Các bài suy niệm Chúa nhật V Thường niên B

Đăng lúc: Thứ sáu - 02/02/2018 02:47 - Người đăng bài viết: Ban Truyen Thong

 

CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN_B

Lời Chúa: G 7,1-4.6-7;  1Cr 9,16-19.22-23;  Mc 1,29-39

——-

DẪN NHẬP

Lời Chúa: “Người chữa nhiều người đau ốm, những chứng bệnh khác nhau” (Mc 1,34).

Nhập lễ:

Kính thưa cộng đòan phụng vụ,

Phụng vụ Lời Chúa chúa nhật 5 thường niên hôm nay cho chúng ta thấy sứ mạng Thiên sai của Chúa Giêsu được Chúa Cha sai đến. Người đến để cứu nhân độ thế, bằng việc tìm kiếm và cứu chữa con người khỏi bệnh tật ốm đau, đem hạnh phúc cho những ai sầu khổ:

Giê - su là Đấng Thiên sai,

Đem nguồn hạnh phúc cho ai khổ sầu.

Những người bệnh tật ốm đau,

Được Ngài cứu chữa, thật mầu nhiệm thay.

Loan cho nhân thế hôm nay,

Tình thương Thiên Chúa mỗi ngày mọi nơi.

Hiệp dâng thánh lễ, xin Chúa giúp chúng ta xác tín niềm tin của chúng ta vào tình thương cứu độ của Chúa. Đồng thời, loan báo Tin Mừng cho mọi người và trở nên chứng nhân của lòng thương xót Chúa. Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta hãy thành tâm sám hối.

Sám hối:

X. Lạy Chúa, Chúa là Đấng Thiên sai được Chúa Cha sai đến  để cứu độ trần gian. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa Kitô, Chúa đến trần gian để tìm kiếm và cứu chữa bệnh tật ốm đau của chúng con. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa, Chúa mời gọi chúng con trở nên chứng nhân của lòng thương xót Chúa. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

Suy niệm:

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Người ta vẫn thường than thở rằng: đời là bể khổ, con người dù là ai cũng điều không thoát khỏi cái khổ này. Phải chăng, kinh nghiệm về cuộc đời đã làm nhiều người trở nên bi quan thất vọng. Hình ảnh của ông Gióp trong bài đọc 1 hôm nay nói lên thực trạng đau khổ của loài người. Ông Gióp đã có một tài sản khổng lồ gồm: 7.000 con chiên, 3.000 con lạc đà, 500 đôi bò, 500 con lừa cái, một số rất đông tôi tớ nhưng rồi tất cả các đoàn vật bị cướp, bị lửa thiêu, ông đã trở nên tay trắng;  Gióp thật hạnh phúc khi có tất cả 10 người con, 7 trai 3 gái nhưng rồi tất cả đã bị chết trong một tai nạn nhà sập, ông đã trở thành người cha đơn độc; Gióp đã có một sức khỏe dẽo dai nhưng rồi ung nhọt đã cướp đi quà tặng quý báu này của ông, khiến cho ông phải thốt lên rằng: “Ngày của tôi qua nhanh hơn chiếc thoi đưa, nó tàn lụn đi mà không mang lại tia hy vọng nào”. Gióp là biểu tượng cho nỗi đau khổ cùng cực của con người, làm cho con người không nhìn thấy ý nghĩa ở đâu, phải buồn sầu mãi cho đến chết.

Thưa anh chị em, đứng trước cái bi đát đó, có cách nào giải cứu con người khỏi bể khổ này không? Vì, quang cảnh thành phố Capharnaum trong buổi chiều khởi đầu công khai rao giảng của Chúa Giêsu cũng diễn ra tương tự như cuộc đời của ông Gióp. Bà mẹ vợ ông Simon đang bị cảm sốt, dân trong thành bị nhiều chứng bệnh khác nhau, nhiều người bị quỷ ám, người ta còn qui cho ma quỷ là nguyên nhân của cơn bệnh cảm sốt này, tất cả đều đau khổ. Thánh Marcô thuật lại cho chúng ta hay, đứng giữa biển người đau khổ này, Chúa Giêsu chữa trị tất cả. Người đã giải phóng loài người khỏi bệnh tật và sức mạnh của ma quỷ, Người có quyền năng chiến thắng những sức mạnh của sự dữ và sự chết. Các việc chữa lành của Người là những dấu chỉ của Tin mừng Nước Trời mà Người rao giảng, giúp chúng ta nhận ra Người là vị cứu tinh của loài người. Vì thế Người muốn rằng, khi mọi người đón nhận được việc chữa lành bệnh tật và xua trừ ma quỷ, con người hãy đón nhận Tin mừng Nước Trời. Đón nhận được việc chữa lành bệnh tật chỉ là bước đầu, còn phải tiến đến bước quyết định thứ hai là tin vào Người và đón nhận Tin mừng với sức mạnh chữa lành của Nước Trời đang hiện diện. Quả thật, Chúa Giêsu là Đấng Thiên sai và Tin mừng của Người là niềm hy vọng và cứu cánh của con người. Nhờ Người mà đời sống con người trở nên thực sự có ý nghĩa. Người đến để tìm kiếm và cứu chữa con người khỏi bệnh tật ốm đau, đem hạnh phúc cho những ai đang sầu khổ.

Có một câu chuyện kể rằng, có một tai nạn xảy ra trên quốc lộ 1 A, một chiếc xe vận tải chở gỗ tràm đi theo hướng từ Bắc vào Nam, đã đâm trực diện một chiếc xe vận tải chở trái cây, chạy theo hướng từ Nam ra Bắc. Vụ tai nạn này đã khiến buồng lái của chiếc xe Bắc vào Nam bị bẹp dúm, còn chiếc xe từ Nam ra Bắc thì bị lật ngang, trái cây đổ tung tóe trên đường. Ðáng lưu ý là trong khi cả hai tài xế và hai phụ xe của hai chiếc xe cùng bị trọng thương, cần cấp cứu thì dân chúng quanh đó lại đổ đến để... cướp trái cây. Mặc người bị nạn. Ðiều người ta quan tâm chính là hôi của, là ăn cắp hội đồng.

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Con người trong thế giới hôm nay xem ra còn quá vô tâm, vô cảm, dững dưng trước những khổ đau của tha nhân. Nếu cuộc đời hôm nay có nhiều tấm lòng vị tha như Chúa, ai cũng biết có trách nhiệm với nhau thì con người sẽ không còn những cái khổ triền miên, nỗi đau của cô đơn và tuyệt vọng như ông Gióp. Để làm được điều đó, chúng ta hãy bắt chước Chúa Giêsu: “Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã thức dậy, đi ra một nơi hoang vắng, và cầu nguyện ở đó”. Người duy trì và củng cố mối tương quan với Chúa Cha. Đây là bí quyết cho sự thành công trong sứ vụ của Người.

Lạy Chúa Giêsu, thế giới ngày nay vẫn còn các tà thần ám: thần của bạc tiền, của tình dục, của tiếng tăm; vẫn còn các bệnh tật lan tràn: bệnh trong lối nghĩ, lối nhìn và lối sống. xin Chúa giúp chúng ta có được trái tim như Chúa để có thể chạnh lòng thương xót và sẵn lòng dấn thân quảng đại vì hạnh phúc của tha nhân. Amen.

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang.

Mục lục

2. Đi gieo Tin mừng  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Phục vụ theo gương Thầy Giêsu  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

4. Hãy tìm kiếm Chúa  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

5. Trái tim nhạy cảm  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

6. Xin Thầy chữa con  (Bông Hồng Nhỏ, Tiền Tập sinh MTG.Thủ Đức)

7. Một ngày sống  (Anna Cỏ May, Tiền Tập sinh MTG.Thủ Đức)

8. Sống vì mọi người  (Lm. Inhaxiô Trần Ngà)

9. Cứu độ  (Lm. Trần Việt Hùng)

10. Con người trở nên vĩ đại nhờ cầu nguyện (Tu sĩ Jos.Vinc. Ngọc Biển, SSP)

11. Đời là bể khổ  (JM. Lam Thy, ĐVD)

12. Cầu nguyện là nhu cầu sống (Lm. Trịnh Ngọc Danh)

13. Đi ra vùng ngoại biên (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

14. Lương y từ mẫu  (Ave)

15. Rao giảng và chữa lành (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

16. Làm việc cho vương quốc Nước trời  (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)

17. Chúa Giêsu, Thầy thuốc của tâm hồn  (Lm. Giuse Phạm Quốc Phong, SDB)

18. Suy niệm Chúa Nhật 5 Thường niên_B  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam)

19. Suy niệm Chúa Nhật 5 Thường niên_B. (Fx. Đỗ Công Minh)

20. Nỗi niềm phàm nhân (Trầm Thiên Thu)

 

.

ĐI GIEO TIN MỪNG

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

Đoạn Tin Mừng hôm nay tóm tắt một ngày làm việc của Chúa Giêsu. Qua những hoạt động của một ngày làm việc, Chúa Giêsu đưa ra những chỉ dẫn khuôn mẫu cho người đi gieo Tin Mừng.

Chỉ dẫn thứ nhất: Tin Mừng phải được rao giảng. Ngày Sabbát, Chúa Giêsu vào Hội đường, đọc Sách Thánh và giải nghĩa. Việc đọc và diễn giải Lời Chúa là một phần quan trọng của đời sống người môn đệ. Vì Tin Mừng phải được rao giảng. Lời Chúa phải được công bố. Người môn đệ phải say mê rao truyền để cho Lời Chúa trở thành ánh sáng soi đường cho con người, hướng dẫn tư tưởng, lời nói, hoạt động của con người. Chính Lời Chúa hướng dẫn con người đi trên đường Sự Thật để đạt được Sự Sống.

Chỉ dẫn thứ hai: Tin Mừng phải chứng tỏ bằng yêu thương. Lời nói đi đôi với việc làm. Đó chính là yếu tố làm cho lời nói có sức thuyết phục. Chúa Giêsu đã làm chứng về điều đó. Ra khỏi Hội đường, Chúa Giêsu vào nhà ông Simon. Bà nhạc của ông đang bị sốt. Chúa Giêsu đến bên giường, cầm tay bà để chữa bà khỏi bệnh. Thực ra Chúa có quyền năng chỉ cần đứng ngoài cửa phán một lời cũng có thể chữa bệnh cho bà nhạc ông Simon. Hơn nữa ở vào thời phong kiến với quan niệm nam nữ thọ thọ bất thân, việc cầm tay phụ nữ có gây nên dị nghị. Nhưng Chúa Giêsu đã đến tận giường cầm tay bà. Điều này nói lên lòng yêu thương kính trọng. Chúa không chỉ chữa bệnh mà còn muốn bày tỏ tình người, sự quan tâm âu yếm đối với người bệnh và cả sự kính trọng đối với phụ nữ nữa.

Chỉ dẫn thứ ba: Tin Mừng phải đem đến tự do. Mà quỉ luôn muốn giam cầm con người trong vòng nô lệ. Bị ma quỉ trói buộc con người mất hết ý chí, không còn làm được việc lành, chỉ có thể làm theo mệnh lệnh ma quỉ. Tin Mừng của Chúa có sức giải phóng con người. Giải phóng khỏi sự trói buộc của ma quỉ. Giải phóng khỏi những mặc cảm. Giải phóng khỏi những thói tục hủ lậu, những mê tín cấm ky. Nhờ đó con người có thể vươn lên, sống xứng đáng với phẩm giá và có thể làm việc lành phục vụ Nước Chúa. Bà nhạc của Simon là một thí dụ điển hình. Khi được khỏi bệnh, bà liền đi đứng và làm việc phục vụ Chúa.

Chỉ dẫn thứ tư: Tin Mừng phải được kín múc từ cội nguồn Thiên Chúa. Sáng sớm, Chúa Giêsu đến nơi vắng vẻ cầu nguyện. Suốt ngày bận rộn với con người, Chúa Giêsu phải dành buổi sáng sớm để cầu ngyện. Điều đó cho thấy, đối với Chúa, việc cầu nguyện là quan trọng biết bao. Chúa Giêsu cầu nguyện vì yêu mến, khao khát được kết hiệp với Chúa Cha. Chúa Giêsu cầu nguyện để tìm thánh ý Chúa Cha, tìm sự hướng dẫn sáng suốt cho cuộc đời. Vì thế trước khi bắt tay vào làm việc, Chúa cầu nguyện với Đức Chúa Cha để múc lấy nguồn sức mạnh cho hoạt động truyền giáo.

Người môn đệ muốn dẫn thân rao giảng Tin mừng, mở rộng Nước Chúa không thể đi ra ngoài những chỉ dẫn khuôn mẫu của Thày Chí Thánh. Phải biết múc lấy nguồn sức mạnh ở nơi Chúa Cha qua việc cầu nguyện. Coi việc cầu nguyện như cội nguồn của hoạt động, như điểm mấu chốt để đi đến thành công. Chuyên tâm học, đọc, suy gẫm Lời Chúa để có thể thấu hiểu và trình bày cho người khác. Nhất là phải làm chứng cho lời rao giảng bằng chính đời sống yêu thương bác ái. Sự yêu thương kính trọng sẽ đưa con người tới tự do, có thể lam những việc tốt đẹp, góp phần vào việc phục vụ Tin Mừng.

Lạy Chúa là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, xin hưỡng dẫn chúng con đi trên đường của Chúa Amen.

CÂU HỎI GỢI Ý

1- Bạn hãy thử tóm tắt những việc Chúa Giêsu làm trong một ngày.

2- Bạn tha thiết với việc rao giảng Tin Mừng, bạn sẽ làm gì để cho việc rao giảng Tin Mừng có kết quả tốt đẹp?

3- Lời nói phải đi đôi với việc làm. Bạn áp dụng câu nói này thế nào trong đời sống đạo của bạn.

Về mục lục

.

PHỤC VỤ THEO GƯƠNG THẦY GIÊSU

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Nhìn vào thực tế của nhiều đôi vợ chồng, người ta phải công nhận rằng cuộc sống lứa đôi không luôn luôn dễ dàng. Hạnh phúc gia đình luôn bị đe doạ bởi những áng mấy đen bất ngờ xông tới. Khiến cuộc sống chung luôn cảm thấy buồn nhiều hơn vui. Khổ đau nhiều hơn hạnh phúc. Đến  nỗi ca dao đã từng nói:

Chồng gì anh, vợ gì tôi?

Chẳng qua là cái nợ đời chi đây!

Mỗi người một nợ cầm tay,

Đời xưa nợ vợ, đời nay nợ chồng.

Con đường tình yêu không êm xuôi nhưng luôn lên xuống gập ghềnh, suối thác. Vì, cuộc “trăm năm” nào cũng đầy những thử thách. Biềt bao cặp vợ chồng đang hạnh phúc rồi bỗng dưng cả hai cùng phàn nàn về nhau: không ngờ người ta đổi thay đến thế. Lúc đầu thì thế nào cũng được, miễn là yêu nhau. Nhưng rồi người ta thấy thế này là bất công, thế kia là khó chấp nhận: lẽ nào mình cứ phải quét nhà rửa bát mãi! Tại sao mình cứ phải nấu cơm đi chợ?

Rồi luôn nghĩ thiệt hơn và luôn tìm lợi cho mình mà chẳng ai chịu ai.

Khi mà không còn yêu nhau, người ta thường  dễ tố cáo nhau là ích kỷ, là hẹp hòi , chẳng bao giờ làm cho mình được như ý. Quả đúng như lời nhà tâm lý Jacques Dyssord: “Tình yêu thường mở đầu bằng khoa hùng biện và rồi đổi dần ra khoa triết lý”. Từ chỗ nói cho hay trở thành cãi cho hăng. Từ chỗ chín bỏ làm mười đến chỗ kết án hờn ghen.

Thế là đời sống gia đình trở nên như một nhà tù. Có khi vì danh dự gia đình, hay để tránh không cho con cái biết, hai vợ chồng cố gắng đóng kịch, một bi kịch rất não nề thê thảm, thường tệ hại hơn cả những cuộc cãi vã lớn tiếng. Vì cãi vã xong còn nói chuyện được với nhau nhưng khi không còn gì để nói với nhau thì cuộc sống dài lê thể trong đau khổ.

Sở dĩ hôn nhân thất bại là vì họ hết còn hy sinh cho nhau, hết quan tâm chăm sóc nhau. Nhiều người khi chiếm được nhau thì họ không còn quan tâm người bạn đời, có khi còn hắt hủi, bỏ rơi nhau, khiến người bạn đời cô đơn trong chính mái ấm gia đình mình.

Đây là lúc người ky-tô hữu cần sống tinh thần phục vụ quên mình của Đức Giê-su. Ngài đã yêu là yêu cho đến cùng. Tình yêu Ngài không so đo tính toán. Ngài chỉ dồn hết tâm sức để mang lại niềm vui, bình an cho người mình yêu.

Lời Chúa hôm nay mô tả một ngày làm việc thật bận rộn của Chúa Giê-su. Ngài giảng dạy trong Hội đường. Ngài cứu chữa một người bị quỷ ám. Ngài đến tận nhà nhạc mẫu Phê-rô để chữa lành cho bà. Ngài còn dành thời giờ đón tiếp rất đông khách thập phương đến để cầu cứu Ngài. Ngài đã đặt tay và chữa lành bệnh tật cho họ. Cả ngày dường như Ngài chẳng nghỉ ngơi. Ngài đã dùng cả thời giờ của một ngày để phục vụ cho lợi ích tha nhân.

