Các bài suy niệm Chúa Nhật IV B

Đăng lúc: Thứ sáu - 26/01/2018 21:01 - Người đăng bài viết: Ban Truyen Thong

CHÚA NHẬT 4 THƯỜNG NIÊN, NĂM B

Lời Chúa:  Đnl 18,15-20; 1Cr 7,32-35; Mc 1,21-28

——- 

 

DẪN NHẬP

Lời Chúa: “Người giảng dạy người ta như Đấng có uy quyền” (Mc 1,27).

Nhập lễ:

Kính thưa cộng đòan phụng vụ,

Phụng vụ Lời Chúa chúa nhật 4 thường niên hôm nay cho chúng ta thấy, Chúa Giêsu là Môsê mới mà Thiên Chúa hứa ban cho dân Ngài như một vị tiên tri để thông truyền cho họ các điều Chúa dạy, và Người giảng dạy họ như Đấng có uy quyền:

Uy quyền Chúa đã tỏ ra,

Đuổi xua, áp đảo, quỷ ma phải rời.

Tật nguyền Chúa phán một lời,

Ngay như thần chết, hết thời dọc ngang.

Quyền năng Chúa quả cao sang,

Ta luôn cậy dựa, tấc gang chẳng rời.

Hiệp dâng Thánh lễ hôm nay, xin Chúa giúp chúng ta biết nhận ra sự hiện diện của Chúa trong từng giây phút của cuộc sống mà hết lòng tin kính, vâng nghe và tích cực cộng tác với ơn Chúa mà bước đi trong đường lối của Người. Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta hãy thành tâm sám hối.

Sám hối:

X. Lạy Chúa, Chúa là Ðấng Thánh của Thiên Chúa, là Đấng cứu độ trần gian. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa Kitô, Chúa giảng dạy người ta như Đấng có uy quyền. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa, Chúa là Môsê mới, là vua Israel. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

Kết: Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.

CĐ: Amen.

Suy niệm:

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Dân Do thái xưa được Thiên Chúa tuyển chọn, yêu thương và chăn dắt. Để đi về đất hứa, họ đã phải trải qua một thời gian dài 40 năm trong sa mạc. Thiên Chúa đã dùng các tiên tri để nhắc nhở cho dân biết sống theo lề luật và thánh ý Thiên Chúa. Môsê là vị tiên tri đã lãnh đạo dân Do thái từ đất Ai cập để đi đến đất hứa. Ông vừa là nhà lập pháp và cũng là nhà hành pháp. Trước khi vào đất hứa, ông thấy mình sắp lìa trần nên đã cố gắng an ủi, nhắc nhủ dân những lời cuối cùng để họ thi hành khi vào đất hứa. Đàng khác, ông nói cho họ rằng, Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện một vị tiên tri tài danh để ở với dân Ngài, và nói cho họ những lời và mệnh lệnh của Thiên Chúa. Vị tiên tri này cũng sẽ rất mạnh mẽ như Môsê trong lời nói và hành động. Đấng Tiên tri tuyệt hảo đó sẽ là Đấng Kitô, như thư Do thái viết: “Thuở xưa nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này,Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử”.

Thưa anh chị em, Tiên tri là người được Thiên Chúa tuyển chọn để loan báo Lời Chúa cho mọi người, nhắc nhở mọi người biết sống theo lề luật và thánh ý Thiên Chúa, hướng dẫn dân chúng sống giao ước với Thiên Chúa. Chúa Giêsu khi đến trần gian, trong ba năm đời công khai đã rao giảng lời Thiên Chúa. Lời giảng của Người đã được các thính giả đánh giá cao: “Người gảng dạy như Đấng có uy quyền chứ không như các luật sĩ”. Quả thật, Đấng Kitô là một vị Đại Tiên Tri mà Môsê nhân danh Thiên Chúa loan báo cho dân Israel, Chúa Giêsu thật sự là Đấng Messia, nhân danh Thiên Chúa mà đến nói những lời của Thiên Chúa. Do đó, cần tuyệt đối nghe Lời Người. Chúa Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa, là Đấng cứu độ trần gian, mang một uy quyền của Thiên Chúa, nên khi Người giảng dạy, ai nấy đều kinh ngạc về giáo lý của Người. Ngay chính ma quỷ cũng biết Chúa Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa và kêu Danh Thánh Người: “Hỡi ông Giêsu Nazarét, phải chăng ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao? Tôi biết ông là ai, là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Quả thật đúng như vậy, Chúa Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa đầy quyền năng, Người đến để kết thúc quyền lực của ác thần và ma quỉ trên con người. Vì thế, bằng một lời truyền đầy uy quyền: “hãy im đi và ra khỏi người này!”. Thần ô uế liền dằn vặt người ấy, thét một tiếng lớn, rồi xuất khỏi người ấy. Người đã truyền cho ma quỷ ra khỏi người bệnh một cách dứt khoát mạnh mẽ, khiến cho dân chúng chứng kiến đều phải kinh ngạc và tự hỏi: “Cái gì vậy? Ðấy là một giáo lý mới ư? Người dùng uy quyền mà truyền lệnh cho cả thần ô uế và chúng vâng lệnh Người”.

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Có câu chuyện kể rằng, có một ông nông dân rất giàu nhưng cũng lại rất keo kiệt. Thế rồi ông hối hận và muốn làm lại cuộc đời. Ngày kia một người hàng xóm bị cháy nhà, đến gõ cửa và xin ăn. Ông định cho người ấy một đùi heo trong bếp. Trên đường xuống bếp ma quỷ nói thầm bên tai ông: Cho cái đùi bé bé thôi nhé. Ông chiến đấu với tính keo kiệt cố hữu của mình và đã lấy cái đùi heo lớn nhất. Ma quỷ nhạo cười ông: Mày khùng quá. Thế nhưng ông đã nói lớn: Nếu mày không câm miệng lại, thì ta sẽ cho ông ta cả con heo ngay bây giờ.

Vâng, từ câu chuyện trên chúng ta thấy thời buổi cũng có ma quỷ. Cuộc chiến giữa con cái Thiên Chúa và ma quỷ vẫn tiếp tục, nên khi sai các Tông đồ đi rao giảng, Chúa Giêsu vẫn luôn kèm theo mệnh lệnh xua đuổi ma quỷ. Ước chi hôm nay chúng ta nghe tiếng Chúa chiến đấu chống lại ma quỷ bởi những sự dữ, sự ác để làm cho thế giới này bớt đi hận thù, chia rẽ và thay vào đó là một thế giới biết quý trọng sự sống, biết yêu thương và phục vụ nhau trong bình an của Chúa. Amen.

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang.

Mục lục

1. Nhiệm vụ ngôn sứ (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Ma quỷ thời đại mới (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Tin mừng về lòng thương xót  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

4. Như Đấng uy quyền  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan) 

5. Lời quyền năng cứu độ (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

6. Vương quốc của Thiên Chúa (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

7. Quyền năng Chúa  (Anna Cỏ May, Tiền Tập sinh MTG.Thủ Đức)

8. Quyền năng và tình thương (Bông Hồng Nhỏ, Tiền Tập sinh MTG.Thủ Đức)

9. Sức mạnh của Chúa  

10. Lời Chúa  (Lm. Trần Việt Hùng)

11. Chúa chữa người bị quỷ ám (Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng)

12. Vị tôn sư đích thực (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)

13. Giảng dạy như có thẩm quyền  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

14. Suy niệm Chúa Nhật 4 Thường niên_B  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

15. Suy niệm Chúa Nhật 4 Thường niên_B. (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam)

16. Uy quyền chỉ có ý nghĩa nhờ lối sống khiêm nhường (Tu sĩ Jos.Vinc. Ngọc Biển, SSP)

17. Vác đời  (Trầm Thiên Thu)

18. Người giảng dạy như một Đấng có uy quyền (Đỗ Công Minh)

19. Chúa Giêsu là Thầy dạy và là Đấng trừ quỷ (Giêrônimô Nguyễn Văn Nội)

20. Đấng Thánh của Thiên Chúa  (JM. Lam Thy, ĐVD)

21. Lề luật mới của Tin mừng  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An) 

22. Tin vào lời giảng dạy có quyền thế (Lm. Trần Bình Trọng)

23. Ma quỷ còn biết vâng lệnh Chúa truyền  (Lm. Inhaxiô Trần Ngà)

24. Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật 4 TN_B (Lm. Inhaxiô Hồ Thông)

25. Tâm phục khẩu phục (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

26. Huyền diệu cuộc đời  (Lm. Vũ Đình Tường)

27. Suy niệm Chúa Nhật 4 Thường niên, năm B  (Lm. Anthony Trung Thành)

28. Đức Giêsu – Đấng quyền năng (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

29. Chỉ phụng sự một mình Chúa (Lm. Đan Vinh)

 

 

NHIỆM VỤ NGÔN SỨ

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

Theo nguyên ngữ, “ngôn” là “lời” và “sứ” là “được sai đi”. Vậy, “ngôn sứ” là người “được sai đi để nói lời” của Chúa. Trong Cựu ước, có những vị ngôn sứ có ảnh hưởng rất lớn trong triều đình nhà vua, hoặc trong đời sống xã hội cũng như tôn giáo của người Do Thái, như Giêrêmia, Isaia hay Egiêkien. Có những vị ngôn sứ “chuyên nghiệp” và cũng có những vị ngôn sứ “nhất thời”. Dù thuộc loại nào, các ngôn sứ đều là những người được sai đi để nói lời của Chúa.
 
Nhiệm vụ chính yếu của các ngôn sứ là chuyển tải sứ điệp Chúa trao phó. Những sứ điệp này, có thể là lời cảnh báo, đe dọa, khiển trách, nhưng cũng là những lời khen ngợi hay an ủi, khích lệ động viên. Ngôn sứ là một nhiệm vụ khó khăn, vì nhiều khi phải tuyên bố những điều đi ngược lại với suy nghĩ của người đương thời. Có những khi vị ngôn sứ bị mua chuộc và “hối lộ” để nói khác đi điều Thiên Chúa sai nói. Cũng có trường hợp bị hành hạ, thậm chí đe dọa giết chết, như trường hợp ngôn sứ Giêrêmia. Dù trong hoàn cảnh nào, ngôn sứ cũng phải trung thành với sứ mạng, nếu không, ông sẽ bị chính Chúa trừng phạt (x. Bài đọc I).
 
Đức Giêsu là vị ngôn sứ vĩ đại nhất. Những lời trăng trối của ông Môisen đã tiên báo về vị ngôn sứ này. “Ta sẽ gầy dựng giữa anh em của họ một tiên tri như ngươi; Ta sẽ đặt vào miệng người những lời của Ta, người sẽ nói cho họ biết tất cả những điều Ta sẽ truyền cho người” (Bài đọc I). “Vị ngôn sứ như ngươi” mà Chúa nói qua ông Môisen ở đây chính là Đức Giêsu Kitô. Người là Con Thiên Chúa, là Đấng Mesia được Chúa Cha sai đến trần gian để truyền đạt thánh ý của Ngài. Người đến trần gian để xua tan bóng tối, tiêu diệt và đẩy lui quyền lực của Satan. Thánh Máccô kể với chúng ta về trường hợp Chúa Giêsu trừ quỷ ngay trong Hội đường của người Do Thái. Thần ô uế đã tuyên xưng: “Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Bằng một mệnh lệnh, Chúa Giêsu đã bắt nó phải buông tha người bị nó ám. Chắc hẳn lời tuyên xưng của thần ô uế đã làm cho nhiều người tin vào Chúa Giêsu, nhận ra Người là Đấng đến trần gian để xua đuổi thế lực của tối tăm, xây dựng một vương quốc thánh thiện nhằm thánh hóa con người. Trước uy quyền và sự khôn ngoan thông thái của Người, những người có mặt hôm đó tại hội đường, từ tâm trạng sững sờ đến trầm trồ thán phục: “Lời giảng dạy thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền. Ông ấy ra lệnh cho các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh”.
 
Chúa Giêsu cũng có sứ mạng canh tân phụng tự để hướng con người về sự tôn thờ đích thực. Với chi tiết Người trừ thần ô uế trong Hội đường, tác giả muốn nói với chúng ta, ngay trong những không gian thánh thiêng và dành riêng cho việc phụng thờ, vẫn có thể có những thế lực xấu xa, lôi kéo con người đi ngược lại với giới luật của Chúa. Chúa Giêsu cũng dạy: “Không phải những ai nói “Lạy Chúa! Lạy Chúa! đều được vào Thiên đàng, nhưng là những ai thực hiện ý của Cha tôi”. Sự hiện diện của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi đền thờ hay hội đường, tình yêu thương của Chúa không phân biệt sắc tộc hay ngôn ngữ, nhưng ở đâu có tình yêu thương thì ở đó có Đức Chúa Trời. Theo giáo huấn của Chúa Giêsu, lời ca tụng tôn vinh Chúa phải xuất phát từ tấm lòng chân thành và phải đi đôi với thiện chí để nên trọn lành.
 
Tại sao ngày nay không còn những vị ngôn sứ như ngày xưa? Bởi lẽ đã có Đức Giêsu là vị ngôn sứ vĩ đại. Tác giả thư Do Thái đã khẳng định: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Con của Ngài” (Dt 1,1). Giáo huấn của Người  được các tác giả Tin Mừng ghi lại mang nội dung đầy đủ, tóm lược giáo huấn của các ngôn sứ thời Cựu ước và còn hoàn chính hơn. Nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa Cha đã diễn tả đầy đủ những gì Ngài cần nói với con người. Đức Giêsu cũng là Lời của Thiên Chúa, nên Thiên Chúa Cha không cần trung gian nào nữa để chuyển tải sứ điệp của Ngài.
 
Tại sao ngày nay không còn những vị ngôn sứ như ngày xưa?  Bởi nhờ phép Thánh tẩy, mỗi Kitô hữu đều là ngôn sứ. Bí tích Thánh tẩy làm cho chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu. Những ai mang danh Kitô hữu được chia sẻ quyền năng của Người. Quyền năng ấy do Chúa Thánh Thần thông ban. Ngài là Ngôi Ba Thiên Chúa và là Đấng soi sáng phù trợ các tín hữu. Loan báo Đức Giêsu là sứ mạng và vinh dự của mỗi Kitô hữu.
 
Tuy vậy, trước khi nói đến loan truyền Tin Mừng cho người khác, mỗi chúng ta phải cố gắng thanh tẩy chính mình. Trong con người của chúng ta, đang hiện hữu vừa ánh sáng vừa bóng tối, vừa hình ảnh của Thiên Chúa nhưng cũng vừa hình ảnh của Satan. Chính vì thế mà chúng ta phải thanh tẩy bản thân mỗi ngày. Ơn gọi nên thánh không phải là những điều quá sức con người, mà đó là những điều rất bình dị trong cuộc sống. Thánh Phaolô đã cụ thể hóa đời sống Kitô hữu bằng cách khuyên mỗi người trong gia đình và trong cộng đoàn hãy chuyên tâm thực thi bổn phận của mình đối với Chúa và đối với tha nhân. Người lập gia đình thì chăm lo việc gia đình. Người tu hành thì chăm lo việc Chúa. Những công việc đời thường, nếu được chu toàn với thiện ý và với tâm tình Đức tin, thì cũng góp phần làm cho chúng ta nên hoàn thiện (Bài đọc II).
 
Là Kitô hữu, chúng ta là hiện thân của Đức Kitô giữa trần gian, nhờ đó, được chia sẻ chức vụ ngôn sứ của Người. Xin cho chúng ta biết thực thi sứ vụ quan trọng này, trong đời sống cụ thể, để thánh hóa bản thân và giúp nhiều người khác nhận ra sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời.

Về mục lục

.

MA QUỶ THỜI ĐẠI MỚI

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt 

Từ ngàn xưa, ma quỷ luôn luôn là một mối bất hạnh cho con người. Ma quỷ luôn tìm cách làm hại con người không những bằng xúi giục con người làm điều tội lỗi mà còn hành hạ, khống chế, trói buộc, bắt con người làm nô lệ cho chúng. Trong cuộc chiến với ma quỷ, con người không phải là địch thủ ngang tài đồng sức, nên thường thua cuộc. Ngay trong trận chiến đầu tiên, hai ông bà nguyên tổ đã thua mưu chước ma quỷ. Từ đó, con người chẳng thể nào tự mình thoát được nanh vuốt ma quỷ giam hãm. 

Đức Giêsu đến mở đầu một kỷ nguyên mới: Nước Thiên Chúa đến chiến thắng nước ma quỷ. Ngay khi Đức Giêsu xuất hiện, ma quỷ mở lại bài cũ cám dỗ Đức Giêsu đi vào con đường kiêu ngạo, phô trương, cậy sức mình, ham hố danh, lợi, thú. Nhưng ngay trong lần đầu tiên giáp chiến, ma quỷ thất bại nặng nề. Đức Giêsu đã toàn thắng vì Người cương quyết đi theo con đường vâng phục thánh ý Chúa Cha, sống khiêm tốn, đơn sơ, khiêm nhường, phó thác. Từ đó, Đức Giêsu đi đến đâu là khuất phục ma quỷ, giải thoát con người đến đấy. 

Đọc trong Tin Mừng, ta thấy Đức Giêsu giải thoát con người ở các khía cạnh sau đây. 

Người trực tiếp giải thoát con người khỏi bàn tay hung ác của satan. Hôm nay, Người xua đuổi thần ô uế công khai trước mặt mọi người trong hội đường. Lần khác, Người xua đuổi cả một đạo quân quỷ dữ. Chúng đã xin nhập vào đàn heo đang ăn bên bờ biển, và cả đàn heo lăn xuống biển chết hết. 

Người gián tiếp giải thoát con người khỏi ách thống trị của satan qua việc chữa bệnh. Theo quan niệm của người Do Thái, bệnh tật là dấu chỉ của tội lỗi. Vì thế, người bệnh là người sống dưới ách satan. Đức Giêsu đã chữa lành rất nhiều người bệnh. Nhiều lần Người nói với người bệnh: “Tội con đã được tha”. 

Người tha thiết với việc cứu con người khỏi ách nô lệ tội lỗi, nên Người thường lui tới với những người thu thuế. Người không chỉ nói lời tha thứ bên ngoài, nhưng thực sự hoán cải họ từ bên trong. Nhất là Người giải thoát họ khỏi những mặc cảm và giúp họ tái hội nhập vào đời sống cộng đoàn. 

Qua những việc làm của Đức Giêsu, ta thấy Người không chỉ giải thoát con người khỏi bàn tay hung ác của ma quỷ mà còn quan tâm cứu chữa con người khỏi những thế lực đen tối của chúng. 

Cuộc chiến giữa con cái Thiên Chúa và ma quỷ vẫn tiếp tục, nên Đức Giêsu khi sai các Tông đồ đi rao giảng, vẫn luôn kèm theo mệnh lệnh xua đuổi ma quỷ. Hôm nay, Người sai chúng ta tiếp bước các Tông đồ, đi chiến đấu chống lại ma quỷ. Ma quỷ không hiện hình cho ta thấy, nhưng chúng ẩn nấp trong các sự dữ, sự ác còn tồn tại trên thế giới. 

Có thứ quỷ nghèo đang trói buộc con người, không cho họ sống một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm con người. Có thứ quỷ đói đang giết chết nhân loại dần mòn. Có thứ quỷ dốt giam cầm những người thất học trong tù ngục tối tăm. Có thứ quỷ bệnh không ngừng hành hạ và đẩy con người vào hố sâu tuyệt vọng. 

Ngày nay, ma quỷ rất tinh khôn nên thường xuất hiện dưới những hình dáng bên ngoài xinh đẹp, hấp dẫn. Chúng xuất hiện dưới những đồng tiền bất chính và hứa hẹn cho ta một cuộc sống thoải mái. Chúng xuất hiện dưới chiêu bài tự do hưởng thụ để xúi giục ta lao mình vào những nơi ăn chơi độc hại. Chúng kích thích sự tò mò của thanh niên muốn thử sức với ma túy. 

Với bàn tay nham hiểm, ma quỷ âm thầm len lỏi vào tận đáy tâm hồn, khơi lên những làn sóng chia rẽ, ganh ghét, thù hận, bất hòa. Chúng kích thích lòng tham lam vô đáy, đưa ta đến chỗ trộm cắp, kiện cáo và tranh giành. Chúng khơi dậy thói kiêu căng, lòng tự ái để ta ham hố vinh danh và quyền lực. Chúng vuốt ve thói ích kỷ để xui giục ta chỉ nghĩ đến bản thân mình, làm ngơ trước những nhu cầu của người khác. Chúng lừa gạt ta để ta coi thường tội lỗi, mất ý thức về tội. 

Hôm nay, Chúa muốn ta tiếp tục công việc của Chúa, xua trừ ma quỷ ra khỏi đời sống chúng ta. Hãy cùng nhau xua đuổi quỷ đói, quỷ nghèo ra khỏi thế giới. Hãy góp phần tích cực diệt trừ quỷ dốt, quỷ bệnh ra khỏi xã hội con người. 

Hãy tỉnh táo nhận ra ma quỷ dưới những khuôn mặt đẹp đẽ của vật chất, tiền bạc, hưởng thụ, cám dỗ. 

Nhất là, hãy trục xuất khỏi tâm hồn ta những con quỷ gây chia rẽ, bất hòa, tham lam, kiêu căng, tự mãn, gian trá, giả hình, hám danh, ích kỷ, dửng dưng. 

Tự sức riêng, ta khó mà chiến thắng được ma quỷ. Muốn chiến thắng ma quỷ, ta phải nhờ ơn Chúa giúp. Ta múc lấy sức mạnh nơi Chúa bằng ăn chay và cầu nguyện. Ta rèn luyện tinh thần bằng khiêm nhường từ bỏ ý riêng để hoàn toàn vâng phục thánh ý Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin thương xót con, xin cứu con khỏi mọi sự dữ. Amen.

Về mục lục

.

TIN MỪNG VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Có hai vợ chồng kia đã nhiều lần nghi ngờ xét đoán nhau.

Lần này đang lúc tranh cãi hăng say, người chồng bèn đề nghị:

“Này chúng ta đừng cãi nhau nữa, mỗi người hãy lấy giấy bút ra, rồi viết tất cả những lỗi lầm tật xấu của nhau, rồi trao cho nhau”

Người vợ đồng ý liền, người chồng cầm tờ giấy, nhìn vợ rồi cúi xuống viết.

Người vợ thấy chồng viết, cũng hối hả viết và kể lể hết mọi sự xấu xa của chồng, người vợ viết xong xem ra hả dạ.

Sau đó họ trao bản kết tội cho nhau.

Khi nhìn vào tờ giấy của chồng, nét mặt vợ bổng đổi sắc vì xúc động, chị vội vã đòi lại tờ giấy đã đưa cho chồng, và có thái độ làm hòa.

Trong tờ giấy, người chồng chỉ viết một câu duy nhất: “Em à, Anh yêu em, đừng giận anh nữa!”

Có lẽ ai trong chúng ta cũng hiểu sức mạnh của lòng thương xót. Lòng thương xót chữa lành. Lòng thương xót mang lại bình an hạnh phúc. Lòng thương xót gìn giữ ngọn lửa tình yêu cho các gia đình.

Gia đình nếu không có lòng thương xót sẽ gây gỗ, bất hòa, nghi kỵ, hiểu lầm nhau. Gia đình không có lòng thương xót là một hỏa ngục tại thế. Vì sống bên nhau nhưng không hiểu nhau, không đối thoại được với nhau sẽ làm cho đời sống chung ngột ngạt và đau khổ.

Tin mừng Chúa Giê-su loan báo là tin mừng về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa dành cho con người. Lòng thương xót của Chúa đã đích thân đi tìm con người. Lòng thương xót ấy chữa lành, xoa dịu nỗi đau cho con người. Lòng thương xót đẩy lùi sự dữ và mang lại bình an cho nhân thế.

Nhìn vào những việc làm của Chúa Giê-su người Do Thái cũng thấy nơi người toát lên lòng thương xót. Lòng thường xót chính là một giáo lý mới mẻ và đầy uy quyền mà người Do Thái ngỡ ngàng cảm phục. Chúa Giê-su không nói về sự công thẩm của Thiên Chúa mà trọng tâm rao giảng của Chúa là về tình thương của Ngài.  Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mô tả không phải là vị thẩm phán, nhưng là người cha giầu tình thương. Một Thiên Chúa không phân biệt giữa dân tộc này hoặc dân tộc nọ. Một Thiên Chúa không quan tâm đến của lễ toàn thiêu cho bằng con người thương yêu đùm bọc nhau. Một Thiên Chúa muốn đối xử với chúng ta trong quan hệ cha-con, chứ không phải là vua-tôi. Thiên Chúa mà Chúa Giêsu rao giảng là một Đấng trung tín, từ bi và nhân hậu. Ngài chậm giận và chan chứa tình thương. Ngài sẵn sàng tha thứ tất cả, sẵn sàng đón nhận tất cả.

Năm nay với chủ đề “gia đình hãy là dấu chỉ Lòng thương xót” cụ thể là đồng hành cùng gia đình trẻ như là tiếng mời gọi các gia đình hãy tham gia vào sứ mạng của Hội thánh, rao truyền một nền văn minh tình thương và sự sống. Bằng tình thương chúng ta hãy cùng nhau đẩy lùi nền văn hoá bạo lực và chết chóc đang lan tràn chung quanh chúng ta. Vợ chồng hãy đối xử từ bi nhân ái với nhau. Cha mẹ hãy sống bao dung với con cái. Người trong xứ đạo hãy sống hòa hợp với nhau. Đây chính là sức mạnh của lòng thương xót mà người Do Thái đã nhìn ra nơi Chúa Giê-su như Đấng có đầy uy quyền. Bởi vì, uy quyền của Ngài đến từ lòng yêu thương, tinh thần phục vụ khiến mọi con tim thán phục, cảm mến.

Ước mong bóng tối sẽ bị đẩy lùi khi mỗi người tín hữu hãy thắp sáng lên tình yêu của Lòng thương xót ngay từ mái ấm gia đình mình. Xin cho các người cha người mẹ đừng lấy quyền mà áp đặt con cái nhưng biết thể hiện uy quyền của mình qua tình thương quan tâm dành cho con cái. Xin cho các đôi vợ chồng không đối xử hơn thua nhau nhưng bằng tình thương phục vụ mà khiêm tốn phục vụ lẫn nhau. Xin cho các đôi vợ chồng biết sống lòng thương xót để mái gia đình ngập tràn niềm vui và hạnh phúc. Amen

Về mục lục

.

NHƯ ĐẤNG UY QUYỀN

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Thông thường, uy quyền theo nghĩa hiểu của trần thế là người có uy lực trong lời nói hay việc làm nhờ vào sức mạnh từ tài chánh hoặc sức mạnh của kẻ trên. Đấng có uy quyền chỉ về Chúa Giêsu thì khác, uy quyền của Người trên sự dữ, những tên ma quỷ quấy rối, là người chữa lành cac thương tích của con người. Có uy quyền trong lời nói vì lời ấy là Lời chân lý và Lời hằng sống.

Chia sẻ đề tài này theo hai hướng: Uy quyền nhờ vào quyền lực và uy quyền toàn diện của Chúa.

Uy Quyền dựa vào quyền lực:

Người ta thường dạy về ba thứ quyền lực, cứng, mềm và thông minh. Ba quyền lực này nếu biết sử dụng cùng nhau và nhuần nhuyễn, họ là những nhà lãnh đạo đại tài. 

Đó là nghệ thuật lãnh đạo. Một nghệ thuật không phục vụ cho phẩm gía con người và thăng tiến toàn diện con người thì quyền lực ấy cũng vô ích.

Không thể chế hay tổ chức nào mà không có quyền lực. Quyền lực có thể làm cho người nắm giữ quyền lực trở nên xấu xa hay được ca tụng tùy theo cách họ dùng quyền lực.

Quyền lực thường được hiểu cần có thế lực về chính trị, kinh tế, quân sự… Những thế lực càng lớn, càng mạnh, thì quyền càng cao. Do hiểu quyền như thế, nên nhiều người hay tổ chức thường chạy theo gia tăng thế lực và gây nên nhiều bất ổn.

Quyền do Thiên Chúa ban.

Quyền cơ bản của mỗi con người là quyền được sống. Trên nguyên tắc cơ bản mỗi người cần tôn trọng quyền sống và phẩm giá của người khác. Chính vì vậy, Chúa mời gọi mọi người tôn trọng và làm cho con người được sống xứng đáng hơn mỗi ngày.

