác tín rằng: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa, xin thương xót chúng con và thế giới.

Lạy Mẹ maria, Mẹ của lòng nhân từ hay thương xót, xin giúp chúng con là con cái Mẹ duy trì lòng tin vào Con Mẹ, Ðấng cứu chuộc chúng con. Lạy thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II và thánh nữ Faustina, chúng con nhớ đến với hết lòng mộ mến, xin trợ giúp chúng con. Xin cho chúng con được cùng với các thánh, hướng nhìn về Ðấng Cứu Chuộc, và lặp lại lời nguyện : “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa”, bây giờ và mãi mãi. Amen.

Về mục lục

.

GẶP CHÚA TRONG TÂM HỒN

Bông hồng nhỏ

Dòng sông lững lờ trôi. Những cánh bèo trôi dạt từng đám, lênh đênh. Nhìn dòng sông ta nghĩ đến dòng đời trôi chảy. Dòng sông cuộc đời cần lắm những thương yêu, cần lắm những dưỡng nuôi, bao bọc của mọi người. Đời ta lênh đênh trong nhọc nhằn vất vả hay êm ấm trong hạnh phúc? Có khúc sông êm đềm chảy, hiền lành cho ta soi bóng mỗi buổi hoàng hôn. Nhưng cũng có khúc sông chảy xiết, con nước dữ tợn, xoáy sâu và sẵn sàng nhận chìm những gì trôi qua nó. Dù ở khúc sông nào, ta cũng sẽ trải nghiệm những hương vị của tình người. Cách ta cảm nếm và đón nhận những hương vị khác nhau ấy trở thành những kinh nghiệm cho ta sống cuộc đời hạnh phúc.

Cũng như bao cuộc đời khác, cuộc đời của tông đồ Tôma cũng đã êm đềm trôi trong vị ngọt của tình yêu, là thành công, là tiếng thơm khi trở thành môn đệ của Thầy Giêsu, người Thầy mà bao tâm hồn luôn mong ngóng đợi chờ. Ông đã rất hạnh phúc khi theo Thầy. Ông cũng đã đặt trọn niềm tin tưởng nơi Thầy. Một niềm tin như những người môn đệ khác, đó là Thầy sẽ mang lại hạnh phúc, sẽ giải thoát dân tộc, là Đấng Mêsia mà ông và cả dân tộc mong đợi. Ba năm theo Thầy, cũng chia sẻ phút giây vinh quang khi Thầy được ca tụng, cũng chịu đói khát khi Thầy trò lỡ đường và chấp nhận trở thành vô gia cư.

Con sông cuộc đời bây giờ không còn là tháng ngày êm đềm nhưng chảy xiết với bao nguy hiểm cận kề. Bởi, Thầy tự nguyện đi vào chỗ chết, mặc cho anh cả Phêrô can ngăn, dĩ nhiên chính ông Tôma cũng không muốn phải đi vào con đường đầy nguy hiểm ấy. Ông bị vỡ mộng khi Thầy bị bắt, bị đóng đinh cách nhục nhã trên đồi Sọ. Thầy chết thật rồi, ông cũng rơi vào nỗi hoang mang, sợ hãi như các anh em khác. Rất có thể, đối tượng mà giới lãnh đạo Do Thái nhắm đến để tiêu diệt tiếp theo là một trong số các ông, có thể là từng người và cũng có thể là tất cả cùng một lúc. Có lẽ, chính nỗi sợ ấy đã khiến ông tách riêng ra chăng? Ông đã không ở với các anh em sau khi Thầy hiện ra. Tụ tập một chỗ thì nguy hiểm sẽ cao hơn hay nương tựa vào nhau sẽ an toàn hơn? Ông đã không có mặt khi Thầy hiện ra vì thế khi nghe các anh em khác báo tin vui “Chúng tôi đã được thấy Thầy”, ông không tin. Ông đòi phải được chạm đến Thầy, được thấy tận mắt chứ chỉ nghe nói thôi thì chưa đủ. “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20, 25). Chính ngay lúc này, lòng ông không có sự bình an của Thầy, không có niềm vui Chúa sống lại.

Tám ngày sau, các môn đệ tụ họp và ông cũng có mặt. Chúa Giêsu hiện ra chúc bình an cho các ông và Ngài tỏ lòng thương xót đến môn đệ Tôma. Chúa biết rõ điều ông đòi hỏi khi muốn xác thực Thầy đã sống lại thật nên vừa khi chúc bình an cho các môn đệ, Chúa đã nói với ông “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy, đừng cứng lòng nữa nhưng hãy tin” (Ga 20, 27 ). Ông sấp mình xuống mà tuyên xưng rằng “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20, 28). Không cần phải chạm đến nữa vì chính mắt ông đã thấy và tai ông đã nghe Thầy nói đây. Bây giờ, không gì có thể lay chuyển niềm tin ông đặt trọn nơi Chúa. Bây giờ, lòng ông tràn ngập bình an vì chính thầy đang ở với ông. Tông đồ Tôma đã tuyên xưng Thầy là Con Thiên Chúa khi trải qua kinh nghiệm được Thầy yêu thương cách đặc biệt. Từ đây, các môn đệ đều vững lòng trông cậy Chúa và ra đi loan Tin Mừng bằng một niềm tin vững vàng và một con tim rực lửa yêu mến.

Lạy Chúa! Cuộc sống của con luôn cần đến những trải nghiệm của chính mình chứ không phải chỉ nghe người khác nói. Xin cho con mỗi ngày biết cùng với chị em gặp gỡ Chúa vì chính nơi cộng đoàn, con có được kinh nghiệm yêu thương. Xin cho con nhạy bén với sự hiện diện của Chúa, cảm nếm tình yêu của Chúa từ những điều bé nhỏ hằng ngày nơi chính tâm hồn con. Amen.

Về mục lục

.

TIN ĐỂ THẤY

Anna Cỏ May

Mỗi ngày sống của chúng ta là hỗn hợp nhiều hương vị và màu sắc. Có những điều hay điều dở, điều thánh thiện và tội lỗi, nhưng trong bản thân mỗi người luôn hướng về điều tốt hơn điều xấu, sự thiện hơn là tội lỗi. Cũng như khi phạm tội, chúng ta thường mong được tha thứ, được xót thương từ Thiên Chúa và mọi người xung quanh. Chúng ta thường dễ tha thứ cho người có lòng khát khao và ăn năn sám hối hơn là tha thứ cho một người cứng lòng, đa nghi. Thế nhưng, khác với quan điểm chúng ta, Chúa Giêsu đã thể hiện tình thương của Ngài cách trọn vẹn nơi chính người môn đệ của mình.

Suy gẫm Lời Chúa mỗi ngày, chúng ta sẽ thấy được lòng Chúa xót thương qua những con người cụ thể như ông Ladarô, những người mù, những người bị quỷ ám,… Chúa xót thương dân chúng đã xúc phạm đến Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34). Chúa xót thương người trộm lành “Quả thật, Ta bảo ngươi, hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta” (Lc 23, 42).  Ngay khi Chúa sống lại, Chúa đã hiện ra với môn đệ, đặc biệt là Chúa đã tỏ tình thương cho Tôma, người môn đệ kém lòng tin.

Chúng ta thường nghe nói rằng “Thấy nhưng vẫn chưa tin hoặc không thấy thì sao mà tin được”. Môn đệ Tôma là một trong những người có lối suy nghĩ ấy. Ông đã từng được ở với Chúa Giêsu, được chứng kiến sự hiện diện của Thầy. Chúa đã chết thật rồi và điều đó đã khiến ông quả quyết“Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20, 25). Ông tỏ ra dứt khoát và đòi hỏi phải có chứng cớ, phải được sờ thấy ông mới tin. Ông khác với những người bệnh đã được Chúa cứu chữa. Họ luôn khắc khoải, khát khao được Chúa chữa lành. Bởi vậy, họ mong chờ từng ngày và nghe ngóng Chúa Giêsu ở đâu để đến gặp. Người phụ nữ bị băng huyết lâu năm đã được khỏi nhờ tin rằng chỉ cần sờ vào tua áo của Chúa Giêsu. Bà không cần gặp hay nói chuyện gì cả nhưng chỉ với lòng tin vào Chúa thôi. Ông Tôma đã cứng lòng tin nhưng Chúa đã dùng lòng xót thương mà tỏ mình cho ông, để đánh tan thái độ cứng lòng tin ấy. “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy, đừng cứng lòng nữa nhưng hãy tin” (Ga 20, 27). Ông sấp mình xuống mà tuyên xưng rằng “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20, 28). Được thấy Thầy, tâm hồn ông rực lên niềm tin tưởng mãnh liệt về Thiên tính của Đấng phục sinh. Chúa vẫn sẽ ở mãi với con người và hằng chúc phúc cho những ai không thấy mà tin.

Lòng xót thương của Chúa là thế đó, dành cho tất cả mọi người và luôn bao la. Chúa muốn con người có lòng khao khát tìm kiếm và bằng một lòng tin vững mạnh. Vậy lòng thương xót của Chúa được thể hiện ở đâu? Thật sự, mỗi người sẽ tự trải nghiệm về lòng thương xót Chúa dành cho riêng mình ngay lúc hạnh phúc, thành công hay cả những khi đau khổ và thất bại. Cảm nhận sự hiện diện của Chúa ngay chính những điều nhỏ mà chúng ta đối diện trong từng ngày sống, và nó sẽ trở thành những điều cần thiết giúp chúng ta có khả năng nhìn thấy Chúa và nuôi dưỡng đức tin mỗi ngày thêm vững mạnh hơn.

Lạy Chúa! Xin hãy đến và chạm đến tâm hồn chúng con. Amen.

Về mục lục

.

LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA ĐỔ TRÀN TRÊN GIÁO HỘI

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Kính thưa quý OBACE, chúa nhật thứ hai mùa phục sinh hằng năm đã được Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II chọn làm ngày lễ tôn kính Lòng Thương Xót của Chúa. Vì, các bài đọc hôm nay nhấn mạnh cách đặc biệt đến việc Chúa Giêsu Phục Sinh thể hiện lòng thương xót của Ngài qua các tông đồ và giáo hội sơ khai, như người cha ân cần lo cho con cái, giúp cho Giáo Hội lớn lên cả về đời sống đức tin và đời sống vật chất.

Bài Tin Mừng cho thấy Chúa Phục Sinh lo lắng cho các tông đồ và củng cố đức tin cho các ông, để sau này, các ông trở thành những người xây dựng đức tin nơi các cộng đoàn. Chắc chắn, biến cố thập giá đã khiến cho đức tin của các tông đồ vô cùng chao đảo. Nhiều năm đi theo Chúa, tin Chúa là Đấng quyền năng, vậy mà, trước mắt các ông, Thiên Chúa dường như chịu thua trước thế lực của sự dữ. Ngài đã bị bắt, bị người ta hành hạ, bị giết chết bằng cái chết kinh hoàng trên thập giá mà chính các ông đã chôn táng Ngài. Điều này khiến đức tin của các ông bị giằng co: Thầy Giêsu có phải là Thiên Chúa quyền năng không?. Các tông đồ dường như rơi vào tuyệt vọng vì nhiều năm theo Thầy Giêsu, giờ đây dường như đã chấm dứt không có kết quả. Thêm vào đó là nỗi sợ hãi vì những kẻ hung hãn tìm cách tiêu diệt những người có liên hệ với Chúa Giêsu. Nhiều người khác thì nhìn các tông đồ bằng con mắt khinh miệt vì có liên quan đến một tử tội. 

Chúa Giêsu Phục Sinh thấu hiểu tâm trạng của các tông đồ. Vào buổi chiều ngày phục sinh, Chúa đã hiện ra với các tông đồ và nói với các ông: “Bình an cho các con!”. Ơn bình an là ơn mà lúc này, các tông đồ đang rất cần để có thể vượt qua được thử thách trong cuộc sống và trong đức tin. Để củng cố lòng tin của các ông, Chúa Phục Sinh đã cho các ông xem tay và cạnh sườn của Chúa, đụng chạm đến các dấu vết yêu thương của Ngài. Điều này giúp các tông đồ vượt qua được những hoang mang nghi ngờ. Sau đó một lần nữa, Chúa Giêsu lặp lại: “Bình an cho anh em! Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”. Có thể nói, lần thứ nhất khi ban bình an cho các tông đồ, Chúa giúp các ông lấy lại được sự thăng bằng trong tâm hồn, còn lần thứ hai này, ơn bình an của Chúa Phục Sinh, giúp các tông đồ mạnh dạn thực hiện mệnh lệnh Chúa sai đi.

Cùng với mệnh lệnh sai đi, Chúa Giêsu đã thổi hơi trên các ông,  ban Thánh Thần và ban quyền cho các ông nhân danh Chúa để tha thứ. Hơi thở của Chúa Phục Sinh, chính là hơi thở tái tạo các tông đồ, biến đổi các ông từ tình trạng chết chóc, tê liệt chuyển sang sống động, từ con người cũ được Thánh Thần biến đổi thành con người mới, từ những con người nhút nhát thành những con người can đảm. Đặc biệt hơn, cùng với Thánh Thần, các tông đồ được trao phó sứ mạng yêu thương và tha thứ. Qua việc tha thứ , các tông đồ trở thành những người diễn tả và nối dài lòng thương xót của Thiên Chúa cho thế giới. Ơn tha thứ chính là món quà cao quý nhất của lòng thương xót mà Chúa Phục Sinh đã ban cho nhân loại. 

Tình thương của Chúa Phục Sinh không phải là một sự quan tâm chung chung. Trái lại, đó là tình yêu thương cụ thể, cá biệt cho từng người. Tin Mừng Gioan kể về trường hợp của Tôma: “Vào chiều ngày Phục Sinh, Chúa hiện ra với các tông đồ, lúc đó không có mặt Tôma”. Có lẽ nỗi đau từ biến cố tử nạn thập giá của Chúa đã khiến ông hoàn toàn thất vọng, ông bỏ anh em để tự mình đi tìm câu trả lời về việc Chúa đã sống lại. Sự thất vọng của ông dường như đi đến cực đoan đến độ ông đòi hỏi: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ tay vào lỗ đinh, không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người thì tôi không tin”. Câu nói của Tôma khiến cho nhiều người cho rằng ông cứng lòng, nhưng thực ra câu nói này thể hiện một tâm hồn vẫn còn khao khát được đụng chạm đến Chúa Phục Sinh, như các anh em tông đồ khác đã được nhìn thấy dấu đinh.

Chúa Phục Sinh đã thấu hiểu tâm trạng đáng thương của Tôma, Chúa đã đáp ứng sự khao khát trong ông. Tám ngày sau, Chúa hiện ra với các tông đồ, Ngài cũng ban bình an cho các ông, cách riêng cho Tôma. Chúa Giêsu đã mời gọi Tôma xỏ ngón tay vào lỗ đinh, đặt bàn tay vào cạnh sườn Chúa. Chúa cho ông được tiếp xúc đụng chạm tới Chúa, từ đó Tôma đã có một kinh nghiệm đức tin hết sức đặc biệt. Lòng thương xót Chúa dành cho Tôma đã hoàn toàn biến đổi con người ông. Ông đã tuyên xưng: “Lạy Chúa của tôi! Lạy Thiên Chúa của tôi!” Ông tuyên xưng Đức Giêsu không chỉ là Thầy, mà là Chúa là chủ, là Thiên Chúa Đấng tổ tiên ông tôn thờ.

Chúa Giêsu đã đón nhận lời tuyên xưng của Tôma, nhưng Chúa nói thêm: “Vì con đã thấy Thầy nên con tin. Phúc cho những ai không thấy mà tin”. Lời chúc phúc này là lời chúc phúc Chúa dành cho tất cả mọi tín hữu sau các tông đồ. Tất cả các tín hữu đều không được thấy những lần Chúa hiện ra, cũng không được đụng chạm đến vết đinh nơi Chúa Giêsu, nhưng chúng ta vẫn tin Chúa đã sống lại nhờ lời chứng của các tông đồ.

Sách Công Vụ Tông Đồ cho thấy quyền năng của Chúa Phục Sinh hoạt động cách mạnh mẽ nơi các tông đồ, khiến các ông miệt mài đi khắp nơi để loan truyền Tin Mừng vĩ đại này cho muôn dân. Cũng vậy, các tín hữu sơ khai đã đón nhận niềm tin Chúa Phục Sinh và được Thánh Thần của Chúa quy tụ thành một dân mới, một dân đã được biến đổi nhờ sức sống và quyền năng của Chúa Phục Sinh ban cho.

Sách Công Vụ kể lại: “Các tín hữu sống đồng tâm nhất trí nên một với nhau trong cùng một đức tin”. Họ không coi thứ gì là của riêng, nhưng mọi sự đều là của chung. Họ sống tình bác ái chia sẻ với nhau, không để ai trong cộng đoàn phải thiếu thốn. Họ đem tiền bạc của cải đặt dưới chân các tông đồ, để các ông phân phát cho những người có nhu cầu. Một vài phác họa như thế cho thấy các cộng đoàn giáo hội sơ khai được gọi là các cộng đoàn phục sinh, vì họ sống sức sống của Chúa Phục Sinh. Họ làm cho lòng thương xót của Chúa được lan tỏa cách cụ thể đến với từng người. 

Thưa quý OBACE! trong đời sống, nhiều khi chúng ta cũng gặp thử thách trong đức tin, nhất là khi đối diện với đau khổ, sự chết. Có những lúc thử thách dường như quá sức chịu đựng, chúng ta cũng rơi vào tình trạng tuyệt vọng và thách thức Chúa như Tôma. Tin Mừng hôm nay khẳng định rằng: Chúa Phục Sinh không bỏ rơi Giáo Hội và cũng không bỏ rơi bất cứ thành viên nào trong Giáo Hội, Ngài luôn hiện diện kịp thời để nâng đỡ cho sự yếu kém của chúng ta, chỉ có điều chúng ta có nhận ra sự hiện diện của Ngài hay không mà thôi. Chúa Phục Sinh vẫn hằng ở bên chúng ta, chúng ta có thể tiếp xúc, đụng chạm đến Ngài. Bí Tích Thánh Thể là sự hiện diện nâng đỡ của Chúa giúp chúng ta vững bước trên hành trình theo Chúa. Nơi Bí Tích Thánh Thể, chúng ta không chỉ được đụng chạm mà còn được đón rước Ngài vào cư ngụ trong tâm hồn và gia đình mình.

Lòng thương xót của Chúa vẫn đang được ban tặng cho chúng ta nơi Bí Tích Giải Tội. Nơi đây, chúng ta được cảm nhận, được đụng chạm đến trái tim yêu thương và sự tha thứ của Chúa. Cũng chính nơi Bí Tích Giải Tội, chúng ta đón nhận được ơn bình an của Chúa Giêsu phục sinh, ơn mà Ngài đã ban cho các tông đồ, khiến tâm hồn các ông được tái sinh, đổi mới.