Vâng, nếu cuộc đời hôm nay có nhiều tấm lòng phục vụ như Chúa, thì gia đình sẽ hạnh phúc biết bao! Nếu cuộc đời ai cũng sống có trách nhiệm với nhau, sẽ không còn những nỗi đau của cô đơn và tuyệt vọng. Nếu vợ chồng biết hy sinh cái tôi của mình để hy sinh cho nhau thì hạnh phúc sẽ ngập tràn trong mái gia đình.

Thế nhưng, dòng đời vẫn còn đó những mảnh đời cô đơn và tuyệt vọng vì lối sống ích kỷ và thiếu trách nhiệm của người bạn đời. Vẫn còn đó những người con mặc cảm, tủi hận vì cha mẹ bỏ rơi, thiếu quan tâm. Vẫn còn đó những giọt nước mắt buồn đau của phận người bị ngược đãi, bị xúc phạm, bị chà đạp lên danh dự và phẩm giá làm người. Vẫn còn đó tiếng khóc than cho phận số nghèo đói, bệnh tật, già nua đang bị anh em đồng loại bỏ rơi.

Ước gì mỗi người chúng ta có được trái tim như Chúa để có thể chạnh lòng thương xót những mảnh đời khổ đau của anh em. Ước gì mỗi người chúng ta cũng có tấm lòng như Chúa để sẵn lòng dấn thân quảng đại vì hạnh phúc tha nhân. Xin cho mỗi người chúng ta luôn có trách nhiệm với nhau, với cuộc đời. Xin đừng để ai đau khổ, thất vọng vì sự thờ ơ và thiếu trách nhiệm của chúng ta. Amen

Về mục lục

.

HÃY TÌM KIẾM CHÚA

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Nếu như Chúa Nhật thứ Bốn Mùa Thường niên, Chúa Giêsu đã thi hành sứ mạng ngôn sứ của mình tại Capharnaum, thì bước vào Chúa Nhật thứ Năm Mùa Thường niên, sứ vụ Thiên sai của Người được tiếp tục thi hành. Là Thiên Chúa quyền năng trong lời nói cũng như trong hành động. Chúa chữa lành những người bị quỉ ám, Danh tiếng Người nhanh chóng lan truyền khắp mọi nơi. Uy quyền của một Vì Thiên Chúa được tỏ lộ trong hành động, Chúa mở mắt cho người mù, làm cho kẻ què đi được, người điếc nghe được, nói chung là họ sung sướng vui mừng; mọi người đều …thán phục ; các thần ô uế phải vâng lệnh. Cụ thể hơn, Chúa Giêsu hiện diện ở đâu thì ở đó người ta ngỡ ngàng và thán phục. Họ hỏi nhau: Người này là ai vậy, mà ngay cả thần ô uế cũng phải tuân lệnh? Quyền năng của Chúa xác nhận thẩm quyền lời Người giảng. Người không chỉ nói mà còn làm. Công trình của Thiên Chúa được thể hiện cả bằng lời nói lẫn việc làm nơi Chúa Giêsu. Trong Tin Mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu thực thi sứ mạng, bày tỏ tình yêu của Thiên Chúa Cha qua việc rao giảng và các hành động quan tâm, giúp đỡ người đau bệnh, người nghèo đói, các trẻ em và người tội lỗi.

Hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu đang ở Capharnaum, trung tâm thi hành sứ vụ của Chúa, đúng hơn là nhà ông Simon Phêrô : “Chúa Giêsu ra khỏi hội đường, Người cùng với Giacôbê và Gioan đến nhà Simon và Anrê” (Mt 1,29) . Ở đây, chúng ta khám phá ra một gia đình lắng nghe và thực hành Lời Chúa (Lc 8,21). Bà nhạc gia ông Phêrô bị cảm sốt đang nằm trên giường, Chúa Giêsu tiến lại gần, Người cầm tay bà, một cử chỉ vượt quá những gì mà sách Tin Mừng đã trình bày như : Chúa đưa tay ra và đụng lên người bệnh, tại nhà ông Simon Phêrô, Chúa cầm tay bà và nâng đỡ bà dậy.

Cử chỉ này khiến mọi người phải thốt lên : Thiên Chúa thật quá đỗi hạ mình xuống để tìm kiếm chúng ta, và vì thế mà phẩm giá con người được tìm kiếm được nâng lên!… “Con người là chi mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì mà Chúa để ý lưu tâm? ” (G 7,17). Tôi muốn biết tại sao Thiên Chúa lại muốn đích thân đến với chúng ta và tại sao chúng ta không phải là những người đến với Thiên Chúa trước? Việc Chúa Giêsu làm trong Tin Mừng hôm nay, không phải là thói quen của người giàu đi đến người nghèo, ngay cả khi họ có ý tốt lành.

Phần chúng ta, chúng ta đến với Chúa Giêsu. Nhưng có một trở ngại ngăn cản chúng ta: mắt chúng ta bị mù lòa, không thể tiếp cận được Chúa là Áng Sáng; chúng tôi đã bị liệt trên giường bệnh, khiến chúng ta không thể đạt tới sự vĩ đại của Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao Đấng Cứu Độ chúng ta, một lương y tốt lành và là bác sĩ của tâm hồn chúng ta đã từ trời cao hạ mình xuống, đến với con người, làm cho đôi mắt ốm yếu của con người thấy được ánh vinh quang huy hoàng của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu, hiện thân của Thiên Chúa Cha đã đến gần với người nghèo và những người đau khổ mà người ta đưa đến với Chúa để được chữa lành. Bằng cử chỉ đưa bàn tay, Chúa đụng chạm tới họ, nguồn mạch sự sống tuôn trào, họ được giải thoát và được cứu.

Hết thảy mọi người đều tìm kiếm Chúa Giêsu, chỉ có một số người bị buộc đưa đến, vì “lòng chúng ta còn khắc khoải cho tới bao giờ được nghỉ ngơi trong Chúa” (Thánh Augustinô).

Nhưng, cùng một cách thức chúng ta tìm kiếm Chúa vì chúng ta cần đến với Chúa để Người giải thoát chúng ta khỏi sự ác và Sự Xấu, Người đến với chúng ta và đến gần hơn để có thể làm điều mà chúng ta không thể làm được một mình. Người đã trở nên yếu đuối để cứu chuộc chúng ta là những người yếu đuối, “Tôi đã tự cứu mình bằng mọi giá” (1Cr 9,22).

Vẫn có một bàn tay đầy sức mạnh vô hình đang chìa về phía chúng ta, những người đang bị bủa vây bởi muôn điều xấu, chúng lôi kéo chúng ta và giữ chân chúng ta lại. Chúng ta có thể “vươn lên và bước tới” bằng lời cầu nguyện, cụ thể như Chúa : “Sáng sớm tinh sương, Người chỗi dậy, ra khỏi nhà, đi đến một nơi thanh vắng và cầu nguyện tại đó”(Mc 1,35).

Hơn nữa, mỗi Thánh lễ Chúa Nhật là một cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, Đấng đến đưa tay ra để nâng chúng ta khỏi giường tội lỗi và chán nản, làm cho chúng ta sống vui, sống hạnh phúc trong Chúa và với mọi người.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con kêu cầu Chúa, xin Chúa đưa tay ra nâng đỡ và lôi kéo chúng con lên. Amen.

Về mục lục

.

TRÁI TIM NHẠY CẢM

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Đức Giêsu khi đi rao giảng Tin Mừng cùng với các môn đệ, Ngài đã không chỉ thuyết giảng mà thôi, nhưng Ngài đã quan tâm tới mọi lớp người, đặc biệt là những bệnh nhân, những người nghèo khổ, những người bị thần ô uế quấy phá vv…Chúa đã xoa dịu nỗi  đau khổ của con người, Ngài đã cảm thông với mọi lớp người trong xã hội, đã đến với họ, cứu chữa họ và cảm thông, chia sẻ những nỗi khó khăn, nhọc nhằn họ đang gặp phải trong cuộc sống. Ngài có đôi mắt dịu hiền, con tim nhạy cảm, trái tim yêu thương. Lời nói và việc làm của Chúa luôn luôn đi đôi với nhau, do đó,nhiều người đã tin vào Ngài…    

Đức Giêsu hoàn toàn khác biệt với các Kinh sư, Luật sĩ và Biệt phái, bởi vì các vị này nói mà không làm, họ chất gánh nặng trên vai những người khác, bầy đặt, lập ra mọi thứ luật lệ nhỏ nhoi, ty tiện hầu làm cho người khác phải khổ, còn mình thì không thực hiện bất cứ điều gì ! Trong đoạn Tin Mừng này, thánh Máccô đã cho chúng ta thấy hình ảnh một vị lang y nhân từ, một vị thầy thuốc với tấm lòng, với con tim đầy yêu thương của mình, vị bác sĩ ấy chính là Đức Giêsu. Hình ảnh này làm nổi bật lòng thương xót, tâm hồn quảng đại của Chúa Giêsu, khi Ngài đối diện với sự đau khổ của bệnh tật mà bà mẹ vợ của ông Simon đang gặp trong những ngày nằm trên giường bệnh. Chúa chạnh thương, với uy quyền và tình thương, Ngài đến gần bà nhạc gia của ông Simon, cúi xuống, cầm lấy tay bà mà chữa lành bà. Thái độ, việc làm và cử chỉ đầy yêu thương của Chúa đối với bà mẹ vợ của ông Simon, cũng là cử chỉ yêu thương của tấm lòng quảng đại, nhân ái mà Chúa dành cho nhân loại, cho con người, cho chúng ta, đặc biệt đối với những con người gặp thử thách, khó khăn trong cuộc đời. Phép lạ Chúa làm cho bà nhạc gia ông Simon nói lên uy quyền tối cao của Chúa Giêsu trên sự dữ. Đau ốm theo quan niệm của người Do Thái là do con người tội lỗi.Bệnh càng nặng, tội càng nhiều…Chúa Giêsu đã đánh đổ quan niệm đó và cho thấy lòng nhân từ thương xót của Chúa đối với mọi người. Cách chữa bệnh và xua trừ ma quỷ của Chúa Giêsu đối với những người bị đau mọi thứ bệnh và đối với những người bị quỷ ám không giống bất cứ vị lang y hay bác sĩ nào ở trần gian.Với lời truyền đầy quyền năng, cùng với cử chỉ đầy yêu thương của Chúa, Ngài đã biểu lộ tình thương vô bờ, tinh thần phục vụ khiêm tốn thẩm sâu của một Vị Thiên Chúa quyền năng.

Vâng, Chúa Giêsu đã hành động, đã làm nhiều phép lạ trong những năm tháng đi rao giảng với trái tim đầy yêu thương, với con tim nhạy cảm, với ánh mắt dịu dàng và với đôi tay nhẹ nhàng, đầy uy lực của một vị lương y nhân từ… Mỗi giây phút trong đời sống, chúng ta cũng đang phải chạm trán, phải đối diện với nhiều người đang gặp thử thách, những bệnh nhân đang mắc đủ chứng bệnh. Đó là những đau khổ của cuộc đời, của kiếp nhân sinh. Noi gương Chúa Giêsu, chúng ta hãy mau mắn xoa dịu những nỗi đau của tha nhân : một lời an ủi, một cử chỉ nhân ái, một nụ cười, một sự giúp đỡ nho nhỏ cũng đủ làm vinh danh Chúa và giúp tha nhân nhận ra Chúa trong ta, và giúp tha nhân hiểu được tình thương của Chúa. Một hành động bác ái yêu thương cũng đủ làm cho danh Chúa lan rộng và tỏa sáng…

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết dừng lại công việc để nghỉ ngơi, và đặc biệt để cầu nguyện. Nghỉ ngơi và cầu nguyện sẽ giúp chúng con nhận ra bàn tay nhân từ của Chúa. Xin đừng để cho chúng con bị tiền tài, danh vọng và việc làm khỏa lấp tất cả đến nỗi chúng con quên cầu nguyện, bởi vì không có Chúa chúng con không thể làm gì được. Xin Chúa cho chúng con biết lắng nghe và tuân theo lời Chúa dạy :” Hãy lui vào nơi vắng vẻ mà cầu nguyện và nghỉ ngơi đôi chút “. Xin Chúa giúp chúng con biết xót thương, biết cảm thông với người khác như Chúa đã tỏ lòng nhân từ và xoa dịu, cứu vớt những người tội lỗi và bệnh hoạn tật nguyền. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Chúa đã làm phép lạ cho bà nhạc gia ông Simon ở đâu ?

2.Cách Chúa Giêsu chữa bệnh ?

3.Tại sao Chúa Giêsu lại chữa bệnh cho nhiều người ?

4.Việc Ngài làm như thế nói lên điều gì đối với nhân loại ?

5.Thái độ của chúng ta phải ra sao đối với những người gặp thử thách, gian nan và khó khăn ?

Về mục lục

.

XIN THẦY CHỮA CON

Bông hồng nhỏ

– Cháu về nhà ngày đi kẻo không kịp.

– Có chuyện gì vậy cô Hai?

– Mẹ cháu đang bệnh nặng lắm. Xem chừng không qua khỏi.

Nghe tin mẹ bệnh, Nam vội vàng bắt xe từ Sài Gòn về Bình Thuận. Quãng đường xa càng khiến cho cậu con trai thêm nóng ruột.

Trong cuộc sống, ta cần được thông tin điều này điểu kia. Nếu như cô Hai không gọi điện cho Nam, cậu ấy đâu biết mẹ bệnh nặng mà về thăm. Ta cũng đã từng phải thốt lên hai từ “giá mà”, “nếu như” chỉ vì ta đã không thể làm được điều gì đó cho một người thân.

Hôm nay, theo chân Thầy Giêsu từ Hội đường Caphácnaum đến nhà mẹ vợ ông Simon, ta được chứng kiến cung cách hành xử rất đẹp của Thầy. Được tin mẹ vợ của Simon đang ốm, các ông lập tức báo cho Thầy biết. Ta tự hỏi nếu các ông không nhanh chóng báo tin cho Thầy liệu Thầy có biết trong nhà đang có người bệnh nặng không? Có lẽ, đây không phải là lần đầu tiên Thầy ghé thăm nhà mẹ vợ ông Simon. Ta hình dung những lần trước, khi Thầy ghé thăm, bà nhạc đã đon đả ra tiếp Thầy và các môn đệ rồi. Hôm nay, Thầy ghé thăm đây mà chưa thấy bà ra đón như mọi lần thì sẽ thấy sự bất thường. Các môn đệ cùng đi theo Thầy lúc ấy đã báo ngay cho Thầy biết tình trạng của bà. Thầy đã nhanh chân đến gần bà, cầm lấy tay bà và đỡ dậy. Lập tức, cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài. (x. Mc 1,37- 38). Thầy đã tỏ ra rất ưu ái bà nhạc của môn đệ Simon khi đến gần bà, cầm lấy tay và đỡ bà dậy. Có những khi ta vật vã trên những căn bệnh của chính mình và cần một ai đó đến bên cạnh và đỡ dậy. Ta hãy xin Thầy Giêsu cầm lấy tay ta và kéo ta ra khỏi cơn bệnh đang ghì chặt lấy thân xác yếu hèn này. Khi được Thầy chữa lành cho rồi, ta hãy mau mắn và vui mừng phục vụ anh chị em mình.

Chiều đến, người ta đưa mọi kẻ ốm đau và những người bị quỷ ám đến cho Thầy và Thầy đã chữa lành tất cả. Thầy đã dành hết thời gian trong ngày để dạy dỗ và chữa lành những tâm hồn thương tổn. Danh tiếng Thầy bây giờ đã được truyền đi xa. Đúng như câu tục ngữ của người Việt “tiếng lành đồn xa”. Nhiều kẻ chịu ơn Thầy và muốn Thầy lưu lại với họ lâu hơn nữa. Nhưng Thầy muốn đến với những người khác nữa, bước chân người truyền giáo không phải là lưa lại lâu hơn nhưng là thắp lủa cho nhiều tâm hồn hơn, mang ánh sáng Tin Mừng đến những vùng còn lạnh lẽo và tối tăm. Khi không thấy Thầy đâu, các môn đệ liền đi tìm Thầy. Sáng sớm khi trời còn tối đất mà Thầy có thể đi đâu được? Thầy đã đi ra một nơi hoang vắng mà cầu nguyện ở đó. Thầy muốn dành giây phút đầu ngày cho Chúa Cha và để tâm sự cùng Cha những thao thức, những nỗi niềm của mình, để có sức mạnh vượt thắng mọi cám dỗ. Có một lần, ta đi tìm người chị em và được người khác chỉ cho: “Muốn tìm chị ấy thì chỉ có tìm trong nhà nguyện thôi.”. Gắn bó với Chúa là thế đó, chỉ muốn ở một mình với Chúa thôi. Thế nên, người ta mới bảo cầu nguyện là hơi thở của cuôc sống. Thầy Giêsu là Thiên Chúa làm người vẫn luôn giữ mối dây mật thiết cùng Chúa Cha. Hãy noi gương Thầy.

