Đức Maria Nữ Vương. Lễ nhớ.

Đăng lúc: Thứ ba - 22/08/2017 01:47 - Người đăng bài viết: Ban Truyen Thong

 

Đức Maria Nữ Vương. Lễ nhớ.

"Này Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một Con trai".

 

Vì cả thân xác cũng đã được biến đổi, Đức Maria trong vinh quang mông triệu đã trở nên thành công tối hậu của công trình cứu chuộc. Nhưng Đức Maria vô cùng diễm lệ đồng thời cũng rất quyền thế bởi vì Người là Thánh Mẫu của Đấng mà “triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận”. Chính vì thế, từ bao thế kỷ, các tín hữu đã kính chào Mẹ là Đức Nữ Vương, Đấng Trung Gian tối cao của ân sủng.

 

Lời Chúa: Lc 1, 26-38

Khi ấy, thiên thần Gabriel được Chúa sai đến một thành xứ Galilêa, tên là Nadarét, đến với một Trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc chi họ Đavít, Trinh nữ ấy tên là Maria. Thiên thần vào nhà Trinh nữ và chào rằng:

"Kính chào Bà đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ". Nghe lời đó, Bà bối rối và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì. Thiên thần liền thưa: "Maria đừng sợ, vì đã được nghĩa với Chúa. Này Bà sẽ thụ thai, sinh một Con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Đấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Đavít tổ phụ Người. Người sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacóp, và triều đại Người sẽ vô tận". Nhưng Maria thưa với thiên thần: "Việc đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam?"

Thiên thần thưa: "Chúa Thánh Thần sẽ đến với Bà và uy quyền Đấng Tối Cao sẽ bao trùm Bà. Vì thế, Đấng Bà sinh ra sẽ là Đấng Thánh, và đưọc gọi là Con Thiên Chúa. Và này, Isave chị họ Bà cũng đã thụ thai con trai trong lúc tuổi già và nay đã mang thai được sáu tháng, người mà thiên hạ gọi là son sẻ; vì không có việc gì mà Chúa không làm được".

Maria liền thưa: "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền". Và thiên thần cáo biệt Bà.

 

 

 

SUY NIỆM 1: Trinh Nữ Vương

Hiện nay, tại một số ít quốc gia trên thế giới như Anh Quốc, Hòa Lan, Thụy Ðiển, Thái Lan, chức nữ hoàng và quốc vương vẫn còn tồn tại, nhưng họ chỉ đóng vai trò tượng trưng, chứ không có thực quyền.

Giữa trào lưu có sự thay đổi quan trọng này trong hình thức chính trị và trong đời sống xã hội, những câu kinh: "Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy..." lượt dịch bài bình ca bất hủ bằng tiếng La Tinh: "Salve Regina..." vẫn còn được bao cửa miệng và tâm hồn dâng lên Mẹ Maria, diễn tả tấm lòng tôn kính, mến yêu của đoàn con cái đối với mẹ không mảy may bị lạnh nhạt, mặc cho thế sự đổi thay.

Trong tông huấn mang tựa đề: "Lòmg sùng kính Ðức Mẹ Maria", Ðức cố Giáo Hoàng Phaolô VI đã định nghĩa về Ðức Maria Trinh Nữ Vương mà Giáo Hội mừng kính hôm nay đại khái như sau: "Lễ này là tiếp diễn lễ Ðức Mẹ Hồn Xác lên trời. Thực vậy, vào lễ Ðức Mẹ Hồn Xác lên trời, chúng ta say đắm và hân hoan mừng kính Mẹ Maria như là hoa quả đầu mùa của công trình cứu rỗi của Chúa Giêsu, đã chiến thắng hai kẻ thù của nhân loại, đó là: tội lỗi và sự chết. Hôm nay, trong lễ Ðức Maria Trinh Nữ Vương, chúng ta chiêm ngắm Ðức Mẹ bên cạnh Vua Cao Cả trời đất, như là Nữ Vương và là người bầu cử cho chúng ta như một người mẹ nhân hiền".

Lời giải thích của Ðức cố Giáo Hoàng Phaolô VI trên đây giúp chúng ta hiểu đúng vai trò của Mẹ Maria theo tinh thần của cộng đồng Vatican II. Ðó là liên kết vai trò của Ðức Trinh Nữ Maria với Chúa Giêsu và công cuộc cứu rỗi của Ngài.

Theo dòng trào lưu đổi thay của quan niệm về tự do, dân chủ, vai trò Nữ Vương của Mẹ Maria vẫn đứng vững trong tâm trí và con tim của trăm triệu con cái Mẹ, vì Mẹ ngự bên cạnh Chúa Giêsu Vua. Một vị vua dùng thập giá làm ngai vàng, mão gai làm triều thiên và muôn thuở cạnh sườn ngài bị đâm thủng, để nguồn suối của tình yêu Thiên Chúa luôn chảy tràn, giải lao cho nhân loại đang khao khát tình yêu chân thật, làm động lực để biến xã hội loài người thành Nước Trời, với Chúa Giêsu là Vua. Mẹ Maria đứng cạnh ngai vàng thập giá, trái tim bị gươm đâm thâu, để dòng máu tình yêu của Mẹ hòa chảy, hầu đồng lao cộng khổ và đồng thống trị với con Mẹ trong Nước Trời.

(Trích trong ‘Lẽ Sống’ của R. Veritas)

 

SUY NIỆM 2: Tôi là nữ tì của Chúa

Maria, một thôn nữ của ngôi làng Nadarét nhỏ bé thuộc vùng Galilê.

Cô đã đính hôn, và cứ sự thường, Cô sẽ kết hôn với ông Giuse.

Cuộc sống của Cô bề ngoài chẳng có gì khác thường.

Nhưng bên trong, Cô là một kiệt tác của Thiên Chúa.

Đơn giản vì Cô được tuyển chọn giữa mọi phụ nữ trên địa cầu

để trở nên Mẹ của Con Thiên Chúa, Mẹ của chính Ngôi Lời nhập thể.

Thiên Chúa đã làm những điều tốt đẹp nhất cho Cô

để Cô xứng đáng với đặc ân mà chẳng ai dám nghĩ tới.

Thiên Chúa muốn Con Một của Ngài làm người trăm phần trăm,

nên Ngài cần một người mẹ trần thế cho Người Con ấy.

Maria được chọn và được chuẩn bị hết sức chu đáo cho trọng trách này.

Nhưng Thiên Chúa vẫn tôn trọng quyết định của Cô.

Maria có chấp nhận cộng tác vào kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa không?

Một Thiên Chúa tôn trọng tự do là một Thiên Chúa biết mời gọi, hỏi ý.

Thiên Chúa cần sự gật đầu ưng thuận của một cô thiếu nữ xứ Paléttin

để Con của Ngài được làm người ở trên trái đất.

