Các bài suy niệm Chúa Nhật VI Năm B

Đăng lúc: Thứ sáu - 09/02/2018 14:07 - Người đăng bài viết: Ban Truyen Thong

 

CHÚA NHẬT 6 THƯỜNG NIÊN_B

Lời Chúa: Lv 13,1-2.44-46;  1Cr 10,31-11,1;  Mc 1,40-45

——-

DẪN NHẬP

Lời Chúa: “Ta muốn, anh hãy khỏi bệnh. Tức thì bệnh cùi biến mất và người ấy được sạch” (Mc 1,42).

Nhập lễ:

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,

Phụng vụ Lời Chúa chúa nhật 6 thường hôm nay cho chúng ta thấy, Chúa Giêsu chữa lành người bệnh phong cùi đáng thương nhờ lòng tin của anh vào Chúa Giêsu. Điều đó, nói lên thời đại thiên sai của Đấng Cứu Thế đang ở giữa chúng ta, và Chúa Giêsu chính là vị cứu tinh nhân loại:

Một lời của Chúa truyền ban,

Bệnh cùi biến mất, xác thân được lành.

Vui mừng anh nói khắp thành:

Giê - su là Đấng chữa lành muôn dân.

Còn ta sao vẫn lần chần,

Mau tìm gặp Chúa thánh ân phủ đầy.

Hiệp dâng thánh lễ hôm nay, xin Chúa giúp chúng ta xác tín niềm tin của chúng ta vào quyền năng của Chúa, và xin Chúa chữa lành bệnh tật hồn xác để chúng ta cùng được hòa nhập vào cuộc sống hạnh phúc với các thánh trên trời. Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta hãy thành tâm sám hối.

Sám hối:

X. Lạy Chúa, Chúa đến trần gian để mặc lại phẩm giá cho những ai đau khổ. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa Kitô, Chúa là Đấng Cứu Tinh nhân loại. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa, Chúa dùng quyền năng của Chúa để cứu chữa chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

Kết: Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.

CĐ: Amen.

Suy niệm:

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Đau yếu, bệnh tật là nỗi thống khổ bất hạnh của con người. Có những con người mang những chứng bệnh hiểm nghèo, nan y làm cho họ càng đau khổ và càng tuyệt vọng bấy nhiêu. Đau khổ về mặt thể xác, đau khổ về mặt tinh thần, và có khi đưa đến tuyệt vọng vì những phương tiện của y học đều bất lực.

Thưa anh chị em, theo sách Lêvi, bệnh phong là “biểu tượng” của tội lỗi, là hậu quả của tội, là hình phạt do tội lỗi, là hoạt động của ma quỷ. Vì vậy, khi thấy có những dấu hiệu lạ trên thân thể như lác, đốm, phong hủi kinh niên, ung …, bệnh nhân phải được vị tư tế khám và quyết định tình trạng sống biệt lập của họ. Bệnh nhân trở thành ô uế ra khỏi nhà, sống cách ly với những người khác, không được sinh hoạt với cộng đồng xã hội và tôn giáo, bệnh nhân phải mặc áo rách, không được chải đầu, không được cạo râu, phải kêu la làm chứng mình đã bị Chúa phạt và ma quỷ đang hoành hành trên thân xác mình, không được tiếp xúc với ai và cũng không được để ai đến gần. Nếu có ai không biết mà tiến lại, thì bệnh nhân phải la lớn tiếng ‘ô uế’ để những người khác biết mà tránh kẻo bị ô nhiễm. Nếu ai đụng phải đến bệnh nhân thì lập tức bị ô uế, người đó không được tham dự vào các nghi lễ nếu chưa được cử hành thanh tẩy. Người bệnh thật bất hạnh, họ phải sống trong đau khổ và chỉ còn biết làm bạn với những người đồng cảnh ngộ.

Đấng trước nỗi bất hạnh ấy, trang Tin Mừng hôm nay thuật lại, một bệnh nhân phong cùi đến gặp Chúa Giêsu. Trong đau khổ, anh tìm đến Chúa Giêsu với thái độ rất khiêm tốn và van xin: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi nên sạch”. Thái độ và lời kêu van này nói lên niềm hy vọng cuối cùng của anh, và niềm tin trọn vẹn của anh đã được Chúa đáp trả. Chúa Giêsu động lòng thương, đưa tay chạm đến anh và nói với anh: “Ta muốn, anh hãy khỏi bệnh. Tức thì bệnh cùi biến mất và người ấy được sạch”. Đối với Chúa Giêsu, trong cuộc sống chỉ có một bó buộc duy nhất là luật yêu thương. Vì thế, khi mô tả những cử chỉ của Chúa Giêsu đáp lại lời cầu xin của người cùi, chúng ta cũng hiểu được thái độ đầy yêu thương của Chúa Giêsu dành cho người này. Điều đó, nói lên thời đại thiên sai của Đấng Cứu Thế đang ở giữa chúng ta, Người đến để cứu chữa con người, chữa lành bệnh tật, làm cho con người được mạnh khoẻ tinh thần và thể xác, giúp con người được hội nhập vào đời sống cộng đoàn.

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Đức Cha Gioan Cassaigne sau 15 năm làm Giám mục Sài gòn, ngài đã tình nguyện về sống giữa các bệnh nhân cùi thân yêu ở Di Linh, trong một ngôi nhà gỗ nhỏ hẹp. Tuy không còn giữ một địa vị nào trước mặt xã hội, nhưng ngài thật là một chứng nhân tình yêu Thiên Chúa, một con người của bác ái vị tha. Mười tám năm ngài sống trong thịnh lặng và âm u, với những bệnh nhân quê mùa chất phác, không mấy ai biết rõ, nhưng khi quả tim vị anh hùng ấy ngừng đập, thì quả tim của dân Việt cũng như toàn thể thế giới đều rung cảm lên. Ai nấy đều cảm phục tấm gương chứng nhân anh dũng của ngài.

Hình ảnh của Đức Cha Gioan Cassaigne đã trở nên dấu chỉ của lòng thương xót Chúa giữa anh em đồng loại. Chúng ta cũng được mời gọi để yêu thương và tôn trọng người đau khổ, nhất là những người phong cùi về thể xác cũng như linh hồn. Đối xử tốt với người đau khổ là món quà quí giá chúng ta tặng cho họ, không gì làm cho họ sung sướng hơn. Thánh Phaolô khuyên nhủ chúng ta hãy làm tất cả mọi sự để tôn vinh Thiên Chúa: “dù ăn dù uống, dù làm việc gì khác, anh em hãy làm vì danh Chúa. Anh em đừng làm bất cứ điều gì để nên cớ vấp phạm cho người khác”.

Nguyện xin Chúa giúp chúng ta xác tín vào lòng thương xót của Chúa bằng một niềm tin vững mạnh và chân thật trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời. Xin Chúa cứu chữa trong ngoài chúng ta. Amen.

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang.

 

 

Mục lục

2. Bệnh phong tâm hồn  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Chữa người phong  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

4. Cúi xuống với người khổ đau  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

5. Nếu Chúa muốn  (Bông Hồng Nhỏ, Tiền Tập sinh MTG.Thủ Đức)

6. Cử chỉ nhỏ  (Anna Cỏ May, Tiền Tập sinh MTG.Thủ Đức)

7. Phong cùi  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

8. Lòng trắc ẩn   

9. Chữa một người cùi  (Lm. Carolo)

10. Mẹ nâng đỡ các bệnh nhân  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

11. Suy niệm Chúa Nhật 6 Thường niên_B  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam)

12. Suy niệm Chúa Nhật 6 Thường niên_B.  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

13. Lòng thương cảm  (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)

14. Giơ tay đụng vào  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

15. Niềm hy vọng  (Trầm Thiên Thu)

16. Rất cần sự cảm thông  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

17. Lòng thương xót vượt qua tất cả  (Tu sĩ Jos.Vinc. Ngọc Biển, SSP)

18. Tại sao Chúa Giêsu nghiêm giọng đuổi người phong hủi được chữa lành đi ngay?! (Trần Đình Phan Tiến)

19. Cú đụng tay đổi đời  (JM. Lam Thy, ĐVD)

20. Tấm lòng của Đức Giêsu  (Giêrônimô Nguyễn Văn Nội)

21. Tôi muốn, anh hãy được sạch  (Fx. Đỗ Công Minh)

22. Mạnh dạn đến với Chúa Giêsu (Lm. Giuse Nguyễn Văn Hữu)

23. Đức Giêsu – Đấng chữa lành mọi bệnh tật  (Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)

24. Chúa Nhật 6 Thường niên – Năm B  (Lm. Grêgôriô Lê Văn Hiếu)

25. Suy niệm chú giải Chúa Nhật 6 Thường niên_B (Lm. Inhaxiô Hồ Thông)

26. Loại bỏ  (Lm. Vũ Đình Tường)

27. Xin cho được thoát khỏi cảnh cô lập thể xác và tinh thần (Lm. Trần Bình Trọng)

 

 

BỆNH PHONG TÂM HỒN

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

Thời xưa, bệnh phong là một bệnh nan y, bị mọi người kinh tởm xa lánh. Trong đạo Do thái, người mắc bệnh phong bị gạt ra ngoài lề xã hội. Họ không được sống chung với thân nhân trong xóm làng, nhưng bị xua đuổi ra ngoài đồng ruộng, vào trong rừng núi hay trong sa mạc. Họ phải ăn mặc rách rưới. Đi đến đâu cũng phải kêu to lên: “Ô uế, ô uế”, cho mọi người biết mà xa tránh. Ai tiếp xúc với người bệnh phong đều bị coi là ô uế. Ai đụng chạm vào người bệnh phong bị con như mắc tội rất nặng. Chẳng ai dám đến gần người bệnh phong. Người bệnh như thế, không những bị những vết thương trên thân xác hành hạ đau đớn mà còn bị những nỗi đau, nỗi nhục trong tâm hồn dằn vặt khổ sở. Họ bị xã hội khinh khi loại trừ. Họ bị một mặc cảm chua chát dày vò. Nhân phẩm không được tôn trọng, họ sống mà bị con như đã chết. Nhưng chưa chết được, họ vẫn phải tiếp tục sống để chịu những nỗi đau đớn còn hơn cả cái chết gặm nhấm, thiêu đốt.

Một lần nữa, Đức Giêsu lại vượt qua những biên giới cấm kỵ khi dám đến gần người bệnh phong. Không những Người đến gần mà còn đưa tay chạm vào thân mình bệnh nhân. Lòng thương yêu đã khiến Đức Giêsu dám làm tất cả. Vì thương người bệnh, Đức Giêsu đã bất chấp nguy hiểm bị lây nhiễm, đã bất chấp những điều bị coi là cấm kỵ của đạo Do Thái.

Khi chữa khỏi bệnh phong, Người đã giải thoát người bệnh khỏi những đau đớn phần xác. Từ nay anh không còn bị những vết thương hành hạ. Thân thể anh trở nên lành lặn. Da dẻ anh trở lại hồng hào tươi tắn. Khuôn mặt anh rạng rỡ. Giọng nói anh thanh tao. Anh cũng là một người như bao người khác.

Nhưng điều quan trọng hơn, đó là khi chữa anh khỏi chứng bệnh nan y, Đức Giêsu đồng thời cũng giải phóng anh khỏi những mặc cảm đè nặng tâm hồn anh bao năm tháng qua. Khi Đức Giêsu vuốt ve thân thể bệnh tật của anh. Người đã vuốt ve tâm hồn anh. Trước kia anh cảm thấy bị mọi người xa lánh. Nay anh cảm thấy qua Đức Giêsu mọi người gần gũi anh hơn bao giờ. Trước kia anh cảm thấy bị khinh miệt. Nay anh cảm thấy được trân trọng. Trước kia anh cảm thấy bị bỏ rơi. Nay, dưới bàn tay dịu hiền của Đức Giêsu, anh cảm thấy được yêu thương vỗ về. Những vết thương sâu thẳm trong trái tim anh đã liền da lành lặn. Đức Giêsu đã hồi sinh tâm hồn lạnh giá của anh.

Muốn cho mọi người chấp nhận anh tái hội nhập vào đời sống xã hội. Đức Giêsu bảo anh đi trình diện với thày cả theo như luật định. Trước kia anh bị loại trừ, bị gạt ra ngoài lề xã hội. Nay anh được bàn tay âu yếm ân cần của Đức Giêsu đón nhận anh trở lại xã hội loài người. Qua vị thượng tế, anh được công khai đón nhận. Nhân phẩm anh được phục hồi. Danh dự anh được tôn cao. Giờ đây anh có thể tự tin, vui sống giữa mọi người, như mọi người.

Chúng ta ai cũng có những mặc cảm đè nặng tâm hồn, những vết thương sâu kín, những niềm đau khôn nguôi, những nỗi buồn hầu như không ai thông cảm được. Hãy noi gương người bệnh phong chạy đến với Đức Giêsu. Người sẽ xóa đi những mặc cảm đè nặng hồn ta. Người sẽ chữa lành những vết thương bao năm gặm nhấm trái tim ta. Người sẽ xoa dịu những nỗi đau vò xé tâm tư. Người sẽ an ủi những nỗi buồn phủ kín hồn ta.

Phần ta, hãy biết noi gương bắt chước Đức Giêsu, đừng loại trừ anh em mình ra khỏi đời sống xã hội. Hãy biết đến với những anh em bị bỏ rơi. Hãy biết an ủi những anh em đang buồn khổ. Hãy biết tránh cho anh em những mặc cảm nặng nề. Hãy hàn gắn những vết thương trong tâm hồn anh em. Hãy tôn trọng danh dự và nhân phẩm của anh em. Hãy giúp cho anh em mình được hòa nhập vào đời sống cộng đoàn, đời sống xã hội. Nước ta đang quyết tâm thanh toán bệnh phong vào cuối năm nay. Xứ đạo ta cũng hãy quyết tâm thanh toán bệnh phong trong tâm hồn. Hãy diệt trừ bệnh phong chia rẽ. Hãy tẩy chay bệnh phong loại trừ. Hãy xóa đi bệnh phong phân biệt. Hãy phá tan bệnh phong nghi kỵ. Hãy bài trừ bệnh phong kết án. Nếu ta thanh toán được bệnh phong tâm hồn, thân thể xứ đạo ta sẽ liền da liền thịt, khuôn mặt xứ đạo ta sẽ hồng hào, rạng rỡ vui tươi phản ảnh được khuôn mặt đích thực của Đức Kitô.

Lạy Đức Giêsu, xin cứu độ chúng con. Amen.

CÂU HỎI GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ

1- Cha Đa-miêng và Đức cha Cát-xe đã sống với người phong và lây bệnh của họ. Có lần nào bạn đã tiếp xúc với người bị bệnh hay bị bỏ rơi chưa? Bạn có phải trả giá về hành động này không?

2- Có bao giờ bạn đã là nạn nhân bị người khác loại trừ chưa? Bạn cảm thấy thế nào? Bạn rút ra được bài học gì từ kinh nghiệm đó?

3- Bạn đã có kinh nghiệm về sự được Chúa an ủi, được Chúa cứu chữa, được Chúa tha thứ bao giờ chưa?

4- Bệnh phong tâm hồn là gì?

Về mục lục

.

CHỮA NGƯỜI PHONG

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Đọc Tin mừng của Chúa Giêsu, chúng ta nhận ra sự xuyên suốt  của sợi chỉ đỏ, giúp chúng ta hiểu được Lòng Nhân Từ  của Thiên Chúa : Vị Thiên Chúa làm người, đã tiếp xúc với mọi lớp người, đặc biệt những con người bé nhỏ, thấp hèn, những con người bị thương tổn trong xã hội, những bệnh nhân tật nguyền, những người bị quỷ ám, những con người thấp cổ bé họng vv…Chúa chữa lành mọi thứ bệnh và xua trừ ma quỷ ra khỏi nhiều người bị quỷ ám.

Thiên Chúa qua Con của Người là Đức Giêsu Kitô đã mang sứ điệp tình thương cho con người, đem bình an cho nhiều người. Sứ điệp ấy là Tin Mừng cứu độ, là sự an bình cho những người thiện chí tay sạch lòng thanh. Chúa đã cứu vớt nhiều người, những bệnh nan y, những bệnh tật mà xã hội tránh xa, nguyền rủa. Sứ điệp hòa bình hay Tin Mừng cứu rỗi cần phải được loan truyền cho nhiều người để càng nhiều người biết càng quý hóa, càng quan trọng.Tuy nhiên, hôm nay Chúa lại nghiêm cấm người được Ngài chữa bệnh phong cùi : “ Không được nói với ai và hãy đi trình diện với tư tế vì anh ta đã được chữa lành “. Bệnh phong cùi không biết đã có từ lúc nào, nhưng trong luật Môsê đã có những khoản rất tỉ mỉ qui định cho các người mắc bệnh phong cùi. Đến thời Chúa Giêsu, bệnh này vẫn còn xuất hiện trong nước Do Thái và vẫn có những khoản luật rất khắt khe đối với những người mắc bệnh phong cùi.Theo quan niệm của thời đó, người mắc bệnh phong cùi là người có tội nặng, bị phạt, bị nguyền rủa vv…Chúa Giêsu thương xót những người này, Ngài không xua đuổi, không né tránh họ, ai tới với Ngài xin Ngài chữa lành Ngài đều làm phép lạ chữa lành họ.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nghiêm cấm người phong cùi được Ngài chữa lành không được cho ai biết anh ta đã được Ngài chữa lành. Có lẽ Chúa Giêsu không muốn cho người khác hiểu mình chỉ là một lương y chữa bệnh. Bởi Ngài là Thiên Chúa và họ phải nhìn nhận, biết Ngài là Đấng Cứu Thế. Nhưng, người được chữa lành không thể giữ được điều lạ lùng, kỳ diệu anh ta nhận được nơi Chúa, do đó, vừa ra khỏi nơi Đức Giêsu chữa lành, anh ta liền nói về Người. Anh ta rao truyền, loan báo về quyền năng vô biên, tuyệt đối của Chúa Giêsu, Đấng vừa chữa lành cho anh. Anh ta loan báo, cao rao to tiếng khắp nơi, đến nỗi Đức Giêsu Kitô không thể công khai vào thành.

Chúa dạy chúng ta bài học nhớ đời :” Việc rao giảng Tin Mừng luôn cần thiết mọi nơi, mọi chỗ, mọi lúc “. Người loan báo Tin Mừng cần nhiệt thành, cần có tấm lòng quảng đại và cần có sự lắng nghe và thực hành lời Chúa.

Người loan báo Tin Mừng, giới thiệu Đức Kitô trước tiên phải là người đón nhận Tin Mừng từ Đức Giêsu và lãnh nhận sứ vụ được sai đi của Chúa. Mọi Kitô hữu chúng ta đều được mời gọi sống Lòng Thương Xót của Chúa và làm chứng cho quyền năng, sự tha thứ và con người nhân từ của Chúa. 

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết tha thiết tìm kiếm và học hỏi Ngài để khi tìm được Ngài, chúng con biết làm chứng cho Chúa bằng chính đời sống yêu thương, hiệp nhất và gắn bó với Chúa. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

  1. Tại sao Chúa lại nghiêm cấm người phong cùi được chữa lành không được noi với ai ?

2. Tư tế là ai ?

3. Phong cùi đã có thừ thời nào ?

Về mục lục

.

CÚI XUỐNG VỚI NGƯỜI KHỔ ĐAU

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Người xưa có câu: “ngước lên chẳng bằng ai nhưng cúi xuống vẫn còn hơn nhiều người”. Câu này không hàm ý để tự an ủi mình và xem thường người hèn yếu hơn mình. Câu này cha ông chỉ muốn nhắc nhở chúng ta được như vậy là tốt lắm rồi, hãy cúi xuống mà chia sẻ với những anh em nghèo khó hơn ta.

Trong hạnh các thánh ta thấy một con người đã sống như thế, đó là thánh Martino. Ngài sinh ra trong một hoàn cảnh chẳng bằng ai, một người da mầu trong một xã hội kỳ thị chủng tộc, một đứa con bị bỏ rơi, một hoàn cảnh gia đình khó khăn… thế nhưng thay vì nhìn lên để phẫn uất vì hoàn cảnh “đen đủi” của mình, Martino lại biết nhìn xuống những người nghèo khó hơn mình, và luôn thể hiện một tấm lòng bác ái, quảng đại. Nhiều lần được mẹ sai đi mua đồ lặt vặt hay đi chợ, cậu bé Martino đã giữ lại một ít tiền để bố thí cho những người nghèo khổ; cũng thế, khi là một người giúp việc trong nhà Dòng, một vị thế rốt bét nhất trong một tập thể, Martino lại vẫn biết nhìn xuống để khám phá thấy có nhiều người nghèo khổ cần giúp đỡ, nhiều người bệnh tật cần được chữa trị và chăm sóc…

Martin đã cúi xuống để khám phá ra sứ vụ của đời mình chính là chăm sóc cho những người nghèo khổ hơn. Chính vì thế mà cuộc đời của Martin trở thành cuộc đời của một người sống lòng bác ái, lòng bao dung với thái độ sẵn sàng giúp đỡ tha nhân.

Martino đã họa lại chân dung đầy yêu thương nơi Thầy Chí Thánh Giê-su. Chính Chúa Giê-su đã luôn cúi xuống mọi phận người khổ đau. Ngài thấy và chạnh lòng thương xót. Ngài cúi xuống để xoa dịu nỗi đau cho họ. Phúc âm hôm nay tường thuật việc Ngài cúi xuống với người phong hủi với lòng thương cảm sâu xa. Ngài đưa tay chạm vào thân thể lở loét của anh. Một thân thể hôi hám và dơ bẩn mà người đời đã xa tránh. Hành động này không chỉ nhằm mục đích chữa bệnh cho anh mà còn xoa dịu nỗi đau trong lòng của anh. Anh bị người đời khinh chê. Anh bị xã hội loại trừ. Người đời xếp anh vào hàng tội nhân bị Thiên Chúa giáng hoạ. Khi chạm đến thân thể anh, Chúa Giê-su cũng chạm đến tâm hồn anh. Anh được chữa lành cả hồn lẫn xác. Thân xác anh khoẻ mạnh. Danh dự của anh cũng được phục hồi. Tâm hồn anh cũng bình an và tươi vui. Từ nay anh không bị người đời xa lánh, khinh chê. Từ nay anh không còn tủi hổ vì phận số bất hạnh của mình. Qua Chúa Giê-su, anh được cộng đồng đón nhận. Nhờ Chúa Giê-su, anh được xã hội nhìn nhận. Xã hội không còn lý do để khinh chê hay loại bỏ anh ra bên lề xã hội. Giờ đây anh có thể sống tươi vui như bao con người khác trong xã hội. Anh không còn mặc cảm về bệnh tật. Anh không còn mặc cảm bị khinh chê. Anh được quyền sống như bao con người khác, được tôn trọng và yêu thương.

Trong thời đại hôm nay người ta đang nói đến hiệu ứng cách sống của Đức Thánh Cha Phanxico. Nơi Đức Thánh Cha ta thấy dường như ngài không thích ngồi trên ngai tòa của mình mà lại thích cúi xuống, đến với những con người nghèo. Ngài không ngại tiếp xúc với những người khổ đau bởi bệnh tật, nghèo đói. Ngài cúi xuống ôm hôn từng phận người bất hạnh lầm than.

Chúa Giê-su năm xưa đã đưa tay chạm đến người bệnh để chữa lành cho anh. Ngài có thể phán một lời thì bệnh tật có thể tan biến. Thế nhưng, Chúa đã sử dụng đôi tay để trao ban tình yêu và sự quan tâm trìu mến dành cho anh. Ước gì từng người chúng ta hãy biết dâng tặng cho nhau những nghĩa cử yêu thương, những lời nói dịu dàng, những hành vi bác ái và vị tha. Ước gì người ky-tô hữu luôn ân cần cúi xuống để xoa dịu mọi nỗi đau cho anh em qua việc phục vụ, bác ái dấn thân đến mọi hoàn cảnh cuộc sống, hầu xây dựng một thế giới tràn đầy tình yêu và hạnh phúc. Amen

Về mục lục

.

NẾU CHÚA MUỐN

Bông Hồng Nhỏ

Có lời ca rằng “chạm tay nhau một giây thôi là nhớ nhau cả đời.” Bàn tay truyền hơi ấm và tình thương, lưu lại những luyến thương để khi xa nhau sẽ nhớ mãi một bàn tay. Người con trai và con gái phải lòng nhau đôi khi chỉ cần một ánh mắt, một nụ cười hay một cái chạm tay nhau như lời ca trên. Hôm nay, Thầy Giêsu đã đụng vào một con người bị xã hội xem là ô uế và chữa lành cho anh. Người ấy là một người phong hủi.