Cộng đoàn giáo hội sơ khai ngày xưa vẫn là gương mẫu cho chúng ta ngày nay. Chúng ta sống trong Giáo Hội, và chỉ trong sự hiệp thông hiệp nhất với Giáo Hội, chúng ta mới có thể đón nhận được Tin Mừng Phục Sinh. Giống như Tôma ngày xưa, khi tách rời khỏi cộng đoàn các tông đồ là Giáo Hội, đức tin của ông bị chao đảo, thử thách. Chỉ khi ông quay trở về đón nhận lời chứng của các tông đồ, đức tin của ông mới được củng cố. Và, chỉ trong Giáo Hội, cùng với Giáo Hội, Tôma mới có thể cảm nghiệm và gặp gỡ được Chúa Phục Sinh. 

Xin Chúa cho chúng ta một lòng trung thành yêu mến gắn bó với Giáo Hội. Vì tin rằng, Giáo hội là Mẹ đang nhân danh Chúa Phục Sinh để nuôi dưỡng, chăm sóc từng người chúng ta. Xin Chúa Giêsu Thánh Thể cho chúng ta nhờ siêng năng đến đón rước Chúa, được củng cố đức tin và sống tình huynh đệ bác ái với mọi người. Amen.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH_B

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

Chúa nhật II Phục Sinh là ngày Giáo hội mừng kính tuyên dương lòng Chúa Thương Xót. Đức Chân phước Giáo hoàng G. Phaolô 2 đã thiết lập lễ này ngày 30/4/2000, dịp lễ tuyên phong Chân phước Faustina Kowalska lên bậc Hiển thánh. Thánh nữ là người có lòng sùng kính và truyền bá Lòng Chúa Thương Xót. Đặc sủng này của Thánh Faustina được Đức Giáo Hoàng G. Phaolô 2 ngưỡng mộ và đề cao. Vì thế, việc ấn định Chúa nhật II Phục Sinh được dành để tôn kính Lòng Chúa Thương Xót đã trở thành định hướng suy niệm mầu nhiệm Phục Sinh. Mầu nhiệm Phục Sinh là tột đỉnh của tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại và biểu lộ trọn vẹn Lòng Chúa Thương Xót và muốn cứu con người khỏi thân phận phải chết, khỏi ách thống trị của ma quỷ để nhân loại được cứu độ, được sống muôn đời.

Bài Tin mừng hôm nay soi sáng cho chúng ta thấy ý nghĩa sâu sa về Lòng Chúa Thương Xót và hành trình đức tin của tông đồ Thomas.

Lòng Chúa Thương Xót được biểu lộ qua việc Chúa Giêsu Phục sinh đến ban bình an cho các tông đồ, ban Thần Khí của Ngài cho các ông:

“Bình an cho anh em,

Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”.

Sự kiện Thầy bị bắt, bị kết án tử hành và chết trên thập giá một cách thê thảm, khiến các ông kinh hoàng sợ hãi“Nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái”.

Giữa lúc các Tông đồ sợ hãi, tuyệt vọng. Bao nhiêu ước mơ, bao nhiêu hy vọng đã tan biến. Tâm hồn các ông giờ đây nặng trĩu ưu phiền thất vọng. Đức Giêsu Phục sinh vì yêu thương đã hiện đến với các ông để phá tan u buồn thất vọng đem lại niềm vui an bình cho các môn đệ. Đức Giêsu muốn các ông an lành, bình an, hạnh phúc, Ngài cho các ông xem“tay và cạnh sườn” những dấu vết cụ thể của cuộc khổ nạn, những dấu tích liên quan tới cái chết để minh chứng Ngài đang sống, đang hiện diện bằng xương thịt giữa các ông. Đó là bình an của Chúa Giêsu Phục sinh. Bình an của Đấng đã chiến thắng sự chết. Sự chết, điều đáng sợ nhất của loài người, sẽ đem lại sức mạnh giúp các tông đồ thắng vượt mọi lo sợ, khó khăn, đe dọa. Đó là dấu chỉ của Lòng Chúa Thương Xót. Đem lại bình an cho tâm hồn những người theo Chúa, chính là ơn thương xót Chúa dành cho con người.

Bình an là khát vọng của con người hôm nay đang sống trong một thế giới luôn âu lo vì nạn khủng bố khắp nơi. Khi bình an, người ta hỏi thi hào Dante người Italia:

– Đâu là điều ông mong mỏi và tìm kiếm nhất trong cuộc sống?

– Tôi vẫn luôn đi tìm kiếm điều mà bất cứ ai cũng tìm kiếm: Đó là sự Bình An.

Bình an đích thực chỉ có được nơi Đức Kitô Phục sinh dựa trên nền tảng tình thương và công lý.

Đức Giêsu Ohục sinh đến ban Thần Khí cho các Tông đồ và sai các ông ra đi loan báo Tin mừng về sự tha thứ.

“Người thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”.

ĐứcGiêsu Phục sinh đã tái tạo đổi mới các tông đồ bằng hơi thở Thần Khí. Qua hơi thở của Đấng Phục sinh, vũ trụ và con người cũng được tái sinh, đổi mới, được sống. Đó là cuộc sống đích thực của các tâm hồn không còn sợ hãi nữa nhưng mạnh mẽ, can đảm lên đường, loan báo và thể hiện Lòng Chúa Thương Xót qua việc nhân danh Chúa ban ơn tha tội cho con người.

Như vậy, Ơn Thánh Thần, bình an và ơn tha tội chính là kết quả sung mãn của mầu nhiệm Phục sinh, mầu nhiệm của Lòng Thương Xót Chúa. Chính thần khí của Đức Giêsu Kitô phục sinh ban cho chúng ta sự bình an, sự sống mới như thánh Phaolô nói: “Thần khí của Người đang ngự trong anh em mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới”. (Rm 8, 11)

Gặp Đức Giêsu Kitô phục sinh và tiếp nhận Thần khí của Ngài, các tông đồ trở nên can đảm, an vui, hăng say làm chứng vì Tin mừng Đức Kitô phục sinh. Niềm tin vào Đức Giêsu Kitô phục sinh là nguyên lý của cuộc sống nhân loại.

Nội dung thứ hai của bài Tin mừng hôm nay là hành trình đức tin của tông đồ Thomas.

Ông Thomas vắng mặt vào buổi chiều Chúa hiện ra với 10 tông đồ. Vì không có hơi thở của Thần khí do không gặp Đức Giêsu Kitô phục sinh, tâm hồn Thomas vẫn cứng tin. Ông muốn kiểm chứng Chúa có sống lại thật không? Những điều các tông đồ thuật lại không thuyết phục Thomas?

Chúa Giêsu phục sinh đã chiều theo ý muốn của Thomas. Chúa hiện ra với ông tám ngày sau. Thiên Chúa rất kiên nhẫn và rất mực yêu thương. Khi gặp Đức Giêsu phục sinh, Thomas được nhìn thấy con người của Chúa bằng xương, bằng thịt, một vị Thầy ngày nào đầy khoan dung và nhẫn nại. Một người Thầy đầy Lòng Thương Xót. Khi gặp Đức Giêsu Kitô phục sinh, được ban Thần khí, Thomas mới sống trong con người mới và tin vào Thầy: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”.

Thomas đã tin.Tin Thầy Giêsu là Chúa, Đấng chiếm trọn cuộc sống của ông. Tin Thầy Giêsu là Thiên Chúa, Đấng ban sự sống vĩnh cửu. Hành trình niềm tin của Thomas vào Đấng phục sinh không chỉ do nhìn thấy những dấu đinh nơi chân tay, vết đòng đâm thâu nơi cạnh sườn, mà chính là được cảm nhận sự nhẫn nại của một tình thương chờ đợi của Chúa.

“Phúc thay những người không thấy mà tin”. Đức tin là một hồng ân nhưng không mà Thiên Chúa ban để ta gắn bó mật thiết với Thiên Chúa và chấp nhận những chân lý mà Thiên Chúa mặc khải để chúng ta được cứu độ. Tin mừng thánh Gioan quả quyết:

“Anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, mà để nhờ tin mà sống nhờ danh Người”.

Đức tin là cần thiết để được cứu độ. Chính Chúa Giêsu đã nói: “Ai tin và chịu phép Rửa sẽ được cứu độ, còn ai không tin, thì sẽ bị kết án” (Mc 16, 6).

Xin Đức Giêsu Kitô củng cố niềm tin cho chúng ta để chúng ta sống chứng nhân về Lòng Chúa Thương Xót.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH_B.

Lm Giuse Đinh Tất Quý

Kính thưa anh chị em 

Chúng ta vừa nghe một câu chuyện mà chúng ta đã thuộc lòng từ khi còn nhỏ. Câu chuyện hôm nay đã trở thành một gợi hứng cho rất nhiều bài suy niệm với rất nhiều khía cạnh khác nhau. Riêng tôi qua bài Tin Mừng hôm nay tôi chỉ xin chia sẽ với anh chị em một vài cảm nghĩ rất riêng tư của mình. Nói một cách rất vắn tắt tôi thấy Toma có những đức tính làm tôi nể phục.

1. Trước hết là sự minh bạch và rõ ràng trong lập trường của ông.

Tôma không phải là người trung lập. Ông có một lập trường rất rõ rệt. Ông sống quyết liệt, không sống nửa vời. Ông nhất định không chịu nói là mình tin khi ông không tin. Ông không hề đè nén sự nghi ngờ của mình xuống bằng cách làm như mình không hề nghi ngờ. Ông muốn biết chắc mọi sự, và thái độ này của ông hoàn toàn đúng. 

Đó là thái độ mà tôi tưởng Chúa cũng thích. Chính vì thế mà không những Chúa không khiển trách Tôma mà còn xem như bằng lòng với ông khi hiện ra với ông trong bài Tin Mừng hôm nay.

Chúa không thích thái độ dở dỡ ương ương, thái độ nửa vời vì nó là một thái độ rất khó chịu và rất nguy hiểm. 

Để cho người ta thấy thái độ nửa vời nguy hiểm như thế nào thì chúng ta hãy nhớ lại một  ít lời trong Kinh Thánh: 

Trong Tin Mừng Luca Chúa bảo: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau thì không thích hợp với nước của Thiên Chúa (Lc 9,62)

Trong sách Khải Huyền. Chúa nói với dân Laoxiđê: “Ta biết các việc ngươi làm. Ngươi chẳng nóng mà cũng chẳng lạnh. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng ta (Kh 3,15-16) 

Ngày hôm nay chẳng thiếu những người giữ đạo cho có, chỉ hình thức, lạnh chẳng ra lạnh, nóng cũng chẳng ra nóng. Những người như thế đang là mối nguy cho Chúa hôm nay. 

Chúng ta hãy xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi tình trạng dửng dưng lạnh nhạt và lười biếng tinh thần, dứt bỏ những ươn hèn của thân xác và linh hồn để được sống lại trong đời sống mới của ơn thánh, trong hăng say yêu mến và nhiệt thành phục vụ Chúa.

  1. Đức tính thứ hai mà tôi cảm phục nơi con người của Tôma là khi đã biết chắc chắn, ông sẽ đi cho đến cùng.

Đây là đức tính của những anh hùng. Người anh hùng khi đã biết chắc chắn, họ sẽ đi cho đến cùng. Khi Tôma nói: “Lạy Chúa tôi, lạy Chúa Trời tôi” thì ông đã biết ông phải sống như thế nào rồi. Tôma không đứng ở vị trí lưng chừng. Ông không làm bộ hoài nghi chỉ nhằm chơi trò ú tim tinh thần. Sở dĩ ông nghi ngờ là vì muốn trở thành người biết chắc, và khi đã biết chắc rồi, ông hoàn toàn tuân phục. 

Theo một cuốn sách ngoại kinh có nhan đề “Các công việc của Tôma” thì người ta thấy Tôma được mô tả là một con người rất trung thực. Sau đây là một trích đoạn có liên quan đến Tôma. 

“Sau khi Chúa sống lại, các môn đệ được phân bổ khu vực để đi rao truyền Tin Mừng của Chúa cho mọi người. Mỗi người phải đến một nơi nào đó để mọi người trên khắp thế gian đều được nghe Tin Mừng. Tôma bắt thăm nhằm xứ Ấn độ. Thoạt đầu Tôma không chịu. Ông nói:

 – Tôi là một người Do thái, làm sao lại có thể đến sống giữa những người Ấn độ mà truyền giảng chân lý cho họ được? 

 Tối đến, Chúa Giêsu hiện ra với ông và bảo: 

– Này Tôma, đừng sợ, hãy đến Ấn độ và giảng ở đó, vì ân sủng của Ta ở cùng con.  

Lúc đó có một thương gia tên Abbanes từ Ấn đến Giêrusalem.  Ông này được vua Gundaphorus sai đi để tìm cho nhà vua một người thợ mộc giỏi để đem về Ấn độ. Tôma vốn là một thợ mộc. Chúa Giêsu đến cùng Abbanes ngoài chợ và hỏi: 

 – Ông có muốn mua một thợ mộc không? 

Abbanes đáp: 

– Muốn. 

Chúa Giêsu nói:

 – Tôi có một tên nô lệ làm thợ mộc và tôi muốn bán! 

Rồi Chúa chỉ Tôma đang đứng đàng xa. Hai bên ngã giá và Tôma bị bán. Tờ biên nhận viết như sau: “Tôi tên là Giêsu, con trai Giuse thợ mộc, nhìn nhận có bán tên nô lệ của tôi là Tôma cho ông Abbanes, thương gia của Gundaphorus, vua dân Ấn”. Sau khi viết xong giấy bán, Chúa Giêsu đi tìm Tôma, đưa ông đến với Abbanes. Abbanes hỏi: 

– Có phải người đó là chủ của anh không? 

Tôma đáp: 

 – Phải. 

Abbanes nói:

– Tôi đã mua anh từ ông ta. 

Tôma yên lặng. Sáng hôm sau, Tôma dậy thật sớm để cầu nguyện, sau đó ông đến thưa với Chúa Giêsu: 

– Lạy Chúa, con xin nhận bất cứ nơi nào Chúa muốn, nguyện ý Ngài được nên trọn. 

Và sau đó ông lên đường. 

Vâng! Đó chính là Tôma một người chậm tin, chậm thuần phục, nhưng khi đã thuận phục thì thuận phục hoàn toàn. 

Câu truyện còn tiếp tục kể rằng vua Gundaphorus ra lệnh cho Tôma xây một cung điện, Tôma tâu với vua rằng ông có đủ khả năng để làm việc ấy. Nhà vua cấp tiền đầy đủ cho ông mua vật liệu và thuê nhân công, nhưng ông đem phân phát hết cho người nghèo. Ông luôn luôn tâu với vua rằng ngôi nhà đang được xây cất. Sau một thời gian nhà vua sinh nghi bèn cho gọi Tôma đến hỏi: 

– Ngươi xây cung điện cho ta xong chưa? 

Ông đáp: 

– Bây giờ hoàng thượng chưa thể đến xem được, nhưng sau khi lìa bỏ đời này thì hoàng thượng sẽ thấy. 

Thoạt đầu nhà vua muốn nổi cơn thịnh nộ và người ta tưởng là tánh mạng của Tôma lâm nguy, nhưng cuối cùng như một phép lạ, nhà vua tin Chúa. Và như thế, Tôma đã đem Kitô giáo đến Ấn độ. 

Kính thưa anh chị em 

Con người của Tôma là thế. Nơi Tôma, có cái gì rất đáng yêu, đáng ngưỡng mộ. Với Tôma, có đức tin không phải là chuyện dễ, ông không bao giờ sẵn sàng vâng lời ngay. Tôma là người muốn biết chắc chắn, ông tính thật kỹ giá phải trả. Nhưng một khi đã biết chắc, ông nhất quyết tin và vâng phục cho đến cùng. Đức tin như Tôma tốt hơn loại đức tin bằng đầu môi chót lưỡi. Ông là người muốn biết rõ và sau khi đã biết, ông đã sống chết với gì gì ông biết.

Lạy Chúa Giêsu phục sinh,

lúc chúng con tìm kiếm Ngài trong nước mắt,

xin hãy gọi tên chúng con như Chúa đã gọi tên

chị Maria đứng khóc lóc bên mộ.

Lúc chúng con chán nản và bỏ cuộc,

xin hãy đi với chúng con trên dặm đường dài

như Chúa đã đi với hai môn đệ Emmau.

Lúc chúng con đóng cửa vì sợ hãi,

xin hãy đến và đứng giữa chúng con

như Chúa đã đến đem bình an cho các môn đệ.

Lúc chúng con cố chấp và xa cách anh em,

xin hãy kiên nhẫn và khoan dung với chúng con

như Chúa đã không bỏ rơi ông Tôma cứng cỏi.

Lúc chúng con vất vả suốt đêm mà không được gì,

xin hãy dọn bữa sáng cho chúng con ăn,

như Chúa đã nướng bánh và cá cho bảy môn đệ.

Lạy Chúa Giêsu phục sinh,

xin tỏ mình ra cho chúng con thấy Ngài mỗi ngày,

để chúng con tin là Ngài đang sống, đang đến,

và đang ở thật gần bên chúng con. Amen.

Về mục lục

.

LÒNG CHÚA XÓT THƯƠNG

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Phục sinh: tạo dựng con người mới trong Thần Khí thứ tha

Theo tông đồ Gio-an, lần Đức Ki-tô Giê-su hiện ra trước đông đủ các môn đệ, sau khi Người sống lại (việc hiện ra lần hai có mặt Tô-ma càng nhấn mạnh sự đông đủ này) có một tầm quan trọng rất lớn. Sau những lời chào hỏi và tự giới thiệu, Người đã tuyên bố một điều và làm một cử chỉ long trọng hầu biểu lộ trọn vẹn bản chất sâu xa nhất của tông đồ đoàn và của người môn đệ, tức là của những kẻ tin và thuộc về Người – của Hội Thánh. Ngài thổi Sinh Khí mới vào các môn đệ và sai các ông ra đi để thứ tha, “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em… Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”. Nếu trước đó Người đã ‘cho các ông xem tay và cạnh sườn’ thì cũng chỉ là để cho các ông nhận ra Con Người Phục Sinh cũng chính là Con Người Cứu Chuộc. Con Người đó đã được Chúa Cha sai đến để cứu rỗi trần gian, “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16). Người Con này, một khi đã sống lại, thì cũng yêu thế gian đến nỗi đã sai các môn đệ của mình đi, hầu tiếp tục sứ vụ làm cho thế gian khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. 

Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”’.

Cũng như trong cuộc tạo dựng đầu tiên, hơi thở của Thiên Chúa đã thổi sinh khí vào con người, thì cũng vậy hơi thở của Đức Giê-su Ki-tô Phục Sinh thổi Thần Khí vào các môn đệ, hầu các ông trở thành tạo vật mới. Nếu thổi hơi lần đầu đã ban cho con người quyền sống để làm bá chủ muôn loài (St 2:7), thì hơi thổi lần hai này ban cho người môn đệ ơn tha thứ, để rồi họ cũng thi hành quyền thứ tha cho hết mọi người “Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha…”  Nếu Thiên Chúa tạo dựng là Thiên Chúa hằng sống, và ai nhận được hơi thở của Ngài sẽ có sự sống và có khả năng thông truyền sự sống (St 1:28), thì Đức Ki-tô Phục sinh là Thiên Chúa của thứ tha và xót thương nên ai nhận được hơi thở của Người cũng được tha thứ và có khả năng làm lan tỏa thứ tha tới hết mọi người. Như thế trong Thần Khí Đức Ki-tô Phục Sinh, người môn đệ trở nên tạo vật mới đầy tràn sức sống của thứ tha. Nếu mọi con người đều có quyền sống, thì mọi Ki-tô hữu đều có quyền sống thứ tha. Nếu mọi người nhân loại đều phải bảo vệ sự sống và truyền sinh, thì mọi Ki-tô hữu trong Hội Thánh đều phải bảo vệ ơn tha tội và thúc đẩy việc thứ tha. Tôi thiết tưởng cái gọi là ‘quyền tha tội và cầm buộc’ của Hội Thánh phải được hiểu theo nghĩa và nội dung này.

Về mặt này tôi rất tâm đắc với nhận xét của Hurault trong Christian Community Bible: ‘Ki-tô hữu càng nỗ lực tiến xa trong đời sống thiêng liêng luân lý, thì càng thấy mình chưa được hoàn toàn giải thoát khỏi tội lỗi. Do đó họ càng cảm nhận ơn tha tội là một quà tặng và quyền lợi lớn lao nhất được ban cho Hội Thánh. Tội không phải chỉ là những lỗi luân lý phạm hàng ngày, trong đó phần sai lầm và yếu đuối là chính. Tội thực ra là từ chối hay e sợ nộp mình cho Thiên Chúa tình yêu và tha thứ, là Đấng duy nhất có khả năng đưa chúng ta đến một cuộc sống hoàn toàn trần trụi, nhưng lại hoàn toàn viên mãn. Một khi tha tội cho chúng ta, Người ban cho ta khả năng biết tự nộp mình cho Người. Nói cách khác, đó là khả năng tha thứ, là sức mạnh duy nhất có thể cho phép ta giải quyết và giải phóng mọi kiểm tỏa của con người… Thái độ dung thứ là bí quyết vô cùng quí giá mà Hội Thánh phải xem là tài sản độc đáo nhất của mình, là Tin Mừng mình đón nhận và trao ban cho thế giới… Ki-tô hữu lãnh nhận bí tích rửa tội tức là họ ý thức thân phận tội lỗi trường kỳ của mình, họ đón lấy hơi thở Thần Khí thứ tha của Thiên Chúa, và họ quyết sống tình yêu tha thứ này luôn mãi trong đời mình và trong mọi tương quan với tha nhân. Tha thứ, đối với họ, là quyền sống căn bản nhận được từ Đức Ki-tô Phục Sinh, mà họ sẽ cố bảo vệ bằng mọi giá.’ Ai càng thuộc về tông đồ đoàn, thì càng phải cảm nhận được hơi thở tha thứ của Đức Ki-tô Phục Sinh. Càng là tín hữu trung kiên trong Hội Thánh, tôi càng phải sở đắc và sống sung mãn ơn cứu chuộc và thứ tha.

Tôi thiết nghĩ, trong tư cách một linh mục của Hội Thánh, tôi là người trước hết phải nắm bắt được bản chất thánh thiện đích thực này của Hội Thánh, và thi hành quyền ‘thứ tha’ mà Đức Ki-tô đã ban cho Hội Thánh trong Thánh Thần với tất cả sự khẩn trương và quảng đại. Đặc biệt thế giới ngày nay, đặc biệt giới trẻ, đang trông chờ được Hội Thánh chính thức trình bày khuôn mặt thật này của Đức Ki-tô Phục Sinh.

 Lạy Chúa Phục Sinh, xin thổi hơi Thần Khí một lần nữa trên con và trên mọi tín hữu như Chúa đã thổi trên các môn đệ trong lần hiện ra đầu tiên. Trong đêm Phục Sinh, con đã tuyên xưng mình muốn sống Ki-tô hữu cách trọn vẹn hơn. Xin dạy cho con hiểu rằng, sống Ki-tô hữu là giữ trọn quyền được tha thứ và thứ tha cho tha nhân. Xin hãy sai con đi làm chứng tá cho tình yêu Phục Sinh của Chúa. A-men

Về mục lục

.

LÀM CHỨNG CHO ĐẤNG PHỤC SINH

Lm. GB. Trần Văn Hào

Trong suốt tuần bát nhật, Giáo hội chọn những bài đọc trong sách Tông đồ Công vụ, để thuật lại những bài giảng của thánh Phêrô nói về sự kiện Đức Giêsu đã sống lại. Vị Tông đồ đã nhiều lần khẳng quyết sự xác tín này trước nhà cầm nguyền Rôma, trước những đầu mục và biệt phái người Do thái, cũng như trước đông đảo quần chúng. Trong Chúa nhật tuần này, chúng ta được mời gọi nhìn vào chứng tá của cộng đòan Giêrusalem tiên khởi(bài đọc 1), cũng như học hỏi niềm tin nơi các Tông đồ, đặc biệt nơi Tôma Đydimô. Niềm tin đó là nền tảng xây dựng Hội thánh và cũng được truyền thụ lại cho chúng ta ngày hôm nay.

Ngài thổi hơi vào các ông và ban Thánh Thần(Ga 20,22).

Trong nhãn quan thần học của Thánh Gioan, các sự kiện liên hoàn được trình thuật lại, gồm việc Chúa sống lại, đi vào trong vinh quang với Chúa Cha và trao ban Thần khí để xây dựng Hội thánh, tất cả chỉ là một mầu nhiệm duy nhất không tách rời. Vì vậy Chúa Phục sinh hiện đến giữa các Tông đồ vào ngày thứ nhất trong tuần, thổi hơi trên các ông và trao ban năng quyền tha tội, chính là động thái thiết lập Giáo hội, nhiệm thể của Đức KitôPhục sinh. Sự sống của Đấng Phục sinh được thông truyền cho Giáo hội, vì thế ngoài Giáo hội, tức ngoài nhiệm thể của Đấng Phục sinh sẽ không có ơn cứu độ. Chúng ta nhớ lại, trong trình thuật tạo dựng, tác giả sách Sáng thế thuật lại việc Thiên Chúa lấy bùn đất tạo nên hình người. Sau đó, Ngài thổi hơi ban sinh khí và con người trở nên sinh vật, tức là một vật thể có sự sống(St 2,7). Đây là những hình ảnh biểu trưng, khải thị cho ta biết rằng sự sống phát nguyền từ nơi Thiên Chúa. Song, tội lỗi đã nhập vào trần gian và con người đánh mất sự sống ban đầu. Vì thế, trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa, Đức Giêsu đến trần gian và dùng chính máu của Ngài để ‘Giải án Tuyên công’ (hạn từ của dịch giả Nguyễn Thế Thun), cho chúng ta được ‘Công chính hóa’, và phục hồi nơi chúng ta sự sống làm con cái Chúa. Trong cái nhìn thần học ấy, thánh Gioan đã miêu tả việc Chúa hiện đến, và thổi hơi ban Thần khí để tái sinh Hội thánh chỉ là một sự kiện duy nhất. Chúa đã sống lại khai sinh một dân mới, dân tư tế, dân tộc thánh thiện gồm đoàn người đông đảo mặc áo trắng tinh, áo đã được giặt trong máu Chiên Con(Kh 8,14). Trình thuật hôm nay cần được đọc lại, liên thông với sách Khải huyền để chúng ta có thể nắm bắt những tư tưởng thần học mà thánh Gioan muốn trình bày.

Chứng tá của cộng đoàn Giêrusalem tiên khởi

Trong bài đọc 1, Thánh Luca, tác giả sách Tông đồ Công vụ nêu bật chứng tá của cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên. Đây là cộng đoàn do chính Chúa Giêsu thiết lập bằng cách thông ban sự sống mới cho họ. Cộng đòan này đã được hồi sinh, và đời sống của họ trở nên chứng tá cụ thể cho Đấng Sống lại. Tác giả đã nêu ra 4 đặc nét của cộng đoàn này:

– Sống một lòng một ý, tức hiệp nhất trong tình yêu.

– Sống theo chế độ cộng sản đúng nghĩa nhất, bằng việc đặt mọi sự làm của chung.

– Chuyên cần trong việc bẻ bánh, tức là cử hành các Bí Tích.

-Tuân theo lời chỉ dạy của các Tông đồ.

Sự sống mới mà Đấng Sống lại ban tặng đã giúp hồi sinh cộng đoàn và các vị đã trở nên những chứng nhân đầu tiên, thể hiện rõ nét qua cách sống mới. Đây là mô thức cho tất cả các cộng đoàn Kitô hữu chúng ta.

Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 đã nói: “Thế giới ngày nay cần những chứng nhân hơn là thầy dạy”. Rao giảng bằng lời nói phải đi đôi với hành động. Phêrô thì rao giảng cách mạnh mẽ và can trường, và cuối cùng Ngài đã chấp nhận cái chết tử đạo để trở thành chứng nhân. Các Kitô hữu tại Giêrusalem thì rao giảng qua đời sống chứng tá huynh đệ, gắn kết với nhau trong tình yêu, và biết chia sẻ với nhau của cải vật chất cũng như của ăn tinh thần. Họ vâng phục các tông đồ là những người thừa ủy năng quyền của Đấng Phục sinh, và nhờ đó họ trở nên một nhiệm thể duy nhất. Các cộng đoàn Kitô của chúng ta hôm nay cần nhìn vào mẫu gương đó để học hỏi và sao chép.

Niềm tin kiên định nơi Tôma và các tông đồ.

Tôma không phải là con người cứng tin như nhiều người lầm tưởng. Ngài cũng không phải là con người thuộc trường phái duy nghiệm hay thực dụng, tức là chỉ thấy mới tin. Trái lại, Tôma là một tông đồ có niềm tin rất sâu xa và kiên định. Ngài khao khát muốn được tiếp cận trực tiếp với Đấng Phục sinh để được Đức Giêsu thổi hơi ban Thánh thần, chuyền tải cho mình sự sống mới. Tôma và các tông đồ đã được Chúa Giêsu cho thỏa mãn ước mơ ấy. Tâm hồn của các Ngài đã được lấp đầy bằng sự sống và ân sủng. Chúa trưng ra các vết tích cuộc tử nạn nơi thân thể Ngài để mời gọi Tôma một lần nữa nhìn lại hình bóng Thập giá và nhắc nhở các học trò đi sâu vào mầu nhiệm tự hủy hầuđược sống với Ngài trong sự sống mới. Lời tuyên tín của thánh Tôma ‘Thưa Thầy…’ là lời tuyên bố bắt đầu khai mở cuộc hành trình mới trong đức tin để cùng chết với Thầy mình trong mầu nhiệm tử đạo mỗi ngày. Sử sách ghi lại rằng, Thánh Tôma sau này đi truyền giáo ở Parthia và đã lãnh triều thiên tử đạo tại đó.

Tôma không phải là một tông đồ cứng tin hay cố chấp. Trái lại, đức tin kiên vững nơi Ngài là mô hình để chúng ta cùng học hỏi và noi theo.

Kết luận

Giáo hội đã mừng lễ Chúa Phục sinh và kéo dài suốt cả tuần bát nhật. Các ngày Chúa nhật cũng là ngày mừng Chúa sống lại, và mầu nhiệm căn bản này phủ bọc trọn vẹn đời sống đức tin của chúng ta. Nhưng điều quan trọng là chúng ta đã hiển thị niềm tin ấy cách cụ thể như thế nào. Chúng ta hãy bắt chước cộng đoàn Giêrusalem năm xưa để rao giảng không phải chỉ bằng lời nói, nhưng còn bằng chính cuộc sống của chúng ta mỗi ngày.

Về mục lục

.

MẦU NHIỆM THƯƠNG XÓT

Trầm Thiên Thu

ĐỨC CHÚA XÓT THƯƠNG LIÊN VẠN ĐẠI

TIN MỪNG TRUYỀN BÁ MÃI THIÊN THU

Chính Chúa Giêsu đã mặc khải ước muốn của Ngài cho Thánh nữ Faustina, vị Tông đồ tiên khởi của LCTX: “Ta muốn một tấm hình được làm phép trọng thể vào Chúa Nhật sau Đại lễ Phục Sinh, và Ta muốn tấm hình đó được tôn kính công khai để mỗi linh hồn đều biết đến tấm hình đó” (Nhật Ký, số 341).

Và Ngài hứa: “Ta muốn ban ơn tha thứ hoàn toàn cho các linh hồn nào xưng tội và rước lễ trong ngày lễ kính Lòng Thương Xót của Ta” (Nhật Ký, số 1109). Ơn “tha thứ hoàn toàn” đó là Ơn Toàn Xá mà Người Trộm Lành Dismas đã được lãnh nhận ngay trước khi Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng, lúc 3 giờ chiều ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Cũng từ Giờ Cứu Độ đó, Nguồn Mạch Lòng Thương Xót của Thiên Chúa đã tuôn trào chan hòa mãi đến muôn đời cho mọi người, chỉ với một điều kiện đơn giản là thật lòng SÁM HỐI và TIN TƯỞNG vào Lòng Thương Xót của Ngài.

Thiên Chúa công minh khi xét xử và ra hình phạt thích đáng khi con người phạm tội, nhưng ngay lúc đó Ngài cũng chứng tỏ lòng thương xót: Khi ông bà nguyên tổ phạm tội, Thiên Chúa ra hình phạt là phải đau khổ và phải chết, nhưng Ngài hứa ban Đấng Cứu Thế để cứu con người để giải lời nguyền đó; Cain đã nhẫn tâm sát hại đứa em Abel, Thiên Chúa phạt Cain phải sống lưu lạc và bị người ta ruồng bỏ, nhưng Ngài vẫn thương xót bằng cách ghi dấu trên người Cain để người ta nhìn thấy mà không được phép giết: “Bất cứ ai giết Cain sẽ bị trả thù gấp bảy lần” (St 4:15).

Lòng Chúa Thương Xót (LCTX) được đề cập nhiều lần trong Kinh Thánh, đặc biệt trong Phúc Âm có các dụ ngôn “điển hình” về Lòng Chúa Thương Xót: Người Samari Tốt Lành (Lc 10:30-37), Con Chiên Bị Mất (Lc 15:4-7), Đồng Bạc Bị Mất (Lc 15:8-10), và nhất là Người Cha Nhân Hậu (Lc 15:11-32).

Nói về tình hiệp nhất, sách Công vụ Tông đồ cho biết: “Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có MỘT LÒNG MỘT Ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung” (Cv 4:32). Đó là một thế giới đại đồng, thật lý tưởng biết bao!

Chúa Giêsu đã phục sinh – Alleluia! Thánh Vịnh gia xá nhận: “Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118:24). Chính các Tông Đồ không còn sợ hãi nên đã can đảm “làm chứng CHÚA GIÊSU SỐNG LẠI”, đó là “nhờ quyền năng mạnh mẽ Thiên Chúa ban” và “Ngài ban cho tất cả các ông dồi dào ân sủng” (Cv 4:33). Có điều đặc biệt là “trong cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền, đem đặt dưới chân các Tông Đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người, tuỳ theo nhu cầu” (Cv 4:34-35). Tình hiệp nhất được thể hiện rất cụ thể – một cách sống Lòng Thương Xót.

Điều đó chứng tỏ mọi người tràn đầy Ơn Chúa và thực sự có Chúa ngự trong tâm hồn. Khi có Chúa trong mình, người ta biết khước từ Cái-TÔI-Đáng-Ghét, biết sống đại lượng hơn, biết CHO hơn là NHẬN, biết sống VỚI và sống VÌ người khác, thể hiện cách sống Mầu Nhiệm Đức Kitô Phục Sinh.

Điệp ca “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” được lặp đi lặp lại trong Tv 118 và trong Tv 136. Thánh Vịnh gia cho biết: “Chúng xô đẩy tôi, xô cho ngã, nhưng Chúa đã phù trợ thân này. Chúa là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi, chính Người cứu độ tôi” (Tv 118:13-14), bởi vì “tay hữu Chúa giơ cao, tay hữu Chúa đã ra oai thần lực” (Tv 118:15). Thiên Chúa luôn làm những việc lạ lùng, hoàn toàn “ngược đời”, ngoài sức tưởng tượng của con người: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường” (Tv 118:22). Vì “đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” và là “ngày Chúa đã làm ra”, nên chúng ta “hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118:23-24). Niềm vui mừng quá lớn, không thể không nói ra.

Vừa xác định vừa định nghĩa, Thánh sử Gioan nói: “Ai tin Đức Giêsu là Đấng Kitô, kẻ ấy đã được Thiên Chúa sinh ra. Và ai yêu mến Đấng sinh thành thì cũng yêu thương kẻ được Đấng ấy sinh ra” (1 Ga 5:1). Tôi được Thiên Chúa tái sinh, bạn cũng được Thiên Chúa tái sinh, vậy tôi phải yêu thương bạn, nếu không thì tôi chỉ là người ích kỷ và nói dối. Yêu thương cũng là thương xót. Thánh Gioan phân tích: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được mình yêu thương con cái Thiên Chúa: đó là chúng ta yêu mến Thiên Chúa và thi hành các điều răn của Ngài. Quả thật, yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Người. Mà các điều răn của Người có nặng nề gì đâu, vì mọi kẻ đã được Thiên Chúa sinh ra đều thắng được thế gian” (1 Ga 5:2-4). Thánh Gioan nói “có nặng nề gì đâu”, thế nhưng lại không hề đơn giản, nếu không cầu nguyện và cố gắng thì không dễ thực hiện “luật nhẹ nhàng” ấy của Chúa.