Thiên Chúa khiêm tốn không muốn đặt Cô trước sự đã rồi.

Ngài muốn Con của Ngài được Cô đón nhận vào cả hồn lẫn xác.

Bài Tin Mừng hôm nay kể chuyện sứ thần Gabrien truyền tin cho Maria.

Đúng hơn đây là chuyện Thiên Chúa siêu việt hỏi ý một thụ tạo nhỏ bé.

Lời chào của sứ thần làm Cô rất bối rối, không hiểu và sợ hãi (cc. 29-30).

Maria được chào là Đấng đầy ân sủng,

nghĩa là người được Thiên Chúa đặc biệt mến yêu.

Ngài vẫn luôn ở cùng Cô ngay từ khi Cô còn trong lòng mẹ.

Sứ thần báo tin Cô sẽ thụ thai một con trai.

Người Con này là Con Đấng Tối Cao, là Vị Vua thuộc dòng Đavít (c. 33).

Hẳn Maria biết ngay là mình được mời gọi làm Mẹ Đấng Mêsia,

một danh dự mà bao thiếu nữ Do thái mong đợi.

Nhưng Maria vẫn chưa hiểu làm sao Cô có thể thụ thai

khi Cô chưa làm lễ thành hôn và về chung sống với chồng (c. 34).

Sứ thần cho biết việc Cô thụ thai là chuyện độc nhất vô nhị.

Cô có con là vì “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Cô

và quyền năng của Đấng Tối Cao sẽ tỏa bóng trên Cô” (c. 35).

Người chồng tương lai của Cô không dự phần vào việc thụ thai này.

Con của Cô sẽ được gọi là Con Thiên Chúa theo nghĩa viên mãn nhất.

Maria đã nói tiếng Xin Vâng với đề nghị của Thiên Chúa (c. 38).

Cô đã thụ thai từ khi nói tiếng Xin Vâng đầy tín thác ấy.

Ngôi Hai Thiên Chúa đã hiện diện trong lòng Cô, trong đời Cô.

Chúng ta cũng được Thiên Chúa mời gọi và hỏi ý như Maria xưa.

Ngài cũng cần từng người chúng ta để cứu độ cả nhân loại.

Nếu chúng ta chịu cưu mang Đức Giêsu, sinh hạ và làm cho Ngài lớn lên,

thì chúng ta được chia sẻ chức làm mẹ của Mẹ Thiên Chúa.

Cầu nguyện:

Lạy Mẹ Maria,

khi đọc Phúc Âm,

lúc nào chúng con cũng thấy Mẹ lên đường.

Mẹ đi giúp bà Isave, rồi đi Bêlem sinh Đức Giêsu.

Mẹ đưa con đi trốn, rồi dâng Con trong đền thờ.

Mẹ tìm con bị lạc và đi dự tiệc cưới ở Cana.

Mẹ đi thăm Đức Giêsu khi Ngài đang rao giảng.

Và cuối cùng Mẹ đã theo Ngài đến tận Núi Sọ.

Mẹ lên đường để đáp lại một tiếng gọi

âm thầm hay rõ ràng, từ ngoài hay từ trong,

từ con người hay từ Thiên Chúa.

Chúng con thấy Mẹ luôn đi với Đức Giêsu

trong mọi bước đường của cuộc sống.

Chẳng phải con đường nào cũng là thảm hoa.

Có những con đường đầy máu và nước mắt.

Xin Mẹ dạy chúng con

đừng sợ lên đường mỗi ngày,

đừng sợ đáp lại những tiếng gọi mới của Chúa

dù phải chấp nhận đoạn tuyệt chia ly.

Xin giữ chúng con luôn đi trên Đường-Giêsu

để chúng con trở thành nẻo đường khiêm hạ

đưa con người hôm nay đến gặp gỡ Thiên Chúa.

Lm Nguyễn Cao Siêu

 

SUY NIỆM 3: Mẹ tuyệt vời

Còn gì vui bằng, hạnh phúc khi có Mẹ ở bên. Còn Mẹ là một ân huệ. Còn Mẹ là một hồng ân tuyệt diệu. Mẹ trần thế còn quí hóa như thế. Mẹ trên trời còn giá trị biết bao.

Maria là tên người Mẹ thiêng liêng, tên cao trọng, tên tuyệt vời. Còn gì hạnh phúc khi con người được thân thương gọi tên Mẹ “Maria”. Tên Mẹ thật dịu hiền, thật nhẹ nhàng, thật gợi cảm. Tên Mẹ gói ghém tất cả, nói lên tất cả. Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. Mẹ là Nữ Vương trên trời dưới đất. Với muôn tước hiệu Giáo Hội ca tụng Mẹ: “Tước hiệu nào cũng đẹp, cũng quí, cũng cao vời”. Nhân loại không ngớt cùng Mẹ tung hô Thiên Chúa:

“Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa,

thần trí tôi hớn hở vui mừng

vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.

Phận nữ tỳ hèn mọn,

Người đoái thương nhìn tới;

từ nay hết mọi đời

sẽ khen tôi diễm phúc.” (Lc 1, 46-48).

Maria quả thực đã trọn đời tín thác nơi Chúa. Việc thăm viếng bà chị họ Ê-li-gia-bét nói lên tình thương của Mẹ đối với ông Dacaria và bà Êligiabét, Mẹ đến để phục vụ họ, nhưng Mẹ đến cũng là đem cho họ sứ điệp của niềm vui và bình an: “Bà vào nhà ông Dacaria và chào hỏi bà Êligiabét” (Lc 1, 40). Lời chào của Maria có ý nghĩa cao vời hơn mọi lời chào xã giao hoặc lời chào của những người thân đi xa về. Mẹ Maria, Nữ tử Sion đã nói lên lời chào bình an, lời chào hoàn tất niềm mong đợi của Israen. Mẹ đã đem niềm hạnh phúc, mang Chúa Giêsu, hoa trái của lòng trinh khiết của Mẹ, mang Vua Hòa Bình là bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần đến để khi bà Êligiabét vừa nghe lời Mẹ, đứa con trong bụng bà nhảy lên… (Lc 1, 41).

Maria đã trao ban chính bản thân trọn vẹn bằng lời “xin vâng” đầy lòng tin và tín thác nơi Thiên Chúa, do đó: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1, 14).

Mẹ Maria là Nữ Vương các Ngôn sứ, các thánh tử đạo, Nữ Vương trên trời dưới đất. Tước hiệu ấy đi đôi với tước hiệu Vua Giêsu Con của Mẹ. Chúa Giêsu là Vua, nhưng Vua yêu thương, phục vụ và khiêm nhượng. “Nước Tôi không thuộc thế gian này”. Chúa Giêsu đã nói với Philatô như thế. Ngài xác nhận: “Tôi là Vua” (Ga 18,37).