Quyền cá nhân, là một quyền xây dựng trên sống và phẩm giá con người. Mỗi người tự huấn luyện mình và nâng cao học hỏi để trở nên người được tôn trọng trong chức vị và phận vụ. Dù quyền cao, chức trọng hay là một người dân bình thường, đều được mời gọi giữ gìn và gia tăng phẩm cách. Sống với mọi người và sống với chính mình trong công bằng, bác ái, trách nhiệm và yêu thương.

Quyền được giao phó trên người khác, đó là quyền để phục vụ như Chúa dạy: “ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ” (Lc 22, 26).

Những người gặp gỡ Chúa có lý khi nhận định: “”Thế nghĩa là gì? Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh! ” (Mc , 27).

Uy quyền của Chúa khác với mọi quyền uy khác, chính Chúa thực thi uy quyền giải thoát con người khỏi sự dữ, tội lỗi và sự chết. Đó là uy quyền tối thượng, không ai trên trần gian này có thể có. Quyền thống trị sự dữ, buộc sự dữ không làm phương hại đến những người kêu cầu Người cứu giúp. Quyền thống trị trên tội lỗi, khiến những ai sám hối, xin ơn tha tội đều được xót thương và tha thứ. Quyền trên sự chết nên những ai tin vào Người thì được sống.

Các Tông Đồ được mời gọi tham gia vào uy quyền của Chúa, uy quyền đó nhằm phục vụ cộng đoàn. Các ngài đã hiến dâng đời mình bằng hy sinh, bằng máu đổ để gầy dựng một cộng đoàn trong đức tin và đức mến, chúng ta cũng được thừa hưởng đức tin sống đông của các ngài.

Phần mỗi người Kitô hữu cũng được mời gọi tham dự vào vương quyền Chúa Kitô trong phép rửa. Sứ vụ đón nhận: Tư Tế, ngôn sứ và Vương đế. Đó là ba sứ vụ chính yếu để thực hiện đời sống mình trong phục vụ và yêu thương.

Xin Chúa giúp chúng con thi hành theo Thánh ý Chúa trong vương quyền của Chúa. Vương quyền yêu thương và phục vụ Chúa trong mọi người.

Về mục lục

.

LỜI QUYỀN NĂNG CỨU ĐỘ

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Hoán cải và tin theo Chúa Giêsu vì Nước Trời gần đến là lời mời gọi của Đấng Thiên sai (x. Mc 1, 14-20). Sứ vụ Thiên sai ấy được tiếp tục thi hành với Lời Quyền Năng Cứu Độ, Lời có sức chữa lành những người bị quỉ ám, khiến cho những người mù được sáng, người què đi được, người điếc nghe được, nói chung là vui mừng sung sướng ; mọi người đều …thán phục; các thần ô uế phải vâng lệnh Người (x. Mc 1, 21-28).

Chiêu mộ các môn đệ xong, Chúa Giêsu cùng với các ông tới Capharnaum. Tại hội đường, nơi cộng đoàn tụ họp để lắng nghe Lời Chúa và phổ biến Luật cũng như lời các Tiên tri, lần đầu tiên các môn đệ được nghe Chúa Giêsu giảng dạy (x. Mc 1, 21-22).

Hơn cả luật sĩ

Chúa Giêsu giảng dạy như Đấng có quyền, mọi ánh mắt của những người ngồi đấy đều đổ dồn vào Người, còn thần ô uế thì buộc phải vâng lệnh và xuất ra khỏi người nó ám. Người giảng dạy với uy quyền của Thiên Chúa, chứ không như các Tiên tri trong Cựu Ước là những người được Thiên Chúa ủy thác cho; cũng không giảng dạy như các kinh sư Do thái là những người chỉ giải thích Kinh Thánh. Lời giảng dạy của Chúa Giêsu là một cuộc giải phóng, là Tin Mừng cứu rồi, cách riêng cho những người nghèo khổ, những người bị loại ra bên lề xã hội. Lời của Chúa Giêsu tương phản với lời giảng dạy của các thầy thông luật (Mc 1, 22). Câu hỏi được đặt ra : Vậy có điều gì mới chăng ? Thưa không, Người không dạy điều gì mới mẻ hoặc trái với giáo lý, cũng không mang đến một giáo lý mới. Chính uy nguyền và phong cảnh giảng dạy làm người ta khám phá ra cái mới. Đồng thời, mới, là vì uy quyền của Người trên các thần ô uế : “Chúng vâng lệnh Người “(x. Mc 1, 25-26). Chúa Giêsu không tiếp chuyện, hay tranh luận với thần ô uế. Người đoạn tuyệt đối thoại với chúng. Và ta sẽ thấy câu trả lời vào cuối trình thuật cám dỗ trong hoang địa. Chúa Giêsu khẳng định : “Người là Chân Lý “.

Hơn một Tiên tri

Bài đọc I trích sách Đệ Nhị Luật (Đnl 18, 15-20), chúng ta thấy Môisen được coi là vị ngôn sứ vĩ đại nhất trong số các ngôn sứ; ông là trung gian giữa Thiên Chúa với loài người. Ông trung gian cần thiết, vì dân chúng sợ mặc khải trực tiếp từ Thiên Chúa nên họ nói : “Tôi không muốn thấy ngọn lửa vĩ đại này nữa, kẻo tôi phải chết ” (Đnl 18, 16).

Và đây là những điều Môisen được biết và công bố. Chúa phán : “Ta sẽ gầy dựng giữa anh em của họ một tiên tri như ngươi ” (Đnl 18, 15); Chúa sẽ đặt vào miệng vị đó những lời của Chúa, vị ấy sẽ nói cho dân lệnh Chúa truyền. Và nếu kẻ nào không nghe lời của Chúa qua miệng người ấy sẽ nói nhân danh Chúa, kẻ ấy sẽ chuốc lấy hậu quả thích đáng, như Chúa quả quyết : “chính Ta, Ta sẽ tính số với nó”(Đnl 18, 19)Từ chối Môisen hay một tiên tri là từ chối chính Chúa.

Dân sẽ mượn miệng ông, giọng nói của ông, để thân thưa với Thiên Chúa. Một cách nào đó, người ấy không thể nói điều gì khác hơn là Lời Thiên Chúa. Cuộc sống của ông là một cuộc sống hoàn toàn tùy thuộc vào Thiên Chúa.

Qua đoạn sách Đệ Nhị Luật, phụng vụ giúp chúng ta đọc lời nói đầu thể hiện sứ vụ công khai của Chúa Giêsu, Người hơn cả hơn Môisen: ” Người giảng dạy người ta như Đấng có uy quyền ” (Mc 1,22), Người là “Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Mc 1, 24).

Cuộc chiến giữa Chúa Giêsu và thần ô uế

Tiếng thét của người bị thần ô uế ám và dằn vặt, nay được Chúa trừ là tiếng thét hư vô, không có nguồn gốc và không có Thiên Chúa. Chúa Giêsu không chạm vào người này, Người cũng không thuyết phục hắn. Người nói chuyện trực tiếp với hắn lúc Lời Chúa bị mắc kẹt trong sa mạc bởi sự dữ, bạo lực và tà thần, mỗi người chúng ta phải thường xuyên kiên trì chiến đấu.

Điều thần ô uế nói trong hội đường như thể nó tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa. Nhưng nó bị Chúa Giêsu quát và bảo : “Hãy im đi!” (Mc 1, 25). Như sách Đệ Nhị Luật đã nói (18, 19) chúng ta phải biết nghe lời Chúa, trong hành động của đức tin, đức cậy để lời ấy có thể triển nở trong ta, đụng chạm đến chúng ta, biến đổi chúng ta và hiệp nhất chúng ta …

Sự im lặng bắt buộc này có nghĩa là không còn thời gian nữa. Sự viễn mãn tràn đầy thánh thiện và ơn cứu độ mà Chúa Giêsu mang đến nhờ sự chết và phục sinh. Vì Người là ” Đấng thánh của Thiên Chúa ” (Mc 1, 24).

Đấng Thánh của Thiên Chúa 

Việc trục xuất thần ô uế ra khỏi người bị nó ám được coi như cuộc chiến giữa Chúa Giêsu và thần dữ. Thần dữ cố gắng ngăn chặn nguy hiểm: “Có chuyện gì giữa chúng tôi và ông?” (Mc 1, 25) Chúa Giêsu quát bảo nó rằng: “Hãy im đi và ra khỏi người này!” (Mc 1, 25) Cuộc chiến vẫn tiếp tục trong cơn co giật của bệnh nhân đang bị dằn vặt dữ dội và kêu lớn tiếng. Sức mạnh của Chúa Giêsu làm chủ sự dữ là những cái con người đang bị nắm giữ với lo âu sợ hãi và tự hỏi, “Điều này có nghĩa là gì? ” (Mc 1, 27).

Giờ đây, bức màn che dậy được vén lên, mầu nhiệm của Chúa Giêsu và “bí mật” của Người hé mở : Đây là một giáo lý mới! Có thể đây là thời thiên sai mới chăng ? Chúa Giêsu có thật là Đấng Mêsia không? Người truyền cho các thần ô uế và chúng vâng theo; chứng tỏ Người mạnh hơn Sự dữ. Nhưng chính ma quỉ nhập nhằng khi tỏ lộ về thân thế Chúa Giêsu: Người là Đấng Thánh, Đấng Thánh của Thiên Chúa !(Mc 1, 24) Thánh là thuộc tính của chính Thiên Chúa. Chúa bắt nó : “Im đi ! ” (Mc 1, 25). Còn đám đông dân chúng thì vẫn chưa sẵn sàng tiếp nhận, nên kinh ngạc.

Chúng ta cũng thế, khi ta hoang mang về sự sinh tồn của mỗi chúng ta, và thấy các cuộc chiến giữa Sự Thiện và Sự Ác xảy quanh ta và trong chúng ta, chúng ta tự đặt câu hỏi: Chúa Giêsu là ai đối với cá nhân tôi và toàn thể nhân loại ?

Đời sống người Kitô hữu là một cuộc chiến không ngừng chống lại cám dỗ và loại trừ sự dữ. Sống theo Chúa Giêsu, con người sẽ không bao giờ nô lệ cho bản năng và ma quỉ. Để được như thế, chúng ta thành tâm nguyện xin mỗi ngày: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng xin cứu chúng con khỏi sự dữ” (Kinh Lạy Cha). Amen.

Về mục lục

.

VƯƠNG QUỐC CỦA THIÊN CHÚA

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi  

Chúa Giêsu thiết lập Vương Quốc của Ngài trên trái đất này.Nhưng Vương Quốc của Ngài lại là Vương Quốc Tình Yêu chứ không phải một thế lực quyền uy như con người suy nghĩ, ước muốn. Chúa trao Vương Quốc này cho nhân loại, cho mỗi người Kitô thực hiện.

Tin Mừng của thánh Máccô hôm nay trình bầy về giáo huấn của Chúa Giêsu và  việc Ngài chiến thắng thần dữ. Vâng, thánh Máccô cho hay Chúa Giêsu vào trong Hội Đường Do Thái, Ngài giảng dạy và mọi người đều sửng sốt, kinh ngạc về những lời Ngài giảng dạy, vì Ngài giảng dạy như Đấng có uy quyền chứ không nói rỗng tuếch,đầu môi chóp lưỡi như các Biêt phái, Luật sĩ vv…Chúa Giêsu nhân dịp này, đã xua trừ ma quỷ, đã chữa lành cho một người bị thần ô uế quấy phá, ràng buộc.Ngài đã chiến thắng thần dữ.Chúa Giêsu là Đấng Mêsia, Ngài biểu lộ uy quyền qua việc làm, đời sống và lời giáo huấn, Ngài chạm đến từng nỗi đau của con người, Ngài cảm thông với mọi hoàn cảnh của từng người, đặc biệt Ngài chữa lành, xua trừ ma quỷ. Ngài đến với mọi lớp người, tiếp xúc với những kẻ nhỏ bé, những người thu thuế, những kẻ tội lỗi.Ngài xoa dịu cơn đói khát của những người đi theo Ngài, nghe Ngài giảng dạy. Ngài thiết lập Vương Quốc Yêu Thương ngay giữa mọi người, ngay giữa thế gian này. Cung cách, thái độ của Ngài, gương sáng của Ngài hoàn toàn nổi bật và khác biệt với những Kinh sư, Biết phái…Những người này chỉ nói mà không làm, chỉ ra luật mà không thực hiện.Chính vì thế, họ chất gánh nặng trên vai những người khác, họ sống giả hình và đầy mâu thuẫn với lời của họ giảng dạy :” Ngôn hành của họ bất nhất “. Chúa Giêsu, Vị Vua nhân từ đến cứu độ nhân loại, giải thoát con người khỏi tội lỗi bằng tình yêu và lòng thương xót của Ngài…Chúa không đến như một Vị Vua trần gian, đầy uy quyền trần thế như nhiều người mong chờ.

Phép lạ Chúa Giêsu xua trừ ma quỷ ra khỏi một người bị thần ô uế nhập trong Hội Đường chứng tỏ quyền năng tuyệt đối của Thiên Chúa. Chỉ có Thiên Chúa mới làm được điều đó, các Kinh sư, Biệt phái chỉ nhìn người bị quỷ ám mà run sợ, họ không thể xua trừ thần ô uế, họ bất lực và hoàn toàn bị tê liệt, bị bó tay trước sức mạnh của thần dữ…Lời của Chúa là Lời cứu rỗi, Lời có sức mạnh đem lại sự bình an và xua trừ ma quỷ. Còn lời của các Kinh sư chỉ là lời của phàm nhân, lời bất lực, lời không có uy quyền vv…

Chúa trao Nước Thiên Chúa, Nước Tình Yêu cho nhân loại, cho chúng ta để chúng ta và mọi người hoàn tất nó. Nhiệm vụ của chúng ta là phải hoàn thành trách nhiệm xây dựng Nước Yêu Thương ngay giữa thế giới, ngay giữa chúng ta, ngay giữa xã hội, tập thể, cộng đồng chúng ta đang sống…Tuy nhiên, Nước Thiên Chúa, Nước Yêu Thương bị trì trệ ở thế gian này là do chúng ta chưa biết yêu thương, chưa biết nhận ra tha nhân là Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã từng đồng hóa mình với người đói, người khát, người rách rưới, nghèo hèn, rách rưới, tù tội vv…Nhận ra Chúa nơi những người khác, nơi tha nhân để yêu thương họ và nhận ra họ là tạo vật xinh đẹp được Chúa dựng nên, đáng được yêu thương như chính chúng ta đã được Chúa yêu thương, tha thứ, chúc lành. Là chúng ta đang hoàn thành Nước Tình Yêu giữa trần thế gian.

 Chúa mời gọi chúng ta hãy biết dùng lời nói yêu thương, dùng những việc làm bác ái của chúng ta để xoa dịu những nỗi khổ đau của tha nhân vì chính tha nhân đã được Chúa dựng nên như chúng ta và cũng đang cần được chúng ta yêu thương như chúng ta đã được Chúa yêu thương.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một trái tim rộng mở, một

tấm lòng quảng đại để chúng con luôn biết yêu thương mọi người và trở nên chứng nhân cho Nước Yêu Thương của Chúa.Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

  1. Chúa chiến thắng thần dữ bằng cách nào ?
  2. Tại sao Kinh sư và Biệt phái rao giảng, người khác không nghe, không phục ?
  3. Hội Đường là gì ?
  4. Chúa Giêsu muốn ai thực hiện Vương Quốc Tình Yêu của Chúa?
  5. Tại sao lại gọi là thần dữ ?

Về mục lục

.

QUYỀN NĂNG CHÚA

Anna Cỏ May

Trong các buổi thuyết trình hay một chuyên đề nào đó, có lẽ mọi người sẽ có những ấn tượng điều gì hay một ai đó về lời họ nói. Những ấn tưởng ấy có thể để lại cho chúng ta kinh nghiệm trong cuộc sống và bài học nào đó sau buổi thuyết trình.

Ngày xưa, với thành Caphacnaum, dân chúng rất bất ngờ và sững sốt về lời giảng của Chúa Giêsu. Trong Tin Mừng Thánh Máccô, thành Caphacnaum là nơi đầu tiên người đến giảng dạy. Lời giảng của Ngài đầy thuyết phục và xác tín. Ngài giảng dạy như Đấng có thẩm quyền chứ không như các kinh sư. Được biết, thuở xưa các kinh sư giảng dạy theo khẩu truyền, không sách vở. Họ nói những gì trong trí nhớ của họ được học, được biết. Còn Chúa Giêsu giảng dạy những lời giải thích hoàn toàn khác, rõ ràng và mới mẻ. Những lời Ngài nói ra là chân lý, đúng sự thật và đi thẳng vào những vấn đề luân lý cùng đạo đức thâm sâu không dựa trên uy quyền của ai mà chính Ngài. Ngài chỉ giảng dạy chứ chưa có ý định làm gì với ma quỷ. Thế nhưng, trong số người nghe, có kẻ bị thần ô uế nhập, la lên trách móc Chúa Giêsu. (x. Mc 1,21-29). Chúng ta thường nói “có tật giật mình”. Có thế, thần ô uế mới la lên. Nó sợ Chúa đến tiêu diệt nó hay để làm chia trí những lời giảng dạy của Ngài, cũng có thể để chế diễu uy quyền Ngài. Thật sự về những điều này thì Tin Mừng không viết rõ. Nhưng điều để chúng ta phải quan tâm và biết đến là ma quỷ rất sợ uy quyền Chúa, sợ ánh sáng chân lý và sự thật. Đồng thời cho chúng ta tin rằng Chúa chỉ phán một lời là mọi sự được tốt đẹp. Ngài đã quát mắng thần ô uế rằng: “Câm đi, hãy xuất khỏi người ngày!”  (Mc 1, 25). Nó liền lay mạnh người bị nạn rồi thét lên một tiếng sau đó mới chịu xuất ra. Phần dân chúng vừa được nghe những lời dạy mới mẻ vừa được chứng kiến những phép lạ nên không khỏi kinh ngạc và bàn tán với nhau. Danh Ngài lan rộng khắp miền Galilê. Có lẽ, chúng ta không đủ tự tin để nói về Chúa. Quả thực những lời chúng ta nói về Chúa đủ thuyết phục và thu hút cũng bởi bởi nhờ Thần Khí nói trong chúng ta. Chúa Thánh Thần là Đấng bảo trợ và hằng hướng dẫn chúng ta trên đường rao giảng. Ngài sẽ hoạt động và đổ tràn ơn xuống trên mỗi người. Chúng ta đã biết hành trình rao giảng của Chúa Giêsu luôn gặp những khó khăn, gian khổ thì hành trình của chúng ta sẽ không tránh khỏi những gian khó như Thầy. Chúng ta phải chịu đựng những lời chất vấn và gây khó chịu nơi người đời. Điều quan trọng là chúng ta phải có một đức tin vững mạnh, một ý chí, sự can đảm để vượt qua mọi gian nan trên hành trình theo Chúa.

Cậu bé vừa đi lễ về đã được mẹ giao việc. Bà mẹ vội vã:

 – Con ơi, mau đi mua đồ ăn sáng cho bố.

– Không phải lo đâu mẹ.

– Không lo cái gì. Con lúc nào cũng chậm chạp. Mau đi mua bánh cho bố kẻo trễ.

– Mẹ yên tâm. Một lời Chúa phán liền có mọi sự.

Nói rồi cậu bé liền đi ra cổng.

Lạy Chúa! Giữa dòng đời lắt lẻo, những lời nói của chúng con không đủ thuyết phục để mọi người nhận ra Chúa. Bên cạnh đó, chúng con cũng gặp bao chông gai. Chúng con nguyện xin Chúa tuôn đổ Thần Khí trên chúng con để chúng con vượt qua bao gian nan thử thách để làm chứng cho Chúa. Amen.

Về mục lục

.

QUYỀN NĂNG VÀ TÌNH THƯƠNG

Bông Hồng Nhỏ

Thiên Chúa không bao giờ khép kín từ tâm. Tình thương của Thiên Chúa thật vô biên và các môn đệ đã được cuốn vào tình thương vô biên đó, được mời gọi vượt qua sự mệt mỏi và mọi thứ cản trở để phục vụ, để cho đi, để chia sẻ tình thương. Hôm nay, theo chân thầy Giêsu vào Hội đường, ta được chứng kiến quyền năng và tình thương của Thầy khi Thầy giảng dạy và chữa lành người bị quỷ ám.

Ta hình dung Thầy Giêsu bước vào Hội đường để giảng dạy trong bộ trang phục rất đơn sơ của một anh thợ mộc. Thầy không mặc chiếc áo có tua thật dài, không đeo hộp kinh thật lớn như các kinh sư nhưng lời Thầy giảng dạy thì thật cuốn hút và đầy quyền năng. Nghe Thầy giảng dạy và dùng uy quyền mà trừ quỷ, dân chúng phải sững sờ kinh ngạc và bàn tán với nhau: “Thế nghĩa là gì? Lời giảng dạy thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh.” (Mc 1, 27). Thầy chính là Ngôi Hai Thiên Chúa do đó giáo lý mà Thầy giảng dạy là mạc khải trọn vẹn nhất. Giáo lý mà các kinh sư giảng dạy là mạc khải mà ông Môsê và các ngôn sứ lãnh nhận từ Thiên Chúa. Qua bao thời và bao thế hệ, giáo lý ấy được các ông giữ cẩn thận và tỉ mỉ nhưng lại hạn hẹp bởi cái nhìn và lối sống của phàm nhân. Thầy Giêsu đã từng trách mắng các kinh sư là “đạo đức giả” là “mồ mả tô vôi” vì các ông không sống theo những gì mình giảng dạy.  (x. Mt 23, 27-32). Khi Thầy cảm thương và chữa lành cho một anh bại tay trong ngày sabat thì các kinh sư và thượng tế phẫn nộ. Trước thái độ chai cứng của họ, Thầy Giêsu đã giận dữ và buồn bực bao nhiêu. (x. Mc 3, 1-6). Trước quyền năng của Thiên Chúa, ta được mời gọi vững tin để can đảm dơ tay ra cho Thầy chữa lành. Nếu như ngày ấy, anh bại tay không đưa tay ra, cứ nghĩ mình không thể thì chắc hẳn anh đã chẳng được lành. ( x. Mc 3, 1-6). Khi ta trở thành bại tay, ta sẽ cảm nhận được thế nào là sự bất lực, thế nào là sự tủi hổ mà anh đang gánh chịu. Đưa tay ra là chấp nhận thử thách, dám liều mình để được quyền năng Chúa chạm tới.

Từ đây, các môn đệ vui mừng vì danh tiếng Thầy đồn ra khắp cả vùng Galilê. Rồi chẳng mấy chốc, các ông cũng được Thầy truyền cho bí kíp để có thể ra đi rao giảng, tiếp nối sứ mạng của Thầy. Ta sẽ thấy những tâm hồn đầy nhiệt huyết theo sát bên Thầy rong ruổi khắp các ngả đường và làng mạc để làm cho yêu thương lan tỏa. Có những ngày miệt mài giúp Thầy chữa lành bệnh nhân, an ủi và khích lệ họ, các ông cũng quên ăn uống. Vậy mà các ông chẳng hề kêu la mà vẫn cùng Thầy tiếp tục nâng đỡ bao người. Rồi khi Chúa Giêsu Phục Sinh về trời, các ông đã mạnh dạn ra đi rao giảng khắp nơi về Đấng đã chịu khổ hình và sống lại từ cõi chết để giải thoát con người khỏi tội lỗi và ban ơn cứu độ. Nói về mình, các ông đã nói về những lầm lỗi mình đã phạm và được Chúa Giêsu tha thứ như thế nào, yêu thương ra sao. Chính các ông là những chứng nhân phục sinh đã sống và chết trong ơn gọi Chúa ban.

Lạy Chúa! Xin cho con hiểu rằng, Chúa luôn yêu thương chính bản thân con. Chúa là Đấng quyền năng luôn ở cùng con. Xin cho con biết khiêm nhường hạ mình xuống để nhận ra quyền năng và tình thương Chúa bày tỏ nơi những người con gặp gỡ mỗi ngày. Amen.

Về mục lục

.

SỨC MẠNH CỦA CHÚA

Đoạn Tin mừng ta vừa nghe, kể lại việc Chúa Giêsu đi rao giảng Tin Mừng. Mọi người đều thán phục về sức mạnh của Lời Chúa. Lời Chúa có sức mạnh khiến cho ma quỷ phải tâm phục khẩu phục. Anh chị em đã thấy người bị quỷ nhập bao giờ chưa? Tôi đã xem trong các băng đĩa, và thấy kinh hãi lắm. Ma quỷ rất dữ tợn. Có khi chúng hành hạ con người một cách không thương tiếc. Thánh Maccô kể: Hôm đó trong Hội Đường có một người bị quỷ ám. Không ai làm gì được nó, ngay cả các thầy Tư Tế cũng bó tay. Tuy nhiên, chỉ mới thấy bóng dáng của Chúa Giêsu xuất hiện thôi, ma quỷ đã sợ hãi la lên. Tại sao vậy? Thưa, vì chúng biết rõ Chúa Giêsu là ai, là Đấng thánh của Thiên Chúa, Đấng đến để tiêu diệt chúng. Ma quỷ sợ sự xuất hiện của Chúa Giêsu sẽ làm cho chúng không còn đất sống. Thực vậy! Lời uy quyền của Chúa đã khiến cho ma quỷ sợ hãi. Chúa nói: “Hãy ra khỏi người này”. Nghe tiếng Chúa Giêsu quát, ma quỷ liền lay mạnh người ấy một cái, hét lên một tiếng, rồi xuất ra khỏi người ấy, khiến cho những người chứng kiến phải sửng sốt.

Ngày nay, ma quỷ vẫn là một quyền lực mạnh mẽ trên thế giới. Ma quỷ đang chi phối và lôi kéo rất nhiều người theo chúng. Thậm chí nhiều người còn lập hẳn một đạo để tôn thờ ma quỷ, gọi là đạo thờ Satan. Các tín đồ của đạo Satan quyết tâm phá hại Hội Thánh Chúa, và triệt hạ lòng đạo đức của các Kitô hữu. Hậu quả là tội lỗi lan tràn khắp nơi: ly dị nhiều hơn, phá thai nhiều hơn, ngoại tình nhiều hơn, thanh thiếu niên phạm pháp nhiều hơn. 

Anh chị em đã trông thấy ma quỷ chưa? Có lẽ ta chưa thấy hình thù ma quỷ ra làm sao, nhưng ta chỉ được nghe người này người kia kể lại, hoặc ta chỉ thấy những tấm hình vẽ ma quỉ. Nào là ma quỷ có sừng, có đuôi, mặt mũi nhăn nhở, đen đủi, v.v… Điều đáng sợ là ma quỷ rất khôn khéo. Chúng thường ẩn mặt, ít khi lộ diện, nên nhiều người lầm tưởng là không có ma quỷ. Vì lầm tưởng không có ma quỷ, nên không mấy ai đề phòng chúng. Và khi người ta không đề phòng, thì ma quỷ càng dễ điều khiển con người. Đó là thành công lớn nhất của ma quỷ.

Ta thử nghĩ: Nếu ma quỷ hiện hình xấu xí như các hình vẽ, thì có lẽ ta sẽ dễ nhận ra nó; và nó khó lòng cám dỗ được ta. Nhưng ma quỷ rất ít khi xuất đầu lộ diện. Nó luôn đứng trong bóng tối, và dùng ma lực của chúng để xui khiến người ta phạm tội, giống như ta sử dụng remote để điều khiển màn hình Tivi.

Vậy có cách nào để tiêu diệt ma quỷ không? Liệu ta có thể tưới xăng, đốt ma quỷ được không? Thưa không, vì không có thứ lửa nào có thể đốt cháy được ma quỷ. Ta có thể dùng dao đâm, hay dùng súng bắn cho ma quỷ chết được không? Thưa không, vì ma quỷ không có thể xác. Ta có thể dùng bom nguyên tử để tiêu diệt ma quỷ được không? Cũng không luôn, vì ma quỷ vô hình. Vậy ta phải làm gì để diệt trừ quyền lực của ma quỷ? Thưa, ta chỉ có một phương thế duy nhất để diệt trừ ma quỷ, đó là cậy dựa vào sức mạnh của Chúa. Vì Chúa Giêsu có quyền năng trên ma quỷ; và sứ mạng của Chúa Giêsu khi đến trần gian, là giải thoát con người khỏi mọi sự dữ, trong đó có ma quỷ. 

Ước gì ta luôn cầu nguyện và lãnh nhận các Bí tích, để được tiếp thêm sức mạnh thiêng liêng của Chúa. Đặc biệt mỗi khi bị cám dỗ, hãy sốt sắng nguyện xin với Chúa Giêsu: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ”. Nếu ta năng đến với Chúa và cầu xin như thế, thì ma quỷ sẽ không thể làm gì được ta.

Ave Maria.

Về mục lục

.

