Thứ Bảy tuần 7 Phục Sinh.

Đăng lúc: Thứ bảy - 19/05/2018 00:51 - Người đăng bài viết: Ban Truyen Thong

 

Thứ Bảy tuần 7 Phục Sinh.

"Chính môn đệ này làm chứng về những việc đó và đã viết ra".

 

Lời Chúa: Ga 21, 20-25

Khi ấy, Phêrô quay lại, thấy môn đệ Chúa Giêsu yêu mến theo sau, cũng là người nằm sát ngực Chúa trong bữa ăn tối và hỏi "Thưa Thầy, ai là người sẽ nộp Thầy?" Vậy khi thấy môn đệ đó, Phêrô hỏi Chúa Giêsu rằng: "Còn người này thì sao?" Chúa Giêsu đáp: "Nếu Thầy muốn nó cứ ở lại mãi cho tới khi Thầy đến thì việc gì đến con? Phần con, cứ theo Thầy". Vì thế, có tiếng đồn trong anh em là môn đệ này sẽ không chết. Nhưng Chúa Giêsu không nói với Phêrô: "Nó sẽ không chết", mà Người chỉ nói: "Nếu Thầy muốn nó cứ ở lại mãi cho tới khi Thầy đến thì việc gì đến con".

Chính môn đệ này làm chứng về những việc đó và đã viết ra, và chúng tôi biết lời chứng của người ấy xác thật. Còn nhiều việc khác Chúa Giêsu đã làm, nếu chép lại từng việc một thì tôi thiết tưởng cả thế giới cũng không thể chứa hết các sách viết ra.

 

 

 

SUY NIỆM 1: Làm chứng cho Chúa.

Trong kỳ nội chiến, Tổng thống Hoa kỳ là Abraham Lincoln có một sĩ quan trẻ làm thư ký. Viên sĩ quan này nổi tiếng là gan dạ, do đó công việc bàn giấy xem ra không thích hợp với anh. Anh chỉ mơ ước trở lại mặt trận và nếu cần sẵn sàng chết cho tổ quốc hơn là làm công việc đơn điệu nhàm chán trên bàn giấy. Một ngày nọ, sau khi nghe anh than phiền, Tổng thống Lincoln nhìn thẳng mắt anh và nói: “Hỡi anh bạn trẻ, như tôi nhận thấy thì quả thực anh luôn muốn xả thân chết cho tổ quốc, nhưng có lẽ anh không muốn sống cho tổ quốc”.

Tử đạo theo nguyên ngữ là “làm chứng cho đức tin”. Có người dùng cái chết để làm chứng, có người dùng cả cuộc sống. Tuy nhiên, chết đau thương nhục nhã hoặc chết âm thầm từng ngày, cả hai đều có giá trị như nhau. Phêrô, vị Giáo hoàng tiên khởi được mời gọi bước theo Chúa Giêsu, nghĩa là chấp nhận những thử thách bách hại và cái chết trên thập giá để làm chứng cho Chúa. Còn Gioan, vị tông đồ được Chúa Giêsu yêu mến lại làm chứng cho Chúa bằng chính cuộc sống của mình. Gioan tuy không được phúc tử đạo như các Tông đồ khác, nhưng đã sống một thời gian rất dài, để củng cố niềm tin của các tín hữu tiên khởi nhất là để suy niệm và viết cuốn Tin mừng thứ tư và ba lá thư. Tất cả đều là những cách thức làm chứng cho Đấng đã chết và sống lại là Chúa Giêsu Kitô.

Lịch sử Giáo Hội từ đầu cho đến nay là cả một cuốn sách về những chứng từ khác nhau: bằng lời nói, bằng đau khổ, bằng hy sinh, bằng công việc từ thiện… mỗi người một cách, mỗi thời đại một cách tuỳ ở Chúa Thánh Thần soi sáng, nhưng tất cả là để giới thiệu tình yêu Chúa cho mọi người để mọi người hưởng nhờ ơn cứu độ.

Chắc chắn, không phải tất cả chúng ta có thể làm chứng cho Chúa bằng cái chết vì đạo, nhưng chúng ta có thể làm chứng bằng chính cuộc sống của chúng ta. Ước gì chúng ta luôn ý thức phần đóng góp của chúng ta cho kho tàng phong phú của Giáo Hội qua những hy sinh âm thầm từng ngày, để làm cho mọi người nhận biết tình yêu Chúa và trở về cùng Chúa.

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

SUY NIỆM 2: Về thánh Gioan

Thánh Gio-an lúc bảy mươi tuổi bắt đầu viết Tin mừng làm chứng về Đức Giêsu. Hôm nay, Ngài ký vào lời chứng này.

Ngôn từ cuốn Tin mừng này đôi khi khó hiểu, bí ẩn, sâu kín, mang lại kinh nghiệm dày dạn sâu lắng của đời sống Kitô giáo, đời sống phục sinh. Ngài truyền lại cho chúng ta kiến thức về Đức Kitô sau khi đã cầu nguyện, suy niệm lâu dài mãi tới già.