Vua chết trên thập giá để kéo mọi người đến với Ngài vì “Chỉ nơi Ngài mới có ơn cứu chuộc chan chứa” (Copiosa apud Eum Rédemptio). “Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15, 13). Mẹ Maria là Nữ Vương đứng dưới chân thập giá:” Con Mẹ là Vua cứu chuộc”. Nên, Mẹ cũng đồng hiệp thông với sự đau khổ, sự chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu để thống trị với Con của Mẹ trong Nước Thiên Chúa.”… Hôm nay, trong lễ Đức Maria Trinh Nữ Vương, chúng ta chiêm ngắm Đức Mẹ ngự bên cạnh Vua cao cả trời đất, như là Nữ Vương và là người bầu cử cho chúng ta như một người Mẹ nhân hiền” (Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI trong tông huấn: “Lòng sùng kính Đức Mẹ Maria”).

Dù rằng, thế giới hôm nay, chức “Vua” chỉ có vai trò tượng trưng, nhưng không hề có thực quyền, Maria là Nữ Vương vẫn hoàn toàn có giá trị, vẫn hoàn toàn có uy quyền trước Chúa Giêsu Vua, Con của Mẹ. Nhân loại vẫn không ngớt ca tụng Mẹ là Nữ Vương như kinh Lạy Nữ Vương chúng ta vẫn thường đọc. Mẹ là Nữ Vương bên ngai toà Đức Kitô để Mẹ chiếu dọi ánh hào quang vinh quang của Chúa Giêsu Vua cho nhân loại.

Người ta đã tôn sùng Đức Trinh Nữ Vương từ lâu đời. Đức Thánh Cha Piô VII vào thế kỷ XIX đã công khai cho phép một số Giáo Phận mừng lễ Đức Trinh Nữ Vương. Đức Giáo Hoàng Piô IX đã thiết lập một lời nguyện và một lễ kính Đức Trinh Nữ Vương đặc biệt. Đức Thánh Cha Piô XII đã long trọng dâng loài người cho trái tim vẹn sạch Đức Trinh Nữ Vương vào năm 1942 giữa lúc thế chiến thứ 2 đang ngập tràn. Năm 1944, chính Đức Giáo Hoàng Piô XII đã buộc mừng kính lễ Đức Maria Trinh Nữ Vương trong Giáo Hội toàn cầu.

Muôn đời, nhân loại sẽ hiệp ý với Mẹ Trinh Nữ Vương ca tụng, tôn vinh Thiên Chúa:” Đấng toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn! Đời nọ đến đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người “(Lc 11, 49-50). Mẹ là Nữ Vương cao sang, uy quyền. Mẹ là Nữ Vương tuyệt mỹ.

Lạy Đức Trinh Nữ Maria xin cầu bầu cùng Chúa cho chúng con trước ngai toà Chúa để chúng con luôn tín thác vào Chúa và hết lòng trông cậy vào Mẹ. Amen.

(Lm. Nguyễn Hưng Lợi)

 

SUY NIỆM 4: Đức Maria Nữ Vương

Việc cử hành lễ Đức Maria Nữ Vương đem đến cho chúng ta một niềm vui đặc biệt khi chiêm ngắm một con đường khác mà Thiên Chúa vén mở tình yêu của Ngài cho nhân loại. Ngài ban cho Mẹ Maria - một bông hồng giữa bụi gai mà không bị suy suyển - được đồng hưởng hạnh phúc đời đời với Chúa, trên tất cả các thiên thần.

Bằng phương cách độc nhất, Mẹ tự nguyện trở thành dụng cụ của Thiên Chúa để qua Mẹ “Ngôi Lời đã trở nên người phàm” (Ga. 1:14). Những hoa trái cứu chuộc đến với chúng ta qua Đức Maria khi Mẹ trả lời “Xin Vâng” với Chúa Cha để đem Chúa Giêsu Kitô vào thế giới loài người. Thân xác Đức Maria trở nên cực thánh khi cưu mang Đức Kitô. Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, thánh Luca chỉ cho ta một trái tim hoàn toàn tín thác nơi Thiên Chúa, yêu mến Ngài, và uớc muốn làm mọi sự cho Ngài và tuân phục Ngài. Được Chúa chúc phúc, Đức Maria tuân theo kế hoạch cứu độ, và hiến đâng trọn đời cho Chúa.

Vì vậy Mẹ Maria rất thánh được tôn vinh lên địa vị cao quí nơi ngai tòa Thiên Chúa Ba Ngôi, từ nơi này Thiên Chúa cho các thánh thấy rõ Thiên Chúa đời đời hằng hữu và mọi thụ tạo đều tuỳ thuộc thánh ý Chúa. Được tràn đầy ân sủng vượt trên mọi thụ tạo, ở trần thế, Đức Maria đã hạ mình xuống địa vị thấp hèn nhất, thì nay, trên thiên quốc, Mẹ được nhận lấy địa vị tối cao và tham dự quyền chăm sóc mọi tạo vật. Mẹ là Nữ Vuơng, là Đấng Bảo Vệ, là Trạng Sư, là Mẹ và Thầy Giáo hội lữ hành. Mẹ giúp đỡ và cứu vớt mọi nỗi thống khổ, vất vả, cực nhọc, và ưu phiền của nhân loại.

Phụng vụ hôm nay nhắc tới việc Chúa đã đặt Thánh Mẫu của Đức Kitô Con Chúa làm Thánh Mẫu và Nữ Vương, xin Mẹ chuyển cầu cho chúng ta đạt tới phúc vinh quang Chúa dành sẵn trên trời cho con cái Chúa.

Công Đồng Vaticanô II, trong Hiến Chế Tín Lý về Giáo hội, nói về Đức Maria như sau:” các Tông Đồ trước ngày lễ Ngũ Tuần ‘đã kiên tâm hiệp ý cầu nguyện, cùng với các phụ nữ, với Đức Maria Mẹ Chúa Giêsu và với anh em của Ngài’ (Cv 1:14), Đức Maria cũng tha thiết cầu xin Thiên Chúa ban Thánh Thần, Đấng đã bao phủ Người trong ngày Truyền tin. Sau cùng, được gìn giữ tinh sạch khỏi mọi vết tội lỗi nguyên tổ và sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế, Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm đã được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác, và được Thiên Chúa tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ để nên giống Con của Người trọn vẹn hơn, là Chúa các Chúa, Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết. (số 59).

Mẹ Maria đã chia sẻ mọi việc làm và nỗi thống khổ của Đấng Cứu Chuộc nhân thế. Mẹ đã đứng bên thánh giá lúc Chúa lìa trần và Chúa thưởng Mẹ xứng với tình yêu và công nghiệp của Mẹ và Mẹ được xưng tụng là Nữ Vuơng thiên đàng và Nữ Vuơng cả vũ trụ vạn vật.