Mang trong mình căn bệnh phong hủi, anh không được phép tiếp cận với mọi người nhưng phải cách li ở một nơi chỉ dành cho những sự ô uế. Ngày xưa, bệnh này không có thuốc chữa. Điều đó đồng nghĩa với việc anh phải sống với cái tiếng ô uế suốt đời và sẽ chẳng còn tia hi vọng để trở lại với cộng đồng. Người ta tránh anh như tránh tà. Vậy mà hôm nay, vượt qua nỗi sợ hãi bị xua đuổi, vượt qua mặc cảm để đến gặp Thầy Giêsu, anh đã bày tỏ ước nguyện của mình. Thầy đã đến gần đụng vào anh. Thầy chẳng sợ người ta dị nghị càng không vì chứng bệnh phong đáng kinh hãi của anh mà tránh xa nhưng Thầy vượt lên trên tất cả những nỗi sợ rất người đó. Nơi Thầy chỉ có tình yêu. Nếu ta có một tình yêu như Thầy Giêsu, ta sẽ có khả năng vượt lên trên mọi thành kiến, những sợ hãi để trao ban một tình yêu. Khi chính ta mang trong mình một căn bệnh nào đó, ta hãy can đảm tìm đến Thầy Giêsu để được chữa lành.

Khi người bạn của ta gặp đau khổ, gặp khó khăn, ta đã đến bên an ủi hay khuyên răn. Có những khi lời khuyên của ta sao trở nên vụng về quá. Đó là khi ta chưa đứng trong vị trí của người ấy, ta chưa trải qua và chưa thật sự sống kinh nghiệm của họ nên ta chẳng thể nào chạm đến con tim. Cũng có khi nỗi sợ hãi bủa vây lấy ta khi người anh chị em đang mang một chứng bệnh có thể gây ảnh hưởng đến ta. Ta hãy nhìn lại xem cách Thầy Giêsu đối xử với người phong hủi xem sao. Ta hãy theo gương Thầy, hãy đứng vào vị trí của họ, đụng vào họ theo một cách cụ thể nhất. Thầy Giêsu có thể chỉ cần đứng xa xa và truyền lệnh là anh khỏi liền nhưng Thầy đã đến gần, đụng vào anh và chữa lành anh. Thầy chữa lành căn bệnh thể xác nhưng hơn hết Thầy còn cho anh thấy, trong mắt Thầy anh vẫn là một con người đáng thương, đáng tôn trọng chứ không phải là đồ ô uế. Thầy đã sống với con người và đã trải qua những nỗi đau của kiếp người. Đó là nỗi đau bị phản bội, bị kết án oan, bị người xỉ vả và bị bỏ rơi…

Khi nhìn ngắm anh cùi nay được khỏi, ta có thể cảm  nhận niềm hạnh phúc ngập tràn trong anh. Anh đã xin điều Thầy muốn và cũng là điều anh khao khát. “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” (Mc 1, 40). Bằng tình thương và quyền năng Thầy đã chữa anh khỏi  bệnh. Anh đã tin rằng nếu Thầy muốn thì mọi sự đều có thể. Là người đang chứng kiến người thân của ta cần được giúp đỡ, ta cũng cần phải tin rằng mình có thể giúp họ chữa lành. Ta có tin mình có khả năng làm được điều ấy không? Ta có tin mình có thể vượt qua sợ hãi, có thể dùng một tấm lòng chân thành để chạm đến trái tim của họ không? Đôi khi không cần phải nói gì cả nhưng chỉ cần ta lắng nghe cách trọn vẹn, và bằng hành động cụ thể thôi. Chỉ cần phụ giúp họ một công việc khi thấy họ mệt, chỉ cần đến bên nói chuyện để họ không thấy mình bị cô lập… Chính tình yêu sẽ giúp ta làm được tất cả.

Lạy Chúa! Chúa đã chẳng ngần ngại khi đến đụng chạm vào trái tim của con. Chúa đã chẳng ngần ngại ngự vào trong tâm hồn bé nhỏ của con và yêu thương con. Chúa dạy con hãy ra khỏi mình và tập đứng vào vị trí của người khác để hiểu họ hơn, để yêu thương họ bằng những việc làm xuất phát từ trái tim. Lạy Chúa! Xin ban cho con một đức tin mạnh mẽ vào Chúa và nuôi dưỡng trong con niềm tin vào chính mình để con luôn tin rằng nhờ ơn Chúa con có đủ khả năng để yêu thương mọi người. Amen.

Về mục lục

.

CỬ CHỈ NHỎ

Anna Cỏ May

Cô bé la lên:

– Mẹ ơi, con gì nè, nó dài lắm. Nó có cắn không mẹ.

– Thì con đụng nó xem.

Cô bé trố mắt nhìn, tay cứ thụt ra thụt vào. Và cuối cùng nó đưa chân khiều một cái. Nó cuống lên:

– Mẹ ơi, nó cong tròn lại rồi

– Ùm con cuốn chiếu đụng vào là nó quấn mình lại.

–  A hay quá mẹ nhỉ!

Rồi, cô bé cứ ngồi chơi với con cuốn chiếu, mẹ làm gì thì làm.

Trong tình yêu mọi người hay nói “yêu là phải đụng tay, đụng chân”. Ở nơi đông người vô tình chúng ta đụng nhau liền nói lời xin lỗi với người xa lạ. Còn Chúa Giêsu, Ngài dùng cử chỉ ấy để chữa bệnh. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Ngài đã đụng vào người mắc bệnh phong mà nói: “Tôi muốn, anh được sạch”. (Mc1,29). Ngoài ra Ngài còn có những cử chỉ khác như Chúa Giêsu cầm lấy tay con bé, nó liền trỗi dậy. (x. Mt 9,25). Bây giờ, Người sờ mắt họ và nói: “Các anh tin thế nào thì được như vậy” (Mt 9,29). Với Chúa Giêsu, những cử chỉ ấy là sự thân thiện gần gũi, không một chút e ngại với ai, là những cử chỉ yêu thương với mọi người. Chính sự đụng chạm của Ngài nơi người mắc bệnh phong càng làm cho những người tư tế, kinh sư và dân chúng phải kinh ngạc. Bởi vì, dân Do thái thời xưa xem bệnh phong là là một căn bệnh hết sức kinh tởm, họ xa lánh với những ai mắc phải. Mặt khác, họ cho  rằng những mắc bệnh ấy là do họ ăn ở không tốt nên gặp quả báo. Vậy nên, những ai đụng hay tới gần là người đáng khinh và người đã bị lây nhiễm. Thế rồi, Chúa Giêsu lại dùng những điều ghê tởm này để nâng tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người qua sự đụng chạm, sờ nắm. Ngài lại lấy những đau đớn bệnh tật của con người vào nơi mình. Ngài nâng những con người thấp hèn lên cao và cho họ cuộc sống mới. Ngài không chỉ cho họ được lành mạnh về thân xác mà còn cho họ được vững mạnh tinh thần (x. Mc 1, 24). Đối với những người mắc bệnh phong, việc khỏi bệnh như được sống lại. Bởi đó họ sung sướng và hạnh phúc. Còn ngày nay, y học phát triển, bệnh phong đã có thuốc điều trị và bệnh nhân cũng được xã hội quan tâm hơn. Căn bệnh trong tâm hồn mỗi chúng ta mới thật kinh khủng. Vì vậy, để được chữa lành, mỗi chúng ta phải thật sự khao khát đi tìm Giêsu và cảm nhận được sự hiện diện của Ngài trong cuộc đời mình, chúng ta sẽ được chữa lành.

Lạy Chúa! Yêu thương không chỉ dừng ở những lời nói, những phần quà vật chất nhưng còn là những cử chỉ nhỏ như xoa bóp, cầm tay như Chúa đã làm cho những bệnh nhân. Tuy nhiên, đôi lúc chúng con đã vô cảm trước một người nghèo, một người bất hạnh. Xin Chúa hãy đánh thức tâm hồn mỗi người chúng con và ban cho chúng con có trái tim biết yêu tha nhân từ chính đôi bàn tay mà Chúa đã ban cho chúng con.

Về mục lục

.

PHONG CÙI

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Phong cùi lở loét rời xa,
Mọi người lẩn tránh như tà hay lây.
Gia đình lối xóm sa lầy,
Bệnh tình cắt đứt mối giây thân tình.
Thân cùi đành phải hy sinh,
Vào nơi hoang vắng, một mình sống riêng.
Tình thân kết nối thiêng liêng,
Phong cùi giết chết, nên kiêng đến gần.
Khổ đau chồng chất gian trần,
Chúa thương cứu chữa, những lần van xin.
Người cùi mở miệng cầu xin,
Chữa con lành bệnh, xin tin nơi Ngài.
Thấu lòng cầu khẩn van nài,
Tà phong lành sạch, mở khai lối về.
Sướng vui xum họp mọi bề,
Hợp đoàn dân Chúa, con thề tín trung.

Người phong cùi tìm đến Chúa Giêsu xin chữa lành. Ông van xin: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể chữa tôi lành bệnh.” Chúng ta biết rằng không ai chạy đến với Chúa mà bị từ chối sự giúp đỡ. Chúa đã chữa ông ta lành bệnh.

Theo luật Do Thái, những người bị bệnh phong cùi phải sống tách biệt, không ai được đến gần hay động chạm đến họ. Họ là những người đau khổ nhất. Họ bị bỏ rơi và bị khinh miệt, ngay cả với những người thân trong gia đình. Họ đang sống nhưng như người đã chết. Căn bệnh kinh khủng rỉa mòn thân xác mỗi ngày. Họ từ từ bị rụng các ngón tay, ngón chân, tai, mũi…

Họ bị xua đuổi và tự sinh sống nơi hoang địa. Phải tự lo cho cuộc sống riêng của mình. Số phận của họ thật là nghiệt ngã. Họ có thể bị ném đá, nếu mon men đến gần các thầy tư tế hoặc nhà chức trách để xin ân huệ.

Hôm nay, người phong cùi tiến gần tới Chúa Giêsu với tấm lòng khiêm cung. Họ nhận biết quyền năng của Chúa. Chúa Giêsu đã trìu mến thương cảm đón tiếp họ. Chúa chữa lành bệnh hoạn cả thể xác lẫn tinh thần. Chúa tỏ lòng thương xót và yêu mến. Chúa đã chạm đến thân xác cùi hủi của họ.

Ngày nay, trong xã hội vẫn còn nhiều người mắc chứng bệnh phong cùi. Họ cũng phải tách lìa cộng đoàn và sống riêng rẽ nơi trại phong. Họ cùng tụ họp để tự lo lắng, bảo vệ và nâng đỡ nhau trong cuộc sống. Họ ít đi lang thang để xin ăn. Họ chỉ chờ đợi lòng thương xót đến từ những nhà hảo tâm. Có nhiều trại phong được các tâm hồn quảng đại giúp đỡ. Có những người đã hy sinh cuộc đời đến ở bên họ để chăm sóc, nâng đỡ và ủi an.

Đôi khi chúng ta cũng mang những loại bệnh cùi hủi trong tâm hồn. Chúng ta cũng cần nài xin Chúa: Nếu Chúa muốn, xin Chúa chữa lành cho chúng con khỏi mọi bệnh hoạn tật nguyền. Chúng ta là con Chúa. Được mang hình ảnh của Chúa. Hãy mở rộng tay chia xẻ cho những anh em cùng khổ và kém may mắn. Chúa yêu thương và đón tiếp họ.

Xin Chúa cho chúng ta tâm hồn quảng đại để cùng cảm thông và giúp đỡ những người kém may mắn với lòng yêu thương và tôn trọng.

Về mục lục

.

LÒNG TRẮC ẨN

Ai đó đã nói rằng: “Yêu thương và lòng trắc ẩn là những thứ thiết yếu trong cuộc đời. Không có yêu thương và lòng trắc ẩn, nhân loại không thể tồn tại”. Thực vậy! Nhờ yêu thương và lòng trắc ẩn, mà con người mới dành cho nhau những nghĩa cử cao đẹp của tình người, tình đồng loại. Nhờ yêu thương và lòng trắc ẩn, con người mới tìm cách làm cho thế giới này bớt khổ hơn. Chuyện kể rằng: Một buổi sáng mùa thu, trời se se lạnh. Người đi đường thấy một bà cụ bưng rổ rau đi bán. Khi đi ngang qua cô gái, bà cụ yếu ớt rao: “Ăn hộ tôi mớ rau, cô ơi!” Đáp lại lời bà cụ, là tiếng chan chát của cô gái: “Rau thế này mà bán cho người ăn à? Bà mang về cho heo!” Chàng thanh niên đi bên kia đường vội cau mày. Đợi cô gái đi khỏi, anh liền hỏi bà: “Rau này bà bán bao nhiêu?” Bà cụ mừng rỡ: “Hai ngàn một mớ!” Chàng rút tờ mười ngàn đưa cho cụ và nói: “Bây giờ con phải đi làm. Bà cho con gửi, đến chiều con về qua đây, con lấy!” Nhưng công việc bề bộn đã khiến chàng trai kia quên luôn cả mớ rau. Vài tuần sau khi trở lại, anh đau xót nghe tin: Chỉ vì đợi anh trong cơn mưa suốt buổi chiều hôm đó, mà bà cụ kia đã bị cảm lạnh và vĩnh viễn ra đi. Anh thẫn thờ ngồi bệt bên vệ đường, ôm mặt khóc. Câu chuyện trên có thực hay không, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là trong xã hội này, chúng ta cần lắm những tấm lòng trắc ẩn như chàng trai kia. Anh đã mua mớ rau của bà, như là mua niềm vui để tặng cho bà, vì có ai đó đã cảm thông và lắng nghe lời van xin của bà. Cái chết của bà có thể chỉ là một tai nạn. Tuy rất buồn, nhưng điều quan trọng, là trong xã hội vẫn còn đó lòng trắc ẩn yêu thương dành cho nhau. 

Đọc lại Tin mừng, ta luôn thấy tấm lòng trắc ẩn của Chúa Giêsu. Lòng trắc ẩn ấy không dừng lại ở sự cảm thông, mà còn bằng hành động cụ thể, để xoa dịu nỗi đau cho tha nhân. Chẳng hạn: Chúa đã trắc ẩn trước đoàn lũ đói khát đang đi theo Ngài. Chúa đã trắc ẩn trước cái chết của Lagiarô. Chúa đã trắc ẩn trước những nỗi đau của những người mang bệnh tật trong mình. Chúa còn đồng hóa mình với những phận người kém may mắn trong cuộc sống. Chúa đã làm tất cả những gì trong khả năng, để xoa dịu nỗi đau cho những ai đến với Chúa. Hôm nay, lòng trắc ẩn của Chúa đã dành cho người phong cùi. Thái độ của Chúa Giêsu khi đưa tay chạm đến người phong cùi, như muốn nói rằng: tấm lòng của Chúa luôn vượt qua mọi rào cản, để đụng đến con tim của người đau khổ. Một người bị bỏ rơi, nay được Chúa trìu mến quan tâm. Một người bị loại ra khỏi xã hội loài người, nay được Chúa chữa lành, để có thể hội nhập với mọi người. Tình thương và lòng trắc ẩn của Chúa đã cứu sống một con người, đã mang lại niềm vui hạnh phúc cho người bất hạnh đang mang trong mình căn bệnh trầm kha. 

Cuộc đời sẽ đẹp biết bao, khi mọi người có lòng trắc ẩn với nhau. Lòng trắc ẩn sẽ mách bảo cho ta biết mình phải làm gì, để xoa dịu nỗi đau. Lòng trắc ẩn là nhịp cầu dẫn ta đến với tha nhân. Lòng trắc ẩn khiến ta không còn dửng dưng với những mảnh đời bất hạnh bên ta. Nhưng đáng tiếc, thế giới ta đang sống có quá nhiều người vô cảm, dửng dưng với đồng loại. Họ chủ trương “mackeno” cho an phận. Dường như con người ngày nay đang đánh mất đi tình liên đới, để chỉ còn sống cho bản thân. Lòng trắc ẩn xem ra càng ngày càng quí hiếm. Vì thế con người hôm nay tuy sống giữa biển người bao la, nhưng vẫn rất cô đơn.

Xin Chúa giúp ta biết cởi bỏ vỏ bọc ích kỷ, để sống chan hòa tình yêu với tha nhân. Xin cho ta biết trao cho nhau những nghĩa cử yêu thương, thay cho những thái độ thờ ơ lạnh nhạt. Xin cho ta biết học nơi Chúa luôn có lòng trắc ẩn và phục vụ tha nhân.

Ave Maria

Về mục lục

.

CHỮA MỘT NGƯỜI CÙI

Lm Carolo

  1. Vấn đề

    Chuyện này có 2 chi tiết rất khó hiểu: 1/ Vừa mới chữa bệnh cho người cùi, Đức Giêsu lại nghiêm khắc “đuổi” anh; 2/ Phần người cùi, mặc dù Đức Giêsu đã cấm anh đừng nói với ai, nhưng vừa ra đi anh liền loan báo khắp nơi.

    Thực ra ta có thể hiểu 2 chi tiết trên nếu dùng ánh sáng phục sinh.

  1. Giải thích

c 40 – Một cách đột ngột không cần giới thiệu thời gian, nơi chôn và tên tuổi. Mc cho xuất hiện ngay nhân vật của câu chuyện: một người cùi đến van xin Đức Giêsu cứu chữa.

    – Muốn hiểu thái độ khẩn thiết này của anh, ta hãy nhớ lại quan niệm xã hội về bẹnh cùi: Cựu Ước xem bệnh cùi là một bệnh gớm ghiếc phần xác, là bằng chứng của tội lỗi và dấu chỉ bị Thiên Chúa trừng phạt. Vài Rabbi đương thời của Đức Giêsu còn cho rằng bệnh này là hình phạt cho 7 thứ tội đầu là vu khống, sát nhân, trộm cắp và hà tiện. Về mặt thể lý, bệnh này tàn phá dung mạo nạn nhân khiến họ trở thành gớm ghiếc đến nỗi khi gặp họ, người ta không dám nhìn, phải che mặt lại. Ngoài ra nó còn lây lan nữa. Bởi thế người ta xa lánh bệnh nhân, ngay cả liaạt Môsê cũng khai trừ bệnh nhận ra khỏi xã hội (Lv 13,45-46). Như thế người cùi được xem là một “xác chết biết đi”, một ổ “ô uế” hay lây. Chỉ có một mình hiên Chúa mới chữa khỏi được bệnh này (xem chuyện Miriam em gái Môsê ở Ds 12,1-16).

    – Khi người cùi nói với Đức Giêsu rằng “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể cho con được sạch”, anh ta tỏ ra tin tưởng Đức Giêsu có uy quyền Thiên Chúa ấy.

c 41 – Thái độ của Đức Giêsu phải khiến ta ngạc nhiên: Ngài dám đưa tay chạm vào người cùi vốn bị dư luận và luật cũ coi là đồ không được chạm đến.

c 42 – Hiệu quả xảy ra tức thì. Lời của Đức Giêsu là lời của Thiên Chúa: Ngài phán thì liền có.

c 43 – Trước đó Đức Giêsu đã “động lòng thương” thế mà  ngay sau khi chữa anh này hết bệnh. Ngài đổi thái độ liền: nghiêm khắc bảo anh đi ngay. Động từ Hy lạp ở đây không chỉ là “bảo đi” mà chính là “đuổi đi”, cùng một động từ được Mc dùng trong những tường thuật đuổi quỷ (1,34-39  3,15-22  6,13.v.v…)

c 44 – Đức Giêsu còn dặn anh chớ nói với ai. Thái độ nghiêm khắc này là bó buộc để bảo vệ bí mật Messia. Người ta chỉ hiểu được nó trên thập giá.

    – “Nhưng hãy đi trình diện với tư tế”: Lv 14,1-9 cho tư tế quyền xác nhận một người đã khỏi bệnh cùi và được phép trở lại tham gia sinh hoạt cộng đoàn. Đức Giêsu bảo anh này đi trình diện tư tế vì những lý do:

1/ để anh được kẻ có thẩm quyền xác nhận nhờ đó anh được tham gia sinh hoạt cộng đoàn.

2/ Qua sự xác nhận chính thức ấy Đức Giêsu cũng được dân chúng hiểu Ngài là Đấng Messia đã từ lâu mong đợi.

c 45 – Nhưng anh này không tuân lệnh, lại đi “loan truyền” khắp nơi. Ở đây Mc đã vượt khỏi thời gian lúc đó để nhảy sang thời gian của GH, khi mà bí mật Messia được phép bật mí. Mc muốn đưa anh cùi này ra để làm gương cho mọi tín hữu cũng phải “loan truyền” Tin Mừng.

    – Nhưng liền sau đó, Mc quay trở lại thời gian của câu chuyện: do tiếng đồn đã lan rộng nên Đức Giêsu không thể công khai vào thành, mà phải ở ngoài nơi thanh vắng. Dù vậy thiên hạ từ khắp nơi vẫn đến với Ngài.

  1. Kết luận

Đầu câu chuyện là một người cô độc bị loại khỏi cuộc sống cộng đoàn. Người ấy đã chạy đến xin Đức Giêsu cứu giúp. Cuối câu chuyện là cả một đám đông chạy theo Đức Giêsu. Nhưng đám đông ấy – cũng như độc giả – vẫn còn phải tự hỏi: Giêsu là ai?

Về mục lục

.

MẸ NÂNG ĐỠ CÁC BỆNH NHÂN

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Mở đầu Sứ điệp ngày Thế Giới các bệnh nhân 2018, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ngỏ lời với các bệnh nhân và với những người phục vụ: “Anh chị em thân mến, việc phục vụ của Giáo hội cho các bệnh nhân và cho những ai chăm sóc họ phải luôn được tiếp tục canh tân mạnh mẽ, trong sự trung thành với sứ mệnh của Thiên Chúa (x. Lc 9: 2-6; Mt 10: 1-8; Mc 6: 7-13) và noi theo mẫu gương rất hùng hồn của Đấng sáng lập và là Tôn sư. Năm nay chủ đề của Ngày Thế Giới Bệnh Nhân được giới thiệu cho chúng ta lấy từ lời của Chúa Giêsu, khi bị treo trên thập giá, Người đã nói với Mẹ của mình là Đức Maria và thánh Gioan: “Này là con bà…. Này là Mẹ con”. Và từ giờ đó môn đệ đón Mẹ về nhà mình” (Ga 19,26-27).

Trên thập giá, Chúa Giêsu đã lo lắng cho Giáo hội và toàn thể nhân loại, và Đức Maria được mời gọi chia sẻ chính sự lo lắng ấy… (số 1). Mẹ là người mẹ yêu thương và sinh ra những đứa con có khả năng yêu thương theo lệnh truyền của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, ơn gọi làm mẹ của Đức Maria là chăm sóc cho các con cái của Mẹ, qua thánh Gioan và toàn thể Giáo hội. Toàn thể cộng đoàn các môn đệ được mời gọi tham dự vào ơn gọi làm mẹ của Đức Maria (số 2).

Ơn gọi hiền mẫu này của Giáo hội hướng đến những người túng thiếu và bệnh tật được cụ thể hóa, qua 2000 năm lịch sử, qua hàng loạt những sáng kiến phong phú hữu ích cho các bệnh nhân. Không bao giờ được quên lịch sử về sự cống hiến này. Lịch sử ấy vẫn tiếp tục cho đến ngày nay, trên toàn thế giới (số 4).

Ngày thế giới các bệnh nhân sẽ được cử hành vào ngày 11.2.2018, lễ nhớ Đức Trinh Nữ Maria Lộ Đức. Những ai phục vụ bệnh nhân, hãy noi gương Đức Giêsu, luôn gần gũi, thăm viếng và chữa lành các bệnh nhân và hãy cầu nguyện : “Xin Mẹ giúp các bệnh nhân biết sống kết hiệp sự đau khổ của mình với Đức Giêsu, và xin Mẹ nâng đỡ những ai đang chăm sóc họ”.

Đọc Phúc Âm, chúng ta thấy Chúa Giêsu luôn tỏ ra đặc biệt quan tâm tới những người yếu đau. Nhiều câu chuyện chữa lành tuyệt vời được kể lại: “Thiên hạ đem đến cho người mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền, những kẻ bị quỷ ám, kinh phong, bại liệt và Người đã chữa họ.” (Mt 4, 24); “Chúa Giêsu trên núi đi xuống, đám đông lũ lượt đi theo Người. Và kìa, một người phong hũi tiến lại…Người giơ tay đụng vào anh và bảo, tôi muốn, anh sạch đi. Lập tức, anh được sạch bệnh phong hủi.” (Mt 8, 1-3); “Chúa Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường của họ, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa các bệnh hoạn tật nguyền.” (Mt 9, 35)…

Quan niệm của Cựu Ước cho rằng bệnh gắn liền với tội. Bệnh tật như là một sự trừng phạt bởi tội lỗi gây ra. Vì thế, người ta xa lánh bệnh nhân, nhất là bệnh phong cùi. Đó là một bệnh nan y bị mọi người kinh tởm, không chỉ vì sự dơ bẩn “ô uế theo luật Do thái”, hay lây nhiễm, mà còn bị xa lánh như xa lánh kẻ tội lỗi.

Trong Đạo Do Thái, người mắc bệnh phong bị gạt ra ngoài lề xã hội. Họ không được sống chung với thân nhân trong xóm làng. Họ bị xua đuổi vào trong rừng núi hay trong sa mạc. Họ phải ăn mặc rách rưới. Đi đến đâu phải kêu lên: “Ô uế, ô uế”, cho mọi người biết mà tránh xa. Ai tiếp xúc với người bệnh phong đều bị coi là ô uế. Ai đụng chạm vào người bệnh phong bị coi như người mắc tội rất nặng. Chẳng ai dám đến gần người bệnh phong.