Lạy Chúa! Này con đây luôn mang trong mình những căn bệnh. Con đã từng nằm hôn mê trong căn bệnh của mình. Con cần Chúa đến bên cầm tay nâng dậy và kéo con ra khỏi tình trạng ấy. Giữa những khó khăn và cám dỗ của cuộc sống, xin cho con tin tưởng rằng, cầu nguyện là cách con bước ra khỏi những khó khăn ấy. Amen.

Về mục lục

.

MỘT NGÀY SỐNG

          Anna Cỏ May

Một đứa trẻ chào đời, tiếng nói đầu tiên là tiếng khóc. Khi lớn hơn một chút  là bập bẹ gọi ba, gọi mẹ. Lớn hơn nữa là tuổi vui chơi và học tập. Và khi đã trưởng thành, nó bắt đầu lo cho cuộc sống cho mình và tìm một gia đình mới. Nó lên kế hoạch cho bản thân và cho gia đình mới. Và mỗi người chúng ta cũng đã có một kế hoạch cho ngày sống, cho cả tuần, cho cả tháng và cho cả năm.

Vậy là ai cũng đã có kế hoạch cho mình. Chúa Giêsu khi sống ở trần gian Ngài cũng có những kế hoạch cho mình trong từng ngày sống. Ngay khi ông Gioan vừa bị bắt, Ngài đã bắt đầu sứ mạng của mình. Trong Tin Mừng Máccô, ngày đầu tiên của Ngài là rao giảng kêu gọi mọi người sám hối, cùng kêu gọi các môn đệ đầu tiên theo Ngài và giảng dạy ở trong hội đường. Sau đó, Ngài đến nhà hai anh em là Simôn và Anrê. Tại đây Ngài tiếp tục chữa bệnh cho mẹ vợ ông Simon. Và khi cơn sốt vừa dứt, bà liền phục vụ các Ngài. Phải chăng nhà ông Simon là nơi nghỉ trưa của Chúa Giêsu. Vì Tin Mừng viết, chiều đến người ta lại đem mọi kẻ ốm đau, và quỷ ám đến để Chúa Giêsu chữa. Ngài đã ở và nghỉ qua đêm ở đó. Vì thế, sáng sớm hôm sau, lúc trời còn tối mịt, mọi người đang ngủ, Ngài đã dậy đến một nơi hoang vắng để cầu nguyện. Và ngày sống đầu tiên của Chúa Giêsu bắt đầu bằng việc cầu nguyện. Ngài cầu nguyện để làm gì? Ngài cầu nguyện lúc mọi người còn chìm trong giấc ngủ, không ai cầu cứu hay quấy rầy Ngài. Ngài cầu nguyện để tìm thánh ý Chúa Cha, để lãnh sức sống và sức mạnh cho ngày mới. Ngài cầu nguyện để thoát khỏi sự kêu ngạo khi mọi người đang lui tới với Ngài. Và Ngài cầu nguyện để nhìn lại mục đích công việc của mình nơi trần gian là gì. Do đó, khi các môn đệ thưa: “Mọi người đang tìm Thầy”. Ngài liền bảo các ông: “Chúng ta hãy đi đến nơi khác, đến các làng mạc chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó”.(Mc 1,37- 38). Sứ mạng của Ngài là đi khắp mọi nơi đến với mọi người, chứ không ở một địa điểm để mọi người lui tới. Ngài phải ra đi rao giảng Tin Mừng và đem ơn cứu độ cho hết và hết mọi người. Cuộc sống của Ngài luôn và chỉ làm vì tình yêu Chúa Cha và vì mọi người. Bởi đó, dù gian lao vất vả trên đường đi, Ngài vẫn không lùi bước, một lòng vâng theo ý Chúa Cha.

Trong thế giới hiện nay, ngày sống của chúng ta cũng đủ muôn màu sắc, vui buồn lẫn lộn. Nhưng làm sao chúng ta vượt qua được? Trong giờ Mĩ thuật, cô giáo hỏi cậu bé: “Con vẽ bức tranh này thì tặng cho ai?”.  “Dạ con tặng cho bố mẹ ạ!” Rồi cậu bé hăng say vẽ, tuy bức tranh không rõ nhưng đó là cả tấm lòng của cậu bé. Chúng ta hãy cùng xác định lại những công việc hằng ngày làm là vì ai, cho bạn hay cho mọi người hay vì mục đích nào? Nhờ đó, công việc chúng ta làm mới hoàn thành tốt và có ý nghĩa. Chúng ta cũng hãy bắt chước Chúa Giêsu là bắt đầu ngày mới bằng lời cầu nguyện chân thành với Thiên Chúa. Nhờ vậy, chúng ta thoát được khỏi danh vọng  mờ ảo thế gian.

Lạy Chúa, Chúa dựng nên tất cả trong vũ trụ này. Chúa cho chúng con thời gian và quyền làm chủ tất cả. Nhiệm vụ của chúng con là hưởng dùng và làm sinh sôi nảy nở chúng qua từng ngày sống. Thế nhưng, chúng con đã làm gì? Chúng con chưa hiểu biết rõ và xác định ngày sống chúng con vì ai? Bởi đó, tất cả việc làm chúng con trong ngày sống còn mơ hồ và mang sự ích kỷ. Chúng con rất cần ơn Chúa nâng đỡ trong từng ngày và kéo chúng con ra khỏi hố sâu bùn lầy lỗi lầm. Amen.

Về mục lục

.

SỐNG VÌ MỌI NGƯỜI

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Nhìn vào xã hội loài người, chúng ta nhận thấy có hai hạng người mang hai tính cách đối nghịch: Một là hạng người vị kỷ; hai là hạng người vị tha.

Người vị kỷ

Người vị kỷ là hạng người chỉ biết sống vì mình, đặt bản thân mình làm trung tâm cho cuộc sống. Tất cả mọi hoạt động của họ đều quy về bản thân, nhằm mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình mà không hề quan tâm giúp đỡ người khác, thậm chí còn làm hại người khác để kiếm lợi cho mình.

Người vị tha

Người vị tha là người quên mình để quan tâm chăm lo, phục vụ người khác. Chúa Giê-su là tiêu biểu cho hạng người nầy. Ngài chọn tha nhân làm trung tâm cho tình yêu của Ngài hướng tới; chọn mọi người làm đối tượng cho sự phục vụ tận tuỵ của Ngài và Ngài làm tất cả những gì có thể, để mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại. Ngài chỉ biết sống vì người khác, sống để cứu độ người khác đến độ hiến trao cả mạng sống mình.

Tin mừng Mác-cô (1, 29-39) hôm nay phác hoạ lại chân dung Đức Giê-su, một người hoàn toàn vị tha, luôn cúi xuống trên những mảnh đời lầm than khốn khổ để giúp đỡ cứu vớt họ. 

Hôm ấy, “Đức Giê-su đi đến nhà hai ông Si-môn và An-rê. Có ông Gia-cô-bê và ông Gio-an cùng đi theo. Lúc đó, bà mẹ vợ ông Si-môn đang lên cơn sốt, nằm trên giường. Lập tức họ nói cho Ngài biết tình trạng của bà. Ngài lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy; cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài.

Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Ngài. Cả thành xúm lại trước cửa. Đức Giê-su chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật và trừ nhiều quỷ.”

Sáng hôm sau, “lúc trời còn tối mịt, Ngài đã thức dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó.”

Cầu nguyện chưa được bao lâu, “Ông Si-môn và các bạn kéo nhau đi tìm. Khi gặp Ngài, các ông thưa: “Mọi người đang tìm Thầy đấy!”

Chúa Giê-su không khoanh vùng phục vụ của Ngài trong phạm vi nhỏ hẹp. Ngài muốn vươn đến nhiều nơi. Chúa Giê-su không giới hạn tình yêu của Ngài cho một thiểu số, nhưng ban phát cho hết mọi người. Thế nên “Ngài bảo các ông: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó.” Rồi Ngài đi khắp miền Ga-li-lê, rao giảng trong các hội đường của họ và trừ quỷ.”

Nói tóm lại, không một người đau khổ nào đến với Chúa Giê-su mà không được Ngài quan tâm chăm sóc. Không một kẻ bất hạnh nào gặp Chúa mà chẳng được Chúa dủ lòng thương. Chúa đến trần gian để sống cho mọi người, yêu thương hết mọi người và hiến thân phục vụ tất cả không trừ ai.

Sống vị tha theo gương Chúa Giê-su

Sở dĩ mỗi chiếc lá trên cây được tươi tốt là nhờ thân cây và nhờ những chiếc lá khác nuôi dưỡng nó.

Tương tự như thế, mỗi người chúng ta được tồn tại và phát triển là nhờ xã hội và nhờ những người khác nuôi sống chúng ta.

Vậy thì đến lượt mình, mỗi người chúng ta cũng phải góp phần vào việc làm cho những người chung quanh chúng ta được tồn tại và phát triển.

Do đó, không ai được phép bo bo chăm lo cho riêng mình, nhưng phải cống hiến đời mình phục vụ anh chị em chung quanh.

Trong khu vườn kia có hai cây cam. Một cây không bao giờ sinh trái nên chủ vườn tỏ ra thất vọng về nó và muốn chặt bỏ nó đi; trong khi cây kia năm nào cũng trỗ sinh nhiều quả ngọt nên được chủ vườn yêu quý. Cũng thế, người nào có nhiều cống hiến tốt đẹp cho đời sẽ làm cho bản thân mình nên cao cả và đáng được mọi người yêu quý hơn.

Lạy Chúa Giê-su, Chúa luôn vị tha và đã sống hết mình vì mọi người.

Xin cho chúng con biết noi gương Chúa, đừng ích kỷ chỉ biết quy về mình, chỉ biết mưu tìm hạnh phúc cho mình, nhưng biết hướng về tha nhân để mưu tìm hạnh phúc cho người khác.

Nếu hôm nay chúng con chỉ biết chăm lo phục vụ bản thân mình mà không dấn thân phục vụ người khác, thì vào lúc từ giã đời này, chúng con sẽ cùng chịu án phạt đời đời với lão phú hộ không biết thương xót La-da-rô khốn khổ (Lu-ca 16, 19-31), hoặc như những người bị Chúa lên án trong dụ ngôn “Phán xét cuối cùng” vì đã không yêu thương phục vụ những người chung quanh. (Mát-thêu 25, 31-46).

Về mục lục

.

CỨU ĐỘ

Lm. Trần Việt Hùng

Gia đình tổ ấm yêu thương,

Có cha có mẹ, tựa nương tháng ngày.

Thầy trò thăm hỏi hôm nay,

Nhạc gia cảm sốt, xin Thầy chữa cho.

Si-mon cầu khấn lắng lo,

Mẹ già mắc bệnh, ai lo tiếp Thầy.

Cầm tay Chúa chữa ngay đây,

Bệnh tình biến mất, lòng đầy hân hoan.

Chiều về dân chúng lo toan,

Vội vàng kéo đến, một đoàn bệnh nhân.

Xin Thầy cứu chữa ban ân,

Xua trừ ma quỉ, xác thân khổ sầu.

Chúa thương ban phúc lời cầu,

Tinh sương rạng sáng, nơi đâu tìm Thầy,

Vào nơi thanh vắng nào đây,

Tin vui rao giảng, nơi này làng kia.

Chúa Giêsu đã ra công khai rao giảng Tin Mừng. Ngài chính thức vào nơi Hội Đường Do Thái để loan tin vui Cứu Độ. Nhiều người ngạc nhiên về sự hiểu biết và quyền năng của Chúa. Một số người đã tin và đi theo Chúa. Cũng nhiều kẻ còn hồ nghi, ghen tương và chối từ Ngài.   

Sau khi rời Hội Đường, Ngài và các môn đệ trở về nhà ông Simon. Ngạc nhiên là mẹ vợ của Simon bị bệnh sốt. Chúa đã ghé thăm và chữa bệnh cho bà. Chúng ta không thấy phúc âm nhắc đến vợ và con cái của ông Simon. Dĩ nhiên Simon vẫn quan tâm cho gia đình và có lẽ Chúa và các môn đệ ghé thường xuyên để ăn uống trong suốt thời gian rao giảng.   

Chúa gọi Simon, ông bỏ mọi sự và đi theo Chúa. Bỏ lại gia đình, chài lưới và công ăn việc làm hàng ngày. Đây là một sự đáp trả tiếng Chúa thật cao qúy. Simon âm thầm đi theo Chúa, một người Thầy không có nơi gối đầu.  

Theo Thầy lang thang phố này qua phố khác. Chúa tìm đến với những người cùng khổ và nghèo nàn. Từng bước Chúa đã tỏ uy quyền trong chương trình cứu độ. Chúa rao giảng tin mừng, chữa tất cả các loại bệnh hoạn tật nguyền và xua trừ ma qủy. Chúa bắt đầu đối đầu với tất cả các tệ nạn của xã hội. Chúa muốn họ thay đổi tư duy và thay đổi cách sống. Mời gọi sống với trái tim chân tình và yêu thương.   

Một giáo lý mới lấy tâm làm nền. Mọi sự quy về đức yêu thương. Chúa đã chạnh lòng thương vì dân chúng bơ vơ không có người chăn dắt. Ngài đến để quy tụ họ về một mối. Ngài chính là Chúa Chiên Lành. Chúa Chiên dám hy sinh mạng sống vì đàn chiên. Thao thức của Ngài là đến với từng con chiên lạc, ôm ấp, dắt dìu và vỗ về trong vòng tay yêu thương.   

Chúng ta hãy trao phó cuộc sống của chúng ta trong vòng tay lân ái của Chúa. Chúa sẽ chữa lành mọi vết thương lòng và khổ đau thân xác. Tình thương của Chúa thật hải hà. Có khi nào chúng ta chạy đến với Chúa khẩn cầu mà Chúa chẳng nhậm lời. Chúa đang giang tay trên thập giá chờ đón chúng ta kìa.

Về mục lục

.

CON NGƯỜI TRỞ NÊN VĨ ĐẠI NHỜ CẦU NGUYỆN

Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển

Pascal là một nhà bác học nổi tiếng và cũng là một nhà triết gia lỗi lạc, ông đã có một câu nói thời danh để đời như sau: “Con người chỉ vĩ đại khi họ cầu nguyện”.

Thật vậy, con người là loài thụ tạo cao quý nhất mà Thiên Chúa dựng nên. Con người có giá trị trổi vượt trên các loài thụ tạo khác. Tuy nhiên, con người chỉ có thể trở nên vĩ đại nhờ có một mối tương quan mật thiết với Đấng là chủ tể của mình ngang qua đời sống cầu nguyện. Bởi vì cầu nguyện là chiếc cầu nối liền giữa Thiên Chúa và con người. Cầu nguyện làm cho con người tìm ra được nguồn cội, cùng đích của cuộc đời. Cầu nguyện cũng giúp cho con người biết mình phải làm gì và khước từ điều gì.

 

Hôm nay, Tin Mừng thuật lại việc Đức Giêsu ngay từ sáng sớm, người lánh sang một nơi thanh vắng để cầu nguyện sau một ngày làm việc mệt nhọc với sứ vụ và tiếp tục với hành trình rao giảng Tin Mừng mới. Điều này cho thấy: cầu nguyện là việc vô cùng cao quý và quan trọng trong hành trình loan báo Tin Mừng của Đức Giêsu cũng như người môn đệ.

 

  1. Cầu nguyện không ngừng

 

Đã có lần, Đức Giêsu nghe các môn đệ của mình kể về thành tích mà các ông đạt được sau những ngày vất vả vì sứ vụ. Các ông trở về trong hân hoan và khoe với Ngài về thành tích đạt được, nào là: thành công trong việc chữa lành bệnh tật, nhiều người nghe lời các ông giảng và ngay cả ma quỷ cũng phải khuất phục (x. Mc 6, 30-31).

 

Tuy nhiên, Đức Giêsu đã không khen ngợi các ông, Ngài cũng chẳng đề nghị các ông tiếp tục thi hành. Và hoàn toàn không mở tiệc linh đình để tuyên dương kết quả! Nhưng Ngài nói với các ông: “Chính anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6, 31). Nghỉ ngơi ở đây có nghĩa là trở về với Thiên Chúa và với bản thân trong sự thinh lặng nội tâm sâu xa.

 

Còn khi dạy các Tông đồ cầu nguyện, Ngài nói: “Phải cầu nguyện luôn mãi không ngừng nghỉ” (Lc 18,1); chỗ khác Ngài truyền lệnh: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện” (Mc 14,38). Hơn nữa, khi nói về giới hạn của con người và tầm quan trọng của cầu nguyện, Ngài mặc khải: “Không có Thầy, chúng con không thể làm được gì” (Ga 15,5) Hay để khơi lên niềm tín thác vào Thiên Chúa là Đấng xót thương, Đức Giêsu khẳng định: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho” (Mt 7,7).

 

Như vậy, đời sống cầu nguyện là nền tảng để xây dựng đời sống Tông đồ nơi người môn đệ. Cầu nguyện chính là hồn sống, là thước đo để biết được người Tông đồ thi hành sứ vụ vì ai, cho ai và mục đích gì! Cầu nguyện còn để xác định rõ: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên”. Nói cách khác, đời sống cầu nguyện được ví cá cần nước, cây cần ánh sáng, con người cần hơi thở.