LỜI CHÚA

Lm. Trần Việt Hùng

Ngôi Lời giáng thế làm người,

Rao truyền chân lý, rạng ngời nhân gian.

Lời Ngài giảng dạy truyền ban,

Cứu nhân độ thế, tỏa lan cõi đời.

Quỉ ma lẩn tránh xa rời,

Tà thần ô uế, biết thời giáng lâm.

Chúa Con quyền phép tự tâm,

Xua trừ ma quỉ, lặng câm thói đời.

Quỉ thần vâng lệnh Chúa Trời,

Tha người trói buộc, cả đời khổ đau.

Uy quyền giải thoát hóa mau,

Một lời Chúa phán, trước sau hiện thành.

Tin mừng tuôn đổ ơn lành,

Hy sinh cứu rỗi, ca danh Chúa Trời.

Hồng ân phúc đức bởi trời,

Nguồn sinh ơn lộc, cho người trần gian.  

Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể và cư ngụ giữa chúng ta. Chúa Giêsu chính là Lời của Thiên Chúa. Lời hằng sống có sức cải đổi tâm hồn và thể xác. Lời Ngài là chân lý và là sức sống cứu độ. Qua Ngôi Lời muôn vật được tạo thành. Mọi người đều kinh ngạc về Lời của Chúa giảng dạy.    

Chúa Giêsu dùng ngôn ngữ của con người để diễn tả mầu nhiệm Nước Trời. Lời của Ngài thật đơn sơ và thâm thúy qua các ẩn dụ, dụ ngôn hay truyện kể. Nó mang sức thánh hóa và biến đổi tâm hồn. Ngài giảng dạy như Đấng có quyền. Ngài không cần lấy lời của người khác làm bằng chứng. Tự Ngài là nhân chứng của sự thật.   

Còn chúng ta thường tìm vinh danh ảo lẫn nhau. Thí dụ: Trong một bài viết hay bài giảng, chúng ta nghĩ rằng chúng ta càng đưa ra được nhiều dẫn chứng từ người khác càng có giá trị. Có khi những dẫn chứng từ những nguồn không chính xác. Đôi khi chúng ta hãnh diện đã trích được lời này hay lời kia từ ngôn ngữ ngoại quốc. Thực vậy, càng có nhiều dẫn chứng, bài viết càng tốt. Nó có những giá trị riêng của nó. Nhưng Lời của Chúa là Lời chân lý và tuyệt đối. Các thứ văn chương đối chiếu, thơ phú, ca dao, ví dụ, kể truyện… chỉ là giúp làm sáng tỏ và áp dụng Lời của Chúa. Nó không thể thay thế.   

Trong bài phúc âm, Chúa đã vào Hội Đường và giảng dạy như Đấng có quyền. Không phải chỉ như Đấng có quyền mà là Đấng có thực quyền. Chúa Giêsu thấu tỏ lòng con người. Ngài biết họ cần gì và muốn gì. Với đầy quyền năng, Ngài xua trừ ma qủy. Ngài phán với ma qủy: “Hãy im đi và xuất ra khỏi hắn”. Ma qủy dữ tợn nhưng phải vâng lời Ngài.    

Chúng ta tôn kính và mến yêu Lời Chúa. Đừng dùng Lời Chúa áp dụng vào chỗ không đâu để làm trò cười cho thiên hạ. Cũng đừng trích dẫn Lời Chúa để biện minh cho những cách thế suy tư mơ hồ hoặc uốn theo sở thích riêng tư. Ma qủy cũng đã dùng cách trích dẫn Lời Chúa để cám dỗ Ngài. Chúa Giêsu dùng Lời Chân Lý trong ý ngay lành để thắng ma qủy.   

Lạy Chúa, xin cho con biết lắng nghe, yêu mến suy gẫm và áp dụng Lời Chúa trong cuộc sống mỗi ngày. Ước chi Lời Chúa là ánh soi cho con lần bước trong hỏa mù của thế gian.

Về mục lục

.

CHÚA CHỮA NGƯỜI BỊ QUỶ ÁM

Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

Sau khi thánh Gioan Tẩy Giả bị bắt, Chúa Giêsu trở về Galilê công khai giảng dạy trong Hội đường. Cùng với lời giảng, Chúa thực hiện nhiều phép lạ. Hôm nay, Tin mừng theo thánh Marcô cho biết, phép lạ của Chúa là phép lạ trừ quỷ.

I.  VÌ SAO CHÚA CẤM MA QUỶ TUYÊN XƯNG?

Chúng ta lấy làm lạ: Chúa Giêsu đến trần thế là để mạc khải cho loài người biết Chúa là Con Thiên Chúa. Vậy tại sao khi ma quỷ tuyên xưng: “Tôi biết Ông là ai: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa”, thì Chúa lại quát: “Hãy câm đi”? Vì sao ma quỷ nói đúng về thân thế của Chúa mà Chúa lại cấm? Có hAi lý do:

Lý do 1:

Đây là thời gian đế quốc Rôma đang chiếm đóng Israel. Sống dưới ách nô lệ của người Rôma, dân chúng khao khát một vị anh hùng dân tộc có thể đứng lên lãnh đạo dân, đấu tranh giành lại độc lập cho quê hương.   

Trong khi đó, Chúa Giêsu vừa bắt đầu rao giảng, dân chúng chưa hiểu Chúa nhiều. Do đó, Chúa chưa muốn mạc khải về mình. Chúa tránh bị dân chúng hiểu lầm “Đấng Thánh của Thiên Chúa” cũng là thủ lãnh làm chánh trị  đảo chánh quân Rôma.

Nếu họ chỉ dừng ở mức độ xem Chúa là vị lãnh đạo như bao nhiêu vị lãnh đạo trần thế, thì việc Chúa đưa họ vào ơn cứu độ, vào tình yêu của Thiên Chúa, sẽ khó khăn.

Lý do 2:

– Chúa cấm ma quỷ tuyên xưng Chúa là Đấng Thánh, vì tự bản chất, ma quỷ là sự dữ, sự xấu, dối trá, đen tối. Nó hoàn toàn đối lập với Đấng Thánh, Đấng là Ánh Sáng, Đấng có quyền trao ban ánh sáng.

Ma quỷ không có tư cách nói về Chúa, không có tư cách tuyên xưng Chúa, càng không có tư cách minh chứng mầu nhiệm Nước Trời. Để rao giảng về Chúa, cần người lành thánh. Ma quỷ không thể là nhân vật đầu tiên nói về Chúa Giêsu trong Tin Mừng. Nó không xứng đáng. Chúng không có sự thật nơi mình. Chúng không có khả năng nói sự thật. Chính Chúa Giêsu từng tuyên bố: “Dối trá là bởi ma quỷ mà ra” (Mt 5, 37).

– Trong bài Tin Mừng, ma quỷ có tên là “thần ô uế”. Nó kiêu ngạo như chính bản chất mà nó vốn có, khi tự cho mình “biết” Chúa Giêsu: “Tôi biết Ông là ai”.

Chỉ có ai thuộc về Thiên Chúa mới “biết” Chúa Giêsu. Thần ô uế không thuộc về Thiên Chúa. Nó nhập vào con người, làm họ bị tha hoá, xa rời Thiên Chúa. Nó phá hoại công trình, chống đối và tách mình khỏi Thiên Chúa. Nó không thể biết Chúa Giêsu, hay không thể biết đầy đủ như chính Chúa là Đấng cần phải biết.

– Chúa cấm ma quỷ nói về Chúa vì nó không thể nói sự thật, không có sự thật để nói. Nó không có phương tiện để nói. Nó phải gây tội ác: Nhập vào con người, biến họ thành dụng cụ và mượn tiếng của họ để nói. Tội ác không thể nói đúng về Đấng Thánh.

II.  ẢNH HƯỞNG CỦA MA QUỶ.

Ma quỷ vẫn lộng hành bằng nhiều hình thức: nhập vào con người, nhẹ nhàng lôi kéo hướng về sự dữ, lèo lái con người thực hiện tội ác, dùng mưu mô phá rối trật tự cuộc sống của con người, của thế giới… Người bị quỷ nhập không nhiều. Nhưng chắc chắn ảnh hưởng của ma quỷ trên con người thì không thể nói hết được.

Ma quỷ thường được mô tả xấu xí, đáng sợ. Nếu thế, chúng ta dễ nhận ra và nó cũng khó cám dỗ ta. Thực tế, ma quỷ không hiện nguyên hình để cám dỗ. Nó ẩn nấp dưới những hình dáng xinh đẹp, hấp dẫn. Nó tấn công bằng thủ đoạn tinh vi, ngọt ngào. Nó nắm rõ điểm yếu từng cá nhân cũng như tập thể, từ đó lôi kéo ta xa Chúa. Thúc giục ta chống đối Thiên Chúa, chống đối hạnh phúc đích thực của con người.

Chúng ta tự hào mình không bị quỷ ám. Thực ra, ma quỷ có thể ám bằng cách lừa gạt ta chạy theo hạnh phúc giả tạo như: cuốn hút vào tham vọng, dục vọng, oán thù, ích kỷ, hưởng thụ… Ma quỷ ám ta bằng cách làm cho ta tôn sùng tiền bạc, tiện nghi, thời trang, công việc làm ăn, phim ảnh…

Loại quỷ ám nào cũng làm mất tự do, mất trong trắng, dễ phạm tội, đi ngược đường lối và giáo lý của Chúa. Nó bắt ta phải nghĩ, phải sống theo một lập trình. Ta không thể làm khác, không thắng được bản năng và thói quen.

Ảnh hưởng của ma quỷ vẫn là sức mạnh lớn. Vì thế, Chúng ta cần đến ơn Thiên Chúa phù hộ, chở che, nâng đỡ. Hãy nhớ:

– Đời sống cầu nguyện luôn là điểm mốc quang trọng nhất để ta thoát khỏi ảnh hưởng của ma quỷ. Hãy luôn cầu nguyện. Hãy cầu nguyện chân thành, khiêm tốn.

– Tín thách đời mình trong tay Chúa. Hãy để Chúa làm chủ cuộc đời mình. Hãy để Chúa hướng dẫn bằng cách không để mình hướng chiều về sự tội.

– Làm việc lành phúc đức, sống tinh thần bác ái, sống khiêm nhường và tránh mọi thứ kiêu ngạo, hống hách, cậy mình hơn người…

– Tránh xa mọi dịp gây tội, mọi cám dỗ, mọi nguy cơ vi phạm lề luật của Chúa…

– Không dẫn mình vào những nơi, những hoàn cảnh có thể đưa tới tội lỗi.

– Siêng năng tham dự thánh lễ, chầu và rước Mình Thánh Chúa, xưng tội, lãnh nhận các bí tích cần thiết khác.

– Siêng năng làm việc lành, thực hành các công tác đạo đức, quảng đại dấn thân vì tha nhân, yêu thương đón nhận mọi người vì họ cùng là Con của Chúa như ta.

– Sống đứng đắn, đoan trang, gìn giữ ngũ quan, không khoe khoang, không ham hố, không chiều theo xác thịt.

– Thường xuyên đọc, suy gẫm và cầu nguyện bằng Lời Chúa. suy niệm cuộc khổ nạn của Chúa giêsu.

– Kính mến Thánh tâm Chúa, kính mến Thánh giá, Đức Mẹ và các thánh. Hãy luôn ao ước học đòi bắt chước gương thánh thiện của Chúa Giêsu và các thánh.

Về mục lục

.

VỊ TÔN SƯ ĐÍCH THỰC

Lm. GB. Trần Văn Hào

Hầu hết chúng ta đã từng cắp sách đến trường và được các thầy cô dạy bảo. Chúng ta đã được thụ giáo dưới sự chỉ dẫn của các bậc làm thầy, bởi lẽ ‘Nhất tự vi sư, bán tự vi sư’, một chữ hay dù nửa chữ, các ngài cũng là thầy giáo dạy bảo chúng ta. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã từng nói với các học trò : “Đừng gọi ai dưới đất là thầy, vì anh em chỉ có một ‘Rabbi’, một thầy duy nhất (Mt 23,8)”. Trong Tin Mừng hôm nay, thánh Marcô cũng trình thuật lại việc Chúa Giêsu vào hội đường ở Capharnaum và giảng dạy như một Đấng có uy quyền (Mc 1,22). Cách Đức Giêsu dạy dỗ khác xa với cung cách làm thầy của các rabbi hồi xưa, cũng chẳng giống các vị tiến sỹ đứng trên bục giảng trong các giảng đường đại học ngày hôm nay. Ngài không nổi trội về kiến thức uyên bác hay có những bằng cấp chuyên môn, nhưng trên hết, Đức Giêsu là Đấng ‘Messia’, là Đấng đã đến trần gian để công bố cho chúng ta một Tin Mừng. Tin Mừng đó được hiển thị rõ nét qua các phép lạ Chúa Giêsu thực hiện như được Thánh sử Marcô mô tả trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúa giảng dạy kèm theo những phép lạ chứng tỏ Ngài là một ‘Đấng có uy quyền’, và đó là dung mạo của vị tôn sư đích thực mà chúng ta cần cung chiêm và học hỏi.

Tư cách làm thầy

Một giáo sư đại học khi dạy các sinh viên về môn Thuyết giảng trước công chúng (Public Speaking) đã nói : “Trong một lớp học, không bao giờ có học sinh dốt, nhưng chỉ có những ông thầy dốt. Dốt, vì ông ta không biết cách truyền đạt những kiến thức để cho sinh viên am hiểu”. Muốn làm thầy, người đó phải được đào tạo chính quy qua trường lớp sư phạm. Cũng vậy, muốn trở thành thầy dạy (magistero)về đức tin, các các anh em linh  mục cũng phải được đào tạo kỹ lưỡng ở chủng viện về các bộ môn thần học hay kinh thánh, nhất là phải có chiều sâu đức tin, bởi vì ‘Không ai có thể cho người khác cái mà mình không có, không ai có thể dạy người khác điều mà mình không biết’.

Chúng ta được mời gọi nhìn vào chân dung Đức Giêsu, vị tôn sư đích thực của chúng ta. Khi đặt mình trong tay Chúa, chúng ta cần nhớ rằng mãi mãi chúng ta vẫn chỉ  là những học trò của Ngài mà thôi, cho dầu chúng ta là Giám mục hay Linh mục, chúng ta có bằng tiến sỹ này hay bằng chuyên môn nọ.

Ngày xưa, Chúa chọn 12 môn sinh để họ kế tục sứ mệnh làm thầy giống như Ngài, tức là đi ‘rao giảng Tin Mừng’ cho người khác. Những anh học trò này chắc chắn không phải là những chuyên viên về Kinh thánh, tức là những  ‘Halakha’ của thời bấy giờ. Một chữ bẻ làm đôi có lẽ nhiều vị cũng không biết. Nhưng điều mà các tông đồ đã học dưới mái trường do Đức Giêsu khai sáng, chính là mầu nhiệm về Thiên Chúa, hiển thị rõ nét nơi Đức Giêsu, vị tôn sư khả kính mà họ được thông dự vào qua cuộc sống hằng ngày. Vì vậy, sau ngày lễ Ngũ tuần, các ông đã hăng hái đi đến mọi ngõ ngách để giảng giải, để nói về Đức Giêsu cho mọi người, không loại trừ ai. Khán thính giả của các tông đồ ngày xưa gồm đủ mọi thành phần, từ chính quyền đến thường dân, từ những nhà trí thức đến những bác dân quê mộc mạc chất phác. Ngôi trường mà Chúa Giêsu đã thiết lập cũng chẳng giống với ngôi trường nào. Ở đó không có sách vở, không có bàn ghế hay giấy bút. Khi được thụ giáo dưới mái trường này, chúng ta sẽ chẳng bao giờ có thể tốt nghiệp với văn bằng này hay chứng chỉ nọ. Chúng ta phải học, phải nghiền gẫm và phải đeo bám cho đến suốt đời. Đức Giêsu mãi mãi vẫn luôn là vị tôn sư khả kính mà chúng ta cần phải không ngừng học hỏi nơi Ngài.

Sức mạnh của ‘Lời’

Lời nói con người giống như một con dao hai lưỡi. Nó có thể giúp xây dựng hòa khí thân thương song cũng có thể tạo ra những đổ vỡ. Lời Thiên Chúa thì khác. Những gì Thiên Chúa nói luôn mang lại cho con người sự sống. Chúa Giêsu giảng dạy tại hội đường Capharnaum kèm theo phép lạ để diễn bày tính năng cứu độ nơi Ngài. Ngài đã làm phép lạ trừ quỷ cách nhãn tiền khiến đám đông kinh ngạc và bảo nhau : “Thế nghĩa là gì? Lời giảng dạy thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền (c. 27)”. Đây là uy quyền của một vị Thiên Chúa, Đấng đem đến cho con người sự chữa lành và ơn tha thứ. Những phép lạ Chúa Giêsu thực hiện không phải nhằm phô diễn một kỳ tích hay như một màn ảo thuật để đánh lừa thị hiếu của đám đông. Mọi phép lạ Chúa làm đều mang chở một sứ điệp sâu xa, mời gọi con người hãy ‘Sám hối và tin vào Tin Mừng’ (Mc 1,15). Đó là Tin Mừng về lòng xót thương của Thiên Chúa đối với con người, giục giã gọi mời chúng ta trở về để đón nhận. Đức Giêsu chính là Đấng Messia mà sách Đệ nhị luật đã tiên báo như chúng ta được nghe trong bài đọc 1 hôm nay. Đây là ‘vị ngôn sứ’ đích thực của Chúa Cha, và vị ngôn sứ đó sẽ nói những điều Thiên Chúa truyền (Dnl 18, 18). Điều mà Đức Giêsu ngỏ trao chính là sứ điệp về tình yêu của Thiên Chúa, mà đỉnh điểm là chính cái chết của Ngài trên Thập Gía.

Tác vụ giảng dạy

Các bài đọc lời Chúa hôm nay được gửi đến mọi người, đặc biệt các anh em linh mục. Chúng ta được mời gọi nhìn vào hình ảnh của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng để biết cách chu toàn tác vụ thánh trong việc công bố và giảng giải Lời Chúa. Trong cuốn ‘Chỉ nam Giảng thuyết (Homiletic Directory) do Thánh bộ Phụng Tự và Kỷ luật Bí tích ban hành năm 2015, Giáo hội cũng nhắc nhở các anh em linh mục đừng bao giờ biến bài giảng trong Thánh lễ thành một bài chú giải Kinh thánh mang tính khoa bảng, hay chỉ để chia sẻ những những kinh nghiệm cá nhân. Trên hết, tòa giảng phải là nơi để các linh mục dùng Lời Chúa nuôi dưỡng đời sống đức tin của cộng đoàn. Vì thế, Giáo hội cũng khuyên các cha hãy chuẩn bị bài giảng thật kỹ lưỡng qua việc suy niệm và cầu nguyện, nhất là cử hành Lectio Divina, để Lời Chúa chạm đến cõi lòng chúng ta và lay động tâm hồn của chính chúng ta. Có như thế chúng ta mới có thể dùng Lời Chúa như lương thực trường sinh, giúp nuôi dưỡng đức tin cộng đoàn. Không ít giáo dân than phiền về nội dung cũng như cách thức các cha giảng trong Thánh lễ, thậm chí có những giáo dân tỏ ra chán ngán vì có những vị còn lạm dụng cả tòa giảng để chửi bới giáo dân nữa.

Chúng ta hãy noi gương Chúa Giêsu, vị Tôn sư khả kính đã giảng dạy như một Đấng có uy quyền. Đây không phải là một thứ uy quyền để nạt nộ hay chửi rủa, nhưng là uy quyền của tình yêu và sự chữa lành.

Kết luận

“Đức Kitô bị đóng đinh trên Thập giá là đối tượng duy nhất của lòng trí chúng ta” (Đức Cha Lambert de la Motte) . Đó cũng là đối tượng duy nhất mà chúng ta phải luôn cung chiêm và học hỏi. Chúng ta học hỏi nơi Ngài cách sống, cách chữa lành và cách thức Ngài rao giảng. Ngài chính là vị tôn sư duy nhất mà chúng ta cần phải xách cặp đến để xin thụ giáo cho đến suốt đời.

Về mục lục

.

GIẢNG DẠY NHƯ CÓ THẨM QUYỀN

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Tác giả Mác-cô giới thiệu sứ vụ của Đức Giê-su tại Ga-li-lê gồm hai phần: giảng dạy và chữa lành. Tuy nhiên đặc biệt là ở chỗ ông không tách hai điều này riêng ra mà đã liên kết chúng lại thành một cách rất tài tình. Chữa lành chính là để lời rao giảng trở nên thuyết phục.

Mác-cô trước hết giới thiệu Đức Giê-su như một nhân vật xuất hiện hầu công bố một sứ điệp trọng đại: “Thời đại đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (c.15). Ông không những xác địch công việc chính của Đức Giê-su là công bố sứ điệp, nhưng còn nói thêm Ngài đã gây ấn tượng mạnh mẽ trên dân chúng. ‘Đức Giê-su và các môn đệ đi vào thành Ca-phác-na-um. Ngay ngày Sa-bát, Người vào hội đường giảng dạy. Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư’. Tác giả hình như quan tâm tới thái độ dân chúng tiếp nhận sứ điệp nhiều hơn là chính nội dung thuyết phục hay sự phong phú của sứ điệp Tin Mừng được rao giảng.

Rõ ràng là như thế khi Mác-cô lập tức tường thuật các công việc đầy từ tâm Đức Giê-su thực hiện như chữa người bị quỉ nhập, chữa nhạc mẫu ông Si-mon, chiều đến chữa mọi kẻ ốm đau bệnh tật mà cả thành  đem đến cho Người…, hầu như để cho thấy tại sao dân chúng có phản ứng tích cực như vậy trước sứ điệp, hay đúng hơn, với con người công bố sứ điệp đó. So với tác giả các cuốn Tin Mừng khác, tác giả cuốn thứ hai này hầu như không chú trọng tới nội dung sứ điệp nhiều cho lắm. Ông dành nhiều giấy mực hơn cho việc tường thuật các hành động chữa lành và yêu thương Đức Giê-su thực hiện. Và tất cả chỉ để minh chứng cho điều mà ông muốn khảng định ngay từ đầu: ‘Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư’.

Thật ra thì dân chúng bình dân thời nào và ở đâu cũng vậy thôi, với trình độ hiểu biết hạn chế họ ‘nghe’ thì ít mà muốn ‘thấy’ nhiều hơn. Đúng hơn, họ là các thính giả có tầm hiểu biết bằng con tim nhiều hơn là bằng trí óc, nhất là trên con đường đi tìm chân lý; trong khi đó các bậc mô phạm hay hiền triết lại có khuynh hướng sử dụng khối óc nhiều hơn con tim. Các hành động chữa lành đầy từ tâm của Đức Giê-su đánh thẳng vào con tim của thính giả bình dân và chinh phục họ; trong khi các thính giả tri thức như các luật sĩ, biệt phái và kinh sư lại chỉ tìm đến để nghe thuyết pháp, để tìm lý luận, rồi sau đó thi nhau đem ra phân tích mổ xẻ, và tìm lỗi bắt bẻ, chính vì vậy mà các tranh luận căng thẳng giữa họ với Đức Giê-su đã không ngừng nổ ra. Đối với dân chúng, sứ điệp của Đức Giê-su quả là một Tin Mừng, vì nó làm cho con tim của họ được an bình no thỏa, trước khi làm trí óc họ được say mê. Trong thẳm sâu cõi lòng, họ hằng khao khát tìm thấy một Đấng Mét-si-a nhân ái, đầy từ tâm và xót thương, gần gũi với nỗi thống khổ yếu hèn của con người hơn. Đó chính là lý do để mà, trong tất cả sự chân thành mộc mạc họ chân nhận cách thẳng thắn và đơn sơ: ‘Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền’ hơn hẳn các kinh sư và Biệt Phái.

Suy niệm trên đây, tuy đơn giản thật nhưng lại có tầm quan trọng lớn đối với hết thảy mọi người chúng ta, nhất là đối với các linh mục của Đức Ki-tô.

–   Quan trọng đối với đời sống thiêng liêng, vì là một tu sĩ linh mục, tôi luôn có nguy cơ xa rời sự nhạy cảm thiêng liêng của người bình dân. Không biết từ khi nào suy luận triết thần đã hoàn toàn chiếm lĩnh đầu óc và suy nghĩ của linh mục. Tôi quan tâm tới hiểu biết và lý luận nhiều tới độ không còn thời giờ để lắng nghe khát vọng thầm kín của chính con tim mình cũng như của người bình dân; kết quả là Tin Mừng đối với tôi phải là chân lý hơn là lòng nhân ái. Và quả thực rất ít khi trong đời sống thiêng liêng tôi dành thời giờ và nỗ lực để nhận ra cái ‘thẩm quyền’ này của Tin Mừng phải tác động trên chính tôi trước hết!

–   Quan trọng đối với việc mục vụ: suy niệm trên đưa tôi tới nhận thức sau đây: trước một cộng đoàn phụng vụ, các bải giảng của tôi có được ‘thẩm quyền’ Tin Mừng chỉ khi nào chúng quảng diễn được lòng xót thương cứu độ của Thiên Chúa. Trong thực tế nó đã bị chi phối quá nhiều bởi các kiến thức thần học – luân lý, hay các dẫn chứng mang tính biện giáo. Ngay khuôn mặt Hội Thánh hoặc nội dung Tin Mừng mà tôi trình bày cũng thường khi còn quá mô phạm và nghiêm khắc. Biết bao giờ dung mạo từ nhân tha thứ của Đức Ki-tô mới được sáng tỏ để các tín hữu có thể chiêm ngắm tỏ tường cách mãn nguyện?

Lạy Chúa, đúng là những kẻ bé mọn nhận biết Chúa rõ ràng hơn các bậc khôn ngoan thông thái. Xin đừng để học vấn và hiểu biết làm cho con, linh mục của Chúa, không nhận ra nổi ‘thẩm quyền’ đích thực của Tin Mừng Chúa. Cũng xin làm cho lời rao giảng của Hội Thánh được nhiều người lắng nghe bằng con tim và qua đó nhận ra Chúa thật gần gũi và xót thương hết thảy mọi người. A-men.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 4 THƯỜNG NIÊN_B

Lm. Giuse Đinh Tất Quý

 “Người giảng dạy như một Ðấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư.”(Mc 1,22) 

Trong cuộc sống có một số người được Thiên Chúa ban cho một sự hấp dẫn làm cho những người khác muốn đi theo mình. 

Vua Napoléon xưa là một thí dụ. Có lần ông đã tự hào nói về mình như thế này: “Người ta chỉ cần nhìn ánh sáng nơi mắt của tôi, nghe âm giọng của tôi và chỉ cần nghe một lời từ miệng tôi nói ra thì lập tức ngọn lửa linh thiêng sẽ bùng cháy lên trong lòng họ. Thực sự tôi đã nắm được bí quyết của một năng lực ma thuật có thể lay chuyển được tâm hồn những người khác”

Quả đúng là Napoléon đã chiếm hữu được quyền năng ấy. 

Nhưng rồi cũng chính ông ta đã thích thú thêm vào những lời lẽ đầy tự hào trên câu này: “Đức Kitô cũng đã có được quyền năng ấy nhưng ở một cấp độ vô cùng to lớn hơn” 

Chúng ta không có được cái diễm phúc sống vào thời đại của Chúa Giêsu 

– để được thấy cái nhìn của Chúa 

– để được nghe những âm kỳ diệu từ miệng Chúa nói ra 

– để được nghe thấy những lời rất ngọt nào nhưng đôi khi cũng rất đanh thép của Chúa Giêsu. 

– để được thấy cách Chúa cư xử 

– để được cảm nghiệm thấy một sức lôi cuốn đến lạ lùng của Chúa…một sự lôi cuốn mà những người khác không ai có được. 

Chúng ta không có phúc nhưng có những người khác đã có phúc. Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại: Sau khi được nghe Chúa giảng họ đã có cảm nghĩ như thế này: “Người giảng dạy như một Đấng có uy quyền chứ không như những luật sĩ”(Mc 1,27) 

Tại sao thế? 

Vậy lời dạy dỗ của Chúa Giêsu khác với lời dạy dỗ của các luật sĩ. 

Khác ở chỗ nào? Vì Ngài giảng dạy cách có quyền. 

Các luật sĩ không ai có được uy quyền như Chúa. 

Họ không có quyền để tự quyềt định một điều gì cả. Những điều họ dạy, họ nói đều phải “căn cứ theo những lời dạy có sẵn trong luật” . 

Gặp một điều gì không có trong luật hay có nhưng chưa được rõ ràng thì họ phải cậy dựa vào những bậc thầy về luật pháp mà thiên đã coi trọng trong quá khứ tức là những tập tục của tiền nhân để giải quyết. 