Người bệnh như thế, không những bị những vết thương trên thân xác hành hạ đau đớn mà còn bị những nỗi đau, nỗi nhục trong tâm hồn dằn vặt khổ sở. Họ bị xã hội khinh khi loại trừ. Họ bị một mặc cảm chua chát dày vò. Nhân phẩm không được tôn trọng, họ sống mà coi như đã chết.

Tin Mừng Chúa Nhật VI kể câu chuyện: Chúa Giêsu đã vượt qua những biên giới cấm kỵ khi đến gần người bệnh phong. Người còn đưa tay chạm vào thân mình lỡ loét ấy. Lòng thương yêu đã khiến Chúa Giêsu làm tất cả. Vì thương người bệnh, Chúa Giêsu đã bất chấp những điều được coi là cấm kỵ của Đạo Do Thái.

Khi chữa khỏi bệnh phong, Chúa Giêsu giải thoát người bệnh khỏi những đau đớn phần xác. Từ nay, anh không còn bị những vết thương hành hạ. Thân thể anh trở nên lành lặn. Da dẻ anh trở lại hồng hào tươi tắn. Khuôn mặt anh rạng rỡ.

Khi chữa khỏi bệnh phong, đồng thời Chúa Giêsu cũng giải phóng anh khỏi những mặc cảm đè nặng tâm hồn bao năm tháng qua. Khi chạm đến thân thể anh thì Người cũng chạm đến tâm hồn anh. Trước kia anh cảm thấy bị mọi người xa lánh, nay qua Chúa Giêsu anh cảm thấy mọi người gần gũi thân thương. Trước kia anh cảm thấy bị khinh miệt, nay anh cảm thấy được trân trọng. Trước kia anh cảm thấy bị bỏ rơi, nay anh cảm thấy đựoc yêu thương vỗ về.

Muốn cho mọi người chấp nhận anh tái hội nhập vào đời sống xã hội, Chúa Giêsu bảo anh đi trình diện với Thầy Cả theo luật định. Trước kia anh bị loại trừ, bị gạt ra bên lề xã hội, nay anh được đón nhận anh trở lại với xã hội loài người. Nhân phẩm được phục hồi, danh dự được tôn trọng. Giờ đây anh có thể tự tin, vui sống giữa mọi người như mọi người.

Chúa Giêsu đã chữa lành thể xác và tâm hồn của người bệnh phong. Chính thái độ tin tưởng, đơn sơ của anh đã chạm đến lòng thương xót của Chúa. Phép lạ phát sinh từ lòng tin của bệnh nhân và từ ý muốn đầy quyền năng của Chúa Giêsu.

Có một môn đệ theo gương Thầy Chí Thánh đã đến ở giữa người cùi, cùng sống và đã chết giữa họ. Đó là Cha Đamiên “Tông Đồ người hủi”. Ngài đã được Giáo Hội phong Thánh. Trong cuốn sách “Những người lữ hành trên đường hy vọng”, Đức Hồng Y FX.Nguyễn Văn Thuận đã kể chuyện cuộc đời Cha Đamien.

Molokai, quần đảo xa xăm ấy nằm cô đơn giữa lòng Thái Bình Dương mênh mông. Trên đảo toàn là người hủi: cụt tay, đứt chân, mắt đui, môi lở, răng rụng… Một hôm, Đức Giám Mục đặc trách quần đảo này gióng tiếng kêu gọi các Linh Mục ở Âu Châu tình nguyện hy sinh sang đó phục vụ. Một Linh Mục trẻ, đẹp trai, thông minh, khoẻ mạnh hăng hái đáp lời. Đó là Cha Đamien, người về sau được thêm biệt danh: “Tông Đồ người hủi”.

Chiều hôm đó, trong Nhà Thờ ở đảo Molokai đông nghẹt những người hủi da ngăm đen với mùi hôi tanh nồng nặc, Đức Giám Mục đứng trên Bàn Thờ quay xuống giới thiệu với Giáo Dân: “Các con thân mến, các con hằng mong ước có một Linh Mục đến cùng các con, thì đây, cha Đamien, một Linh Mục người Bỉ sẽ sống chung với các con từ nay cho đến chết. Các con có sung sướng không ?”

Cả Nhà Thờ xôn xao, thì thầm to nhỏ. Cha Đamien đứng cạnh Đức Giám Mục chẳng hiểu tý nào. Rồi họ từ từ tiến lên Cung Thánh, dáng điệu chất phác đơn sơ. Cha Damien càng nhìn thấy họ đến gần mình thì càng sởn tóc gáy. Họ trông như những thây ma còn sống, như những quái thai mất hẳn dáng người. Họ làm gì đây ? Họ tiến đến bên cha sờ vào mặt, vào tay, vào áo cha…

Cha hỏi Đức Giám Mục: “Thưa Đức Cha, họ làm gì thế ? Họ nói gì thế ?” Đức Cha trả lời: “Họ nói, họ không thể tưởng tượng được một người ở phương xa, chẳng bà con huyết thống gì với họ, còn trẻ, đẹp trai, không bệnh tật như cha, tự nhiên lại đến phục vụ họ trên mảnh đất khốn cùng này. Họ không tin mắt mình nên mới đến sờ mó vào người cha, xem thử cha có thực sự bị phung hủi như họ không. Rồi họ nói với nhau: “Không, Cha đẹp quá!”.

Dần dần, cha Đamien hoà đồng được với họ. Ngài không còn cảm thấy tởm gớm họ như ngày đầu. Nói đúng hơn, ngài quá yêu Chúa Giêsu bị bỏ rơi trong họ nên chẳng còn thấy e sợ, gớm ghiếc chi. Một ngày kia, đến lượt cha cũng bị mắc bệnh phong hủi. Thân hình cha lở loét, nhức nhối. Mặt mày cha sù sì, đen đủi, u nần trông rất dễ sợ.

Một số báo ở Bỉ đăng hình cha Đamien để mô tả sự hy sinh vĩ đại của cha. Bà cụ thân sinh của cha mắt mờ không đọc được, nhìn vào bức hình cũng chẳng nhận ra nổi người con yêu. Bà hỏi các con trong gia đình: “Hình ai đây mà trông mà trông ghê sợ vậy ?” Các con đều trả lời mẹ: “Thưa mẹ, đó là một trong những người hủi trên đảo Molokai của anh Đamien đấy”. Qua mặt được bà cố, nhưng họ lại nhìn nhau và không ai bảo ai, tất cả đều xót xa rơi lệ… Cha Đamien đã sống với người hủi cho đến chết. Tình yêu Chúa đã giúp cha hy sinh suốt đời vì họ.

Ở Việt Nam có hai trại cùi lớn: trại Di Linh trên đường lên Đà Lạt và trại Quy Hoà ở ngoại ô thị xã Quy Nhơn. Đức Cha Jean Cassaigne đã gắn bó với anh em dân tộc K’Hor ở Di Linh bị phong cùi một thời gian dài, rồi sau 15 năm làm Tổng Giám Mục Sài gòn, đã lại xin tình nguyện quay trở về sống giữa những người bệnh cùi ở Di Linh. Ngài sống với họ thêm 18 năm rồi lây bệnh và qua đời năm 1973. Trái tim của người Việt Nam và cả thế giới đều rung cảm, ai cũng cảm phục tấm gương chứng nhân của ngài.

Cha Paul Mahu, một Linh Mục người Pháp đã từ giã quê hương với cuộc sống tiện nghi đến sống giữa những người cùi ở Quy Hoà cho đến chết. Xác ngài được chôn cất ngay giữa làng cùi bên cạnh những người ngài thương yêu nhất.

Ngày nay các Giáo Xứ khắp nơi gần xa thường tổ chức hành hương đến Di Linh, Quy Hoà để viếng mộ Đức Cha Cassaigne và Cha Mahu, thăm viếng và tặng quà cho các bệnh nhân.

Các Nữ Tu của các Dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn và Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ đã đến sống phục vụ giữa những người bị xã hội xa lánh loại trừ. Chính tình yêu Chúa Kitô đã thúc đẩy các môn đệ đến sống với họ, yêu mến họ, chăm sóc phục vụ họ.

Chúa Giêsu đã cúi xuống, sờ đến người cùi và họ liền được lành sạch. Các môn đệ của Chúa cũng sờ vào người cùi, sống với người cùi đem lại cho họ tình thương, bình an và niềm vui.

Tinh thần dấn thân phục những người cùng khổ mang một ý nghĩa Tin Mừng sâu xa như lời Đức Thánh cha Bênêđictô trong Sứ điệp ngày Thế giới các bệnh nhân 2012: “Sự quan tâm và chăm sóc mục vụ cho các bệnh nhân, một đàng là dấu chỉ sự dịu hiền của Thiên Chúa đối với người đang đau khổ, và đàng khác mang lại lợi điểm tinh thần cho cả các Linh mục và toàn thể cộng đoàn Kitô, với ý thức rằng những gì được làm cho người bé nhỏ nhất, chính là làm cho Chúa Giêsu” (số 3).

Để phục vụ bệnh nhân theo đức ái Kitô giáo, Đức Thánh cha Phanxicô mời gọi hãy sống niềm tín thác: “Chúa Giêsu đã để lại nơi món quà dành cho Giáo hội quyền năng chữa lành của Người: “Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin… nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ (Mc 16,17-18). Chúng ta đọc thấy trong sách Tông đồ Công vụ diễn tả những hoạt động chữa lành của thánh Phêrô (Cv 3,4-8) và của thánh Phaolô (Cv 14,8-11). Món quà của Chúa Giêsu thích hợp với nhiệm vụ của Giáo hội. Giáo hội biết rằng phải mang vác trên mình các bệnh nhân với cái nhìn đầy âu yếm và từ bi của chính Chúa. Mục vụ chăm sóc sức khỏe vẫn còn và luôn là nhiệm vụ thiết yếu và cần thiết, sống động với một đà tiến được đổi mới khởi đi từ các giáo xứ cho đến những trung tâm chăm sóc sức khỏe tốt nhất”. (số 6).

“Lạy Đức Maria, Mẹ hiền diệu, chúng con muốn phó dâng tất cả các bệnh nhân trong thể xác và tinh thần, để Mẹ nâng đỡ họ trong niềm hy vọng. Chúng con cũng xin Mẹ giúp chúng con biết đón nhận các anh chị em bệnh nhân”. (Số 7).

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 6 THƯỜNG NIÊN_B

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

Tất cả những phép lạ mà Chúa Giêsu thực hiện, những phép lạ chữa lành đều biểu lộ Tình thương đầy quyền năng của Thiên Chúa và nói lên sứ mạng Thiên sai của Đức Giêsu. Thánh sử Marco đưa ra một loạt phép lạ chữa lành của Chúa Giêsu. Ngài đến để giải thoát con người khỏi ách thống trị của tội lỗi và ma quỷ, xoa dịu nỗi khổ đau của con người.

Trong bài Tin mừng Chúa nhật VI hôm nay, Chúa Giêsu chữa lành một người bị bệnh phong cùi, một việc chữa lành rất đặc biệt. Anh đến với Chúa Giêsu, quỳ gối nài xin: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể cho con nên lành sạch”. Chúa Giêsu động lòng thương, Người đưa tay chạm đến anh và nói: “Ta muốn anh được sạch”. Việc chữa lành này xảy ra thật nhanh chóng.

Theo luật xưa trong đạo Do Thái, bệnh phong không những được xem là một căn bệnh thể lý, mà còn là một hình thức nhơ uế trầm trọng xét về mặt tôn giáo. Người bị bệnh phong đau đớn về thể xác thì ít, nhưng đau khổ về mặt tinh thần thì nhiều: bị cách ly với cộng đoàn xã hội, với người thân, bị coi là người bị Thiên Chúa phạt, bị mắc tội “bị nhơ uế”, bị mọi người loại trừ và xa lánh. Như thế bệnh phong cùi được xem là một cái chết về mặt tôn giáo và dân sự, xã hội và việc người phong  được chữa lành là một hình thức được phục sinh, được hồi sinh…

Người phong cùi đến với Đức Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu không xua đuổi anh, không xa lánh anh, trái lại Ngài đón nhận anh, tiếp xúc với anh, ân cần đối thoại với anh, thông cảm, thương mến anh, tôn trọng anh. Điều lý thú nhất trong câu chuyện là cách Chúa Giêsu đối xử với anh: Ngài đưa tay đụng vào anh. Như thế Ngài đã phạm luật và bị mắc nhơ uế… Tình thương vượt qua mọi ranh giới lề luật để rồi Chúa Giêsu chữa lành anh và dạy chúng ta phải tôn trọng và yêu mến con người, bởi tất cả đều là con Thiên Chúa. Đụng chạm đến người phong, Đức Giêsu muốn sửa chữa sự lệch lạc thiếu tình thương thông cảm của lề luật Do Thái. Qua việc đặt tay của Chúa Giêsu, con người được tiếp xúc thần tính của Người vì thế mà bệnh phong biến mất và anh ta được sạch.

M.Carré nói: “Sống trong một thế giới đầy đau khổ, nước mắt, thì chúng ta phải là những nhà chuyên môn của niềm tin tưởng cậy trông”. Đối với anh bệnh phong, trong lúc đau đớn tột cùng nơi thân xác vì bị vi trùng Hansen gặm nhấm, trong lúc tâm hồn tan nát vì mọi người kinh tởm xa lánh, chính trong lúc đau khổ vô cùng, anh lại hoàn toàn tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa và phó thác trọn vẹn cho tình yêu của Người. Vì thế, Đức Giêsu chỉ còn biết rộng rãi trao ban tình yêu của Người để làm phát sinh hiệu quả kỳ diệu là cho anh được lành lại cả thể xác lẫn tâm hồn.

Bài học mà Chúa muốn chúng ta bắt chước anh phong cùi là tin tưởng và phó thác vào quyền năng của Thiên Chúa. Như lời của G. Bossis: “Hãy tin và tin nhiều hơn nữa cho đến khi xảy ra phép lạ”.

Thánh Phanxico Salesio nói: “Chúng ta sẽ an toàn vươt qua giông tố, bao lâu niềm tin của chúng ta còn gắn chặt vào Thiên Chúa”.

Các sách Tin mừng trình bày Đức Giêsu luôn làm 2 việc: Chữa lành và rao giảng Tin mừng. Hai việc làm này liên kết và hỗ trợ cho nhau tạo nên một sứ điệp duy nhất về niềm hy vọng và ơn cứu độ. Đức Giêsu vừa rao giảng vừa chữa bệnh. Việc chữa bệnh hổ trợ cho việc rao giảng. Như vậy là một cách rao giảng Tin mừng.

Người phong cùi trong bài Tin mừng được chữa bệnh mà còn được đón nhận Tin mừng. Sau khi được khỏi bệnh, chính anh lại trở thành kẻ loan báo Tin mừng. “Đi khỏi nơi đó, anh liền cao rao và loan truyền tin đó… và người ta khắp nơi tuôn đến cùng Người”.

Những thực hành cụ thể mà Chúa Giêsu muốn chúng ta phải sống:

– Tin tưởng vào tình thương đầy quyền năng của Thiên Chúa.

– Tôn trọng, yêu mến những anh em đau bệnh, nghèo khổ và tận tình giúp đỡ những người cần đến chúng ta.

– Luôn cảm tạ hồng ân Thiên Chúa và loan báo Tin vui cho mọi người như anh bệnh phong trong bài Tin mừng.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 6 THƯỜNG NIÊN_B.

Lm. Đinh Tất Quý

  1. Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa chữa cho một người mắc bệnh phong.

Xưa cũng như nay, người mắc bệnh phong là những người bất hạnh trên đời, bởi vì họ không còn có thể sống gần gũi với mọi người nhất là họ phải chấp hành một cách hết sức nghiêm ngặt các qui định của Luật đối với họ – Luật buộc họ phải sống cách ly với mọi người. 

Sử gia Do Thái Josephus cho biết những người mắc bệnh phong “bị coi như là đã chết”. Một khi một ai đó được chẩn đoán là đã mắc bệnh phong thì tức khắc người đó sẽ bị khai trừ hoàn toàn ra khỏi cuộc sống của xã hội loài người. Sách Lv 13,45-46: “Người mắc bệnh phong phải mặc áo rách, để tóc xõa, không được cạo râu và phải kêu lên: “Ô uế! Ô uế !” khi có người đến gần mình. Bao lâu còn mắc bệnh, thì nó ô uế và nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại” 

Vào thời Chúa Giêsu thì người phong còn bị đối xử khắc nghiệt hơn: Họ bị cấm không được ở trong thành Giêrusalem và bất cứ thành phố nào có tường bao bọc. 

Luật pháp còn liệt kể ra sáu mươi mốt trường hợp bị coi là ô uế đối với những ai tiếp xúc với người phong, và sự ô uế này chỉ đứng sau sự ô uế vì đụng vào xác chết. 

Luật còn qui định: Nếu người phong thò đầu vào nhà nào thì nhà đó bị ô uế đến tận cây kèo trên mái. Không ai được phép chào hỏi người phong ở ngoài đường và không được đến gần người phong trong khoảng cách hai mét. Nếu người phong đứng ở đầu gió người ở cuối gió phải giữ một khoảng cách bốn mươi lăm mét. Ngay cả một quả trứng, các rabi Do Thái cũng không ăn nếu bán ở chợ có người mắc bệnh phong đi qua. 

Vâng! Có lẽ không có bệnh nào lại tạo nên hố phân rẽ giữa con người với con người khắc nghiệt như thế.

Riêng người phong trong bài Tin Mừng hôm nay thì chúng ta thấy có một cái gì khá đặc biệt.

Anh tự ý đến gặp Ðức Giêsu và quỳ xuống trước mặt Ngài.

Lời van xin của anh thật là một lời xin mẫu mực.

“Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”(Mc 1,40).

Nếu Ngài muốn: anh mời gọi lòng thương xót của Chúa.

Anh để cho Chúa tự do chữa hay không chữa cho anh là tùy ý Ngài.

Dù rất muốn khỏi bệnh, nhưng anh đã phó thác số phận mình đời mình cho ý muốn của Chúa.

Anh tin là Ngài có thể. Anh tin vững vàng như thế.

Chính thái độ tin tưởng, đơn sơ, phó thác của anh đã đụng rất mạnh đến cõi lòng yêu thương sâu thẳm của Chúa Giêsu.

Dường như khi nghe được những lời đó, Chúa Giêsu đã không thể cưỡng lại được. Chúa nói: “Tôi muốn.”(Mc 1,41)

Hơn nữa, không những Ngài chỉ muốn, mà còn đụng vào anh.

Bàn tay Ngài đụng vào da thịt của một con người đầy những vết thương.

Ngài không bị ô uế, nhưng Ngài làm cho anh hết ô uế.

Làm như thế xem như Ðức Giêsu vừa tự do với Lề Luật, vừa lệ thuộc Lề Luật.

Tự do vì Ngài đã vượt lên trên lề luật để làm một điều bị lề luật cấm kỵ.

Vẫn còn giữ lề luật bởi vì Ngài bảo anh đi trình diện với tư tế và dâng của lễ.

  1. Có hiểu như thế chúng ta mới thấy trường hợp người phong trong bài Tin Mừng hôm nay thật là may mắn.

Tin Mừng không cho chúng ta thấy anh đã được biết Chúa từ bao giờ. Nhưng qua những lời anh ta thưa với Chúa, chúng ta có cảm tưởng là anh đã được biết Chúa và tin vào Chúa từ lâu rồi. 

“Lạy Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi nên sạch” (Mc 1,40) 

Hơn nữa thái độ của anh ta đối với Chúa thật táo bạo. Anh đã coi thường mọi cấm kỵ của luật pháp và khi chạy đến với Chúa quả thực anh ta đã làm một việc hết sức liều lĩnh. 

Người phong liều lĩnh nhưng Chúa Giêsu còn liều lĩnh hơn. Ngài cũng đã vượt qua mọi cấm kỵ của Luật pháp và đến với anh. Chúa đã sờ vào con người của anh. Đối với người Do Thái, không có câu nào khiến người ta phải giật mình bằng câu ghi “Đức Giêsu giơ tay sờ đến người phong.” 

Tại sao Chúa làm thế? Thưa vì Chúa thương anh. Chỉ bằng một lời nói thật vắn gọn: Ta muốn, Chúa đã trả lại cuộc sống bình thường cho anh.

Lòng tin của anh đã giúp anh chiến thắng.

Chúa đã trả lại cho anh niềm hy vọng

Đó là câu chuyện của bài Tin Mừng, của người mắc bệnh phong.

  1. Chúng ta có tìm được bài học nào qua câu chuyện này không?

Ngày nay nhờ những kiến thức y khoa, chúng ta không còn quá sợ bệnh phong Hansen như xưa nữa nhưng có một thứ bệnh phong khác còn nguy hiểm hơn. Đó là thứ bệnh phong tinh thần. Thứ bệnh này còn nguy hiểm hơn bệnh phong nơi thân xác. Bệnh phong nơi thân xác mới chỉ hủy hoại cái dáng vẻ bên ngoài của con người. Còn bệnh phong tinh thần mới thật kinh khủng. Nó có sức hủy hoại cả tâm hồn, cả cuộc đời của con người. Nó làm cho con người trở thành xa lạ, vô cảm với mọi người. 

Ebba de Pauli trong tác phẩm “Vị ẩn sĩ”, đã kể về một con người mà ngài cho là đã mắc bị bệnh phong tinh thần này như sau. Đó là một người đàn bà trung lưu và có thể nói là “đạo đức”. Bà không phải bận bịu gì với việc sinh nhai. Bà có nhiều giờ để đi nhà thờ, đọc kinh, dự lễ, và vẫn còn nhiều giờ để nói chuyện với người này người nọ. Nhưng bà không hiểu tại sao người ta cứ muốn xa lánh bà. Một nhóm người đang trò chuyện với nhau vui vẻ nhưng khi vừa thấy bóng dáng bà thì mọi người đều im bặt. Có người vừa thấy bà xa xa thì đã lẩn đi nơi khác. Bà đến hỏi ý kiến với Vị Ẩn Sĩ. Sau khi hỏi bà một số chi tiết, Vị Ẩn Sĩ đưa ra một kết luận làm cho bà ta phải kinh ngạc. 

– Sở dĩ người ta xa lánh con vì họ coi con là một con rắn độc! 

– Nhưng tại sao họ lại coi con là rắn độc chứ? 

– Vì trong đầu óc con đầy những ý tưởng độc hại, như nghĩ xấu về người khác, hằn học, đố kỵ, bi quan, ghen tương, chia rẽ, dâm đãng, thù hận v..v..v… Nghe con nói, người ta cảm thấy tâm hồn mình chùn xuống, cuộc sống của họ ….buồn thảm hơn. 

– Vậy xin ngài hãy chỉ cho con phải làm sao. 

Vị Ẩn Sĩ khuyên bà hãy thay đổi cách suy nghĩ và cách giao tiếp: từ nay hãy nuôi trong đầu mình những ý tưởng tốt lành; khi nói chuyện với người khác, hãy chia sẻ những ý nghĩ tốt lành ấy, rồi mọi sự sẽ khá hơn. 

Bà này làm theo. Và kết quả đúng như Vị Ẩn Sĩ tiên báo…Cuộc sống của bà đã được đổi thay. 

Phần chúng ta, chúng ta hãy cầu xin Chúa cho chúng ta sức mạnh để chúng ta có thể thanh toán được thứ bệnh phong tinh thần này. Vì là bệnh tinh thần nên chúng ta rất khó nhận diện được chúng bằng con mắt trần tục của chúng ta. Chúng có thể núp dưới những chiêu bài chia rẽ, loại trừ, phân biệt, nghi kị, kết án. Nếu chúng ta thanh toán được những bệnh phong đó, thân thể xứ đạo ta sẽ liền da liền thịt, khuôn mặt xứ đạo ta sẽ hoàn hảo, rạng rỡ vui tươi phản ảnh được khuôn mặt đích thực của Đức Ki Tô . 

Đồng thời chúng ta hãy noi gương bắt chước Đức Giêsu, đừng loại trừ bất cứ ai trong anh em mình ra khỏi đời sống. Hãy quan tâm đến với những anh chị em bị bỏ rơi. Hãy an ủi những anh chị em đang buồn khổ. Hãy tìm cách tránh cho chị anh em những mặc cảm nặng nề. Hãy hàn gắn những vết thương trong tâm hồn anh chị em. Hãy tôn trọng danh dự và nhân phẩm của anh chị em. Hãy giúp cho anh chị em mình được hoà nhập vào đời sống cộng đoàn, đời sống xã hội. Được như thế tôi tưởng rằng Giáo Xứ chúng ta, cuộc đời của chúng ta sẽ mãi mãi là một Mùa Xuân của Tình thương nơi trần thế và mai sau sẽ là Mùa Xuân vĩnh cửu trên quê trời.  Amen.

Về mục lục

.

LÒNG THƯƠNG CẢM

Lm. GB. Trần Văn Hào

Lòng thương cảm đối với người cùi

Tại một thị trấn nọ có một người đàn ông sống rất chan hòa với mọi người. Dân làng quý mến ông và tỏ ra khá thân thiết đối với ông. Thế rồi một bữa nọ, ông ta thấy có một vài vết lở loét trên da thịt mình, liền vội đi tìm bác sĩ để khám bệnh. Bác sĩ chẩn đoán ông ta bị cùi. Nghiệt ngã thay, kết luận của vị bác sĩ giống như một bản án chung thân dành cho ông. Dần dần, người đàn ông bị gia đình và xã hội bỏ rơi, chẳng ai dám đến. Trẻ em nhìn thấy ông vội cắm đầu cắm cổ chạy nhanh. Không gian duy nhất còn lại dành cho ông chỉ là cái gường chật chội và căn lều nhỏ bé. Ông bị nghiêm cấm tuyệt đối không được bước chân ra khỏi nhà.

