Các bài suy niệm Chúa Nhật IV Mùa Vọng

Đăng lúc: Thứ sáu - 22/12/2017 15:30 - Người đăng bài viết: Ban Truyen Thong

 

CHÚA NHẬT 4 MÙA VỌNG B

Lời Chúa: 2 Sm 7,1-5, 8b-12,14a,16; Rm 16,25-27; Lc 1,26-38

———

DẪN NHẬP

Lời Chúa: “Này Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh một con trai” (Lc 1,31).

Nhập lễ:     

Kính thưa cộng đòan phụng vụ,

Phụng vụ Lời Chúa chúa nhật 4 mùa vọng hôm nay mời gọi chúng ta nhìn ngắm ngôi nhà Thiên Chúa khi Ngài tỏ lộ ý định nhiệm mầu, sai sứ thần Gabriel đến truyền tin cho Đức Maria về việc nhập thể làm người của Con Ngài nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần. Đức Maria đã mau mắn xin vâng:

Nhiệm mầu ẩn giấu bao đời,

Hôm nay tỏ lộ cho người trần gian.

Nhờ lòng Trinh nữ hiền ngoan,

Giê - su con Chúa được ban như “Lời”.

Noi gương Trinh nữ tuyệt vời,

“Xin vâng” ta quyết một đời trung trinh.

Hiệp dâng thánh lễ hôm nay, xin Chúa giúp chúng ta biết bắt chước Đức Maria sống trong sự khiêm nhường và xin vâng thánh ý Thiên Chúa, để cung lòng của chúng ta thật xứng đáng trở nên cung điện cho Con Thiên Chúa ngự đến. Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta hãy thành tâm sám hối.

Sám hối:     

X. Lạy Chúa, Chúa đã tỏ lộ ý định nhiệm mầu của Chúa cho chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa Kitô, Chúa đã hạ sinh xuống thế làm người trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa, Chúa là Đấng khôn ngoan thượng trí, không có gì mà Chúa không làm được. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

Kết: Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.

CĐ: Amen.

Suy niệm:

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Nếu như Isaia và Gioan Tẩy Giả là gương mẫu sáng chói cho ta trong Mùa Vọng, thì Đức Maria là gương mẫu tuyệt hảo hơn nữa trong việc trông chờ Chúa đến. Đức Maria không chỉ là người dọn đường mà còn là nhân vật hết sức quan trọng trong mầu nhiệm Giáng sinh. Vì thế, phụng vụ Lời Chúa chúa nhật hôm nay mời gọi ta nhìn ngắm ngôi nhà Thiên Chúa.

Thưa anh chị em, Vua Đavít sau khi chiến thắng quân thù, đã phát triển quyền lực và vinh quang, nhất là khi đã xây dựng xong cung điện nguy nga. Là một vị vua đạo đức, ông cảm thấy áy náy lương tâm: “Tôi ở một ngôi nhà bằng gỗ bá hương còn Hòm Bia Thiên Chúa lại ở trong lều”. Ông có ý định xây một Đền Thờ ở thành đô Giêrusalem làm nơi đặt Hòm Giao Ước, dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Ngài, nhưng Thiên Chúa phán qua Ngôn sứ Nathan rằng: chính Thiên Chúa sẽ xây cho vua một “nhà”, sẽ làm cho dòng dõi và triều đại của vua vững bền mãi mãi. Nhà Thiên Chúa muốn xây cho Đavid không phải là ngôi nhà bằng gạch đá, gỗ quý, đá quý nhưng là một ngôi nhà sống động, nghĩa là Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra từ dòng dõi của Vua Đavít. Thiên Chúa đã từ chối ngôi nhà Đavít muốn xây dựng cho Ngài, thì chính Thiên Chúa lại đề xuất chọn cung lòng Đức trinh nữ Maria làm cung điện cho Ngôi Lời Nhập Thể. Quả thật, ý định nhiệm mầu cứu độ con người ẩn giấu từ bao đời nay được tỏ lộ, việc còn lại đó là sự đáp trả của con người.

Có câu chuyện kể rằng, Thánh Gioan Vianney, lúc còn là một chủng sinh, học hành rất chậm chạp, tưởng chừng như ngài không có đủ khả năng để tiến tới chức Linh mục. Ngày kia, thừa lệnh Giám mục giáo phận, một vị giáo sư thần học, đã đến khảo sát Vianney, tội nghiệp Vianney đã không thưa được câu nào. Không giữ được bình tĩnh, vị giáo sư đã đập bàn quát lớn:

- Vianney, anh dốt như lừa. Với một con lừa như anh, Giáo hội sẽ làm được gì ?

- Vianney khiêm tốn bình tĩnh trả lời: Thưa thầy, ngày xưa Samson chỉ dùng có một cái hàm của một con lừa, để đánh bại được ba ngàn quân Philitinh, vậy với cả một con lừa này, Thiên Chúa không làm được gì sao ?

Thưa anh chị em, câu chuyện trên cho ta thấy Thiên Chúa tự do chọn lựa mỗi người vào chương trình của Ngài. Ngài chọn ta không vì tài năng, đức độ nhưng chính sự đáp trả quảng đại của ta đối với chương trình cứu độ của Ngài như Thánh Augustinô nói: “Chúa tạo dựng ta, Ngài không cần ta. Nhưng để cứu độ ta, Ngài cần ta đáp lời”. Thiên  Chúa có thể cứu độ con người bằng bất cứ cách nào Ngài muốn , theo sự khôn ngoan thượng trí của Ngài. Nhưng trong công cuộc cứu độ này Ngài không muốn hành động một mình mà muốn có sự cộng tác của con người. Chính vì thế mà Ngài đã sai thiên thần Gabriel đến hỏi ý kiến Đức Maria trong việc làm Mẹ Đấng Cứu thế. Qua đó, cho thấy Ngài tôn trọng sự tự do của con người. Ngài không áp đặt mà chỉ đề nghị. Ngài muốn sự đáp trả sáng suốt và tự nguyện của con người. Cuộc đối thoại diễn ra giữa Đức Maria và thiên thần Gabriel cho ta được biết, Đức Maria đã hoàn toàn hiến thân để thi hành thánh ý Chúa. Mặc dù đã trông thấy trước những khó khăn trong việc thực hiện này, nhưng Đức Maria đã dấn thân và tự nguyện chấp nhận đề nghị này trong tiếng “Xin Vâng”. Qua tiếng Xin Vâng này, Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể trong lòng Đức Maria và Đức Maria đã trở thành Mẹ của Con Thiên Chúa.

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Đức Maria đã mau mắn đáp lời trong tiếng “Xin Vâng”, vâng phục hoàn toàn chương trình của Chúa, một chương trình gói ghém nhiều nhiệm mầu. Dù chưa hiểu hết những gì Chúa muốn, nhưng Đức Maria đã quảng đại dấn thân, phó thác mình cho chương trình của Chúa. Qua đó, nơi Đức Maria ta học được mẫu gương biết lắng nghe Lời Chúa, biết cầu nguyện thiết tha, biết mạnh dạn vâng theo ý Chúa, và biết dâng hiến cuộc đời mình cho chương trình của Thiên Chúa. 

Nguyện xin Chúa giúp ta sống theo gương mẫu tuyệt hảo của Đức Maria trong việc trông chờ Chúa đến, bằng sự khiêm nhường, tín thác và dọn cung lòng mình thật xứng đáng trở nên nhà của Thiên Chúa. Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến !. Amen.

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang.

 

 

Mục lục

1. Đúc Chúa ở cùng Bà (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Khiêm nhường đón nhận (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Mẹ Maria vinh dự đón tiếp Chúa  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

4. Lời “Xin Vâng” Cứu Độ (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

5. Cuộc hòa đàm lý tưởng (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

6. Xin Vâng như Mẹ  (Anna Cỏ May, Tiền Tập sinh MTG.Thủ Đức)

7. Con bước theo Mẹ  (Bông Hồng Nhỏ, Tiền Tập sinh MTG.Thủ Đức)

8. Xin Vâng  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

9. Khiêm cung phó thác (Lm. Vinh Sơn)

10. Truyền tin cho cả tôi nữa (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

11. Suy niệm Chúa Nhật 4 Mùa Vọng_B  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam)

12. Suy niệm Chúa Nhật IV Mùa Vọng_B  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

13. Miệng lưỡi và lời nói (Trầm Thiên Thu)

14. Giải quyết vấn đề Maria (Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD)

15. Xin Vâng.  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

16. Suy niệm Chúa Nhật 4 Mùa Vọng Năm B  (Lm. Anthony Trung Thành)

17. Nhạc khúc yêu thương  (Lm. Thiện Duy)

18. Người phụ nữ và con rắn  (Lm. Trịnh Ngọc Danh)

19. Nỗi lòng không của riêng ai  (JM. Lam Thy, ĐVD)

20. Mừng vui lên hỡi Đấng đầy ân sủng  (Fx. Đỗ Công Minh)

21. Sống lời thưa vâng  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

22. Thiên Chúa bước vào lịch sử nhân loại (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

23. Xin vâng thánh ý (Lm. GB. Nguyễn Minh Hùng)

24. Tình Chúa muôn ngàn đời  (Lm. Giuse Nguyễn văn Nghĩa)

25. Vang vọng lời truyền tin  (P.Trần Đình Phan Tiến)

26. Ý Cha, Ý con  (Lm. Vũ Đình Tường)

27. Chúa Nhật 4 Mùa Vọng_B  (Lm. Antôn)

 

 

ĐỨC CHÚA Ở CÙNG BÀ

Gm Giuse Vũ Văn Thiên
 
Mùa Vọng sắp kết thúc và tiếp theo là mùa Giáng Sinh. Lời Chúa hôm nay giới thiệu với chúng ta một nhân vật quan trọng mà Thiên Chúa đã mời gọi cộng tác để thực hiện mầu nhiệm Nhập Thể, đó là Đức Trinh nữ Maria, quê ở Nagiarét. Từ trời cao, Chúa sai Thiên Sứ của Ngài xuống gặp gỡ và ngỏ lời với một thôn nữ khiêm hạ. “Đức Chúa ở cùng Bà”, đây vừa là lời chào, vừa là lời khẳng định một chân lý sâu xa: Thiên Chúa hiện diện giữa những ai công chính và Ngài ban cho họ được đầy ân sủng.
 
Thiên Chúa hiện diện giữa Dân Người. Đó là giáo huấn từ thời Cựu ước. Sự hiện diện của Chúa không lệ thuộc vào một không gian và thời gian. Vua Đavít đã suy luận theo kiểu con người, và vì lòng tôn kính dành cho Chúa, ông muốn xây cho Ngài một ngôi nhà. Ông nghĩ thật là bất kính nếu ông ở lầu son gác tía, trong khi Chúa lại ngự nơi lều tạm.
 
Nếu xây lâu đài là ý định của các bậc quân vương, thì đối với Chúa lại khác. Qua ngôn sứ Nathan, Chúa đã mời gọi vua Đavít nhìn lại lịch sử đã qua, để thấy Chúa luôn hiện diện giữa thăng trầm của đời ông cũng như trong lịch sử dân tộc. Ngài luôn bênh vực và giúp ông chiến thắng trong các cuộc giao tranh, củng cố ngai vàng của ông và tạo cho ông nổi danh giữa thiên hạ. Chúa muốn ông nhận ra sự hiện diện của Ngài suốt bề dày lịch sử, từ thời xa xưa. Ngài không có nhu cầu, không cần một lầu son gác tía. Điều Ngài muốn, đó là hãy trung tín với Ngài mọi nơi mọi lúc. Nếu bền chí đi theo giáo huấn của Ngài, Đavít sẽ được Chúa chúc lành. Ngài sẽ cho ông dòng giống trường tồn. Ngôn sứ Nathan đã diễn tả ân sủng của Chúa qua hình thức “nhà” mà Ngài sẽ xây cho Đavít, để đối lại với “nhà” mà ông muốn xây cho Chúa. “Nhà” mà Chúa sẽ ban cho Đavít là vương quốc vững bền, khôn ngoan lỗi lạc và phú quý giàu sang. Những điều này là bằng chứng cho sự hiện diện và ơn chúc lành của Chúa.
 
“Đức Chúa ở với ngài!”. Đó là lời khẳng định và là lời chúc phúc của ngôn sứ Nathan với vua Đavít. Đó cũng là lời Sứ thần Gabrien nói với Trinh nữ Maria. Tuy vậy, nếu sự hiện diện của Chúa giữa Dân Ngài từ trước tới nay chỉ thể hiện qua sự quan phòng che chở, thì nay Thiên Chúa lại hiện diện một cách thức hoàn toàn mới mẻ. Sứ thần Gabrien đã giải thích điều đó: “Này đây Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả và sẽ được gọi là Con Đấng Tối cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận”. Vâng, từ nay Thiên Chúa không còn ở chốn cao xanh xa vời vợi, nhưng Ngài đã cúi xuống ghé thăm và ở lại với loài người. Ngôi Lời linh thiêng đã trở thành con người bằng xương bằng thịt để cư ngụ giữa chúng ta. Sau này, Chúa Giêsu tuyên bố: “Ai thấy Thày là thấy Chúa Cha“. Tác giả thư Do Thái cũng khẳng định: “Người là phản ánh vinh quang, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa” (Dt 1,3). Như thế, qua Chúa Giêsu, con người được gặp gỡ Thiên Chúa, tâm sự với Ngài. Những ai tin vào Chúa Giêsu sẽ cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa một cách mới mẻ, gần gũi.
 
Chúa Giêsu đã đến trần gian. Thiên Chúa hiện diện giữa nhân loại. Đó là một trong những nội dung quan trọng của sứ điệp Giáng Sinh. Từ nay, chấm dứt những nghi lễ của Cựu ước, vì Chúa Giêsu là Thượng Tế vĩnh cửu. Người đã hiến dâng chính mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho con người. Thánh Phaolô diễn giải điều này, để khẳng định, những ai tin vào Chúa Giêsu, thì không phải tuân thủ những ràng buộc của luật tế tự Cựu ước (Bài đọc II).
 
Nếu trong ngày truyền tin, Sứ thần đã chào kính Đức Maria: “Đức Chúa ở cùng Bà”, thì hôm nay, chúng ta cũng chào nhau trong phụng vụ: “Chúa ở cùng anh chị em”. Vâng, Chúa đang ở cùng chúng ta. Hãy xác tín vào sự hiện diện của Ngài. Hãy chạy đến với Chúa để xin Ngài ban ơn trợ lực cho chúng ta trên bước đường đời. Thế giới hôm nay đang vắng bóng tình thương. Thay vào đó là sự hận thù ghen ghét và bạo lực giết chóc. Cùng với Đức Trinh nữ Maria, chúng ta hãy khiêm tốn thưa với Chúa lời xin vâng, qua đó chúng ta đón nhận và cộng tác với Ngài, để “Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Amen.

Về mục lục

.

KHIÊM NHƯỜNG ĐÓN NHẬN

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

Đọc Tam Quốc Chí, ai cũng mến mộ Trương Lương, một trong những vị tướng tài ba của Lưu Bang. Thuở nhỏ, Trương Lương đi dạo chơi ngoài bờ sông. Thấy một ông lão ăn mặc rách rưới nằm ngủ trên cầu. Ông lão ngủ say làm rơi một chiếc dép xuống sông. Thấy Trương Lương, ông sai bảo: Thằng bé, nhặt chiếc dép cho ta. Trương Lương vui vẻ xuống sông nhặt chiếc dép kính cẩn đưa lại cho cụ già. Cụ cầm lấy. không một lời cám ơn. Loay hoay xỏ mãi không vào, cụ đánh rơi chiếc dép một lần nữa. Cụ lại quát bảo Trương Lương: Thằng bé, xuống nhặt dép cho ta. Trương Lương vẫn vui vẻ giúp cụ. Lần thứ ba cũng thế. Thấy vậy, ông lão khen: Thằng bé này dạy được đây. Thì ra cụ là một cao nhân lỗi lạc. Và cụ nhận Trương Lương làm học trò, truyền dạy binh pháp cho ông. Nhờ thế, Trương Lương trở nên một danh tướng văn võ song toàn, đã giúp cho Lưu Bang dựng nên nghiệp đế vương.

Trương Lương gặp được thầy giỏi một phần nhờ cơ may. Nhưng phần lớn là nhờ sự khiêm nhường phục vụ của ông. Đọc truyện Trương Lương, tôi lại nhớ đến Đức Mẹ. Thời Đức Mẹ, ai cũng mong chờ Đấng Cứu Thế, nhưng chỉ mình Đức Mẹ được diễm phúc đón nhận. Chúa chọn Đức Mẹ, đó là do ơn lành nhưng không của Chúa, nhưng cũng vì Đức Mẹ có tâm hồn khiêm nhường đón nhận.

Đức Mẹ khiêm nhường trong đời sống bình dị. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo. Sống trong một thôn xóm nghèo hèn vô danh. Ngày ngày chu toàn những công việc tầm thường như nấu nướng, may vá, dọn dẹp nhà cửa.

Đức Mẹ khiêm nhường trong thái độ ứng xử. Trước mặt thiên sứ Gabriel, Đức Mẹ xưng mình là nữ tỳ của Thiên Chúa, dù thiên sứ đã loan báo Mẹ sẽ là Mẹ Thiên Chúa. Sau đó, Đức Mẹ đến thăm bà chị họ Elidabet. Vừa nghe Đức Mẹ chào, bà Elidabet đã ngợi khen Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. Đáp lại, Đức Mẹ chỉ nhận mình là phận hèn bé nhỏ. Nếu có được ơn gì là do Thiên Chúa thương ban.

Vì khiêm nhường nên Đức Mẹ hoàn toàn vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Đức Mẹ đã có chương trình riêng. Chương trình đó là sống độc thân trinh khiết. Đó là một chương trình tốt đẹp. Nhưng khi Thiên Chúa ngỏ ý muốn Đức Mẹ theo chương trình của Chúa, Đức Mẹ đã mau mắn từ bỏ chương trình riêng tư để đi vào chương trình của Thiên Chúa. Đức Mẹ nhận biết rằng, chương trình của Chúa là vô cùng tốt đẹp, còn chương trình riêng chỉ là bất toàn. Thánh ý Thiên chúa là tuyệt đối, còn ý riêng chỉ là khiếm khuyết.

Vì khiêm nhường nên Đức Mẹ phó thác trọn vẹn vận mạng trong tay Chúa. Khi thưa Xin vâng, Đức Mẹ đã mạnh dạn vượt qua những toan tính dè dặt của người đời để nép mình vào bàn tay quan phòng của Thiên chúa. Nếu ta hiểu luật lệ khắc nghiệt của người Do thái đối với phụ nữ không chồng mà có con, ta sẽ thấy Đức Mẹ liều lĩnh biết bao, và sự phó thác của Mẹ vào Thiên chúa mãnh liệt đến thế nào.

Vì đã thưa Xin vâng, nên Đức Mẹ chấp nhận tất cả, dù chưa hiểu hết Thánh ý Thiên Chúa. Tại sao Con Thiên Chúa phải sinh ra trong cảnh thiếu thốn nghèo nàn? Tại sao Vua trời đất lại phải chạy trốn như một kẻ yếu hèn? Tại sao Đấng Cứu thế làm nhiều phép lạ đến thế để cứu nhân độ thế lại bị người ta chống đối, hành hạ, giết chết nhục nhã như một tội nhân? Hoàn toàn không hiểu, nhưng Đức Mẹ vẫn khiêm nhường chấp nhận và tin tưởng phó thác. Vì thế Đức Mẹ vẫn kiên trì theo Chúa Giê su trên khắp mọi nẻo đường, cho đến dưới chân thánh giá.

Thái độ khiêm tốn chấp nhận của Đức Mẹ đã được Thiên Chúa yêu thương. Nước chảy xuống chỗ trũng. Ân huệ Thiên chúa đổ xuống tâm hồn khiêm nhường. Càng khiêm nhường càng nhận được nhiều ân phúc. Đức Mẹ có một tâm hồn khiêm nhường thẳm sâu, nên Đức Mẹ đã nhận được đầy tràn ân phúc của Thiên chúa, nhận được chính Ngôi Hai Thiên Chúa, là nguồn mạch mọi ân phúc.

Mùa Vọng là mùa chờ đón Chúa đến. Ta mong được đón rước Chúa vào tâm hồn. Ta mong được ân huệ dư đầy của Thiên Chúa. Ta hãy noi gương Đức Mẹ, biết khiêm nhường nhận mình tội lỗi yếu hèn, biết khiêm nhường từ bỏ ý riêng để thi hành ý Chúa, biết khiêm nhường vâng theo ý Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, biết khiêm nhường phó thác vân mệnh trong tay Chúa dù không hiểu hết những ý định mầu nhiệm của Người. Chỉ khi khiêm nhường tan biến thành hư không, ta mới được Chúa thương đổ đầy tràn ân phúc vào tâm hồn.

Lạy Đức Mẹ Maria, xin dạy con biết sống khiêm nhường để con đi vào chương trình của Thiên Chúa.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Bạn có nhận thấy sự khiêm nhường của Đức Mẹ không?

2) Từ bỏ ý riêng có dễ không?

3) Có khi nào bạn cảm thấy hoàn toàn bất lực để phó thác trọn vẹn trong tay Chúa chưa?

4) Khi đã hiểu rõ gương khiêm nhường của Đức Mẹ, bạn có muốn bắt chước Đức Mẹ không?

Về mục lục

.

MẸ MARIA VINH DỰ ĐÓN TIẾP CHÚA

Lm. Jos Tạ duy Tuyền

Thiên Chúa làm người và ở giữa chúng ta. Đây là một ân huệ cao qúy mà Chúa đã dành cho loài thụ tạo chúng ta. Là niềm vui cho những ai biết mở lòng đón nhận Ngài. Là hạnh phúc cho những ai thành tâm thiện chí tìm kiếm Ngài. 

Ngược dòng lịch sử cách đây hơn 2000 năm. Một thiếu nữ miền Nagiaret được vinh hạnh là người đầu tiên đón Chúa đến viếng thăm. Người thiếu nữ ấy tên là Maria. Với lòng quảng đại và với lòng tin tưởng tuyệt đối vào quyền năng Thiên Chúa, cô đã không đánh mất cơ hội có thể nói ngàn năm có một. Lời thưa xin vâng lúc này là lời thưa đẹp nhất trong cuộc đời cô. Lời thưa này đã vẽ lên một trang sử mới trong cuộc đời cô và lịch sử của nhân lọai cũng bước sang một trang sử mới. Thời đại công nguyên đã bắt đầu. Thời đại hồng ân mà Thiên Chúa luôn ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế.

Nhưng đáng tiếc là ngày Thiên Chúa đến trần gian lần thứ nhất nhiều người đã đánh mất cơ hội triều bái người. Nơi máng cỏ Belem năm xưa chỉ có Thánh Giuse, Đức Maria và các mục đồng. Những người trí thức và các thầy Lê-vi vẫn loay hoay với mớ kiến thức giáo lý của mình. Vẫn cố gắng dùng trí khôn con người để hiểu chương trình Thiên Chúa. Nhưng đường lối của Thiên Chúa vượt xa trí hiểu con người nên họ đã không thể nhận ra Con Thiên Chúa lại sinh ra trong cảnh cơ hàn.

Ngày hôm nay Thiên Chúa vẫn đang viếng thăm dân Người. Ngài đến trong thân phận những con người nghèo khổ, bất hạnh đang cần giúp đỡ, cảm thông. Ngài đến trong thân phận những hài nhi yếu ớt đang cần sự đón nhận, chở che. Ngài đến trong thân phận những người già neo đơn, bệnh tật đang sống lây lất từng ngày. Ngài đang đến giữa chúng ta. Ngài cũng có thể đã từng bị chúng ta khước từ. Ngài đã từng bị chúng ta xua đuổi, chúng ta tẩy chay, chúng ta loại trừ. Ngài vẫn đang âm thầm đến ngỏ lời tới từng cuộc đời chúng ta. Hãy rộng lòng đón nhận Ngài. Hãy quảng đại để chấp nhận Ngài. Hãy dấn thân và phục vụ Ngài nơi những anh em bất hạnh lầm than.