 

  1. Mẫu gương cầu nguyện nơi Đức Giêsu

 

Khi thấy được tầm quan trọng không thể thiếu của đời sống cầu nguyện, nên Đức Giêsu không chỉ dạy các môn đệ cầu nguyện, nhưng chính Ngài đã làm gương về đời sống cầu nguyện.

 

Thật vậy, Ngài luôn luôn cầu nguyện trước, trong và sau khi làm bất cứ việc gì. Ngài cầu nguyện trong sa mạc; nơi hội đường; trên triền núi; ngoài bãi biển….

 

Hôm nay, thánh Máccô một lần nữa cho ta thấy Đức Giêsu coi trọng và ưu tiên hàng đầu trong việc cầu nguyện, tác giả viết: “Sáng sớm  lúc trời còn tối, Người đã dậy đi ra một nơi hoang vắng và cầu  nguyện ở đó” (Mc l,35).

 

Khung cảnh “sáng sớm” cho chúng ta thấy một đêm dài đã kết thúc và một ngày mới khởi đầu. Thái độ cầu nguyện ngay từ khi trời còn tối báo cho chúng ta biết, Đức Giêsu chắc chắn tạ ơn, chúc tụng quyền năng của Thiên Chúa qua những việc Ngài đã làm trong ngày hôm trước như: thăm viếng, chữa bệnh, trừ quỷ…. Mặt khác, trải qua một đêm có lẽ nhiều thao thức, trăn trở và lựa chọn để làm trong ngày mới, nên ngay từ sáng sớm, Ngài đã xin ý của Thiên Chúa qua việc cầu nguyện, để mọi việc được diễn ra trong thánh ý của Người. Chính vì điều này mà mọi hoạt động của Đức Giêsu đều quy hướng về Thiên Chúa và mang lại vinh quang cho Người.

 

Như vậy, giữa Đức Giêsu và Thiên Chúa có một sự gắn kết mật thiết đến độ không thể tách rời đến nỗi đã có lần Đức Giêsu tuyên bố: “Ta và Cha ta là một”; hay “lương thực của Thầy là thi hành ýmuốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4,34 ).

 

  1. Cầu nguyện là nền tảng cho mọi hoạt động

 

Ngày nay, chúng ta thấy có rất nhiều sự rạn nứt qua các mối tương quan như: rất nhiều cuộc hôn nhân đổ vỡ, vợ chồng không còn tin tưởng nhau, thiếu sự chung thủy. Nạn phá thai diễn ra như cơm bữa. Lương tâm, chân lý không còn được lưu tâm hay bị lệch lạc. Con cái vô cảm, bất hiếu và hỗn xược với đấng sinh thành. Anh chị em trong gia đình loại trừ nhau. Hàng xóm láng giềng không còn chuyện “tối lửa tắt đèn có nhau”! Thầy cô giáo và học trò ít quan tâm đến chuyện: “Tiên học lễ, Hậu Học văn”; vì thầy chẳng ra thầy, trò chẳng ra trò! Bạn bè với nhau không còn tính trung thực, mà thay vào đó là lợi dụng nhau, thanh toán nhau bằng nắm đấm, song sắt, lưỡi lê….

 

Nguyên nhân lớn nhất đó là thiếu hay coi thường hoặc không có đời sống cầu nguyện. Bởi vì, không cầu nguyện, con người sẽ không nhận ra Thiên Chúa là ai cũng như không biết coi trọng nhân phẩm của mình và của nhau. Không có đời sống cầu nguyện, người ta cũng không tìm ra lý tưởng và không thể trả lời được về mục đích của sự hiện hữu nơi mình trên trần gian. Đàng khác, khi đời sống cầu nguyện bị sao nhãng, người ta cũng chẳng cần quan tâm đến sự thật và lòng trung thành, từ đó, họ có thể làm bất cứ điều gì mà không sợ áy náy! Họ sẵn sàng “dùng phương tiện xấu để biện minh cho mục đích tốt”; hay cả phương tiện và mục đích đều xấu, nhưng lương tâm đã bị trai lỳ, vô cảm nên họ vẫn sẵn sàng làm cho kỳ được để thỏa mãn điều mong muốn một cách bất nhân.

 

Hơn nữa, nhiều người có cầu nguyện, nhưng sự hời hợt, qua lần chiếu lệ đã làm cho họ chẳng khác gì như hạt giống gieo nơi vệ đường, trên bụi gai và nơi đá sỏi. Hãy nhớ lại câu chuyện Tổ Tông sa ngã chỉ vì hiểu có một nửa sự thật!

 

Chính vì thiếu đời sống cầu nguyện sâu xa như thế, nên việc sống đạo của chúng ta bị nhàm chán, hờ hững và hình thức bên ngoài, khiến cho những công việc chúng ta làm bị phản tác dụng khi nó quy chiếu về bản thân mình chứ không hướng về Chúa.

 

Muốn khắc phục tình trạng trên, chúng ta cần chuẩn bị tinh thần thật minh mẫn, sốt sắng, vui tươi như thể mình đang chuẩn bị đi gặp “người yêu”. Phải thực sự có kinh nghiệm cá vị về Thiên Chúa. Mặt khác, chúng ta phải tin tưởng chắc chắn rằng, chúng ta đang ở bên Chúa, Chúa đang ở bên ta, vì thế, cần có thái độ của đức tin để phó thác, thái độ khiêm tốn để lắng nghe. Bởi vì: “Cầu nguyện là hô hấp của tâm hồn”.

Chỉ có thế, chúng ta mới có thể xóa đi cái “tôi” ích kỷ, hư ảo, kiêu ngạo, để thay vào đó là sự khiêm tốn, hiền lành và khiêm nhường như Chúa . Như vậy, nhờ đời sống cầu nguyện, chúng ta mới nhận ra: “Con người vĩ đại nhờ cầu nguyện”.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết đặt mình bên cạnh Chúa, được sống với Chúa, được nhìn ngắm Chúa, được lắng nghe tiếng Chúa, được gặp gỡ Chúa, và được chìm sâu trong Chúa, Đấng cứu độ chúng con ngang qua đời sống cầu nguyện. Amen.

Về mục lục

.

ĐỜI LÀ BỂ KHỔ

JM. Lam Thy

Thánh sử Mát-thêu mở đầu sách Kinh Thánh của ngài bằng cách viết về Gia phả của Đức Giê-su; Thánh Lu-ca thì mở đầu bằng trình thuật thời thơ ấu của Đức Giê-su và Thánh Gio-an Tẩy Giả; Thánh sử Gio-an thì mở đầu bằng “Lời tựa” trình bày lý do viết sách, sau đó đi thẳng vào “Tuần lễ khai mạc Sứ vụ của Đức Giê-su”. Khác với các tác giả vừa nêu, Thánh sử Mác-cô mở đầu sách Kinh Thánh của ngài bằng cách đi thẳng vào “Giai đoạn dọn đường cho sứ vụ của Đức Giê-su”. Đức Giê-su khởi đầu sứ vụ bằng việc tới sông Gio-đan xin ông Gio-an Tẩy Giả làm phép rửa. Tiếp theo đó, Người thu nhận 4 môn đệ đầu tiên (gồm các ông Si-mon, An-rê, Gia-cô-bê và Gio-an).

 

Bài Tin Mừng hôm nay (CN V.TN-B – Mc 1, 29-39) trình thuật Đức Giê-su rời khỏi hội đường Ca-phác-na-um, rồi đi tới nhà 2 ông Si-mon và An-rê. Tại đây Người đã chữa lành bệnh cho nhạc mẫu ông Si-mon. Tiếp theo, Người chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ. Cuối cùng, Người rời khỏi Ca-phac-na-um từ sáng sớm (lúc trời còn tối). Người bảo các môn đệ: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó.” Rồi Người đi khắp miền Ga-li-lê, rao giảng trong các hội đường và trừ quỷ.” (Mc 1, 35-39).

 

Như vậy, chủ đề chính của Chúa nhật này (CN V/TN-B) là công việc truyền giáo (rao giảng Tin Mừng cứu độ, chữa lành bệnh tật cho nhiều người, nói chung là chia sẻ tình thương với mọi người). Có lẽ cũng vì thế, Giáo hội mới ấn định bài đọc 1 bằng cách trích một đoạn trong sách của ngôn sứ Gióp (G 7, 1-4.6-7). Đoạn văn này nói về cuộc sống của con người nơi trần thế vô cùng cực nhọc vất vả. Quả thật “Cuộc sống con người nơi dương thế chẳng phải là thời khổ dịch sao? Và chuỗi ngày lao lung vất vả đâu khác gì đời kẻ làm thuê?” (G 7, 1). Nếu cứ như vậy đi tới chỗ không tìm được lối thoát, con người sẽ chẳng còn tin tưởng vào sự gì, chán đời, bi lụy, trở nên bi quan yếm thế tột cùng. Tuy nhiên, nếu chịu suy nghĩ chín chắn sẽ hiểu ra được đời là thế, đời chưa phải, không phải là bồng lai tiên cảnh, là Thiên đàng, Niết bàn, mà thực chất đời chỉ là bể khổ. Những gian lao khổ ải là những khó khăn trở ngại tất yếu của cuộc sống trần ai, và nếu vượt qua được thì sẽ tìm thấy hạnh phúc đích thực.

 

Nhận chân được vấn đề, con người sẽ kiên trì phấn đấu, nhưng cũng có thể với sức người mỏng giòn yếu đuối, không thể vượt thắng được thử thách, thì phải biết cậy dựa vào Đấng Toàn Năng như ông Gióp thủa xưa: Ông đã thất vọng (“Ngày đời tôi thấm thoát hơn cả thoi đưa, và chấm dứt, không một tia hy vọng”). Thất vọng nhưng không tuyệt vọng, mà biết chạy đến thưa với Đấng mà ông đã biết và đã tin: “Lạy ĐỨC CHÚA, xin Ngài nhớ cho, cuộc đời con chỉ là hơi thở, mắt con sẽ chẳng thấy hạnh phúc bao giờ.” (G 7, 6-7); từ đó ông khẩn thiết van nài xin Người cứu chữa. Ông đã được toại nguyện “Người sẽ lại cho miệng anh rộn rã tiếng cười, và môi anh vang khúc hoan ca. Kẻ thù ghét anh phải thẹn thùng xấu hổ, nơi ở của phường gian ác cũng chẳng còn.” (G 8, 21-22). Vấn đề đặt ra chính là ở chỗ đó.

 

Cuộc sống của mỗi người đều phải trải qua những lúc khổ đau, bệnh tật, bởi “sinh, lão, bệnh, tử”, phải luôn luôn đối mặt với môi trường, với thiên nhiên khắc nghiệt, ấy là chưa kể còn phải chống cự với những nham hiểm của lòng dạ con người và nhất là sự ranh ma quỷ quyệt của ma quỷ. Hiểu được giá trị của đau khổ không phải là để than trời trách đất, cũng không phải là để bi quan chấp nhận coi như đó là số mệnh, là định mệnh bất di bất dịch. Hiểu được giá trị của đau khổ phải là để thanh luyện, để trui rèn sao cho con người của mình trở thành một vũ khí chống lại sự dữ, khắc phục khổ đau.

 

Với Ki-tô hữu thì hiểu được giá trị của đau khổ có nghĩa là biết chấp nhận hy sinh vì những thử thách do Đấng mà mình tin là Đức Giê-su Thiên Chúa đã gửi đến cho mình. Cũng bởi vì chính Người đã dạy: “Thầy sai anh  em đi như chiên đi vào giữa bầy sói” (Mt 10, 16) và cảnh báo: “Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ. Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy để làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết.” (Mt 10, 17-18). Thánh Phao-lô đã trải nghiệm đúng như Lời dậy của Đức Ki-tô; vì thế, trên hành trình rao giảng Tin Mừng tới Trô-a, rồi từ Mi-lê-tô, Thánh nhân sai người đi mời các kỳ mục trong Hội Thánh Ê-phê-xô. Khi họ đến gặp, ngài đã nói với họ: Phần tôi, tôi biết rằng khi tôi đi rồi, thì sẽ có những sói dữ đột nhập vào anh em, chúng không tha đàn chiên. Ngay từ giữa hàng ngũ anh em sẽ xuất hiện những người giảng dạy những điều sai lạc, hòng lôi cuốn các môn đệ theo chúng.” (Cv 20, 17-30).

 

Nói chung, các Thánh Tông đồ cũng vậy, chấp nhận làm môn đệ của Chúa Ki-tô là chấp nhận hy sinh, thử thách, bởi Chúa không hề bảo khi đi theo Người thì ôm theo hoa lá bạc vàng hay những thứ sơn hào hải vị, mà là vác thập giá mình mà theo (“Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” – Mt 16, 24). Và quả nhiên thập giá của các Thánh Tông đồ vác đi theo Chúa không nhẹ nhàng gì. Các ngài đã bị Thượng Hội đồng “cho gọi các Tông đồ lại mà đánh đòn và cấm các ông không được nói đến danh Đức Giê-su, rồi thả các ông ra.” (Cv 5, 40). Đó chính là “lửa thử thách” như Thánh Phê-rô khuyên bảo (“Anh em đang bị lửa thử thách: đừng ngạc nhiên mà coi đó như một cái gì khác thường xảy đến cho anh em. Được chia sẻ những đau khổ của Đức Ki-tô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu, để khi vinh quang Người tỏ hiện, anh em cùng được vui mừng hoan hỷ.” – 1Pr 4, 12-13).

 

Với xã hội văn minh ngày nay, thì cây thập giá mỗi Ki-tô hữu vác đi theo Chúa, nhìn theo góc độ thể chất thì có vẻ như nhẹ nhàng hơn cách đây 20 thế kỷ. Tuy nhiên, nhìn theo góc độ tâm linh thì còn khốc hại hơn xưa nhiều. Sự bách hại đạo Chúa không còn là gông cùm tù rạc về thể xác như các Thánh Tử Vì Đạo Việt Nam cách đây 4 – 5 thế kỷ đã phải gánh chịu; mà chính là những gông cùm tù rạc về tinh thần, nhất là những cám dỗ của ma quỷ thì lại càng tinh vi xảo quyệt gấp bội. Hoá cho nên dù chịu đánh đòn hay nhục hình (tinh thần hoặc thể xác), thì hãy nghĩ rằng đó chính là thập giá Chúa gửi đến cho mình, để được đồng hành với Chúa trong công trình cứu độ nhân loại.

 

Hãy học theo gương các Tông Đồ thủa xưa, sau khi bị đánh đòn các ngài đã “ra khỏi Thượng Hội Đồng, lòng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giê-su” (Cv 5, 40-41). Hoặc như Thánh Phao-lô: “Nhờ ơn Chúa toàn năng nâng đỡ, chúng tôi có thể vui mừng chấp nhận bất cứ điều gì xảy ra cho cuộc đời chúng tôi” (Cl 1, 11) và Thánh Phê-rô: “Nếu bị sỉ nhục vì danh Đức Ki-tô, anh em thật có phúc, bởi lẽ Thần Khí vinh hiển và uy quyền, là Thần Khí của Thiên Chúa, ngự trên anh em. Đừng có ai trong anh em phải chịu khổ vì tội giết người, trộm cắp, làm điều gian ác hoặc dây mình vào việc người khác; mà nếu có ai phải chịu khổ vì danh hiệu Ki-tô hữu, thì đừng xấu hổ, nhưng hãy tôn vinh Thiên Chúa vì được mang danh hiệu đó.” (1Pr 4, 14-16).

 

Vâng, cách này cách khác, chúng ta luôn là những bệnh nhân rất cần thầy thuốc. Chỉ sợ rằng chúng ta quên mất Người Thầy Thuốc chí nhân chí thánh ấy, chớ Người không bao giờ quên chúng ta, bởi “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.” (Mc 2, 17). Còn một điều đừng quên là dù có gặp thầy gặp thuốc giỏi tới đâu chăng nữa thì vấn đề chữa khỏi bệnh vẫn tuỳ thuộc vào chính bản thân người có bệnh, nhất  là ở những căn bệnh, những nỗi đau khổ thuộc lãnh vực tâm linh, siêu hình. Ngay như khi chữa bệnh cho mọi người, Đức Giê-su Ki-tô cũng thường nói “Ông cứ về đi! Ông tin thế nào thì được như vậy!” (Mt 8, 13), “Này con, cứ yên tâm, lòng tin của con đã cứu chữa con.” (Mt 9, 22). Nói cách cụ thể, mọi khổ đau phiền lụy chỉ được chữa lành khi bản thân người bệnh có ý chí và thực lòng tin cậy vào Đấng mà mình đã kêu xin Người chữa trị. Cũng bởi vì “Cánh đồng đức tin đích thực chính là tâm hồn mỗi người chúng ta, là cuộc sống chúng ta. Chính trong cuộc sống chúng ta mà Chúa Giê-su yêu cầu để cho Lời Ngài đi vào để có thể nẩy mầm và tăng trưởng!” (“Những câu nói nổi bật của ĐTC Phanxicô I” – Cát Minh – nguồn: Thanhlinh.net).