Chính nhờ lòng tin mà chúng ta thắng được thế gian, nếu không tin thì không thể làm gì, điều này chứng tỏ lòng tin vô cùng quan trọng, vì thế mà Chúa Giêsu đã luôn nhắc nhở về lòng tin. Thánh Gioan đặt vấn đề: “Ai là kẻ thắng được thế gian, nếu không phải là người tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa?” (1 Ga 5:5). Câu hỏi đó cũng chính là câu trả lời. Thánh Gioan giải thích luôn: “Chính Đức Giêsu Kitô là Đấng đã đến, nhờ Nước và Máu; không phải chỉ trong Nước mà thôi, nhưng trong Nước và trong Máu. Chính Thần Khí Chúa là chứng nhân, và Thần Khí Chúa là sự thật” (1 Ga 5:6). Máu và nước rất mềm nhưng lại không gì mạnh bằng, thiếu máu và nước thì người ta không thể sống nổi!

Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!” (Ga 20:19). Nói xong, Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn. Ngài cho các ông xem để trấn an và củng cố đức tin cho họ. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Ngài lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20:21). Rồi Ngài thổi hơi vào họ và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20:22-23). Ngài “sai đi” là Ngài trao trọng trách, nhưng Ngài cũng ban Chúa Thánh Thần để hỗ trợ chúng ta hằng ngày.

Chính Chúa Giêsu đã dùng Máu và Nước để rửa sạch tội lỗi và tái sinh chúng ta, đồng thời Ngài cũng ban Thần Khí để giúp chúng ta can đảm làm chứng về LCTX vô biên, bởi vì Ngài biết chúng ta còn yếu đuối lắm – cả thể lý lẫn tinh thần!

Chiều hôm đó, một người trong Nhóm Mười Hai là Tôma, cũng gọi là Điđymô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa!”. Nhưng ông Tôma nói ngay: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20:25). Động thái của ông Tôma cũng chính là động thái của chúng ta, vì đôi khi ngay lúc chúng ta nói tin nhưng hành động của chúng ta lại không chứng tỏ niềm tin đó, thậm chí có khi còn hành động trái ngược!

Một tuần sau, các môn đệ lại có mặt trong nhà, lần này có cả ông Tôma. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em”. Rồi Ngài bảo ông Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20:27). Ui da! Sao Ngài biết vậy nhỉ? Ông Tôma hết hồn và choáng váng, liền thưa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20:28). Ông không nói tin hay không, nhưng câu “lạy Chúa” của ông đã nói lên tất cả. Đức Giêsu bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29). Nếu chúng ta thật lòng tin Chúa-Giêsu-Tử-Nạn-và-Phục-Sinh thì chúng ta có phúc hơn Tông Đồ Tôma rồi đấy!

Và Thánh sử Gioan kết luận: “Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em TIN mà ĐƯỢC sự sống nhờ danh Ngài” (Ga 20:30-31).

Quả thật, LCTX mầu nhiệm biết bao! Tuy nhiên, được tận hưởng LCTX thì chúng ta phải thực thi lòng thương xót với tha nhân – không trừ ai. Thánh Phaolô nói: “PHẢI đối xử tốt với nhau, PHẢI có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Ep 4:32). Trong tâm tình đó, Tông Đồ Giuđa cũng vui mừng gởi lời chúc tốt lành tới tất cả chúng ta: “Chúc anh em được đầy tràn lòng thương xót, sự bình an và tình thương” (Gđ 1:2), và “hãy cố gắng sống mãi trong tình thương của Thiên Chúa, hãy chờ đợi lòng thương xót của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, để được sống đời đời” (Gđ 1:21).

Lạy Thiên Chúa hằng hữu và giàu lòng thương xót, xin chạnh lòng thương chúng con. Vì cuộc khổ nạn đau thương của Đức Giêsu Kitô, xin thương xót chúng con và toàn thế giới. Xin Thánh Faustina và Thánh Gioan Phaolô II cầu thay nguyện giúp chúng con luôn. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

Về mục lục

.

LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA DÀNH CHO TÔ-MA

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Cho tới nay nhiều người đã quá quen với câu: “lò nóng củi tươi cho vào cũng cháy” của ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Câu này đã làm cho nhiều quan chức mất ăn, mất ngủ vì tội của mình sẽ bị phanh phui. Một cuộc chiến tranh giành quyền lực hay làm sạch đội ngũ cán bộ cũng làm cho bầu trời như đang sụp đổ với nhiều người.

Chỉ mấy tháng thôi mà ta đã thấy những thanh củi tươi một thời lẫy lừng phải hầu tòa liên tiếp hết tội này đến tội khác như Trịnh Xuân Thanh hay Đinh La Thăng. Rồi đến những tướng lĩnh ngành công an hay như những đại gia ngân hàng hiển hách một thời nay cũng lao vào vòng lao lý.

Nhìn vào thế sự xảy ra ta mới thấm thấm thía câu nói:

Sông kia có lúc người có khúc
Dâu bể – phù phu – lắm đổi thay!
Diễm phước lên voi, đừng hãnh tiến
Ngừa khi xuống chó bể sa lầy
Điều mà người xưa vẫn dạy là.

Thực ra, cuộc đời vốn không bao giờ ưu đãi với ta. Cuộc đời luôn đưa đến sóng gió, thử thách, nghi nan. Có người vượt qua nhưng có người đã ngã quỵ. Sóng gió có thể do tội mình gây ra nên phải chịu hình phạt của hậu quả như những quan chức sống thiếu thanh liêm. Sóng gió có thể do người khác đưa đến mà mình là nạn nhân đôi khi cũng cảm thấy mệt mỏi như khi bị hiểu lầm, bị hàm oan. . . Sóng gió có thể do thiên tai hay tai nạn dồn dập khiến ta rơi vào bế tắt tột cùng.

Trong biến cố đồi Calve các tông đồ cũng rơi vào tuyệt vọng tứ bề. Khi thì nghe xôn xao người ta bắt Thầy Giê-su. Lúc thấy quân dữ hành hung Chúa. Khi thấy đám đông la hét đòi đóng đinh Chúa. Và rồi thấy Chúa tắt hơi thở được an táng trong mồ. Bầu trời đã hoàn toàn sụp đổ nơi các tông đồ. Kẻ về quê, người lẩn trốn. Kẻ hoang mang – người tuyệt vọng.

Phúc âm hôm nay cho ta thấy khuôn mặt mang tính cách tuyệt vọng trong cô độc của Tô-ma. Phúc âm ghi lại: Chúa phục sinh đã hiện ra với các tông đồ, trừ Tô-ma. Tô-ma đã vắng mặt ngày hôm đó. Không rõ lý do tại sao vắng mặt, nhưng nếu có thể đoán với tính tình mau nản dễ bỏ cuộc của ông. Ông đã tách lìa cộng đoàn. Ông đã quá quen với những tin tức đen tối u buồn, cho nên những tin tức nào có tính cách đau thương, thất bại, bách hại thì ông mới tin. Ông không đủ lạc quan để tin vào niềm vui Chúa sống lại. Thế nên, khi nghe tin Thầy Giê-su sống lại thì ông đòi sự kiểm chứng. Ông đã hùng hồn tuyên bố: nếu tôi không xỏ ngón tay vào cạnh sườn, vào lỗ đinh ở tay, chân Chúa thì tôi không bao giờ tin. Ở đây ta thấy lòng thương xót Chúa đã khuất phục ông. Khi hiện ra với ông , Chúa không than trách ông mà còn cho ông xem những mũi đinh trên thân thể Người. Tô-ma đã thấy và đã tin.

Cuộc đời chúng ta đôi khi cũng đánh mất đi quá nhiều cơ hội, bỏ lỡ nhiều dịp may để hy vọng, để tin, để sống. . . Chúng ta bỏ lỡ đi sự hiện diện, cứu giúp của Chúa, ơn tha thứ của Chúa. Thế nên, cuộc đời chúng ta vẫn chìm đắm trong đau khổ và thất vọng. Có một điều chúng ta phải học nơi Tôma là ông dám làm lại cuộc đời sau khi gặp được Chúa. Tôma đã được biến đổi. Từ một con người thờ ơ lãnh đạm, nghi ngờ yếu đuối, ông trở thành một người tuyên xưng đức tin hùng mạnh: “Lạy Chúa, lạy Chúa tôi”. 

Tô-ma chính là mẫu gương cho đời sống đức tin của chúng ta. Có những lúc chúng ta bước đi trong đêm tối của cuộc đời. Muốn buông xuôi. Muốn bỏ cuộc. Có những lúc chúng ta thất vọng muốn xa rời cộng đoàn, chẳng dám tin ai. Tô-ma đã từng xa lìa cộng đoàn. Sống trong cô đơn, thất vọng. Nhưng ông đã trở về với cộng đoàn. Ông bám vào cộng đoàn, nhờ đó mà ông tìm được niềm vui Chúa phục sinh. 

Hôm nay là Chúa nhật lòng thương xót như muốn củng cố thêm đức tin cho chúng ta. Thiên Chúa không bao giờ thua cuộc. Thiên Chúa không bao giờ bỏ cuộc. Thiên Chúa luôn thi thố lòng thương xót của mình cho những ai tin vào Người. Tô-ma cứng tin nhưng vẫn được Chúa xót thương cho xem cạnh sườn Chúa. Tô-ma đã từng tuyệt vọng nhưng lòng thương xót Chúa đã hồi phục Tô-ma trong ánh sáng sự phục sinh.

Nguyện xin Chúa Phục sinh ban cho chúng ta ơn bình an và lòng tin mạnh mẽ để có thể tuyên xưng Chúa trong mọi biến cố vui buồn trong đời. Xin cho chúng ta đừng bao giờ rời xa cộng đoàn, nhưng luôn hiệp nhất với nhau trong một đức tin, đức cậy, đức mến nồng nàn. Amen

Về mục lục

.

VẾT THƯƠNG CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Năm 1931, Chúa Giêsu đã mạc khải cho nữ Thánh Faustina Kowalska sứ điệp về lòng tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa đối với thế giới, và Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị đã là người phổ biến Thông điệp đó trên toàn cầu. Ngài chính là vị Giáo Hoàng đã quyết định thành lập lễ Lòng Thương Xót Chúa vào Chủ Nhật thứ II sau Phục Sinh kể từ ngày 22 tháng Tư năm 2001. Ngài có ý làm nổi bật mối liên hệt chặt chẽ giữa các mầu nhiệm Phục Sinh và Lễ Lòng Thương Xót Chúa, thánh Faustina nói : “Công trình cứu chuộc có liên quan đến công việc của Lòng Thương Xót“.

 1) Từ cạnh sườn bị đâm thủng : nguồn ánh sáng và lòng thương xót.

 Phép Rửa tội đích thực là lòng thương xót của Thiên Chúa được “sinh ra” từ cạnh sườn bị đâm thủng của Chúa Kitô, “nguồn suối của lòng thương xót, tuôn trào sự tha thứ“, không chỉ tha thứ tội Tổ Tông, mà còn liên kết chúng ta với Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần.

Thiên Chúa là Tình Yêu và hay thương xót, Ngài không bao giờ phản bội với danh Ngài. Qua mầu nhiệm Khổ Nạn, Sự Chết và Phục Sinh của Đức Kitô, cuộc sáng tạo mới được hoàn thành, chính lúc Ađam ngủ, Thiên Chúa đã tạo dựng Evà từ cạnh sườn của ông, nay lúc Chúa Kitô ngủ trên Thánh Giá Thiên Chúa đã khai sinh Giáo hội từ cạnh sườn Chúa.

 Từ trái Chúa Kitô bị đâm thủng Giáo hội được sinh ra : thánh Tôma đã nhận được món quà vô giá là thọc bàn tay vào cạnh sườn của Đấng Phục Sinh gần trái tim Chúa, tha thứ cho sự hoài nghi của ông. Ông chạm vào con người và nhận ra Thiên Chúa, một lần nữa Lòng Thương Xót Chúa mạc khải cho ông.

  Như thánh Tôma, Chúa Giêsu cũng nói với chúng ta : “Hãy sỏ ngón tay con vào đây, hãy đưa tay ra và thọc vào cạnh sườn Thầy!” (Ga 20,19) Cử chỉ này đã đủ cho Tôma. Ông không thể sai lầm. Tay Chúa Kitô có một lỗ đanh, cạnh sườn Chúa có vết thương: ngần ấy các dấu chỉ của tình yêu mà Chúa Giêsu không che giấu, thậm trí Người cho chúng ta thấy : lỗ đanh, vết thương ở cạnh sườn Người mà từ đó máu và nước chảy ra : lòng thương xót của Thiên Chúa.

2)  Từ sợ hãi đến niềm vui

  “Những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do thái ” (Ga 20,19). Không phải sợ. Hầu như sợ hãi là không thể nhưng chúng tồn tại và có thật. Sợ hãi làm cho cửa lòng mình đóng lại với người khác. Sau khi Chúa chết, nhà các môn đệ giống như ngôi mộ, họ sống với sự sợ hãi, sợ chết. Chúa Giêsu không còn ở trong Mộ, bởi vì Người không thể nào là người tù của sự chết (x. Cv 2, 24) và ngôi mộ không thể nào giữ lại “Ðấng hằng sống” (Kh 1,8), Ðấng là chính nguồn mạch của sự sống đã kết thúc cuộc hành trình nơi ngôi mộ như mọi người, nhưng Người đã chiến thắng sự chết, sống lại ra khỏi mồ. Cái chết đã bị đánh bại: vậy thì còn gì phải sợ? “Họ vui mừng khi thấy Chúa” : các môn đệ từ sợ hãi đến vui mừng.

Chúa vui, các môn đệ vui, niềm vui của tình Thầy trò bén dễ sâu trong tình yêu. Niềm vui này không tách rời khỏi Thập Giá, nhưng trong khả năng của mình, con người có thể hiểu được Thập Giá và thảm kịch của con người.

Với niềm vui, Đấng Phục Sinh đã ban cho chúng ta một món quà khác là : bình an. Bình an và niềm vui là những “món quà” của Chúa Kitô, đồng thời “dấu chỉ” để nhận biết Người. Sự bình an và niềm vui nảy nở trong tự do và hy sinh.

3) Sự tha thứ là sứ mệnh

Cuộc gặp gỡ thương xót của Đức Kitô với Tôma, không chỉ riêng Tôma mà cả các môn đệ kia nhờ Tôma mà thấy tỏ tường những vết thương của Thầy Chí Thánh. Các môn đệ hết sức vui mừng vì được gặp Chúa. Từ niềm vui của các môn đệ đến niềm vui của người được yêu thương, mời gọi chúng ta yêu thương như Chúa đã yêu. Sứ mạng của Hội Thánh tiếp tục sứ vụ của Chúa Giêsu, được Chúa Cha gửi đến cho các anh em mình. Chính vì thế mà chúng ta là những tạo vật mới, được Thần Khí làm cho sống, là tình yêu, hồng ân và sự tha thứ cho hết thảy mọi người. Nếu chúng ta tha thứ, chúng ta giống như Chúa Giêsu và chúng ta sẽ có sự bình an của Người: “Bình an cho các con“.

Cử chỉ trao ban bình an của Chúa cho các môn đệ, biến các ông từ những người đang lo sợ và kinh ngạc, trở nên những tác viên của Lòng Chúa Thương Xót. Chúa đưa đôi tay và cạnh sườn còn in những dấu tích của cuộc thương khó và nói với các ông : ” Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con“. Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại” ( Ga 20, 21- 23). Chúa Giêsu trao phó cho các ông hồng ân “tha thứ các tội lỗi” diễn tả lòng xót thương vô bờ của Thiên Chúa đối với nhân loại, hồng ân này phát sinh từ những vết thương của đôi tay, đôi chân và nhất là của cạnh sườn Chúa bị đâm thâu qua. Đó là những vết thương hằn in trên cơ thể của Người lúc còn sống, ngay cả sau khi Phục Sinh. Những vết thương vinh quang, mà Tôma đã tận mắt chứng kiến tám ngày sau, thật không thể nào hiểu nổi và tin được lòng thương xót của Thiên Chúa : ” Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài” (Ga 3, 16). Từ đó, một làn sóng tình thương nhân từ đổ xuống trên toàn thế giới, hòa giải tất cả và tái tạo tâm hồn, mang lại cho chúng nhân niềm hy vọng .

Lạy Chúa, nhờ sự chết và sự sống lại của Chúa, Chúa đã mạc khải tình yêu của Thiên Chúa Cha cho chúng con, chúng con tin thác vào Chúa, chúng con lặp lại ngay lúc này với xác tín rằng: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa, xin thương xót chúng con và thế giới.

Lạy Mẹ maria, Mẹ của lòng nhân từ hay thương xót, xin giúp chúng con là con cái Mẹ duy trì lòng tin vào Con Mẹ, Ðấng cứu chuộc chúng con. Amen.

Về mục lục

.

ĐIỂM HẸN GALILÊ

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

“Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Ga-li-lê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người.” (Mt 28, 7).

Galilê gợi nhắc bao nhiêu điều từ ngày đầu tiên gặp gỡ ấy, giữa Chúa Giêsu và các Tông Đồ. Từ lời mời gọi “Hãy theo Thầy” (Mt 4, 19), các môn đệ đã bỏ chài, bỏ lưới theo Chúa, sống với Chúa. Rồi đến ngày Chúa chịu chết, các môn đệ trở về quê cũ, nhưng Chúa lại quy tụ, nhắc một lần nữa: “Hãy theo Thầy” ở điểm hẹn Galilê (Ga 21, 19).  

Điểm hẹn Galilê

Có biết bao điểm hẹn Chúa với các môn đệ, nhưng tại sao lại là điểm hẹn Galilê. Ở Galilê, các môn đệ nhớ lại một kỷ niệm đẹp đầu đời của những ngày bỏ mọi sự đi theo Chúa. Lời mời gọi của ba năm trước vẫn nằm trong ký ức sống động của các môn đệ.

Galilê, là nơi chôn nhau cắt rốn của các môn đệ, lớn lên giữa làng chài, quanh năm bám với biển. Ở đó có tuổi thơ tinh nghịch trên những bãi cát, thuyền bè, những ngày bơi lội, tắm biển, phơi nắng, chạy chân trần trên bãi cát… Tuổi thơ có ngày đói, ngày no cùng với những mẻ cá, cha mẹ vất vả với sóng nước.