Vâng Thiên Chúa đã hạ sinh làm người và ở giữa chúng ta. Ngài không tự nhốt mình trong cung điện nguy nga tráng lệ, nhưng Ngài sinh ra giữa dân nghèo cùng cực. Ngài ở giữa những cảnh đời tha phương cùng cực nhất của nhân loại là “sinh vô gia cư, chết vô địa táng”. Ngài ở giữa nhân trần để chia sẻ cảnh đời vốn dĩ vô thường và lắm nổi trôi. Ngài ở giữa chúng ta để trao ban tình yêu cho những người bất hạnh, ốm đau, bệnh tật, bị ngược đãi, bị bỏ rơi. Ngài còn dành một tình yêu đặc biệt cho những người tội lỗi là phường thu thuế và gái điếm. 

Hôm nay, Chúa vẫn tha thiết mời gọi chúng ta hãy để cho Chúa được tiếp tục hiện diện trong cuộc đời chúng ta. Hãy để cho Chúa làm chủ cuộc sống của mình bằng việc tuân hành thánh ý Chúa. Hãy noi gương Đức Mẹ, chúng ta hãy dọn cho Chúa một cung lòng để Chúa ngự trị. Hãy đón nhận Chúa. Hãy sống cho Chúa. Hãy phục vụ Chúa trong anh em.

Ước gì trong mùa giáng sinh năm nay, lời cầu chúc Emmanuel không chỉ là Thiên Chúa ở cùng chúng ta mà còn ở cùng anh chị em chúng ta. Xin Chúa Giê-su là Đấng Emmanuel luôn hiện diện sống động trong cuộc đời từng người chúng ta, xin Ngài ban tràn đầy niềm vui thánh ân trong ngày mừng Chúa Giáng Sinh. Amen

Về mục lục

.

LỜI “XIN VÂNG” CỨU ĐỘ

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Bước vào Chúa nhật thứ IV Mùa Vọng, trước lễ Thiên Chúa Giáng Sinh, tác giả Tin Mừng Luca đưa chúng ta về với biến cố truyền tin diễn ra nơi khung cảnh miền quê Nagiarét. Khởi đầu câu chuyện vĩ đại đã tồn tại trong lịch sử loài người bằng câu : “Khi ấy …”. “Khi ấy, Thiên Thần Gabriel được Chúa sai đến một thành xứ Galilêa, tên là Nagiarét, đến với một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc chi họ Đa-vít, Trinh nữ ấy tên là  Maria” (Lc 1 , 26-27 ). Đây không phải là câu chuyện do con người tạo ra trong trí tưởng tượng, nhưng là câu chuyện được thêu dệt bởi chính Thiên Chúa và sự cộng tác của con người xảy ra trong không gian và thời gian, đã hoàn tất cách đây 2017 năm. Bằng cung kể bình dân, dễ tiếp cận, Luca giới thiệu cho chúng ta một số nhân vật theo thời gian, không gian và chủ đề, dẫn chúng ta đến đỉnh cao của câu chuyện là điểm : “Này Bà sẽ thụ thai, sinh một con trai […] Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Đavít tổ phụ Người […] và triều đại Người sẽ vô tận ” (Lc 1, 31-33). Với lời loan báo trên cho chúng ta biết Noel đã gần kề.

Đức Maria, người thôn nữ khiêm hạ miền Nagiarét nghe những lời trên của Sứ Thần Gabriel đã không khỏi kinh ngạc. Maria còn đồng trinh mà nay Thiên Chúa lại muốn Maria làm mẹ, nên hỏi : “Việc ấy sẽ xảy ra thế nào, vì tôi không biết đến người nam!” (Lc 1,34). Trong sự đơn sơ, Maria không hoài nghi quyền năng của Thiên Chúa nhưng muốn hiểu ý định của Chúa hơn, hầu sống trọn ý Chúa. Băn khoăn của Maria được Sứ Thần giải thích, việc giữ mình khiết trinh với việc mang thai Đấng Cứu Thế không có gì là mâu thuẫn, lý do : “Không có việc gì mà Chúa không làm được”. Hiểu được ý Chúa, Maria đã mở lòng mình ra, sẵn sàng cộng tác vào công trình của Thiên Chúa và cất tiếng “xin vâng”. Lập tức “Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta” (Ga 1,14). Thiên Chúa trông chờ tiếng “xin vâng” từ nơi Đức Maria để thực hiện công trình của Chúa. Tiếng “xin vâng” bao hàm cả tình mẫu tử lẫn sự đồng trinh. Mẹ vừa muốn vinh quang Thiên Chúa hiện thực nơi mình vừa muốn Người Con sẽ sinh ra hoàn toàn là quà tặng ân sủng.

Câu chuyện bình dân ấy thực tế nhất đối với Thiên Chúa và nhân loại chúng ta. Chân phước Phao lô VI viết năm 1974 rằng : “Đức Maria là câu trả lời mà Thiên Chúa ban trong mầu nhiệm nhập thể làm người; đó cũng là câu hỏi mà con người tự đặt ra về Thiên Chúa và về chính mình”.

Khi thưa “xin vâng”, lời thưa của Mẹ đã thay đổi cả lịch sử nhân loại. Thánh Bernarđô kêu lên : “Ôi lạy Mẹ, Mẹ là đấng cứu chuộc chúng con. Vì khi Mẹ thưa xin vâng, lập tức chúng con được giải thoát. Toàn thể địa cầu trông đợi lời xin vâng của Mẹ. Lời ấy sinh ra Ngôi Lời Hằng Hữu. Thiên Chúa muốn nghe Mẹ tự do trả lời, Mẹ “đầy ân sủng”, khi Mẹ thưa : “Này tôi là tôi tá Chúa, tôi xin vâng như lời Sứ Thần truyền !” (Lc 1, 38).  Từ ấy Mẹ hoàn toàn kết hiệp với công trình của Con Mẹ, hôm nay vai trò Trung Gian của Mẹ khởi đầu. Kể từ đó Mẹ trở nên Mẹ của tất cả những ai hiệp nhất trong Đức Kitô (Gal 3,28). Lời “xin vâng” của Mẹ là lời cứu độ.

Thánh Augustinô viết: “Ngài đã chọn một người mẹ mà Ngài đã tạo dựng, Ngài đã tạo dựng người mẹ mà Ngài đã chọn” (x. Bài giảng 69, 3, 4). Thật là cơ hội để chúng ta nhìn vào Nagiaret hầu cảm nhận được sự hiện diện của một trinh nữ mà muôn đời khen là có phúc (x. Lc 1, 48).

Hôm nay chúng ta không thể quên khuôn mặt đặc biệt của thánh Giuse, vì cả Mẹ Maria và thánh Giuse đều đã sống một cách thật mãnh liệt duy nhất thời gian chờ đợi và chuẩn bị đón Chúa Giêsu giáng sinh với niềm vui thiêng thánh.

Thánh sử Luca trình bày Ðức Nữ Ðồng Trinh Maria như là vị hôn thê của “một người tên là Giuse, thuộc chi họ Đavít” (Lc 1,27). Nhờ và qua thánh nhân, Trẻ Giêsu được đưa vào trong dòng dõi vua Ðavít một cách hợp pháp, và như thế thực hiện những Lời Kinh Thánh, trong đó Ðấng Thiên Sai được các tiên tri loan báo như là “Con của Vua Ðavít”.

Thánh Giuse là mẫu gương của người “công chính” (Mt 1,19); trong sự hoà hợp hoàn toàn với vị hôn thê của mình, thánh Giuse tiếp rước Con Thiên Chúa làm người và canh chừng cho sự tăng trưởng nhân bản của Con Thiên Chúa. Vì thế, trong những ngày trước lễ Giáng Sinh, thật là thích hợp hơn bao giờ hết, để thiết lập một cuộc đối thoại thiêng liêng với Thánh Giuse, với Mẹ Maria, xin các ngài trợ giúp chúng ta sống trọn vẹn mầu nhiệm cao cả Ðức Tin này. Nhờ lời “xin vâng ” của Mẹ lúc Truyền Tin, cánh cửa ơn cứu rỗi đã mở ra cho nhân loại.

Xin Mẹ giúp chúng ta biết lắng nghe Lời Chúa và mau mắn thưa “xin vâng ” với Chúa như Mẹ để chúng ta được cứu. Amen.

Về mục lục

.

CUỘC HÒA ĐÀM LÝ TƯỞNG

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 Trong những ngày cuối cùng của Mùa Vọng, Hội Thánh cho chúng ta nghe lại đoạn Tin Mừng quen thuộc: “Sứ Thần Gabriel đến truyền tin cho Đức Maria”.

Thiên Chúa muốn Con của Ngài xuống thế làm người, để cứu độ nhân loại. Ngài đã muốn người Con ấy là con người giữa nhân loại. Thiên Chúa đã chuẩn bị cho Con của Ngài một người mẹ trần thế. Người mẹ ấy là Đức Maria, người làng Nadarét, vùng Galilê, nước Paléttin.

Cô Maria là người được Thiên Chúa tuyển chọn giữa muôn vàn phụ nữ trên địa cầu. Ngài chọn Cô chẳng phải vì Cô thánh thiện hơn người khác. Ngài chọn Cô từ khi Cô còn trong lòng mẹ. Ngài tuôn đổ trên Cô tràn trề ân sủng: “Hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Cô” (Lc 1,28). Được tràn trề ân sủng là được Thiên Chúa mến thương, được đẹp lòng Thiên Chúa.

Thiên Chúa đã chuẩn bị rất kỹ cho Cô Maria. Ngài đã tạo dựng Cô như một thụ tạo tuyệt vời, độc nhất vô nhị, chỉ vì Ngài muốn Cô xứng đáng trở nên người mẹ cưu mang chính Con Một của Ngài. Maria là một kiệt tác của Thiên Chúa, dù bề ngoài Cô chỉ là một thôn nữ của một ngôi làng nhỏ bé vô danh.Thiên Chúa không ép buộc Cô Maria làm mẹ của Con Một Ngài, dù Ngài đã chuẩn bị cho Cô một cách đặc biệt để đón nhận trọng trách cao cả đó. Ngài tôn trọng tự do của Cô, tự do mà chính Ngài đã ban cho Cô trong tư cách là người. Ngài không đặt Cô trước một sự đã rồi. Ngài muốn hỏi ý Cô, và chờ Cô ngỏ lời ưng thuận.

Thiên Chúa sai Sứ thần đến nhà Maria. Câu chuyện Lời Chúa hôm nay là Truyền tin, một Tin mừng muôn thuở. Tin mừng này đã được thực hiện qua một cuộc hòa đàm chưa từng có trong lịch sử nhân loại.

Cuộc hòa đàm diễn ra giữa hai nhân vật, đại diện Thiên Chúa và loài người. Đại diện Thiên Chúa là Sứ Thần Gabriel, đại diện loài người là trinh nữ Maria.

Khung cảnh cuộc hòa đàm, không phải trong cung điện vua chúa, lầu các sang trọng. Nơi đó, trong căn nhà thanh bạch nghèo nàn thuộc vùng sâu thôn dã vô danh Nadarét. Khung cảnh thật giản dị, quê mùa, thô sơ, nhưng Thiên Chúa đã chọn làm khởi điểm lịch sử cứu độ vĩ đại.

Maria dù là nữ tỳ nhưng Sứ Thần đến mở đầu cuộc hòa đàm, không phải với thái độ ông chủ truyền lệnh. Ở đây, Sứ Thần hết sức khiêm cung, kính cẩn, lễ phép với lời chào : “Kính mừng Đấng đầy ân phúc, Thiên Chúa ở cùng Bà”. Thật khác xa lời cậu thanh niên chào cô thanh nữ. Tử tế lắm, cậu chỉ nói : Chào cô, chào em.

Sứ thần rất trân trọng thôn nữ Maria : vừa chúc tụng kính phục con người thánh thiện khả ái, vừa tôn vinh chức vụ cao sang của Bà được Thiên Chúa ở cùng.

Thôn nữ Maria sợ sự tôn vinh bất thường ấy, và tự nhủ lời chào ấy có ý nghĩa gì ? Quả là sự tỉnh thức thận trọng của một thục nữ trinh trong, sáng ngời, đầy khiêm nhu và thùy mị.

Sứ thần đã nhận ra ý từ đó và giải thích thật rõ ràng cặn kẽ, trong suốt : “Thưa Bà Maria, xin đừng sợ, Bà rất đẹp lòng Thiên Chúa, Thiên Chúa ban cho Bà sinh con, đặt tên là Giêsu, Người là Con Đấng tối cao, Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít …”.

Nhưng, đối với Maria, “chữ trinh đáng giá ngàn vàng” hơn cả ngai vàng vua Đavít, vì Maria đã tận hiến suốt đời đồng trinh cho Thiên Chúa, nên Maria từ tốn đáp lễ : Làm sao có chuyện ấy được, thưa Ngài, vì tôi đã khấn trọn đời đồng trinh.

Sứ thần liền minh giải : “Việc đó rất chí thánh, do Chúa Thánh Thần với quyền phép Đấng Tối Cao, sẽ soi bóng trên Bà, nên Hài nhi khi Bà sinh ra là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa ..”

Nhận ra đó là thánh ý Thiên Chúa, Maria đã sấp mình tôn thờ Thiên Chúa : “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin hết lòng vâng theo thánh ý Chúa như lời sứ thần truyền dạy”.

Sứ thần đã thành công trong sứ mạng vô cùng trọng đại. Maria đã hoàn toàn làm đẹp lòng Thiên Chúa, trọn vẹn hiến dâng đồng trinh với chức vụ thiên mẫu lạ lùng.

Đây thật là một cuộc hòa đàm gương mẫu cho muôn đời. Gương mẫu vì cuộc hòa đàm đã diễn ra đúng tinh thần đối thoại và hòa giải.

Đối thoại cần thiết phải có ba tính chất đặc biệt :

–    Thứ nhất, hai bên thật khiêm tốn, tôn trọng lẫn nhau.

–   Thứ hai, hai bên thưa đáp trình bày ý tứ của mình rất trong sáng, rất đơn sơ và chân thành, mình nghĩ thế nào, lập trường làm sao, cần những điều gì mới đưa đến thành công.

–   Thứ ba, hai bên đã nhận ra những ân huệ vì ích chung, thánh thiện mà Thiên Chúa muốn thực hiện.

Đây cũng là một cuộc hòa giải hoàn hảo :

–   Vì đã giải quyết được những nỗi khó khăn phức tạp, loài người không thể gỡ mối tơ vò, chỉ có quyền năng Thiên Chúa mới giải quyết được vấn đề : vừa đồng trinh, vừa sinh con, con Bà vừa là người, vừa là Thiên Chúa.

–   Vì đã giải quyết được chương trình cứu độ nhân loại mà Thiên Chúa đã bao lần hòa giải thất bại với bao nhiêu nhân vật từ Ađam Evà cho đến nay. Nay Thiên Chúa mới thực hiện được chương trình thương yêu của Người nơi Đức Trinh nữ Maria (xem thêm suy niệm của Lm. Vikini,  trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Vũ Khắc Nghiêm).

Thiên Chúa đã giao ước với Ađam Evà, nhưng Nguyễn tổ đã trở mặt theo con rắn satan. Thiên Chúa đã giao ước với Noe, nhưng con cháu đã xây tháp Babel kiêu căng. Thiên Chúa đã giao ước chọn lựa Abraham làm tổ phụ dân Người, nhưng con cái Giacob hằn thù chia rẽ, bán Giuse làm nô lệ cho con buôn Ai cập. Thiên Chúa đã giao ước với Môisen đưa dân về quê cha đất tổ để thờ phượng Thiên Chúa, nhưng dân Israel đã chiều theo lối sống thờ thần Babylon. Giờ đây, Thiên Chúa chỉ còn cách duy nhất là ký kết với Đức Maria, một đầy tớ trung tín và khôn ngoan, luôn luôn làm theo ý chủ mình là Thiên Chúa, một tôi tớ dâng hiến trọn vẹn toàn diện đời mình từ trong bào thai cho Thiên Chúa. Thiên Chúa đã toàn quyền sử dụng Maria theo thánh ý Người. Và Con Thiên Chúa đã xuống cung lòng Maria để ở cùng loài người cho đến tận thế.

Bài Tin Mừng hôm nay thường gọi dưới tựa đề là ” Sứ Thần truyền tin cho Đức Mẹ”. Nhưng Sứ Thần và Đức Mẹ đều không phải là nhân vật chính. Nhân vật chính là Đức Giêsu. Trang Tin Mừng này giới thiệu căn tính của Đức Giêsu. Đó là nội dung chính của Truyền Tin. Qua lời của Sứ Thần mà chúng ta biết Giêsu là “Con Đấng Tối Cao”, là “Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa”.

Đức Maria sẽ nhận được một sự can thiệp diệu kỳ của Thiên Chúa. Mẹ sẽ đón lấy quyền năng sáng tạo của Thánh Thần “Thánh Thần sẽ ngự trên Bà và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Bà.”. Vì thế Đấng Mẹ sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Nếu việc thụ thai Gioan Tẩy Giả đòi hỏi một phép lạ, thì việc thụ thai Đức Giêsu đòi hỏi một phép lạ lớn hơn nhiều, đó là Ngài được thụ thai bởi một Trinh Nữ. Đức Giêsu không chỉ là Đấng Mêsia mà dân Do thái hằng mong đợi, Ngài còn là Đấng cao cả, thánh thiện hơn nhiều; Ngài là “Con Thiên Chúa” theo nghĩa viên mãn chưa từng có.

Sau tiếng Xin Vâng đầu tiên, Ngôi Hai Thiên Chúa đã làm người trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria. Mầu nhiệm nhập thể đã bắt đầu ngay từ giây phút này. Lời thưa “Xin vâng” của Mẹ đã thay đổi cả lịch sử nhân loại. Từ đó Mẹ hoàn toàn kết hiệp với công trình của Con Mẹ. Từ đó vai trò Trung Gian của Mẹ đã khởi đầu. Từ đó, Mẹ trở nên Mẹ của tất cả những ai hiệp nhất trong Đức Kitô (Gal 3,28).

Cảm tạ Chúa đã ban cho chúng ta một người Mẹ cao cả, thánh thiện, đáng yêu, đáng mến. Mẹ cầu bàu cho chúng ta trước tôn nhan Chúa. Mẹ dẫn chúng ta đến với Chúa.

Xin Chúa cho chúng con được trở nên con ngoan thảo của Mẹ, để Mẹ dễ dàng tỏ cho chúng con thánh ý Chúa và hướng dẫn chúng con biết sống đẹp lòng Chúa hàng ngày.Amen.

Về mục lục

.

XIN VÂNG NHƯ MẸ

Anna Cỏ May

Mẹ Maria là Mẹ diễm phúc. Người chị họ đã khen Mẹ là người thật có phúc hơn mọi người phụ nữ và Mẹ đã cất cao bài ca Manificat. Bởi Mẹ đã được Thiên Chúa chọn làm Mẹ Con Thiên Chúa nhập thể. Việc ấy được ghi lại qua biến cố sứ thần Gabriel truyền tin.

Khi Sứ thần đến gặp và báo cho Mẹ, ngay lúc ấy sứ thần cũng chờ mong quyết định của Mẹ. Mẹ đã sợ hãi và bối rối trước sự xuất hiện đột ngột của sứ thần và cả những gì Mẹ được nghe sứ thần nói. Sứ thần đã trấn an Mẹ “Thưa bà Maria xin đừng sợ, vì bà được đẹp lòng Thiên Chúa. Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu” (Lc 1, 30-31).  Có thể nói, tương lai cả nhân loại đang nằm trên đôi môi của Mẹ. Thiên Chúa cũng đang chờ đợi câu trả lời của Mẹ. Chính tình yêu Thiên Chúa và kinh nghiệm về Thiên Chúa nơi Mẹ thật thẳm sâu đã thúc đẩy Mẹ ưng thuận. Mẹ đã chọn thực thi thánh ý Thiên Chúa bởi Mẹ vẫn hằng đặt trọn niềm tin tưởng, phó thác nơi Thiên Chúa. Mẹ đáp: “Vâng, tôi đây là nữ tì của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1, 38). Mầu nhiệm Nhập thể đã được hoàn tất. Bấy giờ, Mẹ được tràn đầy ân sủng Thiên Chúa và hân hoan thực hiện điều Thiên Chúa muốn mỗi ngày.

Qua mầu nhiệm Nhập thể, ta học được điều gì nơi Mẹ? Bài học đầu tiên là Con Thiên Chúa nhập thể nơi một người phụ nữ miền Galilê. Chúng ta được chiêm ngắm quyền năng tuyệt đỉnh của Thiên Chúa cùng với đức tin mạnh mẽ của Đức Mẹ trước lời mời gọi cao cả. Nơi Mẹ, ta học được sự mau mắn xin vâng. Lời xin vâng của Mẹ làm đẹp lòng Thiên Chúa, ý định của Thiên Chúa được khởi đầu tốt đẹp. Nhờ lời “xin vâng” của Mẹ mà Mẹ trở nên Mẹ Thiên Chúa, Mẹ của nhân loại. Cũng nhờ lời ấy mà nhân loại được ơn cứu độ. Lời xin vâng ấy không dễ dàng để thực hiện bởi nó đòi hỏi ta phải từ bỏ ý riêng để thuận theo ý Thiên Chúa. Và chính Mẹ đã thực hiện trọn vẹn lời mời gọi ấy trong sự từ bỏ mình hằng ngày. Lời “xin vâng” của Mẹ không chỉ thưa lên một lần trong biến cố Truyền tin, nhưng được nối dài suốt cả cuộc đời Mẹ.

Nắng xế chiều. Những âm thanh rộn ràng cất lên khắp đường phố. Đó là những ca khúc giáng sinh vui tươi nhắc nhớ mỗi người: Giáng sinh đã về. Chỉ còn chút thời gian nữa thôi, hãy mở lòng cảm nhận lời mời gọi của Thiên Chúa và mau mắn nói lời xin vâng như Mẹ.

Lạy Chúa! Chúa không ngừng mời gọi chúng con mở lòng mình ra. Xin Chúa cho chúng con biết lắng nghe, nhận biết tiếng Chúa và mau mắn đáp trả lời Chúa mỗi ngày. Nhờ đó, chúng con được hưởng niềm vui trọn vẹn trong ngày Chúa giáng sinh gần kề. Amen.

Về mục lục

.

CON BƯỚC THEO MẸ

Bông hồng nhỏ

“Ðông qua mau trúc xinh nghiêng nghiêng đợi chờ. Xuân mới về hồn con say ngát ý thơ. Hoa xinh tươi thắm hương trong làn gió mới. Tiến dâng Mẹ Nữ Vương mùa xuân yêu thương.” (Nữ Vương mùa xuân- Lm. Vũ Mộng Thơ).

Lời ca thật hay! Ta thả hồn theo tiếng nhạc rộn ràng, trải lòng mình để trò chuyện với Mẹ Maria. Mẹ vẫn đứng đó, tay bồng Chúa Hài Nhi như cung kính nâng niu và gìn giữ một sự gì rất đỗi thánh thiêng. Mắt Mẹ mở to nhìn vào sâu thẳm tâm hồn mình. Tâm hồn Mẹ đã được cưu mang con Thiên Chúa và Mẹ đã sinh Người trong cảnh khốn cùng nhất của những người nghèo khó. Tâm hồn Mẹ chẳng vướng nhơ tội lỗi và Mẹ đã được Thiên Chúa gìn giữ cách đặc biệt. Mỗi lần ta bị cám dỗ mời mọc, ta đã thưa lên cùng Mẹ lời thân thưa của một đứa con nhỏ luôn mong được nép thân bên Mẹ hiền. “Mẹ ơi! Xin cho con được nép mình vào tấm áo đồng trinh của Mẹ.” Ta đã học được lời ấy từ chị thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu.