 

Ngoài ra, còn một cách thế rất hữu hiệu để xoa dịu nỗi đau khổ của chính mình, là ra khỏi bản thân, đến với anh em để chia sẻ và được chia sẻ. Chính thế, “Một nỗi đau buồn được chia sẻ thì sự buồn đau vơi đi được một nửa, nhưng hạnh phúc khi được sẻ chia lại tăng gấp đôi.” (Francis Bacon). Bà mẹ vợ ông Phê-rô sau khi được chữa khỏi thì đã vội vàng đi phục vụ ((“bà mẹ vợ ông Si-mon đang lên cơn sốt, nằm trên giường” thì được “Người lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy; cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài”  – Mc 1, 30-31); hoặc như Thánh Phao-lô “Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người. Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng.” (1Cr 9, 22-23). Đó là những minh hoạ cho sự ra khỏi chính mình và chỉ có ra khỏi được chính mình mới đến được với anh em.

 

Tắt một lời, hãy kiên trì học cho được tấm gương sáng chói của vị Tông đồ dân ngoại: “Phải, tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đã trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục thêm được nhiều người. Với người Do Thái, tôi đã trở nên Do Thái, để chinh phục người Do Thái. Với những ai sống theo Lề Luật, tôi đã trở nên người sống theo Lề Luật, dù không còn phải sống theo Lề Luật nữa, để chinh phục những người sống theo Lề Luật. Đối với những kẻ sống ngoài Lề Luật, tôi đã trở nên người sống ngoài Lề Luật, dù tôi không sống ngoài luật Thiên Chúa, nhưng sống trong luật Đức Ki-tô, để chinh phục những người sống ngoài Lề Luật. Tôi đã trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu.” (1Cr 9, 19-22).

 

Vượt sông, vượt biển tuy có khó khăn, nhưng còn có thể khắc phục, đến như vượt qua được chính mình mới là thiên nan vạn nan. Mà không vượt qua được chính mình thì làm sao đến với anh em? Vấn đề đặt ra là bản thân mình có bệnh, mình muốn được chữa khỏi, hoặc chí ít cũng được anh em chia sẻ, cầu phước cho mình. Vậy tại sao không nghĩ rằng anh em có bệnh, anh em cũng mong đựoc như thế?  Điều tất yếu chỉ có thể là: “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7, 12); và đừng bao giờ quên: “Điều gì mình không muốn, thì mình cũng đừng làm cho người khác” (“Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” – Khổng Tử).

 

Đúng vậy, “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (Mt 12, 7). Hãy đến với anh em bằng tấm lòng nhân hậu của Đức Ki-tô Thiên Chúa. Hãy hoà giải với anh em trước khi dâng của lễ. Vâng, hãy đặc biệt cầu nguyện cho những người anh em đang phải chịu nhiều đau khổ ở khắp nơi trên thế giới: đau khổ tinh thần, đau khổ thể xác, đau khổ vì chiến tranh, vì thiên tai, vì già yếu, bệnh hoạn. Cũng đừng quên cầu xin Chúa cho bản thân luôn biết nhìn lên Thánh Giá, suy gẫm cuộc tử nạn của Chúa, để có thể dũng cảm chấp nhận mọi đau khổ hàng ngày – vì “Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6, 34) – đồng thời luôn biết cố gắng nâng đỡ những con người bất hạnh chung quanh. Ước được như vậy. Amen.

Về mục lục

.

CẦU NGUYỆN LÀ NHU CẦU SỐNG

Lm. Trịnh Ngọc Danh

Một ngày làm việc của Đức Giêsu: Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Ngài đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó. Rồi Ngài đi khắp miền Galilê, rao giảng trong các hội đường của họ và chữa lành tất cả những tật bệnh tinh thần và thể xác.

 

Nhân dịp thánh Phanxicô  vào yết kiến Đức Thánh Cha để xin phê chuẩn luật dòng Anh Em Hèn Mọn, Đức Thánh Cha thân mật hỏi ngài: “ Con có bao giờ thấy Chúa chưa?” Thánh nhân trả lời: “ Con vừa thấy đêm qua.” Đức Thánh Cha lại hỏi: “ Người có nói gì với con không?” Thánh Phanxicô trả lời: “ Người và con bên nhau suốt đêm không nói gì. Tuy nhiên, cứ mỗi lần con kêu “ Cha” với Người, thì Người lại trả lời lại con “ con Ta”.Cứ thế, chẳng có gì hơn cho đến lúc sáng.

 

Đối với Đức Giêsu, cầu nguyện không phải chỉ vì bổn phận, mà còn là một nhu cầu.Cầu nguyện là giây phút gặp gỡ Chúa Cha. Ngài tìm nơi thanh vắng để cầu nguyện. Nơi thanh vắng là môi trường phục hồi năng lực để tiếp tục công việc. Nơi thanh vắng và giây phút cô tịch ấy, Ngài kết chặt mối tương quan mật thiết với Chúa Cha.Ngài cũng dạy các môn đệ cầu nguyện: “ Khi cầu nguyện, anh em đừng như bọn đạo đức giả; chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư cho người ta thấy. Thầy bảo thật anh em: chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh.”( Mt 6:5-6)

 

Narada, một nhà hiền triết Ấn Độ, rất sùng ngưỡng Thần Hari. Một hôm, Thần Hari nói với ông: “ Này Narada, con hãy đi đến thị trấn bên bờ sông Hằng, vì có một tín đồ của Ta ở đó. Sống với tín đồ ấy sẽ ích lợi nhiều cho con.”  Narada ra đi, cuối cùng ông gặp một bác nông dân. Mỗi sáng sớm thức dậy, ông chỉ kêu tên Thần Hari một lần, rồi vác cày ra ruộng. Ông làm việc suốt ngày ngoài đồng. Tối, trước khi đi ngủ, ông lại kêu tên Thần Hari một lần nữa. Thấy vậy, Narada thầm nghĩ: “Làm sao có thể coi bác ông dân này là một tín đồ của Thần được nhỉ? Ông ta suốt ngày chỉ chìm đắm trong công việc làm ăn.” Biết được ý nghĩ của Narada, Thần Hari nói với ông: “ Hãy rót sữa vào một tô đầy đến miệng, rồi bưng tô sữa ấy đi một vòng quanh thành phố. Cố sao khi con về đây, không một giọt sữa nào bị tràn ra ngoài..” Narada làm y lời. Sau khi đi một vòng thành phố trở về, Thần Hari hỏi: “ Trong chuyến đi vừa rồi, con đã nhớ đến ta mấy lần?” Narada trả lời: “ Làm sao con có thể nhớ đến Ngài khi con còn phải chú ý đến tô sữa này?” Thần nói: “ Tô sữa đó đã chiếm hết sự quan tâm của con đến nỗi con hoàn toàn quên Ta. Nhưng hãy  nhìn người nông dân kia: dù bao nhiêu gánh nặng nuôi sống gia đình đè nặng trên vai, ông ta vẫn có thể nhớ đến Ta hai lần mỗi ngày.”

 

Cuộc sống của Đức Giêsu là một sự kết hợp hài hòa giữa cầu nguyện và hoạt động. Hoạt động không phải chỉ hăng say rao giảng Tin Mừng, mà còn là xoa dịu những nỗi đau khổ của con người dưới mọi hình thức. Vừa ra khỏi hội đường, nghe tin mẹ vợ ông Simon bị sốt, Ngài đã viếng thăm và chữa cho bà; và người ta lại đem đến cho Ngài những người bệnh tật khác. Lòng thương xót của Ngài không giới hạn. Cuộc sống của Ngài ngoài sự kết hợp với Chúa Cha qua cầu nguyện, Ngài còn kết hợp sự rao giảng Tin Mừng với việc chữa lành bệnh tật tâm hồn và thể xác.

 

Con người khát vọng chân lý và hạnh phúc. Đức Kitô là người xuống thế gian để đưa con người đến với những khát vọng ấy.Ngài không thỏa mãn dừng chân ở lại với những ai đã được nghe Ngài giảng dạy mà còn quyết tâm đi đến những nơi mà dân chúng chưa được nghe Tin Mừng cứu độ: “Chúng ta hãy đi nơi khác,đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó.”(Mc 1:38).

 

Đức Giêsu đã nêu gương cho mỗi người Kitô hữu chúng ta là cầu nguyện và sống chứng nhân cho Tin Mừng cứu độ bằng cuộc sống bác ái yêu thương tha nhân. Là những người tin yêu Thiên Chúa, chúng ta nhớ đến Chúa được mấy lần trong một ngày?.

Về mục lục

.

ĐI RA VÙNG NGOẠI BIÊN

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

  1. Ngày làm việc của Chúa Giêsu

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy nhịp sống mỗi ngày của Chúa Giêsu với khởi đầu là cầu nguyện, rao giảng và chữa lành thể xác tâm hồn cho con người. Một ngày thật bận rộn với biết bao công việc: Giảng dạy trong hội đường rồi đến nhà chữa bệnh cho nhạc mẫu Phêrô; Buổi chiều cho đến tối mịt, Chúa chữa lành dân chúng đủ loại bệnh hoạn tật nguyền; Sáng sớm tinh mơ, Chúa dành thời gian đẹp nhất một ngày mới để cầu nguyện cùng Chúa Cha.

Công việc bề bộn mỗi ngày của Chúa Giêsu tạo nên khuôn mẫu cho tất cả các môn sinh trong nhịp sống thường ngày.

a). Cầu nguyện:

“Sáng sớm, Chúa Giêsu tìm nơi thanh vắng cầu nguyện” (1,35). Suốt ngày lo toan với bao nhiêu là công việc, tiếp xúc đủ thứ hạng người, Chúa Giêsu dành buổi sáng tinh mơ để tâm sự trao đổi với Cha. Cầu nguyện là nhu cầu thật sự của Chúa Giêsu. Người cần có thời gian sống riêng tư một mình. Người cần sống bên Cha, tâm sự về gánh nặng công việc, về nỗi đau khổ của loài người, về cuộc chiến chống Satan. Người thấy mình cần được Cha cảm thông và nâng đỡ, cần ánh sáng và nghị lực để làm tròn sứ mạng. Người cầu nguyện vì yêu mến, khao khát được kết hiệp với Cha. Một ngày mới khởi đầu như thế để múc nguồn sức mạnh cho hoạt động truyền giáo.

b). Rao giảng

Việc quan trọng thứ hai là rao giảng Tin mừng “Ngày Sabát, Chúa Giêsu vào hội đường giảng dạy” (1,21). Người  đọc Sách Thánh và giải nghĩa: “Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có uy quyền” (1,22). Cả phương pháp và bầu khí giảng dạy của Người đều như một sự mạc khải mới mẻ. Chúa giảng với một uy quyền vượt xa các luật sĩ kinh sư thời đó. Chúa giảng như Đấng có thẩm quyền của chính Thiên Chúa tối cao. Chúa hoàn toàn độc lập khi giảng dạy. Người không trích dẫn, không dựa vào thế giá một chuyên viên nào. Vì thế, giáo lý của Chúa mới mẻ, người nghe đón nhận như luồng gió mát dịu từ thiên đàng thổi tới, lòng người cảm mến hân hoan, tâm hồn rộng mở hướng về trời cao với Chúa Cha.

c). Chữa lành thể xác tâm hồn.

Lời giảng dạy thể hiện bằng hành vi yêu thương. Lời nói đi đôi với việc làm. Đó chính là yếu tố làm cho lời nói có sức thuyết phục: “Ra khỏi hội đường, Chúa Giêsu vào nhà ông Simon… Bà nhạc của ông Simon đang bị sốt. Chúa Giêsu đến bên giường, cầm tay bà mà đỡ dậy; cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài”. Chúa Giêsu làm một cử chỉ thân ái là cầm lấy tay bà và nâng dậy, như có lần Người cầm tay đứa con gái ông trưởng hội đường, một cô bé mười hai tuổi đã chết lại đứng dậy được (Mc 5,41), lần khác Người cầm tay cậu bé bị động kinh nằm trên đất, nâng cậu dậy và cho cậu đứng lên (Mc 9,27).

“Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Người”. Căn nhà ông Simon nhỏ hẹp, các bệnh nhân phải đứng thành nhiều vòng bên ngoài chờ đợi đến lượt mình. Tất cả đều được Chúa chữa lành.

Tác giả Thánh vịnh trong bài đáp ca cũng có cùng một cảm nghiệm đó khi nói: “Chính Người chữa những kẻ dập nát tâm can, và băng bó vết thương tâm của họ”. Thánh Phêrô trong sách Công vụ Tông đồ cũng đã làm chứng: “Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người” (Cv 10,38).

Bệnh tật đeo đuổi con người như hình với bóng. Người ta tìm ra phương cách chữa được bệnh này thì bệnh khác lại xuất hiện. Càng ngày nhiều căn bệnh mới càng khó trị và bất trị cho dù y học hiện đại tiến bộ vượt bậc. Chúa Giêsu đụng chạm đến biển khổ của nhân loại. Người không mong múc cạn, chỉ mong làm vơi đi, chỉ mong cùng chia sẻ và ban cho nó một ý nghĩa.

 

Nhịp sống mỗi ngày của Chúa Giêsu đầy ắp yêu thương trong mọi công việc phục vụ. Người có một trái tim rung động luôn “chạnh lòng thương”, có một tấm lòng bao dung vô bờ bến. Rao giảng Tin Mừng yêu thương, làm phép lạ chữa lành, mở rộng vòng tay đón nhận và tha thứ những kẻ tội lỗi. Chúa chữa lành bệnh tật thể xác và tâm hồn con người. Gặp Chúa, những ai sống ích kỷ đều trở nên quảng đại, những ai ghen ghét hận thù đều trở thành yêu thương tha thứ. Gặp Chúa, con người tìm được mùa xuân cuộc đời.

 

Ngày làm việc bận rộn của Chúa Giêsu đều đầy ắp niềm vui cầu nguyện và hoạt động. Đó chính là khuôn mẫu cho mọi tín hữu.Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu nói đến đời sống cầu nguyện và hoạt động của mọi tín hữu: Muốn có một đời sống Kitô hữu đích thực, mọi người cần xác tín rằng: việc truyền giáo vừa là một hoạt động có chiêm niệm, vừa là một chiêm niệm có hoạt động (số 23). Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo xác định: “cầu nguyện thế nào thì sống như vậy” (số 2725).

 

Một ngày sống khởi đầu với kinh nguyện, thánh lễ, chúng ta được gia tăng lòng Tin Cậy Mến, nhờ đó mà nhiệt thành làm mọi việc trong ngày sáng danh Chúa.

 

  1. Chúa Giêsu đi về vùng ngoại biên.

 

 “Ông Simon và các bạn kéo nhau đi tìm. Khi gặp Người, các ông thưa: Mọi người đang tìm Thầy!”. Chúa Giêsu muốn đi đến nhiều nơi. Vì vậy “Người bảo các ông Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó. Rồi Người đi khắp miền Galilê, rao giảng trong các hội đường của họ, và trừ quỷ”.

 

Galilê là vùng ngoại biên xa trung tâm Giêrusalem. Galilê là khởi điểm Kitô giáo. Chính tại đây, Chúa Giêsu bắt đầu cuộc rao giảng Tin mừng, chọn gọi các Tông đồ, tuyên bố Luật mới.

 

Chúa Giêsu sinh ra trong một gia đình làm nghề mộc, thuộc dạng nghèo. Như vậy, Người mang thân phận kẻ nghèo để chia sẻ với thế giới những người ngoại biên. Khi đi rao giảng Tin Mừng, Người ưu tiên để ý đến những người nghèo, người người tội lỗi và những người cùng khổ. Người áp dụng vào chính mình những lời tiên tri Isaia xưa đã nói: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, Chúa đã xức dầu tấn phong tôi.Sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4,17-20). Người cũng đã xác định: “Thầy đến không phải để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,13). Người muốn dạy cho mọi người thấy: Trước mặt Chúa không có vấn đề ưu đãi cho trung tâm và bỏ quên hoặc loại trừ những ngoại biên. Người nói rõ ràng với người phụ nữ ngoại giáo xứ Samaria: “Này chị, hãy tin tôi: Đã đến giờ, các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem… Nhưng giờ đã đến, và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và trong sự thực. Vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế” (Ga 4,21-24). Suốt đời, Chúa Giêsu đã sống gần gũi những người ngoại biên, đến với họ chia sẻ những nỗi đau của họ. Chúa Giêsu cho họ thấy Người rất thương họ, và tình thương đó là vô hạn, vô cùng. Thương đến đổ máu mình ra, chết cho họ, chết thay cho họ, và cho mọi người.Người hiến thân đến tột cùng vì tình yêu. Chính ở điểm hiến thân trên thánh giá, mà Người làm vinh danh Chúa Cha, và chính Người được tôn vinh. Người muốn các môn đệ hãy theo gương Người, đem Tin Mừng đến cho người nghèo khổ như vậy. Hiện nay, Mẹ thánh Têrêxa Calcutta đang được đề cao như một gương mẫu rao giảng Tin Mừng cho người ngoại biên. Mẹ không làm việc gì khác ngoài đi theo đường lối mà Chúa Giêsu đã đi trước. Điều đáng ngợi khen nhất nơi Mẹ là làm chứ không chỉ nói. (x.Tin Mừng cho người ngoại biên, ĐGM Bùi Tuần).