Lớn lên một chút rồi cũng phụ cha mẹ trong những vất vả vá lưới, kéo thuyền, ra khơi đánh bắt. Cuộc sống cứ thế cho đến một ngày, Chúa đi qua bãi biển, cất tiếng mời gọi. Một lời mời gọi như cách diễn tả trong thơ Xuân Quỳnh:

“Từ ngày nào chẳng biết 

Thuyền nghe lời biển khơi 

Cánh hải âu, sóng biếc 

Đưa thuyền đi muôn nơi” (Thuyền và biển) 

Cái ngỡ ngàng của ngày theo chân đầu tiên ấy, nhẹ nhàng mà cứ nhớ mãi. Chẳng biết vì lý do hấp dẫn từ đâu tới, lôi cuốn mãnh liệt, bỏ hết mọi sự đi theo Thầy. Galilê, một mảnh đất linh thiêng, nơi có con người – Chúa đến đặt chân trên mảnh đất này. Có lẽ Chúa biết điểm hẹn ấy là một kỷ niệm khó phai mờ nên đã hẹn gặp gỡ các môn đệ sau Phục sinh để sống lại một thời đã yêu, đã thương, đã bước theo chân. Kỷ niệm sống lại để sống những điều mới mẻ trong những gì đã tưởng chừng cũ.

Người Kitô hữu cũng có điểm hẹn đầu tiên đó, trong ngày được lãnh nhận bí tích rửa tội. Dù ngày xưa, còn thơ bé, được ẵm trên tay, cha mẹ bế tới nhà thờ để gặp gỡ Chúa trong bí tích. Cái thưở chưa biết gì ấy, làm sao có gì để lưu luyến, nhưng có đâu, để không có gì để. Nhiều nhiều lắm, tiếng Chúa gọi qua tiếng ầu ơ, đưa võng. Tiếng Chúa mời gọi qua những lời kinh, dấu Thánh Giá của người anh, người chị, của cha mẹ, dịu êm bên tai, trong những giờ kinh tối của gia đình. Tiếng Chúa gọi từng lần trong trái tim, mỗi khi hạnh phúc, từng khi đau khổ, mỗi khi ngã sa…

Rồi tuổi thơ, những ngày được đưa đến nhà thờ dự lễ, nơi mảnh đất chung của nhiều người trong xóm đạo. Dù chưa biết gì, cũng làm dấu, cũng chạy nhảy và nghịch ngơm cả trong những giờ đang cử hành Thánh Lễ. Tuổi thơ lớn lên, dần dà ý thức trang nghiêm mỗi khi đến với Chúa. Quỳ gối, đọc kinh theo chặng đàng Thánh Giá và những kỷ niệm của ngày hôn chân Chúa. Những nắm nả, những tiếng kinh, mùi dầu thơm của ngày hôn chân Chúa. Trong ngày lễ vọng Phục sinh, từng kỷ niệm ấy góp về để nhớ về một thời được bồng trên tay, xức dầu, đổ nước rửa tội, được nhắc lại trong lời tuyên xưng đức tin, rảy nước Thánh… Những điểm hẹn dấu yêu!

Galilê, những ngày sống chết với Chúa và sống với nhau.

Theo chú giải của  William Barclay: Sử gia Josephus nói về dân Galilê như sau: “Bao giờ họ cũng thích cải cách, bản tính họ thích thay đổi và thích bạo động. Họ luôn sẵn sàng theo một thủ lãnh và phát khởi một cuộc nổi dậy. Họ nổi tiếng là người nóng tính và thích cãi vã. Tuy nhiên, họ cũng là những người hào hùng nhất”. Có lẽ vùng đất đầy hấp dẫn này, Chúa có kinh nghiệm về con người nơi đây.

Bắt đầu từ hội đường Nazareth, nơi Người sinh trưởng, không phải là làng quê hẻo lánh mà là một thành có tầm cỡ lịch sử và có các trục lộ giao thông của thế giới chạy qua ngay trước ngõ.

Vậy Chúa Giêsu đã kêu gọi những môn đệ đầy nhiệt huyết muốn thay đổi xã hội cách họ đang sống, để hướng tới một thế giới yêu thương hơn, bớt đi những xấu xa và bất công. Họ theo chân Chúa, vì họ nhận ra trong lời nói cũng như việc làm, “Người giảng dạy như Đấng có uy quyền, chứ không như các kinh sư” (Mc, 1, 21).

Thời gian các môn đệ ở với Chúa, có biết bao buồn vui cùng với Thầy của mình, những lúc chứng kiến Chúa chữa lành, xua trừ ma quỷ, rao giảng về Nước Trời và dạy dỗ họ. Vùng đất của biết bao kỷ niệm ở Galilêa có thành Capharnaum, Nazareth. Samaria nằm giữa xứ Palestina với những con đường nối liền Nam-Bắc. Giuđêa là miền núi có thủ đô Giêrusalem và Pêrêa bên kia sông Giođan. Phía Bắc là miền Decapolis nơi dân cư phần nhiều thuộc văn hóa Hylạp.

Nơi đâu cũng có những dấu ấn kỷ niệm của một thời, những ngày tranh luận ai lớn nhất Nước Trời, tranh nhau ngồi chỗ nhất, tuyên xưng rồi lại ngăn cản Thầy không thể bị chết như thế được… Có sống với những kỷ niệm vui buồn, đau thương khi vấp ngã mới nhớ được rõ hơn từng nơi trải qua. Những kỷ niệm giờ đây Chúa lại hẹn về Galilê, để đốt nóng lên những tình yêu xưa, các tông đồ tưởng như đã hết, nay lại đã dồi dào sức sống.

Không chỉ ở Galilê, ngay trong ngôi nhà, mỗi gia đình đều có những dấu ấn kỷ niệm của những ngày hạnh phúc hay đau thương, chỗ này cha ngồi nghỉ mỗi khi mỏi mệt, nơi này mẹ đã ngồi kể những chuyện xưa cho các con, chỗ này nơi anh chị em cùng hội họp sẻ chia hạnh phúc, nơi này ngậm ngùi chia cách… Những dấu ấn từng gia đình, biết bao lần cùng nhau ôn lại, những kỷ niệm được sống lại trong những lúc gặp gỡ, chuyện vui, chuyện buồn, giờ kinh giỗ… Kể cho nhau để sống những gì tốt đẹp và để quên đi những nỗi buồn chất chứa. Đó là một phần nào đó sống chút ít kinh nghiệm như xưa Chúa hẹn gặp lại các môn đệ ở nơi chôn nhau cắt rốn.

Cộng đoàn, nhà thờ, hội đoàn, người Kitô hữu thường lui đến nhóm họp. Biết bao kỷ niệm, bao là dấu ấn thời gian ghi khắc. Những khuôn mặt thân quen, những giọng đọc, giọng hát, tiếng cười nói của những năm tháng. Những chỗ ngồi, chỗ đứng, nơi từng bước dạo, trong cũng như chung quanh nhà thờ. Có người đã ra đi và những chỗ đứng ngồi ấy vẫn còn đây. Rồi bao chuyện vui, buồn, tang tóc… nơi nhà thờ từng đưa tiễn, nơi nhóm bạn hát, nhóm, hội đoàn, cùng sẻ chia… Bao nhiêu tâm tình, nếu chỉ là đất ở, có lẽ cũng chẳng có nhiều kỷ niệm như là mảnh đất mà những tâm hồn đang cùng nhau hiệp thông cùng Chúa. Đó cũng là một phần kinh nghiệm để sống Chúa hẹn gặp tại Galilê.

Những điểm hẹn, đẹp, êm đềm và hằng cháy mãi trong lòng không nguôi. Chúa đã ghi dấu tình yêu trong mỗi trái tim chúng con, nên điểm hẹn với Chúa, với nhau, với từng gia đình, trở nên tràn nhựa sống và thêm đầy ý nghĩa cho đời sống hôm nay.

Chúng con xin tạ ơn Chúa!

Về mục lục

.

ĐÓNG BÈ ĐỂ GIỮ VỮNG ĐỨC TIN

Lm Trần Bình Trọng

Có ai dám cả gan bơi ngược dòng nước chảy mạnh xuống dốc, cuốn theo những vật trên mặt nước, hay chỉ có những người liều lĩnh mới làm như vậy không? Những trào lưu tư tưởng phóng túng, những lối sống buông thả, sa đoạ trong xã hội hiện đại với nhiều phương tiện truyền thông cận đại và nhanh chóng, giống như những dòng nước chảy mạnh.

Bên cạnh dòng nước chảy mạnh, còn có những dòng nước nhỏ, chảy chậm hai bên bờ. Ðể khỏi bị lôi cuốn vào dòng nước chảy mạnh, người ta phải dùng một trong hai giải pháp. Một là dùng thuyền nhỏ, đi mon men sát bờ, đôi khi cần bám vào những gốc rể cây. Hai là đóng bè lớn cho vững chắc, rồi chung sức lèo lái: người thì dùng chèo để chống cho thuyền khỏi trôi xuôi dòng nước, người khác dùng sào dài để đẩy cho thuyền đi ngược dòng từng nấc và cứ thế từng nấc một. Sống trong xã hội hiện nay, người ta chỉ cần nhấn con chuột là tin tức và hình ảnh có thể hiện ra trên màn ảnh máy điện toán ngay tại phòng ngủ, người ta ít có cơ hội chọn giải pháp đi mon men hai bên bờ. Vì thế người ta cần đóng bè để giúp nhau giữ vững đức tin.

Người ta cũng đóng bè với nhau vì hai lý do. Một là cùng chung một đối tượng, một mục đích như cùng xuống đường để đòi hỏi một quyền lợi hay phản đối điều gì. Hai là cùng chia sẻ một cảm tình như lo sợ, vui mừng.. chẳng hạn dự đám cưới để chia vui, dự đám tang để chia buồn..

Sau biến cố tự nạn của Thầy mình, các tông đồ tìm đến với nhau để đóng bè. Vì sợ người Do Thái phát hiện như Phúc âm hôm nay kể lại mà các tông đồ tụ họp trong phòng lầu tại Giêrusalem, đóng cửa và gài chốt bên trong. Trong cảnh tang thương bi đát trước cuộc tử nạn của Thầy mình, các ông tụ họp nhau lại cầu nguyện để ủng hộ tinh thần và nâng đỡ nhau. Bỗng nhiên Ðức Giêsu hiện ra trước mắt các ông để củng cố đức tin gần như bị tàn lụi của các ông.

Riêng có ông Tôma lại tách rời ra khỏi các bạn đồng chí hướng. Do đó đức tin của ông đã bị dập tắt: Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào vết đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi nhất định không tin (Ga 20:25). May phúc cho ông là chính Ðức Giêsu lại đích thân hiện ra để phục hồi đức tin của ông. Lúc này ông mới kêu lên: Lạy Chúa của con. Lạy Thiên Chúa của con (Ga 20:28).

Cộng đồng Kitô giáo hay chặt chẽ hơn là cộng đồng Công giáo được gọi là cộng đồng đức tin, gồm những người cùng chia sẻ một niềm tin và cùng theo đuổi một mục đích. Nếu muốn giữ vững đức tin, người ta cần ở lai trong cộng đồng, thờ phượng và sinh hoạt với cộng đồng đức tin. Khi người ta liên kết và thờ phượng với cộng đồng đức tin, đức tin của họ sẽ được củng cố. Nếu đức tin của người ta vững mạnh, họ có thể giúp làm tăng triển đức tin của người yếu đức tin. Các tín hữu thời Giáo hội sơ khai, theo sách Công vụ Tông đồ, nhờ có đức tin tập thể của người nọ nâng đỡ người kia, mà họ có thể để mọi sự làm của chung (Cv 2:44). Còn thánh Gioan thì cho rằng nhờ đức tin mà người tín hữu thắng được thế gian (1Ga 5:4).

Ðức tin của người công giáo dựa trên hai chiều: chiều dọc và chiều ngang. Theo chiều dọc thì Thiên Chúa từ trên, mời gọi ta đến đời sống đức tin và ta đáp trả. Còn đức tin dựa theo chiều ngang có nghĩa là ta cần dựa vào cha mẹ, họ hàng, bạn hữu và những người cùng chung một niềm tin, để giúp nhau duy trì và phát triển đức tin. Ta cần tìm đến những người có đức tin mạnh, những người có tâm hồn đạo hạnh, để hun đúc lại đức tin của mình. Ngoài ra đức tin cần phải được thực hành. Nếu không thì như Thánh Giacôbê quả quyết: Ðức tin không có việc làm, là đức tin chết (Gc 2:26). Vì thế những người chủ trương giữ đạo tại tâm là tự lừa dối mình. Tách biệt ra khỏi cộng đồng đức tin, đức tin của người tín hữu có thể bị lung lạc, khi bị gièm pha và tấn công bởi những người chống đối đạo.

Ðể áp dụng thực hành, người ta cần biểu lộ đức tin bằng việc làm như cầu nguyện, dự lễ, hi sinh, làm việc bác ái. Nếu là thiên thần, người ta không cần biểu hiệu. Còn loài người có xác, người ta cần biểu lộ đức tin bằng những cử chỉ đạo hạnh như qùi gối, chắp tay, cúi đầu.. để khơi dạy tâm tình đạo đức bên trong. Người ta cũng cần những biểu hiệu như tượng ảnh đạo treo trong nhà, hay trong phòng để nhắc nhở cho họ về sự hiện diện của Chúa, Mẹ Maria và các thánh.

Nhà thờ xứ đạo là biểu hiệu đức tin và là trung tâm điểm của đời sống đức tin. Sau khi sinh ra, ta được mang đến nhà thờ để chịu Phép Rửa tội. Ta Rước lễ lần đầu ở trong nhà thờ. Ta chịu Phép Thêm sức cũng ở trong nhà thờ xứ đạo. Và ta lãnh nhận Bí tích Hôn phối cũng ở trong nhà thờ. Khi nằm xuống vĩnh viễn, thân xác ta còn được mang đến nhà thờ để được cử hành lễ an táng. Ðến nhà thờ cầu nguyện và dâng thánh lễ là cách biểu lộ đức tin một cách cụ thể nhất. Như vậy đức tin của người công giáo được hỗ trợ một cách tối đa bằng việc bàu cử của Mẹ Maria và các thánh, bằng lời cầu nguyện và gương sáng của người tín hữu khác. Không tìm đến sức hỗ trợ thiêng liêng, là tự cô lập hoá đức tin của mình.

Hôm nay cũng là Chúa Nhật Kính Lòng Thương Xót Chúa. Năm 1931, Chúa Giêsu hiện ra và yêu cầu nữ tu Faustina Kowalska cổ võ lòng thương xót Chúa. Chúa bảo thánh nữ cho vẽ bức ảnh mô tả lòng thương xót Chúa như thánh nữ đã thấy trong thị kiến với lời ghi chú: Lậy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa. Thứ Sáu Tuần thánh 1937, Chúa còn yêu cầu thánh nữ cổ võ làm Tuần Cửu nhật bắt đầu từ Thứ Sáu Tuần thánh bằng cách dùng tràng hạt đọc chuỗi thương xót: Vì cuộc Thương khó của Chúa Giêsu, xin thương xót chúng con và toàn thế giới như khi lần hạt mà đọc kinh Kính mừng, để mừng Lễ Kính Lòng Thương Xót của Chúa.

Lời nguyện theo kinh đọc ngày thứ năm Tuần Cửu nhật Kính Lòng Thương Xót Chúa:

Lậy Chúa Giêsu đầy lòng thương xót,

là chính sự lân ái.

Chúa không từ chối những ai tìm kiếm ánh sáng của Chúa.

Xin đón nhận vào trái tim vô cùng từ bi lân mẫn Chúa,

linh hồn những người đã li khai khỏi Giáo hội Chúa.

Xin lấy ánh sáng Chúa dẫn dắt họ về hiệp nhất với Giáo hội,

đừng để họ thoát khỏi Trái Tim từ bi lân ái Chúa,

nhưng xin dẫn họ về để họ cũng được tôn vinh

lòng quảng đại xót thương của Chúa. Amen. 1

_________________

  1. Bản dịch kinh của Văn Phòng Mục Vụ Tông Ðồ Fatima Việt Nam tại Hoa Kì từ bản Anh ngữ

Marians of the Immacualate Conception/ Association of Marian Helpers, Stockbridge, MA.

Về mục lục

.

BÌNH AN

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Có câu chuyện kể rằng: trong triều của một vị vua nọ có hai họa sĩ rất tài ba nhưng luôn ganh ghét đố kỵ nhau. Một hôm nhà vua phán: Ta muốn phán quyết một lần dứt khoát ai trong hai ngươi là người giỏi nhất. Vậy hai ngươi hãy vẽ mỗi người một bức tranh theo cùng một đề tài, đó là bình an.

Hai họa sĩ đồng ý. Một tuần sau họ trở lại, mỗi người mang theo bức vẽ của mình. Bức họa của người thứ nhất vẽ một khung cảnh thơ mộng: những ngọn đồi nhấp nhô bao quanh một cái hồ rộng với mặt nước phẳng lì không một gợn sóng. Toàn cảnh gợi lên một cảm giác thanh thản, thoải mái. Sau khi xem xong, nhà vua nói: Bức họa này rất đẹp, nhưng trẫm chưa hài lòng.

Bức họa của người thứ hai vẽ một thác nước. Hình ảnh rất sinh động đến nỗi nhìn nó người ta như nghe được tiếng nước đổ ầm ầm xuống vực thẳm. Nhà vua nói: Đây đâu phải là một cảnh bình an. Họa sĩ thứ hai bình tĩnh đáp: Xin bệ hạ nhìn kỹ hơn một chút nữa xem. Nhà vua nhìn kỹ và khám phá một chi tiết mà ông chưa chú ý: Trong một nhành cây nép mình sau dòng thác lũ, có một tổ chim. Trong tổ, chim mẹ đang ấp trứng, đôi mắt nửa nhắm nửa mở. Chim mẹ đang bình thản chờ các con mình nở ra. Nhà vua nói: Ta rất thích bức tranh này. Nó đã chuyển tải được một ý tưởng độc đáo về bình an, đó là vẫn có thể sống bình an ngay giữa những xáo trộn của cuộc đời. Và nhà vua đã trao giải nhất cho tác giả bức họa này.

Bình an không giống như yên ổn. Yên ổn là ở bên ngoài còn bình an thì ở bên trong.

Chúa Giêsu sống lại từ ngày thứ nhất trong tuần đã hiện ra với các môn đệ và ban bình an cho các ông. Lời đầu tiên của Chúa Phục Sinh là: “Bình an cho anh em” (Ga 20,19-21). Bình an là hồng ân của Chúa Phục Sinh ban cho các môn đệ (Ga 20,26; Lc 24,36). Các sách Tin Mừng và Công vụ Tông đồ thuật lại: mỗi lần Chúa Giêsu hiện đến đều thấy các môn đệ hội họp trong nhà, cửa đóng then cài vì sợ người Do thái. Khi Chúa hiện diện, sự sợ hãi của các môn đệ tan biến và các ông có được niềm vui, bình an, can đảm. “Thầy ban bình an của Thầy cho anh em… anh em đừng xao xuyến, đừng sợ hãi” (Ga 14,27).