Lạy Chúa Thánh Thần, Ngài là nguồn mạch của sức mạnh, hy vọng và yêu thương nơi Đức Maria. Xin hãy mở rộng cánh cửa tâm hồn con, xin ban sức mạnh, hy vọng và tình yêu nơi con để Vua Vinh Hiển ngự vào lòng con.

(Nguyễn Đức Tuyên)

 

SUY NIỆM 5: Đức Maria là Nữ Vương

1) Đức Ma-ri-a là Nữ Vương

Trong kinh cầu Đức Mẹ, ta thấy Giáo Hội tôn vinh Đức Ma-ri-a là Nữ Vương với nhiều danh hiệu khác nhau: Nữ Vương Thiên Đàng, Nữ Vương các thiên thần, Nữ Vương các thánh nam cùng các thánh nữ, Nữ Vương ban sự bình yên, v. v… Vương có nghĩa là vua, là chủ tể. Đương nhiên tước hiệu Vương hay Vua của Đức Ma-ri-a không đồng nghĩa hay đồng hàng với tước hiệu Vương hay Vua của Thiên Chúa hay của Đức Giê-su. Nhưng là Vương hay Vua có nghĩa là có sự trổi vượt, có quyền cai trị, có thế lực, thần thế, có bề tôi hay những người dưới quyền…

Trong vũ trụ luôn luôn có phẩm trật rõ rệt. Cao cả nhất là Thiên Chúa Ba Ngôi, trong đó có Đức Giê-su là Ngôi Hai Thiên Chúa, và kế đến là Đức Ma-ri-a. Vì là Mẹ sinh ra Đức Giê-su, Ngôi Hai Thiên Chúa, nên Mẹ thuộc hẳn về «Hoàng Gia» hay Gia Đình của Thiên Chúa. Đây là một vinh dự chung rất lớn lao cho loài người, vì trong «Hoàng Gia» này – bao gồm những thủ lãnh cao cấp nhất của vũ trụ – ta thấy có hai vị là con người: Đức Giê-su và Mẹ Ma-ri-a. Đây cũng là một lợi điểm cho cả loài người. Các thiên thần không có được vinh dự ấy.

Như vậy, Mẹ Ma-ri-a rất có thần thế trước mặt Thiên Chúa, và rất có uy quyền đối với loài thiên thần và loài người. Ngày lễ hôm nay có chủ ý tôn vinh tước hiệu, thần thế và uy quyền ấy của Mẹ Ma-ri-a.

2) Điều quan trọng là: Mẹ Ma-ri-a có phải là Nữ Vương của chính tâm hồn và bản thân ta không?

Mẹ Ma-ri-a là Nữ Vương trên trời dưới đất, Giáo Hội Công giáo tuyên xưng như vậy. Nhưng điều ấy sẽ không ích lợi gì cho chính bản thân ta, nếu nó hoàn toàn xảy ra bên ngoài ta, nghĩa là nếu như Mẹ không phải là Nữ Vương của chính tâm hồn và bản thân ta. Việc Mẹ Ma-ri-a là Nữ Vương trên trời dưới đất phải là một sự việc hiện sinh đang xảy ra «tại đây và lúc này» trong chính bản thân ta, trong ý thức của ta. Nghĩa là bất cứ lúc nào ta cũng ý thức và nhìn nhận Mẹ Ma-ri-a vừa là Mẹ ta, vừa là vị Nữ Hoàng thống trị tâm hồn ta. Nói cách khác, ta luôn ý thức phận làm con, làm thần dân của Mẹ, và lúc nào cũng sẵn sàng tuân hành ý muốn hay mệnh lệnh của Mẹ nói trong chiều sâu tâm khảm ta. Được như thế, Mẹ sẽ uốn nắn tâm hồn ta nên hoàn hảo giống như Đức Giê-su, Con của Mẹ.

Nói một cách cụ thể, trong bất cứ hoàn cảnh hay tình huống nào trong cuộc đời, ta cũng đều nên hỏi Mẹ: «Lạy Mẹ, con phải làm gì đây? Mẹ muốn con làm gì và làm thế nào?» Khi ta quyết tâm làm theo sự hướng dẫn hay chỉ đạo của Mẹ chứ không phải theo ý riêng mình, Mẹ sẽ giúp ta hoàn thành mọi việc một cách tốt đẹp và việc ta làm sẽ có một giá trị lớn lao trước mặt Thiên Chúa. Cứ như thế, ta sẽ nên thánh.

3. Chính Mẹ đã nêu gương cho ta trong việc làm theo thánh ý Chúa

Bài Tin Mừng cho ta thấy Mẹ không muốn mọi sự xảy ra theo ý riêng mình, mà sẵn sàng vâng theo ý muốn của Thiên Chúa, qua lời của thiên sứ. Chính vì thế, Mẹ đã trở nên người phụ nữ cao trọng và diễm phúc hơn tất cả mọi phụ nữ. Mẹ tin tưởng rằng cách mình tính dù có khôn ngoan tới đâu cũng không bằng cách Thiên Chúa tính cho mình. Cứ phó thác toàn bộ chuyện của mình cho Ngài, không theo ý riêng của mình, thì cuối cùng, cách Ngài tính cho ta là cách khôn ngoan và tốt đẹp nhất. Tương tự như vậy, ta hãy để cho Mẹ được toàn quyền xếp đặt mọi sự trong cuộc đời ta, thì cuộc đời ta sẽ trở nên tốt đẹp hơn trường hợp chính ta tự xếp đặt lấy độc lập với ý muốn của Mẹ. Tại sao? Vì Mẹ vừa yêu thương ta vô cùng, lại khôn ngoan hơn ta rất nhiều. Không bao giờ Mẹ lại để cho những đứa con phó thác cho sự khôn ngoan và tình thương của Mẹ phải thất vọng hay thiệt hại vì sự phó thác ấy.

Tóm lại, trong ngày lễ kính Mẹ Ma-ri-a là Nữ Vương trên trời dưới đất, Giáo Hội nhắc nhở chúng ta hãy tôn vinh Mẹ là Nữ Vương của chính bản thân mình, của gia đình mình. Đó là cách hết sức khôn ngoan để cuộc đời ta nên thánh thiện, tốt đẹp và hạnh phúc nhất.

JNK

SUY NIỆM 6:

Thật là ý nghĩa, khi tôn vinh Đức Maria với tước hiệu cao cả nhất, tước hiệu « Nữ Vương » trong Thánh Lễ hôm nay, Giáo Hội mời gọi chúng ta lắng nghe lại biến cố truyền tin, là biến cố đầu tiên được thánh sử Luca kể lại.