 Ta đang đọc lại lời “Xin vâng” thật tuyệt vời của Mẹ trong biến cố Truyền tin. Trước lời chào rất đỗi lạ lùng của sứ thần Gabriel, trinh nữ Maria đã bối rối và sợ hãi. “Thưa bà Maria xin đừng sợ, vì bà được đẹp lòng Thiên Chúa. Này đây bà sẽ thụ thai sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu”. (Lc 1, 30-31). “Mẹ đẹp lòng Thiên Chúa” lời ấy cứ vang vọng trong tâm hồn ta và chất vấn ta: Có bao giờ tôi được đẹp lòng Thiên Chúa chưa? Mẹ đã rất khiêm tốn nhận mình chỉ là nữ tì hèn mọn được Chúa thương nhìn tới. Đức Chúa ở cùng Mẹ. Giờ đây, Mẹ sẽ quyết định thế nào trước một chương trình mà Thiên Chúa dành cho Mẹ quá cao cả và vĩ đại đây? Mẹ có quyền từ chối vì Thiên Chúa vẫn luôn tôn trọng tự do của con người. Mẹ đã để cho tình yêu Chúa chiếm hữu. Một khi Mẹ thưa tiếng “xin vâng” thì cũng có nghĩa là Mẹ đã dám từ bỏ chương trình riêng của bản thân để hiến thân cho Thiên Chúa trong công trình xiết bao kỳ diệu của Ngài. Quả thật, chính Mẹ đã từ bỏ bản thân cho Thiên Chúa. Mẹ sẵn sàng với tất cả những gì Thiên Chúa muốn nơi Mẹ. Từ nơi Mẹ, Ngôi Lời Thiên Chúa sẽ nhập thể làm người, sẽ cất tiếng nói giữa những con người của thời đại, dạy cho họ biết sống theo thánh ý Thiên Chúa để có được hạnh phúc Nước Trời.

Cuộc sống của ta không phải lúc nào cũng êm đềm trôi trong những giấc mơ đẹp. Giữa những thử thách, gian truân, đâu là lời xin vâng của ta thưa lên cùng Thiên Chúa, Đấng mà ta vẫn ngợi ca là Tình yêu? “Vâng, tôi đây là nữ tì của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói.” (Lc 1, 38). Ta nghe trong lòng lời xin vâng rất đẹp của Mẹ và tự hỏi  lời thưa “xin vâng” ấy có còn được Mẹ thưa lên cùng Chúa nữa không?

Nhìn ngắm mẫu gương của Mẹ, ta có thể tìm thấy một sự cảm thấu và được an ủi. Suốt một đời, Mẹ đã trải qua những biến cố mà dường như đi ngược lại với những gì mà sứ thần Gabriel đã báo. Làm sao hiểu được một Đấng Cứu Thế phải hạ sinh trong một hang lừa hôi hám giữa trời đông giá lạnh nếu Mẹ là người không có một niềm tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa. Làm sao hiểu được sự gian truân vất vả mà Mẹ cùng Thánh Giuse đã trải qua, đang đêm ôm con trốn ngọn giáo của vua Hêrôđê? Ta cũng từng gặp những sự khó khăn và chúng chi phối cuộc sống của ta. Ta nghĩ mình thật đáng thương, thật khổ sở và ta đã than trách Chúa tại sao không thương ta. Còn Mẹ và Thánh Giuse có than trách Thiên Chúa hay không? Từng biến cố đến trong đời, Mẹ đã chìm đắm trong suy ngắm mầu nhiệu tình thương của Thiên Chúa. Mẹ đã trung kiên bước theo Chúa Giêsu đến cùng lên tận đỉnh đồi hiến tế. Mẹ đã không ngần ngại nhận mình là mẹ của tử tội Giêsu. Theo gương Mẹ, ta cũng hãy dâng ý riêng và chương trình của bản thân cho Thiên Chúa để sống cho chính Thiên Chúa. Từng ngày, hãy dâng những thăng trầm dâu bể, những thử thách đến trong đời ta cho Thiên Chúa. Giữa những thách đố của cuộc sống mà thực tế diễn ra nghiệt ngã, không như ta mong đợi, ta hãy nhìn về Mẹ và xin ơn trợ giúp. Mẹ đã được Thiên Chúa cho chiến thắng sự dữ, Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ sẽ phù trợ cho ta trước mặt Chúa. Nhờ Mẹ, ta hãy mau mắn đến với Giêsu con Mẹ để từng ngày học biết thánh ý Thiên Chúa, yêu mến Thiên Chúa và sẵn lòng thực thi thánh ý Thiên Chúa với một niền tín thác.

Lạy Chúa! Con đang mong ngóng cho đến ngày lễ Giáng Sinh để mừng Chúa ra đời, để chờ đón những cuộc găp gỡ với những người con thương mến. Xin Chúa dạy con biết bước theo Mẹ, thưa xin vâng như Mẹ dù cuộc đời không như ý muốn. Xin Chúa dạy con khiêm nhường nhìn nhận thân phận đầy tớ mọn hèn của mình và biết ca ngợi tình yêu Chúa suốt mọi ngày đời con. Amen.

Về mục lục

.

XIN VÂNG

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Chúa Nhật IV Mùa Vọng luôn dành riêng để nói về Đức Mẹ. Thật vậy, thánh Bênađô đã diễn tả một câu để đời :” Nói về Mẹ không bao giờ cho đủ “ ( De Maria numquam satis ! ). Mẹ Maria nắm một vai trò rất quan trọng trong lịch sử cứu rỗi. Bởi vì, Thiên Chúa không dùng một đường lối nào khác ngoài con đường bình thường mà nhân loại vẫn đi. Thiên Chúa đã chọn, đã tuyển lựa một người nữ Do Thái để người nữ tử Sion này trở nên Mẹ của Thiên Chúa, Mẹ của Ngôi Hai nhập thể làm người.Thiên Chúa đã tuyển chọn Mẹ, nên Ngài đã ban cho Mẹ những đặc ân cao cả mà không một ai có được những ân huệ ấy. Giáo Hội dành nói về Mẹ trong Chúa Nhật IV Mùa vọng là để trình bầy đường lối tuyệt vời của Thiên Chúa…

Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa đối với nhân loại quả thực cao sâu, huyền diệu.Thiên Chúa đã chọn một người nữ Do Thái tên là Maria. Ngài đã dọn cung lòng Đức Trinh Nữ Maria hoàn toàn trinh khiết, vẹn toàn để chuẩn bị cho Con Một của Ngài là Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể làm người. Thiên Chúa đã dùng sứ thần Gabrien để truyền tin cho Đức Mẹ :” Và này nơi lòng dạ, người sẽ thụ thai, và sinh con trai, và người sẽ gọi tên Ngài là Giêsu…” ( Lc 1, 31 ). Maria rất đỗi ngạc nhiên, nhưng sứ thần đã trấn tĩnh Mẹ bằng những lời đầy yêu thương và an ủi :” Maria, đừng sợ, vì đã được ơn nghĩa với Chúa “ ( Lc 1, 30 ). Bởi vì :” Mẹ đầy ơn phúc “ ( Lc 1, 28 ). Sứ thần đã nói lên sự can thiệp đặc biệt này :” Chúa Thánh Thần sẽ đến với Trinh nữ, và uy quyền Đấng Tối Cao sẽ bao trùm Trinh Nữ “ ( Lc 1, 35 ). Chính vì thế, việc sinh con này là do hoàn toàn Thiên Chúa, chứ loài người, xác thịt không tham dự vào.

Sứ thần của Thiên Chúa đã kết thúc việc truyền tin cho Đức Mẹ với một xác tín mạnh mẽ, đầy quyền năng:” Vì không việc gì mà Thiên Chúa không làm được “ ( Lc 1, 38 ). Maria dù chưa hiểu rõ ý định của Thiên Chúa, nhưng Mẹ đã hoàn toàn tin tưởng, cậy trông, phó thác, vâng phục Ngài, Mẹ Maria liền thưa :” Xin vâng, xin hãy thành sự như lời sứ thần nói “ ( Lc 1, 38 ). Mẹ Maria đã đem lại cho thế giới niềm hy vọng và bình an. Chính việc xin vâng của Mẹ đã khai mở kỷ nguyên cứu rỗi.

Vâng, với quyền năng của Đấng Tối Cao, thế giới đã sống trong hạnh phúc, niềm vui và hy vọng được ơn cứu rỗi.

Mẹ Maria đã thưa xin vâng với tất cả niềm tin, trách nhiệm, do đó, Mẹ đã cộng tác với Thiên Chúa để Con Một Thiên Chúa được làm người ở giữa muôn người. Qua lời thưa xin vâng, Mẹ là mẫu gương lý tưởng cho mọi người biết khiêm nhượng, phó thác, cậy trông vào quyền năng của Thiên Chúa.

Chúa đã nhập thể nơi cung lòng trinh khiết của Đức Maria ngay từ giây phút Mẹ thưa lời xin vâng, và Chúa vẫn còn tiếp tục đến với mỗi tín hữu qua thái độ sẵn sàng đón tiếp của mình.

Chúng ta đã sống Mùa vọng làm sao, chúng ta có sẵn sàng đón tiếp Chúa qua lời xin vâng thực thi ý Chúa của chúng ta không ?

Lạy Chúa Giêsu, Mẹ Maria đã nói lời “ xin vâng “ với tất cả trách nhiệm, với tất cả niềm tin của mình.Xin cho chúng con luôn sẵn sàng mở lòng tiếp đón Chúa qua lời xin vâng làm theo ý Chúa của chúng con. Amen.

Gợi ý để chia sẻ :

1. Ai đã truyền tin cho Đức Trinh Nữ Maria ?
2. Trước lời mời gọi của sứ thần Gabrien, Mẹ đã đáp trả thế nào ?
3. Sứ thần đã chào Mẹ làm sao ?
4. Mỗi Kitô hữu phải có thái độ nào để đón chờ Chúa đến ?

Về mục lục

.

KHIÊM CUNG PHÓ THÁC

Lm. Vinh Sơn

Một sự kiện có một không hai tại lễ trao giải điện ảnh Oscar năm 2012 diễn ra hôm 26 tháng 2 đó là sự có mặt của một minh tinh màn bạc rất đặc biệt, một nữ tu chiêm niệm 73 tuổi dòng kín Bénédictines, Mẹ Dolores. Hiện nay, Mẹ là bề trên của đan viện Regina Laudis ở Bethlehem, thuộc tiểu bang Connecticut.

Từng là ngôi sao trẻ mới nổi lên vào đầu thập niên 60, Mẹ Dolores được công chúng biết đến với cái tên diễn viên điện ảnh Dolores Hart. Nữ nghệ sĩ đầy tài năng này từng vào vai diễn của mình với nam tài tử nổi tiếng thời bấy giờ Elvis Presley trong các phim « Loving you» (1957), King Creole (1958). Ngoài ra, Dolores Hart còn đóng những vai chính trong nhiều phim với các nam diễn viên nổi tiếng khác như George Hamilton, Robert Wagner, Stephen Boyd, Montgomery Clift v.v…

Mẹ Dolores đến với làng điện ảnh Hollywood lần này để giới thiệu bộ phim tài liệu “Thiên Chúa quan trọng hơn là Elvis”, một bộ phim được ban tổ chức đề cử cho giải Oscar 2012. Phim tài liệu không chỉ đề cập đến sự nghiệp điện ảnh lừng danh của Mẹ, mà còn phục vụ cho việc Phúc Âm Hoá, giới thiệu linh đạo dòng Biển Đức cũng như đời sống thường nhật của các nữ tu chiêm niệm.

Sinh năm 1938 tại Chicago, thuộc tiểu bang Illinois với tên trong giấy khai sinh Dolores Hicks, Dolores Hart là con gái của diễn viên Bert Hicks (1920-1965), và là cháu gái của nghệ sĩ Mario Lanza (1921-1959). Cứ theo suy đoán logic bình thường, Dolores Hicks sẽ chọn trong tương lai cho mình nghề diễn viên để kế tục truyền thống của các bậc cha chú. «Khi lớn lên, tôi đã không có ý định trở thành nữ tu. Tôi muốn là một nghệ sĩ. Nếu như có ai nói với tôi rằng một ngày nào đó tôi sẽ là một tu sĩ, thì tôi hoàn toàn không tin vào điều này. May mắn ấy chỉ chiếm một trên phần một triệu mà thôi », Mẹ Dolores tâm sự.

Trở thành nữ tu chiêm niệm dòng Biển Đức vào năm 1963, là Bề Trên đan viện Regina Laudis kể từ tháng 11 năm 2004, Mẹ Dolores chia sẻ về ơn gọi của mình : « Tôi đã đấu tranh suốt cả cuộc đời để đáp trả tiếng gọi của Đức Kitô. Nhờ vậy, tôi có thể hiểu ra tại sao nhiều người lại có những hoài nghi, bởi vì ai mà có thể hiểu nổi Thiên Chúa ? Chẳng phải tôi ! Ở cấp độ này, các bạn bước vào mối liên hệ với mầu nhiệm »…. (trích bản tin của Lm. Giuse Vũ Tiến Tặng).

Maria không xin khiêm tốn, nhưng Maria đáp trả lại với tâm tình khiêm tốn bằng Lời Xin Vâng với tất cả niềm tin tín thác, trước đề nghị của Sứ Thần mời Maria cộng tác vào chương trình của Thiên Chúa.

Trinh nữ Maria đã đính hôn cùng chàng trai Giuse và hai người cùng quyết tâm sống trinh khiết tận hiến cho Thiên Chúa, hòa chung với niềm mong đợi của toàn dân: khao khát và hằng trông đợi Đấng Cứu Thế. Trong niềm khát vọng đó, tại Nagiaret hẻo lánh, Maria đón một vị khách lạ, chính là Sứ thần Gabriel đến với lời chào: “Mừng vui lên!, hỡi Trinh nữ”. Lời chào như thể được liên kết với biến cố Đấng Cứu Thế ngự đến như lời các ngôn sứ đã vang lên : “ Thiếu nữ Sion hãy reo vui lên khi ngắm nhìn Đấng cứu độ mình đang tiến đến gần ” (x. Xp.3, 14; Ge 2,21; Dcr 2,14. 9,9 ; Is 54,1). Maria là người đầu tiên được loan báo niềm vui vĩ đại này cho nên được đầy ơn phúc. Sau đó niềm vui sẽ được loan báo cho toàn dân.

Lời chào và sự loan báo của Sứ thần làm Maria bối rối vì không hiểu hết sự việc hơn nữa mình là một thôn nữ thấp kém sao lại được hồng ân cao cả.

Sứ thần Gabriel nói tiếp : “ Thiên Chúa ở cùng Trinh nữ ”, lời tiên báo của Ngôn sứ về hồng ân vĩ đại cho con người: Thiên Chúa ở với dân Người như ngôn sứ Isaia nói về tên Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta -(x. Is 7,14), Thiên Chúa ở cùng nhân lọai nhưng trước hết với và qua Đức Maria: Đấng được Đức Chúa ở cùng, cưu mang và sinh hạ Đấng Cứu Thế.

Maria thắc mắc làm sao việc sinh con có thể thực hiện được, vì Trinh nữ đã khấn hứa trọn đời trinh khiết. Sứ Thần Giải thích: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên cô”. Sứ thần nhấn mạnh vai trò của Thánh Thần theo Kinh Thánh: Thánh Thần là quyền năng của Thiên Chúa ban sự sống vào lúc bắt đầu công trình Tạo Dựng: “Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước” (St 1,2) ban sự sống cho vũ trụ lúc còn nguyên sơ. Giờ đây Thánh Thần – Hơi Thở sáng tạo – từ lúc khởi đầu vũ trụ, sẽ làm lại cuộc sáng tạo mới trong lòng Đức Maria: sự thụ thai và sinh con Thiên Chúa mà vẫn còn đồng trinh.

Vì thế, Sứ Thần quả quyết: “ quyền năng Đấng Tối Cao sẽ phủ bóng trên bà và vì thế người con sinh ra sẽ là thánh, và được gọi là Con Thiên Chúa”, diễn ngữ “phủ bóng” dùng ở Kinh Thánh: trong hoang địa “đám mây phủ bóng trên Lều Hội Ngộ, và vinh quang Đức Chúa đầy tràn Nhà Tạm” (Xh 40,34) và lan đến với dân Chúa. Giờ đây phủ bóng trên Maria, Cô Trinh Nữ trở nên Nhà Tạm cho Đấng Cứu Thế. Thánh Luca sử dụng diễn ngữ “phủ bóng” để mô tả biến cố Biến Hình: “Bỗng có một đám mây phủ bóng…và từ đám mây có tiếng nói rằng: Đây là Con Ta…” (Lc 9,34). Chính vì quyền năng và hồng ân của Thiên Chúa, Maria được vinh quang rạng ngời của Thiên Chúa bao phủ, và Thánh Thần thổi hơi sự sống vào trong cung lòng Mẹ. Sự sống nầy là hoa trái của tình yêu Thiên Chúa, nên sứ thần khẳng định: “Vì thế, người con sinh ra sẽ là thánh, và được gọi là Con Thiên Chúa”.

Sứ Thần khẳng định : “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (St 18,14). Như xa xưa Thiên Chúa đã khẳng định với tổ phụ Ápraham, khi ông rất đỗi kinh ngạc vì vợ ông, bà lão Sara, có thể sinh cho ông một cậu con trai (St 11,30). Cũng một cách thức như vậy đối với bà cụ Rêbêca (St 25,21), bà Raken đã cao niên (St 29,31) và mẹ của ông Samson cũng đã già (Tl 13,2). Sứ Thần nói đến một dấu lạ mà chính Maria cũng được biết trong dòng tộc: “Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi mà cũng đã thụ thai: một người vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng”, điều mà về phương diện con người không thể được…

Dù bối rối, chưa hiểu và biết rõ hết sự việc Maria khiêm tốn đặt toàn bộ cuộc đời của mình trong Thánh Ý của Thiên Chúa qua việc đáp trả với Sứ Thần: « Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên thần truyền »

Maria hoàn toàn sẵn sàng thi hành ý muốn của Chúa, như một tôi tớ khiêm cung, thưa vâng trong tin tưởng, yêu mến và phó thác. Trước công trình cứu độ của Thiên Chúa đang diễn ra, trong khung cảnh truyền tin, Giacaria được loan báo về cuộc chào đời và nhiệm vụ Tiền hô của con ông là Gioan, Giacaria đã ngờ vực, hoài nghi…  Đức Maria khi được loan báo về cuộc chào đời và định mệnh của con ngài là Đấng Messia mang tên Giêsu, đã trả lời một cách xác tín.

Thánh Augustinô nói: “Thiên Chúa tạo dựng chúng ta, Ngài không cần ta. Nhưng Ngài không cứu độ ta, nếu ta không cộng tác”.

Trong công cuộc cứu độ trần gian, Maria đã cộng tác bằng cả cuộc đời  khiêm cung tín thác vào thánh ý. Maria dù không biết rõ ý muốn Thiên Chúa sẽ xảy ra như thế nào, và cuộc đời của Maria cũng gặp những gian nan: lưu lạc sang Ai Cập, lạc con và chứng kiến con phải chết trên thập tự, Maria vẫn luôn “Xin Vâng” hoàn toàn tận hiến đời mình để thực hiện thánh ý Chúa. Chúng ta cũng được mời gọi vào chương trình cứu độ chung của nhân loại và cho chính chúng ta khi  sẵn sàng  phó thác cho đường lối Chúa Quan phòng. Khi đứng trước các  ngõ ngách của cuộc đời, trước mọi thử thách và chúng ta không hiểu hết được tại sao ta phải đối diện, như Maria chúng ta khiêm tốn:

Lòng con chẳng dám tự cao,

mắt con chẳng dám tự hào, CHÚA ơi!

Ðường cao vọng, chẳng đời nào bước, 
việc diệu kỳ vượt sức, chẳng cầu;

hồn con, con vẫn trước sau 
giữ cho thinh lặng, giữ sao thanh bình. 
Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ, 
trong con, hồn lặng lẽ an vui.

                                 (Tv 131, 1 – 2)

Với sự tín thác khiêm cung, chúng ta được Thiên Chúa chiếm hữu hoàn toàn trong vĩnh cửu. Chúng ta phó thác toàn thân cho ý muốn của Thiên Chúa với thái độ sẵn sang:

“Con xin đến để thực thi Ý Chúa” (Dt 10,7).

Về mục lục

.

TRUYỀN TIN CHO CẢ TÔI NỮA

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Rất hợp lý Chúa Nhật 04 mùa vọng trình bày cảnh truyền tin cho Đức Ma-ri-a, một biến cố cụ thể và thiết thực nhất trong việc thể hiện mầu nhiệm Thiên Chúa làm người. Thế nhưng khi Giáo Hội mời gọi tôi chiêm ngắm biến cố đó, có phải chỉ vì muốn kể cho tôi biết về các sự kiện liên quan tới việc Hài Nhi sắp sinh ra để giúp tôi thêm hiểu biết dọn mình mừng lễ Giáng Sinh? Nếu đúng là như thế thì khi chiêm ngắm quang cảnh này, tôi vẫn chỉ là người ngoài cuộc bàng quang, có chăng là chờ đợi để được hưởng một vài kết quả may mắn nào đó mà sự kiện này có thể mang đến cho mình?

“Trong mầu nhiệm Nhập thể Thiên Chúa làm người,” tác giả Brisson đã tóm lược như thế này khi nói về linh đạo của Thánh Phan-xi-cô Sa-lê, “không phải chỉ một ‘Chúa – Người’ duy nhất có thể kết hiệp với Thiên Chúa. Trong kế hoạch thần linh, không phải Thiên Chúa chỉ kết hợp với một người để biến người đó thành ‘Chúa – Người’, nhưng Ngài còn muốn nhập thể được ứng dụng cho hết thảy mọi người. Qua nhập thể Thiên Chúa muốn đi vào trong tương quan với hết thảy nhân loại. Ngài muốn nhập thể trong mọi người, đương nhiên không phải dưới dạng hai bản tính nên một (hypostatic), nhưng không kém phần hữu hiệu và biến đổi trong tất cả những ai sẵn sàng và chuẩn bị đón nhận… Nhập Thể trên thực tế lan rộng tới mọi phần tử của Nhiệm Thể Đức Ki-tô tức là Hội Thánh.” (Louis Brisson, Cor ad Cor, trg. 143).

Nếu quả đúng là như thế thì biến cố truyền tin khởi đầu mầu nhiệm nhập thể cũng phải là biến cố dành cho mỗi Ki-tô hữu chúng ta; chính tôi cũng được truyền tin! Có thể tạm hiểu điều này như sau: Sứ thần [đức tin] đến với tôi, một kẻ thấp hèn, và chào: “Mừng vui lên, hỡi [người] đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng [bạn]”. Tôi sẽ tự hỏi, mình mà được ‘đầy ân sủng’ sao? Chắc đi rồi, vì ân sủng chính là lòng nhân ái xót thương Thiên Chúa hằng đổ tràn trên tôi. Hội Thánh cho biết ân sủng nhân ái này được ban nhưng không (gratis), nghĩa là không do bất cứ công nghiệp nào của tôi. Hơn thế nữa Phao-lô còn muốn tôi hiểu rằng: nơi đâu càng tội lỗi thì ân sủng Chúa càng dư tràn (xin xem Thư Rô-ma chương 5 đặc biệt câu 20). Gia-kêu, đứa con hoang đàng, Ma-đa-lê-na… là một số trường hợp điển hình và tiêu biểu. Mỗi khi nhận ra mình tội lỗi, tôi tạo ra cho Chúa dịp thi thố lòng thương xót thứ tha; lúc đó Thánh Linh hầu như cũng nói với tôi: “Đừng sợ, vì [bạn] đẹp lòng Thiên Chúa… bạn đã làm cho hài nhi Giê-su được sinh hạ nơi mình, vì Hài Nhị giáng trần vốn chỉ với mục đích làm cho mọi người nhận biết tình thương cứu độ của Thiên Chúa”. Đối với Ma-ri-a trong tư cách một phụ nữ Do Thái, thì sứ thần loan báo: Hài Nhi sắp hạ sinh sẽ “được gọi là Con Đấng Tối Cao, Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận”, nhưng đối với một Ki-tô hữu như tôi, hệt như Ma-ri-a tin yêu trong suy niệm Tin Mừng nơi thẳm sâu cõi lòng, tôi cũng sẽ được loan báo cho biết: Hài Nhi giáng trần chính là ‘Thiên Chúa, Đấng cứu độ…hằng đoái thương nhìn đến phận hèn… đời nọ tới đời kia Chúa hằng thương xót… và lòng thương xót đó dành cho tổ phụ Ap-ra-ham và cho con cháu đến muôn đời’ (Lc 1:46-55). Có lẽ trong thâm tâm nhiều lúc tôi cũng đã thốt lên: “Việc ấy xảy ra cách nào… vì con thật không đáng được thương xót thứ tha”. Nhưng tôi nhận được lời đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bạn, và quyền năng Đấng tha thứ sẽ rợp bóng trên bạn, vì thế Đấng Thánh bạn mang nơi mình sẽ được gọi là Con Thiên Chúa cứu độ.” Phúc Âm chỉ cho tôi thấy người phụ nữ ngoại tình, tên cướp cùng chịu đóng đinh với Đức Giê-su đã được tha thứ như thế nào, và lúc đó đức tin cũng sẽ chấn an tôi “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được… không có tội nào mà không tha thứ được.” Và lúc đó tôi cũng chỉ có thể khiêm tốn cùng với Ma-ri-a đáp lại: “Vâng, con đây chỉ là người tội lỗi thấp hèn, Xin Chúa cứ làm cho con như lời hứa của Tin Mừng cứu độ!”