Việc cuối cùng mà họ chẳng bao giờ làm được là đưa ra một phán đoán có tính cách cá nhân, độc lập. 

Rõ ràng là họ khác xa với Chúa Giêsu. 

Còn Chúa khi Chúa giảng dạy, Ngài nói như trên Ngài không có một quyền nào khác cao hơn nữa. “Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy”(Mt 28,18) 

Ngài hoàn toàn độc lập khi phát biểu. 

Ngài không trích dẫn, không dựa vào quyền uy của một chuyên viên nào cả, Ngài nói bằng giọng dứt khoát của chính Thiên Chúa. 

Dân chúng khi nghe những lời giảng dạy như vậy thì chẳng khác nào họ được hưởng một làn gió dịu mát từ Thiên Đàng thổi tới. Những lời lẽ hết sức khẳng định và tích cực của Chúa Giêsu trái ngược hẳn lời trích dẫn của các luật sĩ của người Do thái 

Giọng nói đầy uy quyền với sắc thái cá nhân cứ ngân vang, và chính giọng nói ấy đã bắt người nghe phải qui phục. 

a/ Như vậy chúng ta thấy vì các luật sĩ chỉ là những con người cho nên họ chỉ có thể gây cho người khác sự phấn kích – chỉ có thể ảnh hưởng về tâm lý. 

Còn Chúa thì khác. Ngài là Đấng thánh của Thiên Chúa. Chính ma qủi cũng phải run sợ mà thốt lên: “Hỡi Ông Giêsu Nagiareth, giữa chúng tôi và Ông có chuyện gì – Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao? Chúng tôi biết Ông là ai rồi – Là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Mc 1,24) cho nên lời dạy của Chúa đầy ắp uy quyền, điều đó cũng không lạ lùng gì. 

b/ Các luật sĩ chỉ là những con người, cho nên họ chỉ có thể 

– hâm nóng nhiệt tình 

– kích động lòng hăng say 

– khơi dậy niềm cảm xúc 

– kích thích trí tưởng tượng 

Họ không thể ban năng lực và sức mạnh riêng của họ cho người khác. 

Nếu thực sự có một sự thay đổi nào nơi những người nghe họ thì sự thay đổi đó không phải là do họ mà là do năng lực và gắng sức của những người nghe. 

+ Còn đối với Chúa thì sao? 

Thật hoàn toàn khác xa

Chúa có thể đặt tinh thần của Ngài vào trong mỗi người

Chúa có thể chia sẻ quyền năng của Ngài cho họ

Chúa có thể bước vào tâm trí người ta để giúp người ta làm được những điều mà tự sức họ họ không thể nào làm được.

Đây là câu chuyện của thánh Grêgôriô Tử Đạo năm 1314:

Nhà Vua cho xiềng xích và giam ngài vào ngục.

Ngài coi như không có chuyện gì xẩy ra.

Nhà Vua cho cột ngài vào bánh xe có mũi nhọn và dao bén rồi cho xoay vòng.

Ngài vẫn hân hoan vui sướng.

Nhà vua truyền ném ngài vạc dầu sôi,

Chúa đã làm phép lạ để cứu ngài.

Thấy nhục hình đều vô hiệu, nhà vua thay đổi chiến thuật….dụ ngọt rồi khuyên nhủ.

Thánh nhân xin được đưa đến đền thờ.

Tưởng là thành công cho nên nhà vua cho triệu tập dân chúng lại, dọn sẵn lễ vật cho Grêgôriô dâng kính các ngẫu thần.

Grêgôriô đến trước tượng thần Appolo và nói: 

– Ngươi có phải là Thiên Chúa để cho chúng tôi dâng lễ vật không? 

– Không! Tôi không phải là Thiên Chúa. 

Grêgôriô làm dấu Thánh giá và tượng thần sụp đổ vỡ ra tan tành từng mảnh trước mặt mọi người. 

Mọi người run sợ. Để khỏi mất mặt với thần dân, nhà vua cho chém đầu thánh nhân.   

Vâng, đúng là như thế. Và đó là cái khác to lớn giữa Chúa và người con người …luật sĩ hay bất cứ một nhà lãnh đạo nào với Chúa Giêsu

C- Phần ta 

Làm sao mà cuộc sống của tôi được trở nên tốt hơn?. 

Trong một thiên khảo luận, Ralp Waldo Emerson có ghi: “Điều cần thiết chính yếu trong cuộc sống của mỗi người chính là tìm được một ai đó có khả năng giúp ta làm được những gì ta muốn làm” 

Và những lời sau đây nữa: có nhiều việc ta muốn làm nhưng 1/2 việc đó là ta muốn làm cho cuộc sống của ta có một ý nghĩa và được sống thực sự hạnh phúc hơn. 

Nhưng thử hỏi: Ai?

Không ai khác ngoài Chúa Giêsu 

Nhưng làm sao để ta có thể có được Ngài? 

Điều duy nhất mà Chúa không thể làm được cho ta đó là Ngài không thể cởi mở tâm hoàn cho ta nếu ta không muốn. 

Nhìn hình ảnh của Ngài ở giữa đám đông quần chúng vây quanh – dọc theo bờ biển – Edward Farrel đã phải thốt lên những lời như thế này: “Người là ai? Trông sáng ngời đến kinh khiếp – đang nhìn chúng tôi bằng đôi mắt mỏi mòn, đôi mắt như tìm kiếm chính linh hồn chúng tôi. Người là ai mà thấy được tư tưởng, đọc được tâm hồn sâu kín của chúng tôi bằng ánh mắt yêu thương, thông suốt…như muốn nói rằng: “Ta chẳng muốn gì ngoài bản thân của con” 

Vâng hãy để Chúa chiếm lĩnh tâm hồn bạn chiếm lĩnh một cách trọn vẹn, bạn sẽ thấy được được những điều kỳ diệu mà Ngài làm cho bạn, đẹp đến tuyệt vời. Amen.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 4 THƯỜNG NIÊN_B.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay hướng chúng ta về Đức Giêsu chính là vị ngôn sứ ưu việt mà ông Môsê đã tiên báo cho dân tộc Israel ở trong sa mạc:“Từ giữa anh em, Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ để giúp anh em”.

Trong Tin mừng, thánh sử Marco trình bày Đức Giêsu là một Đấng rất uy quyền trong lời nói cũng như trong hành động: “Người giảng dạy như Đấng có uy quyền, chứ không như các kinh sư” (Mc, 1, 21).

– Uy quyền trong lời nói, vì lời rao giảng của Đức Giêsu là tin mừng giải thoát con người khỏi tội lỗi và sự chết. Lời nói của Ngài rất thực tế và hấp dẫn có thể thay đổi tâm hồn con người, biến cải con người nên thánh thiện đạo đức. Hơn nữa những gì Chúa rao giảng thì Chúa đã thực hành trong cuộc sống chứ không như các kinh sư “nói mà không làm; nói một đàng làm một nẻo”. Điều này đã được dân chúng, các thính giả của Ngài xác nhận; “Ngài giảng dạy người ta như một Đấng có uy quyền”.

– Uy quyền trong hành động, lời giảng dạy của Chúa Giêsu kèm theo các phép lạ, cụ thể qua việc Chúa chữa người bị quỷ ám. Hơn nữa chính ma quỷ phải công nhận “Đức Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Trước lời rao giảng và phép lạ trừ quỷ thì “dân chúng kinh ngạc về giáo lý của Người… Ngài dùng uy quyền mà trừ thần ô uế”.

Lời giảng của Đức Giêsu là giáo lý mới mẻ! Sự mới mẻ đó làm cho người ta tin nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, làm cho danh tiếng Người lan tràn khắp vùng lân cận Galilê.

Lời giảng của Đức Giêsu là “lệnh truyền cho cả các thần ô uế và chúng phải vâng theo” (Mc 1, 27). Chính thái độ vâng phục của ma quỷ trước uy quyền của Chúa Giêsu, đã nói lên thời cứu độ đã tới, thời đại của Đấng Thiên Sai đã đến.

Là tín hữu Kitô, chúng ta cần học hỏi, suy niệm và sống Lời Chúa để khám phá ra sự mới mẻ của Lời Chúa, đồng thời nhạn ra quyền năng của Chúa bày tỏ trong vũ trụ vạn vật để ca tụng ngợi khen và yêu mến Chúa.

Coutois khẳng định: “Nếu chúng ta khiêm tốn sống Lời Chúa trong môi trường của mỗi người, chúng ta sẽ âm thầm trở nên “muối men” cho cả nhân loại vì “ánh sáng” của những người sống lời Chúa chiếu tỏa xa hơn người ta tưởng rất nhiều”.

Tokichi Ishii, một tên sát nhân không gớm tay đã đạt kỷ lục hạ sát nhiều nạn nhân nhất bằng những phương thế dã man không thể tưởng tượng nổi. Hắn tàn sát đàn ông, phụ nữ, trẻ em với bàn tay khát máu, hắn đã thủ tiêu bất cứ người nào tình cờ hắn gặp và muốn giết. Nhưng cuối cùng hắn bị bắt và bị kết án tử hình.

Lúc ở nhà tù chờ ngày hành quyết, hai phụ nữ công tác tông đồ khuyên nhủ hắn, tất cả những lời thăm hỏi, trò chuyện của họ không làm cho hắn mảy may động tâm, trái lại hắn nhìn thẳng vào họ với cặp mắt dữ tợn như một hung thủ.

Cuối cùng, mất hết kiên nhẫn, hai phụ nữ ra về. Họ chỉ để lại cho hắn cuốn Tân ước với hy vọng mỏng manh hắn sẽ đọc và Lời Chúa sẽ hoạt động… Niềm hy vọng đã trở thành sự thật. Ishii đã đọc, Lời Chúa thu hút anh khiến anh tiếp tục đọc trình thuật cuộc tử nạn của Chúa Giêsu… Đọc đến câu: “Lạy Cha, xin Cha tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”! (Lc 23, 34), anh dừng lại, suy nghĩ. Anh tâm sự: “Đọc đến câu này, con tim tôi bị đánh động, bị đâm thâu bằng một con dao dài. Tôi có thể gọi đó là tình yêu của ông Giêsu, là lòng thương xót của Ngài. Điều duy nhất tôi biết là sự hung dữ, tàn bạo nơi tôi đã tan biến và tôi đã tin vào Chúa”.

Các nhân viên nhà giam dẫn đưa anh đi hành quyết, họ rất ngạc nhiên thấy tử tôi Ishii hòa nhã, lễ độ, chứ không phải một tên sát nhân hung bạo. Ishii, tên tử tội đã được lời Chúa tái sinh. (Trích Lẽ Sống, Radio Veritas)

“Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước

Là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119, 105).

Về mục lục

.

UY QUYỀN CHỈ CÓ Ý NGHĨA NHỜ LỐI SỐNG KHIÊM TỐN

Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển

Là người Công Giáo Việt Nam, hẳn đa số ai cũng biết đến Đấng Đáng Kính, Đức Hồng Y Phanxicô X. Nguyễn Văn Thuận. Ngài là vị Hồng Y đặc biệt được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mời giảng tĩnh tâm cho Giáo Triều dịp Mùa Chay năm thánh 2000. Ngoài sự trổi vượt về đời sống đạo đức, ngài còn là một vị giảng thuyết hết sức lôi cuốn đối với rất nhiều thành phần trong Giáo Hội, nhất là giới trẻ. Người ta đã coi ngài như là một người đầy quyền uy trong lời nói và việc làm!

Lý do Đức Hồng Y được người ta ca tụng như vậy, ấy là bởi vì ngài đã luôn sống yêu thương. Ngài sẵn sàng tha thứ cho những người coi ngài là kẻ thù và làm hại mình. Mặt khác, cuộc sống đơn sơ, giản dị, khiêm nhường, ngôn hành như nhất đã làm cho uy tín của ngài ngày càng lan rộng!

Tin Mừng hôm nay cũng thuật lại câu chuyện Đức Giêsu vào Hội đường Dothái và giảng dạy. Ngài giảng dạy khác hẳn với những Kinh Sư thời bấy giờ, khiến ai nấy trong Hội đường trầm trồ khen ngợi: “Ông này giảng dạy như một Đấng có uy quyền”.

Lý do tại sao Đức Giêsu được người ta khen ngợi như vậy? Đâu là điều làm cho Ngài trở nên Đấng có uy quyền trong lời nói và hành động? Và, chúng ta học được bài học gì qua phụng vụ Lời Chúa hôm nay?

  1. Ngôn hành bất nhất nơi các Kinh sư

Tin Mừng hôm nay không nói về việc Đức Giêsu giảng gì. Cũng chẳng nói lời giảng của ngài khác với những lời giảng của những nhà thông luật thời bấy giờ ra sao! Tuy nhiên, muốn hiểu được tại sao: thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Đức Giêsu và không ngớt khen ngợi điều mới lạ nơi Giáo lý của Ngài, đồng thời không ngừng tuyên xưng về quyền uy của Đức Giêsu… (x. Mc 1, 22-28), chúng ta cần hiểu về hai cách sống, hai cung cách, hai lối giảng giữa Đức Giêsu và những Kinh sư.

Vào thời bấy giờ, người Dothái luôn coi trọng các Kinh sư, bởi vì họ là những người nắm luật, là thành phần được ngồi trên “ngai tòa Môsê” để giáo huấn. Chính vì lý do đó, nên những người này được dân chúng coi trọng và tin tưởng.

Tuy nhiên, Đức Giêsu lại không chấp nhận những điều họ làm, bởi vì ngôn hành bất nhất. Thế nên, đã nhiều lần, Ngài lên tiếng thẳng thắn nói với dân chúng về điều trái khuấy của những Kinh sư này, Ngài nói: “… những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm” (Mt 23, 3). Lần khác, Đức Giêsu đã phân tích sự khập khiễng, mâu thuẫn giữa lời nói và hành động của những Kinh sư, bởi vì: “Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào. Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy […], nào là đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài, ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là “rápbi” (x. Mt 23, 4-7).

Chẳng những thế, chính Đức Giêsu đã chỉ thẳng mặt và vạch trần tội ác của họ khi nói: khốn cho các người, hỡi các Kinh sư giả hình! Các người không muốn vào nhà, nhưng lại khóa cửa không cho ai vào. Nào là sẵn sàng nuốt tài sản của bà góa nghèo. Giả bộ đạo đức…. (x. Mt 23, 13-14). Các ngươi giống như “… mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế, toàn là giả hình và gian ác! (x. Mt 23, 27-28

Như vậy, họ là những người đáng trách và không có uy quyền trong dân, bởi vì tất cả những điều họ làm không xuất phát từ lòng tôn kính Thiên Chúa, mà là muốn được phô trương thanh thế bề ngoài, còn tâm hồn thì rỗng tuếch!

2. Ngôn hành như nhất nơi Đức Giêsu

Ngược lại, nơi Đức Giêsu, khởi đi từ mục đích của Ngài xuống trần gian là để loan báo ơn cứu độ, băng bó những tâm hồn đau thương, an ủi kẻ âu lo, chữa lành bệnh tật, giải thoát con người khỏi tội lỗi, nhất là dạy dỗ dân chúng và vạch ra cho họ con đường đưa đến hạnh phúc đích thực là Nước Trời. Không những thế, Ngài luôn mang trong mình lòng xót thương của Thiên Chúa, nên đã đứng về phía những người đau khổ, nghèo khó, cô thế cô thân, những người bị áp bức, bóc lột để bênh vực họ….

Vì thế, từng lời Ngài dạy, từng việc Ngài làm đều ăn khớp với nhau và toát lên tấm lòng mục tử đầy nhân hậu, luôn “ngửi thấy” và “mang trong mình mùi chiên” để cứu chuộc nhân loại khổ đau.

Điểm khác biệt này chúng ta còn nhận thấy, đó là nơi các Kinh sư, những điều họ dạy, họ nói đều phải “căn cứ theo những lời dạy có sẵn trong luật”, còn nơi Đức Giêsu, tất cả “mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Ngài (x. Mt 28,18) vì Ngài là Đấng Thánh của Thiên Chúa.

3. Bài học cho chúng ta hôm nay

Ngày nay, rất nhiều người trong chúng ta đang tìm cách tô vẽ lên con người mình cũng như lựa chọn cung cách ứng xử chẳng khác gì các Kinh sư! Biết bao lần chúng ta loay hoay tìm đủ mọi cách để tô đậm chất tố “kinh sư thời hiện đại” ngay trên con người của mình, để thể hiện uy quyền với anh chị em xung quanh.

Thế nhưng, sứ điệp Lời Chúa hôm nay dạy cho chúng ta bài học vô cùng quý giá, đó là: uy tín không hẳn đến từ những lời nói hay, ngon ngọt. Lại càng không phải đến từ những người trong đầu chứa đầy kiến thức, và, hoàn toàn không phải đến từ những kẻ giả hình!

Ngược lại, uy tín và uy quyền lại đến từ những người chân thật, đơn sơ, hiền lành, khiêm nhường. Cuộc đời của Đức Giêsu và câu chuyện về Đức Hồng Y Phanxicô X. Nguyễn Văn Thuận đã chứng minh cho chúng ta thấy rõ điều đó.

Thật vô cùng ảo tưởng khi củng cố quyền lực bằng những chuyện khua chiêng gõ trống bên ngoài hay bằng tiền bạc hoặc bằng việc củng cố quyền lực qua những thói kêu ngạo giả hình….

Quả thật, uy quyền chỉ có thể thực sự hữu ích cho mình và cho tha nhân khi nó được đặt trong tâm thế của người phục vụ cách vô vị lợi chứ không phải để “ăn trên ngồi trốc” như giới Kinh sư.

Mong sao mỗi người chúng ta khi đã hiểu được sức mạnh, uy quyền của sự khiêm nhường, đơn sơ, ngay thật và thẳng thắn, chúng ta luôn sống điều đã thấy, tin điều đã cảm nghiệm và rập đời sống chúng ta theo mẫu gương của Đức Giêsu, để ngang qua cuộc sống và các mối tương quan hằng ngày nơi mỗi người, uy quyền của Thiên Chúa ngày càng được nhiều tôn nhận và Danh Chúa ngày càng được nhiều người biết đến. Amen.

Về mục lục

.

VÁC ĐỜI

Trầm Thiên Thu

VÌ MẾN TIN CÙNG CHÚA ÔM THẬP GIÁ

BỞI LẦM LỖI TỰ MÌNH VÁC CUỘC ĐỜI

Một định luật bất biến đã được chính Chúa Giêsu minh định: “Ai muốn theo Tôi, phải TỪ BỎ chính mình, VÁC thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9:23). Hai động từ với hai hành động trái ngược: Bỏ cái này để lấy cái kia. Nghe chừng rất đơn giản nhưng lại khá nhiêu khê! Tuy nhiên, theo Chúa là hành động tiên quyết mà mỗi người Kitô giáo phải thực hiện mọi ngày trong suốt cuộc đời mình. Nhưng cái gì cũng có điều kiện nhất định!

Cuộc sống không hề đơn giản, tức là khó và phải nỗ lực không ngừng, nhưng con người không phải cố gắng chiến đấu một mình. Kinh Thánh cho biết: “Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ để giúp anh em, hãy nghe vị ấy” (Ðnl 18:15). Đó là người được sai đi, chấp nhận lời sai đó tức là chấp nhận bước theo Chúa, đi theo thì phải hành động tích cực, không thể thụ động.

Và Ngài còn động viên: “Ta sẽ đặt những lời của Ta trong miệng người ấy, và người ấy sẽ nói với chúng tất cả những gì Ta truyền cho người ấy. Kẻ nào không nghe những lời của Ta, những lời người ấy nói nhân danh Ta thì chính Ta sẽ hạch tội nó”(Ðnl 18:18-19). Ngài không hề hù dọa, mà đó chính là công lý và công bình. Mỗi người đều có trách nhiệm rao truyền và làm chứng nhân của Thiên Chúa. Trách nhiệm thì phải làm, không làm thì có tội. Thật vậy, chính Ngài đã cảnh báo: “Ngôn sứ nào cả gan nhân danh Ta mà nói lời Ta đã không truyền cho nói, hoặc nhân danh những thần khác mà nói thì ngôn sứ đó phải chết” (Ðnl 18:20).

Thánh Vịnh gia tha thiết mời gọi: “Hãy đến đây ta reo hò mừng Chúa, tung hô Người là Núi Đá độ trì ta, vào trước Thánh Nhan dâng lời cảm tạ, cùng tung hô theo điệu hát cung đàn” (Tv 95:1-2). Không chỉ vậy, chúng ta còn phải “cúi mình phủ phục, quỳ trước tôn nhan Chúa là Đấng dựng nên chúng ta, vì chính Người là Thiên Chúa chúng ta tôn thờ, là dân Người lãnh đạo, là đoàn chiên tay Người dẫn dắt” (Tv 95:6). Đặc biệt và cấp bách hơn: “Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa, đừng cứng lòng!” (Tv 95:7-8). Thời điểm là hiện tại, không phải là quá khứ hoặc tương lai. Đó là lời cảnh báo nhưng cũng chính là Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, bởi vì Ngài vẫn kiên trì chờ đợi chúng ta trở về, cứ hết ngày dài lại qua đêm thâu.

Cuộc sống có nhiều thứ khiến chúng ta lo lắng, thế nên phải biết khéo léo buông hoặc giữ cái gì để giữ cân bằng tâm sinh lý. Một trong nhiều cách đó là tạo “khoảng riêng” để tách mình ra khỏi cuộc đời xô bồ. Chắc chắn “khoảng sa mạc” trong tâm hồn rất cần thiết để có thể lắng nghe Tiếng Chúa. Thánh Phaolô đã nói rõ: “Tôi muốn anh chị em không phải bận tâm lo lắng điều gì” (1 Cr 7:32). Với nguyên nhân và mục đích rất cụ thể: “Đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa: họ tìm cách làm đẹp lòng Người. Còn người có vợ thì lo lắng việc đời: họ tìm cách làm đẹp lòng vợ, thế là họ bị chia đôi. Cũng vậy, đàn bà không có chồng và người trinh nữ thì chuyên lo việc Chúa, để thuộc trọn về Người cả hồn lẫn xác. Còn người có chồng thì lo lắng việc đời: họ tìm cách làm đẹp lòng chồng” (1 Cr 7:33-34). Đó là hai cách thức khác nhau mà mỗi người có quyền tự do chọn lựa – bỏ cái này để lấy cái khác, chỉ có thể chọn một trong hai.

Khi nghe nói vậy, chắc chắn người đời không thể tin và không thể chấp nhận với tầm nhìn của phàm nhân bình thường, bởi vì những điều đó “không bình thường” chút nào và rất “ngược đời”, phải có tầm nhìn của đức tin mới khả dĩ chấp nhận mà hành động. Thánh Phaolô biết đó là những điều “khó nghe” mà lại rất thật, cho nên ông phân trần: “Tôi nói thế là để mong tìm ÍCH LỢI CHO ANH CHỊ EM, tôi không có ý GÀI BẪY anh chị em đâu, nhưng chỉ muốn đề nghị với anh chị em một điều tốt, để anh chị em ĐƯỢC GẮN BÓ CÙNG CHÚA mà không bị giằng co” (1 Cr 7:35). Và đó cũng là lời động viên dành cho mỗi chúng ta.

Cuộc sống vốn dĩ nhiêu khê nên luôn có những điều khó chọn lựa. Có lần Chúa Giêsu đã phân tích: “Người tốt thì lấy ra cái tốt từ kho tàng tốt của lòng mình; kẻ xấu thì lấy ra cái xấu từ kho tàng xấu. Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra” (Lc 6:45). Lần khác, Ngài lại xác định: “Kho tàng của anh em ở đâu thì lòng anh em ở đó” (Lc 12:34). Theo nghĩa bình thường, kho tàng là tiền bạc, của cải hoặc vật chất, là những gì mình sở hữu. Cũng chính “kho tàng” đó có thể là chướng ngại vật trên hành trình theo Chúa. Điển hình là thanh niên nọ đến hỏi Chúa Giêsu về cách trở nên hoàn thiện, Chúa Giêsu bảo về bán tài sản và cho người nghèo, anh ta nghe vậy thì buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải (x. Mt 19:16-22; Mc 10:17-22; Lc 18:18-23).

Quả thật, sức hấp dẫn của vật chất rất mạnh, mạnh đến nỗi người ta gọi đó là ma lực. Người ta gọi thần tiền bạc là “thần tài”. Vật chất là một loại “thần” – thường mang nghĩa không tốt, vì nó có thể khiến người ta mê muội, mù quáng, mất cả nhân tính mà trở thành mưu mô và độc ác. Hàng ngày vẫn có nhiều vụ giết người dã man để cướp của đã xảy ra. Các “thần xấu” đó là các loại thần ô uế làm “biến chất” con người từ ngoài vào trong.

Rất nhiều vụ án dã man đã và đang xảy ra nơi này hoặc nơi kia, thậm chí có những vụ giết người cướp của đã xảy ra ngay trong các mối quan hệ ruột thịt gia đình. Những kẻ thủ ác là những người thuộc mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, có kẻ vẫn còn ở độ tuổi thiếu niên, và chuyện xích mích đôi khi chỉ là chuyện nhỏ, đúng như người ta nói “có bé xé ra to” hoặc “có ít xít ra nhiều”. Điều đó cho thấy rằng lòng người ta rất nhỏ mọn và luôn có “lửa” oán thù, chỉ cần chút gió là nó cháy bùng lên ngay. Thật là kinh khủng quá!

Trình thuật Mc 1:21-28 (Lc 4:31-37) đề cập sự đối đầu giữa Thiện và Ác, giữa Chúa Giêsu và thần ô uế. Một hôm nọ, trong hội đường có một người bị thần ô uế nhập, người này “chịu không nổi” nên đã phải la to: “Ông Giêsu Nadarét, chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa!” (Mc 1:24). Mắt phàm nhân chưa nhận ra nhưng “thần ô uế” đã nhận ra Chúa Giêsu là ai. Tuy nhiên, Ngài liền quát mắng nó: “Câm đi, hãy xuất khỏi người này!” (Mc 1:25).

Chắc chắn ma quỷ không hề muốn ra khỏi “lãnh địa” mà nó đang chiếm giữ, thế nhưng nó vẫn phải tuân lệnh Chúa Giêsu. Rõ ràng Chúa Giêsu có quyền trên mọi thứ và mọi loài, cả hữu hình và vô hình. Ma quỷ không muốn quy phục Đấng Thiên Sai của Thiên Chúa nhưng nó vẫn phải vâng lời, thậm chí nó còn phải trình diện Ngài (G 2:1). Nó có thể làm hại người ta nhưng nó “phải tôn trọng mạng sống” của người khác – cụ thể là trường hợp của ông Gióp (G 2:6).

Ngay sau khi “thần ô uế” xuất ra khỏi người kia, mọi người đều kinh ngạc đến nỗi họ bàn tán với nhau: “Thế nghĩa là gì? Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh!” (Mc 1:27-28). Giáo lý mới mẻ và người dạy có uy, lạ lùng lắm, xưa nay chưa hề thấy có ai làm được như vậy. Những người chứng kiến đã nhận xét như vậy thì kể ra cũng lạ thật, nhưng cũng thật đáng khen vì họ có thể mau chóng tiếp thu được cái “mới mẻ” đó. Cuộc sống rất cần tinh thần phục thiện và dễ thích nghi như vậy. Đó cũng là một cách biết bỏ cái không cần thiết để nhận lấy cái cần thiết – đặc biệt là khi “cái cần thiết” đó lại không vừa ý mình.

Điều-cần-thiết-mà-trái-ý-mình chính là “vác thập giá hàng ngày”, điều mà Chúa Giêsu luôn khuyến khích. Ngài có cách động viên cũng chẳng giống ai, rất độc đáo. Thật vậy, C. S. Lewis đã nhận định thế này: “Thiên Chúa thì thầm với chúng ta khi chúng ta vui, nhưng Ngài nói to trong lương tâm của chúng ta khi chúng ta đau khổ. Đúng là “đầu óc bã đậu” của chúng ta không thể nào hiểu nổi, và cũng chẳng bao giờ hiểu thấu, bởi vì chính Thiên Chúa đã xác định: “Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55:9).

Lạy Thiên Chúa là dũng lực của con, xin ban Thần Khí Chúa để con khả dĩ chân nhận Tiếng Chúa trong chính cuộc đời con, xin giúp con mau mắn bước theo Ngài và can đảm hành động đúng Tôn Ý Ngài trong mọi hoàn cảnh sống. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

Về mục lục

.