  • Tầm mức của tước hiệu Nữ Vương thật rộng lớn và phổ quát, cả trên Thiên Đàng lẫn ở trần thế. Nhưng, biến cố truyền tin lại là một biến cố rất riêng tư và âm thầm. Riêng tư và âm thầm, nhưng đó chính là một kinh nghiệm thiêng liêng làm thay đổi cuộc đời của Đức Maria.
  • Và kinh nghiệm thiêng liêng này là một cuộc đối thoại, đối thoại giữa Đức Maria và sứ thần Gabriel; điều này làm chúng ta cảm thấy gần gủi hơn nữa với Đức Maria, vì Mẹ không lắng nghe Lời Chúa cách trực tiếp nhưng qua một vị trung gian. Chúng ta cũng thế, ngang qua nhiều trung gian, và nhất là trung gian Sách Thánh.
  • Điều làm cho chúng ta cảm thấy gần gũi với Đức Mẹ hơn nữa, đó là, trong khi đối thoại với sứ thần, Mẹ cũng bối rối, cũng tự hỏi, cũng nêu thắc mắc, trước khi nói lời ưng thuận. Chúng ta cũng mời gọi sống tương quan với Chúa, một cách thật sống động và thật nhân tính, theo gương của Đức Mẹ.

Trong truyền thống của Giáo Hội, Đức Maria còn được gọi là Eva Mới ; vì thế, để hiểu hết tầm mức và chiều sâu của lời xin vâng mà Đức Mẹ thưa với Thiên Chúa, chúng ta có thể so sánh với lời « xin thôi » của bà Evà.

 

  1. Con rắn lừa dối

Sau khi vi phạm lệnh truyền, Đức Chúa chất vấn bà Evà : « Ngươi đã làm gì thế ? » Và bà trả lời : « Con rắn đã lừa dối con, nên con đã ăn » (St 3, 13). Câu trả lời của bà Evà nói lên yếu tính của tội nguyên tổ. Tuy nhiên, khi nghe và hiểu lời này, chúng ta thường để ý đến hành vi phạm lệnh truyền, là « con đã ăn », và không để ý đủ đến nguyên nhân, đó là « sự lừa dối của con rắn ». Theo pháp luật, để định tội, bao giờ cũng phải xác định nguyên nhân cũng như tình trạng và tình cảnh của người vi phạm. Vậy đâu là sự lừa dối của con rắn ?

Lời của con rắn hoàn ngược lại với Lời Chúa. Thật vậy, Thiên Chúa đã nói : « trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết” (St 2, 17), nhưng con rắn lại nói : « Không, ông bà sẽ không chết. Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần » (St 3, 4-5). Nọc độc con rắn muốn gieo vào lòng bà Evà, và qua Evà cho cả loài người chúng ta, thật rõ ràng : Thiên Chúa tạo dựng con người để đày đọa con người và cuối cùng là để cho chết, trở về với cát bụi và hư vô, bằng chứng hiển nhiên là Thiên Chúa cấm con người ăn trái cây có khả năng làm cho con người trở thành thần linh ! Và để ngăn cấm, Thiên Chúa lừa dối ông bà : trái cây mang lại những hiệu qua tuyệt vời như thế, nhưng Thiên Chúa lại nói, ăn vào thì chết !

 

  1. Nọc độc nghi ngờ

Đó chính là cảm thức của người Do Thái trong sa mạc, và đó cũng chính là cảm thức của loài người chúng ta, của từng người chúng ta mỗi khi phải đối diện thử thách, giới hạn, khó khăn, đường cùng : « Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai-cập, để chúng tôi chết trong sa mạc, một nơi chẳng có bánh ăn, chẳng có nước uống? Chúng tôi đã chán ngấy thứ đồ ăn vô vị này » (Ds, 21, 5). Được giải phóng khỏi đất nô lệ chết chóc, được dẫn đưa tới Đất Hứa, được sinh ra làm người với thân phận con người, nhưng khi gặp khó khăn thử thách, Dân Chúa, từng người chúng ta, lại hiểu đó là dự án giết chết, là sự lừa dối, là án phạt hoặc sự đày đọa của Thiên Chúa, là « thử thách » ; « thử thách », theo nghĩa kiểm chứng, không tin tưởng, « thử thách » để dò xét và theo dõi, để xem con người có tốt không, có xứng không, có sai phạm không để xét xử, kết án và loại trừ!

Nhưng tại sao Thiên Chúa lại lừa dối con người ? Ai đặt ra câu hỏi này, thì tức khắc rơi vào cái bẫy chết người của con rắn, của ma quỉ, của Satan, là đã bị rắn đọc cắn vào người. Bà Evà đã tin vào sứ điệp này của con rắn, và hành vi hái trái cấm bỏ vào miệng chỉ là hậu quả tất yếu theo sau. Như thế, tội trong yếu tính không phải là hành vi, nhưng một thái độ nội tâm dẫn đến hành vi, được gieo rắc bởi Ma Quỉ : đó là không tin thác nơi Thiên Chúa. Không tín thác nơi Thiên Chúa sẽ gây chết chóc cho mình và cho người khác, vì tất yếu, con người sẽ kêu trách Thiên Chúa, không chấp nhận mình, ham muốn những gì người khác có vì lòng ghen tị và tất yếu dẫn đến bạo lực (x. St 37, 12-27 : Giuse và các anh ; và Mt 20, 1-16, là bài Tin Mừng thứ tư vừa qua). Đúng như Thiên Chúa đã báo trước : « Ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ chết ». Chết, không phải do hình phạt, nhưng do « nọc độc nghi ngờ ».

 

  1. Lời « Xin Vâng »

Dựa trên nền tảng của tội nguyên tổ được hiểu như trên, chúng ta có thể khai mở ra cả một cách hiểu mới về « Lời Xin Vâng » của của Đức Mẹ trong mầu nhiệm Truyền Tin : Đức Mẹ tin thác vào Lời Chúa, chứ không nghi ngờ, vốn là nọc độc của Ma Quỉ. Trình thuật truyền tin nói cho chúng ta sự tín thác tuyện đối của Đức Mẹ :

Vâng, tôi đây là nữ tì của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói »

(Lc 1, 38)

Lời « xin vâng » được thốt ra trong một thời điểm của cuộc sống, nhưng sẽ được Mẹ sống đến cùng và ngang qua rất nhiều khó khăn thử thách. Tuy các Tin Mừng không nói gì nhiều về cuộc đời của Mẹ sau biến cố Truyền Tin, nhưng sự kiện Mẹ có mặt và đứng vững dưới chân Thập Giá, điều này đủ để chúng ta nhận ra rằng lời Xin Vâng của Mẹ đã phải trải qua biết bao thăng trầm, nhưng Mẹ đã sống đến cùng trong sự tín thác tuyệt đối nơi tình yêu và kế hoạch của Thiên Chúa.

Hình ảnh đúng nhất và đẹp nhất diễn tả Đức Ki-tô Vua, đó là lúc Ngài chịu đóng đinh trên Thập Giá. Thì cũng vậy, hình ảnh đẹp nhất và đúng nhất diễn tả Đức Maria Nữ Vương, Nữ Vương Thiên Đàng, Nữ Vương loài người, Nữ Vương của lòng chúng ta, của cuộc đời chúng ta, đó là hình ảnh Mẹ đứng dưới chân Thập Giá.