Có một sự khác biệt cơ bản giữa bình an “thế gian ban tặng” và “bình an Chúa Giêsu ban tặng”.

  1. “Bình an cho các con”

Tôi có một anh bạn thân, anh ta là dự tòng và rất có thiện cảm với đạo Công Giáo của chúng ta. Mới có ý định theo đạo mà anh ta đã siêng năng đi lễ rồi. Trong cuộc trò chuyện với anh tại sân nhà thờ nọ, tôi chủ động bắt chuyện với anh, tôi hỏi anh: “anh đi lễ như vậy thì anh cảm thấy ấn tượng nhất là phần nào trong Thánh lễ?” Anh bạn trả lời: “mình ấn tượng nhất chính là các lần chào chúc bình an của linh mục với giáo dân và ngược lại”. Câu đó là: “Bình an của Chúa ở cùng anh chị em”, sau đó cộng đoàn đáp: “và ở cùng cha”. Anh bạn nói tiếp: “mình rất thích và cảm động vì lời chào chúc đó có một ý nghĩa sâu xa là cầu xin Thiên Chúa ban bình an của Người xuống trên ta”; “Sau lễ, mình ra về và hạnh phúc vì đã đón nhận được sự bình an của chính Thiên Chúa”. Thật vậy, người được Chúa ban bình an của chính Chúa thì khác xa với sự bình an giới hạn theo lối hiểu của con người. (Jos. Vinc. Ngọc Biển)

Trong đêm Giáng sinh, các thiên thần hát mừng: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người được Thiên Chúa yêu thương”. Ngày thứ nhất trong tuần, Chúa Phục Sinh hiện đến và trao ban bình an, đó là quà tặng tuyệt vời cho các Tông Đồ và của các phụ nữ đạo đức.

Khi Thầy đã chết và an táng trong mồ, các Tông Đồ hoang mang sợ hãi, giờ đây họ lại càng bồn chồn lo lắng khi nghe tin Thầy đã sống lại. Chúa Phục Sinh đến với lời chúc lành đã củng cố đức tin và đem lại an bình cho tâm hồn các môn đệ.

Bình an của Chúa Phục Sinh đã thổi sức sống mới giúp các môn đệ trở thành con người mới. Thánh Phaolô đã xác tín Thiên Chúa là nguồn mạch bình an: “Nguyện chính Thiên Chúa là nguồn mạch bình an, thánh hóa toàn diện con người anh em, để thần trí, tâm hồn và thân xác anh em, được gìn giữ vẹn toàn, không gì đáng trách, trong ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, quang lâm. Đấng kêu gọi anh em là Đấng trung thành: Người sẽ thực hiện điều đó” (1Tx 5, 23-24). Như thế, bình an là tình trạng của một tâm hồn đang có tương quan tốt với Thiên Chúa và với tha nhân. Thành tố quan trọng của bình an là sự công chính. Bởi thế, không có bình an cho kẻ dữ. Bình an là kết quả của lòng trông cậy và sống đẹp lòng Chúa.

  1. Hoa quả của Bình An.

Hoa quả của bình an là: yêu thương, tha thứ, bao dung, quảng đại, khiêm tốn, nhẫn nại, nhịn nhục. . .

Tâm hồn có sự bình an của Chúa Giêsu Phục Sinh; chúng ta biết thông cảm với người làm ta bực mình; dễ dàng cảm thông với những người không yêu mến; sẽ khiêm tốn hơn trong lời nói trong cử chỉ thái độ của mình. . .

Hoa quả của bình an chính là tình yêu của Chúa Kitô thúc bách chúng ta làm việc thiện, thúc bách chúng ta vì anh em mà phục vụ như Chúa Kitô đã phục vụ, như các thánh Tông Đồ đã phục vụ Giáo Hội.

Hoa quả bình an thể hiện bằng tiếng cười, niềm vui, hạnh phúc trong gia đình, an hòa thư thái trong tâm hồn.

Hoa quả bình an cũng chính là sự thật. Ta cảm thấy bình an khi mình sống ngay thẳng, sống theo sự thật.

Con người ta ai cũng muốn có bình an trong tâm hồn, nên luôn cầu chúc cho nhau được bình an. Nhưng sẽ không có bình an thật, nếu tâm hồn không có tinh thần Phục Sinh của Chúa Kitô, tinh thần đổi mới con người cũ trở nên con người mới sống theo hướng dẫn của Thánh Thần.

Tâm hồn tràn ngập bình an là tâm hồn đạo đức. Đó là người hạnh phúc. Tâm hồn bình an khi hòa giải với Chúa, tin yêu Chúa. Tâm hồn bình an khi hòa giải với chình mình. Tâm hồn bình an khi hòa giải với mọi người sống chung quanh. Tâm hồn bình an khi không chất chưa tham vọng, không chất chứa oán hờn ganh ghét bất hòa. Tâm hồn bình an khi tâm hồn không bị xáo trộn bởi đam mê bất chính. Tâm hồn bình an khi là con người tự do đích thực và tôn trọng người khác. Đó là bình an Chúa Kitô để lại cho chúng ta.

Con người ta ai cũng cần sự bình an, có khi còn cần hơn cả cơm ăn áo mặc nữa. Chúa luôn muốn ban bình an cho chúng ta. Giáo hội cũng mong muốn như vậy. Cho nên mỗi khi tham dự thánh lễ, linh mục thay mặt Chúa và Giáo hội cầu chúc: “Bình an của Chúa ở cùng anh chị em”, rồi linh mục nói với chúng ta: “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau”. Có bình an của Chúa ở nơi mình, chúng ta mới có bình an để chia sẻ cho nhau.

Bình an là một hồng ân Chúa ban và cũng là một trách nhiệm. Không phải chúng ta chỉ cầu khẩn và tìm kiếm bình an cho mình mà còn phải là “khí cụ bình an của Chúa”, góp phần tạo nên bình an cho mọi người và cho toàn xã hội.

“Ước gì ơn bình an của Đức Kitô  điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó” (Cl 3, 15).

Ước gì cuộc đời của tôi của bạn, trong mọi nơi mọi lúc, nhất là lúc xao xuyến, âu lo, sợ hãi, thử thách, luôn nghe được lời chúc bình an của Chúa Phục Sinh: Bình an cho anh em.

Về mục lục

.

ĐỨC TIN LÀ MỘT ÂN BAN CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT

Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển

Người Công Giáo Việt Nam chúng ta thường hay nhận xét một biến cố hay một nhân vật nào đó, ít có mấy người để ý đến điều đang tiềm ẩn đằng sau những mặt nổi hay chiều sâu bên trong nơi những con người mà ta nhận xét. Vì thế, nhiều khi chúng ta khá chủ quan để kết luận một vấn đề, nên dễ dẫn đến chuyện đóng khung sự kiện hay đối tượng mà ta đánh giá trong một khoảng tham chiếu rất phiến diện dựa trên chuẩn mực mà chính ta đưa ra….

Với thánh Tôma mà hôm nay Tin Mừng nhắc đến, ngài cũng chịu sự nhận xét khá tiêu cực của nhiều người trong chúng ta, qua cái nhìn và lối suy diễn rất hiện sinh: “Tôma, vị Tông đồ cứng lòng tin”.

Tuy nhiên, dưới ánh sáng Lời Chúa và ân sủng do lòng thương xót của Người, chúng ta nhận thấy một điều quan trọng nơi câu chuyện Tin Mừng ngang qua nhân vật và cách biểu cảm của thánh Tôma.

  1.  Tiến trình căn bản của đức tin

Đức Tin là một ân ban của lòng thương xót Chúa cho ai thì người đó được. Điều này đã được Đức Giêsu dâng lời tạ ơn Thiên Chúa Cha khi nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Lc 10,21). Quả thật, không phải ai muốn mà được, nhưng còn phải được chính Thiên Chúa là người dẫn lần ta đến với đức tin như chính thánh Phaolô đã viết: “Những ai Người đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người” (Rm 8,29).

Tuy nhiên, đức tin ấy không thể trưởng thành mà không có môi trường, không có cộng đoàn. Vì thế, khi lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta được lãnh nhận hồng ân đức tin ấy trong tương quan và ngang qua cộng đoàn.

Thế nhưng, nếu chỉ dừng lại ở một bầu khí đức tin cộng đoàn thì chưa đủ, mà nó lại phải trở về với mối tương quan cá vị giữa ta với Chúa, để đức tin của chúng ta mang tính cá biệt với Thiên Chúa, rồi sau đó trở về hòa nhập với cộng đoàn để được lớn mạnh.

Đây cũng là tiến trình đức tin của Tôma mà Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta.

Niềm tin của thánh nhân vào Đức Giêsu, Đấng Phục sinh được khai mào từ lời chứng của cộng đoàn: “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” (Ga 20,25). Đây là lời klhẳng định của các Tông đồ khi Tôma vắng mặt trong biến cố Đức Giêsu hiện ra với các ông vào ngày thứ nhất trong tuần sau khi sống lại từ cõi chết.

Với Tôma, một người hiện sinh về việc tìm tòi cốt lõi của vấn đề, thì lời chứng của cộng đoàn chỉ đóng một vai trò dẫn đường để đưa ngài tới chỗ chính mình phải là người chủ động cảm nghiệm trực tiếp vấn đề mang tính cá vị: “Nếu tôi không thấy tôi không tin” (x. Ga 20, 25). Qua câu nói này của thánh Tôma, chúng ta nhận thấy ngài là một con người ngay thẳng, chân tình và rất thực tế.

Chính vì điều này mà Đức Giêsu, Đấng hiện thân của lòng thương xót đã mặc khải trực tiếp khi tỏ tình thương đối với vị Tông đồ này cách đặc biệt sau 8 ngày.

Quả thế, khi hiện ra với các Tông đồ lần này, Đức Giêsu đã nhắm thẳng vào Tôma, nên Ngài đã lên tiếng: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy” (Ga 20, 27). Đứng trước lòng thương xót của Đấng mà thánh nhân đang đi tìm, ngài đã không dám thực hành điều đã nói với các Tông đồ là: sỏ tay vào vết đinh, thọc tay vào cạnh sườn…, mà ngay lập tức, ông đã quỳ mọp xuống và tuyên xưng niềm tin của mình các mạnh mẽ mang tính cá vị và tuyệt đối: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” (Ga 20, 28) . Đây là đỉnh cao của lời tuyên tín Phục Sinh nơi Tôma.

Nhờ vào lòng thương xót của Đức Giêsu cách đặc biệt, nên cũng từ đây, Tôma nhận ra một chân lý rằng: tin rồi mới thấy cách trọn vẹn. Thấy Đấng Phục Sinh thì cũng thấy Đấng là Thầy của mình trước đó. Thấy Đấng Phục Sinh cũng là thấy Thiên Chúa của mình. Điều này đã đem lại một sự mãn nguyện mang tính tuyệt hảo và hạnh phúc viên mãn của Tôma.

2.  Đức tin của mỗi chúng ta

Từ những trải nghiệm đức tin của thánh Tôma, Giáo Hội cũng mời gọi chúng ta xem lại những xác tín và biểu hiện đức tin của mỗi người.

Thật vậy, chúng ta khám phá ra một chân lý rằng: Đức tin không chỉ một phía từ Thiên Chúa ban, cũng chẳng phải do sự cố gắng thuần túy cá vị, mà nó được kết hợp cả hai từ trên xuống dưới, tức là do lòng thương xót của Thiên Chúa ban nhưng không cũng như nghị lực rất cố gắng của mỗi người và được nuôi dưỡng bởi cộng đoàn. 

Điều này lý giải cho chúng ta thấy rằng: nếu bất kể cái gì ta cũng thuần phục và gán cho ơn thánh thì sẽ rơi vào tình trạng: “Kính nhi viễn chi” hay không bao giờ dám bàn luận và cũng chẳng cần phải đào sâu hơn nữa, bởi lẽ “mọi chuyện đã rồi” nên chỉ tin mà thôi. Tin như thế, có thể rơi vào tình trạng cả tin rồi lại chẳng tin! Nó giống như số phận của những hạt giống bên bụi gai, vệ đường và đá sỏi.

Còn nếu dựa vào lý trí thuần túy, chúng ta có thể rơi vào trạng thái phỏng chiếu đức tin của mình trên những gì mắt thấy, tai nghe, hay cân đo đong đếm được và phải đáp ứng nhu cầu thỏa mãn sự hiếu tri. Nếu lấy điều này làm tiêu chuẩn, chúng ta rất có thể rơi vào sự kiêu ngạo, lạnh nhạt, vô cảm và bất tín giống như những Kinh sư và người Pharisêu.

Mặt khác, nếu chỉ dựa vào tập thể, tức là đức tin của tôi phụ thuộc vào cộng đoàn, thì đức tin mạnh mẽ hay là yếu ớt của cộng đoàn cũng là tâm thức của tôi. Tin như thế, không chừng chúng ta đang lấy cộng đoàn làm bình phong hay ngụy biện cho sự hời hợt, giả tạo và hình thức của mình. Điều này có nguy cơ rơi vào tình trạng: “Khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì lìa nhau ra”. Rất giống như đám đông dân chúng trong cuộc khổ nạn của Đức Giêsu.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay dạy cho chúng ta một kinh nghiệm được lấy từ mẫu thức của thánh Tôma.

Trước tiên, đừng cả tin mọi chuyện. Cần phải suy thấu dựa trên ánh sáng mạc khải của Thiên Chúa qua Kinh Thánh, Giáo Huấn của Giáo Hội. Lấy Lời Chúa làm nền tảng, Giáo Huấn của Giáo Hội làm điểm tựa cho niềm tin của mình.

Thứ hai, “đừng cứng lòng, nhưng hãy tin!” điều này soi sáng cho chúng ta: Không phải bất cứ cái gì cũng đo lường được bằng đơn vị định lượng của khoa học, nhưng nhiều khi nó còn được đo bằng từ ánh mắt đến trái tim, từ lòng với lòng. Bởi lẽ, nhận thức của con tim đôi khi khác hoàn toàn với nhận thức của lý trí.

Cần nắm vững điều căn cốt của đức tin chính là: vun đắp, cộng tác với ơn thánh của Thiên Chúa để đức tin do lòng thương xót của Người ban được lớn lên trong tâm hồn, đồng thời làm sao cho đức tin của mình được chung nhịp đập với đời sống đức tin của cộng đoàn.

Cuối cùng, đức tin của chúng ta phải được nuôi dưỡng trong mối tương quan cá vị từng người, để qua đó, ta mới có đủ cảm thức và nhạy bén thực sự với ơn Chúa và hòa nhập được với đời sống cộng đoàn. Có thế, chúng ta mới vươn tới một đức tin vừa mang tính khả giác, vừa mang chiều kích ân sủng và mầu nhiệm. Điều ta muốn thấy mà không thấy thì hãy bắt đầu bằng đức tin, để từ đó, đức tin sẽ dẫn ta đến điều ta không thấy và điều ta không thấy mà tin sẽ đem lại cho mình hạnh phúc trọn vẹn như lời Đức Giêsu đã nói: “Phúc cho ai không thấy mà tin”.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin tạ ơn Chúa đã tỏ lòng thương xót đến thánh Tôma. Xin Chúa cũng thương xót đến chúng con như Chúa đã thương xót đến thánh Tôma khi xưa. Tất cả những ước nguyện đó, con xin tín thác nơi lòng thương xót Chúa. Amen.

Về mục lục

.

NGHI NGỜ

Lm Vũđình Tường

Hôm nay Phúc Âm nhắc lại việc Thánh Tôma nghi ngờ về điều đồng môn thuật lại. Điều quan trọng không phải là ông nghi ngờ về tính chất xác thực của việc thuật truyện mà chính là điều ông yêu cầu. Tôma biết rõ, ngoại trừ Thiên Chúa, điều ông yêu cầu không ai có khả năng thoả mãn. Ước mong được đụng chạm vào vết thương của Đức Kitô là điều Tôma cầu mong. Tất cả chúng ta có điểm chung giống Tôma đó là nghi ngờ bởi nghi ngờ là một phần của lẽ sống. Tất cả những bộ óc bình thường đều có nghi ngờ. Nghi ngờ về khả năng của mình, về trí nhớ, về mức độ chịu đựng và ngay cả về niềm tin. May mắn thay chúng ta sống trong hy vọng và nhờ hy vọng mà chúng ta dám dấn thân làm nhiều công việc khác nhau. Nếu không có hy vọng thì nghi ngờ làm chúng ta chùn bước. Thực ra nghi ngờ là điều cần trong cuộc sống bởi chính nhờ nghi ngờ mà con người học hỏi và khám phá ra nhiều điều mới lạ. Như thế nghi ngờ không phải luôn luôn xấu mà chính là điều cần thiết trong tiến trình tìm hiểu học hỏi. Qua thắc mắc mà chúng ta học hỏi tìm hiểu sâu thêm về tình yêu và lòng Chúa xót thương. Những gì Tôma chứng kiến chiều hôm Thứ Sáu Tuần Thánh còn ghi đặm nét trong tâm khảm của Tôma vì thế những gì bạn ông thuật lại không làm giảm đi hình ảnh Thầy mình bị đóng đanh trên thập tự. Có lẽ Tôma được xếp vào hạng người thực tiễn, nhìn hình ảnh ghi đậm trong trí nhớ có sức mạnh hơn là nghe lời tường thuật vì thế ông đòi coi bằng chính hình ảnh.

Nghi ngờ để học hỏi trái với nghi ngờ để phản bác. Nghi ngờ để học hỏi là tinh thần của người hiếu học, thích tìm tòi cho hiểu biết thêm. Nghi ngờ để phản bác có mục đích lung lạc í kiến của người khác để ủng hộ lập trường mình. Như thế nghi ngờ phản bác mang tính ích kỉ. Nghi ngờ theo kiểu của Tôma là nghi ngờ để học hỏi, bổ sung cho điều đang tin tưởng. Tôma chắc chắn nhớ điều Đức Kitô nói trước cuộc tử nạn là Ngài sẽ bị phản bội, bị nhục mạ, bị vác thập giá, chết trên thập tự và sau ba ngày sẽ sống lại vinh quang Mk 8,31. Tôma tin điều đó và ông đang đứng ở ranh giới tin vào sự sống lại của Đức Kitô nhiều hơn là sống trong nghi ngờ, thuộc về ranh giới của niềm tin nhiều hơn là ranh giới của kiến thức hiểu biết. Điều Tôma ước ao- đụng chạm vào vết thương Đức Kitô- là điều không ai cung cấp được, ngoại trừ Thiên Chúa. Tôma thương mến Thầy và ước ao được đụng chạm vào thân thể Thầy hơn là mong có bằng chứng cụ thể để tin.