NGƯỜI GIẢNG DẠY NHƯ MỘT ĐẤNG CÓ UY QUYỀN

Đỗ Công Minh

Lạy Chúa,

Có người nhân xét tin mừng của Chúa gây phiền nhiễu,  Phúc âm của Chúa là một sự quấy rầy. Mới nghe xem ra khó chấp nhận. Đã gọi là Tin mừng, là Phúc âm sao lại có thể như thế ? Nhưng qua đoạn trích bài Tin Mừng thánh Maccô hôm nay, con phần nào hiểu được điều này. Quả thật, theo trình thuật thì tại Các- pha- na- um nhân ngày Sa-bát, Chúa đã vào hội đường giảng dạy. “Thiên hạ sửng sốt về lời gỉang dạy của Người, vì Người giảng dạy như một đấng có uy quyền, chứ không như các kinh sư “. Và chính trong bối cảnh đó, một người bị thần ô uế nhập đã lên tiếng phản đối:“chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi”.

Ngày hôm nay, trên thế giới này không ít những người bài bác Giáo lý của Chúa. Nhiều triết gia thuộc nhiều trường phái khác nhau, vô tín hay không, tìm mọi lý lẽ để loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi đời sống xã hội. Đã có người khẳng định “Thiên Chúa đã chết “ để được tự do hành động như các thần ô uế. Lũng đoạn thế giới này, lôi kéo con người rời xa Thiên Chúa, từ khước tình yêu của Người với nhân loại, và thậm chí tìm mọi cách phản bác, tiêu diệt Lời Người. Những chuyện như thế đã có từ thời tạo thiên lập địa, khi con người bày tỏ thái độ thách đố, kiêu căng chống lại Thiên Chúa ngay trong vườn địa đàng.

Sống trong một xã hội với biết bao cạm bẫy của ma quỉ: tiền tài , sắc dục, địa vị, quyền lợi, đam mê thế tục khiến con nhiều phen bị chao đảo. Ma quỉ luôn luôn tìm mọi cách để lôi kéo con rời xa tình yêu thương của Thiên Chúa, chúng cho rằng chuyện trần gian không can chi đến chuyện trên trời. Thiên Chúa không thể can thiệp vào cuộc sống con người vì Người tôn trọng tự do, quyết định của mỗi người. Những lý lẽ như thế ám chặt vào bản thân khiến con, khiến con trở nên ô uế, bị thần ác ám chặt.

Quả thật nhiều lúc cũng muốn loại Chúa ra khỏi cuộc đời con. Không dám đối diện với Lời Chúa, bởi qua lời Chúa con phải biết bỏ những thói xấu, những đam mê tội lỗi. Con phải biết sống xả kỷ, không chỉ nghĩ đến mình, gia đình mình, những người mình yêu mến, mà phải mở lòng ra với hết mọi người như Chúa đòi hỏi: Yêu thương tha nhân như chính mình. Những điều đó quả là khó khăn cho con. Con chỉ muốn thong dong làm điều mình thích bất kể điều đó có hợp đạo lý? Con chỉ muốn thỏa mãn ý riêng mình mà bất chấp Lời Chúa mong muốn con nên trọn lành như Cha trên trời.. . Trong khi đó theo Chúa là phải phấn đấu bước vào cửa hẹp, phải biết từ bỏ mình, vác thập giá hàng ngày mà theo. Đi theo con đường ấy, cánh cửa ấy mỗi người chúng con sẽ được sự bình an của Chúa, được hạnh phúc ngay từ cuộc sống này.

Xin cho con luôn biết tự hối, biết nhận ra Lời Chúa là lời hằng sống, là ngọn đèn soi cho con bước, để con luôn biết lắng nghe Lời Người, sống Lời Người và đem ra thực hiện Lời trong cuộc sống, vì “Lời giảng dạy thì mới mẻ, người giảng dạy lại có uy quyền “.

Xin Chúa chữa lành bệnh tật Linh hồn con, trục thần ô uế ra khỏi con người yếu đuối của con để con mạnh dạn lớn tiếng tung hô Chúa như những người theo Chúa ngày xưa. AMEN

Về mục lục

.

CHÚA GIÊSU LÀ THẦY DẠY VÀ LÀ ĐẤNG TRỪ QUỶ

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

Lập tức danh tiếng Người đồn ra mọi nơi,

khắp cả vùng lân cận miền Ga-li-lê.

I. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (1,21-28):

(21) Tại thành Ca-phác-na-um, ngày sa-bát, Đức Giê-su vào hội đường và giảng dạy. (22) Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư.

(23) Lập tức, trong hội đường của họ, có một người bị thần ô uế nhập, la lên (24) rằng: “Ông Giê-su Na-da-rét, chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa !” (25) Nhưng Đức Giê-su quát mắng nó: “Câm đi, hãy xuất khỏi người này!” (26) Thần ô uế lay mạnh người ấy, thét lên một tiếng, và xuất khỏi anh ta. (27) Mọi người đều kinh ngạc đến nỗi họ bàn tán với nhau: “Thế nghĩa là gì? Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh!” (28) Lập tức danh tiếng Người đồn ra mọi nơi, khắp cả vùng lân cận miền Ga-li-lê.

II. TÌM HIỂU VÀ SUY NIỆM LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (1,21-28):

2.1 Đức Giê-su giảng dậy có uy quyền:

Đức Giê-su giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư. Các kinh sư giảng dậy bằng cách clặp đi lặp lại những lời có sẵn trong sách Luật, không có hồn, không có xác tín, không có đời sống chứng tá đi kèm. Còn Đức Giê-su thì tràn đầy Thần Khí, tràn đầy lòng mến và xác tín cao độ về những lời Người giảng. Vì Người chính là Lời của Thiên Chúa!

2.2 Đức Giê-su trừ quỷ cách hiệu quả:  

Các kinh sư không có khả năng trừ quỷ vì họ thiếu cầu nguyện và ăn chay hãm mình. Còn Đức Giê-su thì tràn đầy Thấn Khí, tràn đầy sức mạnh của Thiên Chúa, siêng năng ăn chay và cầu nguyện không ngừng. Người là Con Một của Thiên Chúa, luôn kết hiệp mật thiết với Cha!

2.3 Dân chúng hết sức thán phục Đức Giê-su:

”Mọi người đều kinh ngạc đến nỗi họ bàn tán với nhau: “Thế nghĩa là gì? Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh!” Lập tức danh tiếng Người đồn ra mọi nơi, khắp cả vùng lân cận miền Ga-li-lê.”  Hệ quả ấy là tất yếu. Nhưng Đức Giê-su không lấy đó làm quan trọng. Quan trọng là Thiên Chúa Cha được tôn vinh và nhiều người được cứu độ.

III. THỰC THI  LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (1,21-28):

3.1 Làm thế nào để lời giảng dậy của chúng ta lôi cuốn, đánh động người nghe?

Các linh mục, các giảng viên các Khóa Thánh Kinh, các giáo lý viên, các bậc cha mẹ và các huynh trưởng cần học với Chúa Giê-su để lời giảng dậy của mình lôi cuốn đánh động người nghe. Nếu chỉ là những lời giảng xuông rỗng tuếch, không có hồn, không sức sống, không xác tín và không đời sống chứng tá đi kèm thì không thuyết phục được giáo dân, học viên, con em mình.

3.2 Làm thế nào để chúng ta chiến thắng ma quỷ?

Ma quỷ chỉ sợ những người sống chay tịnh và cầu nguyện vì những người ấy đầy Thần Khí  và sức mạnh của Thiên Chúa. Chính Chúa Giê-su đã khẳng định trong Phúc âm là chỉ có ăn chay và cầu nguyện, các tông đồ mới cò sức chống trả được Sa-tan.

IV. CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (1,21-28):

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô là Thầy dậy và là  Đấng khử trừ ác thần. Chúng con rất cần đến Chúa, vì chúng con u-mê tăm tối và luôn bị cám dỗ bởi Sa-tan, thế gian và xác thịt. Xin Chúa đến giúp chúng con và ở với chúng con đêm ngày.

Cũng xin Chúa ban sức mạnh cho những lời giảng dậy của chúng con để những người nghe chúng con được tác động.

Con cầu xin Chúa là Đấng hằng sống hằng trị cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần đến muôn ngàn đời. Amen.

Về mục lục

.

ĐẤNG THÁNH CỦA THIÊN CHÚA

JM. Lam Thy

Bài đọc I hôm nay (CN IV/TN-B – Đnl 18, 15-20) nói đến vai trò của ông Mô-sê như một Ngôn sứ lớn đã được Chúa gọi để dẫn dắt Dân Chúa ra khỏi đất Ai Cập, vượt qua Biển Đỏ, đi qua sa mạc gian khổ để trở về quê hương thật của mình là miền đất Chúa đã hứa cho các tổ phụ. Trong cuộc hành trình trở về Đất Hứa, Dân Chúa đã phải trải qua biết bao gian khổ, hy sinh… Trước hết, họ phải từ bỏ nếp sống bình thường ở Ai Cập, phải vượt Biển Đỏ và sau đó vượt qua sa mạc Si-nai mênh mông khô cằn, theo một lộ trình thật dài. Trong cuộc hành trình đó, nhiều lần Dân Chúa chịu đựng không nổi cảnh khổ cực,  đã nổi loạn chống lại ông Mô-sê, và đòi trở lại Ai Cập dù phải sống trong cảnh nô lệ, nhưng còn có đủ ăn. Có lần họ đã định bỏ Chúa để “thờ bò vàng” (Xh 32, 1-5). Tuy nhiên, qua ông Mô-sê, Thiên Chúa vẫn đồng hành với họ, nuôi sống họ bằng man-na, ban cho họ “Mười Giới Răn” để hướng dẫn họ sống xứng đáng những con người “đã được dựng nên theo hình ảnh Chúa”. Mô-sê đã được ơn Chúa nâng đỡ, kiên trì lãnh đạo Dân Chúa, cuối cùng Dân Chúa đã về tới Quê Hương thật của mình, đó là miền Đất Hứa.

Đến bài Tin Mừng (Mc 1, 21-28), thánh sử Mac-cô trình thuật Đức Giê-su giảng dạy tại hội đường Ca-phac-na-um, khiến cho “Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư.” (Mc 1, 22). Làm sao dân Do Thái lại nhận ra được Đức Giê-su giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền? Đó là nhờ họ so sánh Người với các kinh sư. Đối với họ, các kinh sư, luật sĩ là những người có “thẩm quyền” giải thích Lề Luật và sách các ngôn sứ. Nhưng trên thực tế, các kinh sư, luật sĩ chỉ là những người “ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy…Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào. Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là “ráp-bi” (Mt 23, 2-7).

Đức Giê-su thì không như vậy, Người thường đến với những người nghèo khó, bệnh tật, tội lỗi và những lời giảng dạy của Người luôn luôn biểu lộ tình yêu bao la của Thiên Chúa. Nơi Người giảng dạy và làm phép lạ thường là những nơi rất dân dã gắn với đới sống bình dân: bên vệ đường, bên giếng nước hay bên sườn núi hoặc trong nhà những bênh nhân khó nghèo, cô quạnh. Nhưng lần này Người đến hội đường Ca-phác-na-um, ở đó có cả những người trí thức (các kinh sư) và tầng lớp bình dân. Tại đây, thêm một khía cạnh nổi bật của Lời Chúa, qua chính nhận xét của khán thính giả, kể cả đối thủ lợi hại là tà thần, ma quỷ: Lời Chúa luôn đầy quyền năng và có sức mạnh siêu phàm (“Đức Giê-su và các môn đệ đi vào thành Ca-phác-na-um. Ngay ngày sa-bát, Người vào hội đường giảng dạy. Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư. Lập tức, trong hội đường của họ, có một người bị thần ô uế nhập, la lên rằng: “Ông Giê-su Na-da-rét, chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi: Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa.” – Mc 1, 21-24).

Sống ở đời, chắc chắn không ai là không có lúc gặp phải những vấn đề khó khăn nan giải. Đối tượng gây ra những vấn đề đó có thể do người khác, có thể do chính mình tự gây ra, hoặc bị ảnh hưởng bởi môi trường hay bối cảnh lịch sử. Những khó khăn thử thách do con người gây ra với nhau hoặc do thiên nhiên, lịch sử tác động cũng đã có quá nhiều trường hợp bản thân không thể vượt qua, không thể chống đỡ, thậm chí có thể trở thành nạn nhân. Đó là chưa kể không ít những trường hợp do ma quỷ tác động, ngoài tầm tay với của con người, thì chỉ có nước “bó tay.chấm.com”. Trước những vấn đề nan giải ấy, con người phải làm gì?

Câu trả lời chỉ có một: Hãy đến với Thiên Chúa, vì Người là Đấng có uy quyền, Lời Người có dư đầy mãnh lực xua tan bóng tối tội lỗi, đem lại bình an hạnh phúc cho bất kỳ ai biết chạy đến với Người. Bài đọc I hôm nay (Đnl 18, 15-20) là 1 minh hoạ cụ thể. Đó là thời Cựu Ước, còn ngày nay thì sao? Cứ kể với đà tiến hoá của văn minh nhân loại, với khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển vượt bậc, thì nhiều vụ việc, nhiều vấn đề, nhiều nỗi khó khăn trong cuộc sống xem ra không còn là nan giải nữa, con người có thể giải quyết được. Tuy nhiên, một sự thực hiển nhiên là dù con người có tài giỏi đến đâu, khoa học có tiến bộ đến mấy đi nữa, thì vẫn còn biết bao khó khăn, biết bao vấn đề thuộc lãnh vực tâm lý, tâm linh, vẫn mãi mãi là nỗi ám ảnh khôn nguôi của con người, không sao giải quyết nổi. Ngay đến cả những tác động của thiên nhiên cũng hầu như ngày càng khủng khiếp, khiến con người không sao chống đỡ (bão lụt, động đất, thiên tai nhan nhản khắp nơi và ngày càng dữ dội, cứ như sắp tới ngày tận thế vậy!). Đáp án giải quyết những “bótay.chấm.com” ấy của con người thời đại hiện nay vẫn không khác xưa: “Hôm nay nghe tiếng Chúa, anh em đừng cứng lòng!” (Tv 95), mà “Hãy đến với Thiên Chúa”.

Vâng, hãy đến với Người trong cuộc hành trình đức tin tiến về Đất Hứa là Nước Trời. “Đừng cứng lòng”, cũng đừng ngại gian khổ, hy sinh, bởi Chúa vẫn luôn ở cùng và đồng hành với chúng ta (Mt 28, 20). Cũng bởi vì chúng ta đã được chính Đức Giê-su Thiên Chúa dìu dắt vượt qua Biển Đỏ cuộc đời đầy phong ba bão táp bằng Bí tích Thánh Tẩy. Bây giờ là lúc chúng ta phải can đảm chấp nhận mọi gian lao nguy hiểm, mọi thử thách nghiệt ngã, nhất là những “viên đạn bọc đường” đầy hấp dẫn của ma quỷ, để có thể dũng cảm vượt qua được “sa mạc đời”. Vậy thì còn chần chờ gì nữa, mà không đến với Người đã tha thiết kêu mời: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.” (Mt 11, 28-30).

Ôi! Lạy Chúa! ”Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 118, 105). Cúi xin Chúa ban đức tin cho chúng con để chúng con luôn nhận ra uy quyền và sức mạnh của Lời Chúa, xin ban Thần Khí cho con để con đủ sáng suốt vượt qua Biển Đỏ lỗi lầm, và nhất là đủ can đảm vượt qua mọi gian lao thử thách trong sa mạc cuộc đời. Ôi! Lạy Chúa “Xin cho con biết lắng nghe Lời Ngài gọi con trong đêm tối. Xin cho con biết lắng nghe Lời Ngài dạy con lúc lẻ loi. Xin cho con cất tiếng lên trả lời và vâng nghe theo Chúa. Xin cho con biết sẵn sàng thực hành Lời Chúa đã truyền ban…” (“Lắng nghe Lời Chúa” – TCCĐ). Amen.

Về mục lục

.

LỀ LUẬT MỚI LÀ TIN MỪNG

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

  1. Những bộ luật của Torah

Bài đọc I trích trong sách Đệ nhị luật. Đnl là cuốn cuối trong bộ Ngũ Thư. Năm cuốn sách đầu của bộ Kinh Thánh gọi là Ngũ Thư.

Do thái giáo coi Ngũ Thư là Torah (Luật) vì trong đó gồm tất cả mọi lề luật và định chế chi phối toàn bộ sinh hoạt tôn giáo, phụng tự, đạo đức, xã hội của dân tộc Israel. Nét nổi bật là Luật do chính Chúa truyền qua trung gian Môisen và mọi điều khoản của Luật xuất phát từ những nhận thức tôn giáo của dân. Có thể nói đây là sưu tập và tổng hợp những luật dân sự, hình sự, tôn giáo, tế tự và xã hội được trình bày như hiến chương của Giao ước. Do đó, việc công bố Luật gắn liền với trình thuật các biến cố trong hoang địa, nơi ký kết Giao ước. Luật là cho con người, vì thế cần phải được thích nghi với những điều kiện thay đổi của môi trường và thời đại. Do đó, ta gặp thấy trong bộ luật những yếu tố cổ xưa đan kết với những điều khoản mới phát sinh về sau. Đàng khác, ta còn gặp thấy trong bộ luật những điểm tương tự với luật Lưỡng Hà. Điều ấy là tất nhiên, vì Do Thái sống chung đụng với chư dân; lại nữa một số pháp quy, tục lệ của miền ấy dần biến thành sản nghiệp chung của cả Cận Đông cổ thời. Torah gồm những bộ luật sau đây:

a. Thập điều: Mười Lời được ghi khắc trên bảng đá, làm thành Lề luật căn bản về luân lý và tôn giáo, được coi như điều khoản của Giao ước Sinai. Thập điều được trình bày hai lần (Xh 20,2-17 và Đnl 5,6-18). Chắc chắn hai bản văn đều xuất phát từ một nguồn nguyên thủy mà truyền thống gán cho Môisen.

b. Bộ luật giao ước(truyền thống E): Xh 20,24–23,9. Bộ luật này nằm xen kẻ giữa Thập điều và phần kết của trình thuật giao ước tại Sinai. Luật giao ước đáp ứng hoàn cảnh một xã hội sau thời Môisen, chuyên về canh nông trồng trọt; cho nên quan tâm đến súc vật cày bừa, công việc đồng áng, nghề trồng nho, nhà cửa (giả thiết dân đã định cư). Bộ luật thấm nhuần tinh thần tin vào Giavê, phản ứng lại nền văn minh Canaan.

c. Bộ Luật Đệ Nhị Luật(Đnl 12,1–26,15) làm thành phần chính yếu của sách Đệ Nhị Luật. Bộ luật này lấy lại một phần bộ luật giao ước, nhưng thích nghi với cuộc sống kinh tế và xã hội đã đổi thay. Nét nổi bật trong Luật Đnl là quan tâm bảo vệ người yếu, tuyên xưng uy quyền Thiên Chúa trên đất và trên dân của Người, cổ vũ việc tuân giữ các điều khoản của lề luật.

d. Luật Lêvi. Sách Lêvi được hình thành dứt khoát sau lưu đày, gồm những luật về phụng tự, như của dâng tiến và việc tế lễ (1-7), cấp bậc Tư tế (8), các đại lễ (23), nơi thánh và các vật dụng thánh (25); luật về thức ăn (11), sự trong sạch (13-15), lễ xá tội (Yôm-Kippour) (16); luật về sự Thánh thiện (17-16).

Ngũ Thư vừa là một lịch sử và là luật pháp. Nếu các Thánh Vịnh ca tụng Thiên Chúa và kêu xin Người cứu giúp; các sách Khôn Ngoan nhằm giáo dục cá nhân về tôn giáo và luân lý; các Ngôn Sứ mạnh mẽ tuyên rao lòng thành tín của Chúa và hăng hái vạch trần tội lỗi của Israel … thì Ngũ Thư giới thiệu cho ta một dân tộc, cách thế Thiên Chúa thiết lập dân ấy, bảo vệ và dẫn đưa dân về một định mệnh kỳ diệu. Ý nghĩa của bộ sách này hệ tại mối liên lạc Thiên Chúa nối kết với dân của Người và qua đó với toàn thể nhân loại. Lịch sử mối tương quan ấy được tóm kết trong bốn điểm chính là Lời hứa – Tuyển chọn làm dân riêng – Giao ước – Lề luật. Đây là bốn chủ đề quan trọng được triển khai trong Ngũ Thư và suốt dọc dài Cựu ước. Chính Đức Kitô mới ban cho lịch sử cứu độ ý nghĩa trọn vẹn của nó, như Phaolô trình bày trong Gl 3,15-29. Ngài đến thực hiện các lời hứa của Thiên Chúa, ký kết Giao ước mới với đoàn dân mới là miêu duệ của Abraham trong đức tin. Ngài ban lề luật mới là Tin Mừng và Thần Khí để dẫn đưa mọi kẻ tin về với Thiên Chúa.

Sách Đệ Nhị Luật là một lược tóm lịch sử tôn giáo của Israel khởi từ Sinai, trong đó điều then chốt là phải trung thành phụng sự Giavê, Thiên Chúa duy nhất và chân thật. Nội dung của sách sưu tập lại luật Môisen, đồng thời kể lại một số biến cố xảy ra tại Môáp. Trình thuật mang hình thức ba bài diễn từ của Môisen phát biểu vào cuối đời, với dụng ý quả quyết: tư tưởng chủ yếu trong sách là của Môisen. Đệ Nhị Luật được coi như sách kỷ yếu: nhắc lại để nhớ, nhớ để rút bài học. Bài học chủ yếu của tác giả là: nhắc cho Israel quá khứ lịch sử của nó là một chuỗi hồng ân liên tục Chúa ban cho họ cách nhưng không. Nay ở ranh giới Hứa Địa, họ đừng quên mọi thành công xưa đều nhờ Giavê. Từ nhận thức đó, họ chuẩn bị vào Đất Hứa trước hết bằng lòng tin tuyệt đối vào Giavê.

Dân Do thái sắp đi vào đất Canaan, miền đất này nơi nào cũng có tà giáo. Các tôn giáo sơ khai của các dân tộc xung quanh luôn hấp dẫn. Đặc biệt là các thầy bói, bà đồng. Dân chúng mê tín luôn tìm đến với họ để được giao cảm với thần minh, để biết ý trời và hậu vận. Người có óc khoa học ngày nay coi đó là bịp bợm, người có đức tin chân chính nghĩ đó là những việc do ma quỉ bày đặt ra. Bởi đó, tác giả sách Đnl cảnh giác dân chúng, không được tin vào bói quẻ phù chú, lên đồng lên bóng, chiêm tinh chiêu hồn, phải hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa. Bù lại, Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện giữa dân Người một tiên tri như Môisen. Bài sách Đnl còn nói về Đấng Thiên Sai Cứu Thế sẽ đến, Người sẽ là vị tiên tri trổi vượt trên hết mọi tiên tri. Đó chính là Chúa Giêsu sẽ khiến người ta kinh ngạc về cách giảng dạy và đầy quyền năng như câu chuyện kể của Phúc âm Chúa nhật hôm nay.

  1. Lề Luật Mới là Tin Mừng

Chúa Giêsu vào hội đường ngày Sabat. Vì là thành phần của dân giao ước nên mọi người trong hội đường đều có quyền đọc và bình giảng một đoạn sách Thánh nào đó. Chúa Giêsu đọc sách và giảng dạy dân chúng. Thánh Maccô không cho biết Chúa đọc đoạn sách nào, cũng không nhắc đến nội dung giảng dạy hôm ấy. Maccô chỉ kể “Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có uy quyền, chứ không như các kinh sư”. Thiên hạ ngạc nhiên trước một kinh sư trẻ tuổi, phong thái giảng dạy như một Đấng có uy quyền khác với các kinh sư luật sĩ. Thiên hạ còn kinh ngạc về giáo lý của Người. Giáo lý vừa đi vào nội tâm, vừa có một nội dung ưu việt hơn những bài học luân lý Cựu ước. Họ sửng sốt kinh ngạc là phải, bởi lẽ Chúa Giêsu không giải thích truyền thống của cha ông nhưng là giáo huấn của Chúa Cha. Người không công bố lề luật nhưng công bố Nước Thiên Chúa đã đến gần. Người xuất hiện như Đấng mang lấy thẩm quyền của chính Thiên Chúa tối cao và là Đấng ban lề luật mới là Tin Mừng và là Thần Khí.

  1. Uy quyền trong hành động và trên tà thần

Chúa Giêsu không chỉ dừng lại ở việc giảng dạy, Người còn thiết lập Nước Thiên Chúa bằng hành động thực hiện nội dung lời rao giảng. Trong hội đường hôm ấy có một người bị thần ô uế ám. Thấy Chúa Giêsu, satan run sợ. Đối diện với Đấng quyền năng, satan sợ hải: “Ông đến để tiêu diệt chúng tôi chăng?”. Nó tuyên xưng “Tôi biết ông là ai. Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Chúa bắt nó phải im ngay và Người dùng quyền năng trục xuất nó ra khỏi nạn nhân. Satan bị án phạt đời đời vì tội kiêu căng, tội gieo nọc độc cho Nguyên Tổ trong vườn địa đàng. Thiên Chúa không cho satan có quyền hành gì trên con người, trừ khi con người tự nguyện trở thành nô lệ.

Chúa Giêsu là Đấng đầy uy quyền trong lời nói và nhiều hiệu năng trong hành động. Người đã giải thoát nhân loại khỏi ách thống trị của sự dữ. Con người được giải thoát khỏi ách nô lệ của bản năng và của sự ác để sống trong tự do của con cái Thiên Chúa. Đấng Thánh của Thiên Chúa, Đấng trong sạch vẹn tuyền đã đẩy lui và tiêu diệt sức mạnh satan.

Ma quỉ là một quyền lực cụ thể đang hoành hành trên thế giới. Người ta có thể gọi tên quyền lực này là Belzebuth, Lucifer, Belial, là con rắn xưa, là tên dối trá, tên cám dỗ… Tất cả đều chỉ thực tại duy nhất muốn phá vỡ kế hoạch Thiên Chúa và đưa con người vào nô lệ.

Nhìn vào thế giới hôm nay, chúng ta thấy biết bao hình thái nô lệ, biết bao xiềng xích của ác thần đang trói buộc con người. Điều kinh khủng là người ta không nhận ra mình đang bị nô lệ. Nô lệ cho quyền lực như Hitler, Pônpôt… Nô lệ cho tình dục, nô lệ cho ma túy, nô lệ cho cờ bạc rượu chè. Nô lệ cho mọi thứ chủ nghĩa cực đoan, mọi thứ cuồng tín tôn giáo. Nô lệ là thứ tự do giả hiệu mà ma quỷ luôn quảng cáo và muốn mời mọc con người. Ma quỷ thường được vẽ như con vật xấu xí đáng sợ, nếu thế thì con người dễ nhận ra nó và nó khó cám dỗ được. Nhưng thực tế, ma quỉ mang dáng dấp xinh đẹp, hấp dẫn, sang trọng. Nó tấn công bằng những thủ đoạn tinh tế ngọt ngào. Nó nắm rõ yếu điểm từng cá nhân từng tập thể để tấn công và mong hạ gục. Người ta tin vào những ngôi sao số mệnh, cầu cơ, bói toán, lá số tử vi. Tin vào những cái vô tri dẫn đến mê tín dị đoan sẽ làm nô lệ cho ma quỷ. Ngày nay nhiều người không còn tin vào sự hiện hữu của ma quỉ, đó là thành công lớn của ma quỉ.

Sứ mạng của Chúa Giêsu là giải thoát con người khỏi mọi hình thức vong thân và tha hóa. Cuộc đời Kitô hữu là một cuộc chiến chống lại cám dỗ và loại trừ sự dữ. Sống theo Chúa Giêsu, con người sẽ không bao giờ nô lệ cho bản năng và ma quỉ.

Mỗi ngày, chúng ta vẫn thành tâm nguyện xin: Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng xin cứu chúng con khỏi sự dữ. Amen.

Về mục lục

.

TIN VÀO LỜI GIẢNG DẠY CÓ QUYỀN THẾ

Lm Trần Bình Trọng

Có ai bao giờ mở máy truyền thanh hoặc truyền hình, nghe người nọ người kia diễn giảng về vấn đề chính trị hay đạo giáo nào đó mà người nghe chịu không nổi, liền tắt máy ngay, dùng hộp điều khiển tắt mở từ xa nhấn mạnh về hướng máy cho máy tắt liền không?

Ở đây không ai có ý nói về cá nhân diễn giả nào cũng không nói về đạo nào, mà chỉ nói chung vậy thôi. Tại sao lại có chuyện như thế? Lí do không hẳn là người nói có giọng buồn ngủ, trái lại diễn giả có thể có khoa nói hoạt bát, nhưng làm người nghe chán ngấy vì tính cách giả tạo, bốc thơm hoặc ngụy biện.