Giáng sinh đã gần lắm rồi! Nếu không thật sự coi việc truyền tin của đức Ma-ri-a đang được lặp lại với mình mỗi dịp Sinh Nhật, có lẽ hệt như những năm trước, tôi sẽ lại chỉ lo dọn mừng lễ thật to, thật long trọng, nhưng vẫn chỉ như một khách bàng quang cử hành lễ hội; nội dung Giáng sinh vẫn ở xa tít tắp đâu đâu. Truyền tin là cho tôi, và Giáng sinh cũng là cho tôi, vì tôi trong tình trạng hiện sinh của mình cần phải như thế!

Lạy Mẹ Maria, trong bài ca ‘Magnificat’, chính Mẹ đã nội tâm hóa biến cố truyền tin theo suy nghĩ sâu lắng của cõi lòng. Mẹ đã thấu hiểu cưu mang Đấng Cứu Thế chỉ là một phần của điều quan trọng hơn nhiều, đó là nhận biết Chúa hằng thương xót. Xin giúp con hiểu được cuộc truyền tin của con, và cùng với Mẹ, ca ngợi lòng thương xót Chúa trong mùa Giáng Sinh này. A-men!

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 4 MÙA VỌNG_B

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

Tin mừng Chúa nhật 4 mùa Vọng qua hoạt cảnh truyền tin cho Đức Maria mạc khải việc thụ thai lạ lùng của Hài Nhi Giêsu, Đấng Cứu Thế nói lên sứ mạng cao cả của Hài Nhi: Con Thiên Chúa làm người đến để thi hành Thánh ý Thiên Chúa: Cứu độ nhân loại.

Qua lời xin vâng của Đức Maria, lời hứa ban Đấng Cứu Thế được thực hiện. Chương trình cứu độ của Thiên Chúa được khởi sự trong lịch sử nhân loại: “Một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu”. Lời xin vâng với thái độ khiêm tốn và tin tưởng. Đức Maria đã đáp lại ơn gọi của Thiên Chúa kêu mời để cộng tác vào việc cứu nhân độ thế của Thiên Chúa.

Trong sứ điệp ngày Quốc tế giới trẻ thứ 18 năm 2012, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo đã nói với giới trẻ rằng, trong biến cố truyền tin, Đức Maria trao ban bản tính nhân loại cho thiên Chúa trong cung lòng Mẹ với lời tự do chấp nhận: “Này tôi là tôi tớ Chúa”. Dưới chân thập giá, nơi thánh Gioan, Đức Maria đón nhận nhân loại vào tâm hồn mình: “Hỡi bà, này là con bà” (Ga 19, 26).

“Là Mẹ Thiên Chúa ngay từ lúc đầu tiên của biến cố Nhập Thể; Mẹ đã trở thành mẹ của loài người trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời Chúa Giêsu, con Mẹ”.

Hài Nhi Giêsu mà Đức Maria đang cưu mang chính là Thiên Chúa và là người như chúng ta ngoại trừ tội lỗi. Con Thiên Chúa làm người để con người được làm con Thiên Chúa. Các tiên tri đã loan báo từ ngàn xưa. Đức Giêsu thuộc dòng dõi David, chính là vị vua đa làm cho triều đại David vững bền mãi mãi. Thiên sứ Grrabiel đã nói cho Đức Maria biết về tương lai của Hài Nhi Giêsu:

“Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngai báu Đavid tổ phụ Ngài, và triều đại Ngài sẽ vô tận”.

Qua bài Tin mừng về biến cố Truyền tin được đặt vào Chúa nhật 4 mùa Vọng, ngay sát với lễ Giáng Sinh của Chúa Giêsu, Giáo hội muốn dọnu lòng chúng ta hướng về Hài Nhi sắp sinh ra được kỷ niệm trong đêm Giáng Sinh là Chúa Cứu Thế, con Thiên Chúa mà nhân loại đang mong đợi.

Để dọn lòng đón Chúa Cứu Thế, Giáo hội kêu gọi chúng ta noi gương Đức maria luôn thưa với Chúa tiếng xin vâng. Chính khi Đức Mẹ nói lời “xin vâng” thì một sức sống đã bùng lên, một ánh sáng đã bùng soi nhân loại. Thiên Chúa đã bắt đầu để cứu con người. Lời xin vâng của Mẹ chính là cửa ngõ dẫn vào ơn cứu độ: Mẹ xin vâng là Mẹ đón nhận công việc mở cửa cho ơn cứu độ tuôn tràn trên nhân loại.

Có lẽ nhiều người dân Hoa Kỳ vẫn chưa quên hình ảnh Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ôm hôn anh Tony Belade sau khi anh vừa đánh guitar vừa hát cho ngài nghe nhân dịp viếng thăm thành phố Los Angeles năm 1987. Hình ảnh này được ghi nhớ không phải nó nhắc đến sự gặp gỡ giữa một vị Giáo hoàng với một ca sĩ tài ba, nhưng là vì nó đã phơi bày sâu sắc sức sống tràn đầy nơi con người Tony.

Tony Belade chào đời không có hai bàn tay. Anh đã tập dùng các ngón chân trong tất cả mọi công việc thường nhật, cho đến việc học đánh đàn guitar. Ngạc nhiên với khả năng lạ lùng này, nhiều người đã hỏi Tony:

– Bí quyết nào giúp anh chấp nhận sự bất hạnh để sống bình thường và còn sử dụng đàn guitar tuyệt diệu như thế?

– Tôi đã cầu nguyện với Chúa: “Lạy Chúa xin nhận lấy con và dùng con theo thánh ý Chúa. Tôi tự hiến cho Chúa như một của lễ sống động và Ngài đã nhận lời tôi”.

Khi vui buồn, thành công hay thất bại, chúng ta luôn nói với Chúa: “Con xin vâng theo ý Chúa” như Đức Maria, như Tony.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG_B

Lm Giuse Đinh Tất Quý

“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa,

xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”.(Lc 1,38) 

Bài Tin Mừng hôm nay là một trong những bài Tin mừng đẹp nhất trong toàn bộ Kinh Thánh. Thánh Luca đã tế nhị giới thiệu cho chúng ta một nhân vật hết sức quan trọng trong việc Chúa Cứu Thế sinh ra làm con người: Nhân vật ấy chính là Đức Maria, mẹ của chúng ta.

A. 1. Dưới con mắt của Luca thì Đức Maria là “Thiếu nữ Sion” (Câu “mừng vui lên” chính là âm hưởng lời nói với thiếu nữ Sion từ ngàn xưa)

Nào thiếu nữ Xion, hãy vui mừng hoan hỷ!

Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! 

Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi :

Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng,

khiêm tốn ngồi trên lưng lừa,

một con lừa con vẫn còn theo mẹ. (Dcr 9,9) 

Như vậy ngày xưa qua miệng ngôn sứ, Thiên Chúa hứa sẽ đến ở nhà “thiếu nữ Sion” (tức là dân Chúa) thì hôm nay Lời hứa này được thực hiện nơi Đức Mẹ. 

  1. Đức Mẹ đã đón nhận Lời hứa ấy như thế nào?

Chúng ta hãy dừng lại một chút để so sánh việc Đức Maria và ông Dacaria khi đứng trước một một tin vui xem hai người đã phản ứng như thế nào. 

* Khi được báo tin sẽ có con, cả Dacaria và Đức Maria đều thắc mắc hỏi lại. Nhưng câu hỏi của Dacaria biểu lộ sự hoài nghi. Việc hoài nghi không tin này này đã được chính thiên sứ xác nhận “Bởi vì ông không tin” (câu 20)

Còn câu hỏi của Đức Maria là câu hỏi để xin soi sáng thêm (“việc ấy xảy đến thế nào được bời vì tôi không biết đến người nam?”), 

* Kết quả, ông Dacaria vì không tin nên bị phạt. Còn Đức Maria đã tin và mau mắn vâng lời cho nên kế hoạch của Thiên Chúa được thực hiện ngay. 

3. Như vậy chúng ta có thể nói: Nếu Lịch sử cứu độ thời Cựu Ước đã được bắt đầu với hành vi đức tin của Abraham thì Lịch sử cứu độ thời Tân Ước cũng được bắt đầu với hành vi đức tin của Đức Mẹ. Nếu Abraham đã được gọi là “cha của những kẻ tin” thì Đức Maria cũng phải được gọi là “mẹ của những kẻ tin”. Và như thế chúng ta có thể suy ra: Lịch sử cứu độ của mỗi người cũng phải bắt đầu bằng hành vi đức tin của chính người đó.

“Sứ thần nói với cô Maria : Này Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu”. Cô Maria thưa với sứ thần : “Này tôi là nữ tì của Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền” (Lc 1,31.38). Một sự đáp trả quá đẹp. Đức Maria đã xin vâng và nhờ tiếng xin vâng đó mà Thiên Chúa đã thực hiện được kế hoạch Cứu độ của Người. 

B. 1. Chúng ta tự hỏi tại sao Thiên Chúa lại phải hạ mình đến như vậy? Chẳng lẽ Người phải đợi sự ưng thuận của một tạo vật rồi mới thực hiện chương trình của mình?

Câu trả lời không khó lắm. Đọc lại toàn bộ Kinh thánh chúng ta thấy mặc dù “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”, nhưng thường Thiên Chúa không làm một mình, Ngài thích có sự cộng tác của con người. Để thành lập một dân, Chúa đã gọi Abraham để ông cộng tác với Người. Để cứu dân mình khỏi ách thống trị AiCập, Chúa đã gọi Moise và chúng ta thấy Moise đã làm cho Chúa những gì, và để Đấng Cứu Thế được nhập thể, Thiên Chúa đã nhờ Đức Maria cộng tác. Và Đức Maria đã cộng tác bằng cách ngoan ngoãn để cho Chúa hành động trong mình và qua mình. 

  1. “Xin cứ làm cho tôi…”.

Phải nói đây là một sự thuận phục trọn vẹn. 

Đức Maria đã trả lời bằng hai tiếng thật vắn gọn “xin vâng”: Trả lời như thế có nghĩa là: Chúa bảo gì tôi cũng làm theo cả. Chúng ta tự hỏi việc trả lời như thế có liều lĩnh lắm không. Ai trong chúng ta cũng biết việc tuân hành thánh ý Thiên Chúa không phải là việc dễ dàng. Hãy nhìn vào hoàn cảnh của Đức Maria chúng ta sẽ thấy điều đó. 

Chúng ta xưng tụng Đức Maria là người có phúc. Điều đó đúng. 

Đức Maria được báo cho biết rằng nàng sẽ sinh một con trai do hành động siêu phàm của Chúa Thánh Thần. Việc đó chỉ có một mình Maria biết. Bà con lối xóm, bạn bè quen thuộc chẳng ai biết được sự việc đó. Cắt nghĩa làm sao? Mà dù có cắt nghĩa đi nữa thì ai tin. Xưa nay đã có bao giờ có như vậy đâu? Maria cũng chỉ là một người bình thường như những người khác, thậm chí còn nghèo khổ hơn những người khác…đâu có đặc biệt gì mà Thiên Chúa lại quá ưu ái như vậy! Vâng làm sao cắt nghĩa được đây?  Vì thế, đối với những người bà con quen biết chắc chắn họ sẽ cho rằng Maria đã phạm tội. Đó là một vết nhơ ô nhục trên suốt cuộc đời của một người con gái chưa về nhà chồng mà đã có con. 

Rồi còn một khó khăn nữa cũng không kém phần nhức nhối đó là làm sao cắt nghĩa cho Giuse hiểu đây! Giuse, hôn phu của nàng, làm sao chịu đựng nổi sự hổ nhục này? 

Giuse đã tính bó trốn. Đó là con đường dễ chịu nhất. Rất may là Thiên Chúa đã can thiệp. 

Giả như Đức Maria là một thiếu nữ chỉ muốn an phận thì khi được sứ thần ngỏ ý có lẽ Mẹ đã thưa: “Tôi không muốn làm mẹ Đấng Cứu Thế, tôi chỉ muốn được sống cuộc đời bình thường với sự tôn trọng của người xung quanh và tình thương yêu mà người tôi định lấy. Tôi chỉ muốn sống như các phụ nữ khác. Xin Chúa hãy đem vinh hạnh ấy cho một thiếu nữ Ítraen khác.” Nhưng thay vì câu nói ấy, chúng ta lại được đọc thấy trong Tin mừng một lời hết sức cảm động đầy tinh thần vâng phục và hi sinh: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” 

Vâng đó là những gì đẹp nhất mà chúng ta được nghe. 

Nói tới đây tôi chợt nhớ tới câu chuyện của Trương Lương trong Tam Quốc Chí. Ai cũng mến mộ Trương Lương, một trong những vị tướng tài ba của Lưu Bang. Làm sao mà Trương Lương được mến mộ như vậy. Thưa vì ngay từ thưở nhỏ Trương Lương đã có những đức tính rất dễ thương. Hôm đó, Trương Lương đi dạo chơi ngoài bờ sông chợt thấy một ông lão ăn mặc rách rưới nằm ngủ trên cầu. Ông lão ngủ say quá nên làm rơi một chiếc dép xuống sông. Tỉnh dậy thấy cậu bé Trương Lương ở đó, ông sai bảo: “Thằng bé, nhặt chiếc dép cho ta”. 

Trương Lương vui vẻ xuống sông nhặt chiếc dép rồi kính cẩn đưa lại cho cụ già. Cụ già cầm lấy, không một lời cám ơn. Rồi cụ loay hoay xỏ mãi mà không vào. Chiếc dép lại một lần nữa rớt xuống bờ sông. Cụ lại quát bảo Trương Lương: “Thằng bé, xuống nhặt dép cho ta”. Trương Lương vẫn vui vẻ giúp cụ. Lần thứ ba cũng thế. Thấy vậy, ông lão khen: “Thằng bé này dạy được đây”. Thì ra cụ là một cao nhân lỗi lạc. Và cụ nhận Trương Lương làm học trò, truyền dạy binh pháp cho ông. Nhờ thế, Trương Lương trở nên một danh tướng văn võ song toàn, đã giúp cho Lưu Bang dựng nên nghiệp đế vương. 

Trương Lương gặp được thầy giỏi một phần nhờ cơ may. Nhưng phần lớn là nhờ sự khiêm nhường phục vụ của ông. Hoàn cảnh thời Đức Mẹ sống cũng tương tự như thế. Thời đó, ai cũng mong chờ Đấng Cứu Thế, nhưng chỉ mình Đức Mẹ được diễm phúc đón nhận. Chúa chọn Đức Mẹ, đó là do ơn lành nhưng không của Chúa, nhưng cũng vì Đức Mẹ có tâm hồn khiêm nhường đón nhận. 

Kính thưa anh chị em. Chúng ta đang sống trong những ngày cuối cùng của Mùa Vọng. 

Mùa Vọng là mùa chờ đón Chúa đến. Ta mong được đón rước Chúa vào tâm hồn. Ta mong được ân huệ dư đầy của Thiên Chúa. Làm sao ơn Chúa có thể đến với chúng ta. Ta hãy noi gương Đức Mẹ, biết khiêm nhường nhận mình tội lỗi yếu hèn, biết khiêm nhường từ bỏ ý riêng để thi hành ý Chúa, biết khiêm nhường vâng theo ý Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, biết khiêm nhường phó thác vân mệnh trong tay Chúa dù không hiểu hết những ý định mầu nhiệm của Người. Chỉ khi khiêm nhường tan biến thành hư không, ta mới được Chúa thương đổ đầy tràn ân phúc vào tâm hồn. 

Lạy Đức Mẹ Maria, xin dạy con biết sống khiêm nhường để con đi vào chương trình của Thiên Chúa.

Về mục lục

.

MIỆNG LƯỠI VÀ LỜI NÓI

Trầm Thiên Thu

Cái miệng liên quan cái lưỡi, nên thường nói là “miệng lưỡi”, và miệng lưỡi liên quan lời nói. Xem chừng rất ư bình thường mà lại rất khác thường, vì lời nói có thể là Phúc hay Họa của chúng ta. Chúa Giêsu nói: “Nhờ LỜI NÓI của anh mà anh sẽ được trắng án; và cũng tại LỜI NÓI của anh mà anh sẽ bị kết án” (Mt 12:37). Thật đáng sợ, thế nên không thể khinh suất lời nói. Thảo nào tiền nhân đã căn dặn: “Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”.

Thế là “khoảng mong chờ” đã ở vào giai đoạn cuối, Mùa Vọng đang dần dần khép lại. Vậy là nỗi khao khát của chúng ta sắp được mãn nguyện, nhưng không vì thế mà lơ là bổn phận. Trong thời khắc cuối cùng của mùa Vọng, Giáo hội nhắc nhở chúng ta về “miệng lưỡi”, tức là về ngôn ngữ khi chúng ta sử dụng. Publius Syrus (thế kỷ I trước công nguyên) tâm sự: “Tôi thường hối tiếc vì những gì mình nói, chứ không bao giờ hối tiếc vì sự im lặng của mình”.

Có câu chuyện xưa kể rằng chủ nhân sai gia nhân ra chợ mua món gì ngon nhất, gia nhân đi và mua về “cái lưỡi”. Hôm sau ông lại sai gia nhân ra chợ mua món gì dở nhất, gia nhân đi và lại mua về “cái lưỡi”. Chủ nhân “mắt chữ O và miệng chữ A”, gia nhân điềm nhiên giải thích: “TỐT hay XẤU cũng do CÁI LƯỠI mà ra”. Quả thật, “lưỡi không xương nhiều điều lắt léo”, tiền nhân thật chí lý!

Có miệng phải có lưỡi mới nói được, lưỡi ngắn cũng khó nói – nói ngọng. Như vậy, người ta nói được nhờ cái lưỡi, nhưng nói gì mới là vấn đề. Có người dùng cái lưỡi để nói những “lời hay, ý đẹp”, khuyến khích, khuyên bảo, cầu nguyện, hòa giải,… Nhưng có người lại dùng cái lưỡi để chỉ trích, gây chia rẽ, phỉ báng, nguyền rủa, trách móc, chê bôi, chửi rủa,… Đúng lá tốt hay xấu cũng từ cái lưỡi, và chính cái lưỡi tạo nên nhiều rắc rối, do đó mà ca dao Việt Nam có câu nhắc nhở:

Lời nói chẳng mất tiền mua

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

Kinh Thánh nhiều lần đề cập cái lưỡi. Sách Huấn ca khuyên: “Hãy nghe dạy bảo về lời ăn tiếng nói, vì ai tuân giữ, không bị bắt lỗi bao giờ. Chính do môi miệng mà tội nhân bị bắt bẻ, cũng do đó, đứa lăng mạ và kẻ tự cao phải vấp phạm” (Hc 23:7-8), và dạy chúng ta cầu nguyện: “Xin đẩy dục vọng xa khỏi con, xin chớ để thói ăn chơi trụy lạc thống trị con, đừng để con đắm chìm trong những dục vọng trơ trẽn” (Hc 23:5-6).

Khôn hay dại cũng bởi cái lưỡi. Người khôn dùng cái lưỡi theo cách khác, người dại dùng cái lưỡi theo cách khác. Người khôn ít nói, vì sao? Ca dao cho biết:

Chim khôn chưa bắt đã bay

Người khôn chưa nói đã cay lòng rồi

Cái lưỡi liên quan dư luận, do đó dư luận cũng có thể tốt hoặc xấu, thường thì xấu nhiều hơn, người ta có xu hướng “đổ dầu vào lửa”, cho nên đôi khi phải can đảm “đạp dư luận” mà sống. Cứ nghe và xét mình, đừng vội tin và đừng hoảng sợ. Miệng lưỡi thế gian thế đấy, gọi là “chuyện thế gian”. Ca dao nói:

Chỉ đâu mà buộc ngang trời

Tay đâu mà bụm miệng người thế gian

Kinh Thánh khuyên chúng ta dùng miệng lưỡi vào việc tốt lành, và hứa điều này: “Lạy Chúa, con sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn đời”. Ca ngợi thì phải dùng miệng, nghĩa là cũng liên quan “cái lưỡi”. Chúng ta không chỉ dùng miệng lưỡi để ăn uống, giúp duy trì sự sống, và để đối thoại với nhau hàng ngày, chúng ta còn phải dùng miệng lưỡi để xưng tụng Thiên Chúa: “Tình thương Chúa, đời đời con ca tụng, qua muôn ngàn thế hệ miệng con rao giảng lòng thành tín của Ngài” (Tv 88:2). Vâng, “tình thương ấy được xây dựng tới thiên thu, lòng thành tín Chúa được thiết lập trên trời” (Tv 88:3). Giao ước đó đã được thề hứa với thánh vương Đavít, và sẽ bền vững đến ngàn đời, qua muôn thế hệ” (x. Tv 88:4-5).

Nói điều tốt là điều cần thiết. Không chỉ vậy, chúng ta còn phải dùng cái lưỡi để nói về Chúa, rao truyền Ơn Cứu Độ, quảng bá Lời Chúa, làm vinh danh Thiên Chúa (x. Rm 16:25-27). Nhưng nói về Chúa và nói với Chúa là điều cần thiết hơn, rất quan trọng đối với Kitô hữu chúng ta. Trách nhiệm của chúng ta là phải khôn khéo dùng miệng lưỡi. Có những điều không nên nói hoặc không được nói, nhưng có những điều phải nói, không nói không được, không nói là có lỗi. Miệng lưỡi và lời nói thật quan trọng, cần phải khôn ngoan để có thể sử dụng đúng.

Quả thật, lời nói không hề đơn giản để có thể biết cách dùng miệng lưỡi, hãy học cách sử dụng lời nói với Đức Maria: “Xin vâng”. Trình thuật Lc 1:26-38 kể rằng khi sứ thần Gáprien tuân lệnh Thiên Chúa đến truyền tin: “Mừng vui lên, hỡi người đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Chị”. Nghe vậy, thôn nữ Maria đã bối rối và chẳng hiểu “ất giáp” gì ráo trọi. Sứ thần trấn an: “Thưa Chị Maria, xin đừng sợ, vì Chị đẹp lòng Thiên Chúa. Chị sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu”. Đức Maria càng rối hơn, vừa hoảng hốt vừa e thẹn nói: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!”.

Nhưng khi nghe sứ thần giải thích đó là quyền năng Chúa Thánh Thần và chứng minh người chị họ Êlisabét, bị mang tiếng là hiếm hoi, già rồi mà cũng đang cưu mang một nam nhi được sáu tháng, đặc biệt hơn khi nghe sứ thần nói rằng đối với Thiên Chúa thì không có gì là không thể làm được, thôn nữ Maria vô cùng an tâm, lòng tràn đầy phấn khởi và tin tưởng nói ngay: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”. Và thế là “chốc ấy Ngôi Thứ Hai xuống thế làm người, và ở cùng chúng ta – Emmanuel”.

Thật hạnh phúc khi chúng ta có Đức Mẹ là gương mẫu hoàn hảo. Đức Mẹ là thôn nữ nhưng kiều diễm, nét đẹp dịu dàng ấy hẳn khiến bao chàng trai “lé mắt”. Dù là mỹ nhân nhưng thùy mị, đoan trang, sống giản dị, luôn khiêm nhường, đặc biệt là tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa. Nhờ lời “xin vâng” của Đức Mẹ, nhẹ nhàng mà quyết liệt, chúng ta mới có niềm hy vọng nhận lãnh Ơn Cứu Độ được Thiên Chúa trao ban. Đức Mẹ đã sử dụng miệng lưỡi thật khôn khéo. Xin cảm ơn Đức Mẹ!

Trong cuộc sống đời thường, chúng ta thấy có những người trở thành vĩ nhân nhờ khéo léo sử dụng miệng lưỡi, họ đã khôn ngoan dùng miệng lưỡi để nói vì nền hòa bình thế giới. Họ là ai? Đó là một Mohandas Gandhi (Ấn giáo), một Martin Luther King (Tin Lành), một Mẹ Têrêsa Calcutta (Công giáo) và một Đức Đạt Lai Lạt Ma (Karmapa Lama, Phật giáo).