 

  1. Giáo Hội Đi Ra Vùng Ngoại Biên

 

Thời nay, nói theo ngôn ngữ của Đức cha Giuse Đặng Đức Ngân, những biên cương mới mà Giáo Hội đang quan tâm không chỉ trên phương diện địa lý nhưng còn là những con người. Chúng không chỉ có nghĩa là mới, nhưng còn có nghĩa là bị lãng quên, bị bỏ rơi, chưa đụng chạm đến. Các biên cương cần quan tâm chính là sự cộng tác của mọi thành phần trong giáo xứ, là mục vụ hôn nhân gia đình, mục vụ sau khi kết hôn, chăm sóc và bảo vệ thai nhi, mục vụ bác ái truyền giáo, mục vụ truyền thông và mục vụ di dân.

 

Chúa đến với những biên cương mới dẫu cho khó khăn hay thập giá.Truyền giáo ngày nay trong thế giới nói chung và trong xã hội Việt Nam nói riêng không nhắm trước tiên hay chủ yếu vào việc “chinh phục các linh hồn” cho Chúa càng nhiều càng tốt, (chúng ta không chạy theo số lượng) nhưng đem tinh thần Phúc Âm thấm nhuần vào con người và vào mọi thực tại nhân sinh. Vì thế, để thi hành sứ mạng cao cả đó, chúng ta không nhất thiết phải đi tới một vùng địa lý nào khác, mà lấy chính môi trường sống của mình làm “vùng đất ngoại bang”, và noi gương của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, chúng ta hãy coi các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội là những vùng giáp ranh, những vùng biên giới mà Chúa sai chúng ta đến.

 

Cảm nghiệm sâu xa bước chân Chúa Giêsu đi về vùng ngoại biên, Đức Thánh Cha Phanxicô viết: “Tôi thích một Giáo Hội bị bầm dập, bị thương tích và dơ bẩn vì đã ở ngoài đường, hơn là một Giáo Hội yếu nhược vì tự giam mình và bám víu vào sự an toàn riêng của mình. Tôi không muốn một Giáo Hội quan tâm đến việc được ở vị thế trung tâm và rồi rốt cuộc bị vướng mắc vào một mạng lưới của những nỗi ám ảnh và thủ tục” (EG 49).

 

Đức Thánh Cha Phanxicô nhắn nhủ các mục tử: Nếu một linh mục học nhiều về thần học và có nhiều bằng cấp, mà chưa học vác Thập giá Chúa Kitô, thì chưa phải là phục vụ. Người đó có thể là một học giả tốt, có thể là một giáo sư tốt, nhưng người ấy không phải là một linh mục. Các con thân mến, các con làm ơn đừng trở thành những “quý ông”, cũng đừng trở thành những “giáo sĩ kiểu công chức”; nhưng các con hãy trở thành người mục tử, những mục tử của Dân Chúa. (x. bài giảng phong chức linh mục cho 10 thầy Phó tế tại Đền Thờ Thánh Phêrô, ngày Chúa nhật Chúa Chiên Lành, 07 tháng 05 năm 2017).

 

“Đi Ra Vùng Ngoại Biên” đã trở thành câu nói quen thuộc của nhiều tín hữu kể từ khi Đức Thánh Cha Phanxicô đề cập trong Tông huấn “Niềm Vui Tin Mừng”. Ngài khuyến khích mọi người bước ra khỏi sự quen thuộc hằng ngày của mình để đi đến những nơi, với những người xa lạ ở vùng ven, vùng ngoại biên …Đây không chỉ là một lối sống thích ứng tích cực trong khuynh hướng toàn cầu hóa hiện nay, nhưng còn là một phương thế, một giải pháp để Tin Mừng Chúa Kitô được rao giảng rộng rãi hữu hiệu hơn. Chính những chuyến “đi ra vùng ngoại biên” đã neo lại nơi tâm hồn người khác nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Ngày nay, nhiều người đã đi ra ngoài khu vực an toàn của mình để “đến vùng ngoại biên” và đã chạm đến những bất công, bất minh, bất chính của trần thế. Từ nơi đó, họ thắp lên ánh sáng của Tin Mừng, của lẽ phải và công lý cho những người “còn ngồi trong bóng tối sự chết” (Lc 1,70).

 

Chúa Giêsu đến thế gian với thân phận con người, làm con người, yêu thương con người và cứu độ con người. Người tận tụy phục vụ mọi người. Hãy cùng với Chúa “đi ra vùng ngoại biên”, ra khỏi những khung cảnh quen thuộc hằng ngày loan báo Niềm Vui Tin Mừng.

Về mục lục

.

LƯƠNG Y TỪ MẪU

Tất cả chúng ta, ai cũng đã hơn một lần ngã bệnh, hoặc có người thân đau ốm, hay được thấy những bệnh nhân điều trị tại bệnh viện. Qua đó, ta đã hiểu được bệnh tật là một nỗi khổ đau của con người. Mọi người đều phải chạm trán với đau khổ dưới muôn hình vạn trạng. Các triết gia đã suy nghĩ và bàn giải nhiều về vấn đề đau khổ. Nhưng không một ai đưa ra được lời giải đáp thỏa đáng trước sự đau khổ của người hiền đức và của trẻ thơ vô tội. Ông Gióp, nhân vật chính trong tác phẩm mang tên ông, là một người hiền đức, nhưng gặp phải nhiều nỗi gian truân. Có lần ông đã hoang mang và vô vọng thốt lên rằng: “Lạy Chúa! Xin Chúa nhớ cho: đời con chỉ là hơi thở. Mắt con sẽ không được thấy hạnh phúc bao giờ”. Thật vậy, “đời người là một khổ dịch, như cảnh nô lệ, tựa kiếp làm thuê”. 

Tuy nhiên ông không bao giờ coi đau khổ như là dấu chỉ hay hình phạt của tội lỗi. Bản thân ông Gióp không tài nào hiểu được: Tại sao người hiền đức lại phải đau khổ? Đối với ông, đau khổ là một huyền nhiệm, không ai hiểu thấu. Vì thế, tốt hơn hết là cứ tín thác vào Chúa, xin Ngài giải đáp cho. Còn Chúa Giêsu thì sao? Thưa, Chúa Giêsu không thuyết giảng về đau khổ, nhưng Ngài quan tâm lo lắng cho người khổ đau. Ngài cảm thông và chữa lành kẻ ốm đau, tật nguyền, hoặc bị quỷ ám. Tin mừng hôm nay kể: Khi hay tin mẹ vợ của ông Simon đang lên cơn sốt, “Chúa Giêsu đã lại gần, cầm lấy tay bà và nâng bà ngồi dậy”. Khi cầm lấy tay bà và cho bà “chỗi dậy”, Chúa Giêsu muốn ta suy nghĩ đến cái chết và sự sống lại của Ngài. Chính nhờ mầu nhiệm Vượt Qua này, mà đau khổ của con người có một ý nghĩa tích cực. Đó là: Đau khổ không phải là một hình phạt, mà là một thay đổi, để làm nảy sinh sự sống mới. Như hạt lúa phải thối đi để có mùa gặt. Như quả trứng gà phải nứt vỏ ra để có chú gà con. Như con sâu phải lột xác để thành cánh bướm bay vào cõi trời ngập ánh sáng. Như vậy, Chúa Giêsu đến trần gian không phải để xóa đi mọi đau khổ, nhưng để đem lại cho đau khổ một ý nghĩa cứu độ, cho người đau khổ một niềm vui giải thoát. Ngài đã giải thoát họ khỏi những chán chường thất vọng; và đưa họ vào trong sự hiệp thông tình yêu với Thiên Chúa cũng như với mọi người. Thế nhưng phải đợi đến sau khi Chúa Giêsu sống lại, người ta mới nhận ra rằng: Chúa Giêsu còn hơn một thầy thuốc. Ngài là Vị Cứu Tinh của nhân loại. Vì không những Ngài đã chữa lành những nỗi đau nơi thân xác và tâm hồn con người, mà Ngài còn chiến thắng cả cái chết và quyền lực của tội lỗi, để đem cho con người một sự giải thoát toàn diện, đưa họ vào trong vinh quang và sự sống mới. Nhờ đó, thay vì nhìn đau khổ như là “sự vắng mặt của Thiên Chúa”, ta sẽ thấy đau khổ chỉ là “sự hiện diện khó hiểu” của một tình yêu. Dù đau khổ vẫn còn là một mầu nhiệm, một vấn đề chưa có lời giải đáp trọn vẹn, nhưng ta đã có tình yêu. Tình yêu là một mầu nhiệm còn vĩ đại hơn cả đau khổ. Kinh nghiệm cho thấy: Trước nỗi đau khổ của kẻ khác, nhiều khi ta cảm thấy bất lực. Ta không biết phải nói gì, không biết phải làm gì. Những lúc đó, trong giới hạn của mình và với tình thương, ta vẫn có thể làm một điều gì đó, để xoa dịu tinh thần và thể xác cho họ. Rất có thể người ấy chỉ cần ta im lặng và cảm thông với nỗi đau của họ, hoặc họ muốn ta lắng nghe tâm sự của họ. Cũng có thể họ chờ nghe một tin vui, chờ đón một ánh mắt cảm thông… Ngay cả khi ta không thể thực hiện được các việc đó, ta vẫn có thể cầu nguyện cho họ. 

Lạy Chúa! Xin cho con biết noi gương Chúa: sẵn sàng chấp nhận khổ đau vì tình yêu Chúa. Ước gì con luôn chia sẻ, cảm thông và cầu nguyện thật nhiều cho những người khổ đau.

AVE MARIA.

Về mục lục

.

RAO GIẢNG VÀ CHỮA LÀNH

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Mới đọc đoạn Tin Mừng này tôi có ấn tượng Đức Giê-su coi việc chữa lành các người bệnh tật ốm đau chỉ là công tác phụ, trong khi sứ mệnh chính của Người là rao giảng. “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó.” Lý thuyết là như thế, nhưng đứng về phía đám quần chúng bình dân thì rõ ràng, phần đa họ tìm đến với Người trước hết để được chữa lành khỏi bệnh hoạn tật nguyền. “Mọi người đang tìm Thầy đấy!” Và cũng chính vì được chứng kiến các việc chữa lành mà dân chúng tin vào lời Người giảng dạy; ‘Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền’ (c.22).

Hình như hơn ai hết chính Đức Giê-su đã ý thức rất rõ điều này: không lời giảng dạy nào về một Thiên Chúa nhân ái từ bi đối với một nhân loại đau khổ lại hữu hiệu và hùng hồn cho bằng khi nhân danh Người mà rộng tay chữa lành các thương đau phần xác cũng như phần hồn của con người cùng khốn. Ngay cả đối với các môn đệ mới chiêu mộ, Đức Giê-su cũng đã hoàn toàn chủ động trong việc này; do đó Người đã chữa bà mẹ vợ ông Si-mon khỏi cơn sốt, cho dù không ai yêu cầu. Phải chăng đó chính là để ‘các môn đệ tin vào Người’, theo cách nói của Gio-an sau phép lạ nước hóa thành rượu tại tiệc cưới Ca-na (Ga 1:8)? Khi dài dòng thuật lại rất nhiều phép lạ Đức Giê-su đã thực hiện, chắc hẳn tác giả Mác-cô muốn tô đậm nơi Người nét ông thầy thuốc tốt lành tới chữa lành bệnh nhân tật nguyền; Người ‘chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật’; và hình như đó cũng chính là hình ảnh mà Người sẽ dùng để tự giới thiệu mình: “Người khỏe mạnh không cần đến thầy thuốc, người đau ốm mới cần” (Mc 2:17).

Như vậy đối với Đức Giê-su, rao giảng và chữa bệnh không phải là hai công việc tách rời nhau. Bởi nếu nội dung cốt lõi của sứ điệp Tin Mừng chính là ‘Thiên Chúa nhân ái quan tâm đến số phận của con người yếu hèn trong cả lãnh vực thể lý lẫn tinh thần’ thì chắc chắn lời rao giảng hùng hồn và sắc bén nhất sẽ phải là ‘chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền’ và ‘sua trừ ma quỉ’. Đức Giê-su hẳn có ý nói điều này khi bảo các môn đệ: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa.” Mác-cô còn ghi nhận thêm:  ‘Người đi khắp miền Ga-li-lê, rao giảng trong các hội đường của họ, và trừ quỉ’ (nên lưu ý là người Do Thái thời Đức Giê-su cho rằng mọi bệnh tật đều do ma quỉ mà ra). Qua các việc chữa lành này Người chỉ muốn cho mọi người được biết: Thiên Chúa từ nhân đã đến với họ, đang thật sự ở giữa họ, đang đồng hành với họ, cảm thông nỗi thống khổ yếu đuối của họ, và tích cực can thiệp theo cách thức của riêng Người.

Suy niệm trên xem ra chẳng có gì là quan trọng cho lắm, tuy nhiên nó sẽ giúp ta tránh được điều mà nhiều tín hữu thường mắc phải khi cho rằng Tin Mừng hệ tại ở việc lãnh hội các tín điều cao siêu (điển hình các công thức tuyên tín phức tạp chứa đựng trong Kinh Tin Kính Ni-cê chẳng hạn…); và cho rằng làm bác ái chỉ là việc phụ, tiểu tiết tùy nghi theo khả năng mỗi người, có mục đích duy nhất làm gia tăng công nghiệp trước mặt Chúa hầu đảm bảo phần rỗi linh hồn; rồi khi đọc Phúc Âm sẽ cho rằng việc Đức Giê-su làm các phép lạ chẳng qua là để chứng tỏ quyền phép vượt trội hầu thúc ép dân chúng tin lời Người giảng dạy…; rằng những học thuyết cao siêu gồm các qui định luân lý và giới luật tân kỳ mới thật là điều Người xuống thế để dạy dỗ. Suy niệm trên hơn bao giờ hết giúp tôi nhận ra Lời Tin Mừng thật nhất quán, chặt chẽ và đầy thuyết phục: ‘Đức Giê-su – Lời’ đến trần gian để tuyên bố sứ điệp tình yêu của ‘Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi…’ và tình yêu đó cũng thật cụ thể: ‘Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ’ (Ga 3:16.17). Thế đấy, toàn bộ cuộc đời Đức Giê-su chỉ là một ‘Lời tình yêu cứu độ’, Lời trong sứ điệp, Lời trong hành động, Lời trong các phép lạ, thậm chí Lời trong cái chết tự hiến trên thập giá và Lời trong sự Phục Sinh chứa chan niềm hy vọng. Tóm lại tôi nhận ra rất rõ nội dung duy nhất của sứ vụ Đức Giê-su trên trần gian chính là để quảng bá và thể hiện mọi nơi mọi chốn một ‘Thiên Chúa yêu mến thế gian’ bằng trọn cả con người Ngài.

Vì là một tu sĩ Sa-lê-diêng, tôi nhiều lần đã áp dụng cho Đức Giê-su câu nói mà chúng tôi vẫn thường dùng để nói về Don Bosco: “Người không đi một bước, không nói một lời, không bắt tay vào bất cứ việc gì, mà không phải vì…phần rỗi giới trẻ!” Ở đây phải là, trong Tin Mừng ‘Đức Giê-su đã không hề đi một bước, không nói một lời, không bắt tay vào bất cứ việc gì mà không phải vì muốn chứng tỏ và thể hiện rằng Thiên Chúa yêu mến trần gian cách tuyệt đối tới độ…!’

Lạy Chúa Giê-su, xin cho con được chia sẻ khát vọng Chúa muốn cho Tin Mừng tình yêu nhân ái được thể hiện và nhận biết ‘ở các nơi khác… các làng xã chung quanh nữa’. Con, một linh mục của Chúa, ước mong rằng: mình sẽ không chỉ giảng dạy sứ điệp Tin Mừng này bằng lời nói suông, nhưng phải bằng cả thái độ sống và hành động. Xin cho con biết rao giảng Lời Chúa qua các dấn thận phục vụ quảng đại, mọi nơi và cho hết thảy mọi người. A-men.

Về mục lục

.

LÀM VIỆC CHO VƯƠNG QUỐC NƯỚC TRỜI

Lm. GB. Trần Văn Hào

Thánh Angustinô đã viết : “Điều linh thánh nhất trong mọi điều linh thánh là làm việc để phục vụ thiện ích các linh hồn (Divinissimum divinorum est opere ad lucrum animarum). Thánh Biển đức cũng truyền đạt lại cho các con cái linh đạo của Ngài qua câu châm ngôn ‘Làm việc và cầu nguyện’ (Orare et Laborare). Làm việc có một giá trị thật cao cả, nếu chúng ta biết quy hướng về Thiên Chúa và nhắm đến phần rỗi. Vì vậy, cuộc sống của người Kitô hữu chúng ta phải được đan dệt bằng những phút giây cầu nguyện kết hợp thâm sâu với Chúa, hòa quyện với những công việc đa đoan hằng ngày. Lời Chúa hôm nay nêu bật hình mẫu nơi Chúa Giêsu về tinh thần làm việc để phục vụ cho vương quốc nước trời cùng với chiều sâu trong việc đắm mình để cầu nguyện. Một ngày sống của Chúa được dàn trải bằng những giây phút rút vào nơi thanh vắng để kết hiệp mật thiết với Chúa Cha kèm theo sứ vụ đi giảng dạy và chữa lành các bệnh nhân. Nói chung, Đức Giêsu đã nêu gương cho chúng ta về một cuộc sống luôn dấn thân để làm việc cho Vương quốc Nước Trời.