Không chịu nổi sự cô quạnh, một bữa kia người đàn ông lẻn trốn ra bờ sông cạnh nhà và tự vẫn. Oái ăm thay, khi khám nghiệm tử thi, hội đồng y khoa xác nhận nơi thân thể ông không có bất cứ một con vi trùng Hansen gây ra bệnh cùi nào cả.

Câu truyện trên lột tả số phận bi thương của những người cùi, đặc biệt trong xã hội Do Thái ngày xưa. Người bệnh phải gặm nhấm nỗi đau khi thân thể bị hủy hoại dần dần. Song sự đau đớn khủng khiếp nhất, chính là tình trạng bệnh nhân sẽ bị cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài.

Chúa Giêsu chạnh lòng thương cảm

Thánh Marcô đã dùng thuật ngữ ‘Splanchnizomai’ trong tiếng Hy Lạp để nói về sự thương cảm mà Chúa Giêsu tỏ hiện đối với người cùi. Trái tim của Chúa đã rung lên giai điệu đồng cảm trước nỗi đau của bệnh nhân. Ngài giơ tay sờ chạm đến anh và chữa lành cho anh. Theo luật Lêvi, ai mắc bệnh cùi sẽ bị nhiễm uế và ai đụng vào họ cũng bị nhiễm uế theo. Chúa Giêsu vẫn luôn tuân thủ lề luật, song đối với Ngài, việc chạm đến bệnh nhân không thể làm cho Ngài ra ô uế. Cho dù Chúa không khinh suốt lề luật, nhưng Chúa đã hành xử theo một lề luật mới, đó là luật của tình yêu, một thứ luật lệ vượt trổi trên tất cả mọi rào cản do con người thiết định. Người đàn ông bị bệnh đã ý thức được số phận hẩm hiu nơi mình. Anh đã đến với Chúa, không dám nài ép Chúa và chỉ thốt lên một ước muốn giản đơn : ‘Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”. Mơ ước này biểu thị một động thái xác quyết và đầy tin tưởng, và anh ta còn nói tiếp theo : “Ngài có thể làm được việc này”. Đây là một hành vi đức tin, biểu tỏ sự khiêm tốn và rất chân thành.

Cuối cùng phép lạ đã xảy ra. Thánh Marcô muốn từ từ vén mở chân dung cứu thế nơi Đức Giêsu, mặc dầu nơi sách Tin Mừng thứ 2, tác giả vẫn hay đề cập đến điều mà các nhà chú giải vẫn thường đề cập đến, đó là ‘Bí Mật Thiên Sai’ (Messianic Secret). Phép lạ Chúa thực hiện không phải nhằm phô diễn một kỳ tích, nhưng để diễn bày lòng thương mến sâu tận của Thiên Chúa đối với con người. Người đàn ông mắc bệnh cùi là đại biểu cho cả một thế giới đang bị vi trùng Hansen thiêng liêng tấn công và hủy hoại tâm hồn dần dần. Chúa Giêsu luôn mở rộng tấm lòng đối với tất cả chúng ta, chỉ cần chúng ta đến với Ngài và thưa với Ngài tâm tình đơn sơ gống như anh cùi hôm nay : “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”.

Tái hòa nhập với cộng đoàn

Thời Chúa Giêsu, nỗi đau lớn nhất nơi người cùi là bị xã hội bỏ rơi và bị cô lập hoàn toàn (Lêvi 13, 45 – 46). Họ bị coi là ô uế, phải sống lang thang ngoài bìa rừng như những con chó hoang và không ai dám đến gần. Họ tuy sống nhưng kể như đã chết. Trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giêsu đã công bố : “Tôi đến để cho họ được sống và sống dồi dào”. Thánh giáo phụ Irênê cũng đã viết : “Vinh quang của Thiên Chúa là con người chúng ta được sống”. Chi tiết quan trọng trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, là Chúa mở toang cánh cửa để dẫn đưa người cùi trở về hội nhập với cộng đoàn và được sống như một con người. Chúa nói với anh ta :“Hãy đi trình diện tư tế vì anh đã được sạch, và hãy dâng những gì Môise đã làm để chứng thực cho người ta biết (Mc 1,44). Lòng thương cảm sâu xa của Chúa được thể hiện qua động thái này. Khi đã chữa lành cho bệnh nhân, Chúa Giêsu không chúc mừng anh bằng một cái ôm hôn thắm thiết, hay bằng một cái bắt tay thân tình. Ngài nói với anh là hãy đi làm những gì mà sách luật đã viết (Lêvi 14, 1-32) để anh được tái hòa nhập với cộng đồng. Theo luật, vị tư tế phải kiểm tra, và thời gian kiểm tra kéo dài ít là một tuần lễ. Đức Giêsu đã đem anh trở lại cuộc sống làm người cách thực sự, phục hồi cho anh những giá trị căn bản, để anh được sống và được sống dồi dào. (Ga 10,10).

Những loại bệnh cùi đa dạng

Ngày nay, biết bao cha mẹ khổ tâm vì những căn bệnh nan y nơi con cái mình. Đó không phải là bệnh hủi, hay bất toại giống như vào thời của Đức Giêsu, song còn nhiều căn bệnh khác cũng nan giải và ghê gớm không kém.

Nhiều phụ huynh đã phải đắng lòng gửi con vào những trại cai nghiện ma túy hay  nghiện games, nghiện sex, khi con cái họ có những những biến thái tâm lý bệnh hoạn và lệch lạc. Phần đã những căn bệnh này xuất phát từ sự vô tâm của những người làm cha làm mẹ, đã không biết quan tâm giáo dục con cái. Chúng ta hãy bắt chước Chúa Giêsu. Ngài đến với bệnh nhân bằng trái tim của một vị Mục tử. Ngài biểu tỏ lòng thương cảm sâu xa để lo lắng và giúp đỡ bệnh nhân. Trong khoa sư phạm giáo dục của Don Bosco, Cha Thánh dùng thuật ngữ ‘Amorevolezza’ để diễn bày lòng thương mến này. Đó là 1 trong 3 yếu tố của sự thành công : Lý trí, tôn giáo và lòng thương mến. Nếu không có lòng thương mến, Chúa Giêsu đã không chạm đến người cùi và chữa lành cho anh. Cũng vậy, nếu thiếu vắng trái tim tình yêu, chúng ta cũng chẳng bao giờ có thể chữa lành cho con cái khi chúng sa vào những cạm bẫy của tội ác như chúng ta đang thấy đầy dẫy trong xã hội ngày hôm nay.

Kết luận

Chúa Giêsu không phải là một nhà phù thủy tài ba, cũng không phải là một con người chuyên đi làm công tác từ thiện xã hội. Ngài là một thầy thuốc cao tay ấn và thang thuốc Ngài sử dụng chính là lòng thương xót đối với con người. Người cùi hôm nay đã trải lòng mình ra để đến với Chúa và đã hưởng nhận thang thuốc qúy giá này. Còn chúng ta thì sao ?. Ngạn ngữ phương Tây cũng đã viết : “Hãy tự giúp mình, rồi Trời sẽ giúp bạn” (Aides toi toi-même, le ciel  t’aidera). Chúng ta hãy tự cứu chúng ta bằng cách đến với Chúa, để Chúa sờ chạm đến những vết lở loét nơi tâm hồn và chữa lành cho chúng ta.

Về mục lục

.

GIƠ TAY ĐỤNG VÀO

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Kể từ cái trải nghiệm nhỏ bé nhận được trong khóa học BISA VIII tại Bangkok – Thái Lan đúng vào mấy ngày Tết Nhâm Thìn, tôi đã có một cái nhìn rất khác về ‘phép lạ’ Đức Giê-su chữa người bị phong hủi.

BISA (Bishops’ Institute for Social Action) là khóa học dành cho các giám mục Á Châu về các đề tài liên quan tới phát triển con người theo Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội do OHD (Office of Human Development) thuộc FABC (Federation of Asian Bishops’ Conferences) tổ chức. Khóa VIII na7m đó có sự tham dự của khoảng 30 giám mục, 10 đại biểu linh mục, giáo dân đại diện cho 18 Hội Đồng Giám Mục và 06 tổ chức quốc tế. Tôi được mời tham dự trong tư cách đại diện cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam vì đề tài học tập liên quan đến các di dân và thổ dân. Khóa học được chia làm hai phần, bốn ngày dành cho chương trìnhthực nghiệm (immersion program) và bốn ngày cho hội nghị thuyết trình và thảo luận. Trong phần thực nghiệm, các tham dự viên được chia thành từng nhóm 4-5 người đi thực tế trong một môi trường xã hội cụ thể. Nhóm tôi gồm 04 người, trong đó có 02 giám mục, đi làm việc tại một trung tâm PCU-AIDS (Palliative Care Unit for AIDS Patient Center) tại tỉnh Sayong miền đông nam Bangkok – Thái Lan, gần biên giới Kampuchia. Công việc của chúng tôi là cùng với các y công và y tá của trung tâm chăm sóc các bệnh nhân AIDS đang trong giai đoạn cuối. Một trong các công việc tôi được trao là thay tã (tampers) và chùi rửa các bệnh nhân AIDS hoàn toàn bại liệt.

Việc phục vụ và đụng chạm trực tiếp tới những con người này (một thứ phong hủi ghê tởm hiện đại?) trong trạng thái dơ bẩn nhất của thân xác họ, đã để lại nơi tôi một ấn tượng khó quên; mọi cảm xúc tự nhiên trong mình như muốn nổi loạn, buộc tôi phải gồng mình kiềm chế. Cảm nghĩ lóe lên nhiều lần trong đầu tôi lúc đó chính là: “Ôi tình yêu nhập thể, khủng khiệp quá!” Phải, Thiên Chúa trong mầu nhiệm nhập thể đã đụng chạm trực tiếp tới tình trạng kinh tởm dơ dáy tột cùng của thể xác, nhất là của tinh thần con người  (trường hợp Người giơ tay đụng vào người mắc bệnh phong cùi ghê tởm ở đây chỉ là một chút điển hình!). Và Người làm hành đông này không có bất kỳ một thiết bị bảo hộ nào như tôi lúc đó, nào là khẩu trang, bao tay cao su, nào là các thiết bị y tế, nước sát trùng… và cả các tấm tã cực kỳ tiện lợi. Điều duy nhất mà Người được trang bị và sở đắc tới độ siêu đẳng (đồng thời cũng chính là điều tôi hoàn toàn thiếu thốn) đó là ‘Người chạnh lòng thương’! Thế đấy, tình yêu nhập thể thực quá cụ thể và chạm tới những ngõ ngách cùng tận và tăm tối nhất của kiếp người. Điều mà Đức Giê-su đã làm với người phong hủi xưa, Người sẽ còn tiếp tục làm mãi với từng con người nhân loại chúng ta, đặc biệt những ai cùng khổ bất hạnh, bệnh tật kinh tởm nhất, cả về mặt thể lý lẫn luân lý; bất cứ ai Người cũng chạm tới được miễn là họ biết ‘quỳ xuống và van xin…’ như người phong hủi xưa.

Và cũng từ trải nghiệm này tôi còn được học thêm một điều nữa, đó là việc chữa lành (hay phép lạ) không phải là điều quan trọng và cần nhấn mạnh nhất. Khi phục vụ tại CPU-AIDS tôi được cho biết, bệnh nhân nào tìm lại được ý chí muốn sống, người đó mới có cơ may kéo dài cuộc sống, ngược lại bệnh nhân sẽ tàn lụi vô phương cứu chữa. Tác động lớn nhất trong việc điều dưỡng không phải là thuốc men hay phương tiện y tế, mà chính là trả lại cho bệnh nhân niềm tin và hy vọng. Tôi đã thấy vài trường hợp điển hình ngay nơi các bệnh nhân AIDS mà tôi phục vụ (thay tã, đút cơm hay nắn bóp), một số họ đã bắt đầu tỏ ra có các dấu hiệu hồi phục rõ ràng. Một bệnh nhân AIDS-TB (lao phổi) nặng, bị mọi người xa tránh vì dễ lây nhiễm và nhầy nhụa, nhưng khi được tôi ân cần đút cơm và trò truyện, anh đã nở được nụ cười thật tươi sau nhiều ngày vật vã… Và bác sĩ cho biết, bệnh tình của anh đã có dấu hiệu khả quan hơn.

Thế đấy, tác giả Mác-cô viết: ‘Người chạnh lòng thương, giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh sạch đi!” Lập tức chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch…’ ôi sao mà xác thực quá! ‘Chạnh lòng thương’ còn quan trọng hơn nhiều việc Đức Giê-su lấy quyền năng mà làm phép lạ… Nói cách khác, chính ‘chạnh lòng thương’ mới là phép lạ lớn hơn hết vì nó đáp ứng trực tiếp nỗi khát vọng thâm sâu nhất của bệnh nhân phong hủi này, khi anh ta thoát khỏi tình trạng bị mọi người hắt hủi, và kể từ lúc đó chứng phong hủi của anh khởi sự tiến trình hoàn toàn biến mất.

Ôi, sức mạnh của lòng thương xót thật vô song, và mong sao mọi linh mục của Đức Ki-tô không những hiểu được điều này mà còn tham gia tích cực vào quyền năng này nữa! 

 Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết cảm tạ Chúa không ngừng, không phải vì các phép lạ hoặc các ơn trọng đại con nhận được, nhưng vì đã biết tín thác vào lòng Chúa xót thương. Cho dầu không thể sửa trị được hết các yếu đuối phần hồn phần xác (sẽ không bao giờ, với bất cứ ai!), con vẫn mừng vui khôn xiết vì Chúa đã chạnh thương chạm tới sự ghê tởm, thấp hèn và tội lỗi của con, qua đó trả lại cho con niềm hy vọng tràn trề và một sức sống bất tận. A-men.

Về mục lục

.

NIỀM HY VỌNG

Trầm Thiên Thu

Niềm hy vọng là nhân đức trông cậy – một trong ba nhân đức đối thần. Người Pháp có câu: “Vouloir, c’est pouvoir” (muốn là có thể được). Còn đối với Thiên Chúa, tất cả đều nhờ đức tin (x. Mt 9:22; Mc 5:34; Lc 8:48; Lc 17:18; Lc 18:42), và tất cả đều có thể: “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1:37).

Về đức cậy, Thánh TS Augustinô cho biết: “Đức cậy khuyến cáo chúng ta coi nhẹ đời này là hư ảo, hy vọng tương lai là hạnh phúc. Người nào đem hy vọng của họ ký thác nơi chóng qua như mây khói ở đời này, đó là đi ngược lại đức cậy”. Còn Thánh TS Teresa Avila xác định: “Thiên Chúa yêu thích những linh hồn khẳng khái nhưng ước vọng vĩ đại”.

Trong ca khúc “Tôi Muốn”, NS Lê Hựu Hà có những ước muốn rất “khác người”, nhưng lại rất gần gũi với Công giáo: “Tôi muốn mình tìm đến thiên nhiên, tôi muốn sống như loài hoa hiền. Tôi muốn làm một thứ cỏ cây, vui trong gió và không ưu phiền. Tôi muốn mọi người biết thương nhau, không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau, tôi muốn thấy tình yêu ban đầu. Em có thấy hoa kia mới nở, trong giây phút nhưng đẹp tuyệt vời, như hạnh phúc thoáng qua mất rồi, giờ đâu còn tìm được nét vui…”. Ước muốn luôn là điều quan trọng. Có ước muốn thì mới có thể quyết định hành động.

GIẢ THUYẾT

Chỉ vì không có, vì thiếu cái gì đó nên người ta mới ước muốn, khao khát. Bất cứ ai cũng có ước muốn, dù ước muốn đó nhỏ hay lớn, gần hay xa. Rõ ràng nhất là những bệnh nhân, ước muốn đơn giản và cụ thể là được khỏi bệnh. Ngày nay người ta rất sợ chứng ung thư, còn ngày xưa người ta “ngán” chứng phong hủi (cùi). Chính Đức Chúa nói với ông Môsê và ông Aharon: “Khi trên da thịt người nào phát ra nhọt, lác hoặc đốm, và cái đó trở thành vết thương phong hủi, thì người ta sẽ đưa người ấy đến với tư tế Aharon hoặc với một trong các tư tế, con của Aharon”(Lv 13:1-2). Theo sách Lêvi, người nào hói đầu hoặc sói trán là người thanh sạch (Lv 13:40-41). Nhưng nếu chỗ hói đầu hoặc sói trán có vết thương trắng đỏ nhạt thì đó lại là phong hủi loang ra (Lv 13:42).

Hồi đó, các bệnh nhân phong bị người ta xa lánh, khi tư tế khám, nếu nhọt ở vết thương có màu trắng đỏ nhạt ở chỗ sói đầu hoặc sói trán, trông giống như phong hủi da thịt thì người ấy bị phong hủi và bị coi là ô uế. Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xoã tóc, che râu và kêu lên: “Ô uế! Ô uế!” (Lv 13:45). Theo luật xưa, “bao lâu còn mắc bệnh thì còn ô uế, người đó phải ở riêng ra, chỗ ở của họ là một nơi bên ngoài trại” (Lv 13:46). Khổ thật!

Như vậy là khắt khe và bất nhân quá! Ngày xưa đã đành vậy, vì là thời Cựu ước; ngày nay cũng chẳng hơn gì, mặc dù là thời Tân ước, và mặc dù chúng ta mệnh danh là những người theo Đạo Yêu Thương. Thánh Lm Gioan Vianney phân tích: “Lý do chúng ta không có cách giải quyết tốt là vì chúng ta coi trọng mình quá nhiều”. Ôi, vẫn liên quan “cái tôi” đáng ghét!

Bệnh phong là laoị bệnh ghê gớm, ngày xưa là chứng nan y. Ngày nay, bệnh phong không còn đáng sợ, mà chứng nan y đáng sợ là ung thư hoặc HIV/AIDS. Tuy nhiên, đó là bệnh liên quan thể lý. Loại phong cùi, chứng ung thư hoặc HIV ghê gớm nhất chính là tội lỗi, thế nhưng có vẻ người ta lại… không sợ. Quái lạ!

Đối với các tù nhân, ngày được phóng thích giống như thoát khỏi địa ngục trần gian. Các bệnh nhân được khỏi bệnh như được tái sinh. Các tội nhân được tha thứ như được vào thiên đàng. Niềm hạnh phúc khác nhau nhưng có thể nói là họ có chung “đỉnh điểm” của niềm hạnh phúc, khó có thể diễn tả bằng ngôn ngữ loài người. Thật vậy, “hạnh phúc thay, kẻ lỗi lầm mà được tha thứ, người có tội mà được khoan dung, người Chúa không hạch tội, và lòng trí chẳng chút gian tà” (Tv 32:1-2). Muốn chứng tỏ mình hết phong cùi thì phải trình diện tư tế. Muốn chứng tỏ mình sạch tội thì phải xưng thú tội lỗi. Tuy nhiên, khi “xưng tội ra với Chúa thì không được giấu giếm lầm lỗi của mình” (x. Tv 32:5). Chúa không hề chấp tội chúng ta (2 Cr 5:19), đó là điều chắc chắn, bởi vì chính Ngài đã hứa: “Tội các người dù có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết; có thẫm tựa vải điều, cũng hoá trắng như bông”(Is 1:18). Nếu Chúa chấp tội nào ai đứng vững? (Tv 130:2). Ôi, Lòng Thương Xót của Thiên Chúa quá bao la!

Thánh TS Augustinô phân tích: “Chúa dựng nên con thì Chúa không cần con, nhưng Chúa cứu độ con thì Chúa cần con”. Tại sao? Giả sử bạn sa xuống hố mà chỉ kêu cứu, cứ thụ động mà không chịu hợp tác thì ai có thể cứu? Ít ra bạn cũng phải đưa tay ra cho người ta kéo lên chứ! Chúa muốn mà chúng ta không muốn thì Chúa cũng… “bó tay”. “Bó tay” ở đây không có nghĩa là Chúa “bất lực”, không làm gì được, nhưng Chúa không ép ai, bởi vì Ngài hoàn toàn cho phép chúng ta trọn quyền tự do chọn lựa và quyết định số phận đời mình. Đó mới là điều chúng ta đáng quan ngại!

Là phàm nhân thì ai cũng là tội nhân, vì đã có “vốn tội” rồi: “Lúc chào đời con đã vương lầm lỗi, đã mang tội khi mẹ mới hoài thai” (Tv 51:7). Vì thế, không ai hơn ai trước mặt Thiên Chúa, chỉ hơn nhau ở chỗ “biết sám hối hay không”. Ngài luôn chờ chúng ta ăn năn sám hối. Hãy tự nhủ: “Nào ta đi thú tội với Chúa” (Tv 32:5), và chính Ngài sẽ tha thứ tội vạ cho chúng ta, chứ không ai có quyền tha tội. Được tha tội và tin mình sạch tội sẽ trở nên công chính, vì chỉ “nhờ đức tin mà người ta nên công chính” (Rm 3:21; Rm 5:1; Rm 9:30; Rm 9:32; Rm 10:6; Gl 3:24; Dt 11:7). Và vì thế: “Hỡi những người công chính, hãy vui lên trong Chúa, hãy nhảy mừng. Mọi tâm hồn ngay thẳng, nào cất tiếng hò reo” (Tv 32:11). Các vị thánh lớn đều là những “tội nhân thánh thiện”: Thánh vương Đavít, Thánh GH tiên khởi Phêrô, Thánh Phaolô, Thánh Augustinô,… và “độc đáo” nhất là “thánh trộm cướp khét tiếng” cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu trên đồi Canvê. Điều đó cho thấy rằng nếu thực sự ước muốn thì chúng ta sẽ được sạch, nếu chân thành xin lỗi Chúa thì Ngài sẽ tha ngay lập tức!

Tuy nhiên, có 2 trạng thái “liên lụy tội lỗi” mà chúng ta cần phải lưu ý:

  1. ĐỪNG gây nguy hiểm cho linh hồn mình bằng cách CAN DỰ VÀO TỘI LỖI CỦA NGƯỜI KHÁC.
  2. ĐỪNG gây nguy hiểm cho linh hồn người khác bằng cách LÔI KÉO HỌ VÀO TỘI LỖI CỦA MÌNH.

Có những giả thuyết mãi mãi là giả thuyết, nhưng có những giả thuyết lại khả dĩ trở thành sự thật – một sự thật minh nhiên hoặc mặc nhiên.

SỰ THẬT

Người ta sẽ chú tâm hành động sau khi đã ước muốn, như thánh Phaolô dạy: “Dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh chị em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1 Cr 10:31). Vâng, làm để tôn vinh Thiên Chúa chứ không vì lý do gì khác, và “đừng làm gương xấu cho bất cứ ai” (1 Cr 10:32), dù người đó cùng đạo hay khác đạo với mình, thậm chí có vẻ không liên quan tới mình. Ai cũng phải “cố gắng làm đẹp lòng mọi người, không tìm ích lợi cho riêng tôi, nhưng cho nhiều người, để họ được cứu độ” (1 Cr 10:33). Thật là khó chứ không hề đơn giản, thế nhưng ai cũng phải cố gắng thực hiện. Nếu cảm thấy khó thì hãy theo lời nhắn nhủ của Thánh Phaolô: “Anh chị em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Đức Kitô” (1 Cr 11:1).

Thật tuyệt vời với cách nhận định của thi sĩ Paul Claudel (*) đậm “chất” đức tin: “Chúa xuống thế KHÔNG để diệt trừ khổ đau, cũng KHÔNG giải nghĩa khổ đau, mà để CHIA SỚT khổ đau”. Đó là một triết lý mang tính giáo lý cao cấp.

Trong các “mối khổ”, chắc chắn ai cũng biết rằng bệnh là khổ – dù bệnh thể lý hay tinh thần. Riêng bệnh phong thì bệnh nhân rất khổ sở, không chỉ khổ vì đau đớn thể lý mà còn đau khổ về tinh thần vì bị người ta xa lánh. Bệnh nhân phong rất đau đớn vào những mùa trăng, thế nên Hàn Mặc Tử đã “rao bán” trăng: “Ai mua trăng, tôi bán trăng cho”. Thấy Chúa Giêsu là một “dị nhân”, chắc chắn với lòng tin mạnh mẽ nên bệnh nhân phong đã đến gặp Người và quỳ xuống van xin: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch” (Mc 1:40). Người chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh sạch đi!” (Mc 1:41). Và phép lạ đã xảy ra: Chứng phong hủi biến khỏi anh ngay lập tức. Nhưng Ngài nghiêm giọng: “Coi chừng, đừng nói gì với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được lành sạch, thì hãy dâng những gì ông Môsê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết”(Mc 1:44).