Hôm nay, trong thời khắc cuối cùng của Mùa Vọng, xin mượn lời của Homer W. Grimes để tâm sự với Chúa: “Làm sao con có thể cho Ngài ít hơn những gì con có khi Ngài đã cho con tất cả? Con có thể dâng tặng cho Ngài những gì, thưa Thầy, Đấng đã ban tất cả cho con, Đấng đã từ bỏ ngai vàng trên trời để chịu chết trên đồi Can-vê? Con có thể dâng tặng cho Ngài những gì, thưa Thầy, Đấng đã ban tất cả cho con, không chỉ một phần hay một nửa trái tim con? Con sẽ dâng tặng Ngài tất cả!”.

Lời nói là tấm gương phản chiếu tâm hồn, bên trong thế nào thì bộc lộ ra ngoài như vậy. Một người cằn nhằn đủ thứ, chắc chắn người đó bất an. Tại sao? Bởi vì họ không bằng lòng người khác, luôn dò xét, thế nên tỏ ra khó chịu với những gì người khác thể hiện. Một người cứ mở miệng ra là chửi thề, và họ viện cớ là “quen miệng”, nhưng không phải vậy, chắc chắn lòng họ ẩn chứa nhiều rác rưởi của cuộc đời. Một người luôn nói lời an ủi, giải hòa, xin lỗi, cảm ơn,… chắc chắn tâm hồn họ có sự bình an của Thiên Chúa.

Người ta nói: “Cái miệng hại cái thân”. Đúng như thế thật! Miệng lưỡi cũng liên quan “cái tôi” – thói kiêu căng, tự phụ. Thánh Giacôbê nói: “Ai cho mình đạo đức mà không kiềm chế miệng lưỡi, là tự dối lòng mình, vì đó chỉ là thứ đạo đức hão” (Gc 1:26). Lưỡi là Lời, Lưỡi là Lửa. Ôi, lưỡi lạ lùng mà nguy hiểm quá!

Lạy Thiên Chúa quan phòng và tiền định, xin dạy con biết sử dụng miệng lưỡi theo Thánh Ý Ngài, xin dạy con cầu nguyện, biết cẩn thận từng lời ăn tiếng nói, khi nào nên nói và khi nào nên im lặng. Nhân loại luôn ngưỡng vọng Ngôi Hai giáng trần, khao khát Ơn Cứu Độ, xin tuôn tràn Mưa Giêsu gội mát mảnh đất tâm hồn khô cằn của nhân loại. Xin giúp mọi người can đảm bạt đồi, xẻ núi, lấp sông, để tạo nên con đường thẳng tắp và phẳng phiu cho Vương Nhi Giêsu ngự đến và ở với nhân loại. Xin ân thương tha thứ mọi tội lỗi, xin tha thứ cả những lúc con không tích cực làm điều tốt. Con cầu xin nhân danh Vương Nhi Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

Về mục lục

.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ MARIA

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD 

Khi viết bài suy niệm Tin Mừng tuần này tư nhiên tôi nghĩ  tới phim The Sound of Music. Câu chuyện nói về chị Maria là một dự tu vì ham chơi ca hát nên quên cả việc kinh kệ. Vì mồ côi, mẹ bề trên không muốn cho về đời nên đã gửi gia dình một đại úy góa vợ, có nhiều con để nhờ coi sóc. Vì có tài ca hát, đám trẻ rất yêu mến Maria nên công việc thành công… Chuyện xẩy ra ở Salzburg thuộc nước Áo.

Sau này người ta đã lấy câu chuyện có thực này để làm thành phim kịch. Sản phẩm xuất hiên đầu tiên ở Anh Quốc do Andrew Lloyd Weber đạo diễn đã được thế giới hưởng ứng nồng nhiệt.

Mấy năm trước đây đoàn Ca kịch Rodgers và Hammerstein đã diễn lại kịch bản này tại hí trường Jacksonville, Florida. Cả thành phố như sống lại với The Sound of Music xa xưa. Ban kich đã trình diễn tuyệt vời những ca khúc vang bóng huy hoàng một thời ấy. Quí độc giả đọc đến đây chắc sẽ nhớ lại cuốn phim vui nhộn này. Người viết muốn dùng cách giải quyết của nhà dòng cho Maria don Strapp để suy niệm vấn đề của Mẹ Maria khi Mẹ thưa “Xin Vâng” với sứ thần Gabriel, dù Maria von Strapp không thể nào so sánh được với Maria thành Nazareth.

VẤN ĐỀ CỦA MARIA VON STRAPP

Một trong những ca khúc đáng nhớ nhất trong phim The Soud of Music là bản MARIA, còn gọi là ”Làm sao để giải quyết vấn đề Maria?” Bản nhạc được trình diễn bởi các sơ Berthe, Sophia, Margaretta và Mẹ bề trên của dòng Biển Đức Nonnberg ở Salzburg bên Áo. Các sơ đã có dịp vui chơi ca hát cùng Maria một cách hồn nhiên khiến cuộc sống tu viện đang yên tĩnh, âm thầm trở thành sống động, vui tươi, tràn ngập tiếng hát tiếng đàn. Người ta nói Oscar Hammerstein II viết lời ca cho bải hát này là do cảm hứng khi nhìn những ống cuốn tóc vẫn còn dính trên đầu Maria với chiếc khăn che phủ ở ngoài!

Những người cao niên Áo đã gọi Maria là Gottesmutter, nghìa là Mẹ Thiên Chúa!  Dân Bắc Mỹ khi tới Salzburg thì lại nói Maria là Maria Augusta Kutschen , sau này đổi là Maria von Strapp, là một cô giáo trường dòng sau thế chiến I. Những dữ kiện có thực này đã được diễn lại  trong phim The Sound of Music.

Vì Maria mà nhà dòng nổi danh khắp thế giới các sơ cũng không ngờ. Được hỏi về kết quả của phim The Sound of Music, Mẹ bề trên trả lời: Cả nhà dòng lẫn Maria von Strap chuyên trèo tường trốn ra ngoài vui chơi ca hát chẳng ai nhận được bằng khen. Một sơ già thì mỉm cười hóm hỉnh nói: “Das ist nur Hollywood” Đó là chuyện Hollywood!.

VẤN ĐỀ MARIA THÀNH NAZARETH

Trong  bài phúc âm hôm nay Thiên Thần truyền tin cho Maria không phải là Maria von Strap mà là Maria thành Nazareth, sợi dây nối kết giữa nhân tính và Thiên Chúa, nhân vật chính trong câu chuyện Giáng Sinh. Maria là môn đệ tuyệt vời đã đưa chúng ta tới sự toàn thiện và nhân tính của Thiên Chúa. Maria đã chấp nhận và chào đón lời Chúa một cách trọn vẹn, đầy dủ ý nghĩa nhất, không cần biết kết quả câu chuyện sẽ thế nào. Maria đã chẳng hiểu gì về lời đáp “Xin Vâng” trong suốt cuộc đời của chúa Giesu, nhưng Maria tin tưởng, luôn luôn ghi nhớ câu trả lời của mình với sứ thần và “giữ chặt” từng chữ trong tâm khảm,“nghiền ngẫm”,“suy tư”trong lòng (Lc 2:19). Đến khi ở trên đồi Calvary, Maria mới cảm nghiệm được hoàn toàn trách nhiệm của mình về tiếng “Xin Vâng”. Qua kinh thánh, chúng ta biết mẹ là một người nữ có đức tin mạnh mẽ khủng khiếp lại đầy lòng trắc ẩn, luôn luôn để ý đến mọi nhu cầu của con người.

Maria von Trapp theo viên đại úy và gia đình nhỏ bé của ông vượt qua núi Alpes để thoát khỏi một chế độ ma quái ác độc đã chối bỏ Thiên Chúa và dân Chúa chọn. Họ đã đến được Hoa Kỳ bằng an và sống hạnh phúc ở Vermont. Tài âm nhạc của họ vẫn còn sống và đã từng làm hứng khởi dân Bắc Mỹ đặc biệt dân Jacksonvlle, Florida. Đường đi lên của họ vẫn còn sống động vì tài thiên phú ca hát và âm nhạc.

“Vấn đề” của Maria thành Nazareth đã khởi đầu khi Maria đón tiếp một người khách lạ từ trời đến tên là Gabriel. Người trinh nữ này đã bối rối khi nghe tin mình sẽ mang thai con trai là đáng Cứu Thế và là Con Đấng Tối Cao.

-“Việc ấy xẩy ra làm sao được –Maria hỏi thiên thần– vì tôi còn đồng trinh, không hề biết đến việc vợ chồng” (Lc 1:34).  

-Thiên thần trả lời: “Thánh Thần sẽ ngự trên bà, và quyền năng của Đấng Tối Cao sẽ tràn ngập bà, do đó con trẻ sinh ra sẽ là Thánh và gọi là Con Thiên Chúa.”(Lc 1:35).

– “Này tôi là tôi tớ Chúa -Maria trả lời Thiên Thần- tôi xin vâng lời thiên thần truyền.”

Thiên thần rời Maria và âm nhạc trổi lên; Magnificat anima mea Dominum. Bài hát lặp đi lặp lại nhiều lần tràn ngập không gian, vang vọng khắp thế giới qua mọi thời đại cho đến ngày nay.

Sứ điệp mà Maria nhận đã được loan đi vượt qua khỏi thị trấn Nazareth nhỏ bé âm thầm và giải đất chật hẹp Israel và Palestine ở Trung Đông. Tiếng “Xin Vâng” của Maria đã ảnh hưởng toàn thể thế giới và thay đổi cà lịch sử loài người.

VẤN ĐỀ ĐÃ ĐƯỢC GIẢI QUYẾT: XIN VÂNG

Maria thành Nazareth đã chấp nhận “vấn đề” của mình và giải quyết với sự vâng phục, trung thành, tin tưởng, hy vọng trong thầm lặng. Lúc đầu ở Nazareth, mẹ không thể tưởng tượng ra được cái thảm cảnh kinh hoàng của đứa con đang nằm trong bụng mình. Chỉ khi đi lên đồi cao Calvary những năm sau này, Maria mới cảm nghiệm thực sự và đầy đủ trách nhiệm của mình đối với hai tiếng “Xin Vâng” .

Maria von Trapp không có bảng vàng ghi tại nhà dòng định mệnh Nonnberg ở Salzburg, nhưng Maria có một bảng nhỏ ghi nhớ cuộc đời mẹ Maria thành Nazareth đã làm thay đổi các cuộc gặp gở ở tỉnh nhà của Maria. Tại trung tâm thị trấn Nazareth hiện nay ở Galilee có một vương cung thánh đường Truyền Tin, được xây trên nơi mà người ta tin là cái động là nơi mẹ Maria đã sống. Mấy hàng chữ nhỏ ghi trên bàn thờ ở trong động giống như một căn phòng ghi nhớ nơi mẹ Maria đã tiếp nhận sứ điệp do thiên thần Gabriel truyền “Mẹ sẽ sinh một con trai và đặt tên là Giesu” (Lc 1;3). Tiếng Latin ghi là Verbum caro hic factum est  có nghĩa Đây là Lời trở thành máu thịt.

Những chữ khắc trong động / phòng truyền tin thì rất xâu, không thể phai mờ được. Những lời Latin Verbum caro hic factum est nay không thấy trên bảng nằm trong động Nativity ở Bethlehem, cũng không thấy khắc trên tường bên ngoài đền thờ đã bị phá hủy hay nơi các văn phòng du lịch của nhà nước ở Jerusalem. Nhưng đã được gắn sâu vào bàn thờ bên trong thánh đường Truyền Tin rất đồ sộ. “Đây là lời đã trở nên máu thịt” Đây là nơi mà lịch sử đã thay đổi vì câu nói “Xin Vâng” của Mẹ Maria.

ĐÔI LỜI SUY NIỆM 

Những lời như vậy có thể áp dụng cho cuộc sống, gia đình, cộng đồng , giáo xứ, giáo hội của chúng ta không? Chúng ta có lắng nghe, suy ngẫm và sống Lời Chúa mỗi ngày không? Chúng ta có biến những Lời Chúa thành hành động không? Chúng ta có trung thành, hy vọng, thương yêu và sẵn sàng tha thứ không?

Câu nói: “Lời đã trở thành máu thịt” quả đã gây sức mạnh trên những người Kito hữu!

Giọng hát, lời ca của Maria thành Salzburg có tuyệt diệu đấy nhưng chóng qua, còn âm nhạc lời ca Mangificat của Maria thành Nazareth còn tuyệt vời hơn nhiều. Khác với ca hát của Maria von Strapp, bài ca MANGIFICAT/NGƠI KHEN CHÚA đã vượt quá tất cả mọi sự, vượt cả không gian lẫn thời gian, thay đổi cả lịch sử loài người, cuộc đời của mỗi người chúng ta, của cả nhân loại lúc đó, bây giờ và mãi mãi.  

Về mục lục

.
XIN VÂNG.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Cao siêu huyền nhiệm Nước Trời,
Ngàn năm dọn lối, Ngôi Lời hạ thân.
Ga-briel loan báo nhân trần,
Kính chào Trinh Nữ, tinh vân rạng ngời.
Thánh Thần Thiên Chúa cao vời,
Quyền năng phủ bóng, gọi mời hiến dâng.
Ma-ry phủ phục xin vâng,
Phận hèn tôi tớ, hồn nâng phụng thờ.
Khiêm nhu cung kính vô bờ,
Thành tâm dâng hiến, nương nhờ thánh ân.
Giê-su thánh tử chí nhân,
Thụ thai lòng mẹ, xác thân mọn hèn.
Cung lòng trinh khiết ngợi khen,
Con Vua Chí Ái, muối men giữa đời.
Dọn đường đón Chúa xuống đời,
Cải tâm tu thiện, nghe lời Phúc Âm.

Mầu Nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể là mầu nhiệm Tình Yêu. Tình yêu giao kết giữa Thiên Chúa và loài người. Khi thời gian đã mãn, Thiên thần của Chúa được sai đến báo tin mừng về Đấng Cứu Thế. Thiên thần thân hành đến nhà Maria và chào rằng: Kính chào trinh nữ đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng trinh nữ. Trinh nữ có phúc hơn mọi người nữ. Hạnh phúc và cao qúy thay người phụ nữ được Thiên Chúa ghé mắt đoái nhìn.

Thoạt đầu, Maria rất sửng sốt khi nghe lời thiên thần chào bái và truyền tin. Maria vừa ngỡ ngàng vừa bối rối nhưng rất mau mắn thưa lời xin vâng. Lời xin vâng của Maria là một ân huệ cho loài người. Lời xin vâng khởi đầu một khúc quanh lịch sử của ơn cứu độ. Những lời loan báo cả ngàn năm về trước nay đã thành hiện thực. Một dân tộc được tuyển chọn, nay đã mở lòng đón nhận Đấng Cứu Thế. Chương trình cứu độ đã thực sự khởi đầu nơi cung lòng Đức trinh nữ Maria.

Trinh Nữ Maria đã cưu mang Con Thiên Chúa, Đấng là trung gian cả vạn vật. Ơn nghĩa của Thiên Chúa ở cùng Maria. Maria thật diễm phúc đã thốt lên rằng: ‘Này tôi là tôi tớ Chúa’. Được chọn làm mẹ của Con Thiên Chúa nhưng mẹ luôn nhận thân phận là tôi tớ. Maria đã sống những ngày tràn đầy ơn sủng.

Maria không quản ngại đường xá xa xôi vất vả và không ngại sự nghi kỵ của người thân. Maria đã sớm mang Chúa đến cho moi người trên đường đi thăm viếng và phục vụ. Maria lên đường trong niềm vui hoan lạc. Vì Maria có Chúa ở cùng. Từ lời Xin Vâng cao cả ấy, niềm vui và thánh giá của ơn cứu độ đã từng bước đi vào cuộc đời của Maria.

Đức Maria đã khiêm nhường chấp nhận thánh ý của Chúa. Mẹ sống niềm vui ơn cứu độ trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời. Maria đã trở nên nguồn ủi an và cậy trông cho những ai cần niềm hy vọng. Trong khi mong chờ Chúa đến, mỗi người hãy phó thác cuộc đời trong sự quan phòng của Chúa. Có Chúa chúng ta sẽ tìm thấy nguồn an vui và sự bình an trong cuộc đời.

Lạy Chúa, ngày mừng lễ Chúa Giáng Sinh sắp tới, xin cho chúng con biết dọn tâm hồn thanh sạch và ấm êm để xứng đáng đón Chúa viếng thăm. Xin tình yêu của Chúa sưởi ấm tâm hồn chúng con.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 4 MÙA VỌNG NĂM B

Lm. Anthony Trung Thành

Thánh Augustinô đã khẳng định: Thiên Chúa dựng nên chúng ta, Ngài không cần hỏi ý kiến chúng ta, nhưng để cứu chuộc chúng ta, Ngài cần sự cộng tác của chúng ta”.

Thật vậy, để thực hiện chương trình cứu độ, suốt dọc theo chiều dài lịch sử cứu độ, Thiên Chúa luôn luôn mời gọi sự cộng tác của con người: Ngài mời gọi sự cộng tác của các tổ phụ; Ngài mời gọi sự cộng tác của các thủ lĩnh; Ngài mời gọi sự cộng tác của các ngôn sứ…Ngài mời gọi sự cộng tác chung của cả dân tộc Do Thái; Ngài mời gọi sự cộng tác riêng của từng người…Đặc biệt, để thực hiện lời hứa ban Đấng Cứu Thế cho nhân loại, Ngài đã sai sứ thần đến để mời gọi sự cộng tác của một Trinh nữ tại làng quê Nazarét. Trinh Nữ ấy tên là Maria. Cuộc đối thoại giữa Sứ thần và Trinh nữ được Thánh Luca tường thuật lại trong đoạn Tin mừng hôm nay (x. Lc 1, 26-38).

Cuộc đối thoại bắt đầu bằng lời chào của sứ thần Gabriel: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.”(Lc 1, 28). Đây là một lời chào đặc biệt, bởi vì sứ thần đã không chào bằng tên thật của Maria, nhưng bằng một tên mới đó là tên: “Đấng đầy ân sủng”. Sứ thần còn thêm rằng:“Đức Chúa ở cùng bà”. Chính vì lời chào đặc biệt nầy mà Trinh Nữ cảm thấy “bối rối”. Hiểu được sự bối rối của Trinh nữ, sứ thần giải thích rằng: “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.” (Lc 1,30-33). Trinh nữ hiểu rõ lời giải thích của sứ thần, nhưng vì Trinh nữ đã khấn giữ mình đồng trinh, Ngài quý trọng đức Đồng trinh hơn chức vụ làm Mẹ Thiên Chúa. Vì thế, Trinh nữ mới hỏi sứ thần rằng: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” (Lc 1,34). Thắc mắc của Trinh nữ cũng là thắc mắc của nhiều người qua mọi thời đại. Nhưng thắc mắc đó đã được Sứ thần giải thích một cách rõ ràng rằng: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” (Lc 1,35-37). Như vậy, việc Đức Mẹ thụ thai và sinh con là việc của Chúa Thánh Thần chứ không phải việc của con người. Đối với Thiên Chúa, không có gì là không làm được. Cho nên, Đức Mẹ sinh con mà vẫn đồng trinh. Khi hiểu được lời giải thích của sứ thần, Đức Maria đã sẵn sàng thưa xin vâng: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” (Lc 1,38).

Cuộc đối thoại giữa Sứ thần và Trinh nữ chấp dứt. Sứ thần đã làm tròn sứ mạng Truyền Tin của mình. Khi thưa “xin vâng”, Đức Maria đã chấp nhận cộng tác với Thiên Chúa trong chương trình cứu độ nhân loại. Biến cố này hết sức quan trọng vì làm thay đổi cuộc đời của Đức Maria và làm cho lịch sử cứu độ bước sang một trang sử mới. Đối với Đức Maria, từ một thiếu nữ bình thường đã trở thành Mẹ Đấng Cứu Thế. Đi liền với thiên chức làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Thiên Chúa còn ban cho Mẹ ơn Vô Nhiễm thai, ơn đồng trinh trọn đời và được đưa lên trời cả hồn lẫn xác. Đối với lịch sử cứu độ: tiếng thưa “Xin vâng” của Đức Maria làm cho lời hứa của Thiên Chúa ngày xưa được ứng nghiệm, Đấng Cứu Thế đã thực sự xuống thế làm người.

Nhưng tiếng “xin vâng” của Đức Maria không chỉ thể hiện qua lời nói trong chốc lát mà phải “trả giá” cả cuộc đời của Mẹ. Thật vậy, từ khi thưa tiếng “Xin vâng”, Đức Maria bắt đầu bước vào hành trình hy sinh đau khổ: mang thai, bị Giuse hiểu nhầm, sinh con trong hang đá nghèo hèn, đưa con trốn sang Aicập, lạc mất con trong đền thánh, thấy con vác thập giá, chứng kiến con bị đóng đinh, chết trên thập giá và bị người ta tháo đinh để táng trong hang đá…Những đau khổ đó là những lời thưa xin vâng của Mẹ trong cuộc sống. Những đau khổ đó cũng là sự cộng tác của Mẹ với Chúa Giêsu trong việc cứu độ nhân loại. Cho nên, Đức Maria còn được gọi là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc.

Để nuôi dưỡng Đức Giêsu và bảo vệ Đức Maria, Thiên Chúa còn mời gọi sự cộng tác của Thánh Giuse. Cho nên, Thánh Giuse trở thành bạn thanh sạch của Đức Maria và Cha nuôi của Đức Giêsu. Khi Đức Giêsu bắt đầu hoạt động công khai, Ngài mời gọi sự cộng tác với Ngài bằng việc tuyển chọn và huấn luyện một số người mà chúng ta gọi là Tông đồ. Ngoài các tông đồ còn có các môn đệ và một số phụ nữ khác…Trước khi về trời, Ngài đã thiết lập Giáo hội để Giáo hội tiếp tục thi hành sứ vụ Cứu thế của Ngài. Trong Giáo hội có đầy đủ mọi thành phần: Giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân. Tất cả được mời gọi cộng tác với nhau và cộng tác vơi Chúa để cứu độ thế giới mãi cho đến tận thế.

Với chúng ta ngày hôm nay thì sao? Tùy vào khả năng và địa vị, Thiên Chúa vẫn tiếp tục mời gọi chúng ta cộng tác với Ngài.

Thứ nhất, là người kitô hữu, mỗi người chúng ta hãy cộng tác với Thiên Chúa trong việc chu toàn bổn phận khi lãnh nhận bí tích Rửa tội là “từ bỏ ma quỷ và tuyên xưng đức tin”. Từ bỏ ma quỷ là từ bỏ cuộc sống trái với luật Chúa và luật Hội thánh. Tuyên xưng đức tin không chỉ trên môi miệng mà cần phải thể hiện bằng chính cuộc sống của mình. Thánh Giacôbê nói: “Đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gcb 2,17).

Thứ hai, là thành viên của gia đình, chúng ta cộng tác với Thiên Chúa bằng cách chu toàn bổn phận làm chồng làm vợ, làm cha làm mẹ và làm con cái. Tất cả các thành viên trong gia đình đều được mời gọi nên thánh. Người làm chồng, làm cha có thể noi gương Thánh Giuse. Người làm vợ, làm mẹ có thể noi gương Đức Maria. Người làm con có thể noi gương Đức Giêsu. Nhìn vào lịch sử Giáo hội còn biết bao gia đình đáng cho chúng ta noi gương và học tập. Chúng ta có thể noi gương đời sống thánh thiện của gia đình ông Louis Martin và bà Zélie Guérin, thân mẫu của Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Hai ông bà có chín người con. Bốn người chết trong thời thơ ấu, trong khi năm cô con gái còn lại lần lượt vào Dòng Kín và Dòng Thăm Viếng. Cả Louis và Zélie được Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI phong chân phước ngày 19 tháng 10 năm 2008, và được Đức Thánh Cha Phanxicô phong hiển thánh vào ngày 18 tháng 10 năm 2015.