 

* * *

Chúng ta cũng được mời gọi đặt lời xin vâng của chúng ta được diễn tả ngang qua ơn huệ đi theo Đức Ki-tô trong một ơn gọi, ơn gọi dâng hiến, ơn gọi độc thân hay ơn gọi hôn nhân, trong cùng một hành trình như Đức Mẹ : từ khởi đầu của sự sống đến điểm tận cùng của ơn huệ sự sống, ngang qua hành trình đi theo Đức Ki-tô đến cùng. Xin Mẹ nâng đỡ, cầu bầu và dạy dỗ chúng ta với tình Hiền Mẫu.

 

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

 

 

SUY NIỆM:

Thật là ý nghĩa, khi tôn vinh Đức Maria với tước hiệu cao cả nhất, tước hiệu « Nữ Vương » trong Thánh Lễ hôm nay, Giáo Hội mời gọi chúng ta lắng nghe lại biến cố truyền tin, là biến cố đầu tiên được thánh sử Luca kể lại.

  • Tầm mức của tước hiệu Nữ Vương thật rộng lớn và phổ quát, cả trên Thiên Đàng lẫn ở trần thế. Nhưng, biến cố truyền tin lại là một biến cố rất riêng tư và âm thầm. Riêng tư và âm thầm, nhưng đó chính là một kinh nghiệm thiêng liêng làm thay đổi cuộc đời của Đức Maria.
  • Và kinh nghiệm thiêng liêng này là một cuộc đối thoại, đối thoại giữa Đức Maria và sứ thần Gabriel; điều này làm chúng ta cảm thấy gần gủi hơn nữa với Đức Maria, vì Mẹ không lắng nghe Lời Chúa cách trực tiếp nhưng qua một vị trung gian. Chúng ta cũng thế, ngang qua nhiều trung gian, và nhất là trung gian Sách Thánh.
  • Điều làm cho chúng ta cảm thấy gần gũi với Đức Mẹ hơn nữa, đó là, trong khi đối thoại với sứ thần, Mẹ cũng bối rối, cũng tự hỏi, cũng nêu thắc mắc, trước khi nói lời ưng thuận. Chúng ta cũng mời gọi sống tương quan với Chúa, một cách thật sống động và thật nhân tính, theo gương của Đức Mẹ.

Trong truyền thống của Giáo Hội, Đức Maria còn được gọi là Eva Mới ; vì thế, để hiểu hết tầm mức và chiều sâu của lời xin vâng mà Đức Mẹ thưa với Thiên Chúa, chúng ta có thể so sánh với lời « xin thôi » của bà Evà.

 1. « Con rắn đã lừa dối con »

Bài đọc 1, trích sách Sáng Thế, kể lại phần chất vấn Đức Chúa dành cho ông Adam và bà Evà, sau khi hai ông bà đã vi phạm lệnh truyền. Với bà Evà :

ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi người đàn bà: “Ngươi đã làm gì thế?” Người đàn bà thưa: “Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn.” (St 3, 13)

Khi nghe và suy niệm lời này, chúng ta thường chỉ để ý đến hành vi phạm lệnh truyền, là « con đã ăn », và vì thế, có thái độ lên án ngấm ngầm hay công khai. Trong khi đó, Lời Chúa trong bản văn trích sách Sáng Thế kể về Tội Nguyên Tổ muốn giải thoát chúng ta một cách chính xác khỏi hành vi lên án, lên án mình, lên án nhau và cuối cùng lên án chính Chúa, ý thức hay không ý thức, bằng cách mặc khải cho chúng ta nguyên nhân sâu sa của tội, mà chính loài người chúng ta, ngang qua hình ảnh Hai Ông Bà Nguyên Tổ, cũng không làm chủ được. Nguyên nhân sâu sa của Tội Nguyên Tổ, nghĩa là của mọi tội, Đó chính là Con Rắn : « Con rắn đã lừa dối con », mà thánh Phao-lô gọi là Tội như một nhân vật : « Tôi đã chẳng biết ham muốn là gì, nếu Luật không dạy: Ngươi không được ham muốn. Tội đã thừa cơ, dùng điều răn mà làm nảy sinh trong tôi đủ thứ ham muốn” (Rm 8, 7-8). Theo pháp luật, để định tội, bao giờ cũng phải xác định nguyên nhân cũng như tình trạng và tình cảnh của người vi phạm ; về phương diện này, tất cả chúng ta có thể đồng ý với nhau rằng, lúc ấy loài người còn rất trẻ và ít kinh nghiệm ! Vậy đâu là sự lừa dối của con rắn ?

Lời của con rắn hoàn ngược lại với Lời Chúa : Thiên Chúa đã nói, ăn vào thì chắc chắn sẽ chết (x. St 2, 17), còn con rắn nói : « Không, ông bà sẽ không chết. Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần » (St 3, 4-5). Nọc độc con rắn muốn gieo vào lòng bà Evà, và qua Evà cho cả loài người chúng ta, thật rõ ràng :

  • Thiên Chúa tạo dựng con người để đày đọa con người và cuối cùng là để cho chết, trở về với cát bụi và hư vô.
  • Bằng chứng hiển nhiên là Thiên Chúa cấm con người ăn trái cây có khả năng làm cho con người trở thành thần linh !
  • Và để ngăn cấm, Thiên Chúa lừa dối ông bà : trái cây mang lại những hiệu qua tuyệt vời như thế, nhưng Thiên Chúa lại nói, ăn vào thì chết !

 2. Nọc độc nghi ngờ

Đó chính là cảm thức của người Do Thái trong sa mạc, và đó cũng chính là cảm thức của loài người chúng ta, của mỗi người chúng ta, mỗi khi gặp khó khăn, thử thách hay tai họa đến từ thân phận hay số phận của đời người : « Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai-cập, để chúng tôi chết trong sa mạc, một nơi chẳng có bánh ăn, chẳng có nước uống? Chúng tôi đã chán ngấy thứ đồ ăn vô vị này » (Ds 21, 5). Được giải phóng khỏi đất nô lệ chết chóc, được dẫn đưa vào sa mạc để hướng về Đất Hứa, được sinh ra làm người, được Thiên Chúa « bao bọc cả sau lẫn trước » để đi trên « chính lộ ngàn đời » (x. Tv 139), nhưng khi gặp khó khăn thử thách, Dân Chúa, từng người chúng ta, lại hiểu đó là dự án giết chết, là sự lừa dối, là án phạt hoặc sự đày đọa của Thiên Chúa, là « thử thách » ; « thử thách », theo nghĩa kiểm chứng, không tin tưởng, « thử thách » để dò xét và theo dõi, để xem con người có tốt không, có xứng không, có sai phạm không để xét xử, kết án và loại trừ!