Chúa Giêsu không hề làm ảo thuật mà làm phép lạ thật, Ngài cũng không muốn chứng tỏ “đẳng cấp” mà chỉ muốn chứng tỏ lòng yêu thương, Ngài luôn tôn trọng luật pháp xã hội thời đó, Ngài muốn làm gương cho người khác về đức vâng lời. Vả lại, Ngài biết những người “tai to mặt lớn” sẽ tìm cách hại Ngài chỉ vì tính nhỏ nhen, vì lòng ghen ghét. Con gà tức nhau tiếng gáy, thấy người khác hơn mình thì mình “không ưa”, tìm cách trù dập, hoặc “không ăn được thì đạp đổ”, đó là tình trạng tệ hại của con người vì “cái tôi” quá lớn, nó che khuất mọi tầm nhìn mất rồi. Đúng như một danh nhân đã nhận xét: “Chỉ có người giỏi mới chân nhận tài năng của người khác”. Kinh Thánh nói: “Con chó quay lại chỗ nó mửa, đứa ngu lặp lại chuyện ngu đần” (Cn 26:11).

Hữu xạ tự nhiên hương. Mùi hương thơm có sức lan tỏa. Tiếng lành cũng được đồn xa. Đèn sáng rất dễ nhìn thấy. Thế nên vừa mới ra khỏi đó, bệnh nhân phong được chữa lành kia “bắt đầu rao truyền và tung tin khắp nơi, đến nỗi Chúa Giêsu không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành, và dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Ngài” (Mc 1:45). Chúa Giêsu đúng là một “siêu sao” kỳ diệu!

Lạy Thiên Chúa là Đấng trung tín, xin ban thêm các nhân đức cần thiết cho con, xin thanh tẩy và thánh hóa con bởi vì con ô uế nhưng thật lòng ước muốn được nên sạch, mặc dù bất xứng nhưng con thành tâm tín thác vào Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của nhân loại. Amen.

—–

 (*) Paul Louis Charles Marie Claudel (người Pháp, 6/8/1868 – 23/2/1955). Ông là nhà ngoại giao, nhà văn, nhà thơ, và từng được đăng hình trên bìa báo Time. Ông sinh ở Villeneuve-sur-Fère, trong gia đình một công chức tỉnh lẻ. Chị của ông là nhà điêu khắc Camille Claudel. Năm 1893, ông làm ở Bộ Ngoại giao Pháp, từng làm lãnh sự và đại sứ ở nhiều nước Âu châu, Á châu, Mỹ châu. Ông được tặng thưởng huân chương Đại thập tự, và năm 1946 được bầu làm viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Ông được coi là nhà thơ cuối cùng của phái ấn tượng, có khuynh hướng hoài cổ và tôn giáo. Chính ông cho biết rằng cuốn sách gối giường của ông là Kinh Thánh, và tất cả sáng tác của ông làm thành một cuốn Kinh Thánh mới. Ông không quan tâm “người nào là ai” mà “người đó là người nào”. Ông thể hiện nhịp điệu tự nhiên của trái tim và hơi thở con người. Nhiều vở kịch của ông được dựng thành phim cũng nổi tiếng.

Về mục lục

.

RẤT CẦN SỰ CẢM THÔNG

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Bệnh phong cùi đã có từ bao đời nay. Bệnh này thường bị coi là căn bệnh nguy hiểm và cần phải né tránh bởi con người sợ bị lây nhiễm. Người Do Thái thời xưa rất sợ bệnh phong cùi, một căn bệnh nan y bất trị thường gặp lúc bấy giờ. Căn bệnh đáng sợ này có thể tấn công các đầu dây thần kinh của người bệnh, làm cho cơ thể bị thương tổn và biến dạng vĩnh viễn. Vào thời đó, người ta không biết cách chữa căn bệnh này. Người bệnh bị cách ly và bắt buộc phải cảnh báo người khác về căn bệnh của mình (x. Lv 13, 1-2. 44-46).

Giới lãnh đạo Do Thái giáo đã đặt thêm luật về bệnh phong cùi, khiến cho cuộc sống của người bệnh gặp khó khăn một cách không cần thiết. Chẳng hạn, luật lệ của giới ráp-bi cấm bất kỳ ai đến gần người phong cù, phải ở xa họ khoảng khoảng 2m. Nhưng nếu đang có gió, không ai được đến gần trong vòng khoảng 45m. Sách Lêvi đưa ra điều luật là người phong cùi phải sống “phải ở riêng, thì phải mặc áo rách, để đầu trần, lấy áo che miệng và la to rằng mình mắc bệnh truyền nhiễm và ô uế. Bao lâu người đó còn mắc bệnh phong cùi và ô uế, họ phải ở riêng một mình ngoài trại”(x. Lv 13, 44-46). Tuy nhiên, một số chuyên gia luật Do Thái giải thích rằng điều luật này có nghĩa là những người phong cùi không được sống trong các thành có tường thành. Vì vậy, khi thấy một người phong cùi trong thành, một ráp-bi sẽ ném đá vào người đó và nói: “Hãy trở về chỗ ngươi ở, đừng làm ô uế người khác”.

Về mặt tôn giáo, bệnh phong cùi làm cho người ta trở nên ô uế, tội lỗi. Người Việt Nam chúng ta cũng na ná tương tự như người Do Thái, ai bị bệnh thì phải xa nhà xa cả người thân, địa phương xa lánh người gần người xa, khiến người bệnh cay đắng cực lòng.

Thời Chúa Giêsu, bệnh phong cùi vẫn bị liệt vào loại bị cấm tiếp xúc, người bị bện phải tránh xa và phải làm hiệu để người khác tránh xa mình. Tuy nhiên, Chúa Giêsu lại hoàn toàn khác, bởi vì Người đến để yêu thương và cứu giúp mọi người, nên Người đã chữa lành cho người mắc bệnh phong cùi như trong Tin Mừng Marcô 1, 40-45 thuật lại hôm nay.

Người ta coi người cùi là hạng người ô uế, kẻ nào chạm tới người cùi cũng bị lây ô uế. Nhưng Chúa Giêsu đã dám đưa tay chạm tới người cùi này. Chúa Giêsu cũng đánh đổ được huyền thoại của người đương thời với Chúa về bệnh phong cùi. Thật thế, trong quan niệm của người Do Thái lúc đó, bệnh tật còn là một hình phạt trực tiếp của Thiên Chúa đối vớ tội lỗi con người. Người mắc bệnh phong cùi là người đã từng mắc tội ác khủng khiếp đến độ đã bị Thiên Chúa trừng phạt nặng nề. Thế nên, khi bị đẩy ra bên lề xã hội, người phong cùi không những chịu đớn đau trong thân xác, mà còn phải gánh chịu sự tủi nhục do người đồng loại gây ra. Khi chữa lành người phong cùi. Chúa Giêsu muốn chứng tỏ rằng Thiên Chúa vẫn tiếp tục yêu thương con người và chính tình yêu là sức mạnh chữa trị bệnh tật của con người.

Ngày nay bệnh cùi không còn là một chứng nan y bất trị. Nhưng vẫn còn nhiều loại “Người cùi” kiểu khác bị người ta ghê tởm tránh xa, chẳng hạn những người dơ dáy, hôi hám, những người mang cá tính bị người khác ghét bỏ, những người lỡ mang tai tiếng khiến người ta không dám tiếp xúc, họ bị liệt ra bên ngoài xã hội, thiếu sự cảm thông và tình liên đới cộng đồng. 

Con người ta, sinh, lão, bệnh, tử là lẽ thường tình. Bệnh tật là điều phải có trong kiếp sống làm người. Ai cũng có bệnh, không nhẹ thì nặng, chẳng ai thoát khỏi căn bệnh ở đời. Vì thế, chúng ta phải liên đới, hiệp thông và trợ giúp lẫn nhau với tình yêu thương, đặc biệt với những ai mắc bệnh hiểm nghèo.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã vì yêu mà vượt qua ranh giới giữa Thiên Chúa với con người, giữa người khỏe với kẻ bệnh tật để chữa lành họ. Xin trợ giúp chúng con làm được những điều Chúa muốn. Amen.

Về mục lục

.

LÒNG THƯƠNG XÓT VƯỢT QUA TẤT CẢ

Tu sĩ Jos.Vinc. Ngọc Biển

Có một cô gái đẹp và tính tình rất tốt. Nhan sắc cũng như đức tính của cô làm mê hồn nhiều chàng trai, khiến biết bao trai tráng trong làng mê mẩn đến điên cuồng và rất nhiều người muốn được làm chồng cô trong tương lai!

Tuy nhiên, một tai ương ập đến với cô, đó là: một hôm, cô đang nấu ăn ở trong bếp, bỗng nhiên bình ga bốc nổ, khiến lửa bốc cháy dữ dội và bén vào người làm cô bị bỏng rất nặng. Người thân của cô đưa cô đến bệnh viện, nhưng các bác sĩ chỉ có thể cứu sống cô, họ không thể làm thêm được gì hết! Kết cục, khuôn mặt và thân hình của cô bị biến dạng, trông ghê rợn hãi hùng! Cũng kể từ thời điểm đó, cô không được sự ngưỡng mộ của những thanh niên cùng trang lứa. Chẳng ai thèm để ý và hy vọng được làm chồng của cô như trước nữa. Ai nhìn thấy cô, họ cũng đều sợ hãi vì sự dị dạng bất thường nơi cô. Nhiều người còn buông ra những lời nguyền rủa không thương tiếc cho số phận hẩm hiu của nàng. Nói chung, họ đều xa tránh cô, khiến cô rất đau đớn thể xác và khốn khổ về tinh thần! 

Hôm nay, câu chuyện Tin Mừng cũng trình bày về số phận của người bị phong cùi. Anh ta cũng trải qua biết bao đau đớn về thể xác và chịu đựng nỗi khốn khổ khôn nguôi về tinh thần.

Tuy nhiên, may mắn cho anh cùi trong Tin Mừng chúng ta vừa nghe, giữa biết bao người khinh miệt, ruồng bỏ, hất hủi, loại trừ, chà đạp và xúc phạm, anh đã gặp được quý nhân phù trợ. Đức Giêsu đã không chỉ thương anh bằng tình thương của con người với nhau, mà Ngài còn thương anh bằng trái tim và lòng thương xót của Thiên Chúa, nên anh đã được chữa lành không chỉ thể xác, nhưng còn được chữa lành mọi vết thương trong tâm hồn mà bấy lâu anh đã lãnh chịu. 

  1. Căn bệnh thế kỷ và nỗi khổ khôn nguôi

Để hiểu được nỗi khổ tâm đến xót xa của người bệnh và thấy được lòng thương xót vô biên của Đức Giêsu, chúng ta cần tìm hiểu về quan niệm, lối nhìn của người Dothái thời bấy giờ về căn bệnh quái ác này và thái độ của họ đối với người không may mắc phải.

Vào thời Đức Giêsu, người ta rất sợ hãi nghe được hay nhìn thấy hoặc đụng trạm đến những người bị bệnh phong. Họ coi những người này như một thứ quái dị, đồ bỏ. Vì thế, những người bị mắc phải bệnh cùi, họ bị chính người thân trong gia đình và xã hội loại ra bên lề. 

Theo quan niệm của người Dothái, bất cứ ai tiếp xúc với người bệnh phong thì đều bị coi là ô uế và nếu đụng chạm tới thì mắc tội trọng. Người mắc bệnh phong cùi thì không bao giờ được vào thành Giêrusalem cũng như bất cứ thành phố nào được bảo vệ bằng tường bao. Người phong cùi mà vô tình thò đầu vào nhà nào thì nhà ấy trở thành nhà ô uế và ngay cả cái kèo trên mái nhà cũng bị ô uế theo. Khi ra ngoài đường, họ không được chào hỏi ai và cũng chẳng được ai chào hỏi. Khoảng cách mà người bệnh và người khỏe phải giữ với nhau, đó là gần hai mét. Nếu vô tình, người bệnh đứng ở đầu gió, thì những ai ở cùng hướng gió phải cách 45 mét. Hơn nữa, người ta kiêng kỵ đến độ những vật bày bán ở nơi người phong đi qua, cũng không nên mua và chắc chắn là không ăn. 

Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở góc độ bị coi thường khinh miệt, mà chính bản thân họ, họ cũng phải tự mình ý thức là người đáng bị kinh tởm và tự nhận mình là người gây nên sự bất tiện cho mọi người. Để hiểu rõ điều này, chúng ta thấy sách Lêvi có đề cập đến như sau: “Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xõa tóc che râu và kêu lên: ‘Ô uế! Ô uế!’ Bao lâu còn mắc bệnh, thì nó ô uế; nó ô uế: nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại” (Lv 13,45-46).

Chính vì sự phân biệt phũ phàng đến như vậy, nên họ bị đẩy vào rừng sâu hay nơi sa mạc hoặc ra nơi đồng ruộng để tồn tại.

Trong hoàn cảnh đó, những người bị bệnh, họ đau đớn tột cùng về thể xác, nhưng có lẽ nỗi đau tinh thần còn lớn hơn gấp bội qua việc bị khinh thường và loại trừ ngay từ những người thân. Nỗi ám ảnh về số phận và tự ti vì bị coi là tội lỗi nên mới phải chịu thứ bệnh quái ác này đã làm cho họ bị dằn vặt tinh thần rất nhiều!

Tuy nhiên, hôm nay, Đức Giêsu và chính anh cùi đã lội ngược dòng với những quan niệm của người Dothái đương thời, để giữa Ngài và anh có một mối liên hệ mật thiết qua lòng trắc ẩn của Đức Giêsu và nơi đức tin mạnh mẽ của anh, khiến Đức Giêsu đã làm phép lạ để giải thoát anh cách toàn diện, trọn vẹn. 

2. Đức tin và lòng thương xót

Vượt qua ranh giới, bất chấp lề luật, chẳng sợ lây nhiễm, nên Đức Giêsu đã tiến lại và chạm vào người bị phong cùi. Đây là hành vi phi thường đến dợn tóc gáy mỗi khi người Dothái nghĩ tới!

Còn nơi người phong cùi, anh ta có thái độ tin tưởng quá phi thường và thái độ tôn thờ đến tuyệt đối, nên đã dám đến gần Đức Giêsu, quỳ gối và van xin: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi nên sạch”. 

Thái độ này của Đức Giêsu hoàn toàn đi ngược lại với những nhà lãnh đạo và quan niệm của dân chúng thời bấy giờ. Nơi Đức Giêsu, Ngài không thể ngồi đó xem cách hành xử bất công của người Dothái và sự tủi nhục của người bệnh. Không! Ngài coi nó như bổn phận buộc mình phải thi hành. Điều này làm toát lên dung mạo xót thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại. 

3. Bài học cho chúng ta

Sống trong xã hội loài người, dù thời điểm nào, người ta cũng cần lắm một tấm lòng cảm thông đối với người bất hạnh. Mặt khác, nếu chúng ta là những người bị coi là bất hạnh, thì chính mình phải là người can đảm chạy đến với Chúa để được Ngài xót thương.

 Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta:

Thứ nhất, hãy noi gương Đức Giêsu, luôn yêu thương và không loại  trừ anh chị em chúng ta, nhất là những người bất hạnh, nghèo khổ, bệnh tật, bị bỏ rơi, buồn khổ, mặc cảm, tự ti…. Luôn biết hàn gắn những vết thương tâm hồn và tôn trọng nhân phẩm của người khác. Tránh xa sự chia rẽ và thái độ phân biệt đối xử để sống sự liên đới với mọi người.

Thứ đến, cần tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa. Luôn sống tình bác ái yêu thương, nhất là hãy hành động vì đức ái. Có thế, chúng ta mới đụng chạm được cốt lõi của Tin Mừng và mới có cơ hội ngửi, cảm, thấu nỗi đau khổ của anh chị em xung quanh và ra tay nâng đỡ họ. Cần can đảm loại trừ những gì làm thui chột tình thương và không phù hợp với giá trị Tin Mừng. 

Thứ đến, noi gương người phong cùi, hãy khiêm tốn và can đảm đứng dạy để tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa, vì Ngài sẽ chữa lành những ai bệnh tật, xoa dịu những tâm hồn đau thương, băng bó những cõi lòng tan nát, an ủi những ai sầu khổ và cứu chuộc những ai có lòng tin.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho đôi mắt của chúng con được mở ra và nhìn thấy những người bất hạnh; cho trái tim biết rung lên những nhịp đập yêu thương; cho khối óc biết nghĩ đến người đau khổ; cho đôi chân biết đi tới những nơi cần sự giúp đỡ; cho đôi tay biết mở ra để ban phát, và, cho đôi tai biết lắng nghe để cảm thông. Amen.

Về mục lục

.

TẠI SAO CHÚA GIÊSU NGHIÊM GIỌNG ĐUỔI

NGƯỜI PHONG HỦI ĐƯỢC CHỮA LÀNH ĐI NGAY?!

Phê-rô Trần Đình Phan Tiến

Vâng, thưa quý vị , thưa các bạn , vấn đề được đặt ra trong Đoan Lời Chúa hôm nay phải chăng là sự “lãnh cảm” của Chúa Giêsu đối với người bệnh hủi được chữa lành?

Tại sao sau khi chữa lành cho người bệnh phong, Chúa Giêsu  không “ thâu nạp” anh ta, mà lại nghiêm giọng đuổi anh ta đi ?

  • Thứ nhất : Người mắc bệnh phong, dù được sạch, nhưng vẫn mang nguồn gốc tội lỗi, hình ảnh sứt mẻ tâm hồn. Chưa trình diện tư tế và dâng lễ theo luật Moi6sen.

Nhưng, nếu vấn đề thứ nhất được đặt ra như vậy, thì chúng ta, mới thấy lòng nhân từ nới Chúa Giêsu, nếu Người không có Lòng Thương Xót, chắc chắn Người không “ chạm “ vào anh ta. Bối cảnh Tin Mừng hôm nay cho biết , Chúa Giêsu đang trên đường  rao giảng Tin Mừng và trừ quỷ tai khắp miền Ga-li –lê. Như vậy, có một người phong hủi đến gặp Người và quỳ xuống van xin rằng :” Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” ( c 40) . Lời cầu xin ấy nói lên rằng, người phong hủi nầy có niềm tin mạnh vào Chúa Giêsu.

Người chạnh lòng thương xót giơ tay đụng vào anh và bảo :” Tôi muốn, anh sạch đi !” . lập tức chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch . ( c 41 -42). Nhưng , Người nghiêm giọng đuổi anh đi ngay ( c 43). Điều nầy cho thấy, không phải ai cũng được Chúa Giêsu thu nạp làm môn đệ. Bệnh phong theo Cựu Ứơc là một loại bệnh rất bị kỳ thị đối với người Dothai, là một loại bệnh nan y , khó chữa. Ngày nay, theo y học thì người ta biết được do một con vi trùng Hanxen phá hủy những tế bào của có thể con người. ăn mòn xương thịt, lỡ loét rất thảm thương. Tại Việt Nam hơn 80 năm qua, các bệnh phân phong trong các trại phong Công giáo như Quy Hòa- Quy Nhơn, Thái Bình, Bắc Ninh, DI-linh, Bến sắn là những trại phong mà những người mắc bệnh không thể được chữa lành, dù hắng ngày sự chăm sóc tận tình, sự chăm sóc tối đa có thể của các “ thiên thần nữ tu” đi nữa, thì bệnh phong cũng chưa được chữa trị dứt điểm tại Việt Nam. Trong đó, chúng ta nhớ đến thi sĩ Hàn Mặc Tử, xin cầu nguyện cho ông.

Sở dĩ con xin phép được gọi các nữ tu là ” thiên thần” , bởi vì, không thể người trần thế nào có được tấm lòng quảng đại, hy sinh tối đa cho các bệnh nhân phong. Theo đó, các vị nữ tu hiện , đã, đang chăm sóc cho  những người bệnh nhân phong thật là chỉ có “tâm hồn thiên thần” mới làm được. Có thể nói, satan thì phá hủy, còn “thiên thần nữ tu” thì chữa lành, nhưng, họ cũng chỉ là ”thiên thần” không như Chúa Giêsu được, đụng vào người bệnh là có thể khỏi.

Tuy nhiên, nhờ ơn Chúa, tại Pakistan, có một vị nữ tu Công Giáo gốc Đức, vừa qua đời ở tuổi 80 năm 2017, là một bác sĩ y khoa, người  đã cống hiến 50 năm cho việc nghiên cứu tìm ra thuốc đặc trị dứt điểm vi trùng Hanxen, được tổ chức y tế thế giới công nhận Chị đã rời bỏ quê hương , đất nước của mình, tức quê cha, đất mẹ để đến sống làm việc và phục vụ cho các bệnh nhân phong tại một đất nước xa xôi.

  • Thứ hai : Sứ Vụ của Chúa Giêsu không phải là Thầy lang chữa bệnh thân xác, mà là Đấng Cứu Chuộc các Linh Hồn, vì vậy, việc rao giảng Tin Mừng, mới là chính .

Như chúng ta biết , phàm nhân thiên về thân xác, bệnh tật, sức khỏe, ăn uống, nói chung là nhu cầu thể xác hơn là tinh thần. Vì vậy, nếu như Chúa Giêsu cứ làm phép lạ một cách dễ dàng, hóa bánh ra nhiều liên tục, cứ thấy ai bệnh hoạn, Người cũng đụng vào cho khỏi bệnh, thì còn gì là chương trình Cứu Độ nữa., còn gì, Người phải chịu Tử Nạn nữa, bệnh tật, hoặc đau khổ thể xác không thể so với đau khổ trầm luân. Vì vậy, Ơn Cứu Độ không chỉ cứu khổ phần thể xác, nhưng cứu giúp phần linh hồn mới quan trọng. Vì vậy, đau khổ phần thể xác giúp cho Ơn Cứu Độ hoàn hảo hơn, việc đau khổ thân xác nơi dương thế mà biết kết hợp với Mầu Nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Kitô, thì sự đau khổ ấy mới có giá trị tháp nhập vào Ơn Cứu Độ.

Theo đó, giá trị chịu đựng đau khổ của phàm nhân là Kitô hữu, mặc nhiên họ được thông phần với Đức Kitô Tử Nạn và Phục Sinh. Vì, Đức Kitô không thể chịu Tử Nạn, gánh lấy đau khổ trong hư vô, trái lại phát sinh Mầu Nhiệm Cứu Độ nhân loại. Nếu gọi là ”CỨU ĐỘ” mà không chịu đau khổ thì không phải chân lý, bởi chính Chúa Giêsu, nếu không chịu đau khổ, mặc nhiên ơn cứu độ không phát sinh. Vì, khi, Người muốn, Người có thể đụng chạm vào một bệnh nhân nan y, lập tứ người ấy khỏi bệnh. Thì, làm sao quân dữ có thể  “chạm “ vào Người , nếu như , Người không muốn, và không vì “ vâng lời” Chúa Cha, tức Mầu Nhiệm Cứu Độ .

Và, nếu như, dân chúng tuôn đến với Người vì để được chữa bệnh thể xác mà thôi, thì, có nghĩa là Người không chịu đau khổ, Tử Nạn, và Phục Sinh.

Như vậy, xưa cũng như nay, đến với Chúa Giêsu là để cầu xin và đón nhận “ƠN CỨU ĐỘ” tức được chữa lành phần linh hồn, chứ không phải chỉ được chữa bệnh và cho ăn phần thể xác là chính.

Lạy Chúa Giêsu, Đấng chữa trị mọi tật bệnh xác hồn, xin cho chúng con thành tâm tìm kiếm Chúa, bước theo Người trên mọi nẻo đường trần gian, hầu đến được bến bờ Thiên Quốc. Người là Thiên Chúa hằng Sống và hiển trị cùng Chúa Cha trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần đến  muôn đời ./. Amen

Về mục lục

.

CÚ ĐỤNG TAY ĐỔI ĐỜI

JM. Lam Thy

Theo y học thì bệnh phong (cùi, hủi) không phải là bệnh di truyền mà là một bệnh nhiễm khuẩn, gây ra bởi một loại trực khuẩn có tên khoa học là Mycobacterium lepræ (còn được gọi là trực khuẩn Hansen). Bệnh phong lây qua đường da hoặc hô hấp. Tuy nhiên, mắc bệnh hay không thì còn tùy thuộc vào đáp ứng của cơ thể mỗi người đối với vi khuẩn Mycobacterium lepræ. Bệnh có tính chất kéo dài và hay lây, có biểu hiện toàn thân nhưng nổi bật và thường xuyên nhất là triệu chứng da và một số dây thần kinh. Tuy ngày nay với tiến bộ của khoa học, có thể chữa khỏi được bệnh phong, có thể khống chế được sự lây lan, nên có quan niệm đối xử nhân đạo với bệnh nhân; nhưng ở thời xa xưa, các quốc gia Đông Tây – kể cả Việt Nam – thường coi bệnh phong là bệnh nan y, không thể chữa khỏi, phần thì cho là dơ bẩn, ô uế, nên có thái độ ghê tởm và đối xử tàn bạo với bệnh nhân. 

Có một trường hợp điển hình về quan niệm trên ở Việt Nam, đó là thi sĩ tài danh Hàn Mặc Tử – Nguyễn Trọng Trí (1912-1940). Ông không may mắc bệnh phong, mà thành kiến sai lầm cho rằng đây là căn bệnh truyền nhiễm, ô uế, nên bị cộng đồng hắt hủi, ngược đãi; không những thế, gia đình ông còn bị áp lực của chính quyền địa phương đòi phải cách ly. Vì thế, gia đình phải đưa ông đi trốn tránh ở nhiều nơi. Mãi tới khi bệnh trầm trọng mới được đưa vào viện phong Quy Hòa và chết ở tuổi quá trẻ (28 tuổi). Chính Gour Vile – bác sĩ điều trị tại viện phong – đã trách gia đình không đưa bệnh nhân vào trại phong sớm và bác sĩ kết luận nhà thơ chết là do nội tạng hư hỏng quá nhanh do uống quá nhiều thuốc tạp nham của lang băm trước khi nhập viện. Xin đơn cử một số câu thơ của thi sĩ đau khổ vì căn bệnh của mình: 

* “Gió rít từng cao trăng ngã ngửa, Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô, Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy, Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra.” (Bài SAY TRĂNG).