Thứ ba, là người con của giáo xứ, mỗi người chúng ta được mời gọi dùng khả năng của mình để xây dựng, bảo vệ và phát triển giáo xứ: Có những người được mời gọi làm thành viên của Hội đồng Mục vụ Giáo xứ; có những người được mời gọi làm thành viên của các ban đoàn; có những người được mời gọi làm thành viên trong các Hội đoàn hay một tổ chức khác; cũng có những người chỉ làm một giáo dân bình thường nhưng luôn hoàn thành các nhiệm vụ được giao…Tùy khả năng và hoàn cảnh, tất cả được mời gọi để xây dựng, bảo vệ và phát triển giáo xứ.

Ngoài ra, nếu những ai giữ những chức vụ khác trong đạo ngoài đời đều được mời gọi cộng tác với nhau và cộng tác với ơn Chúa để chu toàn nhiệm vụ của mình để làm sáng danh Chúa. Khi chúng ta thực hiện tốt bổn phận người kitô hữu và bổn phận của đấng bậc mình là chúng ta đang cộng tác với Chúa để cứu độ chúng ta và cứu độ thế giới.

Lạy Chúa, nhờ tiếng xin vâng của Mẹ, nhân loại được đón nhận Đấng Cứu Thế. Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ, xin cho mọi người chúng con luôn biết thưa xin vâng trong cuộc sống đức tin để Chúa cũng đến với chúng con và qua chúng con Chúa đến với mọi người. Amen.

Về mục lục

.

NHẠC KHÚC YÊU THƯƠNG

Lm. Thiện Duy

Linh mục nhạc sĩ Thái Nguyên có một bài hát làm cho tôi cứ khắc khoải mỗi khi nghe ca sĩ Khắc Dũng hát hoặc chính bản thân tôi thầm thỉ những lúc hoang mang, đó là bài “nhạc khúc yêu thương”. Bài hát này có đoạn: “Trong yêu thương Ngài dìu dắt con đi, cánh tay Ngài che chở nâng đỡ. Tình yêu Chúa đã có từ thuở nào, trong trời rộng và trong mỗi ước vọng. Con say sưa đi tìm Ngài trong ánh sáng niềm tin, và hôm nay trong cuộc trần này như mọi ngày say tình yêu Ngài”.

Khi đọc các bài đọc lời Chúa của Chúa Nhật 4 Mùa Vọng hôm nay, tâm hồn tôi lại dâng trào một cảm xúc khi thấy được tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người. Còn tình yêu của con người lắm lúc cũng rất hăng say để đáp trả, cũng có khi nặng nề lê bước vì chán chường, vì tội lỗi của chính bản thân hoặc sự cản trở của người khác… Nhưng tất cả đều dệt kết thành nhạc khúc yêu thương cho mỗicuộc đời chúng ta. 

  1. Bài Đọc I: 2 Sm7,1-5.8b-12.14a.16

Nhạc khúc yêu thương đó được chính được Thiên Chúa viết lên trong cuộc đời vua Đavit khi ông đã dẹp tan mọi quân thù, vương quyền của ông đã vững vàng, và có thể gọi đạt đến thời hoàng kim của triều đại ông. Ông nghĩ đến việc xây cho Thiên Chúa một ngôi đền lộng lẫy, để một phần nào đó gọi là “trả ơn” Ngài. Ông đem ý định này trình bày với tiên tri Nathan. Sau khi thỉnh ý Thiên Chúa, Nathan nói cho ông biết ý định của ông là tốt đẹp. Nhưng Thiên Chúa cũng cảnh báo cho ông biết rằng coi chừng ông bị lầm tưởng là ông đang làm cho Thiên Chúa điều này điều nọ, trong khi chính Thiên Chúa mới là người làm cho ông những việc trọng đại. Ngài nhắc lại thân phận của ông chỉ là một đứa bé chăn chiên ngoài đồng, hiền lành, nhút nhát, dưới con mắt người đời chỉ để làm lính kiểng… Nhưng Thiên Chúa lại muốn chọn ông để đánh tan mọi suy nghĩ của con người. Bởi vì ý hướng tốt lành của ông là muốn xây nhà vật chất cho Thiên Chúa, nên Thiên Chúa hứa sẽ xây cho ông một ngôi “nhà” vững bền muôn đời, chính là vương triều Đavit, mà Đấng Cứu Thế sẽ xuất thân từ dòng dõi đó.

  1. Tin Mừng: Lc 1, 26-38

Nhạc khúc yêu thương đó được Thiên Chúa dệt kết với cô thiếu nữ ở làng quê Nazaret tên là Maria. Khác với vua Đavit, cô gái này không hề có một chương trình nào cho Thiên Chúa, không muốn làm cho Ngài bất cứ điều gì, vì cô ý thức mình chỉ là một thôn nữ quê mùa và không có điều kiện để mở rộng tầm hiểu biết của mình, chỉ âm thầm sống theo phong tục tập quán của xã hội và luật lệ của tôn giáo thời bấy giờ. Tuy nhiên cô lại trở thành đối tượng được Thiên Chúa yêu thương chọn gọi cách đặc biệt và trao cho sứ mạng càng đặc biệt hơn: “Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai”. Điều đặc biệt không phải vì cô thụ thai một cách lạ lùng, mà vì người con mà cô cưu mang: “sẽ nên cao cả và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao”. Vì vậy nhạc khúc yêu thương nơi cuộc đời Đức Maria là một tác phẩm nghệ thuật bởi ý tưởng của Thiên Chúa và tiếng Xin Vâng của Mẹ chính là những nốt nhạc để Thiên Chúa hoàn thành bài hát.

II.  NHẠC KHÚC YÊU THƯƠNG CỦA THIÊN CHÚA

  1. Ý định sáng tác của Thiên Chúa

Thiên Chúa luôn luôn có những ý định và chương trình tốt lành dành cho nhân loại và cách riêng là mỗi người chúng ta. Điều này giống như một nhạc sĩ luôn ôm ấp ý tưởng cho đứa con tinh thần của mình. Ý định này đã có từ thuở tạo thiên lập địa khi Ba Ngôi Thiên Chúa như bàn tính với nhau: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất”. Nghĩa là ngay từ đầu ý định của Thiên Chúa là muốn con người được hạnh phúc trọn vẹn.

Tuy nhiên ý tưởng tốt lành của Thiên Chúa vẫn bị những thế lực thù địch quấy phá, mà cụ thể là ma quỷ. Mục đích của nó là để Thiên Chúa không thể hoàn thành được chương trình của Ngài. Một lần nữa chúng ta lại thấy quyền năng và sự trung thành của Thiên Chúa. Khi kế hoạch này thất bại, Ngài lại bày ra kế hoạch khác, nhưng luôn luôn trung thành với ý tưởng là để con người được hạnh phúc trọn vẹn.

  1. Những nốt nhạc của con người.

Như vậy để cho tác phẩm của Thiên Chúa được hoàn thành, mỗi người cần phải trở thành những nốt nhạc được gắn theo những cung bậc trầm bổng hoàn toàn theo ý của tác giả. Nghĩa là chúng ta phải để Thiên Chúa hành động bằng tự do tự nguyện của mình giống như Đức Maria.

Tuy nhiên trong quá trình sáng tác, nốt nhạc là chính con người bị trục trặc, giống như Đavit cũng có lúc lầm lỗi, hay biết bao những ngôn sứ, thậm chí là những vị thánh. Thiên Chúa không bao giờ chịu thua. Những lúc đó Ngài lại tiếp tục thay đổi để hoàn thành tác phẩm của Ngài, nhưng trong bài hát có thêm những dấu hóa. Đến lúc hoàn thành, có khi những dấu hóa đó lại làm cho bài hát thêm hay, thêm hấp dẫn.

III. NHẠC KHÚC YÊU THƯƠNG CỦA CON NGƯỜI.

Thiên Chúa đang sáng tác trên cuộc đời của mỗi chúng ta một nhạc khúc yêu thương. Nếu giống như Đức Maria nói tiếng xin vâng dứt khoát, trọn vẹn thì bài hát cuộc đời chúng ta quá tuyệt vời, nó là một tác phẩm kinh điển, làm mẫu mực cho mọi tác phẩm. Tuy nhiên Thiên Chúa lại rất tốn công để chỉnh sửa vì cuộc đời chúng ta có quá nhiều dấu hóa, thăng trầm lộn xộn, đảo nghịch lung tung… Nhưng Ngài không bao giờ bỏ cuộc, Ngài vẫn luôn trung thành với ý tưởng là một nhạc khúc yêu thương dành cho con người.

  1. Với Thiên Chúa

Để có thể dệt nên nhạc khúc yêu thương với Thiên Chúa, con người phải có sự gắn kết với Ngài mới có thể đồng cảm với Ngài.

Không phải một sớm một chiều mà Thiên Chúa có thể dệt nên nhạc khúc yêu thương nơi cuộc đời của vua Đavit và Mẹ Maria đâu, mà đó là cả một cả một quá trình các ngài sống gắn bó với Chúa, ý thức sự hiện diện của Chúa trong mọi cảnh huống của cuộc đời. Vua Đavit từ khi còn là một đứa bé chăn chiên ngoài đồng, đến khi được Chúa chọn, rồi được đưa vào cung trở thành chiến binh của vua Saul, bạn thân của Gionathan, con trai nhà vua, rồi lên làm vua, lập được những chiến công hiển hách, kể cả những lúc tội lỗi vì đam mê dục vọng nổi lên… Càng ngày, càng ngày ông càng tiến sâu vào tình yêu của Thiên Chúa vì ông tha thiết sống gắn bó với Chúa.

Mẹ Maria thì ngay từ nhỏ đã được dâng mình trong đền thờ để phục vụ Chúa. Rồi biến cố truyền tin xảy ra, Thiên Chúa muốn chọn Mẹ làm Mẹ Thiên Chúa. Chắc chắn Mẹ phải rất nhạy cảm với Thiên Chúa thì Mẹ mới có thể nhận ra tiếng Chúa trong biến cố này. Tất cả những cách sống đó, nói một cách ngắn gọn chính làđời sống cầu nguyện. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta đã biết sống đời cầu nguyện với Chúa trong mọi biến cố chưa? Đã sống gắn bó, thân tình với Ngài để Ngài có thể tự do bước vào cuộc đời chúng ta chưa?

  1. Với những người xung quanh

Ngoài việc Thiên Chúa tạo nên tác phẩm là chính cuộc đời chúng ta, Ngài còn trao cho chúng ta bản quyền để tự do sáng tác, miễn sao đúng với ý Tác Giả là nhạc khúc yêu thương.

Để có thể dệt nên nhạc khúc yêu thương với những người xung quanh chúng ta cần có sự tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau. Sự tôn trọng để chấp nhận những khác biệt nơi người khác; sự khác biệt nhiều khi khiến chúng ta không thể chấp nhận được. Sự tin tưởng để tạo điều kiện cho người khác cùng sống, cùng làm việc; sự tin tưởng này nhiều khi chấp nhận cả những điều sai trái nơi họ.

Thiên Chúa tôn trọng chúng ta qua việc dựng nên mỗi người khác nhau từ vóc dáng cho đến tính tình và tính cách. Ngài không dựng nên con người theo kiểu nhân bản ra để ai cũng giống nhau hoàn toàn nhằm tiện thể cho Ngài giáo dục, hướng dẫn… Thiên Chúa tin tưởng con người qua việc trao cho mỗi người sứ mạng, trong sứ mạng của mình, nhiều khi con người rất sai lầm, nhưng Ngài chấp nhận để sửa lại từ từ.

Những xung đột trong gia đình, trong tập thể là do người ta sống theo lối gia trưởng, theo lối quyền hành để bắt người khác theo khuôn mẫu của mình và không chấp nhận giới hạn của người khác; nghĩa là không tôn trọng và tin tưởng nhau.

Trong ngày cuối cùng của Mùa Vọng này, xin cho mỗi người chúng ta sống thân tình với Chúa qua việc cầu nguyện để Ngài có thể dệt nên nhạc khúc yêu thương với mỗi chúng ta. Xin cho chúng ta sống thân tình với anh chị em qua việc tôn trọng, tin tưởng nhau để có thể dệt nên nhạc khúc yêu thương dành cho nhau và cho cuộc đời.

Lạy Chúa xin cho mỗi người chúng con biết chiêm ngắm thánh vương Đavit để biết rằng con dù mình có tài giỏi đến mức nào thì vẫn có giới hạn để con có thể thông cảm cho anh chị em con. Xin cho chúng con biết chiêm ngắm Mẹ Maria để biết rằng Thiên Chúa luôn mời gọi con người cộng tác với Ngài, từ đó con biết tạo điều kiện cho người khác được cộng tác với chúng con. Nhưng trong tất cả, xin cho chúng con nhận ra nhạc khúc yêu thương mà Chúa đang dệt kết với chúng con, để xin thắp sáng lên trong con  ngọn lửa yêu.

Về mục lục

.

NGƯỜI PHỤ NỮ VÀ CON RẮN

Lm. Trịnh Ngọc Danh

Đọc lại sách Sáng Thế, sau khi tổ tiên loài người nghe lời dụ ngọt của con rắn, đã ăn trái cấm, đã mất nghĩa với Thiên Chúa. bị đuổi ra khỏi vườn đia đàng, Thiên Chúa đã lên án con rắn: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống nó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn gót nó.” ( St 3: 15) Tổng cọng từ tổ phụ Ápraham đến Đức Kitô là là bốn mươi hai đời.Người nữ nào sẽ đạp đầu con rắn đây? 

Trong gia phả Đức Giêsu Kitô, thánh Matthêu có kể tên năm người phụ nữ: Bà Tama giả làm gái điếm, đã ăn ở với Giuđa và sinh được 2 người con; bà Rakháp, vợ ông Xanmon, từng là gái điếm ở Giêricô; bà Rút lấy ông Bôát, cuộc hôn nhân  lúc đầu là một quan hệ bất hợp pháp; bà Bát Seva, vợ ông Urigia, ngoại tình với vua Đavít. Sau cùng là bà Maria, vợ ông Giuse là Mẹ Đức Giêsu cũng gọi là Đấng Ki tô.Phải chăng thánh Matthêu liệt kê 4 phụ nữ kia để làm nổi bật hình ảnh bà Maria mẹ Đức Giêsu! ! Bà Maria đã trở nên Mẹ Đức Giêsu như thế nào?

Không ai trong chúng ta có quyền hay có thể chọn cho mình một người mẹ.  Nhưng đối với Thiên Chúa là Đấng quyền năng thì việc lại khác. Con Thiên Chúa được sinh ra bởi một người nữ được tuyển chọn.  Thiên Chúa không chọn một người mẹ nào đó một cách độc đoán tùy ý Ngài, nhưng sự lựa còn ấy còn phụ thuộc vào phẩm chất đạo đức và tùy thuộc vào sự tự do ưng thuận hay không. Người phụ nữ được tuyển chọn ấy là Trinh Nữ Maria, một thiếu nữ vô danh tiểu tốt ở miền Galilê, gọi là Nadarét.

Thiên Chúa đã sai sứ thần Gáprien đến báo tin Trinh Nữ Maria. Vừa vào nhà, lời đầu tiên thiên sứ nói là lời chúc mừng và ngợi khen Trinh Nữ là Đấng đầy ơn sủng, được Đức Chúa ở cùng, đẹp lòng Thiên Chúa. Tin quan trọng mà thiên sứ báo tin cho Trinh Nữ là nàng sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu.Người sẽ nên cao cả , và sẽ được gọi là con Đấng Tối Cao…”

Nghe thế, Trinh Nữ đã thưa lại với thiên sứ: “ Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?” Khác với thái độ của Giacaria là bán tín bán nghi vào quyền năng của Thiên Chúa, Trinh Nữ Maria đã tin lời thiên sứ, nhưng nàng chỉ muốn biết việc thụ thai và sinh con bằng cách nào.Sau khi nghe thiên sứ giải thích, Trinh Nữ đã mau mắn đáp lời : “ Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”

Trinh Nữ Maria đã đi từ ngỡ ngàng , thắc mắc đến ưng thuận xin vâng theo thánh ý Thiên Chúa. Nàng đã tự nhận mình là nữ tỳ của Chúa. Điều đó chứng minh Trinh nữ là một người khiêm tốn, tuân phục thánh ý của Chúa, dấn thân vì ý muốn của Ngài. Tin chị họ, tuy già, nhưng đã có thai được sáu tháng, đã làm cho lòng tin của Trinh Nữ mạnh mẽ hơn.Bài ca Magnificat đã nói lên lòng tin tưởng và phó thác trong tay Thiên Chúa, chúc tụng ngợi khen, khiêm tốn tuân phục thánh ý của Ngài.

Khiêm nhường trong cuộc sống, vâng phục thánh ý Chúa, phó thác trong tay Chúa, dấn thân chấp nhận tất cả vì tin yêu Thiên Chúa. Đó là những phẩm chất đạo đức cần có;và như thế, Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế đã ra đời từ cung lòng Mẹ Maria hơn hai ngàn năm trước. Nếu không có sự ưng thuận vâng phục của Mẹ Maria, chúng ta sẽ không có Đấng Cứu Độ.

Hai nhân vật nổi bật trong Mùa Vọng, đó là thánh Gioan Tẩy giả và Trinh Nữ Maria. Thánh Gioan dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến. Trinh nữ Maria là người đón nhận Con Thiên Chúa trong cung lòng mình.Và còn một nhân vật nữa sống trong âm thầm, kín đáo, nhưng cũng không kém phần quan trọng để xác định Đấng Tối Cao thuộc dòng dõi vua Đavít trong gia đình Nadarét, đó là thánh Giuse.

Noi gương Mẹ Maria, chúng ta cũng phải biết sống khiêm nhưòng nhận mình là người yếu hèn tội lỗi trong tinh thần tin yêu phó thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa, gạt bỏ ý riêng để tuân theo thánh ý của Ngài.

Về mục lục

.

NỖI LÒNG KHÔNG CỦA RIÊNG AI

JM. Lam Thy

Mầu nhiệm Giáng Sinh chính là mầu nhiệm Con-Thiên-Chúa-làm-người. Vì Ðức Giê-su là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, nên việc thụ thai phải do quyền năng của Chúa Thánh Thần, nhưng Ðức Giê-su cũng là người nên cần phải được sinh ra bởi một con người bằng xương bằng thịt. Điều đó nói lên chân lý: “Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần đến ta, nhưng để cứu rỗi ta, Thiên Chúa không thể làm được nếu ta không cộng tác với Ngài.” (Thánh Au-gus-ti-nô). Ðức Maria đã đại diện loài người lãnh nhận vai trò cộng tác ấy. Tuy nhiên, quyền năng Chúa Thánh Thần tác động trên Ðức Maria chỉ diễn ra trong riêng tư, âm thầm. Mãi đến khi được báo mộng về mầu nhiệm Nhập Thể, thánh Giu-se mới chính thức đưa Ðức Giê-su ra công khai khi nhận Ngườii vào dòng tộc Ða-vít. Qua trung gian của Thánh Giu-se, Ðức Giê-su đã chính thức gia nhập gia đình nhân loại, trong một đất nước, trong một dân tộc, trong một dòng họ cụ thể. Tên tuổi của Ðức Giê-su được ghi trong lịch sử của dân tộc, của dòng họ, của gia đình ấy.

Nhờ đâu mà Thánh Giu-se và Ðức Maria được diễm phúc là những người đầu tiên, đại diện nhân loại tiếp đón Ðấng Cứu Thế? Về Đức Maria thì khỏi cần bàn cãi, vì Mẹ đã được Thiên Chúa tiền định từ trước vô cùng. Tuy nhiên, khi sứ thần truyền tin cho Đức Maria thì: “Nghe lời ấy, bà rất bối rối… Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.” Cuối cùng, vì lòng tín phục Thiên Chúa cách tuyệt đối, “bà Ma-ri-a nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” (Lc 1, 29-38). Và với hai tiếng “xin vâng”, Mẹ đã hoàn thành xuất sắc sứ vụ cao trọng vô song đó.

 Riêng Thánh Giu-se, theo như bài Tin Mừng hôm nay (CN IV/MV-A – Mt 1, 18-24), thì: “Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo.” (Mt 1, 19). Tại sao vậy? Cũng đã có nhiều bài chia sẻ phân tích tâm trạng của Thánh Giu-se. Sở dĩ thánh nhân – nói theo kiểu ngôn ngữ thời đại – đành ôm hận âm thầm bỏ đi, một phần lỗi là tại Đức Maria. Đúng ra, Đức Mẹ khi được Thiên sứ báo tin thụ thai Con Đức Chúa Trời qua phép Thánh Linh, thì Mẹ phải tìm cách báo tin cho người bạn đời của mình mới phải lẽ. Cũng chỉ vì giữ kín như một sự lừa dối, nên mới khiến Giu-se ôm hận, và nếu như thói thường người đời, thì chắc chắn sẽ có phản ứng mạnh, ít ra là tố giác trước công luận. Còn phần Đức Mẹ, đặt giả thử bị Thánh Giu-se tố giác, thì – theo luật Do Thái thời đó – chắc chắn sẽ bị ném đá cho tới chết.

Phiền trách Đức Mẹ theo kiểu suy nghĩ của thời đại hiện nay như vậy thì kể ra cũng quá lạm, nếu không muốn nói là kiến thức hạn chế, là đem “tư tưởng của loài người” bất toàn ra suy luận việc làm của Thiên Chúa. Thánh Giu-se và Đức Mẹ mới chỉ đính hôn, là vợ chồng trên danh nghĩa nhưng chưa sống chung, như vậy thì việc gặp gỡ riêng khó thực hiện được, ngoại trừ những cuộc hội ngộ công cộng trong gia đình hay trong cộng đoàn. Không gặp riêng nhau thì làm sao báo tin? Vả lại, việc Đức Mẹ thụ thai hoàn toàn do thánh ý Thiên Chúa, Đức Mẹ chỉ vâng phục, như vậy thì Mẹ tin rằng Thiên Chúa cũng sẽ báo tin cho Thánh Giu-se biết như Người đã sai Thiên sứ báo tin cho Mẹ. Chắc chắn Đức Mẹ đã tin tưởng như vậy, bởi cũng nhờ niềm tin vững mạnh ấy nên Mẹ mới “xin vâng như lời sứ thần truyền”.

Còn Thánh Giu-se – vì là người công chính – nên chỉ chọn giải pháp âm thầm bỏ đi là thượng sách. Tuy nhiên, cuối cùng thì con người công chính ấy cũng không âm thầm bỏ đi, nhờ nỗi lòng thắp sáng một niềm tin và niềm tin ấy đã giải toả mọi thắc mắc, âu lo giày vò tâm trí thánh nhân. Đúng như suy nghĩ của Đức Mẹ, Thánh Giu-se đã được Thiên sứ báo mộng: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” (Mt 1, 20-21). Không những sứ thần chỉ báo cho Thánh Giu-se biết Đức Mẹ thụ thai bởi phép Thánh Linh, mà còn cho biết tường tận bào thai Đức Mẹ cưu mang là một “Em-ma-nu-en”, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”; Người Con mà Đức Mẹ cưu mang chính là Đức Giê-su Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế, “vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1, 21).

Rõ ràng nỗi lòng của Thánh Giu-se cũng chẳng khác nỗi lòng của Đức Mẹ. Bối rối và lo âu cũng là lẽ thường tình, nhưng cuối cùng thì niềm tin vào Thiên Chúa đã trấn an tất cả, “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” (Lc 1, 37). Nỗi lòng của Đức Mẹ và Thánh Giu-se chính là “nỗi lòng không của riêng ai”. Đứng trước những hiện tượng siêu phàm thì tâm trạng chung của phàm nhân đương nhiên là hoài nghi, lo âu, sợ hãi. Duy chỉ có điều, anh có tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa hay không? Anh có tin Thiên Chúa là Đấng toàn năng hằng hữu hay không? Nếu anh tin, anh cứ việc hoài nghi, lo âu, sợ hãi, nhưng đừng quên cầu ngujyện, và Thiên Chúa sẽ cứu rỗi anh, sẽ giải thoát anh. Cũng bởi vì một “Em-ma-nu-en” tên là Giê-su đã đến, đang đến và sẽ đến cùng chúng ta. Vâng, “Trong đức tin, món quà của Thiên Chúa, một nhân đức siêu nhiên được Ngài truyền cho chúng ta, chúng ta nhận ra rằng một Tình Yêu cả thể đã được ban cho chúng ta, một Lời nhân lành đã được nói với chúng ta, và khi chúng ta chào đón Lời này, là Chúa Giê-su Ki-tô, Ngôi Lời nhập thể, Chúa Thánh Thần biến đổi chúng ta, soi sáng con đường đi đến tương lai và làm lớn lên trong chúng ta đôi cánh hy vọng để nó đồng hành với chúng ta.” (Thông điệp “Ánh Sáng Đức Tin – Lumen Fidei”, số 7).