Gía trị của lao động

Lao động để sinh nhai là một thực tại gắn liền với kiếp người. Không ai phủ nhận giá trị của lao động, của biết bao mồ hôi và nước mắt, biết bao bươn chải và nhọc nhằn để có cơm ăn áo mặc cũng như để giải quyết những nhu cầu trong cuộc sống. Ngày xưa thánh Phaolô đã phải mưu sinh với nghề dệt lều (Cv 18,13). Các tu sĩ của các dòng khổ tu vẫn phải lao động chân tay mỗi ngày, kết hợp với cuộc sống chiêm niệm trong cầu nguyện. Hiến chế Gaudium et Spes của Công đồng Vaticanô 2 gợi nhắc cho chúng ta về giá trị và ý nghĩa của việc lao động. Giáo huấn này cũng được Giáo hội lập lại trong sách Giáo lý Công giáo (từ số 2426 đến số 2429). Những công việc hằng ngày chúng ta đảm nhận, từ lao động chân tay đến lao động trí óc đều có một giá trị, góp phần vào trong công trình sáng tạo của Chúa Cha cũng như thông dự vào mầu nhiệm cứu độ của Đức Giêsu.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần đọc lại những dòng tâm sự của ông Gióp khi đối diện trước những vất vả của cuộc sống, được Giáo hội đọc lên trong bài đọc 1 của phụng vụ hôm nay. Ông Gióp nói : “Cuộc sống con người nơi dương thế chẳng phải là thời khổ dịch hay sao? Và chuỗi ngày làm lụng có khác gì đời kẻ làm thuê? (Giob 7,1). Gióp đã tỏ ra khá bi quan. Ông than vãn khi nhìn vào những vất vả trong lao động như một gánh nặng. Những dòng tâm sự của ông Gióp khiến chúng ta dễ có cái nhìn bi quan khi phải mang lấy những đa đoan của kiếp người. Tuy nhiên trong nhãn quan Kinh thánh, chúng ta biết rằng con cái Chúa cần phải tuân thủ luật giữ ngày Sabát, một ngày dành riêng cho Thiên Chúa và phải nghỉ ngơi hoàn toàn, không một chút vướng bận đến công việc lao động chân tay bên ngoài. Mục đích là cho dù chúng ta miệt mài để lo cơm áo gạo tiền, cuộc sống chúng ta vẫn phải quy hướng trọn vẹn về Chúa, từ những công việc tay chân, công việc đầu óc đến những công việc mang chiều kích thánh thiêng sâu xa hơn.

Hiểu như thế chúng ta mới có thể khám phá ra những giá trị nơi những công việc Đức Giêsu đã thực hiện. Đó là sứ vụ phục vụ cho Vương quốc Nước Trời. Chúa Giêsu đã không trực tiếp lao động để có của nuôi thân, giống như thánh Giuse tại Nazareth. Chúa cũng không dệt lều để có cái ăn cái mặc giống như thánh Phaolô đã làm lúc sinh thời. Nhưng Chúa luôn làm việc như Ngài đã từng công bố : “Tôi làm công việc của Cha tôi” (Ga 11, 36 – 38). “Cha tôi vẫn làm việc và tôi cũng làm việc (Ga 5,17)”. Công việc Đức Giêsu làm là khai mở ơn cứu độ cho trần gian theo hoạch định của Chúa Cha.

Công việc phục vụ cho Vương quốc nước trời

Đây là công việc quan trọng nhất và ý nghĩa nhất. Trong bài đọc 2, thánh Phaolô đã bộc bạch rằng, cho dầu phải bươn chải với nghề tay chân để tự túc sinh nhai, Ngài vẫn chú tâm đến việc rao giảng. Ngài viết : “ Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng. Tôi mà tự ý làm việc ấy, thì mới đáng thưởng công (1Cor 16 – 18)”. Đây là công việc mang chiều kích linh thánh. Ngài làm công việc đó và không nhận bất cứ thù lao nào, vì chính Thiên Chúa sẽ trả công cho Ngài. Cũng vậy, khi nhìn vào những công việc của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Chúa luôn tất bật và bận rộn suốt cả ngày. Khi các tông đồ đi tìm Chúa lúc Ngài rút vào nơi thanh vắng để cầu nguyện, Chúa đã nói : “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng mạc chung quanh để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm công việc này”. Công việc mà Chúa nói tới chính là để phục vụ cho việc mở mang Vương quốc Nước Trời và đem ơn cứu độ đến khắp cùng trái đất. Đây cũng là điều mà chúng ta vẫn xác tín khi đọc kinh Tin Kính : “Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế”.

Làm việc và tiết độ

Làm việc và Tiết độ (Lavoro e Temperanza) chính là khẩu hiệu thứ hai mà thánh Gioan Bosco đã để lại cho các con cái Ngài, tương thích với khẩu hiện nhứ nhất ‘Xin cho tôi các linh hồn, mọi sự khác cứ lấy đi’. Trên giường hấp hối trước khi tắt thở, Don Bosco còn nói lại một lần nữa di chúc cuối cùng cho các con cái, vỏn vẹn chỉ có 3 chữ “Làm việc, làm việc và làm việc”. Chúa Giêsu đã nói với các môn sinh : ‘Cha tôi và tôi vẫn làm việc’. Làm việc để kiếm tiền lo cho cuộc sống không phải là một điều xấu, nhưng tiền bạc không phải là tất cả để chúng ta phải kiếm tìm bằng bất cứ giá nào. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 đã từng cảnh báo nguy cơ về một lối sống hưởng thụ (consumerism ) khi chúng ta đặt tiền bạc làm thước đo mọi giá trị hoặc dùng tiền bạc để thỏa mãn sở thích hưởng thụ nơi mình. Ngài nói rõ, đó chính là một lối sống vô thần trong thực hành sẽ dần dần làm sói mòn đức tin nơi chúng ta.

Kết luận

Chúng ta hãy nhìn vào gương mẫu nơi Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay. Ngày nay, biết bao tâm hồn đã quảng đại dấn mình làm việc trong cánh đồng truyền giáo ở khắp nơi trên thế giới. Những tấm gương sáng ấy thật đáng trân quý. Chúng ta hãy thử nhìn lại chính mình, xem chúng ta có làm việc hay không, chúng ta đang làm những việc gì, làm cho ai và làm như thế nào?

Về mục lục

.

CHÚA GIÊSU, THẦY THUỐC CỦA TÂM HỒN

Lm. Giuse Phạm Quốc Phong

Đoạn Tin Mừng theo Thánh Marcô giới thiệu cho chúng ta chân dung một vị Thầy thuốc tài ba và tốt lành. Chúa Giêsu chữa tất cả những người bệnh đến với Ngài. Chúng ta biết rằng, theo văn hóa của người Do Thái, bệnh tật được gắn liền với tội lỗi, nghĩa là người Do Thái quan niệm và tin rằng bệnh tật là một hình phạt từ Thiên Chúa dành cho những người tội lỗi. Những người bệnh tật bị cộng đồng loại trừ và bị nhìn với con mắt khinh bỉ, miệt thị. Chính vì vậy, mỗi khi Chúa Giêsu chữa bệnh, Ngài hay nói với họ rằng “Tội của con đã được tha” hay “Đức tin của con đã cứu con”. Chúa Giêsu không chỉ là bác sĩ thể lý, mà quan trọng hơn, Ngài là một bác sĩ của tâm hồn, chữa hết những vết thương tâm hồn, đưa họ trở lại với nhân phẩm của con người, đưa họ trở lại với vai trò làm con của Thiên Chúa, và ban cho họ niềm vui – bình an – hi vọng để họ sống và sống dồi dào. Người được Chúa Giesu chữa lành, có khả năng hoán cải, và trở thành nhân chứng cho Ngài.

Những ai mắc bệnh về thể lý, họ tìm đến bệnh viện để chữa bệnh với những cách thức và phương thuốc thích hợp và họ có cơ hội được chữa lành là rất lớn, vì y học hiện nay rất phát triển và hiện đại. Nhưng trong thời đại ngày nay, có những căn bệnh rất nguy hiểm, đó là bệnh về lương tâm đạo đức, bệnh về ý thức hệ, … là hậu quả của các chủ nghĩa sai lạc, của các lối sống thiên về hưởng thụ, ích kỷ, cá nhân … đang ảnh hưởng cách rộng rãi và sâu xa tới chúng ta, nhất là giới trẻ.

Ở đây, xin trưng dẫn một căn bệnh của giới trẻ, đó là tình trạng tự tử của giới trẻ trên thế giới. Theo ước tính của Tổ chức y tế thế giới (WHO), trên toàn thế giới mỗi giây có một người tự tử, mỗi năm con số này là 1 triệu người, số người có ý định tự tử nhiều gấp 10-20 lần. Mỗi năm tại Trung Quốc có tới 250.000 người tự tử + 2 triệu người có ý định tự tử; tại Nhật mỗi năm có khoảng trên 30.000 người tự tử, …

Một căn bệnh khác của giới trẻ đó là “sống không lý tưởng” hay lý tưởng sống quá thực dụng thiên về vật chất. Căn bệnh này kéo theo hàng loạt các căn bệnh khác, gây ra những cơn bão đánh sập hệ thống luân thường đạo lý của người việt, làm sản sinh ra các thế hệ giới trẻ sống thực dụng và ích kỷ, lấy vật chất làm nền tảng cho suy nghĩ và hành động.

Đây là những căn bệnh không đơn giản tí nào, không dễ gì để tìm ra thuốc ngừa và thuốc chữa…Trong tình trạng dường như bế tắc này của thế giới, Chúa Gêsu mời gọi tất cả chúng ta hãy chạy đến với Ngài để tìm ra phương cách chữa chị và phòng ngừa. Ngài chữa bệnh cho chúng ta không cần điều kiện, với cung cách của một người cha yêu thương: “Người lại gầncầm lấy tay bà mà đỡ dậy, cơn sốt dứt ngay… ” (Mc 8,31). Ngài cũng đang chữa bệnh cho tất cả chúng ta, là những người ý thức mình đang mang bệnh, với ước muốn được sống và sống dồi dào.

Chúa Gêsu đã từng nói: “Ta đến thế gian để kêu gọi những người tội lỗi […] chỉ người bệnh mới cần thầy thuốc”. Mỗi người chúng ta cũng nên tự hỏi rằng: “Chúa Gesu đến để kêu gọi và chữa bệnh cho tôi chăng?” hay “Tôi là một giáo lý viên gương mẫu và nhiệt tình, tôi là một tu sinh tốt lành , hay tôi là một linh mục mẫu mực, được nhiều người cảm mến và ngưỡng mộ” … rằng “Tôi rất là ok, cuộc sống của tôi rất bình an và hạnh phúc” có lẽ tôi chẳng có bệnh gì !!!

Chúa Gesu thích “đến gần, cầm tay, nâng dậy” những ai ý thức mình tội lỗi, bị bệnh và cần đến Ngài. Và đây chính là cơ hội thúc đẩy chúng ta đến “gặp gỡ” Ngài. Ngược lại, những ai cảm thấy mình “tất cả đều ok”, thì cuộc gặp gỡ với Chúa Gêsu trở nên rất khó khăn: “lạy Chúa con cảm ơn Chúa vì con là người công chính … không như cái thằng thu thuế bên kia”.

Chúng ta vui sướng cảm tạ Chúa mỗi ngày không phải vì chúng ta là những người thánh thiện, đáng được hưởng hồng ân bình an và ân sủng của Thiên Chúa, nhưng chúng ta vui sướng hân hoan vì chúng ta là “những tội nhân được tha thứ” một cách vô điều kiện. Chúng ta được thừa hưởng một cách “miễn phí” kho tàng Bình An – Hi Vọng, kho tàng Sự Sống – Ơn Cứu Độ từ Thiên Chúa, vì thế chúng ta cũng phải ra đi rao giảng kho tàng đó cho mọi người cách “miễn phí”, như thánh Phaolo đã nói trong bài đọc II: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16), bởi vì “Lạy Đức Chúa, xin Ngài nhớ cho, cuộc đời con chỉ là hơi thở” (Gp 7,7), con cần có Chúa, con ao ước được gặp gỡ Ngài mỗi ngày trong các Bí Tích và trong anh chị em con, vì Ngài là Bác Sỹ cho tâm hồn con, vì “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa và tâm hồn con luôn khắc khoải cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa” (Augustino, Tự thuật I, 1, 1).

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN_B

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

 Tin mừng Chúa nhật 5 Thường niên ghi lại những hoạt động chữa lành và rao giảng của Đức Giêsu để nói lên sứ mạng Thiên Sai của Ngài như lời ngôn sứ Isaia đã loan báo:

“Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4, 18-19).

Sứ mạng Thiên Sai của Chúa Giêsu được trình bày qua 3 điểm chính trong bài tin mừng hôm nay:

– Chúa chữa bệnh cho bà nhạc gia của Simon và mọi bệnh tạt khác nhau, trừ quỷ, để nói lên sứ mạng của Chúa là đến để cứu chuộc con người khỏi ách thống trị của tội lỗi. ma quỷ.

– Chúa Giêsu tìm nơi thanh vắng cầu nguyện biểu lộ sứ mạng Thiên Sai phát xuất từ Thiên Chúa Cha, Ngài được Chúa Cha sai đến.

– Chúa Giêsu đi rao giảng ở các thành lân cận, loan báo Tin mừng cho mọi người. Điều này nói lên sứ mạng Thiên sai có tính phổ quát cho hết mọi người. Thiên Chúa muốn con người được cứu độ.

Thiên Chúa mà Đức Giêsu mạc khải là Thiên Chúa của tình yêu, Người là Đấng giải phóng chúng ta khỏi mọi sự dữ. Phép lạ chữa lành của Chúa Giêsu là những dấu chỉ nói lên tình yêu đầy quyền năng của Thiên Chúa, dẫn chúng ta đến sứ điệp của Đức Kitô, hướng chúng ta về với Thiên Chúa và làm cho chúng ta hiểu rằng căn bệnh nặng nề nhất của con người hôm nay là sự thiếu vắng Thiên Chúa, thiếu vắng nguồn suối chân lý và tình yêu. Duy chỉ có sự hòa giải với Thiên Chúa mới có thể mang lại cho chúng ta sự chữa lành thật sự, sự sống thật sự, bởi vì một cuộc sống mà không có tình yêu và chân lý thì chẳng phải là cuộc sống… Do đó sự rao giảng và chữa lành bệnh tật của Đức Giêsu luôn liên hệ mật thiết với nhau, tạo nên một sứ điệp duy nhất về niềm hy vọng và ơn cứu độ (Trích bài giảng của ĐGH Benêđictô).

Tóm lại, bài Tin mừng hôm nay ghi lại một ngày làm việc bận rộn của Đức Giêsu: rao giảng, chữa bệnh, trừ quỷ, cầu nguyện. Việc rao giảng và chữa lành đã chiếm hầu hết thời gian của Chúa Giêsu:

“ Đức Giêsu chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật và trừ nhiều quỷ… Ngài đi khắp miền Galilê, rao giảng trong khắp hội đường”.

Chúng ta thấy những người đau khổ cả thể xác lẫn tinh thần bao quanh Đức Giêsu, Ngài hòa mình với họ, xả thân để cứu chữa họ. Ngài ra tay hành động cứu người bệnh tật, xua trừ ma quỷ… Bệnh tật theo đuổi con người như hình với bóng. Theo quan điểm của người Do Thái, bệnh tật bắt nguồn từ ma quỷ, mọi sự dữ trên đời là do tội lỗi mà ra. Việc chữa lành bệnh tật được xem như là sự chiến thắng ma quỷ, tội lỗi. Vì thế, việc chữa lành của Chúa Giêsu biểu lộ ý nghĩa Thiên Chúa cứu chuộc con người khỏi tội lỗi, nói lên sứ mạng Thiên sai của Người.

Đức Giêsu đi tới đâu, Ngài rao giảng Tin mừng cứu độ cho mọi người. Đó là sức mạnh chính yếu của Đức Giêsu mà Ngài đã xác định: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng mạc chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó”.

Loan báo Tin mừng cũng là sứ mạng của lọi người Kitô hữu hôm nay.

Thần học gia Maurice Zundel quả quyết: “Chúng ta không phải là Kitô hữu cho riêng mình, mà là cho Đức Kitô, cũng như chúng ta thuộc về Giáo hội và Đức Kitô, hầu mở đường cho tính công giáo của tình yêu Ngài được lan rộng và cho ơn cứu chuộc của Ngài trải ra trên khắp hoàn cầu. Đức Kitô còn dở dang và chưa thành toàn bao lâu toàn thể nhân loại chưa tháp nhập vào Ngài” (À L’éoute de Silence).