* “Ôi ta đã mửa ra từng búng huyết, Khi say sưa với lượn sóng triền miên, Khi nhận lấy trong thân tâm cay nghiệt, Giọng hờn đau trăm vạn nỗi niềm riêng.” (Bài BIỂN HỒN TA). 

* “Thịt da tôi sượng sần và tê điếng, Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên.” (Bài HỒN LÀ AI). 

* “Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút, Mỗi lời thơ đều dính não cân ta, Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt, Cho mê man chết điếng cả làn da.” (Bài RƯỚM MÁU). 

* “Máu đã khô rồi, thơ cũng khô, Tình ta chết yểu tự bao giờ, Từ nay trong gió – trong mây gió, Lời thảm thương rền khắp nẻo mơ.” (Bài TRÚT LINH HỒN). 

Với dân Do Thái thì cũng vậy, họ đã coi bệnh phong cùi là thứ bệnh ô uế và người bệnh phải bị cách ly. “Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xoã tóc, che râu và kêu lên: “Ô uế! ô uế!” Bao lâu còn mắc bệnh, người ấy sẽ còn là ô uế. Người ấy phải ở riêng ra, chỗ ở của họ là một nơi bên ngoài trại.” (Lv 13, 45-46). Người Do Thái không những coi bệnh nhân là người dơ bẩn ô uế, mà còn quan niệm bệnh hoạn là do tội lỗi gây ra, bệnh càng nặng thì chứng tỏ tội người ấy càng lớn. Đối với bệnh phong cùi, họ cho rằng đây là căn bệnh bất trị, người mắc bệnh này là người bị Chúa phạt, Chúa nguyền rủa bởi vì họ quá tội lỗi. 

Chính vì thế, người Do Thái xa lánh người bị bệnh phong cùi, đẩy bệnh nhân ra khỏi xã hội và ghép họ vào những thành phần bất hảo, còn sống nhưng coi như đã chết rồi. Đến ngay như ngôn sứ Isaia khi nói về Đấng Mê-si-a cũng phải thốt lên một cách chua chát: “Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề.” (Is 53, 4). Điều đó chứng tỏ quan niệm của dân Do Thái quá thiển cận, đầy ác tính. 

Đối với người bị bệnh phong cùi trong bài Tin Mừng hôm nay (CN VI/TN-B – Mc 1, 40-45), có một điều rất đáng lưu ý là người ấy vẫn chấp hành luật lệ Do Thái nghiêm túc đối với mọi người; nhưng khi thấy Đức Giê-su Ki-tô thì người ấy đã phá lệ, thay vì kêu lớn tiếng “ô uế! ô uế!” thì người đó lại “quỳ xuống van xin rằng: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” (Mc 1, 40). Điều này nói lên rằng đức tin của anh ta rất vững mạnh. Anh đã biết và tin rằng Đức Giê-su là Thiên Chúa, mà khi Người là Thiên Chúa thì Người sẽ thương xót và chữa anh khỏi bệnh. Ước nguyện chính đáng của anh xuất phát từ niềm tin tuyệt đối đã giúp anh toại nguyện, khi “Người chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh sạch đi! ” Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch.” (Mc 1, 41-42). 

Còn một điều đáng lưu ý nữa là Đức Giê-su Ki-tô, vì Người là Thiên Chúa nên chỉ cần đứng từ xa, phán một lời là bệnh nhân khỏi bệnh. Vậy mà Người lại “chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh”, trái ngược hẳn với luật lệ khắt khe của người Do Thái. Quả thật Chúa Giê-su luôn quan tâm đến với những người nghèo khó, bệnh hoạn, tật nguyền, bởi “chính Người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta” (Is 53, 4). Và cũng chính vì thế nên “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.” (Mc 2, 17). Quan điểm ấy được biểu lộ rõ ràng khi Đức Giê-su chữa cho người mù từ lúc mới sinh (“Các môn đệ hỏi Người: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?” Đức Giê-su trả lời: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.” – Ga 9, 2-3). 

Khi kẻ viết bài này còn đi giảng dạy tại các huynh đoàn Đa Minh, câu trả lời của Đức Giê-su: “Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh” cũng gây nhiều tranh cãi trong những giờ sinh hoạt, chia sẻ Tin Mừng. Nhiều người cho rằng Đức Ki-tô nói như vậy là có ngậm ý: Vì người mắc bệnh phong tội lỗi quá nhiều nên đã bị Thiên Chúa trừng phạt (sự trừng phạt ấy được chứng minh bằng câu: “công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh”). Thực ra, Đức Giê-su nói như vậy là ngụ ý khi Người chữa bệnh cho người phong hủi thì cũng chính là lúc Thiên Chúa hành sự (bởi chính Người là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật). Nếu không phải như vậy thì Đức Giê-su đã không “chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh sạch đi!” (Mc 1, 41). Và sau khi Người đụng tay vào anh thì “Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch.” (Mc 1, 42). “Công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện” vào chính lúc anh ta được khỏi bệnh. 

Ngay ở Việt Nam cũng đã có một bản sao trung thực hình ảnh “Đức Giê-su chạnh lòng thương chữa người bị phong hủi”, đó chính là Đức Giám mục Jean Cassaigne (30/01/1895 – 31/10/1973). Ngài thuộc Hội thừa sai Paris, năm 1927 sang truyền giáo tại Việt Nam, ngài được cử làm linh mục chính xứ Di Linh. Với tâm huyết “Việt Nam, quê hương của tôi”, ngài đã sống và chết với những người mắc bệnh phong, cống hiến cả cuộc đời cho các dân tộc thiểu số vật lộn với bệnh phong nơi rừng rậm thâm u trên cao nguyên, nơi con người hàng ngày quằn quại chiến đấu với bệnh tật và tử thần. Ngài sáng lập trai phong Di Linh và tận tụy chăm sóc bệnh nhân phong cùi cho đến cuối đời. 

Vì thế ngài được Hội Đồng Giám Mục Việt Nam tôn phong là “Giám mục phong cùi của người phong cùi”. Khẩu hiệu “Bác Ái và Yêu Thương” do ngài chọn đã nói lên điều đó rất nhiều. Sống “Bác Ái và Yêu Thương” đến độ sẵn sàng từ chức giám mục Giáo phận Saigon, để về trại phong sống tới cuối đời. Trang web Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã phác họa “Chân dung linh mục Việt Nam: Đức cha Jean Cassaigne” thời gian đó như sau:

Ngày 20-2-1941, cha sở Di Linh Jean Cassaigne nhận được bài sai về kế nhiệm Đức Giám mục Địa phận Saigon vừa tạ thế. Ngày 24/6/1941, ngay từ 7 giờ sáng, chuông các nhà thờ Saigon đồng loạt đổ vang, báo tin lễ tấn phong Đức cha Cassaigne. Tuy nhiên, sau sáu tháng phục vụ Tông tòa Saigon, rong ruổi khắp địa phận rộng lớn, công việc vất vả đã làm cho các bộ phận cơ thể ngài vốn mệt mỏi, lại bị suy yếu, đến nỗi bệnh phong cùi nằm phục từ lâu, nay phát tác. Làm Giám mục chính tòa Saigon được 14 năm, tới ngày 5/3/1955, ngài xin từ chức và rút lui về trại phong Di Linh. Vào lúc 10g00 đêm ngày 30/10/1973, Đức cha lãnh nhận bí tích xức dầu lần cuối do cha sở họ Di Linh và rạng sáng hôm sau Đức cha đã được Chúa gọi về hồi 01g25.

Trên thế giới ngày nay, bệnh phong cùi không còn là bệnh nan y nữa, nhưng mặc cảm khinh chê ghê tởm đối với căn bệnh này vẫn không phải là đã chấm dứt. Người ta vẫn kinh sợ, vẫn còn cái nhìn ghẻ lạnh, thiếu thiện cảm với những con người mắc phải bệnh đó. Kể ra, để gột sạch được mặc cảm ấy cũng không phải là chuyện đơn giản, vì con số người tin vào Đức Giê-su Thiên Chúa vẫn còn là thiểu số trong cộng đồng nhân loại. Nhưng cái đáng sợ không phải là phong cùi thể xác, mà là phong hủi tinh thần. Phải chăng khi con người chẳng hề nghĩ đến những người anh em đang gặp cảnh khốn cùng vì bệnh hoạn, vì thiên tai, mà co cụm vào trong lâu đài ích kỷ, thì đã là người bị phong hủi tinh thần? Đáng ngại nhất là những người lòng chai dạ đá trước những người anh em đang quằn quại rên siết với không chỉ phong hủi mà là đủ thứ bệnh quái ác. 

Bệnh tật là do định luật tự nhiên của con người (sinh – lão – bệnh – tử). Ai cũng có bệnh, không bệnh nặng thì bệnh nhẹ. Chẳng ai thoát khỏi cái vòng kim cô ấy. Bệnh tật là điều bình thường của kiếp sống con người. Không phải có tội là bị bệnh, có người bị bệnh nhưng không có tội (Ga 9, 2-3), nhưng cũng không hiếm trường hợp khoẻ như voi mà tội lỗi đầy mình. Tội lỗi cũng như bệnh tật, chẳng ai là không có tội. Ấy cũng bởi vì “Lầm lỗi là bản tình của con người” (“errare humanum est” – châm ngôn La ngữ), duy có điều là có biết nhìn lại mình để biết mình có tội và ăn năn hối cải hay không mà thôi. Nên nhớ khi con người phạm tội mà không tự biết, cứ tưởng mình là thánh sống, hiu hiu tự đắc, thì tội chồng lên tội. Vì thế, cũng như khi bị bệnh về thể xác phải tìm thầy chạy thuốc thế nào, thì khi mắc bệnh tâm linh cũng phải biết tìm đến Thầy Thuốc chí thánh xin Người chữa trị cho. 

Hiểu được như vậy, người Ki-tô hữu đừng lo sợ thái quá mà hãy NHÌN LẠI mình để biết mình tội lỗi, nhiên hậu NHÌN LÊN Đấng mà mình đã biết và đã tin: Đức Giê-su Ki-tô; cầu xin “Người chạnh lòng thương giơ tay đụng vào” đáy sâu tâm hồn của mình, chắc chắn ngay lập tức “chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch“. Anh vui mừng phấn khởi vì đã được sạch, ngoài việc tạ ơn Người đã cho anh khỏi bệnh, anh còn cần phải NHÌN RA xung quanh, để cảm thông, giúp đỡ và chia sẻ với những anh em bị bệnh, đặc biệt đối với những người mắc phải chứng bệnh hiểm nghèo. Chỉ có như thế mới không phụ lòng Người Thầy Thuốc Chí Nhân Chí Lành – Đức Giê-su Chí Ái – đã chữa lành cho anh và cũng chính Người đã dạy anh, dạy tất cả chúng ta: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em“ (Ga 15, 12). Môt cách cụ thể, hãy sống với châm ngôn: “Vui với người vui, khóc với người khóc“ (Rm 12, 14). Ước được như vậy. 

Người Ki-tô hữu hãy cùng với Hàn Mặc Tử cầu nguyện cùng Đức Trinh Nữ Maria để “Nhờ Mẹ, đến với Chúa Giê-su – Ad Jesum per Mariam”, xin Người “chạnh lòng thương đụng tay vào” con người bất toàn của minh:

 

AVE MARIA

Như song lộc triều nguyên ơn phước cả,

Dâng cao dâng thần nhạc sáng hơn trăng,

Thơm tho bay cho đến cõi Thiên đàng,

Huyền diệu biến thành muôn kinh trọng thể.

Và Tổng lãnh Thiên thần quỳ lạy Mẹ,

Tung hô câu đường hạ ngớp châu sa,

Hương xông lên lời ca ngợi sum hòa,

Trí miêu duệ của muôn vì Rất Thánh.

Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh!
Run như run thần tử thấy long nhan.
Run như run hơi thở chạm tơ vàng…
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến.
Lạy Bà là Đấng trinh tuyền thánh vẹn,
Giàu nhân đức, giàu muôn hộc từ bi,
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy,
Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế.
Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ,
Dòng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ,
Bút tôi reo như châu ngọc đền vua,
Trí tôi hớp bao nhiêu là khí vị,
Và trong miệng ngậm câu ca huyền bí,
Và trong tay nắm một nạm hoà quang,
Tôi no rồi ơn võ lộ hoà chan.

Tấu lạy Bà. Bà rất nhiều phép lạ,
Ngọc như Ý vô tri còn biết cả,
Huống chi tôi là Thánh thể kết tinh,
Tôi ưa nhìn Bắc Đẩu rạng bình minh.
Chiếu cùng hết khắp ba ngàn thế giới,
Sáng nhiều quá cho thanh âm vời vợi,
Thơm dường bao cho miệng lưỡi không khen,

Hỡi Sứ Thần Thiên Chúa Ga-bri-en,
Khi người xuống truyền tin cho Thánh Nữ,

Người có nghe xôn xao muôn tinh tú,
Người có nghe náo động cả muôn trời,
Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời,
Để ca tụng – bằng hương hoa sáng láng,
Bằng tràng hạt, bằng Sao Mai chiếu rạng,
Một đêm xuân là rất đỗi anh linh,
Đây rồi đây rồi chuỗi ngọc vàng kinh,

Thơ cầu nguyện là thơ quân tử ý,

Trượng phu lời và Tông đồ triết lý,

Là nguồn trăng yêu mến Nữ Đồng Trinh,

Là nguồn đau chầu lụy Nữ Đồng Trinh.

Cho tôi thắp hai hàng cây bạch lạp,

Khói nghiêm trang sẽ dâng lên tràn ngập,
Cả Hàn Giang, cả màu sắc thiên không,
Lút trí khôn và ám ảnh hương lòng,
Cho sốt sắng, cho đê mê nguyện ước.

Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phước
Cho tình tôi nguyên vẹn tợ trăng rằm
Thơ trong trắng như một khối băng tâm
Luôn luôn reo trong hồn, trong mạch máu
Cho vỡ lở cả muôn ngàn tinh đẩu
Cho đê mê âm nhạc và thanh hương
Chim hay tên ngọc, đá biết tuổi vàng
Lòng vua chúa cũng như lòng lê thứ
Sẽ ngất ngây bởi chưng thơ đầy ứ
Nguồn thiêng liêng yêu chuộng Mẹ Sầu Bi.”
 

Phượng Trì, Phượng Trì, Phượng Trì, Phượng Trì,

Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu

Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu

Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang.

 

Ôi! “1- Ave Maria! Con dâng lời chào Mẹ. Ave Maria! Con dâng lời chào Mẹ. Khi tàn mầu nắng chiều và khi sương đêm nặng gieo. Con say sưa lời ca chào Ave Maria. Con dâng lên Mẹ lời mừng Maria đầy phúc, Maria đầy ơn, Mẹ luôn có Chúa ở cùng. Maria Mẹ hiền từ, xinh hơn muôn phụ nữ. Con dâng lên lời ca, Mẹ tươi hơn muôn ngàn hoa. 2- Ave Maria! Con dâng lời chào Mẹ. Ave Maria! Con dâng lời chào Mẹ. Khi đời đầy môi cười và khi cô đơn lệ rơi. Con say sưa đọc lên lời Ave Maria! Qua bao năm lạc đường đời bao đêm sương mờ tối, Maria Mẹ ơi, hồn con héo úa rã rời. Con trông lên Mẹ dịu dàng, ôi sao mai bừng sáng. Maria tình thương, Mẹ ơi trông xem hồn con.” (TCCĐ “Ave Maria”). 

Ôi! “Lạy Chúa, Chúa thích ngự trong những tâm hồn ngay thẳng, xin tuôn đổ hồng ân giúp chúng con ăn ở thế nào, để trở nên đền thờ của Chúa. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ CN VI/TN).

Về mục lục

.

TẤM LÒNG CỦA ĐỨC GIÊSU

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

Đức Giê-su chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo:

“Tôi muốn, anh hãy được sạch!”

 Lập tức bệnh phong biến khỏi anh, và anh được sạch.

I. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (1,40-45):

(40) Khi ấy, có người bị phong đến gặp Đức Giê-su, anh ta quỳ xuống van xin rằng:  “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.”  (41) Đức Giê-su chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh hãy được sạch!” (42) Lập tức bệnh phong biến khỏi anh, và anh được sạch. (43) Nhưng Người nghiêm giọng đuổi anh đi ngay, (44) và bảo anh: “Coi chừng, đừng nói gì với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế; và vì anh đã được sạch, thì hãy dâng những gì ông Mô-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết.” (45) Nhưng vừa đi khỏi, anh đã bắt đầu rao truyền và loan tin ấy khắp nơi, đến nỗi Đức Giê-su không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành. Và dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Người.

II. TÌM HIỂU VÀ SUY NIỆM LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (1,40-45):  

2.1 Bài Phúc âm hôm nay cho chúng ta một bức tranh hết sức sống động về tấm lòng của Đức Giê-su, Con Thiên Chúa làm người. Đức Giê-su có một tấm lòng nhạy cảm nên Người chạnh lòng thương đối với người phong cầu cứu Người. Trái tim Người cũng sẽ rung động trước mọi nỗi thống khổ của con người. Từ đó Người giơ tay chữa lành những con người tật nguyền chạy đến kêu xin Người cứu chữa.  

Qua cách thể hiện tình yêu thương,  Đức Giê-su, Con Thiên Chúa làm người, dẫn đưa tất cả những ai đã được Người chữa lành đến với tấm lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa Cha. Cha còn yêu thương loài người khốn khổ hơn cả Đức Giê-su khi Cha sai Con Một xuống trần gian để Con Cha rao giảng Tin Mừng và hiến dâng mình trên Cây Gỗ hầu đem ơn cứu chuộc đến cho loài người bất trung bất hiếu. 

2.2 Tấm lòng yêu thương của Đức Giê-su chẳng những chữa lành người bị bệnh phong mà con chinh phục tâm hồn người ấy khiến người ấy không thể cầm lòng im lặng trước ân huệ lớn lao của Đức Giê-su nên đã rao truyền về Đấng Chữa Lành cho mọi người biết. 

III. THỰC THI  LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (1,40-45):

3.1 Mỗi chúng ta cũng đã được Đức Giê-su chữa lành như người bệnh phong trong Phúc âm: Biết bao tội chúng ta đã phạm vì yếu đuối, đam mê hay vì thiếu sót đã được Chúa thứ tha xóa bỏ trong Bí Tích Sám Hối. Biết bao ơn lành Chúa đã ban cho chúng ta mà chúng ta không biết cảm tạ Chúa. Chúa vẫn cho chúng ta sống và vẫn tiếp tục yêu thương chữa lành cho chúng ta.

3.2 Mỗi chúng ta cũng phải rao truyền Lòng Yêu Thương và Ơn Chữa Lành của Đức Giê-su cho mọi người xung quanh như người bệnh phong trong Phúc âm. Im lặng là chúng ta mắc tội vô ơn thêm một lần nữa với Đấng yêu thương và ban ơn cho chúng ta.

IV.  CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (1,40-45):

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô là Đấng đã chạnh lòng thương trước nỗi khổ của người bị bệnh phong. Chúa đã giơ tay chữa lành cho người ấy. Chúa cũng đã chạnh lòng thương trước nỗi khổ của con và giơ tay tha thứ và chữa lành cho con biết bao lần. Con xin dâng lên Chúa lời cảm tạ chân thành.

Con sẽ cao rao Tình Thuơng và Quyền Năng của Chúa trong những năm tháng con còn sống, để những người quen biết con biết rằng Chúa tha thứ và chữa lành con.

Xin Chúa giơ tay chữa lành các bệnh nhân đang mong chờ sự can thịep của Chúa để họ đuợc khỏi bệnh và sống an bình trong Tình Thương của Chúa.

Con cầu xin Chúa là Đấng hằng sống hằng trị cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần đến muôn ngàn đời. Amen.

Về mục lục

.

TÔI MUỐN, ANH HÃY ĐƯỢC SẠCH

Fx Đỗ Công Minh

              Những ngày xuân mới đang trở về trên quê hương đất Việt của chúng con, người người, nhà nhà đang nô nức chào đón bằng việc dọn cửa dọn nhà, trang trí trong ngoài căn nhà vật chất. Nhưng người tín hữu chúng con cũng nhân những ngày này dọn tâm hồn, căn nhà thiêng liêng để đón Chúa là Mùa xuân vĩnh cửu.

             Trong những ngày đón xuân này Giáo hội cho chúng con được dịp suy niệm về tình thương bao la của Thiên Chúa qua bài Tin Mừng chúa nhật thứ 6 thường niên, thuật lại việc Chúa Giêsu chữa lành cho một người bị bệnh Phong. Phong cùi là một loại bệnh khó chữa thời ấy, đã có từ hàng ngàn năm trước. Không chỉ ở Do Thái mà còn ở nhiều nơi khác, người bị bệnh Phong bị xã hội kì thị,họ phải sống xa khu dân cư, không được tiếp xúc với mọi người. Trong Kinh Thánh còn ghi lại việc những người bị bệnh Phong khi thấy có người đi đến gần phải la lên “ô uế, ô uế “ để họ biết mà tránh xa(Lv 13;45). Những người trót mang căn bệnh, ngoài sự đau đớn về thân xác, sự ruồng bỏ của cộng đồng. Về phía tôn giáo còn bị coi là người tội lỗi, bị Chúa phạt . . .  Mãi cho đến thế kỷ 20, con người mới khám phá ra thuốc điều trị và ngăn ngừa bệnh này. Người bị bệnh cũng đã được đối xử tốt hơn qua các tổ chức y tế, bác ái từ thiện , tuy vẫn còn ít nhiều dị ứng của xã hội. Chúa Giêsu rất thấu hiểu nỗi niềm của những bệnh nhân này. Người không ngại tiếp đón, lắng nghe và còn sẵn sàng đáp lời kêu cầu của người mắc bệnh phong. Sẵn sàng cúi mình xuống, chạm vào người bệnh và chữa lành . “ Tôi muốn, anh hãy được sạch !”. Lập tức bệnh phong biến khỏi anh và anh ta được sạch.

            Đức Giêsu Kitô, đấng cứu độ con người. Người đến xóa mọi bất công, Người đến cứu kẻ cơ hàn. Người đến rao giảng Tin Mừng về một Thiên Chúa là Cha yêu thương hết mọi người. Chúa đã trở nên một con người như chúng con, ngoại trừ tội lỗi, để nâng con người lên trở thành người như Chúa đã làm người. Chúa không những chữa lành các bệnh tật con người về thể lý mà còn là chữa trị những tật bệnh về phần linh hồn, tẩy xóa mọi vết nhơ tội lỗi, xóa đi những gì là nhơ bẩn để con người trở nên thanh sạch, không còn bị mang tiếng là ô uế trước mặt Thiên Chúa và đồng loại.

            Ngày hôm nay, không ít người trong chúng con đây cũng đang mắc đủ thứ bệnh. Nhẹ thì đau lưng nhức mỏi, tăng áp huyết, mỡ trong máu. Nặng hơn thì tiểu đường, bị Gút, suy nhược toàn thân. Nặng hơn nữa thì ung thư, lao hạch. . . chúng con xin Chúa thương chữa lành như xưa Chúa đã chữa cho biết bao người có lòng tin tưởng tuyệt đối vào Chúa. Nhưng cũng còn biết bao căn bệnh linh hồn. Khi chúng con tự tách mình ra khỏi cộng đồng những kẻ tin, không những bản thân ô uế mà lại còn làm cho nhiều người khác sinh ra ô uế. Nghe tiếng Chúa mời gọi, biết Chúa là đấng toàn năng có thể chữa mọi bệnh tật linh hồn, xóa đi mọi vết nhơ tội lỗi nhưng vẫn cố tình chìm đắm trong sự ô uế, ngoảnh mặt đi trước những lời mời gọi của Chúa, khước từ vị Thầy thuốc từ trời đến, để được tự do sống trong đam mê dục vọng,tham lam, ích kỷ, tự do suy nghĩ và hành động theo ý riêng mình. Rồi một lúc nào đó người bệnh sẽ cần đến thầy thuốc, con biết con cần đến Chúa trong cuộc đời. Nhưng lúc ấy là lúc nào và con có đủ can đảm như người bệnh Phong trong Tin Mừng thưa lên : “ Lạy Chúa, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho con được sạch” ?

           Xin cho con biết “ Nếm thử mà xem, Chúa ngọt ngào dường bao “ mỗi ngày, mọi ngày. Biết trở về, biết sám hối và tin vào Tin Mừng và “ cao rao loan truyền tin đó” như  người bệnh phong trong Tin mừng sau khi đã được Chúa chữa lành  . AMEN.

Về mục lục

.