Không ai có thể học hỏi, tìm tòi mà không cần đến thắc mắc, nghi ngờ bởi chính thắc mắc nghi ngờ dẫn đến khám phá mới vừa ngạc nhiên vừa thích thú. Càng nhiều kiến thức càng nhiều thắc mắc bởi thắc mắc cung cấp kiến thức và kiến thức này liên kết với kiến thức khác vì thế càng biết nhiều càng cảm thấy mình biết ít và nhỏ bé. Kiến thức thường ngầm chứa điều bí ẩn vì không ai có thể học biết hết bí ẩn của ngành mình đang nghiên cứu. Mọi cố gắng tìm tòi, học hỏi đều đòi tính chất liều, nếu đòi biết chắc trăm phần trăm trước khi dấn thân hành động sẽ dẫn đến tình trạng lí thuyết nhiều hơn thực hành. Khi thánh Gioan Tẩy Giả trong tù ông đã sai môn đệ đến hỏi Đức Kitô Ngài là Đấng Messiah hay là chúng tôi còn phải chờ thêm nữa Gn 29,27. Đức Kitô không đáp lại là đúng hay sai nhưng Ngài nói với sứ giả của Gioan. Về nói cho Gioan biết điều mắt các ông thấy và tai các ông nghe. Như thế Đức Kitô cho sứ giả biết thuật lại cho Gioan nhiều dữ kiện mới để Gioan thẩm định sự việc. Thắc mắc đó là loại thắc mắc tốt, nghi ngờ tốt bởi chính điều nghi ngờ đó làm cho Gioan yên tâm biết sứ mạng sửa đường cho Chúa Cứu Thế của ông đã hoàn chỉnh. Thắc mắc chân thành, đúng đắn về đức tin thường dẫn đến hiểu biết bất ngờ, đầy thích thú trong hy họng. Tôma mong mỏi đặt tay vào lỗ đinh vào cạnh sườn Thầy nhưng khi Thầy đến ông không làm điều đó nhưng lớn tiếng thưa ‘Lậy Chúa con, lậy Chúa của con’ điều ông ấp ủ trong tâm trí, từ lâu ông mong nói ra, giờ đây được bộc lộ. Đức Kitô đã nói với ông

‘Bởi con thấy Thầy nên con đã tin, phúc cho ai không thấy mà tin’ Gn 29,29

Đức tin của chúng ta đặt nền tảng trên Lời Chúa, không thấy nhưng vẫn tin. Hôm nay cũng là Chúa Nhật Lòng Chúa Xót thương, chúng ta cầu xin học hỏi từ Đức Kitô, thực hiện với khả năng mình lòng thương xót tới anh chị em đang cần đến chúng ta.

Về mục lục

.

DẤU CHỈ THÁNH GIÁ BẢO ĐẢM ĐỨC TIN

Lm GB Nguyễn Minh Hùng

Chúa Kitô đã phục sinh. Sự phục sinh dù vinh hiển và khải hoàn đến đâu, vẫn không thể xóa nhòa bất cứ một dấu ấn nào của thánh giá trên thân thể Người.

Hôm nay, dù đã sống lại, đã chiến thắng khải hoàn, thân xác phục sinh chói ngời đã cùng quyền năng Thiên Chúa bước vào vô biên, bước vào vĩnh cửu, nhưng bây giờ hiện ra với các môn đệ, cũng chính là Hội Thánh sơ khai mà Chúa đã thiết lập, thân xác phục sinh rạng rỡ ấy vẫn còn y nguyên dấu của thánh giá.

Cả hai lần Chúa hiện ra cùng Hội Thánh của Người đều có chung một cách thức. Thánh Gioan ghi nhận:

– Chính trong ngày Phục sinh, ngay khi hiện ra, “Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người”. Nơi cánh tay, nơi cạnh sườn ấy, dấu thánh giá không phai nhòa: Vẫn còn đó, nguyên vẹn vết thương của những cây đinh, của lưỡi đòng đâm thấu. Chỉ sau khi xem tay và cạnh sườn bị thương tích như thế, các môn đệ mới hết nghi ngờ, mới “vui mừng vì xem thấy Chúa”. Như vậy dấu của thánh giá là bảo đảm cho đức tin của các môn đệ .

– Nhưng lần ấy, thánh Tôma không có mặt, thánh nhân nhất quyết không tin. Tám ngày sau, Chúa lại hiện ra một lần nữa, có mặt thánh Tôma. Lần này thái độ của Chúa mạnh hơn, dứt khoát hơn. Chúa không chỉ đưa tay và cạnh sườn cho xem, nhưng Chúa còn lên tiếng: “Tôma, hãy xỏ ngón tay của con vào lổ đinh trên tay Thầy đây, hãy thọc bàn tay của con vào cạnh sườn của Thầy. Con đừng cứng lòng tin nữa, mà hãy tin”.

Trước dấu thánh giá còn in sâu một cách hùng hồn trên thân thể của Đấng Phục sinh, thánh Tôma đã phải cúi đầu tuyên xưng: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi”. Một lần nữa, thánh Gioan lại cho thấy, dấu thánh giá là bảo đảm cho đức tin của chúng ta.

Khi Chúa cho xem tận mắt các vết sẹo trên thân thể. Đó cũng là vết hằn của thánh giá không hề phai, vết hằn của thánh giá mãi mãi đi theo Đấng Cứu Thế bước vào vĩnh cửu.

Tôi vẫn xác tín rằng, đức tin mà không có thử thách, không có sự tôi luyện, sẽ khó có thể trưởng thành. Sự trưởng thành của đức tin cần thiết để mỗi cá nhân đối diện cùng những va đập trong biển cả cuộc đời và chịu trách nhiệm với chính mình, với tình yêu của mình với Đấng mà mình chọn làm đối tượng để tin, để trao tình yêu.

1. Nếu gọi những thử thách, thậm chí những thách thức gây đau khổ là thánh giá mà bất cứ ai theo Chúa đều mang gánh, thì mỗi lần nhìn lại đời sống của Hội Thánh, tôi nhận ra, từ khi bắt đầu thành lập đến lúc xây dựng và phát triển, Hội Thánh không lúc nào không mang dấu thánh.

Chính thánh giá hun đúc đức tin của Hội Thánh, giúp Hội Thánh mạnh mẽ hơn, can trường hơn. Thánh giá làm cho Hội Thánh càng bám chặt vào Chúa Kitô, càng thấy mình chịu cùng một bản án với Chúa Kitô. Vì thế, đau khổ chẳng những không làm Hội Thánh mất đức tin, ngược lại, còn giúp Hội Thánh nhận ra khuôn mặt của Chúa Kitô trong chính đau khổ và trong đời sống thường nhật của mình. Thánh giá trở thành bằng chứng bảo đảm đức tin của Hội Thánh.

2. Với kinh nghiệm của mình, tôi cũng nhận ra, mỗi khi rơi vào những hoàn cảnh tăm tối, bi đát, tôi thường:

– Cầu nguyện nhiều hơn.
– Tìm đến Chúa múc lấy sức mạnh và lòng can đảm giúp mình vượt qua.
– Tin tưởng và phó thác chính mình trong tay Chúa. 
– Xin Chúa giúp tôi hiểu và cảm thông với người đau khổ.
– Những lúc đau khổ quá sức, tôi có cảm giác như một chiếc lồng úp xuống chặng hết mọi lối đi, bao phủ hết mọi hy vọng, lấp hết mọi ánh sáng, tôi chỉ còn biết ngả mình vào lòng Chúa, để mặc Chúa toan tính y như cánh lục bình để mặc dòng sông đưa đẩy.
– Trong đớn đau, tôi cũng từng xin Chúa tha thứ, nếu vì đau khổ của tôi mà người khác có thể bị lây lan, bị khổ cùng. Hoặc vì sự thiếu hiểu biết, thiếu tình yêu của bản thân mà mình đã từng gây nên đau khổ cho anh chị em và tự chuốc lấy đau khổ, tôi càng muốn xin lỗi Chúa và xin mọi người tha thứ hơn.
– Trong đớn đau, tôi cũng hiến dâng lên Chúa như việc đền tội cần thiết để đền tội mình và đền thay cho mọi người tội lỗi.
– Nhiều lần tôi dâng đau khổ như hy sinh khả dĩ cầu nguyện cho việc truyền giáo của Hội Thánh.
– Nhiều lần tôi xin Chúa thánh hiến đau khổ của tôi để mang lại nhiều lợi ích, nhiều sự cần thiết cho đời ơn gọi và cho thánh chức của tôi.
– Tôi xin Chúa biến đau khổ thành dụng cụ giáo dục tôi để tôi trung thành với Chúa hơn, tin tưởng, cậy trông vào Chúa hơn.
– Tôi xin Chúa dùng tôi để sáng danh Chúa.
– Tôi mong, vì đau khổ của tôi mà nhiều người được lợi ích thiêng liêng.
– Tôi cũng cầu nguyện thật nhiều cho hoàn cảnh hay cho người nào có ý gieo nỗi thương đau cho tôi. Và như Chúa Giêsu xin ơn tha thứ cho kẻ hại mình, tôi khẩn cầu tha thiết: “Lạy Chúa, xin tha tội cho chúng con”.

Có thể nói, trong đau khổ, thậm chí trong đau khổ dữ dội, có thể giúp chúng ta nhận ra khuôn mặt thánh giá của Chúa Kitô.

Và trong ơn Chúa, trong tình thương được Chúa giữ gìn và trong sự cầu nguyện, trong quyết tâm giữ vững lòng tin của bản thân, và luôn luôn trong khiêm nhường, một khi nhận ra khuôn mặt thánh giá của Chúa Kitô, chúng ta có thể hãnh diện mà khẳng định rằng: Dấu thánh giá là bảo đảm đức tin của chúng ta.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA – CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH

Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật II Phục Sinh năm B tiếp tục tưởng niệm biến cố Phục Sinh và những thành quả mà biến cố này đem lại trong suốt Mùa Phục Sinh cho đến lễ Ngũ Tuần.

Cv 4: 32-35

Đoạn trích sách Công Vụ này trình bày cuộc sống gương mẫu của các Ki-tô hữu tiên khởi: chia sẻ cho nhau nhu cầu cần thiết trong cuộc sống hằng ngày như cơm ăn áo mặc.

1Ga 5: 1-6

Thánh Gioan nhắc nhở chúng ta rằng niềm tin vào Đức Giê-su Phục Sinh đã biến đổi những mối quan hệ giữa con người với nhau và giữa con người với Thiên Chúa.

Ga 20: 19-31

Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su Phục Sinh hiện ra cho các Tông Đồ, đặc biệt là thánh Tô-ma, qua người môn đệ cứng lòng tin này, Ngài nhắn gởi đến tất cả chúng ta: “Phúc thay những người không thấy mà tin”.

BÀI ĐỌC I (Cv 4: 32-35)

Trong suốt Mùa Phục Sinh, Bài Đọc I được trích dẫn từ sách Công Vụ Tông Đồ trình bày cho chúng ta một cái nhìn bao quát trên cuộc sống cộng đồng tiên khởi, cộng đồng Ki-tô hữu tại Giê-ru-sa-lem.

  1. Bố cục và nội dung

Như chúng ta biết, sách Công Vụ bao gồm hai phần: phần thứ nhất nêu bật nhân cách của thánh Phê-rô, vạch lại thuở ban đầu của Giáo Hội; phần thứ hai được dâng hiến cho hoạt động truyền giáo của thánh Phao-lô, mà thánh ký Lu-ca là người đồng hành và là môn đệ của thánh nhân: tác giả tường thuật những biến cố mà mình được dự phần vào hay biết rất rõ.

Để mô tả thời kỳ mà tác giả đã không được trải nghiệm, thánh Lu-ca đã lợi dụng thời gian sống hai năm ở Pa-lét-tin trong khi thánh Phao-lô bị giam cầm ở Xê-da-rê (59-60), để điều tra, tìm hiểu những chứng nhân mắt thấy tai nghe. Chúng ta thấy những dấu vết của sự tra cứu tận nguồn này ở nơi văn phong, từ vựng, những ngữ điệu sê-mít điểm xuyến phần thứ nhất của sách. Trong khi đó, tác giả biên soạn phần thứ hai tùy thuộc vào chứng liệu của riêng mình, nên ngữ điệu Hy-lạp trau chuốt hơn.

Sự kiện Ki-tô giáo lan tràn nhanh chóng đánh động thánh ký Lu-ca. Thánh ký khám phá sức sống kỳ diệu của Giáo Hội tiên khởi, vừa ở nơi tác động của Chúa Thánh Thần (tác động này chiếm một chỗ quan trọng trong sách Công Vụ), vừa ở nơi sức mạnh lời chứng của các Tông Đồ cũng như cuộc sống gương mẫu của các Ki-tô hữu tiên khởi.

Ba lần thánh Lu-ca phác họa đời sống của các Ki-tô hữu này, chắc chắn hơi được lý tưởng hóa, nhưng thật sự là mẫu mực. Trong chu trình Phụng Vụ năm B này, chúng ta đọc bản tóm lược thứ hai. Bản tóm lược thứ nhất (Cv 2: 42-47) đã được đọc vào Chúa Nhật II Phục Sinh năm A, còn bản tóm tắt thứ ba (Cv 5: 12-16) sẽ được đọc vào Chúa Nhật II Phục Sinh năm C.

  1. Một lòng một dạ

Cộng đoàn Ki-tô hữu Giê-ru-sa-lem chắc chắn là một tập thể hỗn hợp gồm có những người Ki-tô hữu gốc Do thái bản địa và những người Ki-tô hữu gốc Do thái hải ngoại hay còn gọi những Ki-tô hữu chịu ảnh hưởng văn hóa Hy-lạp (Cv 2: 9) sống cùng nhau tại Thành Thánh và các vùng phụ cận, họ thuộc đủ tầng lớp: giàu cũng như nghèo, dân thường cũng như tư tế (Cv 6: 7), không phân biệt nam hay nữ (Cv 5: 14). Bất chấp những nguồn gốc và tầng lớp khác nhau này, họ đồng một lòng một ý với nhau: một niềm tin duy nhất gắn bó họ lại với nhau, đó là niềm tin vào Đức Ki-tô Phục Sinh vinh quang.

Thánh Lu-ca cũng không cố tình che dấu những bất đồng, những tranh cãi nhỏ nhặt trồi lên ở giữa lòng cộng đoàn hỗn tạp này, ví dụ như những lời kêu trách của các Ki-tô hữu Do thái hải ngoại đối với những Ki-tô hữu Do thái bản địa, nhưng những bất đồng mà thánh ký gợi lên không tác động đến sự duy nhất trong cùng một niềm tin của họ.

  1. Mọi sự đều là của chung

Sự duy nhất niềm tin này tạo nên đức ái huynh đệ được cụ thể hóa bởi việc đặt của cải chung, điều này hàm chứa việc người giàu chia sẻ cho người nghèo những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hằng ngày như cơm ăn áo mặc. Việc chia sẻ này không bắt buộc, nhưng hoàn toàn tự nguyện. Phần tiếp theo của sách nêu gương ông Ba-na-ba, một thầy lê-vi thuộc đảo Sýp. Có một thửa đất, “ông bán đi lấy tiền đem đặt dưới chân các Tông Đồ” (Cv 4: 37).

Mẫu gương của cộng đoàn Ki-tô hữu Giê-ru-sa-lem chắc chắn tạo nên những làn sóng thi đua. Lời chứng gần nhất với lời chứng của sách Công Vụ là cộng đoàn Ki-tô hữu Carthage cuối thế kỷ thứ hai. Cảnh tượng mà cộng đoàn này phô diễn về một cuộc sống huynh đệ đáng thán phục đã lay động nhà biện giáo Tec-tu-li-a-nô lừng danh và không lạ gì đã lôi kéo nhà biện giáo này theo. Ông hết lòng ca ngợi đức ái sống động của cộng đoàn này ở nơi việc chia sẻ của cải, lòng ưu ái đối với những người nghèo.

  1. Không ai phải thiếu thốn

Tất cả những người có ruộng đất, nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền đem đặt dưới chân các tông đồ”. Dường như thánh Lu-ca muốn mặc cho hành vi này một sắc thái phụng vụ. Quả thật, trong thời kỳ Ki-tô giáo tiên khởi, những của lễ mà các tín hữu dâng hiến đều được định vị trong khung cảnh phụng vụ, đặc biệt là việc cử hành Thánh Thể. Phụng sự Thiên Chúa hàm chứa “phục vụ anh em”. Không phải Bàn Tiệc Thánh Thể đã dâng hiến mẫu gương tuyệt vời nhất ở đó mọi người, giàu cũng như nghèo, đều đón nhận cùng một của ăn thức uống đó sao?

  1. Mỗi người đều được phân phát tùy theo nhu cầu

Từ vựng mà thánh Lu-ca sử dụng ở đây thật đáng chú ý. Động từ “phân phát” được dùng ở đây cũng là động từ Đức Giê-su đã sử dụng khi Ngài bảo chàng thanh niên giàu có: “Hãy bán tất cả những gì anh có mà phân phát cho người nghèo” (Lc 18: 22). Việc ám chỉ đến Tin Mừng này kết thúc bức phác họa của thánh Lu-ca về cộng đoàn tiên khởi.

BÀI ĐỌC II (1Ga 5: 1-6)

Sau bài trích sách Công Vụ Tông Đồ, Phụng Vụ Lời Chúa đề nghị chúng ta suy niệm các bản văn của thánh Gioan: các thư và Tin Mừng Gioan, chung cho ba cả ba năm Phụng Vụ Lời Chúa Mùa Phục Sinh. Điều này phù hợp với một truyền thống rất lâu đời (chỉ trừ Chúa Nhật III Phục Sinh, được trích từ Tin Mừng Lu-ca về hai người môn đệ trên đường Em-mau).

Ba bức thư không đề tên tác giả đều được quy cho thánh Gioan. Quả thật, tư tưởng và văn phong rất gần với sách Tin Mừng Gioan nên không thể không xếp chúng vào cùng một tác giả. Thư thứ nhất dài nhất và quan trọng nhất trong số ba bức thư này dường như gởi cho các cộng đoàn miền Tiểu Á bị tác động bởi các trào lưu ngộ đạo. Thánh Gioan nhấn rất mạnh trên đức tin. Chính nhờ đức tin mà chúng ta nhận ra Đức Giê-su là Đấng Ki-tô (Đấng Mê-si-a) và là Con Thiên Chúa. Không thể tin vào Thiên Chúa mà không tin vào Đấng Ki-tô.