Đức Giêsu đi đến đâu thì chữa lành bệnh tật và xua trừ ma quỷ đến đó. Người mang niềm vui, nụ cười đến cho những người đau khổ, xoa dịu những vết thương đau của con người. Noi gương Đức Giêsu, người Kitô hữu cũng phải đem niềm vui, hạnh phúc cho tha nhân trong môi trường mình sống, đặc biệt cho những anh chị em đau yếu, bệnh tật, nghèo khổ bằng sự an ủi, giúp đỡ, thăm viếng, chia sẻ vật chất cho anh em đang cần sự tiếp tay của chúng ta. E. Lamy đã nói: “Chính khi chiếu tỏa quanh ta niềm hoan lạc, mà ta sẽ cứu vớt được nhiều linh hồn. Bởi vì niềm vui tự nó là một lời rao giảng”.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN_B.

Fx Đỗ Công Minh

Bài Tin mừng hôm nay tường thuật việc Chúa Giêsu chữa bệnh cho bà mẹ vợ ông Phêrô và nhiều người ở quanh vùng, kể cả trừ quỷ. Những phép lạ Chúa làm không phải để người ta tung hô, khen ngợi nhưng là cho thấy Chúa là đấng cứu độ. Người không chỉ giảng dạy, chăm lo cho phần tâm linh con người mà còn quan tâm chữa lành các bệnh tật về thân xác, giải thoát con người ra khỏi khổ đau về tinh thần, về thể lý.

Giáo hội hôm nay vẫn tiếp tục công việc Chúa đã làm qua những bước chân của những thừa sai, qua những người tín hữu đang sống chứng nhân tin mừng trên từng ngõ ngách, góc phố, hẻm sâu. Những người lữ hành Emmau đang len lỏi trong những khu ổ chuột tồi tàn bên những đô thị xa hoa đài các, nơi những khu nhà ven kênh rạch hôi hám bần hàn. Những con người không tên đó đem tin vui đến anh chị em của mình bằng đời sống chứng tá. Họ cũng đang tiếp tục công việc chữa lành bệnh tật tâm hồn bên cạnh việc chữa trị bệnh tật của các thầy thuốc như một Mẹ Têrêxa Can-Quýt-Ta và các nữ tu của Ngài, như các tu sĩ Liên Dòng tại Trung tâm trọng điểm bệnh viện nhân ái Bình Phước, như các Linh mục, tu sĩ, giáo dân, giáo phụ đang ngày đêm sống và làm việc trong các trại phong, trong các bản làng cao nguyên hay vùng sông nước Cửu Long để đem con chữ, đem tri thức khai phóng cho những người nông dân mù chữ, cơ cực, cho anh em người dân tộc. Họ còn là những người trẻ thiện nguyện, ngoài giờ học, giờ làm tại thành phố đã dành thời gian đến thăm nom, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với những bệnh nhân, những người vô gia cư, cơ nhỡ… Những con người của thời đại hôm nay đang đi theo con đường Chúa đã đi, đã chọn. Tất cả vì tình yêu thương con người, vì lòng thương xót của Chúa với con người thúc đẩy “Yêu thương và yêu thương cho đến cùng“.

Con cảm tạ Chúa vì bên cạnh con đây có biết bao người đang đáp lại lời thôi thúc của Chúa, của Tin Mừng.

Phần con, tự nhìn lại mình, sứ mạng của Chúa trao cho con là hãy đi rao giảng tin mừng của Nước Thiên Chúa, từ Giêrusalem cho đến tận cùng trái đất. Con có thể đáp lại cách nào? Con không thể trở thành những nhà thừa sai, con không thể trở nên những Linh Mục, tu sĩ  dâng trọn đời mình để phụng sự nước Chúa, con cũng không đủ khả năng, tri thức Chúa trao hầu học tập để trở thành các thầy thuốc chữa bệnh, cứu người. Nhưng Chúa cũng trao cho con sứ điệp Yêu thương. Nếu con biết yêu thương thì tất cả những việc con làm đều là chứng nhân của Tin Mừng nước Chúa và đó chính là con đang rao giảng. Con quả thật còn nhiều thiếu sót.

Con đã, đang thu mình trong cõi riêng tư mà không biết mở lòng ra với anh chị em con. Con đang tự trấn an mình với những việc cho là đạo đức như sáng lễ chiều kinh, không xúc phạm ai và cũng chẳng làm hại ai. Cho như thế là đã giữ đúng lề luật và nghĩ rằng như vậy là đã giữ đạo nên. Nghe lời Chúa, học lời Chúa nhưng lại chưa mạnh dạn Sống Lời Chúa. Con đã không đủ dũng lực để đứng lên đi ra khỏi con người ích kỷ của mình. Không dám mở mắt, mở tai, mở miệng đề nhìn, để nghe và để nói về Chúa. Thậm chí còn không biết cầu nguyện cho những người anh chị em con về những việc làm của họ, không quan tâm đến việc rao giảng Lời Người.

Lạy Chúa, xin tha thứ và giúp con. Chúa ơi!

Về mục lục

.

NỖI NIỀM PHÀM NHÂN

Trầm Thiên Thu

Không ai lại không có nỗi niềm. Đó là mối tâm sự riêng, đôi khi khó nói ra. Nỗi niềm còn gọi là “khúc nhôi” (*). Là phàm nhân, mỗi chúng ta có nhiều nỗi niềm lắm, bởi vì “đời là bể khổ” mà!

Đã đành người đời cảm thấy đời người đầy gian khổ, mà Kinh Thánh cũng công nhận như thế. Thật vậy, sách Huấn ca gọi kiếp phàm nhân là “kiếp khốn khổ”: “Kể từ khi từ lòng mẹ sinh ra cho đến lúc trở về lòng đất mẹ, mang thân phận con người, ai cũng canh cánh bên lòng một nỗi lo, là con cháu Ađam, nợ phong trần đương nhiên phải trả. Điều không ngừng ám ảnh khiến lòng người sợ hãi âu lo là cứ phải nghĩ rằng mình đang chờ chết. Từ bậc vua chúa trên ngai vinh hiển đến kẻ cùng đinh chân lấm tay bùn, từ người cân đai áo mão đến kẻ khố rách áo ôm, ai cũng đều giận dữ, ghen tương, băn khoăn, lo lắng, rồi sợ chết, rồi hận thù cãi cọ” (Hc 40:1-4).

Ôi chao, nghe sao mà “não lòng” quá! Tuy nhiên, “Chúa vẫn xót thương, thứ tha, không tiêu diệt, nén giận đã bao lần, chẳng khơi bùng nộ khí. Người vẫn nhớ thân phận chúng bọt bèo mỏng mảnh, gió thoảng qua, không hẹn ngày về” (Tv 78:38-39). Thế thì lại không buồn, mà vẫn tín thác, mặc dù cuộc đời vẫn ngổn ngang bao nỗi niềm của kiếp phàm nhân.

KHÓ KHĂN KÈM KHỐN KHỔ

Có lẽ chẳng ai khốn khổ bằng ông Gióp. Ông đã lâm cảnh khó khăn đến tột cùng, và chịu khốn khổ quá đỗi, vì ngay cả người vợ cũng nguyền rủa ông. Là con người nên ông cũng cảm thấy buồn, nên ông đặt vấn đề: “Cuộc sống con người nơi dương thế chẳng phải là thời khổ dịch sao? Và chuỗi ngày lao lung vất vả đâu khác gì đời kẻ làm thuê?” (G 7:1), và đó cũng chính là câu trả lời. Rồi ông so sánh: “Tựa người nô lệ mong bóng mát, như kẻ làm thuê đợi tiền công. Gia tài của tôi là những tháng vô vọng, số phận của tôi là những đêm đau khổ ê chề” (G 7:2-3). Đó là thực tế của kiếp người, vì ai sinh ra cũng tay trắng và khi chết ai cũng trắng tay, thế mà người ta vẫn tìm cách giành giật và kèn cựa nhau đủ cách – thậm chí có thể giết người để mình hưởng lợi!

Có thể ví giọt nước mắt là “biểu tượng” của kiếp người, bởi vì cuộc đời buồn nhiều hơn vui, và luôn bị giằng co dữ dội, như Thánh Phaolô đã từng thú thật: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7:19). Trong ca khúc “Một Cõi Đi Về”, cố Ns Trịnh Công Sơn cũng trăn trở: “Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi. Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt. Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt. Rọi suốt trăm năm một cõi đi về”. Và rồi ông lại tự nhủ: “Tôi ơi, đừng tuyệt vọng!”. Hoặc như cố Ns Y Vân đã than thở: “Buồn như ly rượu đầy, không có ai cùng cạn. Buồn như ly rượu cạn, không còn rượu để say”. Còn thi sĩ Cao Bá Quát có cái nhìn khác: “Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy? Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười”. Thi sĩ trào phúng có khác. Đúng là người có máu khôi hài có thể làm cho nỗi khổ bớt “cay nghiệt” hơn.

Giữa gọng kềm Khó Khăn và Khốn Khổ, giống như trên đe dưới búa, ông Gióp tiếp tục băn khoăn: “Vừa nằm xuống, tôi đã nhủ thầm: ‘Khi nào trời sáng?’. Mới thức dậy, tôi liền tự hỏi: ‘Bao giờ chiều buông?’. Mãi tới lúc hoàng hôn, tôi chìm trong mê sảng” (G 7:4). Tại sao vậy? Ông cho biết rằng “thịt tôi chai ra, dòi bọ lúc nhúc, da tôi nứt nẻ, máu mủ đầm đìa. Ngày đời tôi thấm thoát hơn cả thoi đưa, và chấm dứt, không một tia hy vọng” (G 7:5-6). Dù thất vọng nhưng ông không tuyệt vọng, mà vẫn không ngừng tín thác và cầu nguyện: “Lạy Đức Chúa, xin Ngài nhớ cho, cuộc đời con chỉ là hơi thở, mắt con sẽ chẳng thấy hạnh phúc bao giờ” (G 7:7). Thực sự tín thác vào Chúa thì mới khả dĩ an tâm mà sống, và khả dĩ cảm tạ Chúa trong mọi sự:

Cảm tạ Ngài đã để con sống nghèo thê thảm

Nhờ đó con mới cảm nhận đêm Chúa giáng trần

Cảm tạ Ngài đã để con bị hàm oan

Nhờ đó con mới cảm nhận lúc Ngài bị xét xử

Cảm tạ Ngài đã để con bị người ta ghét bỏ

Nhờ đó con mới thấy cảm thương những người cô đơn

Cảm tạ Ngài đã để con là người bình thường

Nhờ đó con mới cảm nhận thế nào là mơ ước

Cảm tạ Ngài đã để con bị thua thiệt

Nhờ đó con mới biết khao khát vươn lên

Cảm tạ Ngài đã để con không hiểu thấu những điều cao siêu hơn

Nhờ đó con mới không sa vào hố kiêu ngạo

Cảm tạ Ngài đã để con được là người Công giáo

Nhờ đó con mới cảm nhận mầu nhiệm Lòng Chúa Xót Thương

Cảm tạ Ngài đã để con tha phương

Nhờ đó con mới có thể hòa đồng với người xa, kẻ lạ

Cảm tạ Ngài đã để con con mồ côi cả Cha lẫn Mẹ

Nhờ đó con mới biết trân quý tình cảm gia đình

Cảm tạ Ngài đã để con “lạc loài” giữa cuộc đời loanh quanh

Nhờ đó con mới cảm nhận thế nào là bóc lột, áp bức

Đường đời không như tấm thảm nhung, chính Chúa Giêsu cũng đã phải trải qua gian khổ mới tới vinh quang. Tất cả đều là hồng ân (Rm 4:16), luôn nhờ Lòng Chúa Xót Thương, nếu Chúa chấp tội thì chắc chắn chẳng có ai đứng vững (x. Tv 130:3). Bởi vì “Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta” (Ep 2:4), thế nên “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 136). Đó là mầu nhiệm của tình yêu thương, của Lòng Chúa Thương Xót.

Đã là mầu nhiệm thì chúng ta không thể hiểu thấu, chỉ hiểu được phần nào mà thôi. Do đó, “hãy ca ngợi Chúa đi! Đàn hát mừng Thiên Chúa chúng ta, thú vị dường nào! Được tán tụng Người, thoả tình biết mấy!” (Tv 147:1). Chính Chúa “chữa trị bao cõi lòng tan vỡ, và băng bó cho lành những vết thương” (Tv 147:3). Chúa đã “ấn định con số các vì sao, và đặt tên cho từng ngôi một” (Tv 147:4). Chúa còn “nâng đỡ kẻ thấp hèn và hạ bọn gian ác xuống đất đen” (Tv 147:6).

TIN TƯỞNG TIẾP TẶNG THƯỞNG

Tin tưởng là điều cần thiết trong cuộc sống – tin người và tự tin. Về tâm linh, niềm tin còn cần thiết hơn, và đó chính là đức tin – một trong ba nhân đức đối thần. Với kinh nghiệm đầy mình, Thánh Phaolô nói: “Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!” (1 Cr 9:16). Vì “tự ý làm việc ấy thì mới đáng Thiên Chúa thưởng công, còn nếu không tự ý thì đó là một nhiệm vụ Thiên Chúa giao phó” (1 Cr 9:17).

Đối với Thánh Phaolô, phần thưởng là “rao giảng Tin Mừng không công”, và chân thành chia sẻ: “Tôi đã trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người. Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng” (1 Cr 9:22-23). Như vậy mới thực sự hành động vì sáng Danh Chúa, vì nếu không khéo thì chỉ sáng danh chúng ta mà thôi. Tôi tìm tiếng tăm thì tôi thật tồi tệ!

Có câu chuyện về Thánh Tôma Tiến sĩ (Thomas Aquinas, 1225-1274) thế này: Có tiếng nói từ Thập Giá: “Tôma, con đã viết hay về Ta. Con muốn phần thưởng gì cho công việc của con”. Thánh Tôma trả lời: “Lạy Chúa, con chỉ muốn chính Ngài”. Và đó mới thực sự là phần thưởng tuyệt vời nhất – cả đời này và đời sau.

Thánh sử Mác-cô cho biết rằng nhạc mẫu của ông Simôn đang lên cơn sốt và nằm trên giường. Chúa Giêsu lại gần, “cầm tay bà mà đỡ dậy”, thế là “cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài” (Mc 1:31). Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Chúa Giêsu chữa. Ngài đã chữa khỏi đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ. Ngài không cho quỷ nói, vì chúng biết Ngài là ai.

Chuỗi sinh – lão – bệnh – tử là quy trình tự nhiên của đời người. Thích Ca Mâu Ni là một hoàng tử sống sung sướng trong hoàng cung, nhưng ông đã “giác ngộ” sau khi ra khỏi hoàng cung và nhìn thấy thực tế của cuộc đời trần gian, thế là ông có tứ diệu đế: Sinh là khổ, lão là khổ, bệnh là khổ, và tử là khổ. Thế đấy, khổ là… khổ. Mà khổ thật!

Tin Mừng cho biết rằng ngay từ sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Chúa Giêsu đã thức dậy, đi ra chỗ tĩnh mịch và cầu nguyện ở đó (Mc 1:35). Tĩnh lặng và cầu nguyện là hai điều cần thiết, nhất là khi thức dậy mỗi sáng, nếu thực sự muốn giao tiếp mật thiết với Thiên Chúa. Trước khi làm gì thì phải đắn đo suy nghĩ. Tương tự, trước khi hành động thì phải cầu nguyện. Không thấy Thầy nên các môn đệ kéo nhau đi tìm Ngài, nhưng Ngài bảo: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó” (Mc 1:38). Và rồi Ngài đã đi khắp miền Galilê, rao giảng trong các hội đường, chữa bệnh và trừ quỷ.

Mỗi chúng ta – không trừ ai – cũng có trách nhiệm rao giảng về Chúa mọi nơi và mọi lúc, tùy theo hoàn cảnh và cương vị của mình, chính cách sống của chúng ta sẽ “nói” nhiều và có tác dụng hữu hiệu nhất. Nói ít mà làm nhiều luôn tốt hơn nói nhiều mà làm ít. Thiên Chúa cũng rất muốn người ta phải thể hiện ngôn hành song song: “Hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em, nhưng bên trong họ là sói dữ tham mồi. Cứ xem họ sinh hoa quả nào thì biết họ là ai. Ở bụi gai làm gì có nho mà hái? Trên cây găng làm gì có vả mà bẻ? Hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu” (Mt 7:15-17; Lc 6:43-45). Sự phân tích và dẫn chứng rất cụ thể!

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con không ngừng cố gắng vẽ bức-tranh-cuộc-đời-con bằng chính nét-cọ-số-phận của chính con theo Thánh Ý Ngài và vì Ngài, thực sự mong làm sáng danh Ngài, và có thể sinh hoa kết trái tốt. Con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

 

(*) Khúc Nhôi hoặc Khúc Nôi là danh từ cổ, thường chỉ dùng trong văn chương, nghĩa là đầu đuôi của câu chuyện lòng, của nỗi lòng, của tâm sự thầm kín. Trong phần điệp khúc của bài thánh ca “Dâng Hồn Xác”, cố NS Hùng Lân có sử dụng từ này: “Con kính dâng Cha cùng bánh và rượu nho, Hồn con đây với xác con đây, Ðền vì bao tội lỗi xưa nay. Con dám trông mong thành áng trầm thơm tho, Bay tới trước dung nhan thánh Người, cảm mến Cha lành tự tình khúc nhôi.

Về mục lục

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
Tin Giáo phận
Tin mới