MẠNH DẠN ĐẾN VỚI CHÚA GIÊSU

Lm. Giuse Nguyễn Văn Hữu

Bệnh phong hủi là một trong những bệnh lây nhiễm thuộc hạng tứ chứng nan y của xã hội ngày xưa. Để tránh lây nhiễm, người mắc bệnh phong phải sống ở một nơi riêng biệt ngoài đồng ruộng, nơi rừng núi hay trong sa mạc, không được phép giao du tiếp xúc với mọi người, kể cả người thân.

Hơn nữa, theo quan niệm bình dân, người mắc bệnh phong là kẻ tội lỗi hơn người khác, nên bị Trời đánh, Thánh phạt. Ai tiếp xúc với người phong thì mang tội, bị mắc uế. Bị kỳ thị cô lập như thế, người bệnh rất đau khổ: Đau đớn thể xác! Đau khổ tinh thần! Sống mà như thế coi như đã chết !

Bài đọc 1 trích từ sách Lêvi đã giúp ta mường tượng và cảm nghiệm một phần nào nỗi đau khổ của người bệnh phong: “Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xõa tóc che râu và kêu lên: Ô uế! Ô uế! Bao lâu còn mắc bệnh người ấy sẽ còn là ô uế. Người ấy phải ở riêng ra bên ngoài trại”.

Thế mà anh chàng phong hủi trong bài Tin Mừng hôm nay lại xé rào. Anh ta ngang nhiên đến gặp Chúa Giêsu, sấp mình xuống van xin Chúa chữa lành căn bệnh quoái ác cho anh: “Lạy Thày, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”.

Tại sao anh chàng phong hủi lại dám làm thế? Tại Chúa Giêsu. Vâng, tại Chúa Giêsu mà anh bất chấp tất cả! Nếu không phải là Chúa thì chắc chắn là không bao giờ, không bao giờ anh dám làm thế!

Thái độ bạo dạn, đầy lòng tin tưởng của người phong hủi đã được Chúa Giêsu đáp đền qua việc Ngài đụng chạm vào da thịt lở loét của anh và bảo: “Tôi muốn anh hãy được sạch. Tức thì bệnh phong biến mất”!

Đụng chạm vào thân thể người phong hủi. Đó là việc tày trời, là hành động cách mạng của Chúa Giêsu trước luật lệ cấm kỵ, sạch dơ trong xã hội và tôn giáo Dothái đương thời.

Tại sao Chúa Giêsu lại làm thế? Phải chăng Chúa là người quấy rối, cố tình vi phạm luật lệ của Thiên Chúa và tiền nhân đã được ghi chép trong Kinh Thánh?

Chúa không phải kẻ quấy rối, phá bỏ lề luật. Ngài là hiện thân của tình yêu thương xót và cứu độ của Thiên Chúa trên trần gian. Đi tới đâu, Ngài thi ân giáng phúc tới đó. Ngài đến để tìm và cứu chữa những gì đã hư mất, hầu giải phóng con người khỏi ách nô nệ của tội lỗi, bệnh tật và lề luật: “Ta đến không phải để phá huỷ lề luật mà là để kiện toàn” (x. Mt 5,17).

Chúng ta không mắc bệnh như anh chàng phong trong Tin mừng, nếu có thế giới ngày nay đã chữa trị được căn bệnh này. Nhưng thế giới và bản thân mỗi người chúng ta đang phải gánh chịu những căn bệnh nan y khác. Đó là bệnh Sida- HIV, bệnh khô khan biếng trễ việc đạo, bệnh chồng chung vợ chạ, bệnh ghen ghét thù oán người đồng loại, bệnh kêu ngạo coi trời bằng vung, bệnh nói hành nói xấu nhau, bệnh gian dối cẩu thả, bệnh tham ô hối lộ, bệnh keo kiệt hà tiện, bệnh thành tích hình thức, bệnh cắt xén xuyên tạc sự thật, bệnh tiêu xài hoang phí tiền của, sức khoẻ và thời giờ v.v. Chúng là những biến tướng của bệnh phong, là đại hoạ cho gia đình và xã hội. Cần phải noi gương bắt chước Chúa Giêsu, để cùng nhau bắt tay bài trừ, tiêu diệt tận gốc những căn bệnh quái ác này.

Thánh Phao-lô đã noi gương bắt chước Chúa Giê-su trong mọi hoàn cảnh, để tôn vinh Thiên Chúa và làm cho nhiều người được cứu độ như bài đọc 2 trích từ thư thứ nhất của ngài gửi cho tín hữu thành Cô-rin-tô mà chúng ta vừa nghe (x. 1Cr 10,31-11,1).

Muốn được như vậy,  chúng ta phải mạnh dạn đến với Chúa Giê-su, tin tưởng vào Chúa Giêsu như anh chàng phong hủi, để xin Ngài chữa lành. Chúng ta có làm được như thế không? Có phải vì tin vào Chúa và muốn làm vinh danh Chúa mà chúng ta đến với Chúa không?

Nếu không vì yêu mến Chúa và vinh danh Chúa, thì hãy ở nhà mà làm ăn buôn bán, kẻo mất thời gian tốn công vô ích. Nếu vì yêu mến Chúa và vinh danh Chúa, ta hãy an tâm ở lại, mạnh dạn trút đổ, trao phó cho Chúa những bệnh tật của bản thân, gia đình, làng xã, xứ đạo và xã hội ta đang sống. Xin Chúa hãy giơ tay đụng chạm đến những ung nhọt tội lỗi ấy và làm cho nó tan biến đi, nhờ đó ta được sống trong an lành, thanh khiết.

Có phải ta làm việc tông đồ và rao giảng Tin mừng để làm vinh danh Chúa và giúp cho mọi người nhận biết và tôn thờ Chúa, là Chúa tể trời đất, là căn nguyên cội rễ mọi sự, là nguồn mạch mọi phúc đức không? Nếu không, ta đừng làm, đừng rao giảng, chỉ tổ chuốc lấy những khó nhọc, vất vả vào thân! Nếu phải, ta hãy nhiệt tâm làm việc tông đồ, mạnh mẽ can đảm mà rao giảng Tin Mừng! Đừng sợ gì cả! Chúa sẽ biến đổi lòng người.

Lạy Chúa, Chúa đã biến đổi Phaolô từ một người biệt phái hăng say bách hại đạo Chúa trở thành vị tông đồ nhiệt thành đem Tin mừng cho dân ngoại. Chúa đã chữa lành người phong hủi làm cho anh lành lặn tươi tắn và tái gia nhập cộng đoàn. Xin Chúa biến đổi, chữa lành bản thân và gia đình con, xứ đạo và làng xã con, tổ quốc và thế giới con đang sống, hầu danh Chúa được cả sáng, Nước Chúa được hiển trị, thế giới được hoà bình, xã tắc được an ninh – thịnh vượng, gia đình được yên vui – hạnh phúc. Amen.

Về mục lục

.

ĐỨC GIÊSU – ĐẤNG CHỮA LÀNH MỌI BỆNH TẬT

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Một khi đã tin vào Đức Giêsu nhờ lời rao giảng, các tín hữu tiên khởi tiếp tục tìm hiểu về Đức Giêsu qua những gì các tông đồ kể lại, và phần lớn những điều này được ghi lại nơi các sách Tin Mừng.

Niềm tin vào Đức Giêsu làm thay đổi cuộc đời tín hữu, khi họ nhận ra Thiên Chúa hằng yêu thương họ, một cách rất đặc biệt qua Đức Giêsu.

1) Tội còn khủng khiếp hơn bệnh phong cùi nhiều

Ngày nay với tiến bộ của y khoa, người ta đã chế ngự được bệnh phong. Bệnh phong ngày nay cũng chỉ là một bệnh như bao bệnh khác. Ngày nay người ta hay có thái độ xa cách đối với những người mắc bệnh hư miễn nhiễm (HIV, AIDS) như ngày xưa người ta đã có đối với những người mắc bệnh phong cùi. Kitô hữu tuy phải khôn ngoan để không bị lây nhiễm, nhưng không được có thái độ thiếu bác ái trong cách cư xử đối với những người anh chị em bị mắc những bệnh này.

Ngày xưa khi chưa khắc phục được bệnh phong cùi, thì bệnh này là một nỗi kinh hoàng cho những người bị nhiễm và cho cả những thân nhân của người bệnh nữa. Vì là bệnh truyền nhiễm nên người ta đã phải có biện pháp để bảo vệ những người khác cho khỏi bị lây nhiễm, nghĩa là, bảo vệ xã hội khỏi bị tiêu diệt, vì thế thậm chí đôi khi người ta áp dụng những biện pháp rất khắc nghiệt. Người bệnh phải sống tách biệt với người khác, kể cả những người thân thuộc như vợ chồng con cái. Dù rất yêu nhau, họ cũng phải sống xa cách, và không được phép lại gần nhau; điều này áp dụng không chỉ với hai người nam nữ yêu nhau, nhưng cả đối với người mẹ và người con còn thơ dại.

Mọi tật bệnh và đặc biệt bệnh phong cùi, theo quan điểm của người Do Thái, là hậu quả của tội. Qua cái gì cụ thể hữu hình là bệnh, người ta thấy nơi tội một cái gì tương tự như bệnh phong cùi gây cho con người. Tội là thái độ hận thù ghen ghét anh chị em mình và không sống như con Thiên Chúa. Tội làm người ta xa nhau, làm người ta bị cô lập với cộng đoàn, làm người ta mất bình an mất vui và không được hạnh phúc.

2) Đức Giêsu- dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện

Nếu đặt mình vào trường hợp và tâm trạng của anh bị bệnh phong được Đức Giêsu chữa lành hôm nay, người ta sẽ thấy anh ta mong ước được khỏi bệnh “khủng khiếp” này đến độ nào. Ao ước này đặc biệt rất mãnh liệt nếu anh ta có vợ và con thơ yêu dấu. Ai có thể giúp anh ta được? Đức Giêsu xuất hiện như niềm hy vọng của anh ta. Anh ta đã qùy xuống nài xin Đức Giêsu! “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể chữa tôi!”

Làm sao anh ta có thể tin Đức Giêsu như vậy? Qua cách sống, lời giảng dạy, và những dấu lạ Đức Giêsu làm, người ta tin vào Đức Giêsu hơn. Xưa tiên tri Elisa cũng đã chữa viên quan Naaman của Syria, một người bị bệnh cùi chỉ bằng lời truyền cho ông đi tắm bảy lần ở sông Yordan (2V.5, 1-27); bây giờ, nếu Thiên Chúa muốn, nếu vị tiên tri Giêsu này muốn, thì Ngài cũng có thể làm như tiên tri Elisa đã làm chứ. Đức tin của người bệnh phong cùi này phản ảnh đức tin của con người thời đó đối với Đức Giêsu; hơn nữa, qua anh ta người ta nhận ra Thiên Chúa đang tác động nơi anh ta, làm anh ta tin tưởng tuyệt đối vào Đức Giêsu.

Đức Giêsu đã xúc động và thương anh ta thật sự. Ngài đọc được nỗi khổ của người bị bệnh phong cùi này. Ngài thấy được khao khát của anh ta qua việc anh qùy gối trước Ngài để nài xin ân huệ được khỏi bệnh. Đức Giêsu đã đưa tay ra, chạm vào anh và nói: “dĩ nhiên là tôi muốn, anh hãy lành đi.” Đức Giêsu thương anh ta, và qua anh ta, thương tất cả con người đang đau khổ bệnh tật. Đức Giêsu thương con người, Thiên Chúa yêu thương con người. Thiên Chúa không muốn con người khổ não, Ngài muốn con người bình an và hạnh phúc. Đức Giêsu là dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện để yêu thương, để chữa lành và nối kết con người lại với nhau và với Thiên Chúa.

3) Đức Giêsu không chỉ là một con người

Tại sao Đức Giêsu không chữa tất cả những người bị bệnh phong cùi thời đó? Tại sao Đức Giêsu không chữa lành tất cả mọi bệnh tật của con người? Tại sao Đức Giêsu không biến đổi tất cả để làm con người đừng thù ghét nhau nữa nhưng luôn yêu thương và giúp đỡ nhau? Đức Giêsu là một người như tất cả mọi người, nên Ngài không thể làm được điều đó. Nếu Ngài làm được điều đó, người ta sẽ nói Ngài không là người thật vì Ngài không chia sẻ nỗi bất lực trước nỗi khổ của con người. Ngài là người, Ngài bất lực và thậm chỉ không biết cả tương lai nữa. Những gì con người không biết và không làm được, mà Ngài biết và làm được, thì đó là ơn huệ và là dấu chỉ Thiên Chúa ban để giúp con người nhận biết chân tướng của Ngài mà thôi.

Đức Giêsu chữa người bị bệnh phong cùi không bằng cách như tiên tri Elisa đã làm đối với Naaman, viên quan của Syria, nhưng bằng một lời: “tôi muốn chứ, anh khỏi đi.” Cách chữa bệnh bằng lời của Đức Giêsu, cho người ta biết hơn về chân tính của Ngài. Ngài có uy quyền, trổi vượt hơn cả các tiên tri trước, kể cả Môsê. Thời Môsê, mấy người chống đối ông bị phạt mắc bệnh phong cùi; những người này đã hoảng sợ và xin ông Môsê cầu khẩn Thiên Chúa tha thứ cho họ; ông Môsê đã xin Chúa, và Chúa đã cho họ được khỏi. Đức Giêsu đã không chữa người bị bệnh này như vậy; Ngài làm như thể Ngài có quyền chữa bệnh vậy, và cách nói của Ngài làm người ta hiểu như thể quyền đó từ Ngài mà ra.

Qua cách trình bày của Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu là người rất đặc biệt. Ngài thương yêu con người, rung động trước nỗi khổ của con người, Ngài yêu thương và chữa lành con người, giúp họ trở lại với cộng đoàn con người, trở lại với người thân yêu và nhận ra Thiên Chúa vẫn luôn yêu thương họ. Đức Giêsu còn là một người trổi vượt hơn những người khác, hơn các tiên tri nổi tiếng ngày xưa là Elisa và Môsê. Như thể tự Ngài, Ngài có quyền chữa lành bệnh tật. Ngài là người, và hơn là một con người. Ngài là Đấng “từ trên.”

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

  1. Với cách hành xử của Đức Giêsu hôm nay, bạn được đánh động ở điểm nào? Xin chia sẻ?
  2. Thánh Phaolô viết: “vậy dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1Cr. 10, 31). Bạn có thể làm được điều này không? Bằng cách nào?

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT 6 THƯỜNG NIÊN – NĂM B

Lm. Grêgôriô Lê Văn Hiếu

 “Có người mắc bệnh phong đến gặp Đức Giêsu, anh ta quỳ xuống van xin rằng: ‘Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch” (Mc 1,40).

 Kính thưa cộng đoàn Phụng vụ,

Sinh ra trong cuộc đời; là con người ai ai cũng phải chấp nhận những khổ đau của kiếp nhân sinh. Thi sĩ hương quê Lê Hiếu cảm tác những đau khổ về phận người “Trước khi chào đời cất tiếng oa oa. Già nua tuổi tác thấy đời hiu quạnh. Bệnh tật hao gầy trông đời thấu khổ. Tử thần rình rập chồng chất âu lo”.v.v. Nhận thấy đời là bể khổ, nên Đức Phật đã tìm cách để diệt khổ. Nhưng cuộc đời dễ có mấy ai có thể xuất thế để diệt khổ được như ngài. Người phong cùi được nói đến trong bài đọc I, trích từ sách Lêvi của thời Cựu ước cũng như trong trình thuật Tin mừng của Thánh Máccô hôm nay là tiêu biểu cho nỗi khổ đau bất hạnh mà trong tứ diệu đế cũng đề cập đến. Có thể nói bằng từ ngữ để gọi cho nỗi đau của người phong cùi hôm nay bằng một cụm từ trong ngoặc kép “còn sống mà như đã chết”. Anh người phong cùi còn đang sống mà như đã chết! 

Thật vậy, anh phong cùi đã chết bởi những định chế cấm kỵ và quy định của thời bấy giờ thật khắc nghiệt; chết với bệnh tật thể xác mà mình đã mang; chết với nỗi đau khốn cùng của cơn bệnh hiểm nghèo. Người phong cùi trong thời Chúa Giêsu cũng như trước đó phải theo luật định đã đau cùng đớn khổ vì bị cách ly với gia đình, với quần thể xã hội mà anh đang sống. Người phong cùi không chỉ đau về mặt thể xác với bệnh tật dày vò, mà còn đớn cùng khổ đau về phương diện tâm lý xã hội, về mặt tinh thần tâm can và thậm chí cả đời sống tâm linh tôn giáo nữa. Nỗi đau ấy là nỗi đau của đoạn trường xa lìa chia cách; nỗi đau của bản thân và từ trong gia đình; của sự ngăn ngừa kiểm chứng bệnh tật. Cụ thể sách Lêvi trong bài đọc I hôm nay cho thấy: Người phong cùi lấy thân che áo; lấy đầu che mũ; lấy tóc che mặt; lấy áo che miệng và đi đến đâu thì phải la to rung chuông báo hiệu cho mọi người biết là mình ô uế; để rồi tránh xa kẻo bị lây nhiễm vì sự ô uế bệnh tật của mình. (x. Lv13,45 – 46).

Thật là một đau khổ mà người phong cùi phải ngậm đắng nuốt cay. Nuốt cả những bất hạnh của chính mình trong bệnh tật và biệt giam trong cảnh khốn cùng trong tương quan với tha nhân. Người phong cùi được coi là xác chết biết đi hay gọi “còn sống mà như đã chết”. Cái chết của sống cùng sống với; cái chết trong chiều kích xã hội; cái chết trong yếu tố chính cấu thành yếu tính của con người. Và thậm chí chết đi cả về mặt tâm linh tôn giáo của thời bấy giờ; bởi bệnh tật được xem như là tội lỗi và là điều mà Thiên Chúa chúc dữ.

Cảm thương và xót xa cho con người đã bị cô độc giữa rừng người; Chạnh lòng xót thương với những hoàn cảnh bi đát khốn cùng của căn bệnh phong dày vò. Cảm thông với nổi tủi thân bất hạnh mà con người được sinh ra để sống cùng, sống với mà xã hội như hất hủi, tẩy chay loại trừ và ruồng bỏ. Cảm thông với căn bệnh không một bác sĩ chữa trị cũng như không một bệnh viện nào có thể chữa lành được và nhất là cảm thấu được lòng ước muốn kêu xin đầy tin tưởng và lạc quan của người phong cùi “Lạy Thầy, nếu Thầy muốn Thầy có thể chữa tôi nên sạch”.

Người phong cùi đã được Thầy thuốc Giêsu chữa lành và đi trình diện với các tư tế là hình ảnh “đã chết mà nay được sống”. Được sống bởi anh đã được chữa lành. Được sống để anh đi trình diện với các tư tế theo luật Môsen đã truyền; được sống bởi anh biết vượt qua mọi rào cản trở ngại tứ bề để đến và gặp được Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự sống. Được sống bởi lòng tín thác cậy trông vào Đấng đã đến tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư mất và được sống bởi anh biết quẳng gánh âu lo vào trong chính Đấng giàu lòng thương xót như Đấng đã từng mời gọi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề; hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi và bổ sức cho” (Mt 11, 28).

Thật vây, Đức Kitô đến! Ngài đã mang vương quốc Tình Yêu và Sự sống của Thiên Chúa vào trong trần gian này. Người đến với sứ mạng thi ân giáng phúc và rộng mở tay ban. Các sách Tin mừng đều đề cập: Người chữa lành những kẻ ốm đau tật nguyền… Người có uy quyền trên tất cả, trên bệnh tật, trên sự dữ và ngay cả trên tử thần. Người nhập thể và nhập thế; Người không cất khỏi những khổ lụy của trần gian, của đời là bể khổ. Nhưng Người cất lấy và mang lấy tất cả những ách nặng nề và khổ lụy của kiếp nhân nhân sinh trên Thập Giá Tình Yêu và trong vinh quang Phục Sinh khi Người từ trong cõi chết sống lại.

Kính thưa cộng đoàn Phụng vụ,

Ngày hôm nay bệnh phong cùi không còn là một chứng bệnh nan y như cách đây trên 2000 năm. Với thời đại khoa học thông tin phát triển; nghành y có thể khống chế được chứng bệnh hiểm nghèo này. Điều đáng sợ của căn bệnh phong cùi trong thời đại mà chúng ta đang sống là làm cùi dần cùi mòn về thiên nhiên, về vũ trụ mà Thiên Chúa đã tạo dựng và ân ban cho con người. Bệnh phong cùi có thể lây lan và làm chết dần chết mòn nhiều nơi, nhiều người về nhân bản; về đạo đức, về cách cư xử lẫn nhau trong tương giao giữa người với người. Nói một cách cụ thể, chung quanh chúng ta, trong xóm làng, trong xứ đạo, trong họ hàng bà con thân tộc, có lẽ không có ai mắc phải chứng bệnh phong cùi thể xác để chúng ta phải tránh xa. Nhưng nói một cách nào đó dù vô tình hay hữu ý chúng ta đã có những thái độ đối xử với nhau như người mắc bệnh phong cùi cách đây trên 2000 năm. Khi chúng ta cố tình xa tránh, xua đuổi, ruồng bỏ, hất hủi, tẩy chay, gây khó chịu cho một người nào đó; cho dù người ấy là cha mẹ, anh chị em, bạn bè, người hàng xóm láng giềng hay bất cứ ai khác, thì chúng ta đang đối xử với họ chẳng khác gì người ta đã đối xử với những người phong cùi xấu số ngày xưa. Tất cả những thái độ đối xử như thế đều không phải là cách đối xử giống như Đức Kitô. Đối xử như Đức Kitô mà Thánh Phaolô bắt chước Người, để rồi thánh nhân khuyên dạy cho hậu lai chúng ta như ngài đã khuyên trong giáo đoàn Côrintô trong bài đọc thứ II mà hôm nay chúng ta được nghe: “Dầu anh em ăn, dầu anh em uống, dầu anh em làm việc gì khác, anh em hãy làm mọi sự cho sáng danh Chúa. Anh em đừng nên cớ cho người khác vấp phạm. Hãy tìm điều lợi ích cho nhiều người để họ được cứu rỗi. Hãy bắt chước tôi như tôi bắt chước Đức Kitô”. (1 Cor 10, 31-11,1)

Người mắc bệnh phong hủi trong câu chuyện Phúc Âm chúng ta vừa nghe đã “đến gặp Đức Giêsu, anh ta quỳ xuống van xin rằng: ‘Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch” (Mc 1,40) và Chúa Giêsu đã chữa cho anh ta được lành sạch. Chớ gì mỗi một người trong chúng ta cũng biết học theo như anh người phong cùi ấy, để ý thức về tình trạng của chính mình và luôn biết chạy đến cùng Chúa Giêsu để khẩn cầu Người chữa lành cho mình.

Tôi xin mượn câu Thánh Vịnh 31,11 vừa được xướng lên trong đáp ca để cầu chúc cho anh chị em đang hiện diện và đang hết lòng tin tưởng vào tình yêu Thiên Chúa nơi đây: “Hỡi những người công chính, hãy vui lên trong Chúa, hãy nhảy mừng. Mọi tâm hồn ngay thẳng, nào cất tiếng hò reo” (Tv 31,11). Ước gì được như vậy. Amen.    

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚ GIẢI CHÚA NHẬT 6 THƯỜNG NIÊN_B

Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Ba bài đọc của Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật VI Thường Niên năm B có chung một chủ đề về sự thanh sạch và sự ô uế.

Lv 13: 1-2, 45-46

Đoạn trích sách Lê-vi cho thấy rằng bệnh phong hủi làm cho con người trở nên ô uế trầm trọng. Người phong hủi đau đớn không chỉ về phần xác nhưng cả phần hồn nữa, vì bệnh ấy bị coi là hình phạt do tội lỗi gây nên. Vì thế, chỉ có Thiên Chúa mới có thể chữa lành bệnh phong hủi mà thôi.

1Cr 10: 31-11: 1

Trong đoạn trích thư thứ nhất gởi các tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô chỉ cho thấy làm thế nào sự tự do của người Ki-tô hữu vượt lên trên vấn đề thanh sạch và ô uế về những lệnh cấm thức ăn, thức uống. Bởi lẽ Chúa Ki-tô đến để giải thoát chúng ta khỏi mọi hình thức nô lệ.

Mc 1: 40-45

Tin Mừng cho chúng ta thấy Đức Giê-su không ngại chạm đến người phong hủi để chữa lành anh ta. Ngài cũng đối xử theo cùng một cách như vậy đối với những tội nhân. Ngài đến để thanh tẩy chúng ta khỏi tội lỗi.

BÀI ĐỌC I (Lv 13: 1-2, 45-46).

Sách Lê-vi là một trong năm cuốn sách đầu tiên của bộ Kinh Thánh được gọi là Ngũ Thư hay sách Luật (To-ra). Theo truyền thống, nguồn gợi hứng của bộ sách này lên đến tận ông Mô-sê.

Sách Lê-vi là bộ luật Tư Tế hay Lê-vi, được gọi như vậy vì những tư tế đều phải thuộc chi tộc Lê-vi. Xưa kia, chi tộc Lê-vi chỉ định các tư tế phục vụ những đền thánh khác nhau, sau nầy, khi phụng tự được tập trung vào một nơi, họ phục vụ Đền Thánh Giê-ru-sa-lem. Sau nầy, có một sự phân chia giữa các tư tế chuyên lo phụng sự Đền Thánh và các thầy Lê vi đảm nhận những công việc thứ yếu, được gọi là các thầy trợ tế như chúng ta gặp thấy trong dụ ngôn người Sa-ma-ri tốt lành (Lc 10: 31-32).