Tại hội đường Do thái, thầy tư tế hay người đứng đầu hội đường có quyền mời người diễn giảng trong đám cử tọa. Diễn giả được mời thường là người có học cao hiểu rộng và có ảnh hưởng trong cộng đồng. Như vậy thì những người kinh sư đã phải được mời diễn giảng trong hội đường như Phúc âm đề cập đến sự khác biệt giữa cách giảng dậy của Chúa với người kinh sư. Hôm nay Chúa Giêsu cũng được mời diễn giảng trong hội đường Do thái tại Ca-phác-na-um. Phúc âm ghi lại như sau: Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Ðấng có quyền chứ không như các kinh sư (Mc 1:22). Nếu cử tọa trong Phúc âm hôm nay có dịp nghe Chúa tại Ðền thờ Giêrusalem lúc Chúa mới lên mười hai tuổi, thì họ cũng đã phải: Ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đáp của cậu (Lc 2:47). Hoặc nếu họ đã nghe Chúa tại hội đường Nadarét, họ cũng đã phải: Tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người (Lc 4:22). Phúc âm hôm nay còn ghi thêm: Chúa ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh (Mc 1:27).98

Vậy thì các kinh sư diễn giảng như thế nào? Khi diễn giảng, những người kinh sư thường trích dẫn lời giảng dạy của các thầy ráp-bi và rồi đưa ra một quan niệm và lập trường phổ thông của vấn đề. Họ tự nhận họ chỉ giảng dạy dựa trên quyền thế mà Môsê nhận được nơi Thiên Chúa. Họ thường tránh né việc trả lời dứt khoát trước những câu hỏi của dân chúng. Ngay cả các ngôn sứ cũng bắt đầu giảng dạy bằng câu vào đề: Thiên Chúa phán như thế hoặc Thiên Chúa phán thế nọ thế kia. Ðiều đó chứng tỏ các ngôn sứ cũng không dựa trên quyền thế của họ mà nói, nhưng là dựa vào quyền năng của Thiên Chúa.

Khi Chúa Giêsu đến, Người cắt đứt truyền thống giản dạy kiểu đó. Chúa chứng minh lời Người giảng dạy, không dựa trên quyền thế của ai, nhưng dựa vào quyền năng nội tại của chính Người. Vì thế mà Chúa nói: Anh em đã nghe Luật dạy (người xưa) rằng (Mt 5:21, 27, 31, 33, 38, 43). Còn Thầy bảo anh em biết (Mt 5:22, 28, 32, 34, 39, 44). Khi người ta hỏi Chúa, với dụng ý không phải muốn biết, nhưng để bắt bẻ và gài bẫy Chúa, thì Chúa tỏ ra uy quyền bằng cách trả lời câu hỏi bằng một câu hỏi lại. Chẳng hạn khi Chúa giảng dạy trong Ðền thờ thì các trưởng tế, kinh sư và kỳ lão của dân đến hỏi: Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy (Mc11:28)? Rồi Chúa Giêsu đáp: Tôi cũng hỏi các ông một điều. Các ông trả được, thì tôi sẽ nói cho các ông biết, tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy (Mc 11:29).

Chúa không dựa vào mánh lới hay lời nói khôn khéo của người đời mà vẫn giữ được sự chú ý của người nghe, bởi vì Chúa xác tín về lời Người giảng dạy. Chúa tin điều Người nói và nói những điều Người muốn cho người ta tin. Chúa không cần chứng minh lời Người giảng dạy bằng việc trích dẫn. Chúa trả lời câu hỏi một cách trực tiếp và xác đáng. Chúa sống lời Người giảng dạy và kinh nghiệm những lời Người sống. Và bởi vì Chúa xác tín lời Người giảng dạy, cho nên Chúa không thỏa hiệp. Ðiều đó chứng tỏ những điều gì Chúa nói đều là lời Chúa chứ không phải là ý kiến hay quan niệm của quần chúng.

Từ khi bắt đầu cuộc sống công khai, người ta thấy Chúa giảng dạy và hành động dựa vào chính quyền thế của Người là Ðấng Cứu thế, là con Thiên Chúa và là Thiên Chúa. Vì thế trước khi về trời Chúa truyền cho các môn đệ: Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được trao ban cho Thày. Vậy các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ: nhân danh Cha và Con, và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều, Thày đã truyền dạy các con (Mt 28:18-20).

Lời Chúa trong sách Ðệ Nhị luật hôm nay, bảo Môsê rằng người ngôn sứ thật thì nhân danh Chúa mà nói và phải nói lời Người truyền dậy (Ðnl 18:20). Tuy nhiên vì vô thức nội tại hay áp lực ngoại lai, người rao giảng lời Chúa có thể cắt nghĩa lời Chúa cách sai lạc hoặc bóp méo lời Chúa, khiến cho giáo lí về đạo giáo trở thành lỏng lẻo để mong thu hút tín đồ nhất thời. Do đó chỉ có lời giảng dạy trung thực với đường lối Phúc âm mới có sức lôi kéo người nghe thực sự đến với Chúa và trở về hiệp nhất với nhau và với Giáo hội mà chính Chúa đã thiết lập. Qua Bí tích Rửa tội và Thêm sức, người tín hữu cũng được gọi để sống và làm chứng cho lời Chúa và quyền năng Chúa bằng lời nói và việc làm.

Ðể áp dụng thực hành, hôm nay ta cầu xin cho được biết yêu mến lời Chúa, tin tưởng vào lời Chúa và quyền năng Chúa trên các thần ô uế (Mc 1:27). Nếu muốn được tham phần vào quyền thế của Chúa trong lời giảng dạy, nói cách khác, nếu muốn được người ta chăm chú đọc hay nghe mình trình bầy, người giảng dạy hay viết sách phải trung thực với lời Chúa và đường lối Phúc âm. Hôm nay ta cầu xin cho được ơn biết phân biệt ngôn sứ thật với ngôn sứ giả. Như được mô tả trong Thánh kinh thì ngôn sứ giả thường thỏa hiệp theo quan niệm riêng hay thị hiếu của quần chúng. Do đó lời họ rao giảng thường nhắm chiều theo sở thích của người nghe hầu làm vừa lòng thính giả. Họ có thể làm khoái tai người nghe, nhưng không đánh động được tâm hồn người nghe hay đọc. Còn ngôn sứ thật thì xác tín rằng họ là sứ giả của Thiên Chúa. Họ dám nói lên sự thật dù có làm mất lòng. Nghe theo sứ điệp chân thật có thể làm ta chột dạ, khiến ta phải suy tư nghĩ ngợi. Chính việc suy tư nghĩ ngợi đó mới là khởi điểm cho những quyết định thay đổi tâm hồn và đời sống người nghe.

Lời nguyện xin cho được ơn biết tuân phục lời Chúa và quyền năng Chúa:

Lậy Chúa, ‘lời Chúa là thần khí và là sự sống’.

Hằng ngày có nhiều tiếng nói

trên phim ảnh, báo chí, truyền thanh, truyền hình, mạng tin

bảo con việc gì phải trái, điều gì phải tin hoặc hồ nghi.

Xin dạy con biết lắng nghe và nhận định

hầu có thể phân biệt đâu là sự thật, đâu là hư giả.

Và xin ban ơn để con biết đáp trả và thực thi lời Chúa

hầu được hưởng nhờ sự sống vĩnh cửu. Amen.

Về mục lục

.

MA QUỶ CÒN BIẾT VÂNG LỆNH CHÚA TRUYỀN

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Hôm ấy, Chúa Giê-su và các môn đệ đi vào thành Ca-phác-na-um. Ngài vào hội đường giảng dạy. Lúc ấy, trong hội đường có người bị ma quỷ ám. Thấy Chúa Giê-su, quỷ biết ngay Ngài là Con Thiên Chúa, nên la lên: “Ông Giê-su Na-da-rét, chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa!” Bấy giờ Chúa Giê-su quát mắng nó: “Câm đi, hãy xuất khỏi người này!”

Lập tức Thần ô uế lay mạnh người ấy, thét lên một tiếng, và xuất khỏi anh ta. Mọi người chứng kiến đều hết sức kinh ngạc trước quyền lực của Chúa Giê-su. Ngài không cần dùng roi vọt hay bạo lực để trục xuất ma quỷ. Ngài chỉ cần phán một lời là quỷ phải vâng lời mà xuất ra ngay (Mc 1, 21-28).

Các tác giả Tin mừng cũng thuật lại tại vùng đất Ghê-ra-xa có một người bị quỷ dữ ám hại, khiến anh ta trở nên hung tợn và có sức mạnh phi thường. Dù người ta có khống chế anh ta bằng bao nhiêu gông cùm xiềng xích thì anh ta cũng bứt tung hết.

Khi Chúa Giê-su gặp người bị quỷ ám và biết là có cả một cơ binh quỷ sứ xâm nhập vào anh, hành hạ anh ngày đêm, khiến anh sống ở trong khu vực mồ mả và trên đồi núi, tru tréo liên hồi và lấy đá đập vào mình, Ngài truyền lệnh “Thần ô uế kia! Hãy xuất khỏi người này!” (Mc 5,8). Lập tức, lũ quỷ liền vâng lệnh Ngài mà xuất ra và nhập vào đàn heo. Sau đó, cả đàn heo đông đảo vừa bị lũ quỷ nhập từ trên sườn núi lao xuống biển chết đuối hết (Mc 5,1-15. Luca 8,27-33. Mt 8,28-32).

Khi giáp mặt với những người bị quỷ thâm nhập và ám hại bằng nhiều cách, Chúa Giê-su dùng lời của Ngài truyền cho quỷ phải xuất ra và chúng tức khắc vâng lệnh, không hề chần chừ hay kháng cự.

Thật lạ lùng, ma quỷ là thứ bị người ta khinh dể nhất đời, bị gọi là đồ quỷ, đồ yêu tinh, đồ quỷ sứ… và người ta cũng thường gán cho những kẻ nào xấu xa, đê tiện, tàn ác nhất trên đời này là “đồ quỷ sứ”… thế mà khi nghe lệnh truyền của Chúa Giê-su, ma quỷ ngoan ngoãn vâng lời ngay. Chúa bảo: “Hãy câm đi!”,  chúng liền câm miệng. Chúa bảo “Hãy xuất ra khỏi người này”, chúng liền vâng theo.

Còn loài người thì sao?

Thiên Chúa Cha đã sai Con một của mình là Chúa Giê-su xuống trần gian để trực tiếp dùng lời khôn ngoan dạy cho loài người vâng phục Thiên Chúa, đi theo đường lối Chúa để được cứu rỗi và được sống đời đời.

Thế nhưng khi Chúa Giê-su dùng lời phán bảo con người đừng gian tham, thì người ta tiếp tục gian tham; Chúa bảo đừng trộm cắp, đừng ngoại tình, thì người ta vẫn cứ trộm cướp, cứ ngoại tình; Chúa dạy đừng giận hờn, ghen ghét… thì nhiều người vẫn trơ trơ như đá, chẳng vâng theo lời Chúa dạy.

Khi Chúa truyền cho mọi người: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”, nhiều người vẫn im lìm bất động. Khi Chúa truyền “Hãy tha thứ thì sẽ được thứ tha”, nhưng sự giận hờn ghen ghét vẫn chất chứa trong lòng nhiều người. Khi Chúa truyền hãy quan tâm phục vụ nhau như Ngài đã hiến thân mình phục vụ con người, thì nhiều người vẫn dửng dưng vô cảm với anh em đồng loại…

Ma quỷ bị xếp vào hạng xấu xa, tồi tệ nhất mà còn biết vâng lệnh Chúa, lẽ nào loài người vốn được xem là con cái yêu quý của Chúa mà chẳng màng vâng lệnh Chúa truyền sao!

Không lẽ con người còn cứng đầu, chai đá hơn cả quỷ sứ trước lời Chúa dạy hay sao!  

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa cứu rỗi nhân loại bằng lời Chúa. Lời Chúa như hải đăng soi đường trong đêm tối để đưa tàu thuyền vượt biển về bến an toàn. Lời Chúa như kim chỉ nam chỉ lối dẫn đường cho người lạc bước giữa rừng sâu. Chỉ có những ai lắng nghe lời Chúa và mau mắn đem ra thực hành thì mới được hưởng ơn cứu độ.

Từ chối vâng nghe lời Chúa khác nào thuyền trưởng không theo ánh sáng của hải đăng, như người lạc lối giữa rừng sâu không đi theo hướng chỉ của la bàn.

Xin cho chúng đừng gác bỏ lời Chúa ngoài tai kẻo phải khốn khổ muôn đời, nhưng biết mau mắn vâng theo lời Chúa dạy để được sống hạnh phúc đời này và được hưởng hoan lạc muôn đời mai sau.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 4 TN_B

Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Bài đọc I và Tin Mừng minh chứng rằng ở nơi con người của Ngài, Đức Giê-su thực hiện một trong những niềm mong đợi của dân Ít-ra-en, đó là một vị Ngôn Sứ tuyệt hảo xuất thân từ họ và ở giữa họ.

Đnl 18: 15-20

Theo sách Đệ Nhị Luật, ông Mô-sê cảnh giác dân Ít-ra-en coi chừng những “ngôn sứ mạo danh”, nhưng đồng thời ông cũng loan báo rằng Thiên Chúa sẽ ban cho dân Ngài một vị ngôn sứ đích thật. Vị Ngôn Sứ này sẽ là “Phát Ngôn Viên của Thiên Chúa” bên cạnh dân Ngài.

1Cr 7: 32-35

Trong đoạn trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi các tín hữu Cô-rin-tô này, thánh nhân đề cập đến đời sống hôn nhân và đời sống độc thân.

Mc 1: 21-28

Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, thánh Mác-cô giới thiệu Đức Giê-su, Đấng có quyền năng trong lời nói cũng như việc làm, vừa là phát ngôn viên của Thiên Chúa bên cạnh dân Ngài, đồng thời vừa là phát ngôn viên của dân Ngài bên cạnh Thiên Chúa.

BÀI ĐỌC I (Đnl 18: 15-20)

Sách Đệ Nhị Luật là cuốn sách cuối cùng của bộ Ngũ Thư mà dân Do thái gọi sách “To-ra”, nghĩa là sách “Luật”.

Nhan đề “Đệ Nhị Luật” có nghĩa “luật thứ hai”. Quả thật, sách này được đặt vào trong bối cảnh ông Mô-sê nhắc lại những lời dạy của Đức Chúa cho dân Ít-ra-en như những lời trăn trối sau cùng, bản di chúc của ông, trước khi qua đời. Sách được soạn thảo vào thế kỷ thứ bảy trước Công Nguyên. Như vậy, việc khai triển Luật được định vị vào trong việc nối dài giáo huấn của ông Mô-sê. Điều này muốn nói rằng có một sự liên tục và trung thành với Luật; uy quyền của Luật luôn luôn được đặt dưới sự bảo lãnh của người khởi xướng. Quả thật, sách Đệ Nhị Luật phản ảnh bối cảnh dân Ít-ra-en định cư lập nghiệp ở xứ Ca-na-an hơn năm thế kỷ rồi. Vì thế, bầu khí hăng say nhiệt thành thuở ban đầu đã lắng xuống. Tuy nhiên, nhờ độ nhạy bén của những sấm ngôn, tâm tình tôn giáo lại được hâm nóng trở lại.

  1. Định chế ngôn sứ

Đoạn văn này được trích từ một diễn từ dài của ông Mô-sê trong đó ông tiên báo định chế quân chủ và định chế ngôn sứ. Đoạn trích hôm nay nêu lên vấn đề định chế ngôn sứ. Theo văn mạch, trong một đoạn văn trước đó, ông Mô-sê vừa mới căn dặn rằng nếu dân chúng muốn tôn một người lên làm vua, thì người đó không phải là một người ngoại quốc, nhưng phải là một người trong số họ, được Thiên Chúa chọn (Đnl 17: 14-15).

Trong đoạn trích hôm nay, cũng một cách đề phòng như vậy đối với một ngôn sứ. Dân chúng không được đi tìm kiếm một nhân vật ngoại quốc nào khác thực hành ma thuật, bùa chú, bói toán, hay gieo quẻ xem xăm, vân vân. Chính “từ giữa đồng bào của anh em” mà Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện ngôn sứ của Ngài, người ấy sẽ là phát ngôn viên của Ngài bên cạnh dân Ngài: “Ta sẽ đặt lời Ta trong miệng người ấy, và người ấy sẽ nói với chúng tất cả những gì Ta truyền cho người ấy”.

Đây không phải là một ngôn sứ độc nhất, nhưng là một vị ngôn sứ mà mỗi lần dân chúng cần đến một người trung gian như ông Mô-sê. Vì thế, ông Mô-sê đã tiên báo trào lưu ngôn sứ một cách khái quát, như câu trích sau cùng nói lên cách rõ ràng hơn: “Ngôn sứ nào cả gan nhân danh Ta mà nói lời Ta đã không truyền cho nói, hoặc nhân danh những thần khác mà nói, thì ngôn sứ đó phải chết”.

Sau này, khi trào lưu ngôn sứ đã biến mất từ lâu, người ta sẽ đọc lại bản văn này theo một cách khác và người ta sẽ hiểu lời tiên báo này về một vị ngôn sứ vĩ đại vào thời đại Thiên Sai, một Mô-sê mới. Đó là lý do tại sao những người được Giáo Quyền Giê-ru-sa-lem cử đến hỏi ông Gioan: “Ông có phải là vị ngôn sứ chăng?” (Ga 1: 21).

  1. Thấy Thiên Chúa mà vẫn sống

Lời tiên báo này đáp lại nguyện ước của dân chúng, vì tại núi Khô-rép trong ngọn lửa sáng rực chỉ một mình ông Mô-sê mới có thể tiến gần đến Thiên Chúa và đàm đạo diện đối diện với Ngài mà không phải chết: “Xin chính ông nói với chúng tôi, chúng tôi mới dám nghe; nhưng xin Thiên Chúa đừng nói với chúng tôi, kẻo chúng tôi chết mất” (Xh 20: 19).

Đây là sự sợ hãi linh thánh rất phổ biến vào thời đó, vì người ta tin rằng không ai thấy thần linh mà có thể sống được. Giữa thần linh và phàm nhân có một khoảng cách vô tận đến mức con người như bị tan biến vào trong cõi hư vô. Vì thế, khi đặt của dâng cúng trên bàn thờ, tín đồ không được nhìn ngoái lại đằng sau kẻo chẳng may nhìn thấy thần linh đến nhận của lễ mà mình phải chết chăng. Có rất nhiều giai thoại cấm nhìn lại đằng sau như bà vợ của ông Lót vì “ngoái lại đằng sau mà hóa thành cột muối” (St 19: 26) hay ngôn sứ Ê-li-a lấy áo choàng che mặt khi gió hiu hiu thổi báo hiệu sự hiện diện của Đức Chúa; vì thế, ông chỉ nghe tiếng chứ không nhìn thấy hình (1V 19: 12-13).

Được đọc trong ánh sáng Tân Ước, bản văn Đệ Nhật Luật này mặc lấy tất cả mọi chiều kích của nó. Đức Giê-su là vị Ngôn Sứ đã được ông Mô-sê tiên báo. Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa, Phát Ngôn Viên trung thành của Chúa Cha, Đấng Trung Gian tuyệt hảo giữa Thiên Chúa và con người. Ngoài ra, Đức Giê-su chính là Thiên Chúa hữu hình ở giữa loài người mà con người có thể tiến lại gần, chẳng những không phải chết nhưng trái lại được đón nhận “ân này đến ân khác”của Ngài nữa (Ga 1; 16).

BÀI ĐỌC II (1Cr 7: 32-36)

Chúng ta tiếp tục đọc thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi các tín hữu Cô-rin-tô. Trong đoạn trích hôm nay, thánh nhân ca ngợi đời sống độc thân trổi vượt trên đời sống hôn nhân, vì người sống đời độc thân mới có thể tận tâm tận lực “chuyên lo việc Chúa”. Có hai cách giải thích thái độ của thánh nhân trong việc đề cao đời sống độc thân và giảm nhẹ đời sống hôn nhân.

  1. Kinh nghiệm bản thân

Cách giải thích thứ nhất là chính từ kinh nghiệm bản thân của thánh nhân. Thánh nhân là người lữ hành của Thiên Chúa, ngài rong ruỗi trên khắp mọi nẻo đường, tận tâm tận lực chu toàn “sứ mạng loan báo Tin Mừng cho muôn dân”. Vì thế, trong một đoạn văn trước đó, thánh nhân không ngần ngại viện dẫn đời sống độc thân của mình ra làm gương: “Tôi ước muốn mọi người đều như tôi” (1Cr 7: 7).

  1. Quan niệm văn hóa và xã hội

Cách giải thích thứ hai thuộc quan niệm văn hóa vào thời đó, đặc biệt vị thế của người phụ nữ trong xã hội xưa. Thánh nhân vừa mới nói một cách tế nhị về đời sống hôn nhân và những bổn phận hỗ tương giữa chồng và vợ, cũng như nhắc nhở họ mối giây ràng buộc bất khả phân ly của hôn nhân. Từ đó suy ra rằng đời sống độc thân giải phóng chúng ta khỏi những mối dây ràng buộc trong đời sống vợ chồng và con cái, vì thế chúng ta được hoàn toàn tự do trong việc “chuyên lo phục vụ Chúa”.

Chuyện vợ chồng giúp nhau thăng tiến đời sống tâm linh trong việc chuyên lo phụng sự Chúa không thể không nẩy sinh trong tâm trí thánh nhân. Tuy nhiên, theo quan niệm văn hóa và xã hội vào thời thánh nhân, chủ nghĩa thượng tôn nam giới tạo nên rào cản cho một sự phát triển về quyền bình đẳng giữa chồng và vợ trong đời sống gia đình Ki-tô giáo. Thật ra, môi trường Cô-rin-tô thấm nhuần văn hóa Hy lạp, vì thế, những người phụ nữ hưởng được một sự tự do khiến thánh nhân kinh ngạc. Chính trong bức thư này, ngài nhắc nhở các người phụ nữ phải trùm khăn che đầu và không được lên tiếng trong các buổi hội họp cộng đồng, vì người nữ phải giữ thái độ im lặng và phục tùng, vân vân. Về quan điểm này, thánh nhân vẫn chịu ảnh hưởng rất sâu đậm những quan niệm Do thái giáo kém tiến bộ. Tuy nhiên, ngài biết công bố quyền bình đẳng của tất cả con cái Thiên Chúa: “Trong Chúa, không nam thì chẳng có nữ, và không nữ thì chẳng có nam”(1Cr 11: 11).

TIN MỪNG (Mc 1: 21-28)

Sau khi kêu gọi các môn đệ đầu tiên và được họ đáp trả một cách quảng đại và mau mắn (Chúa Nhật vừa qua), Đức Giê-su tiếp tục con đường của mình. Ngài đi dọc theo bờ hồ cho đến tận thành Ca-phác-na-um.

  1. Thành Ca-phác-na-um

Thành Ca-phác-na-um hưởng được một vị thế địa lý đặc biệt: giáp ranh giới với ba nước: Sy-ri, Phê-nê-xi, Pa-lét-tin, và có một đại lộ chạy từ Giê-ru-sa-lem đến Đa-mát. Vì thế, thành phố được mệnh danh là “Ngã Tư Quốc Tế”. Chính thành này Đức Giê-su sẽ thiết lập cứ điểm truyền giáo của Ngài, dấu chỉ ngầm hàm chứa chiều kích phổ quát sứ điệp của Ngài. Tuy nhiên, Đức Giê-su bắt đầu giảng dạy trong các hội đường như sau này các Tông Đồ và cả thánh Phao-lô cũng sẽ theo gương Ngài.

Hội đường là nơi các tín hữu tụ họp và cầu nguyện. Chỉ ở Giê-ru-sa-lem mới có đền thờ và hàng giáo sĩ, ở đó các tín hữu mới có thể dâng hy lễ lên Đức Chúa, Thiên Chúa của dân Ít-ra-en. Vào ngày Sa-bát, các tín hữu tụ họp ở hội đường, luôn luôn vào buổi sáng, để cử hành phụng vụ Lời Chúa (các bản văn Luật và các sách ngôn sứ), hát thánh thi chúc tụng, ngâm thánh vịnh và cầu nguyện. Mọi tín hữu, hoặc tự nguyện hay được chỉ định, có thể công bố và diễn giải những bản văn Kinh Thánh. Chính như vậy mà Đức Giê-su được mời công bố và giải thích Kinh Thánh vào một buổi phụng vụ sa-bát ở hội đường Na-da-rét, nơi Ngài sinh trưởng.

Thánh Mác-cô tường thuật cho chúng ta hai hoạt cảnh diễn ra trong hội đường Ca-phác-na-um. Một mặt, thánh ký bận tâm phác thảo diện mạo của Đức Giê-su, nêu bật uy quyền đặc biệt mà người ta nhận ra ở nơi Ngài: Đức Giê-su xuất hiện không chỉ với uy quyền của Ngôi Lời Thiên Chúa, chủ tể của Kinh Thánh, nhưng cũng với uy quyền của một con người thanh khiết và hoàn hảo đến nổi không bất kỳ sự thâm hiểm gian ác nào có thể chịu đựng nổi sự hiện diện của Ngài. Mặt khác, ngay từ đầu, thánh Mác-cô cũng nêu bật hai phương cách tiến hành thường hằng mà Đức Giê-su sẽ thực hiện trong suốt sứ vụ của Ngài: giảng dạy và dấu chỉ kèm theo, qua đó người ta nhận ra mầu nhiệm của Ngài: Đấng có uy quyền trong lời nói và việc làm.

  1. Cách thức Đức Giê-su giảng dạy

“Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư”. Các kinh sư thường nhất là những người có bằng cấp học vị, được đào tạo trường lớp về những cách thức giải thích Kinh Thánh một cách tinh tế và uyên bác. Vì thế, những giáo huấn của họ dựa trên những truyền thống của các bậc tôn sư danh tiếng của họ. Riêng Đức Giê-su, Ngài không xuất thân từ bất cứ trường lớp nào và cũng không quy chiếu đến bất kỳ “kinh sư” hay “bậc tôn sư” nào. Ngài giải thích và khai triển Kinh Thánh từ uy quyền của riêng Ngài và loan báo rằng mọi điều Kinh Thánh loan báo đều được ứng nghiệm ở nơi Ngài.

  1. Dấu chỉ kèm theo

Không ai có thể buộc tội Ngài về bất cứ điều gì, đây là một sự mới lạ khiến Xa-tan phải tò mò muốn biết. Rồi, trong hoang địa, nó đã thử hiểu mầu nhiệm của con người này; ở Ca-pha-na-um, nó bày tỏ qua một người bị quỷ ám khốn khổ. Đối mặt với Đức Giê-su, tên hiểm ác phải công khai nói lên sự thật và sự thật khiến nó phải nao lòng chột dạ: “Ông đến để tiêu diệt chúng tôi. Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Tuy nhiên, Đức Giê-su buộc nó phải câm lặng.

Hoạt cảnh Ca-pha-na-um không là duy nhất, nhưng còn xảy ra nhiều lần ở những nơi khác nữa. Chính thánh ký nói với chúng ta: “Đức Giê-su chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ, nhưng không cho quỷ nói, vì chúng biết Người là ai” (Mc 1: 34).

  1. Mầu nhiệm của Đức Giê-su

Đức Giê-su vẫn còn muốn giữ riêng bí mật về con người Ngài, vì sợ người ta hiểu lầm sứ mạng của Ngài. Thánh Mác-cô nhấn mạnh nhiều lần Đức Giê-su muốn bảo vệ mầu nhiệm của Ngài. Đó là điều mà các nhà chú giải gọi “bí mật Thiên Sai” theo Tin Mừng Mác-cô. Quả thật, trong suốt Tin Mừng này, Đức Giê-su kiên quyết bắt ma quỷ không được vén mở chân tính của Ngài, cũng như Ngài cấm những người được chữa lành và ngay cả các môn đệ của Ngài không được tuyên xưng phẩm tính Thiên Sai của Ngài.

Thật không khó để hiểu được thái độ này của Đức Giê-su. Đấng Thiên Sai mà dân chúng biết bao mong đợi khác với hình ảnh mà Ngài sắp thể hiện: hình ảnh của một Đấng Thiên Sai “nhân hậu và khiêm hạ tận mức”, hình ảnh của một Người Tôi Trung chịu đau khổ. Mầu nhiệm này chỉ có thể bày tỏ một cách rực rỡ ở nơi biến cố Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài.

Về mục lục

.

TÂM PHỤC KHẨU PHỤC

Lm. Jos. DĐH.