Giáo hội luôn mời gọi chúng ta tỉnh thức, dọn đường đón mừng mầu nhiệm Giáng Sinh. Đức Mẹ và Thánh Cả Giu-se đã làm như vậy bằng hai tiếng “xin vâng”. Còn chúng ta thì sao? Xin hãy khắc ghi lời dạy của Thánh Au-gus-ti-nô: “Thiên Chúa có thể dựng nên chúng ta mà không cần hỏi ý kiến chúng ta, nhưng Người không thể cứu rỗi chúng ta nếu chúng ta không ưng thuận”. Hãy mở tâm hồn ra và giãi bày hết mọi nỗi lòng với Chúa bằng một đức tin vững mạnh, và dù cho có băn khoăn bối rối, lo lắng sợ hãi tới đâu chăng nữa, cũng xin hãy nhìn lên mẫu gương tuyệt hảo của Đức Mẹ và Thánh cả Giu-se, mà thưa với Chúa bằng hai tiếng “xin vâng”, cũng bởi vì “Nước Chúa đã đến gần” (Mt 3, 2).

Ôi! “Lạy Chúa, Chúa đã dùng lời thiên sứ truyền tin mà cho chúng con biết thật Ðức Ki-tô, Con Chúa, đã xuống thế làm người. Xin đổ ơn thánh đầy lòng chúng con, để nhờ công ơn Con Chúa chịu khổ hình thập giá, Chúa cũng cho chúng con được sống lại hiển vinh. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ Chúa nhật IV Mùa Vọng).

Về mục lục

.

MỪNG VUI LÊN HỠI ĐẤNG ĐẦY ÂN SỦNG

 Fx Đỗ Công Minh

Lạy Chúa,         

Chúng con đang bước vào những ngày cuối của mùa Vọng, chỉ còn không đầy một tuần nữa thôi cả thế giới này hân hoan mừng ngày Chúa Giáng trần. Mùa Vọng không chỉ là thời gian chờ đợi mừng ngày Sinh nhật Chúa mà chính là cơ hội cho con sống trong sự chờ đợi ngày Chúa lại đến. 

Có nhiều cách mong đợi, như mong người thân từ phương xa lâu ngày không gặp, nay sắp trở về. Mong một món quà được thông báo đang được gửi tới.Mong như thế là mong cho thời gian qua mau, mong trong trạng thái vui mừng, bồn chồn, nôn nao. Nhưng cũng có mong đợi trong tâm trạng không hề muốn sự việc xảy ra như mong cho kết quả của một cuộc xét nghiệm đừng xảy ra như lo lắng trước đó. Mong cho thần chết đừng vội đến với người thân đang lâm bệnh . . .       

Với mỗi người chúng con, sống trong mùa Vọng, cũng đang mong đợi, thái độ của con đang trong tình trạng nào. Vui mừng chờ đón hay lo lắng băn khoăn ? Chúa sẽ đến với nhân loại lần thứ hai để hoàn tất chương trình cứu độ, con tin như vậy. Còn lúc nào, giờ nào thì ngoài Thiên Chúa Cha, con người không ai biết. Cách riêng với từng người, Chúa sẽ đến. Không ai có thể phủ nhận điều ấy. Chính vì thế con cần phải có một cách sống thể hiện sự chờ đợi ngày Chúa sẽ đến với con.

Bài Tin mừng Chúa nhật thứ IV mùa vọng cho con thấy đức MARIA, một con người trần gian, khi được loan báo ý định Chúa sẽ đến trong cuộc đời. Mẹ Maria, một con người như mọi người chúng con, một mẫu gương sống mùa Vọng.Khi Thiên sứ truyền tin vui :”Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên con trẻ là Giêsu. Người sẽ nên cao cả và được gọi là con Đấng tối cao “. Mẹ đã thưa : “Xin Thiên Chúa thực hiện nơi tôi điều Ngài muốn”, cho thấy sự đáp trả lời mời gọi. Không những thế, sau khi được tràn đầy ân sủng, Mẹ đã lên đường đến miền núi viếng thăm, giúp đỡ người chị họ là Isave, có thai được 6 tháng, để loan báo Tin mừng mình vừa nhận được và thể hiện niềm vui “Có Chúa ở cùng “bằng hànhđộng cụ thể. Mẹ đã sống suốt thời gian chờ đợi “Việc đó xảy ra “ trong niềm vui và lòng mến. Mẹ đã chuẩn bị dọn lòng để cưu mang Đấng cứu thế và đem Chúa đến với người khác. Xin Mẹ cũng giúp con biết dọn lòng đón Chúa Giêsu đến trong cuộc sống mỗi ngày, biết sẵn sàng giới thiệu Chúa với đồng bào  con, nhữngngười đang cùng sống với con trên đất nước này, bằng đời sống chứng tá của mình.

Lạy Chúa,       

Rồi đến lúc nào đó Chúa sẽ đến gọi con, xin cho con luôn biết thưa lên: “Xin vâng, Lạy Chúa, này con đây “. Với hành trang là tấm lòng trung tín theo Chúa, bác ái với anh em, là những hy sinh bé nhỏ từng ngày gom lại như những lễvật dâng Chúa như: Vàng, nhũ hương và mộc dược. Sống cuộc sống trong tin yêu và hy vọng. Sống phó thác và xin vâng, đó chính là đích thực sống Mùa Vọng hôm nay. AMEN

Về mục lục

.

SỐNG LỜI THƯA VÂNG

Lm. DĐH

Nói lời phải giữ lấy lời, đừng như ong bướm đậu rồi lại bay, câu ca dao quen thuộc người đời thường dùng để nhắc nhau về chữ tín, nhắc nhau về một cam kết hết sức thiêng liêng. Trong tương quan xã hội, người xưa rất nhạy cảm khi nói: ở chọn nơi, chơi chọn bạn, kinh nghiệm cuộc sống có thật giả, có tốt xấu, nên cần phải cân nhắc, chọn lựa, dù khát vọng thành người, thành danh, ai cũng có. Xét về mặt tự nhiên, cha mẹ cho con cháu tài sản vật chất, cho tình thương, là điều bình thường, nhưng con cháu có biết sử dụng số vốn quý ấy để có kiến thức, để nên người hữu ích, tuỳ thuộc trái tim và khối óc có hiểu, có sống ân tình đó không ?

Thiên Chúa yêu thương, ban điều kiện cho tiền nhân, Ngài còn ban ơn riêng cho từng cá nhân, hầu ai cũng thấy ơn gọi làm công dân nước trời là vô cùng cao quý, khi mỗi người sống thuận, sống hoà, sống ân phúc được trao ban. Trình thuật truyền tin hôm nay cho thấy Thiên Chúa thấu biết tâm hồn Trinh nữ Maria, vì tôn trọng sự tự do, Ngài sai Sứ thần tới ngỏ lời xem Trinh nữ có đồng ý làm Mẹ Đấng cứu thế không ? Đức Maria không gật đầu bừa bãi, không trả lời lấp lửng vô tội vạ. Trinh nữ hoảng hốt về lời chào “đầy ơn phúc”, từ thắc mắc không biết đến chuyện vợ chồng, rồi sau khi được soi sáng, được giải thích về kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, Đức Maria đã mạnh dạn nói lời thưa vâng.

Người đời cho rằng: nửa sự thật vẫn chỉ là nửa sự thật, nói lời yêu thương, ai cũng nói được, nói lời thưa vâng, sống lời thưa vâng, sẽ là một bước dài trên hành trình tin yêu, và thực hành yêu thương. Lý lẽ mà con người rất thường hay đề cập đến khi thực thi “cái duyên phận” của mình là có thực mới vực được đạo, cân nhắc và chọn lựa phương thế hữu hiệu, người ta lại nghĩ rằng, chắc ăn không bằng ăn chắc. Sống đạo làm người, hay sống đức ái, không thể dừng lại trên phạm vi lý thuyết, sống lời thưa vâng, hay sống thánh ý Chúa, không thể lý sự bằng sức mạnh của vật chất, nhưng còn hệ tại bởi sức mạnh của tình yêu, của hy sinh tín thác. Vòng nguyệt quế không thể đến được với cuộc chinh phục đỉnh Olimpia, nếu như thí sinh chỉ đơn độc một mình, thiếu sự trợ giúp của các thầy cô. Hào quang không thể toả sáng dù người theo Chúa có tài giỏi đức độ, nếu đằng sau chưa thấm nhuần đau khổ thập giá của Đức Kitô.

Bài hát “Duyên phận” của nhạc sĩ Thái Thịnh rất được ưa thích trong mấy năm gần đây, dù tác phẩm được viết từ năm 2007. Duyên là do người định, phân là do trời tạo, người ta cho rằng có duyên với nhau, nhưng có sống bên nhau cả đời được hay không là do họ quyết định, chứ không hề do trời phật bắt phải như thế. Trinh nữ Maria được Sứ thần mang tin vui tới, đó mới là khởi đầu của cơ duyên của ơn gọi làm Mẹ Đấng cứu thế. Lời ngỏ của Sứ thần có được Đức Maria đón nhận, có được Đức Maria biến duyên thành phận hay biến phận thành duyên, theo thánh ý Chúa là tuỳ vào sự chọn lựa Đức Maria đã sống lời thưa vâng như thế nào. Vẫn biết rằng duyên phận hiểu theo nghĩa tự nhiên hay siêu nhiên, đều phải có “sắc mầu tình yêu” chất chứa trong đó.

Được sinh ra và lớn lên trong tiện nghi vật chất đầy đủ, được sống trong hoàn cảnh thuận lợi: tài sắc vẹn toàn, hẳn thời nào cũng có những người may mắn như vậy. Tuy nhiên những cá nhân xinh đẹp, tài đức, có mang lại hạnh phúc cho gia đình, xã hội hay không, đó là điều đáng nói hơn cả. Thiếu nữ hay trinh nữ xinh đẹp thời nào cũng tìm được, thiếu nữ vừa đẹp người vừa đẹp nết có thể ít hơn một chút, Trinh nữ mà Sứ thần hôm nay ngỏ lời “kính chào Maria đầy ơn phúc”, quả là quý hiếm. Nhưng trên hết, Thiên Chúa cần một Trinh nữ biết mạnh dạn nói lời thưa vâng và biết sống lời thưa vâng để thánh ý Chúa được nên trọn vẹn, đó là nét đẹp của tình yêu mà nhân loại được Chúa ban tặng.

Ngày hôm nay, Sứ thần Thiên Chúa còn mang tin vui đến cho gia đình nhân loại, gia đình xã hội, hay một số cá nhân đức độ nữa không ? Câu trả lời của mỗi người nhất định là có, nhưng dù là tin vui, là bình an hạnh phúc, hay chỉ là thao thức chút ít trong lòng, tất cả đều phải khởi đi từ việc sống đức yêu thương. Nếu mỗi người có nét duyên dáng khác nhau, có phận số chẳng giống nhau, thì tất cả đều có chung ước muốn thành người tốt, thành người cha tài đức, thành người mẹ xinh đẹp toàn diện, hoặc thành công dân của nước trời hôm nay và mai sau. Ngày hôm nay, ai cũng nghĩ là phải an cư mới lạc nghiệp, ai cũng tin rằng Thiên Chúa có thể làm được mọi sự, có thể Chúa không sai Sứ thần hỏi chúng ta có đồng ý làm Mẹ Đấng cứu thế, nhưng Ngài vẫn mời gọi chúng ta hãy tiếp tục sống lời thưa vâng như Đức Maria. Amen.

Về mục lục

.

THIÊN CHÚA BƯỚC VÀO LỊCH SỬ NHÂN LOẠI

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Có những con người xuất hiện trên cuộc đời đã để lại những dấu ấn trong sự tiến bộ của nhân loại, cũng có những người gieo sự chết chóc cho nhân loại. Khi nhắc đến Hitler, hoặc thủ lĩnh Polpot, người ta nghĩ ngay đến những tên tội phạm chiến tranh gây ra sự hủy diệt cho hàng triệu người Do Thái và người Campuchia. Có những con người được nhắc đến với sự khinh miệt vì đường lối và cách cai trị của họ đã gây ra đau khổ chết chóc cho hàng triệu người trên thế giới. Trái lại, các nhà khoa học chân chính được nhắc đến với sự kính trọng, vì họ đã dành cả cuộc đời phục vụ và đánh dấu cho sự thăng tiến của nhân loại hoặc để cứu nhân loại khỏi những căn bệnh nguy hiểm như nhà khoa học Newton, Archimet, bác sĩ Paster, Hansen…Những con người này đuợc coi là những người đặt dấu nhấn trong sự phát triển chung của nhân loại.

Bước vào Chúa nhật IV mùa Vọng, Lời Chúa cho chúng ta thấy một sự kiện vô cùng lớn lao, đó là việc Thiên Chúa bước vào lịch sử của thế giới và đã làm biến đổi hoàn toàn thế giới, Ngài mang tên là Giêsu. Việc Thiên Chúa xuống thế làm người không đơn thuần chỉ là việc Thiên Chúa, Đấng vô hạn vô biên, bước vào thế giới hữu hạn, hữu hình; cũng không chỉ là việc năm sinh của Ngài được chọn làm cột mốc đầu tiên cho niên lịch của thế giới, nhưng Ngài đã thực sự đem đến mục đích và ý nghĩa mới cho cuộc sống con người và vũ trụ. Nếu như trước đây, nhân loại phải sống trong sự tối tăm, lạc đường, thì Chúa Giêsu là Ánh sáng, là người dẫn đường cho nhân loại đi đến cùng đích cuộc đời là hạnh phúc Nước Trời. Nếu như trước đây, con người như đoàn nô lệ chỉ biết cắm mặt xuống đất và làm lao dịch cho ma quỷ và tội lỗi, thì nhờ Chúa Giêsu, con người có quyền tự hào ngước mắt lên trời để gọi Thiên Chúa là cha và được giải thoát khỏi sự kìm kẹp của ma quỷ và sự chết.

Sách Samuel cho thấy, nếu như trước đây, Thiên Chúa như một vị thần ở xa con người chỉ để nhận mùi hương khói, thì giờ đây, Thiên Chúa bước đến với con người, ở giữa con người. Hơn thế nữa, Thiên Chúa còn hứa sẽ lập nên một triều đại mới, một dòng dõi mới, thay thế cho dòng dõi cũ đã buông mình theo sự xấu. Câu chuyên bài đọc một kể lại: Khi đó, vua Đavít đang được Chúa cho hưởng bình yên tứ bề, quốc gia thịnh vượng hùng mạnh, vua Đavít đã dự định sẽ xây cho Thiên Chúa một ngôi nhà xứng đáng bằng gỗ bá hương. Thiên Chúa đã không cần ngôi nhà bằng gỗ, đá quý, vì từ trước đến nay, Ngài vẫn đồng hành và bảo vệ dân bằng quyền năng và tình thương. Thiên Chúa đón nhận thiện chí và lòng tốt của Đavít, nhưng Ngài hứa sẽ xây cho Đavít một triều đại, một dòng dõi sẽ trường tồn mãi mãi. Quan trọng hơn, Thiên Chúa hứa sẽ đặt một người kế vị Đavít, Ngài sẽ làm cho vương quyền của người này được vững bền mãi mãi. Thiên Chúa còn quả quyết: Ta sẽ là cha và người kế vị sẽ là con.

Lời hứa năm xưa với vua Đavít đã được Thiên Chúa thực hiên khi cho sứ thần đến truyền tin cho trinh nữ Maria. Tác giả Tin Mừng rất cẩn thận để chỉ cho thấy: Sứ thần Gabriel được sai đến với một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đavít. Trinh nữ ấy tên là Maria. Một câu giới thiệu ngắn gọn, nhưng Tin Mừng đã muốn chuyển tải nhiều ý nghĩa.

Mặc dù sứ thần được sai đến với một trinh nữ đã đính hôn, nhưng Giuse lại là nhân vật được nhắc tên trước hết với một vai trò quan trọng là: Ông thuộc dòng dõi vua Đavít và đã đính hôn với Maria. Nhấn mạnh đến việc Giuse đã đính hôn với Maria để cho thấy cuộc hôn nhân này đã là hợp pháp và chính thức theo luật. Tác giả giới thiệu ông Giuse thuộc dòng dõi vua Đavit, vì đứa trẻ sinh ra chắc chắn sẽ phải mang họ của cha. Vì thế, cho dù cuộc đầu thai của Đấng Cứu thế trong lòng Đức Maria xảy ra trước khi hai ông bà về chung sống với nhau, thì người con sinh ra vẫn được coi như con chính thức và hợp pháp của Giuse. Giuse sẽ thực hiện quyền làm cha bằng việc đặt tên cho con trẻ và trao cho con trẻ thế giá dòng tộc Đavít của ông. Khi viết câu giới thiệu này, Tin Mừng muốn cho thấy lời Chúa hứa năm xưa với vua Đavít nay đã ứng nghiệm, con trẻ Giêsu sẽ thiết lấp nên một triều đại bền vững đến muôn đời.

Trong biến cố này, Đức Maria đã để cho Thiên Chúa bước vào cuộc đời của Mẹ, biến đổi hoàn toàn suy nghĩ, hành động và cả cuộc đời Mẹ. Qua lời Xin Vâng của Đức Maria, Thiên Chúa đã biến đổi hoàn toàn thế giới. Đức Maria, dù có một ý muốn rất tốt lành là sống cuộc đời trinh khiết, nhưng Thiên Chúa đã muốn mẹ đính hôn với Giuse, để qua cuộc đính hôn này, Thiên Chúa trao gửi Con của Ngài vào cung lòng của Mẹ. Đức Maria hết sức ngỡ ngàng trước lời chào cung kính long trọng của sứ thần: Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ơn phúc. Sứ thần đã giải thích: Này bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ phụ Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của người sẽ vô cùng vô tận.

Lời giải thích vắn gọn này đã khái quát cả một chương trình lớn lao của Thiên Chúa, đồng thời nói lên sứ mạng vô cùng quan trọng của Hài Nhi. Thiên Chúa đã chính thức bước vào lịch sử nhân loại, Ngài không vào thế gian bằng một con đường nào khác, nhưng bằng việc đầu thai trong lòng một trinh nữ, trở nên một con người như biết bao người. Chúa đến để sống và chia sẻ thân phận con người với nhân loại, chung chia nỗi vui buồn, đồng lao cộng khổ với nhân loại để cứu chộc nhân loại. Danh xưng Giêsu có nghĩa là Đấng Cứu Thế. Chúa Giêsu cứu nhân loại khỏi xiềng xích của ma quỷ tội lỗi và sự chết bằng chính cái chết của Ngài. Ngài đã sống lại để trao ban cho nhân loại sự sống mới của Thiên Chúa, gia tăng sức mạnh để con người chống trả lại ma quỷ và các cám dỗ. Kể từ đây, ma quỷ và sự chết không còn là kẻ thống trị nữa mà nó trở thành kẻ thất bại. Qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã dành lại quyền thủ lãnh và điều khiển vũ trụ vạn vật trở về với đúng quỹ đạo mà Thiên chúa muốn từ thuở ban đầu, để con người và vạn vật có thể đạt tới mục đích chung cuộc là hạnh phúc và sự tốt đẹp viên mãn.

Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài đang thực sự thấm sâu vào thế giới và tâm hồn con người, đang từng ngày biến đổi vũ trụ và con người. Cho đến nay, nhờ Chúa Giêsu, thế giới mang trên mình một bộ mặt mới, một nếp sống mới nhân bản hơn, tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, ma quỷ, kẻ bại trận năm xưa đã không muốn nhìn thấy con người hạnh phúc, vì thế, nó đang tìm mọi cách gieo sự bất hạnh cho con người, tìm cách tách con người và vũ trụ ra khỏi tầm ảnh hưởng của Chúa Giêsu và Tin Mừng của Người. Ma quỷ còn tìm nhiều cách khác để làm lạc hướng con người, khiến cho nhiều người bị lỡ nhịp, trật bước và rơi vào con đường của nó. Nó xúi giục con người tìm cách chống lại nhau và chống lại Thiên Chúa, hòng tìm cách ngăn cản vương quyền tình yêu của Thiên Chúa lan tỏa trên con người và vũ trụ.

Ma quỷ cũng tìm cách tấn công các gia đình bằng cách gieo rắc sự bất tín bất trung, khơi lên sự nghi ngờ và thói ích kỷ. Ma quỷ tìm cách ru ngủ các gia đình trong sự lười biếng và công việc để họ dần dần xa lìa Thiên Chúa. Mỗi người, mỗi gia đình đều có kế hoạch riêng tốt đẹp, nhưng có thể đó chưa phải là ý muốn của Thiên Chúa, hãy noi gương Đức Maria, dám bỏ qua một bên kế hoạch cá nhân, để thuận theo kế hoạch của Thiên Chúa muốn cho gia đình mình. Hãy sẵn sàng để cho Thiên Chúa hướng dẫn và can thiệp vào cuộc sống của mình và hết lòng khiêm nhường thuận theo ý Chúa, Chúa sẽ làm cho mọi sự nên tốt đẹp. Dù lúc vui hoặc buồn, dù khi thành công hay thất bại, đau yếu hay mạnh khỏe, hãy noi gương Đức Maria thưa tiếng Xin Vâng trong mọi hoàn cảnh. Chắc chắn Chúa luôn muốn và làm điều tốt cho con người, cho dù Chúa không đáp ứng ngay ước mong của chúng ta để giải gỡ khó khăn, thì Chúa cũng ban sức mạnh để chúng ta có thể vượt qua các khó khăn trong cuộc sống và giúp ta lớn lên trong sự tín thác.

Thiên Chúa đã bước vào lịch sử và biến đổi thế giới, xin Chúa cũng bước vào cuộc đời ta mỗi ngày qua Bí tích Thánh Thể, qua Lời Chúa và biến đổi ta mỗi ngày nên thánh thiện và tốt đẹp hơn. Amen.

Về mục lục

.

XIN VÂNG THÁNH Ý

Lm GB Nguyễn Minh Hùng

Duy nhất chỉ có Tin Mừng theo thánh Luca tường thuật câu chuyện Truyền tin cho Đức Mẹ. Với tường thuật duy nhất này của Kinh Thánh, Thiên Chúa chứng nhận Người tôn trọng con người, tôn trọng chính loài thụ tạo do tay Người dựng nên.

Cụ thể, sự tôn trọng mà Thiên Chúa thực hiện trong ngày truyền tin là sự tôn trọng đặc biệt mà Thiên Chúa dành cho Đức Maria, khi thiên thần Gabriel thông báo: “Này đây bà sẽ thụ thai sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao…”.

Để quyết định thời điểm cứu độ mà chính mình hoạch định, Thiên Chúa muốn Đức Mẹ tự nguyện “Xin Vâng”. Thiên Chúa làm được mọi sự, nhưng có một sự thật của ơn cứu độ mà Người không muốn áp đặt ý mình, một khi chưa dò hỏi ý kiến kẻ mà Người quyết định tuyển chọn để kẻ ấy trở thành “người trong cuộc” với mình.

I. Đức Mẹ XIN VÂNG THÁNH Ý.

Thật quý báu, Đức Maria đã thốt lên lời “Xin Vâng”. Trọn cả câu mà Đức Mẹ thưa với thiên thần là: “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền”.

Đức Maria, Đấng mà cả một đời luôn thực thi thánh ý Chúa, luôn muốn làm đẹp lòng Chúa, luôn trung thành với lẽ sống đức tin của mình, thì nay đã thốt lên lời “Xin Vâng”. Xin Vâng trọn vẹn, Xin Vâng nhanh chóng, Xin Vâng không miễn cưỡng.

Đúng hơn, cả một đời, Đức Mẹ đã hiến mình cho Chúa, thì nay, trong lời thưa “Xin Vâng”, không chỉ thực sự hiến dâng mình như đã từng hiến dâng, mà còn cho thấy thói quen thực hành thánh ý Thiên Chúa là một thói quen thường xuyên, như đã trở thành nếp sống, nếp nghĩ, trở thành thức ăn dinh dưỡng qua từng phút giây của đời sống mà Đức Mẹ được Chúa ban.