Nhưng tại sao Thiên Chúa lại lừa dối con người ? Ai đặt ra câu hỏi này, thì tức khắc rơi vào cái bẫy chết người của con rắn, của ma quỉ, của Satan, là đã bị rắn đọc cắn vào người. Bà Evà đã tin vào sứ điệp này của con rắn, và hành vi hái trái cấm bỏ vào miệng chỉ là hậu quả tất yếu theo sau. Như thế, tội trong yếu tính không phải là hành vi, nhưng là cả một diễn biến nội tâm dẫn đến hành vi, được gieo rắc bởi Ma Quỉ : đó là không tin thác nơi Thiên Chúa. Không tín thác nơi Thiên Chúa sẽ gây chết chóc cho mình và cho người khác, vì tất yếu, con người sẽ kêu trách Thiên Chúa, không chấp nhận mình, ham muốn những gì người khác có vì lòng ghen tị và tất yếu dẫn đến bạo lực (x. St 37, 12-27 : Giuse và các anh). Đúng như Thiên Chúa đã báo trước : « Ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ chết ». Chết, không phải do hình phạt, nhưng do « nọc độc nghi ngờ », chất chứa trong hành vi vi phạm.

3. « Vâng, tôi đây là nữ tì của Chúa»

Dựa trên nền tảng của tội nguyên tổ được hiểu như trên, chúng ta có thể khai mở ra cả một cách hiểu mới về ơn vô nhiễm của Đức Mẹ : Đức Maria, Mẹ của chúng ta, đã không tin lời con rắn, nhưng tin vào Lời Chúa. Trình thuật truyền tin nói cho chúng ta sự tín thác tuyện đối của Đức Mẹ :

Vâng, tôi đây là nữ tì của Chúa,
xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói. 
(Lc 1, 38)

Lời « xin vâng » được thốt ra trong một thời điểm của cuộc sống, nhưng sẽ được Mẹ sống đến cùng nơi Thập Giá, nghĩa là nơi của thử thách và đau khổ tận cùng. Và hôm nay, ơn Vô Nhiệm của Mẹ còn nói cho chúng ta rằng, lời xin vâng của Mẹ đã hiện diện ngay ở khởi đầu ơn sự sống của Mẹ. Vì thế, lời xin vâng của Mẹ còn là một ơn huệ thuần túy và tuyệt đối của Thiên Chúa.

*  *  *

Chúng ta cũng được mời gọi đặt lời xin vâng với lòng tín thác của chúng ta, được diễn tả ngang qua ơn huệ đi theo Đức Ki-tô trong một ơn gọi, ơn gọi dâng hiến, ơn gọi độc thân hay ơn gọi hôn nhân, trong cùng một hành trình như Đức Mẹ : từ khởi đầu của sự sống đến điểm tận cùng của ơn huệ sự sống. Xin Mẹ nâng đỡ, cầu bầu và dạy dỗ chúng ta với tình Hiền Mẫu.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc

 

 

SUY NIỆM LỜI CHÚA MỖI NGÀY SONG NGỮp_57b181f971942

Tuesday (August 22): Who can enter the kingdom of heaven?

 

Scripture: Matthew 19:23-30

23 And Jesus said to his disciples, “Truly, I say to you, it will be hard for a rich man to enter the kingdom of heaven. 24 Again I tell you, it is easier for a camel to go through the eye of a needle than for a rich man to enter the kingdom of God.” 25 When the disciples heard this they were greatly astonished, saying, “Who then can be saved?” 26 But Jesus looked at them and said to them, “With men this is impossible, but with God all things are possible.” 27 Then Peter said in reply, “Lo, we have left everything and followed you. What then shall we have?” 28 Jesus said to them, “Truly, I say to you, in the new world, when the Son of man shall sit on his glorious throne, you who have followed me will also sit on twelve thrones, judging the twelve tribes of Israel. 29 And every one who has left houses or brothers or sisters or father or mother or children or lands, for my name’s sake, will receive a hundredfold, and inherit eternal life. 30 But many that are first will be last, and the last first.

Thứ Ba     22-8       Vậy ai có thể vào được nước Trời?

 

Mt 19,23-30

(23) Bấy giờ Ðức Giêsu nói với các môn đệ của Người: “Thầy bảo thật anh em, người giàu có khó vào Nước Trời. (24) Thầy còn nói cho anh em biết: con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa”. (25) Nghe nói vậy, các môn đệ vô cùng sửng sốt và nói: “Thế thì ai có thể được cứu?” (26) Ðức Giêsu nhìn thẳng vào các ông và nói: “Ðối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được”.(27) Bấy giờ ông Phêrô lên tiếng thưa Người: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?” (28) Ðức Giêsu đáp: “Thầy bảo thật anh em: anh em là những người đã theo Thầy, thì đến thời tái sinh, khi Con Người ngự tòa vinh hiển, anh em cũng sẽ được ngự trên mười hai tòa mà xét xử mười hai chi tộc Ítraen. (29) Và phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống đời đời làm gia nghiệp.(30) “Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu”.

Meditation: Was Jesus really against wealth (Matthew 19:23)? And why did he issue such a strong warning to the rich (as well as to the rest of us who desire to be rich)? We know that Jesus was not opposed to wealth per se, nor was he opposed to the wealthy. He had many friends who were well-to-do, including some notorious tax collectors! One even became an apostle! Jesus’ warning reiterated the wisdom of the Old Testament:  “Better is a poor man who walks in his integrity than a rich man who is perverse in his ways” (Proverbs 28:6; see also Psalm 37:16). “Do not wear yourself out to get rich; be wise enough to desist” (Proverbs 23:4). 

 

We are all poor beggars in need of God

Jesus seems to say that it is nearly impossible for the rich to live as citizens of God’s kingdom. The camel was regarded as the largest animal in Palestine. The “eye of the needle” could be interpreted quite literally or it could figuratively describe the narrow and low gate of the city walls which was used by travelers when the larger public gate was locked at night. Normal sized people had to “lower” themselves to enter that gate. A camel would literally have to kneel and crawl through it. Until we humbly kneel before the Lord and acknowledge our total need and dependence on him, we will not find true peace, security, and happiness that can sustain us now and forever. Only God alone can satisfy our deepest need and longing.

Augustine of Hippo reminds us that we are all poor beggars of God. 

“Even though you possess plenty, you are still poor. You abound in temporal possessions, but you need things eternal. You listen to the needs of a human beggar, yet you yourself are a beggar of God. What you do with those who beg from you is what God will do with his beggar. You are filled and you are empty. Fill your empty neighbor from your fullness, so that your emptiness may be filled with God’s fullness.” (Sermon 56,9)

Possessions can create false security and independence

Why is Jesus so cautious about wealth? Wealth can make us falsely independent. The church at Laodicea was warned about their attitude towards wealth and a false sense of security: “For you say, I am rich, I have prospered, and I need nothing” (Revelations 3:17). Wealth can also lead us into hurtful desires and selfishness (see 1 Timothy 6:9-10). Look at the lesson Jesus gave about the rich man and his sons who refused to aid the poor man Lazarus (see Luke 16:19ff). They neglected to serve God. Only those who put their trust in God and who depend on him, and who share what they have with those in need, will find true peace, security, and happiness which lead to everlasting life and joy in God’s kingdom.