  1. Nỗi khốn cùng về phương diện xã hội:

Bộ luật tư tế nầy dâng hiến một chương dài cho “luật thanh sạch”. Tất cả những ai mắc phải những triệu chứng phong hủi, bao gồm cả các chứng bệnh ngoài da, đều là những người ô uế, vì thế phải bị cách ly ra khỏi thành phố, làng mạc và không được tiếp xúc với bất kỳ ai. 

Cách ăn mặc cũng như kiểu tóc là dấu hiệu đẳng cấp xã hội. Vì thế, kẻ bị khai trừ cũng phải ăn mặc rách rưới, đầu tóc bù xù, phải che mặt và kêu lớn tiếng: “Ô uế! Ô uế!” để mọi người biết sự hiện diện của mình mà tránh.

  1. Nỗi khốn cùng về phương diện tâm linh:

Khái niệm về thanh sạch và ô uế chung cho tất cả mọi tôn giáo cổ xưa. Khái niệm nầy liên kết chặc chẽ với ý tưởng thánh thiêng. Ở Ít-ra-en, cộng đoàn cốt yếu là một cộng đoàn thánh, một cộng đoàn phụng tự, vì thế, những ai ô uế không được tham dự lễ tế, bị loại ra khỏi đời sống phụng vụ.

Bệnh phong hủi gợi ra không những sự ghê tởm về mặt thể lý, nhưng còn một hậu ý luân lý được nối kết vào đây: bệnh phong hủi là dấu chỉ của tội lỗi. Về phương diện tinh thần, bệnh phong hủi được xem như hình phạt do tội lỗi gây nên. Vì thế, chỉ những tư tế mới có thẩm quyền áp dụng những quy định đối với người phong hủi: “Nếu trên da thịt người nào có những triệu chứng bệnh phong cùi, thì phải đem người ấy đến với thầy tư tế”. 

Những người phong hủi bị coi là “đồ ô uế”, là “đồ bỏ đi”, là “kẻ bị khai trừ”, là người mà Cựu Ước thường gọi họ “ai thấy cũng che mặt không nhìn”. Vì thế, Người Tôi Trung của Đức Chúa được mô tả như một người phong hủi, vì Ngài gánh tội và đền tội cho muôn người: 

“Người bị người đời khinh khi ruồng rẫy, 

phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. 

Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, 

bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới” (Is 53: 3).

Đó là thân phận bi thương của những người phong hủi được mô tả trong đoạn trích sách Lê-vi này. Họ đau đớn không chỉ về mặt thể xác: bệnh phong hủi ăn sâu trên da thịt mình; nhưng cả về mặt xã hội: vì là chứng bệnh truyền nhiễm, họ bị loại ra ngoài đời sống xã hội; lẫn về mặt tâm linh: vì là tội lỗi, họ bị khai trừ khỏi đời sống phụng vụ và không được hưởng ơn cứu độ của Thiên Chúa.

BÀI ĐỌC II (1Cr 10: 31-11: 1)

Đoạn trích thư Thánh Phao-lô nầy làm chứng một cuộc cách mạng. Thánh nhân ngầm nhắc nhở các Ki-tô hữu xuất thân từ Do thái giáo rằng không có bất kỳ phân biệt nào giữa thức ăn thanh sạch hay thức ăn ô uế. Điều cốt yếu là tạ ơn Thiên Chúa, dù ăn hay uống bất cứ điều gì. Vả lại, không có bất kỳ hành động vô tình nào. Tất cả những gì chúng ta làm là để tôn vinh Thiên Chúa.

  1. Quy luật về thức ăn thức uống: 

Sách Lê-vi trình bày nhiều lệnh cấm về thức ăn mà dân Chúa chọn phải tuân giữ. Vào thời thánh Phao-lô, những người Ki-tô hữu gốc Do thái đã từ bỏ luật Mô-sê và không còn bận lòng về vấn đề nầy nữa. Tuy nhiên có một vấn đề khác được đặt ra cho họ nhưng cũng cho những người Ki-tô hữu gốc lương dân: người ta có được phép ăn thịt cúng mà lương dân dùng để dâng cúng các thần linh của họ không?

  1. Giải pháp của thánh Phao-lô:

Đoạn trích nầy là lời kết của một đoạn văn dài, đồng thời cũng là bản tóm tắt. Những ám chỉ ở đây cần được soi sáng.

“Anh em đừng làm gương xấu cho bất kỳ ai”. Quả thật, người Ki tô hữu hoàn toàn tự do dùng bất cứ thức ăn và thức uống nào, vi thế họ có thể gây nên gương xấu. Thế nên cần phải thận trọng khi ăn khi uống.

Để hiểu được câu trả lời của thánh Phao-lô về vấn đề này, chúng ta biết rằng thánh nhân thường có thói quen đẩy cuộc tranh luận lên cao và tinh thần hóa những mối bận lòng. Trong thư thứ nhất gởi Ti-mô-thê, thánh Phao-lô diễn tả tư tưởng của mình rất rõ ràng: “Thật vậy, tất cả những gì Thiên Chúa tạo dựng đều tốt, và không có gì phải loại bỏ, nếu biết dùng trong tâm tình tri ân cảm tạ” (1Tm 4: 4).

Ngay ở 1Cr 10: 25-30 trước đoạn trích hôm nay, thánh nhân triển khai lời dạy của mình một cách tinh tế như sau: nếu có người ngoại giáo nào mời anh em, thì cứ ăn tất cả những gì người ta dọn cho anh em, không cần đặt vấn đề lương tâm. Nhưng nếu có người báo trước cho anh em: “Đây là của cúng”, thì anh em đừng ăn, để tránh gây gương xấu cho người đó trên con đường hiểu biết Ki-tô giáo. Đối với người Do thái không cải đạo cũng vậy, hãy cẩn trọng đừng gây gương xấu cho người ấy. Nói cách khác, phải “thích nghi vào mọi hoàn cảnh” với một bận lòng duy nhất, đó là “cứu độ tha nhân”. Đây là luật vàng của Đức Ái.

TIN MỪNG (Mc 1: 40-45)

Thánh Mác-cô tiếp tục kể cho chúng ta sứ vụ rao giảng của Đức Giê-su ở Ga-li-lê và nhấn mạnh những “dấu chỉ” đi kèm theo, đặc biệt việc chữa lành bệnh tật. Trong đoạn văn nầy, Chúa Giê-su chữa lành một người phong hủi.

Bài Đọc I đã mô tả cho chúng ta hoàn cảnh bi thương mà người phong hủi phải chịu dưới Luật Mô-sê. Trong đoạn Tin Mừng nầy, Chúa Giê-su vừa vượt qua Lề Luật vừa tuân thủ Lề Luật. Cuộc gặp gỡ của Ngài với người phong hủi bày tỏ sự đồng cảm của Ngài, đồng thời quyền năng siêu việt ở nơi Ngài.

  1. Vượt qua Lề Luật:

Trước một con người bị xem là đồ ô uế và bị cách ly khỏi đám đông, không ai dám đến gần, Đức Giê-su “chạnh lòng thương”, một diễn ngữ mà Tân Ước thường dùng cho Đúc Giê-su để diễn tả sự đồng cảm sâu sắc dâng lên tận đáy lòng đến nỗi Ngài không thể khoanh tay đứng nhìn được, như Đức Giê-su “chạnh lòng thương” một bà góa có người con trai một qua đời (Lc 7: 13) hay Đức Giê-su “chạnh lòng thương” hai người mù tại Giê-ri-cô (Mt 20: 34).

Vả lại, nhiều lần Ngài để lộ nỗi bận lòng của Ngài đối với những người phong hủi và xem việc chữa lành phong hủi như một trong những dấu chỉ của thời Thiên Sai. Với những người được Gioan Tẩy giả sai đến, Ngài nói: “Các ngươi cứ về thuật lại cho Gioan Tẩy Giả những điều mắt thấy tai nghe: người mù được thấy, kẻ què được đi, người phong hủi được sạch…” (Lc 7: 22; Mt 11: 5). Với các môn đệ Ngài sai đi truyền giáo, Ngài vạch ra như một chương trình hành động: “Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh…” (Mt 10: 8). Một ngày kia, Đức Giê-su chữa lành một nhóm mười người phong hủi (Lc 17: 11-9).

Đức Giê-su không ngại đi ngược lại tập tục và quy chế lề luật về người phong hủi bị cách ly khỏi đời sống xã hội và đời sống tâm linh: Ngài giơ tay chạm đến người phong hủi. Đức Giê-su biết và Ngài sẽ nói thẳng ra rằng điều làm cho con người ra ô uế không đến từ bên ngoài nhưng từ những tư tưởng gian tà ở trong lòng của con người. Đó mới thật sự làm cho con người ra ô uế (Mt 15: 17-20).

  1. Tuân thủ Lề Luật:

Đồng thời, Đức Giê-su cho thấy Ngài trung thành tuân thủ Lề Luật khi bảo người phong hủi: “Hãy trình diện tư tế, và vì anh đã được khỏi bệnh, thì hãy dâng của lễ như ông Mô-sê đã truyền, để làm bằng chứng cho người ta”. Quả thật, chỉ vị tư tế mới có thể cho phép anh ta gia nhập trở lại đời sống cộng đoàn khi chứng thực rằng anh ta khỏi bệnh và đã chu toàn “nghi thức thanh tẩy” như luật định. 

Ngoài ra, Đức Giê-su còn cảnh báo nghiêm khắc: “Coi chừng không được nói gì cho ai cả”. Chúng ta lại gặp thấy ở nơi Đức Giê-su cùng một thái độ như trước đây: tránh sự cuồng nhiệt của đám đông làm phương hại đến sứ mạng của Ngài. Tuy nhiên, người phong hủi đã không tuân giữ lệnh im lặng nầy nên “Đức Giê-su không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi vắng vẻ ngoài thành”. Làm thế nào anh ta có thể kiềm chế được niềm vui tái sinh mà anh vừa mới lãnh nhận từ Ngài được chứ?

  1. Bệnh phong hủi của tâm hồn:

Quả thật, Đức Giê-su đối xử người phong hủi đáng thương này như thế nào, thì Ngài cũng đối xử những người tội lỗi cũng như vậy. Ngài không ngại tiếp xúc họ. Nhiều người ngạc nhiên khi thấy Ngài để cho một phụ nữ tai tiếng chạm đến mình, và thậm chí Ngài còn đồng bàn với những người thu thuế và những kẻ tội lỗi. Như vậy, Ngài muốn bảo đảm với chúng ta: Ngài không ghê tởm tội lỗi của chúng ta. Ngài không muốn khai trừ chúng ta, nhưng ngược lại là đàng khác khi Ngài công bố: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần” (Mt 9: 12; Mc 2: 17). Chỉ qua nhân tính của Đức Giê-su, tội nhân mới có thể tiếp xúc với Thiên Chúa.

Về mục lục

.

LOẠI BỎ

Lm Vũđình Tường

Thời phân chia giai cấp nô lệ và chủ nhân đã đi vào quá khứ. Thời đó người ta loại bỏ anh em mình vì sống trong sợ hãi. Sợ lây bệnh, sợ bị liệt vào giai cấp thấp, sợ mất quyền lợi dành riêng cho giai cấp cao, sợ bị liệt vào thành phần thiếu trí thức. Chính những sợ hãi đó biến bao người trở thành nạn nhân. Ngày nay chỉ còn hai giai cấp chủ nhân và công nhân. Công nhân thành lập công đoàn bảo vệ quyền lợi và tiếng nói của họ. Xã hội đa văn hoá cấm kì thị chủng tộc và bảo vệ quyền lợi mọi công dân. Trên lí thuyết kì thị không còn nữa, bị luật giết chết lâu rồi vì thế kì thị biến hình, đổi dạng sang các hình thức khác. Hình thức loại bỏ, phân biệt, ngấm ngầm khinh khi, coi thường người khác. Các hình thức đối xử bất công ở trường học, nơi công xưởng, vũ phu tại gia, la mắng, to tiếng thể hiện bản chất lạm quyền. Nó xảy ra cách tinh vi, hợp pháp, trước mắt mọi người nhưng không ai có thể nêu ra bằng chứng mình bị kì thị, bị coi thường, bị đối xử bất công.

Khoa học, kĩ thuật ngày nay đang chiếm thế thượng phong. Nhiều người đặt niềm tin mãnh liệt vào chúng. Thay vì tôn thờ Thiên Chúa họ loại bỏ Ngài, quay sang tôn thờ sáng chế khoa học, người kiến tạo chúng và và dành hết thời giờ cho chúng. Số khác trở thành nạn nhân của các trò chơi, một loại bệnh ghiền mới phát sinh của thời đại. Số khác dựa vào thành quả khoa học, kĩ thuật tự phong cho con người làm chúa tể. Loại bỏ vai trò của Thiên Chúa trong lòng họ và trong vũ trụ. Đây chính là một lầm lỗi trí thức. Bệnh trí thức là bệnh nguy hiểm hơn cả bởi kiêu ngạo người ta tự chữa trị, chối bỏ giúp đỡ từ trời cao.

Không ai chối bỏ vai trò quan trọng của con người. Quí khôn ngoan, mến thông thái, trọng khéo léo, thích giảo hoạt và vui hài hước là điều cần mến chuộng và cổ võ. Dù tài giỏi đến đâu, khéo léo đến mức nào chăng nữa con người cũng cần nhận ra và nhớ là con người bị giới hạn, nhất là về vấn đề tâm linh. Khôn ngoan có lúc cạn, thông thái có lúc mòn, khéo léo bị vụng về tranh ngôi, giảo hoạt bị lỡ lời thiêu rụi và hài hước cũng có lúc nắng hạn. Khi những điều trên qua đi đau khổ và mất tự tin là điều không thể tránh. Con người tài giỏi chữa các bệnh thể lí và đang tìm hiểu nhiều về vấn đề tâm lí và biết rất giới hạn về vấn đề tâm linh. Tâm linh thuộc về niềm tin và lòng mến chân thành phát xuất tự con tim yêu mến nồng nàn. Khi lửa yêu tàn lụi, lòng mến nguội lạnh con tim trở nên chai đá. Vật chất không thể hâm nóng con tim, chào tạm biệt. Con tim cần tình yêu chân chính và ân sủng. Đức Kitô là Đấng duy nhất mang đến tình yêu chân chính và ân sủng, là Đấng chữa lành bệnh tâm linh và giúp người ta nhận ra giá trị thật của thân phận con người.

Khi việc xấu xảy ra nhà hữu trách sẽ đưa thêm luật để bảo vệ nhân phẩm con người. Luật là rào cản, ngăn cản, giới hạn sự việc xấu nhưng luật không giúp chữa trị cho nạn nhân bởi điều xấu đã xảy ra, con tim đang rỉ máu, vết thẹo tim hoành hành. Đức Kitô xuất hiện. Phúc âm ghi lại khi con người đầu hàng. Con bệnh ngày nín thở nhịn đau, đêm cắn răng chịu khổ. Đức Kitô đến với họ và những ai thành tâm đến với Ngài đều được chữa lành cả xác lẫn tâm linh. Bình an xuất hiện trong tâm hồn, tâm trí tràn đầy niềm vui, tương lai trong sáng, hy vọng bừng lên như ánh bình minh và nỗi nhục từng che dấu tan biến vào không khí. Cái thời trốn chui, trốn nhủi đã qua, cộng đoàn họ từng sống nay giang tay đón chào, vui mừng chia sẻ niềm vui chữa lành và vị thế xã hội được tái tạo. Học từ Đức Kitô, đón chào anh em mình, giang tay giúp đỡ khi có thể, an ủi kẻ âu lo, vỗ về kẻ cùng khổ, thành chân tay của Đức Kitô xoa dịu vết thương lòng và quan trọng nhất là đến với anh em bằng con tim của Đức Kitô.

Về mục lục

.

XIN CHO ĐƯỢC THOÁT KHỎI CẢNH CÔ LẬP THỂ XÁC VÀ TINH THẦN

Lm Trần Bình Trọng

Ngay từ thời cổ xưa, bệnh phong cùi đã gây ra mối lo sợ cho loài người, tương tự như mối lo sợ của người đời nay về những bệnh nan trị như ung thư, bệnh aids hay si-đa.

Ngoài việc phải phấn đấu với chứng bệnh hủy hoại thân thể, người phong cùi còn phải chịu một hình phạt thấm thía hơn về tinh thần: đó là bị người đời xa tránh.

Người phong cùi thời xưa phải sống tách biệt khỏi người lành mạnh. Sách Lêvi ghi lại: Người ấy phải ở riêng ra, chỗ ở của họ là một nơi bên ngoài trại (Lv 13:46). Nếu gặp người mạnh khoẻ ngoài đường, họ phải hô hoán lên: Ô uế (Lv 13:45) cho người khác biết mà đề phòng. Ngoài ra người phong cùi không được phép đến nơi thờ phượng công cộng vì bệnh phong cùi bị coi là nhơ bẩn. Vì thế mà người phong cùi trong Phúc âm hôm nay quyết tâm đến gặp Chúa để xin được chữa lành: Nếu Ngài muốn, xin Ngài cứu chữa tôi (Mc 1:40). Ðộng lòng thương xót, Chúa giơ tay động vào người phong mà bảo: Tôi muốn, anh hãy được sạch (Mc 1:42).

Ðọc những vần thơ của Hàn Mặc Tử, người thi sĩ trẻ tuổi tài cao mắc bệnh phong cùi, phải vào ở trại Qui Hoà, biểu lộ những rung cảm trong cảnh buồn tủi và sầu khổ, ta mới hiểu được nỗi đau đớn trong cảnh cô đơn thất vọng của người mắc bệnh như thế nào! Cuối cùng người thi sĩ bệnh phong đã tìm nương tựa vào Chúa và niềm an ủi nơi trinh nữ Maria.

 Hình ảnh linh mục Ða-miêng, vị tông đồ người cùi, cho thấy một đời hi sinh quên mình. Khi Ðức cha ở đảo Molokai giới thiệu cha Ðamiêng với dân cùi ở đảo là cha tình nguyện đến phục vụ họ. Cha Ðamiêng rởn tóc gáy khi nhìn thấy họ đến sờ vào thân mình cha. Ðức cha giải thích cho cha Ðamiêng là họ không thể hiểu nổi tại sao một người ở phương xa từ Bỉ quốc, không liên hệ gì với họ, lại còn trẻ, đẹp trai, không bệnh tật như họ, lại có thể đến phục vụ họ trên mảnh đất cùng khốn này. Họ không tin mắt nhìn của mình nên mới đến sờ thử vào người cha, xem cha có thực sự mắc bệnh cùi không? Rồi họ nói với nhau: Không đâu. Dần dần cha Ðamiêng hoà đồng được với họ và không còn cảm thấy ghê tởm như ngày đầu. Một ngày kia đến lượt cha cũng mắc bệnh cùi [1].

Một vị tông đồ khác, Ðức cha Cassaigne, từ chức tổng giám mục Sàigòn để lên phục vụ người cùi ở Di Linh. Ðức cha viết thư về Pháp kể lại: khi những ung nhọt bắt đầu lở loét, khiến người xung quanh tởm ghớm, người cùi không tự giúp mình được nữa, thì dân làng đưa họ vào xó rừng, để người cùi ở lại đó một mình, cô đơn, hiu quạnh, đói khổ mà chết dần chết mòn. Cuối cùng Ðức Cha Cassaigne cũng chết vì mắc bệnh cùi. Tình yêu Chúa còn thúc đẩy những nữ tu và giáo dân như Sơ Maria Goretti và chị Anna Xuân đã phục vụ những trại cùi ở quê nhà. Nữ tu Nguyễn Thị Khuyên sau hai mươi năm săn sóc người cùi ở trại Ja Lai, Kông Tum cũng mắc bệnh mà chết [2].

Khi tổng Giám mục Fulton Sheen, một nhà giảng thuyết hùng biện và cự phách trên truyền hình Mĩ, thấy một chiêu đãi viên trẻ đẹp trên máy bay chở hàng giám mục Mĩ sang La mã họp Công Ðồng Vaticanô II, Ðức cha ghé vào tai hỏi có bao giờ cô đã tạ ơn Chúa về sắc đẹp Chúa ban chưa? Sau đó một thời gian, cô đến xin ý kiến tổng Giám mục Sheen xem cô phải làm gì để tạ ơn Chúa. Bất chợt không sửa soạn, mà lại vừa được tin Tổng Giám mục Sàigòn xin từ chức để phục vụ người phong cùi ở Di Linh, Ðức Cha Sheen đề nghị cô nên sang Việt Nam giúp Ðức Cha Cassaigne phục vụ người cùi ở đây một thời gian để làm dịu bớt những đau khổ và lẻ loi của người xấu số. Thất vọng về lời đề nghị, cô quay ngoắt ra về mà không thèm chào. Không ngờ đến năm 1963, báo chí Sàigòn loan tin về một chiêu đãi viên trẻ đẹp, hãng máy bay PANAM Mĩ, tình nguyện sang phục vụ người phong cùi ở trại Di Linh sáu tháng. Nghe nói cô chiêu đãi viên trở về Mĩ xin vào dòng tu làm bà Sơ. Tin này chưa được tác giả kiểm chứng.

Hiện nay vẫn còn có những trại phong cùi trên thế giới. Năm 2005, Liên Hiệp Quốc nhận được con số kê khai là 47.596 người mắc bệnh phong cùi ở Phi châu, 36.877 ở Mỹ châu, 5.398 ở miền tây Ðia Trung Hải, 186.182 ở Ðông Nam Á châu (gồm Việt nam với 28 trại phong cùi) và 10.010 ở phía Tây Thái Bình Dương. Ngày nay vẫn còn có những linh mục, nữ tu, và giáo dân tình nguyện phục vụ họ. Vào Ngày Phong Cùi Thế Giới 29 tháng 01, 2006 Ðức giáo hoàng Bênêđítô XVI cho rằng nguyên nhân của bệnh phong cùi là do sự nghèo đói và kêu gọi cộng đồng quốc tế tìm cách diệt trừ mầm mống của bệnh này. Bệnh phong cùi ngày nay, nếu được phát hiện sớm, cùng mới thuốc men chữa trị, thì được chữa lành.

Có dịp đi thăm một trại phong cùi, với cặp mắt quan sát bệnh nhân cũng như những người phục vụ họ, cùng với đầu óc suy tư và ghi nhận, ta sẽ thấy đời sống thay đổi. Rồi sẽ thấy mình bớt phạm tội trong tư tưởng, lời nói và việc làm. Và rồi mình cũng sẽ tự hỏi mình xem yếu tố nào đã thúc đẩy những người tình nguyện dám hi sinh quên mình để phục vụ người xấu số như vậy?

Giới tu đức học và dẫn đàng thiêng liêng thường ví tội lỗi như một thứ bệnh cùi thiêng liêng. Nếu bệnh cùi thể xác khiến người ta bị cô lập hoá về phương diện thể lý, thì bệnh cùi thiêng liêng là tội lỗi, cũng khiến người ta bị cô lập về đời sống thiêng liêng. Tội làm sứt mẻ tình bạn với Chúa và tha nhân. Có những tội khiến người ta không còn dám đến nhà thờ và lên rước lễ. Tội còn làm sứt mẻ tình bạn, tình cộng đồng. Có những tội khiến người ta muốn tránh né người khác vì mắc cở. Người khác cũng không muốn gặp người đã xúc phạm đến họ vì không muốn gợi lại những kỉ niệm đau lòng quá khứ và cũng không muốn trở thành nạn nhân lần thứ hai.

 Ðể được thoát khỏi cảnh tuyệt vọng, người phong cùi đã tìm đến Chúa để xin được ơn chữa lành. Bệnh nhân đã không để cho thất vọng đè bẹp. Anh ta đã đến kêu cầu với Chúa. Ðiều mà người mắc bệnh cùi thiêng liêng cần có là đức tin và lòng cậy trông như niềm tin cậy của người phong cùi vào quyền năng và lòng thương xót của Chúa. Ðể có thể nại đến lòng thương xót và quyền năng của Chúa, người ta phải nhận mình có bệnh hoặc có tội. Người không nhận mình có bệnh hay có tội, thì không tìm đến thầy thuốc. Họ là những người vô phương cứu chữa.

 Lời cầu nguyện cho bệnh nhân phong và những người phục vụ họ:

 Lạy Chúa, Chúa đã đến chữa người phong cùi thuở xưa.

Xin Chúa cũng chữa bệnh phong trong thời hiện đại,

ban cho bệnh nhân lòng tin cậy, phó thác vào Chúa.

Xin soi sáng cho giới bác sĩ và khoa học gia

để họ tìm ra thuốc men và cách thế trị bệnh.

Còn những người phục vụ bệnh nhân,

xin Chúa là nguồn sức mạnh và kiên nhẫn của họ

và gìn giữ họ khỏi bị nhiễm bệnh. Amen.

_______________________

  1. Trần Phúc Long: Những Trại Cùi Việt Nam. Costa Mesa, California. Printed by Mekong Printing, 1993, trang 4-5.
  2. , trang 6-7.

Về mục lục

.

Từ khóa:

năm xưa, có thể

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
Tin mới