Thưởng thức bản nhạc vừa ý, xem cuốn phim hay, được nghe bài thuyết trình áp đặt, một bài viết đặc sắc, đâu còn khó khăn gì đối với thời đại công nghệ hôm nay, khi người ta chỉ cần vài cú “click-chuột”. Để thuyết phục lòng người, xưa hay nay, đều cần đến tính hợp lý: nói có sách, mách có chứng, hoặc xem mặt đặt tên. Trong yêu thương, các đấng bậc vẫn cảnh giác con cháu: “gái tai, trai mắt”, sự thực yêu bằng tai, yêu bằng mắt, hay yêu bằng trái tim nóng bỏng, đều khiếm khuyết, nếu “cái tâm” chưa đủ lý trí và lòng bao dung. Đồng ý rằng điều kiện hoàn cảnh mỗi người mỗi khác, được quý mến được yêu thương không phải là chuyện hên xui, thận trọng quá thì không có bạn, dễ dãi phóng khoáng lại bị coi là vô duyên.

Các nghệ sĩ bằng giọng ca điệu hát, họ thu hút được đám đông, các cầu thủ bằng phong độ trình diễn trên sân cỏ, tên tuổi của họ sớm được giới hâm mộ biết đến. Đức Giêsu không phải là ca sĩ, nhạc sĩ, không phải là cầu thủ đá bóng, người cùng thời lại biết rõ Ngài là con bác thợ mộc. Tại hội đường ở Ca-phac-na-um, người ta hôm đó đi từ ngạc nhiên đến thán phục, người ta được nghe nhìn, rồi tâm phục khẩu phục bởi lời rao giảng và trừ tà của Đức Giêsu. Giáo lý mới ở điểm nào, tại sao Đức Giêsu thuyết phục được người nghe, để lại được ấn tượng tốt cho người có mặt ở hội đường hôm xưa? Câu trả lời là vì Ngài giảng dạy như Đấng có uy quyền, khác với các luật sĩ. Tại “nhà thờ” hôm nay, chúng ta cũng được nghe nhìn, nhưng không ngạc nhiên, không thán phục, là vì bằng mắt thường chúng ta không thấy Đức Giêsu, không thấy phép lạ, hay vì lời Kinh Thánh “quen quá hoá nhàm”?

Một số người vẫn cẩn thận khi nói rằng: đừng tưởng cái gì lóng lánh cũng là vàng, đừng tưởng ai nhìn đàng hoàng cũng là người tử tế. Xã hội thời nào cũng xuất hiện bậc hiền tài đức độ, dư luận cho rằng tài giỏi là do tập luyện, số khác lại cho rằng văn võ song toàn là năng khiếu bẩm sinh, trời cho ai người ấy được. Tại hội đường năm xưa, người ta vui sướng, thích thú, có phải “tướng tá phong độ” của một luật sĩ mới từ nơi xa đến, hay một ông quan đầy kiến thức với nhiều bằng cấp? Mức độ cảm nhận về “tài năng” có thể mỗi người mỗi khác, nhưng cách chung mọi người hôm đó đều bị thuyết phục bởi sự dấn thân, tinh thần phục vụ, lời giảng giải của Đức Giêsu có sức hút rất siêu nhiên.

Theo lý lẽ tự nhiên, kẻ “ăn nên làm ra” từ đôi bàn tay của mình là người chăm chỉ, có tính tự lập, đáng khâm phục. Xuất thân từ con nhà nghèo học giỏi, là người có ý chí, quyết tâm cao, nhưng người thành công phải là người biết mình biết ta, biết làm chủ bản thân. Sứ mạng của mỗi chúng ta hiện tại dù chưa thuyết phục được gia đình, người thân, dù chưa sống mối tương quan tốt nhất để họ tâm phục khẩu phục, ít ra chúng ta vẫn còn cơ hội gặp, nghe Đức Giêsu, Ngài sẽ điều chỉnh và biến đổi ta nên người môn đệ của Ngài. Cha ông chúng ta có câu: gần sông quen tiếng cá, gần núi không lạ tiếng chim. Các môn đệ gần Thầy Giêsu, các ông sớm học được đức yêu thương dạt dào của Thầy ; các tín hữu đến nhà thờ dâng lễ hàng ngày, hàng tuần, cũng sớm được biến đổi nên môn đệ của Đức Giêsu, đó là biết nói đúng, biết cư xử đẹp theo ơn Thánh Thần soi sáng.

Sinh ra làm người, cơ hội để gia đình, người thân tâm phục khẩu phục, để xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, đâu phải là xa vời. Vì chưng, thước đo của cuộc đời không phải là dài hay ngắn, mà ở chỗ chúng ta đang sử dụng mức độ hiểu biết của mình như thế nào ? Mang thân phận người, Đức Giêsu đến hội đường cầu nguyện, trong tư cách là ngôn sứ, Ngài giảng giải như Đấng có uy quyền, với sứ mạng Đấng cứu độ, Ngài xua đuổi quỷ thần, giải thoát con người khỏi tội lỗi sự chết. Tâm lý chung, người ta sẽ tâm phục khẩu phục khi được thoả mãn về vật chất về tinh thần, thực tế con người dễ mơ hồ về “cái thích” của mình, để rồi đổ ngã theo thần tượng như xe “tuột dốc không phanh”.

Mỗi người tín hữu chúng ta chỉ có thể sống, và giúp anh chị em mình tâm phục khẩu phục, khi chúng ta cùng Chúa Giêsu kết hiệp cầu nguyện, khi chúng ta biết khiêm tốn để Thánh Thần Chúa tác động, biến đổi, làm mới mọi tương quan với tha nhân. Cuộc đời mỗi người chúng ta có khác gì một dòng sông, dòng sông chảy, nhưng nước thì luôn đổi mới. Ông bà cha mẹ chúng ta không thể tâm phục khẩu phục, khi con cháu chỉ biếu các đấng quà cáp, phong bì, mà gia đình thiếu đức yêu thương, lối xóm thiếu tình người. Tại hội đường hôm xưa, bằng những lời chia sẻ tận tâm, cách dẫn giải sát gần với tình người của Đức Giêsu, đám đông thán phục, quỷ thần thì khiếp sợ, sứ mạng người tông đồ chỉ thế là đủ, là đẹp. Xin tình yêu Giêsu tiếp tục hiện diện, giúp con cái của Ngài nhận ra tiếng nói của Thánh Thần, và bằng việc sống đức tin đức ái, Danh Chúa được sáng mãi cho hôm nay và mai sau. Amen.

Về mục lục

.

HUYỀN DIỆU CUỘC ĐÒI

Lm Vũdình Tường

Ai cũng có kinh nghiệm về cuộc sống. Khi cuộc sống xuôi chảy, vui vẻ, an hoà ta cho là cuộc sống rất dễ nhưng khi phải đối mặt với những khắc nghiệt, đau khổ bệnh tật ta coi cuộc đời là bể khổ. Biển mênh mông, bát ngát ai dò cho hết lòng biển vì thế bể khổ cuộc đời là một mầu nhiệm. Nó nhiệm mầu không giải thích nổi nên người xưa dùng ngụ ngôn răn đời, hoặc dùng huyền thoại giải thích sự việc. Ngày nay con người nhờ vào khoa học cố gắng giải thích í nghĩa cuộc sống. Khoa học bắt đầu bằng giả thuyết làm căn bản nghiên cứu. Câu hỏi tôi là ai? sống trên đời với mục đích gì và sau khi lìa đời sẽ đi đâu là những câu hỏi có quá nhiều câu trả lời và nhóm nào cũng cố gắng biện minh cho câu trả lời của mình là đúng. Dù tin vào Thiên Chúa hay chối bỏ Ngài, tất cả đều có điểm chung đó là tôn trọng thân xác và tổ chức giỗ, ngày kị, tưởng niệm người ta qua đời. Cuộc sống rất mỏng dòn và cuộc sống cũng rất bền vững, đối chọi được với bao thử thách vượt quá sức mình. Khối óc con người đi nhanh hơn điện, có lẽ không thua gì tốc độ ánh sáng. Bằng một cái nháy mắt ta có thể hình dung trong đầu hình ảnh cách ta hàng trăm ngày cây số mà cách đây nhiều năm ta đã nhìn thấy. Bằng một cái búng tay cảm xúc của ta có thể đổi từ buồn vời vợi sang vui cười. Chỉ một chữ cũng làm cho con tim sầu héo, cũng chỉ một chữ làm cho khuôn mặt hớn hở, vui tươi. Tất cả cảm xúc, vui buồn, nóng giận đó đều đến rồi đi. Con người cần niềm vui vĩnh cửu, niềm hoan lạc bền lâu. Điều gì thực sự làm cho con tim có được nguồn vui vĩnh cửu là điều có rất nhiều tranh biện. Tranh biện đưa đến bất đồng, từ bất đồng đưa đến chống đối, đả kích, lập phe, tìm phái tạo thế lực lấn át, đè nén nhau, bao gồm cả hãm hại.

Người ta bất lực sửa chữa những gì đã xảy ra hôm trước nhưng quá khứ lại trở thành nền móng xây đắp tương lai cho những ai thành tâm học hỏi. Để trả lời cho thắc mắc mục đích cuộc đời thì có nhiều í kiến.Một số tin vào khả năng chính mình và hy vọng mọi sự sẽ xảy ra như dự tính. Số khác tin vào sức mạnh huyền diệu từ bên ngoài, đưa đến trăm ngàn loại tôn giáo, đủ các loại thần. Thần từ thiên nhiên cũng lắm và thần tự tưởng tượng ra cũng nhiều. Số khác nữa tin vào Thiên Chúa soi sáng, dẫn đường, chỉ lối đi vào chốn trường sinh. Cả hai nhóm Biệt Phái và Pharasiêu đều cố gắng hướng dẫn dân chúng đi theo đường lối Chúa nhưng càng cố gắng họ càng vấp phải nhiều lầm lỗi. Họ làm cho cuộc sống trở thành gánh nặng cho người tin theo Chúa. Đức Kitô xuất hiện mang đến cho nhân loại luồng gió mới, làn gió mát trong lành, làn gió làm cho tình người nở hoa. Cuộc đời không còn là gánh nặng mà mỗi ngày là một niềm vui, niềm hy vọng. Lời Ngài có sức thánh hoá, làm cho người ta tin theo, cải hoá con tim sỏi đá thành con tim biết yêu thương. Giáo huấn của Ngài áp dụng thực tiễn trong đời sống và làm cho cuộc sống trở nên í nghĩa hơn. Ngài lại ban cho những ân sủng mà thế gian chỉ hứa mà không có khả năng làm điều đó.Chính những điều trên dẫn đến dân chúng nhận ra uy quyền nơi Ngài và đón nhận uy quyền đó với tâm tình tạ ơn, cảm mến.

Con cái đặt trọn niềm tin vào cha mẹ một vì là người mang chúng vào đời, bảo bọc, che chở, chăm nom, giáo dục hai là yêu thương với tất cả tấm lòng. Hiểu như thế để biết được tình Chúa yêu ta như cha mẹ yêu thương con cái. Chúa yêu ta với tất cả tấm lòng, cho đi không đòi báo đáp. Ban phát không tính hơn thiệt. Lỗi lầm Chúa chờ ta ăn năn thống hối. Phản bội Chúa tìm cơ hội thứ tha. Chối bỏ Ngài vẫn giang tay ban phát. Gặp nguy hiểm bàn tay Ngài luôn nâng đỡ. Tình Chúa vô biên và ân sủng Ngài ban là nguồn hạnh phúc vĩnh cửu.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 4 THƯỜNG NIÊN, NĂM B

Lm. Athony Trung Thành

Quỷ dữ hay Satan là loại Thiên thần hư hỏng, đã bị Thiên Chúa phạt trong Hỏa ngục. Nhưng Thiên Chúa vẫn cho chúng hiện diện dưới nhiều hình thức khác nhau trong lịch sử. Chúng thường xuyên cám dỗ con người. Nếu cậy vào sức mình, thì con người không phải là đối thủ của chúng. Ngay từ khi con người mới xuất hiện, Nguyên tổ chúng ta đã thua chúng. Và cứ như thế, theo dòng lịch sử, con người luôn bị Quỹ dữ quấy phá, xúi giục phạm tội để làm nô lệ cho chúng. Cuộc chiến giữa con người và quỷ dữ vẫn còn tiếp tục mãi cho tới Tận thế.

Ngày hôm nay, ít khi chúng ta chứng kiến cảnh Quỷ dữ công khai làm hại con người, nhưng chúng vẫn hiện diện và làm hại con người qua sự dữ, sự ác, sự tội. Chúng dụ dỗ, quyến rũ con người dưới nhiều chiêu thức khác nhau. Ngày 3 tháng 10 năm 2015, khi nói chuyện với các Hiến Binh Vatican, Đức Thánh Cha Phanxicô đã khẳng định rằng “Satan là một kẻ dụ dỗ, nó gieo những nguy hiểm tiềm ẩn và dụ dỗ với đầy sự quyến rũ, và sự quyến rũ ma quỷ này khiến anh em tin mọi thứ. Nó biết cách làm thế nào để rao bán thật quyến rũ, nó bán rất chạy, và cuối cùng người ta phải trả giá rất cao !”. Trong các bài giảng của mình, Đức Phanxicô còn đưa ra các chiêu thức cụ thể mà Ngài cho là Quỷ dữ đang hoạt động nơi con người.

Đó là khi con người không dám tuyên xưng Đức Kitô. Ngài nói: “Khi một người không tuyên xưng Đức Kitô, người đó sẽ tuyên xưng sự trần tục của ma quỷ.”

Đó là khi con người rơi vào tình trạng bi quan trong cuộc sống. Ngài nói: “Chúng ta đừng bao giờ để mình rơi vào tình trạng bi quan, hay cay đắng là những điều ma quỷ đưa đến cho chúng ta hàng ngày.”

Đó là khi con người ghen tương, tham vọng, chia rẽ hay tham lam. Ngài nói: “Ma quỷ có hai vũ khí rất mạnh để tiêu diệt Giáo hội: đó là chia rẽ và tiền bạc… ma quỷ gieo trong lòng người sự ghen tương, tham vọng, và các ý tưởng chia rẽ hay tham lam. Nó gieo vào lòng người một cuộc chiến bẩn thỉu, gây ra chia rẽ như chủ nghĩa khủng bố.”

Đó là khi con người ngồi lê đôi mách, nói xấu nói hành nhau. Ngài nói: “Ẩn sau những lời đồn thổi là sự đố kị và ganh ghét. Những câu chuyện ngồi lê đôi mách này chia rẽ cộng đoàn, phá hủy cộng đoàn. Buôn chuyện là một vũ khí rất hiệu quả của ma quỷ.”

Ngoài ra, Đức Phanxicô còn cho biết: “Ma quỷ đang tấn công dữ dội vào các gia đình, là nơi ma quỷ không muốn tình yêu được thể hiện và chúng đang tìm cách để phá hủy tình yêu…”. Ngài còn cho biết thêm: “Ma quỷ không bao giờ chịu đứng im nhìn sự thánh thiêng và tốt lành của Giáo hội hay của mỗi chúng ta mà không cố tìm cách phá hủy sự tốt lành đó.”

Vậy, trước các hoạt động Quỷ dữ đang tấn công con người, chúng ta phải làm gì để đối phó với chúng ? Đức Phanxicô dạy chúng ta là đừng bao giờ đối thoại với chúng mà hãy dùng Lời Chúa để đối phó với chúng. Ngài nói: “Hãy xem cách Đức Giêsu đáp trả lại [những cám dỗ]: Người không đôi co với Satan, như Eva trong vườn Địa đàng. Đức Giêsu biết rất rõ rằng con người không thể dùng miệng lưỡi đôi co lại với Satan vì hắn rất xảo quyệt. Vì vậy, thay vì tranh luận với hắn như Eva xưa, Chúa Giêsu đã chọn cách vững chắc là dùng Lời Chúa để đáp lại ma quỷ với uy quyền của Lời Người. Chúng ta hãy ý thức điều này mỗi khi chúng ta bị cám dỗ …: Đừng đối thoại với Satan, nhưng hãy dùng Lời của Chúa để bảo vệ chúng ta. Và Lời Người sẽ cứu thoát chúng ta.” (Nguồn Lời giảng của Đức Phanxicô sưu tầm trên Internet).

Chúng ta nhớ lại biến cố Đức Giêsu chịu cám dỗ trong sa mạc (x. Lc 4,1-13): khi Satan dùng danh, lợi, thú để cám dỗ Ngài, Ngài đã dùng Lời Chúa để chiến đấu với nó và lần đầu tiên, Satan đã thất bại thảm hại. Đức Giêsu đã chiến thắng lẫy lừng. Bởi Ngài không chiến đấu do sức lực của con người nhưng chiến đấu do sức mạnh của Thần linh đến từ Lời của Thiên Chúa. Từ đó, Satan luôn luôn bị Đức Giêsu khuất phục. Tin mừng Thánh Marcô hôm nay cho chúng ta biết (x. Mc 1,23-28): Khi Đức Giêsu đang giảng dạy trong hội đường thì có một người bị thần ô uế ám, nên thét lên rằng: “Hỡi ông Giêsu Nadarét, có chuyện gì giữa chúng tôi và ông? Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao? Tôi biết ông là ai, là Ðấng Thánh của Thiên Chúa.” Đức Giêsu quát bảo nó rằng: “Hãy im đi và ra khỏi người này!” Thần ô uế liền dằn vặt người ấy, thét một tiếng lớn, rồi xuất khỏi người ấy. Đây không phải là lần duy nhất Đức Giêsu trừ quỷ. Đọc Tin mừng cho chúng ta thấy nhiều lần nhiều nơi, Đức Giêsu đã dùng quyền năng của Ngài để trừ quỷ (x. 1,34.39; 3,11-12). Chẳng hạn, Ngài cho cả một đạo quân Quỷ dữ nhập vào đàn heo và cả đàn heo lăn xuống biển mà chết (x. Mc 5,1-20); Ngài chữa người bị quỷ ám mắc chứng bệnh động kinh (x. 9,14-29). Không những Ngài trực tiếp trừ quỷ mà Ngài còn gián tiếp giúp con người thoát khỏi ách thống trị của chúng như chữa lành bệnh tật, tha thứ tội lỗi : Ngài cho kẻ mù được thấy, kẻ câm nói được, kẻ điếc được nghe, kẻ què đi được, người mắc bệnh phong được khỏi; Ngài tha tội cho kẻ bất toại, người phụ nữ ngoại tình, những người thu thuế và các cô gái điếm…giúp họ thoát khỏi sự kìm kẹp của Quỷ dữ để họ được gia nhập với cộng đoàn. Vì theo quan niệm của người Do thái thì bệnh tật, tội lỗi là do Quỷ dữ gây ra.

Như vậy, Đức Giêsu có quyền trên Quỷ dữ, Ngài luôn chiến thắng chúng. Vì vậy, chúng ta muốn chiến thắng Quỷ dữ thì cần phải nhờ ơn Chúa giúp. Chúng ta nhờ ơn Chúa qua việc ăn chay và cầu nguyện. Chúng ta nhờ ơn Chúa qua việc đọc, suy gẫm và sống Lời của Ngài, vì “Lời của Ngài có uy quyền”. Chúng ta nhờ ơn Chúa qua việc từ bỏ ý riêng để tuân phục ý Chúa. Tuân phục thánh ý Chúa bằng cách chu toàn bổn phận đấng bậc mình, sống gắn bó với Chúa như lời Thánh Phaolô căn dặn trong bài đọc II hôm nay: “Người không có vợ thì lo lắng việc Chúa, và tìm cách làm đẹp lòng Chúa. Nhưng người đã có vợ thì lo lắng việc đời này, và tìm cách làm đẹp lòng vợ mình, và họ bị chia xẻ. Cũng thế, người phụ nữ không có chồng và đồng trinh thì lo lắng việc Chúa, để nên thánh phần xác và phần hồn. Còn người phụ nữ đã có chồng thì lo lắng việc đời này, và tìm cách làm đẹp lòng chồng mình.” (1Cr 7, 32-34).

Lạy Chúa, Quỷ dữ luôn tấn công chúng con với nhiều chiêu thức khác nhau. Tự sức chúng con không thể thắng được chúng. Vì vậy, xin cho mỗi người chúng con luôn biết sống khăng khít với Chúa để nhờ đó chúng con mới có thể thắng được mọi cơn cám dỗ của Quỷ dữ. Amen.

Về mục lục

.

ĐỨC GIÊSU – ĐẤNG QUYỀN NĂNG

Lm.Giuse Đỗ Đức Trí

Trong những tuần vừa qua, các bài đọc Lời Chúa giới thiệu cho chúng ta: Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế Thiên Chúa đã hứa ban cho nhân loại. Ngài đã đến để khai mở Nước Trời, kêu gọi mọi người sám hối và tin vào Tin Mừng. Chúa nhật hôm nay, Tin Mừng giới thiệu cho chúng ta: Đức Giêsu chính là một vị Thiên Chúa quyền năng. Quyền năng của Ngài khiến cho mọi tà thần, ma quỷ phải khiếp sợ.  

Quyền năng của Đức Giêsu hoàn toàn khác với quyền lực của thế gian. Thế gian dùng quyền lực để thống trị, uy hiếp người khác và bảo vệ cho địa vị của mình. Còn quyền năng của Đức Giêsu là uy quyền của một vị Thiên Chúa, Đấng tạo thành và làm chủ mọi loài mọi vật trên vũ trụ này. Ngài dùng quyền năng để xua trừ ma quỷ và tội lỗi, đem lại niềm vui, giải thoát và hạnh phúc cho nhân loại.

Trong ký ức của người Do Thái, ông Mose vừa là một thủ lĩnh tài ba, vừa là một vị đại ngôn sứ uy thế trước mặt Thiên Chúa và mọi người. Mose được coi như một vị anh hùng thay mặt Chúa, đứng ra để lãnh đạo dân thực hiện cuộc xuất hành khỏi Ai Cập. Biến cố xuất hành đã thay đổi hoàn toàn số phận của dân Israel. Từ một dân nô lệ, Israel trở thành dân tự do, từ một dân du mục, trở thành những người được định cư tại miền đất hứa. Không những thế, trong suốt bốn mươi năm vượt sa mạc, Mose còn được coi như là nhà tổ chức và người lập luật cho dân tộc này. Bộ luật của Mose (Ngũ Kinh) vẫn còn ảnh hưởng trên dân Do Thái cho đến ngày hôm nay.

Bài đọc một cho thấy, lúc Mose đang được tôn trọng như một ngôn sứ vĩ đại, ông đã tiên báo rằng: Thiên Chúa hứa, từ giữa anh em, Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện một vị ngôn sứ như tôi để giúp anh em. Anh em hãy nghe lời vị ấy. Vị ngôn sứ này sẽ trở thành trung gian nói lời của Thiên Chúa cho dân và chính Ngài sẽ là hình ảnh của Thiên Chúa giữa muôn dân: Ta sẽ đặt lời ta trong miệng người ấy, Vị đó sẽ nói với các ngươi những gì ta truyền cho các ngươi. Vì thế, kẻ nào không nghe lời ta truyền qua miệng của vị đó, kẻ ấy sẽ phải chết. Lời tiên báo của Mose đã được các tác giả Tin Mừng thấy ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu. Vì thế, Tin Mừng hôm nay muốn giới thiệu cho chúng ta, Đức Giêsu chính là một Mose mới, là một vị ngôn sứ quyền năng đã được Mose cũ tiên báo. 

Ngay những ngày đầu tiên xuất hiện công khai rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa tại vùng Caphanaum, Đức Giêsu đã thu hút được sự chú ý của rất nhiều người. Họ tin Ngài như là một ngôn sứ và còn hơn hẳn các ngôn sứ trước đây, kể cả Gioan Tiên Hô, Đức Giêsu đã giảng dạy với uy quyền của một vị Thiên Chúa, khiến cho dân chúng kinh ngạc.

Dân thành Caphanaum không chỉ kinh ngạc về lời và cách thức giảng dạy của Chúa Giêsu, mà các việc làm của Ngài còn khiến dân chúng kinh ngạc hơn. Lúc đó, trong hội đường, có một người bị thần ô uế ám. Khi thấy Đức Giêsu, thần ô uế la lên: Hỡi ông Giêsu Nazareth, chúng tôi có can chi đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi: Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa. Chi tiết này cho thấy, nếu như trước đây, nhân loại bị ràng buộc dưới quyền lực thống trị của ma quỷ và các thần xấu, hôm nay, với sự xuất hiện của Đức Giêsu, ma quỷ phải khiếp sợ, thế lực của nó bị đẩy lui và bị tiêu diệt. Chính ma quỷ đã phải thú nhận điều đó, sự xấu đã phải đầu hàng trước sự thánh thiện, thần ô uế phải trốn chạy trước: Đấng Thánh của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu đã không dung tha cho ma quỷ, không thỏa thuận, thỏa hiệp với thế lực sự xấu, Ngài đã quát mắng và ra lệnh cho chúng: Câm miệng, và xuất khỏi người này. Bằng một mệnh lệnh đầy uy quyền của một vị Thiên Chúa, đã khiến cho ma quỷ và tà thần buộc phải câm miệng và xuất ra. Thần ô uế dằn vặn người bị nó ám, thét lên và xuất ra khỏi người bị ám. Việc làm này của Chúa Giêsu chứng tỏ rằng: Nước Trời và quyền năng của Thiên Chúa đã thực sự lan tỏa trên mặt đất, giải thoát và đem đến cho con người sự tự do. Những ai tin vào Đức Giêsu là Đấng quyền năng, thì sẽ được quyền năng của Ngài bảo vệ. Với sự xuất hiện của Đức Giêsu, nhân loại và vũ trụ này sẽ được giải thóat khỏi sự sợ hãi, ràng buộc, nô lệ của ma quỷ và các thế lực bóng tối và được tự do, sống trong ánh sáng.

Tin Mừng Marcô đã ghi nhận phản ứng của dân chúng khi chứng kiến phép lạ Chúa Giêsu thực hiện. Dân chúng sững sờ, ngạc nhiên, họ đặt ra nhiều câu hỏi để tìm hiểu về con người và việc làm của Chúa Giêsu. Họ suy nghĩ về ý nghĩa và lời giảng của Ngài. Họ nhận định: Lời giảng của Ngài thì mới mẻ; người giảng thì có uy quyền. Dân chúng đã đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi hết sức quan trọng: Ngài là ai mà lại ra lệnh cho các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh? 

Mặc dù tác giả Tin Mừng đã không ghi nhận câu trả lời của dân thành Caphanaum, nhưng lại cho thấy niềm tin của họ, đó là, những người này đã tin và loan truyền danh tiếng của Ngài cho khắp vùng Galilea. Phải chăng khi không ghi lại câu trả lời của những người dân thành Caphanaum, tác giả Tin Mừng muốn mỗi chúng ta ngày nay tự tìm câu trả lời cho riêng mình: Đức Giêsu là ai đối với tôi ?

Ngày nay chúng nhận biết Chúa Giêsu, từng chứng kiến bao việc lạ lùng Ngài đã thực hiện cho mình và gia đình, nhưng nhiều người vẫn không thán phục và không đặt trọn niềm tin nơi Ngài. Nhờ Bí Tich Rửa tội, chúng ta trở nên công dân Nước Trời, nhưng nhiều người vẫn không suy phục quyền năng của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu. Họ không chạy đến cầu xin Người mỗi khi bị thử thách, bị tội lỗi vây bủa, giam hãm, mà lại tìm kiếm, cậy dựa vào thế lực của ma quỷ, tối tăm như: xem thày- bà, bói- toán. Nhiều người đã không tin Thiên Chúa quyền năng luôn làm mọi điều tốt đẹp, luôn bảo vệ và gìn giữ chúng ta, nên đã thực hành tin kiêng, mê tín, theo kiểu dân ngoại, coi ngày coi giờ, kiêng mồ, kiêng mả. 

Nhiều người đã để gia đình mình trống rỗng, không có Chúa, không có việc đạo đức, không có giờ kinh sớm tối,  trở thành chỗ cho ma quỷ và các sự xấu xâm nhập. Ma quỷ không thể làm điều tốt, chúng chỉ có thể đem đến sự bất hòa bất thuận, chúng gieo sự hồ nghi vào trong gia đình. Ma quỷ và sự lười biếng là thủ phạm gây ra cãi vã, rạn nứt; sự lười biếng dẫn đến say sưa, nhàn cư vi bất thiện, khiến nhiều gia đình đang đứng trước nguy cơ đổ vỡ, bất hòa. 