Where is your treasure?

The Scriptures give us a paradox – we lose what we keep and we gain what we give away. Generosity will be amply repaid, both in this life and in the age to come (Proverbs 3:9-10, Luke 6:38). Jesus offers us an incomparable treasure which no money can buy and no thief can steal. The thing we most set our heart on is our highest treasure. Material wealth will shackle us to this earth unless we guard our hearts and set our treasure in God and his everlasting kingdom. Where is your treasure?

“Lord Jesus, you have captured our hearts and opened to us the treasures of heaven. May you always be my treasure and delight and may nothing else keep me from giving you my all.”

Suy niệm:  Có phải Đức Giêsu thực sự chống lại sự giàu có chăng (Mt 19,23)? Tại sao Người đưa ra lời cảnh báo mạnh mẽ với người giàu có (cũng như hầu hết chúng ta là những người ước muốn được giàu có)? Chúng ta biết rằng tự bản chất Đức Giêsu không hề chống đối sự giàu có hoặc những người giàu có. Người có nhiều bạn hữu giàu có, kể cả một số người thu thuế có tiếng xấu xa! Thậm chí một người trong số họ trở nên tông đồ của Chúa! Lời cảnh cáo của Đức Giêsu lặp lại lời khôn ngoan trong sách Cựu ước: “Thà nghèo mà ăn ở vẹn toàn, còn hơn giàu mà ăn ở quanh co” (Cn 28,6; và Tv 37,16). “Chớ nhọc công thu tích của cải, và cũng đừng bận tâm tới nó” (Cn 23,4).

 

Tất cả chúng ta đều là ăn xin trước Thiên Chúa

Xem ra Đức Giêsu muốn nói rằng những người giàu có dường như khó trở thành công dân nước Trời. Con lạc đà được xem là con vật lớn nhất ở nước Palestine. “Lỗ kim” có thể được giải thích hoàn toàn theo nghĩa đen hay một cách ẩn dụ, nó có thể mô tả cái cổng thành chật hẹp và thấp mà những người lữ khách sử dụng khi cổng lớn đã đóng lúc trời tối. Một người có kích thước bình thường cũng phải “cúi mình” xuống khi đi qua cổng đó. Theo nghĩa đen, con lạc đà phải quỳ xuống và bò qua nó. Nếu như chúng ta không khiêm tốn quỳ trước mặt Chúa và nhận biết mình cần và lệ thuộc vào Người, chúng ta sẽ không tìm được sự bình an, an toàn, và hạnh phúc đích thật có thể gìn giữ chúng ta bây giờ và mãi mãi. Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể làm thỏa mãn nhu cầu và khát vọng sâu xa nhất của chúng ta.

Thánh Augustin thành Hippo nhắc nhở chúng ta rằng tất cả chúng ta đều là kẻ ăn xin cần đến Chúa.

“Cho dù bạn có nhiều tài sản, bạn vẫn nghèo. Bạn có những của cải tạm bợ, nhưng bạn thiếu những của cải vĩnh cửu. Bạn lắng nghe tiếng kêu cầu của người ăn xin, nhưng chính bạn lại là kẻ ăn mày cần đến Chúa. Những gì bạn làm cho kẻ cầu xin bạn chính là những gì Thiên Chúa sẽ làm cho kẻ kêu xin Người. Bạn giàu có nhưng bạn vẫn nghèo khó. Hãy chia sẻ sự giàu có của mình cho tha nhân, để sự nghèo khó của bạn sẽ được Chúa đong đầy” (Bài giảng 56,9).

Của cải có thể tạo ra sự bảo đảm và độc lập giả tạo

Tại sao Đức Giêsu quá thận trọng về sự giàu có? Sự giàu có có thể làm cho chúng ta độc lập một cách giả dối. Giáo hội ở Laodicea bị cảnh cáo về thái độ của họ đối với sự giàu có và ý nghĩa giả tạo của sự bảo đảm: “Ngươi nói, tôi giàu có, tôi đã làm giàu, tôi chẳng thiếu thốn chi” (Kh 3,17). Sự giàu có cũng có thể dẫn chúng ta tới những ước muốn và sự ích kỷ tai hại (1Tm 6,9-10). Hãy xem bài học Đức Giêsu đưa ra về người giàu có và con cái ông đã từ chối giúp đỡ người nghèo Lagiarô thế nào (Lc 16,19). Họ cũng quên lãng việc phụng sự Chúa. Chỉ có những ai đặt niềm tin cậy nơi Thiên Chúa và phụ thuộc vào Người, chia sẻ những gì họ có với người túng thiếu, mới tìm được bình an, bảo đảm, và hạnh phúc dẫn tới sự sống và niềm vui vĩnh cửu trên Thiên đàng.

Kho báu của bạn ở đâu?

Kinh thánh cho chúng ta một sự nghịch lý: chúng ta mất những gì chúng ta giữ, và chúng ta có những gì chúng ta cho đi. Lòng quảng đại sẽ được đáp trả thật bội hậu, cả đời này lẫn đời sau (Cn 3,9-10; Lc 6,38). Đức Giêsu ban tặng cho chúng ta một kho báu khôn sánh mà không tiền bạc châu báu nào có thể mua được, hay không có người trộm nào có thể lấy được. Điều chúng ta quan tâm nhất, đó chính là kho báu quý nhất của chúng ta. Sự giàu có về của cải vật chất sẽ trói buộc chúng ta vào thế giới này, trừ khi chúng ta cảnh giác và lấy Chúa và nước Trời làm kho báu của mình. Kho báu của bạn ở đâu?

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa hãy chiếm hữu lòng con và tỏ cho con thấy kho báu nước Trời. Ước gì Chúa luôn luôn là kho báu và niềm vui của con và không có gì ngăn cản con dâng cho Chúa tất cả mọi sự.”

Tác giả: Don Schwager
(http://dailyscripture.servantsoftheword.org/readings/)
Bro. Paul Thanh Vu 
– chuyển ng

Từ khóa:

thiên chúa

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
Tin Giáo phận

Ban Giáo Lý Giáo Phận Phan Thiết đã tổ chức tĩnh huấn Giáo Lý Viên cấp Giáo Phận cho các Giáo Lý Viên Giáo Hạt Phan Thiết, tại giáo xứ Mũi Né, quy tụ hơn 100 Giáo Lý Viên và Nữ Tu.

Tin mới