Thánh Gioan liên kết mật thiết đức tin với đức ái, vì tiêu chuẩn của đức tin Ki-tô giáo chính truyền là đức ái đối với anh em đồng loại, nghĩa là, “yêu người đích thật” là hoa trái của “mến Chúa thực lòng”. Cuối cùng, thánh Gioan cũng liên kết đức tin với lời chứng của Chúa Thánh Thần.

  1. Gắn bó với Đức Ki tô

Hành vi đầu tiên của đức tin là gắn bó với Đức Giê-su Ki-tô. Hành vi này dẫn đưa chúng ta vào trong cung lòng của Chúa Cha, Đấng sinh chúng ta ra làm con cái Thiên Chúa về phương diện siêu nhiên và liên kết chúng ta với nhau trong mối tử hệ tình yêu này đến nỗi đức ái huynh đệ Ki-tô giáo là hệ luận tức khắc của đức tin.

Những khẳng định này là đòn đáp trả chí mạng cho những diễn từ sai lạc của hai trào lưu tư tưởng: học thuyết của những Ki-tô hữu gốc Do thái và ngộ đạo thuyết, đang hoành hành ở giữa lòng các cộng đoàn mà bức thư này gởi đến.

A.  Học thuyết của những Ki-tô hữu gốc Do thái

Trào lưu thứ nhất xuất phát từ những Ki-tô hữu gốc Do thái. Những người này không chấp nhận Đấng Mê-si-a bị đóng đinh, vì thế họ phân biệt ở nơi con người của Đức Giê-su, một phàm nhân là con của ông Giu-se và bà Ma-ri-a và một nhân vật được biến đổi thành Đấng Mê-si-a nhờ phép Rửa và nhờ việc Thánh Thần xức dầu tấn phong. Trở thành Đấng Ki-tô (nghĩa là được xức dầu tấn phong), Đức Giê-su đã có thể công bố một sứ điệp siêu việt và thi hành các phép lạ, nhưng Đức Ki-tô thiên giới này tự tách ra khỏi Đức Giê-su phàm nhân vào giây phút Tử Nạn. Vì tự bản tính thần linh, Đức Ki-tô thiên giới này không thể nào chịu đau khổ và phải chết được.

Từ đó, chúng ta hiểu điểm nhấn của thánh Gioan: “Phàm ai tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, thì đã được Thiên Chúa sinh ra”. Trong một đoạn văn trước đó, với một giọng điệu mãnh liệt hơn, thánh Gioan viết: “Ai là kẻ dối trá, nếu không phải là kẻ chối rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô? Kẻ ấy là tên phản Ki-tô, là kẻ chối Chúa Cha và Chúa Con” (1Ga 2: 22). Hai tước hiệu: Đấng Ki-tô và Con Thiên Chúa, không ngừng được lập đi lập lại trong bức thư này.

B.  Ngộ đạo thuyết

Trào lưu ngộ đạo này xuất phát từ những Ki-tô hữu gốc lương dân. Họ nhạy bén trước những tư tưởng thần bí của các tôn giáo mầu nhiệm rất thịnh hành vào lúc đó, đặc biệt trong những miền Tiểu Á này được xem như chiếc nôi của chúng. Những người truyền bá trào lưu tư tưởng này cho rằng không cần thiết phải qua Đức Ki-tô để đến Thiên Chúa. Con người có thể hiệp thông với Thiên Chúa qua ơn thần khải nội tâm, sự xuất thần hay thậm chí nghi thức khai tâm.

Chống lại những suy luận này, thánh Gioan đề cập đến tử hệ thần linh mà Chúa Cha ban ngay tức khắc cho những ai tin vào Con của Ngài. Ai tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, người ấy thật sự sinh ra từ Thiên Chúa. Người này không thể nào không yêu mến Chúa Cha, bởi vì chính Chúa Cha là tác giả của cuộc sinh hạ siêu nhiên này.

Ngược lại với những suy luận trừu tượng này, thánh Gioan nêu lên việc thực hành “mến Chúa” và “yêu người” như tiêu chuẩn cơ bản của Ki-tô giáo chính truyền.

  1. Đức Tin và Đức Ái

Từ đó, thánh Gioan mạnh mẻ xác quyết: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được mình yêu thương con cái Thiên Chúa”. Đức ái Ki-tô giáo cắm rễ sâu vào tận nguồn mạch Thiên Chúa. Thánh nhân tố cáo ngụy thần bí đức ái theo đó yêu thương anh em của mình chỉ vuông tròn trong một thứ tình cảm thuần túy nhân bản. Cội nguồn yêu thương độc nhất và chân thật là Thiên Chúa.

“Đó là chúng ta yêu mến Thiên Chúa, và thi hành các điều răn của Người”. Những điều răn này đã được xác định ở 3: 23, ở đó Chúa Cha đòi hỏi con người: phải tin vào Con của Ngài và phải yêu thương nhau. Việc đòi hỏi này không là gánh nặng: “Các điều răn của Người chẳng có gì là nặng nề”. Ở đây ám chỉ đến lời của Đức Giê-su: “Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11: 30). Thánh Âu-gút-ti-nô đã quảng diễn lời này trong một biểu thức danh tiếng: “Ở đâu có tình yêu ở đó không có sự nhọc mệt; hay nếu có sự nhọc mệt, thì sự nhọc mệt được yêu” (De bono viduitatis 26).

Đừng quên rằng những dòng này được ngỏ lời với những Ki-tô hữu trung thành sống điều răn kép: đức tin và đức ái, trong hoàn cảnh đầy khó khăn. Vị tông đồ an ủi họ: “Các điều răn của Người có nặng nề gì đâu, vì mọi kẻ đã được Thiên Chúa sinh ra đều thắng được thế gian”. Đây là một chủ đề mang đậm nét Gioan: người Ki-tô hữu sẽ chiến thắng thế gian (thế gian được hiểu theo nghĩa thế giới tội lỗi, từ chối tin như trong sách Tin Mừng thứ tư). Trong thư thứ nhất của thánh Gioan này, động từ “chiến thắng” lập đi lập lại đến sáu lần.

“Chúng ta thắng được thế gian, chính là nhờ lòng tin”. Chúng ta lưu ý rằng thánh Gioan xưng hô: “chúng ta”, như thế, thánh nhân liên kết mình vào cùng một cuộc chiến với những tín hữu của ngài. Thánh nhân nâng đỡ và khích lệ họ; ngài nhắc nhở cho họ lý do cuộc khải hoàn của họ: đối diện với mọi diễn từ sai lạc, họ đã giữ vững niềm tin vào tính toàn vẹn bất khả phân của Đức Giê-su. Vừa là Đấng Ki-tô vừa là Con Thiên Chúa, Đức Giê-su đã tỏ mình ra không chỉ trong nước Thánh Tẩy của Ngài nhưng cũng trong máu Tử Nạn của Ngài, nghĩa là không chỉ trong nước mà thôi như những nhà ngụy giáo khẳng định, nhưng cả trong máu hiến tế của Ngài nữa. Đây không là một Đức Giê-su phàm nhân nhưng Con Thiên Chúa nhập thể đã đổ máu mình ra.

Chắc chắn thánh Gioan cũng nghĩ đến ân ban cao vời của Đấng Ki-tô, dù đã chết vẫn để máu và nước chảy ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của mình (Ga 19: 34-35). Vị tông đồ là chứng nhân nhãn tiền của những dấu chỉ về bí tích Thánh Tẩy và bí tích Thánh Thể.

  1. Chúa Thánh Thần làm chứng

Nếu nước và máu là những chứng từ hữu hình, thì cũng có một chứng từ vô hình khác, chứng từ của Chúa Thánh Thần. Vì thế, chân lý chiến thắng sự sai lạc, đức tin chiến thắng lạc giáo, điều này chứng thực sức mạnh của Chúa Thánh Thần, chính Ngài gìn giữ sự thật.

Ở nơi lời nhắc nhở đạo lý này, chúng ta nhận ra một cuộc bút chiến. Vài trào lưu ngộ đạo tự nhận mình là “thuộc Thần Khí” và viện dẫn những ơn đặc sủng của mình cũng như ánh sáng “thần khải” của mình là “thuộc Thần Khí”. Ấy vậy, hành động của Thần Khí chỉ được xem là chính truyền nếu hoạt động này làm cho sự thật của Đức Giê-su hiện diện, bởi vì Chúa Cha làm chứng cho Chúa Con khi sai phái Chúa Thánh Thần đến. Đoạn trích thư này kết thúc với việc ghi nhận Ba Ngôi Thiên Chúa. Việc ghi nhận Ba Ngôi Thiên Chúa thường hằng được lập đi lập lại trong bức thư thứ nhất này của thánh Gioan.

TIN MỪNG (Ga 20: 19-31)

Đây là một trong những trang Tin Mừng thiết lập niềm xác tín của chúng ta: “Đức Giê-su của niềm tin thật sự là Đức Giê-su của lịch sử”. Chính các Tông Đồ chứng thực sự kiện Phục Sinh. Hơn nữa, nhờ sự cứng tin của một trong số họ, vài ngày sau đó, họ hưởng được một sự kiểm chứng.

Theo truyền thống, bản văn này được đọc vào Tuần Bát Nhật Phục Sinh, bởi vì thánh ký nói với chúng ta, Đức Giê-su hiện ra cho thánh Tô-ma “tám ngày sau”, nghĩa là cũng vào “chiều ngày thứ nhất trong tuần” sau đó. Quả thật, chúng ta đọc thấy nơi bài tường thuật này hai tình tiết: Đức Giê-su Phục Sinh hiện ra cho mười Tông Đồ vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, và Ngài hiện ra đặc biệt cho Tô-ma cũng vào buổi chiều thứ nhất trong tuần sau đó.

  1. Đức Giê-su Phục Sinh hiện ra cho mười Tông Đồ(20: 19-23)

“Chiều thứ nhất trong tuần” tức là vào chính buổi chiều của biến cố Phục Sinh. Việc chỉ dẫn thời gian này rất quý: ngày thứ nhất trong tuần chính là ngày mà những người Ki-tô hữu đã chọn rất sớm để cùng nhau tham dự việc bẻ bánh, như vậy nhấn mạnh tính chất phục sinh của việc cử hành Thánh Thể. Cũng vậy, việc Đức Giê-su Phục Sinh hiện ra cho thánh Tô-ma được định vị “tám ngày sau đó”, nghĩa là cũng chính ngày thứ nhất trong tuần sau đó.

Các Tông Đồ họp nhau lại gồm mười vị bởi vì rõ ràng thiếu Tô-ma. Dường như Tô-ma đã không tha thiết gì đến việc hội họp với các Tông Đồ khác nữa. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng chính thánh Phê-rô đã quy tụ họ để thông báo cho họ những sự cố vừa mới xảy ra: việc khám phá ngôi mộ trống, quang cảnh khăn che mặt không để lẫn với những băng vải liệm, sự kiện bà Ma-ri-a Mác-đa-la trong số vài người phụ nữ nói đã thấy Đức Giê-su Phục Sinh và Ngài đã nói với bà…

Chúng ta đoán rằng các Tông đồ đang sống trong bầu khí hoang mang vừa hy vọng lẫn sợ hãi: “Nơi các môn đệ ở, cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do thái”. Diễn ngữ “vì sợ người Do thái” được lập đi lập lại nhiều lần trong Tin Mừng Gioan, thậm chí trước cuộc Thương Khó, như cha mẹ của anh mù từ lúc mới sinh chỉ trả lời vòng vo “vì sợ người Do thái” (Ga 9: 22). Trong Tin Mừng thứ tư, người Do thái trước hết chỉ giáo quyền Giê-ru-sa-lem. Họ đã ra án tử cho Thầy bây giờ sẽ ra tay với các môn đệ chứ?

Và này, Đức Giê-su thình lình đứng giữa họ bất chấp “các cửa đều đóng kín”; Ngài tự đặt mình ở giữa nỗi hãi hùng xao xuyến của họ cũng như Ngài đã đồng hành bên cạnh nỗi buồn phiền của hai môn đệ trên đường Em-mau (Lc 24: 13-32). Nỗi sợ hãi và buồn phiền sẽ sớm biến thành niềm vui.

A.  Bình an cho anh em

Đây là lời chào thường ngày theo phong tục tập quán của người Do thái, nhưng lời chào của Đức Giê-su trong bối cảnh này chẳng bao giờ là thường tình cả. Đức Giê-su đem sự bình an của Ngài, sự bình an mà Ngài đã hứa, đến cho những người này, những người đã bỏ rơi Ngài vì thất vọng. Ngài đem đến cho họ sự bình an qua sự hiện diện và sự tha thứ của Ngài: không một lời quở trách, không một ám chỉ đến bất kỳ kiếm khuyết của họ, cả nỗi cô độc mà họ đã bỏ rơi Ngài một mình trong cuộc khổ nạn của Ngài. Để cho họ nhận ra Ngài, Đức Giê-su cho họ thấy những chứng tích ở tay và cạnh sườn Ngài như chính thức đồng nhất hóa “thân thể phục sinh” của Ngài với “thân thể chịu đóng đinh” của Ngài.

Ở đây, chúng ta thẩm định tầm quan trọng của việc khám phá ngôi mộ trống: một mặt, thân thể của Ngài không bị phân hủy trong ngôi mộ, còn mặt khác, chính thân thể ấy mà Ngài hiện ra với các ông, chứ không như bóng ma: chỉ một thân thể đang sống, có thể đụng chạm, gặp gỡ tiếp xúc, chính thân thể ấy mang lấy những vết thương của cuộc khổ nạn. Lúc đó “các môn đệ thật sự tràn ngập niềm vui”.

B.  Những chứng tích của cuộc khổ nạn

Chúng ta ghi nhận rằng thánh Gioan nêu lên những vết thương ở tay và cạnh sườn của Đấng Phục Sinh, trong khi thánh Lu-ca trong bài tường thuật song song viết: “Người đưa tay chân ra cho các ông xem” (Lc 24: 40). Thánh Gioan là thánh ký duy nhất tường thuật tình tiết người lính Rô-ma lấy lưỡi đòng đâm thâu cạnh sườn của Đức Giê-su. Thánh ký đã chứng kiến máu cùng nước chảy ra, ân ban tột cùng từ cái chết của Đức Ki-tô. Thánh ký đã thấu hiểu ở đây dấu chỉ biểu tượng: cuộc sinh hạ Giáo Hội trong và bởi bí tích Thánh Tẩy và bí tích Thánh Thể. Ở đây, thánh ký nhấn mạnh thêm một lần nữa. Chính xác Giáo Hội chào đời vào buổi chiều Phục Sinh này, dưới hơi thở của Thần Khí và bởi việc sai các Tông Đồ đi thi hành sứ vụ. Sự tương phản đáng ngạc nhiên: với những con người giam mình sợ hãi giữa bốn bức tường trong căn phòng cửa khóa then cài, Đức Giê-su ra lệnh lên đường, ra đi gặp gỡ “hết tất cả mọi người” không phân biệt một ai.

Vì mục đích sứ vụ này, Đức Giê-su tái tạo họ, chúng ta có thể nói như vậy, khi thổi Thần Khí của Ngài, Đấng Phục Sinh, trên họ và ban cho họ được quyền tha thứ cho anh em mình… như Ngài đã hứa với họ: máu Ngài đã đổ ra để tha thứ tội lỗi. Đó là sự phong nhiêu của biến cố Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài.

  1. Chúa Giê-su phục sinh hiện ra đặc biệt cho thánh Tô-ma (20: 24-29)

A.  Tô-ma cứng lòng tin

Chắc chắn thánh Tô-ma gắn bó rất mật thiết với Đức Giê-su; thánh nhân đã yêu mến Ngài và tin vào Ngài. Vào lúc lên Giê-ru-sa-lem sau cùng, ông đã hăm hở nói với các bạn: “Cả chúng ta nữa, chúng ta cùng đi để cùng chết với Người” (Ga 11: 16). Nhưng ông không ngờ Ngài phải chịu chết ô nhục trên thập giá; cái chết này đã làm giấc mơ của ông tan thành mây khói. Niềm thất vọng lẫn nỗi buồn phiền khiến ông tách biệt khỏi các bạn đồng môn khác. Chúng ta biết được nhân cách của Tô-ma chỉ nhờ Tin Mừng thứ tư. Tin Mừng này ba lần đặt thánh nhân vào hoạt cảnh.

Với một tâm trí thực tiễn, trước đây trong bữa Tiệc Ly thánh nhân đã nêu lên cho Đức Giê-su một câu hỏi thực tế và thẳng thắn: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?” (Ga 14: 4-5); vì thế, bây giờ thánh nhân từ chối tin vào sự kiện Phục Sinh nếu không có bằng chứng do chính ông kiểm chứng. Trong mỗi người chúng ta ẩn hiện một dáng dấp nào đó của thánh Tô-ma: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”.

B.  Lời tuyên xưng của thánh Tô-ma

Đức Giê-su Phục Sinh cảm thương người môn đệ có tâm hồn nhiệt thành này đang đắm chìm trong nỗi phiền muộn, trong khi các môn đệ khác đang hớn hở vui mừng; vì thế, Ngài bằng lòng đáp ứng những đòi hỏi của ông: tám ngày sau, Chúa Giê-su lại hiện đến với các ông, đặc biệt với Tô-ma.

“Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa bàn tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy…”. Bản văn không nói cho chúng ta biết thánh Tô-ma có thực sự làm đúng như Thầy bảo, nhưng đúng hơn ông lập lại điều mà thánh Gioan đã nói về người môn đệ Chúa yêu khi đi vào trong ngôi mộ: “Ông đã thấy và ông đã tin”. Thánh Tô-ma có được bằng chứng của biến cố Phục Sinh, vì thế, ngay lập tức ông tuyên xưng đức tin của mình: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”.

Trong toàn bộ các sách Tin Mừng, đây là lần đầu tiên tước hiệu “Thiên Chúa” được ban cho “Đức Giê-su”. Tuy nhiên, còn dấu chỉ nào cho thấy Thần Tính của Ngài rực sáng hơn biến cố Phục Sinh? Tiếng kêu cá nhân của Tô-ma diễn tả tâm tình biết ơn của ông, vì Đức Giê-su đã quan tâm đặc biệt đến ông.

Đức Giê-su bảo: “Vì đã thấy Thầy nên anh mới tin”, đoạn, nghĩ đến tất cả những ai đã không được diễm phúc như ông, Đức Giê-su nhắn gởi đến đám đông bao la các tín hữu của mọi thời đại: “Phúc thay những người không thấy mà tin!”. Đây là mối phúc duy nhất của Tin Mừng Gioan. Trước hết, mối phúc này chính xác dựa trên lời chứng của nhóm Mười Một, mà lời chứng của thánh Tô-ma là thấm thía nhất.

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH_B

Về mục lục

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
Tin Giáo phận
Tin mới