Còn Thiên Chúa, Đấng thấu suốt sự ngoan ngùy của tớ nữ mà mình yêu quý, đã đón nhận lễ phẩm không chỉ là lời mà còn là ĐỜI xin vâng của Đức Mẹ cách nhanh chóng, không cần đợi chờ gì thêm, không cần bất cứ một trình tự nào nữa.

Trong khi Đức Mẹ, với hai tiếng “xin Vâng” chỉ thốt lên một lần trong ngày nhận lãnh lời truyền tin, đã thúc đẩy Đức Mẹ trọn một đời hướng về Chúa Giêsu, con của lòng mình, không hề ngơi nghỉ, không một chút ngại ngần.

Đức Mẹ hướng về Chúa từ khi Chúa còn là bào thai cho đến khi Chúa được sinh hạ trong hang đá Bêlem nghèo hèn.

Đức Mẹ hướng về Chúa qua tất cả những sự lạ thường từ lời chào dịu kỳ của chị Isave, cuộc viếng thăm của các mục đồng, các đạo sĩ, cũng như lời tung hô ca hát của các thiên thần trong đêm Chúa Giêsu giáng sinh.

Đức Mẹ hướng về Chúa để suy gẫm mầu nhiệm của Chúa, dẫu chưa thể hiểu gì trong đêm ôm con bôn ba ra hải ngoại chạy trốn dã tâm của con người…

Mặc dù chỉ dừng lại ở mầu nhiệm Giáng Sinh để nhìn ngắm Đức Mẹ trong tương quan với thánh ý Thiên Chúa, chắc chắn, mọi người đều tin rằng, không phải chỉ trong mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh, mà trong suốt hành trình dương thế của mình, Đức Mẹ luôn luôn đặt thánh ý Thiên Chúa làm trung tâm của mọi vấn đề, mọi ngỏ nghách, mọi hoàn cảnh, mọi tương quan sống…

Bởi đó, Đức Mẹ đã hiến dâng trọn đời để sống lời thưa “Xin Vâng”.

II. THÁNH Ý CHÚA VỚI ĐỜI NGƯỜI TÍN HỮU.

1. Gẫm suy lời Xin Vâng và chiêm ngắm đời Xin Vâng can trường của Đức Mẹ, với ý thức, tự do và trách nhiệm, mỗi chúng ta hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa đã không ngần ngại, nhưng luôn tin tưởng nơi con người. Qua Đức Mẹ, Thiên Chúa cho thấy, Người không chê chối con người, nhưng cần đến họ, Người cho họ hạnh phúc được làm thành phần của lịch sử cứu độ.

Biết mình được Thiên Chúa tin tưởng, chúng ta hãy phó mình cho Thiên Chúa, để Người tùy nghi sử dụng chúng ta. Như Đức Mẹ, chúng ta đáp lại bằng việc xin vâng mọi nơi, mọi lúc trong cuộc đời mình.

2. Đức Mẹ hạnh phúc để Chúa làm chủ và thực hiện thánh ý Người trên cuộc đời Đức Mẹ. Cũng vậy, ta hãy yên tâm sống trong sự quan phòng của Chúa. Hãy nương tựa vào tình yêu của Chúa, vì tình yêu ấy chưa từng để cho bất cứ ai phải trở thành kẻ ngoại cuộc.

Những khi gặp điều may đến với cá nhân, gia đình hay xã hội, như xác thân khỏe mạnh, công ăn việc làm ổn định, gia đình hạnh phúc, những ngày trôi qua bình an…, chúng ta biết trân quý ơn Chúa mà ra sức thực hành đời sống thánh đức, đáp lại ơn Chúa bằng nỗ lực phụng sự Chúa và phục vụ anh chị em bằng mọi cách thức tốt lành mà tình yêu đòi hỏi.

Những khi phải đối mặt cùng gian nan thử thách, như lâm cảnh bị phản bội, tai nạn, bệnh tật…, là khi phải kiên vững để xin vâng thánh ý Chúa bằng niềm trông cậy, bằng sự tín thác và ngã vào vòng tay của Chúa sâu hơn, mạnh hơn bất cứ lúc nào qua lời cầu nguyện, qua việc dâng lên Chúa mọi đau khổ mà mình đang gặp phải.

Trong sự vâng phục thánh ý Chúa theo gương Đức Maria, chúng ta còn được ủi an vô cùng nhờ kết nối với Đức Mẹ, nhờ Đức Mẹ mà hiệp thông cùng đau khổ xưa của Chúa Giêsu. Chắc chắn, Đức Mẹ sẽ dẫn ta đến gặp Chúa Giêsu, để cùng với Chúa, chúng ta mạnh mẽ, kiên vững mà trải qua và vượt thắng mọi chiều kích của thập giá.

3. Sau cùng, chúng ta hãy cám ơn Đức Mẹ, Đấng đã biến đời mình thành bài học Xin Vâng cho chúng ta học đòi bắt chước. Xin Đức Mẹ cho ta được nối bước của Đức Mẹ mà tiến về cùng Chúa, càng lúc càng dứt khoát hơn, cậy trông hơn.

Trên đường trọn lành của ta có Đức Mẹ cùng đồng hành, đó là điều quý giá vô cùng. Hãy để Đức Mẹ hướng dẫn ta đi tìm và thực hành thánh ý Chúa. Đức Mẹ là sự khôn ngoan mà ta cần chọn lựa. Đức Mẹ là sự trợ thủ đắc lực, Đức Mẹ là sự tín nhiệm không suy giảm mà ta được Chúa thương ban.

Về mục lục

.

TÌNH CHÚA MUÔN NGÀN ĐỜI

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

 “Con sẽ ca ngợi tình thương của Chúa đến muôn đời. Qua bao nhiêu thời tình Chúa chẳng vơi…” . Bước vào tuần cuối của mùa Vọng, Hội thánh dẫn đoàn tín hữu dần đến đỉnh cao của tình yêu Thiên Chúa, mầu nhiệm vốn được giữ kín từ ngàn xưa, thì nay được biểu lộ (x.Rm 16,25-26): Ta sẽ yêu thương con người đến muôn đời và lòng thành tín của Ta được thiết lập trên cõi trời cao.

Sự thành tín là một đặc tính tất yếu của tình yêu đích thực: Trong bất cứ kiểu loại tình yêu nào dù là tình phu thê, tình mẫu tử, phụ tử, tình huynh đệ, tình quê hương, tình đồng chí, đồng bào…tất thảy đều đòi hỏi sự tín thành, thủy chung. Tình yêu có thể xuất hiện dưới nhiều sắc độ đậm nhạt khác nhau, nhưng không thể chấp nhận sự đứt gánh nửa chừng hoặc thay lòng đổi dạ kiểu đổi trắng thay đen.

Dòng lịch sử ơn cứu độ mạc khải cách rõ nét tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Thiên Chúa là Tình yêu (1Ga 4,8). Dù cho con người có phản bội nhưng Thiên Chúa mãi luôn tín trung vì Người không thể chối chính Người (x.2Tm 2,12-13). Theo mạc khải thời Cựu Ước thì có khi, có thời, Thiên Chúa dìm ta xuống đáy vực sâu hoặc để ta long đong phận khổ, nhưng Người lại kéo ta lên, ủi an, vỗ về như mẹ hiền âu yếm con thơ. Sau khi sửa trị chúng ta vì tội lỗi chúng ta, Người lại bồi hồi thổn thức, và Người lại tỏ lòng xót thương (x.Gr 31,16-20). Nhưng đến thời Tân ước thì Chúa Kitô đã minh nhiên khẳng định rằng Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban chính Con Một…(x.Ga 3,16…).

Lời hứa ban ơn cứu độ từ khi tổ tiên loài người phản bội đã dần thành hiện thực theo dòng thời gian. Lịch sử ơn cứu độ đã khai mở và khi đến thời viên mãn, Thiên Chúa đã thực hiện lời Người đã hứa tự ngàn xưa là sai chính Con Một vào trần gian, thực thi công trình cứu độ. Hứa ban cho Đavít một triều đại vĩnh tồn thì Thiên Chúa đã giữ lời. Một chồi non từ nhà Đavít đã mọc lên và “Người sẽ cai trị nhà Giacob đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1, 33).

Thiên Chúa không hề bỏ ta: một nền tảng căn bản của niềm cậy trông. Trong phận người, đặc biệt khi đã trưởng thành thì hầu như ai cũng đã từng trải qua ít nhiều thăng trầm của của cuộc sống. Có thể nói quãng thời gian an bình, hạnh phúc thật quá ngắn so với dòng đời gian truân, vất vả. Tác giả Thánh Vịnh cảm nghiệm hiện thực này: đời người mạnh giỏi lắm là bảy, tám mươi năm mà toàn là gian lao, khốn khổ (x.Tv 90,10). Sự gian truân, vất vả của cuộc đời chắc chắn có góp phần rèn luyện nhân cách con người, đồng thời giúp con người thăng tiến và đạt đến thành công. Tuy nhiên, nó cũng có thể làm cho nhiều người chán nản, buông xuôi. Nhiều sự ở đời này vẫn thường mang tính lưỡng diện.

Dưới nhãn quan đức tin, khi ta ở trong tình trạng khó khăn, thất bại, khi ta lâm vào những nghịch cảnh, nhất là khi ta ngụp lặn trong vũng bùn tội lỗi thì chước cám dỗ ngã lòng, thất vọng luôn có đó. “Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại làm… Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? (Rm 7,19-24).

Thiên Chúa luôn tín trung với lời Người đã hứa. Người không bao giờ bỏ chúng ta. Có được xác tín này thì niềm cậy trông sẽ có đất đâm chồi nẩy lộc. Thánh Tông đồ dân ngoại khẳng định: “Chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu vào lòng chúng ta. Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Kitô đã chết vì chúng ta” (Rm 5,5-6).

Không một ai là không có thể được cứu thoát: Với loài người thì rất nhiều trường hợp dường như là không thể, nhưng với Thiên Chúa thì mọi sự đều là có thể (x.Lc 1,37 ; Mt 19,26). Thiên Chúa muốn tất cả mọi người nhận biết chân lý để được cứu rỗi (x.1Tm 2,3-4 ). Dù chỉ một con đi thất lạc, Thiên Chúa cũng bỏ chín mươi chín con chiên trên núi để đi tìm con chiên lạc đàn . Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi phú ban Con Một, thì còn gì mà Người đã không làm cho chúng ta, cho từng người chúng ta?

Mọi người đều được Thiên Chúa yêu thương nhưng không phải tất cả đều nhận được tình yêu của Người. Khi con người cố tình từ chối tình yêu của Thiên Chúa hoặc khi con người ngã lòng thất vọng, không còn tin vào tình yêu của Thiên Chúa thì Người đành chấp nhận chịu cảnh “bất lực”. Tình yêu giả thiết sự tự do đáp trả, cho dù là bé nhỏ hay chỉ là mặc nhiên. Nhà của Đavit, tức vương quyền của ông được Thiên Chúa hứa cho trường tồn là nhờ ông đã có tấm lòng muốn xây cho Thiên Chúa một “cái nhà”. Để thực thi công trình cứu độ cho loài người, Thiên Chúa cũng đã chờ đợi sự đáp trả của một cô thôn nữ làng quê Nagiarét. Chúa Kitô khi sinh thời đã khẳng định chân lý này: Mọi thứ tội đều có thể được tha, ngoại trừ tội phạm đến Chúa Thánh Thần (x.Mt 13,32).

Xin trích ghi ca từ của một bản thánh ca được gợi hứng bởi tâm tình của thánh Tông đồ dân ngoại: “Chúa vẫn trung thành mãi, dù thời gian bao năm biến thay, dù lòng ta nghi nan, hững hờ. Vì muôn ngàn đời, Chúa vẫn trọn tình thương. Một ngày nào mà ta chối Ngài, thì Ngài phải đành lòng chối ta. Cho dù ta bất tín, dù ta phản bội, thì Chúa vẫn cứ trung thành, vì Ngài không thể chối chính mình”( x.2Tm 2,12-13). Tuy nhiên không phải vì ỉ lại vào lòng tín trung của Thiên Chúa mà chúng ta trì hoãn sự hoán cải. Tình Chúa thì muôn ngàn đời, nhưng cuộc đời chúng ta thì có hạn, nhất là chúng ta không biết cái hạn ấy kết thúc vào giờ nào, lúc nào. Đừng chần chờ, đừng lần lữa, hãy đáp trả tình Chúa yêu ngay hôm nay, lúc này!

Về mục lục

.

VANG VỌNG LỜI TRUYỀN TIN

P. Trần Đình Phan Tiến

Thưa quý vị, thưa các bạn, chắc chắn rằng Đoan Lời Chúa hôm nay ( Lc 1, 26 -38) là một Đoạn Tin Mừng quá quen thuộc, nhưng là Đoạn Tin Mừng “vang vọng” nhất, bởi vì, dù là không phải Đoạn khởi đầu, nhưng, nếu thiếu đi Đoan Tin Mừng nầy, thì dường như thiếu đi” hương vị” chính của “ món ăn”. Tại sao vậy, thưa quý vị? Thưa, vì “điểm “ mấu chốt của “công cuộc “ Cứu Chuộc nằm ở đây, nằm chính nơi “vị trí” vô tiền khoáng hậu.

Ai đọc Đoạn ( Lc 1, 26 -38), đều biết rằng đây là Đoạn Tin Mừng “ Truyền Tin”, “Thiên Chúa sai sứ thần truyền tin cho Đức Bà Maria, và Đức Bà chịu thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần.”

Vâng, không có Lời nào trong Thánh Kinh được luôn “ vang vọng” như Đoạn Tin Mừng hôm nay, nếu nói khác đi, Thánh Kinh là cuốn sách “ vang vọng” Lời của Thiên Chúa, thì Đoạn Tin Mừng hôm nay là  Đoạn“ VANG VỌNG “ nhất. bởi vì, Có ba “lần “ vang vọng:

  • Thứ nhất : Lời Truyền Tin của Thiên Sứ
  • Thứ hai : Lời truyền tin của Thiên sứ cho Đức Maria biết người chị họ Isave đã mang thai trong tuổi cao niên.
  • Thứ ba : Lời thưa “ xin vâng” của Đức Maria. Một lời “ vang vọng” của nhân loại.

Như vậy, khi nghe những Lời nầy, tâm trạng của người đón nhận như thế nào? Có phải chăng là “ vui mừng “ khôn xiết ? Bởi vì : “ Chúa đã làm cho tôi những điều cao cả, Danh Ngài thật chí thánh, chí tôn”. Vâng, Tâm tình của Đức Trinh Nữ Maria là như thế , bởi vì cùng lúc cả hai “Tin Vui” được Loan báo và Mẹ đã đón nhận, thì Lời ấy “vang vọng” như thế nào !

Vâng, Thiên Chúa đổ đầy hồng ân trên một người nữ tỳ hèn mọn, hồng ân ấy là hồng ân “ CỨU ĐỘ” , có nghĩa là hồng phúc cho cả vũ trụ nhân loại từ đời nầy qua đời khác. Có giá trị muôn nghìn lần “kho báu vật” trần thế. Bởi vì, từ đây “ƠN CỨU ĐỘ “ phát sinh và ban tràn ân phúc trên dương gian. Vâng, một ân phúc vô giá, một ân phúc mà từ Trời cao Thiên Chúa đã mở ra một “ LÒNG XÓT THƯƠNG “, một Lòng Xót Thương đích thực, đó là “ ƠN CỨU ĐỘ “.

Vâng, chúng ta biết được giá trị của Ơn Cứu Độ như thế nào , thì chúng ta mới biết được Lòng Xót Thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Bởi vì, Thiên Chúa không “ mắc nợ” ai cả, mà Thiên Chúa phải trao ban một “món quà” vô giá cho nhân loại , đó là : “ Con Một Tối Cao”, có nghĩa là Thiên Chúa “tự hạ” một Ngôi Vi Thiên Chúa, “ Từ trời xuống thế” là một mầu nhiệm cao cả không gì sánh bằng, mà chúng ta gọi là “khôn sánh”.

Vâng, Tin Tức Truyền Tin là một hồng ân Đức Tin và sự đáp trả của Đức Mẹ là sự thể hiện một “lòng tin “ tuyệt đối của thụ tạo đối với Đấng Toàn Năng. Từ đó, chúng ta thấy, không gì lớn hơn Thiên Chúa trao ban chính mình.  Và , Lời Truyền Tin là Lời luôn “ vang vọng” xuyên suốt thời đại, không gian và vũ trụ con người. Lời mà, quỷ thần khiếp sợ, bởi vì, nhờ Lời nầy và tiếng thưa “ xin vâng” của Đức Maria mà “ƠN NHẬP THỂ” đã hình thành và trở nên Mầu Nhiệm Cứu Độ nhân thế.

Từ đó, chúng ta hiểu được mầu nhiệm “ Trọn Đời Đồng Trinh” nơi Đức Maria là như vậy. Bởi vì, những điều xảy ra với Mẹ là một Mầu Nhiệm. Rõ ràng , như Lời sứ thần nói : “ Không việc gì mà Thiên Chúa không làm được”.

Việc “ Truyền Tin “ cho Đức Maria là Mầu Nhiệm Truyền Tin, mở đầu mầu nhiệm cứu độ, đồng thời, Mẹ cũng “đảm nhận” việc biết được tin  bà chi họ mình, đang trong nỗi cô đơn, son sẻ, buồn tủi, nhưng , được Thiên Chúa xót thương ban cho một “ Niềm Vui” trong đại là được “ làm mẹ”, được sinh con , mà là người con “dọn đường” cho Đấng Cứu Thế. Nếu chúng ta sống được trong tâm trạng của thời Cựu Ứơc, chúng ta mới hiểu được “nỗi vui mừng” trên của “ sự kiện Truyền Tin”, một nỗi vui mừng khôn tả của hai người mẹ được “ kêu mời” cộng tác vào ƠN CỨU ĐỘ, mà ngôn sứ Isaia đã loan báo từ hơn hai ngàn năm trước cho dân tộc mình và cho nhân loại sau nầy.

Như vậy, “ Tiếng thưa Fiat” của Đức Maria, không chỉ là tiếng thưa bình thường, mà là một Lời thưa “ VANG VỌNG” đất trời, và muôn thế hệ, bởi vì, “ Từ đây đến muôn đời sẽ khen tôi là người diễm phúc”.

Theo đó, đêm Giáng Sinh cực thánh, là Đêm mà mọi tạo vật sững sờ, im lặng lắng nghe Lời sứ thần loan báo : “ VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN CÁC TẦNG TRỜI , BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO LOÀI NGƯỜI CHÚA THƯƠNG”.

Vâng, Lời vang vọng trên được liên kết, được bắt nguồn từ Lời Truyền Tin cho Đức Trinh Nữ Maria và Lời “đáp rả” hồng phúc của Mẹ vậy, là “Tiếng thưa xin vâng”.

Lạy Thiên Chúa là Cha Toàn Năng, Cha đã ưu ái ban cho nhân loại Ơn Cứu Độ, đến giờ đã định, Cha đã kêu mời một Trinh Nữ đón nhận “ Ơn Hồng Phúc “ trọng đại ấy, là làm Mẹ Đấng Cứu Thế,. Xin thương ban cho mọi loài thọ sinh biết đáp đền muôn một, hầu mở lòng đón nhận Hài Nhi Giêsu là món quà cao cả từ nơi Cha là Lòng Xót Thương và Ơn Cứu Độ./. Amen

Về mục lục

.

Ý CHA, Ý CON

Lm Vũđình Tường

Chiều theo í mình là điều dễ, ai cũng muốn sống và làm việc chiều theo í riêng mình. Chiều theo í người khác là chịu theo sự hướng dẫn của người khác để đi vào lãnh địa xa lạ, nơi đó khi nguy hiểm, rủi ro, bất trắc xảy đến, vượt quá tầm kiểm soát của ta. Thực tế trong cuộc sống dù chiều theo í ta hay í người khác đều có rủi ro, bất trắc và đều vượt quá tầm kiểm soát. Theo í riêng đôi khi ta có quyền quyết định tiến thêm hay rút lui vào lãnh địa an toàn. Thực ra không phải ai cũng đủ can đảm rút lui về lãnh địa an toàn, mà thường là cố gắng, vượt sức đến mức kiệt quệ cả tinh thần lẫn vật chất. Cứ xem gương những tay cờ bạc thì biết họ luôn thua trắng tay nhưng vẫn chưa chịu đầu hàng mà tìm cách gỡ gạc mặc dù gỡ gạc trong cầu may. Gỡ trong cầu may thì may ít, rủi nhiều.
Phụng vụ trong những ngày gần đây nhắc nhớ tới hai trường hợp xin vâng của hai mẹ con như một nhắc nhở cho chúng ta biết cuộc sống trần gian cần chọn lựa khôn ngoan, chọn sống theo í Chúa là lựa chọn khôn ngoan bởi khi gặp khó khăn có Chúa cùng đồng hành, ban ân sủng, sức mạnh giúp ta vượt qua khó khăn. Làm theo í riêng khi khó khăn không ai giúp đỡ, không nơi nương tựa.
Để sống theo í Chúa thì í cá nhân cần loại bỏ để cho í Chúa đuợc thể hiện trong cuộc sống và điều này có thể thực hiện được. Trường hợp thứ nhất là trường hợp Đức Trinh Nữ Maria đã từ bỏ í riêng để sống theo í Chúa khi thưa hai tiếng xin vâng Lk 1, 38 cùng sứ thần Chúa. Dù đã hỏi sứ thần nhưng bà vẫn không hiểu rõ những gì sẻ xảy đến trong đời. Trường hợp thứ hai là chính con bà là Đức Kitô suốt cuộc sống trần thế luôn tuyên bố là Ngài đến trần gian không phải để làm theo í riêng mà làm theo í của Chúa Cha, Đấng sai Ngài đến trần gian Jn 6,38. Dù thế trên thập giá Ngài đã lớn tiếng than: Lậy Cha, sao Cha bỏ con.Mt 27, 46

Câu ‘Lậy Cha, sao Cha bỏ Con’ không phải là Đức Kitô từ chối vâng phục Chúa Cha, hoặc chối bỏ Chúa Cha mà chính là xác tín có Thiên Chúa hằng sống. Vị đó là Cha của Ngài. Lậy Cha, sao Cha bỏ Con cho biết đau khổ phần xác đôi khi làm cho con người chỉ thấy đau khổ mà không thấy Thiên Chúa ở cùng. Thực ra Thiên Chúa luôn cùng đồng hành nhưng đau khổ đã làm cho tâm trí ta trở nên chú trọng nhiều đến đớn đau phần xác nhiều hơn là cảm nghiệm Thiên Chúa cùng đồng hành với ta trong an vui, cũng như trong đau khổ, phiền não.

Í Thiên Chúa được thể hiện rõ ràng qua con người và con người nhiều khi đối xử với nhau thiếu công bằng, thiếu thành thật và ngay cả ảnh huởng, lung lạc bởi phe nhóm vì thế có những quyết định vừa thiếu sáng suốt vừa chủ quan mang lại đau khổ, bất bình cho người thuộc quyền. Hành xử như thế là í tưởng làm theo í Chúa, thực hành í phe nhóm.

Sinh ra trong thế giới này là một đặc ân bởi thứ nhất đây là cơ hội cho chúng ta thực hiện í Chúa nơi trần gian và thứ đến là thưởng thức điều thiện hảo, tốt lành của vũ trụ do Chúa tạo dựng. Thực hiện í Chúa bằng cách sống công bằng, yêu thương, tha thứ và bác ái với tha nhân. Khi thực hành điều đó chắc chắn không phù hợp với í kiến cá nhân, phe nhóm chủ trương độc quyền lãnh đạo, lãnh đạo và mọi người phải phục tùng vì thế làm theo í Chúa luôngặp phải chống đối cách này, cách khác. Thực hiện í Chúa qua hành động bác ái, yêu thương, sống chung với đồng loại, khóc khi bạn gặp tang thương và nâng rượu mừng khi họ gặp may mắn.

Mùa Giáng Sinh, mùa Hồng Phúc, Thiên Chúa ở cùng nhân loại. Chúc quí vị và gia đình mùa Giáng Sinh tràn đầy hồng ân và nhiều ơn lành trong năm mới.

Về mục lục

.

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
Tin Giáo phận

60 năm ghi nhận công lao của các bậc tiền bối qua: 11 Cha quản xứ, 16 thầy, 32 nữ tu từng giúp xứ, các ông bà tổ tiên còn sống cũng như đã qua đời”.

Tin mới