Để khôi phục lại sự tin tưởng lẫn nhau và sự êm ấm trong gia đình, đòi các thành viên, từ cha mẹ đến con cái, phải suy phục, tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa. Mỗi người phải không ngừng khám phá sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời và gia đình, đặt Chúa Giêsu vào vị trí trung tâm của đời sống cá nhân và gia đình. Thiên Chúa sẽ không thể hiên quyền năng khi chúng ta từ chối không tin Ngài. Vì thế muốn Thiên Chúa làm chủ và xua đuổi sự dữ, sự xấu ra khỏi gia đình và cuộc sống, mỗi người cần khiêm tốn và hoàn toàn đặt trọn niềm tin nới Chúa; để cho Ngài hướng dẫn và vâng theo sự hướng dẫn của Ngài. Siêng năng dâng lễ và rước Chúa vào tâm hồn là cách tốt nhất để mời Chúa về gia đình. Giờ kinh tối là cách để cho Lời Chúa uốn nắn điều khiển gia đình. Khi chuyên chăm như thế, Thiên Chúa sẽ thực hiện quyền năng của Ngài và những điều kỳ diệu trong gia đình.

Xin Chúa giúp chúng ta luôn ý thức rằng, chúng ta cũng được “chia sẻ vào quyền năng” của Thiên Chúa để đem lại hạnh phúc cho người khác. Vì thế, xin cho chúng ta biết sống tâm tình suy phục, biết ơn Thiên Chúa và dùng khả năng Chúa ban để phục vụ anh em đồng loại, đem lại cuộc sống hạnh phúc cho người chung quanh. Amen.

Về mục lục

.

CHỈ PHỤNG SỰ MỘT MÌNH CHÚA

Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Mc 1,21-28.

(21) Đức Giê-su và các môn đệ đi vào thành Ca-phác-na-um. Ngay ngày Sa-bát, Người vào hội đường giảng dạy. (22) Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư. (23) Lập tức, trong hội đường của họ, có một người bị thần ô uế nhập, la lên (24) rằng: “Ông Giê-su Na-gia-rét, chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến để tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi: Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa!”. (25) Nhưng Đức Giê-su quát mắng nó: “Câm đi, hãy xuất khỏi người này!” (26) Thần ô uế lay mạnh người ấy, thét lên một tiếng, và xuất khỏi anh ta. (27) Mọi người đều kinh ngạc đến nỗi họ bàn tán với nhau: “Thế nghĩa là gì? Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh!”. (28) Lập tức danh tiếng Người đồn ra mọi nơi, khắp cả vùng lân cận miền Ga-li-lê.

  1. Ý CHÍNH:

Đức Giêsu chính là vị Ngôn Sứ ưu việt đã được Mô-sê tiên báo sẽ đến. Tin mừng Mác-cô hôm nay trình bày Đức Giê-su khởi đầu sứ mạng Thiên Sai vào một ngày Sa-bát tại một hội đường thành Ca-phác-na-um miền Ga-li-lê. Lời giảng dạy và quyền uy của Đức Giê-su khiến mọi người thán phục

  1. CHÚ THÍCH:

– C 21-21: +Thành Ca-phác-na-um: Là một thành nằm về phía Tây Bắc của biển hồ Ga-li-lê. Đức Giê-su chọn thành này làm trung tâm truyền giảng Tin Mừng. Tại thành này, Người đã làm nhiều phép lạ như: trừ quỉ (x. Mc 1,23-28), chữa bệnh (x. Mc 5,25-34), cho kẻ chết sống lại (x. Mc 5,21-43)… Người cũng có lần quở trách thành này vì đã cứng lòng tin (x. Mt 11,23-24). + Hội đườngLà một ngôi nhà hình vuông gồm có ba gian, được xây hướng về Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Nơi gian giữa có đặt một tủ đựng Sách Thánh, và một cái giá dành cho chủ sự. Hội đường là nơi người Do Thái trong làng hội họp để nghe giảng Kinh Thánh và cầu nguyện. Chúa Giê-su thường được mời giảng tại các hội đường khắp nước Do thái.

– C 23-24: +Một người bị thần ô uế ámĐây là một người bị quỉ nhập vào. Ma quỉ hay Xa-tan có nhiều nghĩa: “kẻ hủy diệt”, “kẻ gian ác”, “người cáo tội” (Tv 109,6)… Ở đây ma quỉ được gọi là “thần ô uế” để đối lập với Đức Giê-su là “Đấng Thánh của Thiên Chúa”.

– C 25-27: +“Câm đi, hãy xuất khỏi người này”Việc Đức Giê-su ra lệnh và ma quỷ đã phải im tiếng xuất ra khỏi người bị nó ám, chứng tỏ uy quyền tuyệt đối của Người trên ma quỷ.

  1. CÂU HỎI: 1- Ma quỉ có thực hay chỉ là tưởng tượng của những người mê tín dị đoan? Kinh Thánh nói gì về sự hiện hữu của ma quỉ và các hoạt động của chúng? Đức Giê-su và Giáo Hội sơ khai có thái độ thế nào đối với ma quỉ? 2- Khi thấy một người có biểu hiện bất thường về tâm thần, ta có nên vội kết luận họ bị quỉ ám và tìm cách trừ tà hay không? Ai có quyền cử hành nghi lễ trừ tà? 3- Để có thể trục xuất ma quỉ ra khỏi người bị nó ám thì người trừ quỉ cần có những điều kiện nào? 4- Ngày nay, ngoài việc trừ ma quỉ, giải thoát những người đang bị đàn áp khống chế, Giáo Hội còn có sứ mạng gì liên quan đến ma quỉ?

ĐÁP:

  1. +Ngày nay, nhiều người không tin có ma quỉ. Họ thường giải thích các hiện tượng siêu nhiên do ma quỉ làm nơi con người thuần túy chỉ là những triệu chứng của bệnh thần kinh. Đang khi Kinh Thánh lại luôn khẳng định về sự hiện hữu của ma quỉ..

+Trong Kinh Thánh, ma quỉ được gọi là “Con Mãng Xà”, “Xa-tan” hay “Thần ô uế” (x. Kh 20,2 ; Mc 1,23). Chúng vốn là thiên thần trên trời, nhưng do phản nghịch với Thiên Chúa nên đã bị phạt xuống hỏa ngục (x. Gd 1,6 ; Kh 20,7-10); Chúng được Thiên Chúa cho phép thử thách đức tin của người ta như trường hợp ông Gióp (x. G 1,6-2,7); Chúng cám dỗ người ta phạm tội như cám dỗ bà E-và (x. St 2,24), cám dỗ Đức Giê-su (x. Lc 4,2); Chúng ám hại người ta như đã giết 7 người chồng của bà Xa-ra (x. Tb 3,8 ; 6,14); Chúng trói buộc người ta bằng cách làm cho họ bị bệnh tật (x. Lc 13,16)…

+Sứ mạng của Đức Giê-su là tiêu diệt ma quỉ (x. Mc 1,24). Người không nhờ tướng quỉ mà trừ quỉ (x. Mc 3,22-26), nhưng nhờ quyền năng Thiên Chúa (x. Mt 12,22tt). Kết quả là ma quỉ phải chịu khuất phục (x. Ga 14,30). Người cũng ban cho các Tông đồ được quyền trừ quỉ (x. Mc 6,7). Giờ Tử Nạn và Phục Sinh của Người là lúc ma quỉ bị tống ra ngoài và bị xét xử (x. Ga 12,31; 16,11).

+Đến thời Giáo Hội Sơ Khai, Phi-líp-phê đã nhờ Thánh Thần mà trừ quỉ (x. Cv 8,7); Phao-lô cũng có khả năng trừ quỉ (x. Cv 19,11-12). Ngày nay ma quỉ vẫn đang hoành hành bằng cách nhập vào những người yếu đức tin (x. Mt 13,43-45); Chúng hành hạ người ta như sàng gạo vậy (x. Lc 22,31). Chúng giống như sư tử luôn rình mồi cắn xé người ta (x. 1 Pr 5,8). Hội Thánh vững tin sẽ toàn thắng ma quỉ khi đến ngày tận thế. Bấy giờ ma quỉ cùng những kẻ đi theo chúng sẽ bị giam phạt trong hoả ngục đời đời (x. Mt 25,41; Lc 10,18).

  1. +Không nên vội xác định bệnh nhân đã bị quỉ ám, nhưng trước tiên cần đem đến bác sĩ thần kinh hay bác sĩ phân tâm học để được khám và điều trị bằng thuốc men hay các phương pháp tâm lý tự nhiên. Nếu bệnh không thuyên giảm và có những bằng chứng do ma quỉ làm thực sự, thì phải nhờ Cha Sở hay Linh Mục đặc trách trừ quỉ điều tra xem xét. Các vị này sẽ tiến hành việc trừ quỉ dưới sự chỉ đạo của Đấng Bản Quyền Giáo phận.

+Theo kết quả điều tra thì phần lớn các trường hợp nạn nhân tưởng là bị quỉ ám, thư ếm hay bùa ngải… Thực ra chỉ là hiện tượng suy nhược thần kinh hoặc do ảo giác tưởng tượng mà thôi. Riêng các hiện tượng lạ như bàn ghế tự nhiên xê dịch, giường nằm của bệnh nhân có ai đó dựng lên, hoặc bệnh nhân tự nhiên được nâng cao lên khỏi giường, hoặc có những tiếng gõ bàn hay tiếng nói mỗi khi thày ngải tra hỏi bệnh nhân… có thể do ma quỉ gây ra, mà cũng có thể chỉ là ảo thuật do các thầy pháp hay thầy phù thủy thực hiện, nhằm đánh lừa để người ta tin theo.

+Trong trường hợp chắc chắn các hiện tượng trên do ma quỉ nhập vào và khống chế làm hại một người nào đó, thì Đấng Bản Quyền sẽ chỉ định các linh mục chuyên viên đủ kinh nghiệm chính thức cử hành nghi lễ trừ quỉ.

  1. +Nếu bệnh nhân thực sự bị quỉ ám, thì các chuyên gia chỉ trừ được ma quỉ nếu có đức tin vững mạnh và ý chí kiên quyết (x. Mt 17,20). Phải ăn chay và cầu nguyện trong suốt thời gian trừ quỉ (x. Mt 4,5) ; Phải kết hiệp mật thiết với Chúa Giê-su để nhờ quyền năng của Người mà trừ quỉ (x. Ga 15,5). Họ cũng phải nhờ Thần Khí của Chúa Giê-su (x. Mt 12,28) và nhân danh Người mà trừ quỉ (Mc 9,38). Cuối cùng họ còn phải là người từng trải và có kinh nghiệm để có thể đối phó hữu hiệu với ma quỉ và tránh bị chúng làm hại (x. Cv 19,11-19).
  2. +Hiện nay, ngoài việc trừ quỉ, Hội Thánh còn có sứ mạng chống lại những sự dữ thuộc về ma quỉ như: ma thuật, đồng bóng và mê tín dị đoan (x. Cv 13,9-11). Bài trừ tận gốc các tệ nạn xã hội như: Sì-ke ma túy, mãi dâm, rượu chè, cờ bạc, sách báo phim ảnh khiêu dâm bạo lực (x. Mt 19,16-18); Hội Thánh cũng phải hòa giải các tranh chấp, đấu tranh chống lại bất công bóc lột. Cuối cùng Hội Thánh còn phải cộng tác với chính quyền và các tổ chức nhân đạo bài trừ các thứ giặc như: nghèo đói, dốt nát và mê tín (x. 1 Cr 10,20).

+Ngoài ra, Hội Thánh cũng khuyên các tín hữu phải phòng tránh sự khôn ngoan giả dối của thế gian và ma quỉ (x. Gc 4.14-15), đề phòng các tiên tri giả là tay sai của ma quỉ gửi các thư nặc danh, các tin nhắn mạo danh “Sứ điệp từ trời” để đả kích Đức Thánh Cha, truyền bá một thứ giáo lý sai lạc ngược lại giáo lý tông truyền của Hội Thánh (x. Tm 4,1 ; Kh 16,14).

II. SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: Mọi người đều kinh ngạc đến nỗi họ bàn tán với nhau: “Thế nghĩa là gì? Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh!” (Mc 1,27).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) CHRISTOPHER- NGƯỜI BỒNG ẴM CHÚA KI-TÔ

Kho truyện các thánh có ghi lại câu chuyện về một người mang Đức Ki-tô như sau:

Có một chàng thanh niên có sức mạnh phi thường nhưng không ai biết tên thật của chàng. Anh này có tâm nguyện đi tìm một người quyền lực nhất để phụng sự. Đầu tiên anh nghĩ không ai quyền lực hơn viên tướng cướp trong vùng anh đang ở nên đến gia nhập vào băng cướp và anh được phân công làm hộ vệ cho viên tướng cướp. Nhưng mỗi lần băng cướp sắp có vụ làm ăn, anh ta lại thấy viên tướng cướp phải đến nhờ thầy phù thuỷ làm phép cho vụ làm ăn thành công. Thế là anh thanh niên liền bỏ viên tướng cướp để xin theo hầu thầy phù thuỷ. Một hôm, khi theo thầy phù thủy đi hành nghề, anh thấy thầy đang đi trên đường gặp một cây Thánh giá bên vệ đường liền sợ hãi không dám đi tiếp mà vòng lại đi đường khác. Thế là anh chàng lực sĩ liền bỏ thầy phù thuỷ quay trở lại đứng bên cây Thánh giá để mong được gặp chủ nhân cây Thánh giá. Anh ta cứ đứng đó chờ mấy ngày liền mà vẫn không thấy chủ nhân cây Thánh giá xuất hiện. Nơi đó gần một khúc sông cạn và có nhiều người đã phải mạo hiểm lội bì bõm qua sông để sang bờ bên kia. Một hôm, một chú bé đến nhờ anh lực sĩ cõng qua sông và anh đã lập tức giúp cõng em trên vai lội qua sông. Có điều khi mới được một đoạn ngắn, anh lực sĩ tự nhiên cảm thấy chú bé trở nên quá nặng, liền hỏi lý do và được chú bé trả lời: “Ta nâng đỡ cả trái đất trên tay nên làm sao không nặng cho được”. Cậu bé còn cho biết mình chính là chủ nhân của cây Thánh giá mà chàng lực sĩ đang muốn gặp mặt. Thế là chàng lực sĩ liền xin đi theo vị Chúa Ki-tô Chủ Tể của trái đất này. Chúa Ki-tô dạy anh: “Nếu muốn phụng sự Ta, con hãy dựng một căn lều và luôn ở cạnh cây Thánh giá, để nếu có ai muốn qua sông thì con sẽ cõng họ qua”. Chàng lực sĩ liền làm theo lệnh Chúa truyền. Từ ngày đó, dân chúng trong vùng đã gọi chàng bằng cái tên thân thương là KÍT-TÔ-PHƠ (Christopher), nghĩa là “Người mang vác Chúa Ki-tô”.

2) PHIM “NGƯỜI TRỪ QUỈ”:

Vào năm 1970, cuốn phim “Người trừ quỉ” (Exorcist) được trình chiếu thì lập tức đã phá kỷ lục số vé bán ra. Chuyện phim kể lại một câu chuyện có thật về một thiếu niên 14 tuổi ở vùng Mao-Rai-mơ (Mt. Raimer), thuộc bang Me-ri-len (Maryland) của Hoa Kỳ vào năm 1949. Về sau, tờ “Tuần Tin Tức” (Newsweek) đã tường thuật câu chuyện này như sau: “Theo người cha kể lại thì cậu thiếu niên này thích ở một mình trên gác xép và chơi cầu cơ. Qua trò cầu cơ, cậu ta thường nói chuyện lâu giờ với một người có tên là “Ông Đại Úy”. Lúc đầu người cha cho rằng cầu cơ chỉ là một trò giải trí vô hại. Nhưng về sau, khi thấy con trai có những biểu hiện bất thường, thì cha mẹ cậu bé bắt đầu lo lắng. Nhất là một hôm ông bố nhìn thấy ghế bàn và chiếc giường cậu con đang nằm tự nhiên bị di chuyển trên sàn nhà giống như có bàn tay vô hình nào đó kéo đi. Rồi ban đêm cậu bé bị mất ngủ và hay nói lầu bầu điều gì đó với cái giọng khàn đặc của một gã đàn ông trung niên. Sau đó buộc lòng ông bố phải đưa con đến bệnh viện của trường Gioóc-dơ-tao (Georgetown), một trường đại học danh tiếng. Tại đây bác sĩ điều trị phát hiện ra cậu bé biết nói thành thạo tiếng La-tinh, một thứ cổ ngữ rất khó học mà cậu ta chưa từng biết đến trước đó. Cuối cùng sau một thời gian nằm điều trị vô hiệu, cha mẹ cậu đành đem con về nhà và nhờ hai vị linh mục dòng Tên có lòng đạo đức thánh thiện đến nhà cử hành nghi lễ trừ quỉ.

Cuộc chiến đấu giành linh hồn của cậu bé đã xảy ra rất căng thẳng và quyết liệt, kéo dài suốt 2 tuần lễ. Cuối cùng ma quỉ cũng chịu khuất phục và xuất ra khỏi nạn nhân. Nhưng đồng thời vị linh mục chủ lễ cũng đã gục xuống chết tại chỗ do chứng nhồi máu cơ tim. Hiện nay cậu bé trên vẫn còn sống tại thủ đô Wo-sinh-tơn (Washington). Một trong hai linh mục từng tham gia vào việc trừ quỉ đã thề là không bàn luận gì thêm về công việc nguy hiểm này. Tuy nhiên ông cũng cho biết là chính nhờ tham gia vào việc trừ quỉ mà bản thân ông đã thêm đức tin để luôn trông cậy vào quyền năng và tình thương của Chúa.

3) SỨC MẠNH HOÁN CẢI CỦA LỜI CHÚA:

Tokichi Ishii, một tên sát nhân không gớm tay đã đạt kỷ lục hạ sát nhiều nạn nhân nhất bằng những phương thế dã man không thể tưởng tượng nổi. Hắn tàn sát đàn ông, phụ nữ, trẻ em với bàn tay khát máu, hắn đã thủ tiêu bất cứ người nào tình cờ hắn gặp và muốn giết. Nhưng cuối cùng hắn bị bắt và bị kết án tử hình.

Lúc ở nhà tù chờ ngày hành quyết, hai phụ nữ công tác tông đồ khuyên nhủ hắn, tất cả những lời thăm hỏi, trò chuyện của họ không làm cho hắn mảy may động tâm, trái lại hắn nhìn thẳng vào họ với cặp mắt dữ tợn như một hung thủ.

Cuối cùng, mất hết kiên nhẫn, hai phụ nữ ra về. Họ chỉ để lại cho hắn cuốn Tân ước với hy vọng mỏng manh hắn sẽ đọc và Lời Chúa sẽ hoạt động… Niềm hy vọng đã trở thành sự thật. Ishii đã đọc, Lời Chúa thu hút anh khiến anh tiếp tục đọc trình thuật cuộc tử nạn của Chúa Giêsu… Đọc đến câu: “Lạy Cha, xin Cha tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”! (Lc 23, 34), anh dừng lại, suy nghĩ. Anh tâm sự: “Đọc đến câu này, con tim tôi bị đánh động, bị đâm thâu bằng một con dao dài. Tôi có thể gọi đó là tình yêu của ông Giêsu, là lòng thương xót của Ngài. Điều duy nhất tôi biết là sự hung dữ, tàn bạo nơi tôi đã tan biến và tôi đã tin vào Chúa”.

Các nhân viên nhà giam dẫn đưa anh đi hành quyết, họ rất ngạc nhiên thấy tử tôi Ishii hòa nhã, lễ độ, chứ không phải một tên sát nhân hung bạo. Ishii, tên tử tội đã được lời Chúa tái sinh.

(Trích Lẽ Sống, Radio Veritas)

4) SỰ KHÔN LANH VÀ HIỂM ĐỘC CỦA MA QUỶ:

Một tu sĩ kia rất có lòng đạo đức, ngày nào ông cũng thức dậy lúc 5 giờ sáng để đọc kinh thờ phượng Chúa. Xảy ra là có một hôm ông ngủ quên, thấy vậy, tướng quỷ Sa-tan đến đánh thức ông. Khi biết kẻ đánh thức mình là Sa-tan, tu sĩ tỏ dấu thắc mắc, ma quỷ liền nói với ông: “Tôi là ai, điều đó không quan trọng, việc tôi đánh thức ông là một điều tốt. Ông thấy không, ai làm việc lành đều là người tốt cả. Vậy tôi cũng là một người tốt”. Tu sĩ đáp: “Không bao giờ ma quỷ lại làm điều lành, vậy nhân danh Thiên Chúa, mi phải nói rõ vì lý do nào mi đánh thức ta?“ Bấy giờ ma quỷ buộc lòng phải nói thật: “Nếu ngày nào ông ngủ quên không đọc kinh sáng, thì khi thức dậy ông sẽ cảm thấy hối hận, khiêm tốn và quyết tâm sống đạo đức hơn. Còn ngày nào ông thức dậy sớm đọc kinh sáng, thì ông sẽ nghĩ mình đạo đức và không quyết tâm làm các việc lành khác”. Nói xong nó biến mất.

Câu chuyện trên cho thấy ma quỷ thật khôn lanh quỷ quyệt khi cám dỗ loài người chúng ta.

  1. SUY NIỆM:

Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa hằng sống, là Đấng quyền năng trong lời nói và việc làm

1) QUYỀN NĂNG TRONG LỜI NÓI:

Đức Giê-su đã rao giảng Lời Chúa trong hội đường Ca-phác-na-um khiến người nghe phải kinh ngạc, vì : “Người giảng dạy người ta như Đấng có uy quyền chứ không như các luật sĩ” (Mc 1,22).

Vì Người là chính Lời Thiên Chúa nhập thể làm người và được Chúa Cha sai đến làm Đấng Thiên Sai, nên Người chỉ nói Lời Thiên Chúa cho loài người chứ không bị lệ thuộc vào thế giá của các ngôn sứ đi trước, kể cả ông Mô-sê. Đức Giê-su đã biểu lộ uy quyền khi thay đổi các tập tục trong Luật Mô-sê: “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người… Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình thì phải bị đưa ra tòa…” (Mt 5,21-22).

Người cố ý chữa bệnh trong ngày Sa-bát, và khi bị hạch hỏi Người đã trả lời như sau: “Ngày Sa-bát được làm ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày Sa-bát; Bởi đó, Con Người làm chủ luôn cả ngày Sa-bát” (Mc 2,27).

2) QUYỀN NĂNG TRONG HÀNH ĐỘNG:

Đúc Giê-su thể hiện là Đấng Thiên Sai đầy uy quyền như sau:

– Làm chủ các định luật thiên nhiên: Biến nước lã trở thành rượu nho trong bữa tiệc cưới thành Ca-na; Nhân 5 chiếc bánh và 2 con cá ra nhiều cho môn đệ phân phát cho 5 ngàn người được ăn no trong hoang địa; Đi trên mặt nước mà đến với thuyền các môn đệ; Dẹp yên sóng gió giữa biển hồ; Giúp các môn đệ bắt được mẻ cá lạ lùng…

– Chữa lành các bệnh hoạn tật nguyền: Người cũng dùng lời quyền năng để chữa lành các bệnh hoạn tật nguyền trong dân như: Cho người mù được sáng mắt; Kẻ câm nói đươc, người điếc được nghe, người què đi được, người phong cùi được sạch…

– Phục sinh kẻ chết: Người còn truyền cho một bé gái mới chết đang nằm trên giường được trỗi dậy; Cho một thanh niên mới chết tại cửa thành Na-im đang được người thân mang đi chôn; Cho anh La-da-rô đã chết được chôn trong mồ 4 ngày được sống lại và ra khỏi mồ; Và chính Người đã từ cõi chết trỗi dậy vào ngày thứ ba đúng như Người đã tiên báo.

3) QUYỀN NĂNG TRÊN MA QUỶ:

Gặp Đức Giê-su, ma quỷ đã nói ra sứ vụ cứu thế của Người như sau: “Ông Giê-su Na-gia-rét, chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến để tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi: Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa!” (Mc 1,24). Đức Giê-su đã lên tiếng quát nạt ma quỷ: “Câm đi, hãy xuất khỏi người này!”. Thần ô uế lay mạnh người ấy, thét lên một tiếng, và xuất khỏi anh ta (Mc 1,25-26). Chính thái độ sợ hãi và vâng phục Đức Giê-su của ma quỷ cho thấy quyền năng của Người như lời đám đông dân chúng đã nói: “Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh!” (Mt 1,27b).

4) PHỤNG SỰ MỘT MÌNH CHÚA:

– Ngày nay noi gương Tông đồ Phê-rô, chúng ta hãy đặt trọn niềm tin vào Chúa Giê-su: Sau bài giảng về Bánh Hằng Sống, nhiều môn đệ không chấp nhận về bí tích Thánh Thể và đã bỏ đi không muốn theo làm môn đệ Đức Giê-su nữa, chỉ còn Nhóm Mười Hai là vẫn còn ở lại với Người. Đức Giê-su đã không rút lại ý định lập bí tích Thánh Thể và đòi các ông phải xác định: tin hay không tin, bỏ đi hay ở lại qua câu hỏi: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?”. Ông Phê-rô đại diện Nhóm Mười Hai đáp lại rằng: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng: Chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,68-69).

– Để trung thành tin theo Chúa Giê-su, cần năng học sống Lời Chúa: Mỗi lần hiệp sống Tin Mừng, chúng ta sẽ khám phá thêm sự mới mẻ của Lời Chúa, và nhận ra quyền năng của Chúa thể hiện trong thiên nhiên và qua các dấu chỉ của thời đại như lời thánh vịnh: “Lời Chúa là đèn soi cho con bước. Là ánh sáng chỉ đường cho con đi” (Tv.118,105). Nhờ năng tham dự các buổi Hiệp Sống Tin Mừng hằng tuần tại nhà Sinh Hoạt Mục Vụ hay trong Giờ Kinh Tối Gia Đình hằng ngày… chúng ta hy vọng sẽ từng bước trở thành “muối men”, hòa lẫn vào thúng bột xã hội để làm cho cả xã hội đều dậy lên men tình yêu của Chúa. “Ánh sáng” của các việc lành chúng ta làm sẽ giúp anh em lương dân nhận biết và ca ngợi Chúa Cha trên trời.

– Chúng ta cũng cần phải ý thức sứ mạng của mình là cộng tác với những người thiện chí để đẩy lùi các tệ nạn xã hội ra khỏi môi trường sống: Hiện nay ma quỉ vẫn luôn tìm cách phá hoại công trình cứu độ của Chúa Giê-su là Hội thánh. Chúng ta cần hợp tác xây dựng một môi trường sống an toàn sạch đẹp và văn minh hơn. Cần quan tâm an ủi những người đang gặp hoàn cảnh khó khăn, bằng việc giúp họ vững tin vào lòng Chúa thương xót và giúp họ vượt qua các tai nạn với hết khả năng của mình.

  1. THẢO LUẬN:

1) Kinh nghiệm của các người tham gia trừ quỷ cho biết: những người bị ma quỉ ám là những kẻ đã có lòng tin vào quyền năng của chúng và có quan hệ mật thiết với chúng như: đến xem các buổi lên đồng, chơi trò cầu cơ, đi coi bói toán… Bạn đã bao giờ tò mò chơi thử những trò nguy hại đó chưa?

2) Bạn cần làm gì để thêm đức tin hầu tránh bị ma quỉ xâm nhập và khống chế, bắt bạn trở thành tay sai của chúng?

  1. NGUYỆN CẦU:

– LẠY CHÚA GIÊ-SU là “Đấng Thánh và là Con Thiên Chúa”. Chúa đến để tiêu diệt ma quỉ và thiết lập một Triều Đại Mới Của Thiên Chúa. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa đã bắt ma quỉ phải câm miệng và xuất ra khỏi người bị chúng trói buộc. Xin cho chúng con vững tin vào quyền năng của Chúa, và xin Chúa giúp chúng con chiến thắng ma quỉ, tội lỗi và các thói hư. Xin cho chúng con sẵn sàng cộng tác với Chúa và những người thiện chí đẩy lùi các cám dỗ của ma quỷ là phim ảnh xấu, ma túy, cờ bạc, rượu chè… ra khỏi gia đình và môi trường chúng con đang sống hầu cho  Nước Chúa mau hiển trị.  

– LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin dạy cho con biết sống quảng đại, biết phụng sự Chúa cho xứng đáng, biết cho đi mà không cần tính toán, biết chiến đấu mà không sợ thương tích, biết làm việc mà không tìm an nghỉ, biết tận lực mà không chờ một phần thưởng nào khác, ngoài việc biết mình đã làm theo thánh ý Chúa. Amen. (Thánh I-mha-xi-ô).

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

Về mục lục

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
Tin Giáo phận
Tin mới