Mấy tuần mùa phục sinh Ngài loan báo cho chúng ta Tin mừng về: sự tái sinh bởi Thánh Thần, chia sẻ bánh hằng sống, niềm hy vọng phục sinh, tiếp nhận mục tử tốt lành, ban Thánh Thần, thánh Gio-an giới thiệu chúng ta vào hiệp thông với Chúa Cha. Hơn nữa, ngài còn xác định về những đòi hỏi phải theo Đức Kitô: Sự cần thiết phải tin, nhận lãnh những dấu chỉ, đức tin vào lời chứng về Đức Kitô, trông cậy vào Đấng Thiên Chúa sai đến.

Đến lượt, chúng ta cần cảm nghiệm sâu sắc về đời sống của Đức Kitô. Nhờ thế, chúng ta là nhân chứng về những sự kiện cao cả của Thiên Chúa trong lịch sử lúc này. Lời chứng của chúng ta rất cần cho thế gian. Mỗi người trong chúng ta, tùy theo cách thức và đặc sủng của mình, phải loan báo Tin mừng đã sống thực trong đáy lòng con tim chúng ta.

Mỗi người chúng ta phải lớn tiếng rao giảng lời chứng của mình về Đức Kitô hàng ngày. Lời rao giảng Tin mừng trong phụng vụ được các tông đồ truyền lại cho chúng ta, giúp chúng ta làm sống lại lời Tin mừng đến tận các bàn giấy, các nhà máy, và các gia đình.

Chúng ta không nên đợi những người khác bắt đầu sống theo Đức Kitô, rồi chúng ta mới bắt đầu thi hành ý Người. Hãy nhờ chính lời của Người nói với Phê-rô: “Dù Thầy muốn cho người ấy cái gì, dù Thầy định cho những người khác thế nào, thì việc gì đến anh? Phần anh, anh hãy theo Tôi”.

CG.

 

SUY NIỆM 3: Làm chứng tá cho tình yêu

Hôm nay chúng ta lắng nghe phần đoạn kết trong sách Phúc Âm của thánh Gioan tông đồ, chỉ có ba nhân vật được kể đến trong phần cuối của Phúc Âm này là Chúa Giêsu, Phêrô và Gioan.

Qua những lời đối thoại với Phêrô, Chúa Giêsu cho chúng ta hiểu rằng Ngài đã chọn mười hai vị tông đồ và trao phó cho mỗi người một sứ mạng khác nhau. Phêrô và Gioan vì thế cũng có sứ mạng khác biệt nhau. Nếu như Phêrô được chọn để chăn dắt đàn chiên của Chúa và trung thành với các sứ vụ bằng cái chết tử đạo, thì vai trò của Gioan là làm chứng tá cho Chúa Giêsu bằng Phúc Âm.

Gioan được ơn sống lâu để chiêm niệm một cách sâu xa hơn về mầu nhiệm nhập thể làm người và phục sinh của Chúa Giêsu, Con Một Thiên Chúa. Vì thế mà Gioan kết thúc Phúc Âm của mình bằng sự xác quyết: "Còn có nhiều điều khác Chúa Giêsu đã làm, nếu viết lại từng điều một thì tôi thiết nghĩ cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra". Qua lời kết thúc này Gioan cho thế gian hiểu rằng quyền năng của Chúa Giêsu không bao giờ cạn, hồng ân của Ngài thì vô cùng, sự khôn ngoan của Ngài thì không ai có thể đối chọi lại được, và tình yêu của Ngài thì vô biên.

Trong lịch sử Giáo Hội suốt hai mươi thế kỷ nay, Thiên Chúa cũng vẫn liên tục kêu gọi nhiều người và ban cho họ những ân sủng đặc biệt để tiếp tục sống mãn đời trên trần thế. Họ là các thánh nam nữ đã được Thiên Chúa lựa chọn và trao cho các sứ mệnh đặc biệt ở những thời kỳ và hoàn cảnh khác biệt nhau. Có vị được gọi để trở thành các giáo phụ và tiến sĩ Hội Thánh. Các ngài dùng ngòi bút và trí thông minh để rao giảng Phúc Âm và đem ánh sáng Lời Chúa đến cho mọi người. Những vị khác thì được ơn gọi sáng lập các dòng tu với tinh thần tông đồ và hoạt động truyền giáo trong nhiều lãnh vực khác biệt nhau. Các sứ vụ tuy có khác biệt nhưng đều mang ý nghĩa và tầm mức quan trọng như nhau. Tất cả đều qui tụ vào cùng một mục đích duy nhất là làm chứng tá cho chân lý và tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con sức mạnh của đức tin và ngọn lửa của tình yêu, để chúng con can đảm và hăng say làm chứng tá cho tình yêu và chân lý của Chúa giữa thế gian. Xin Chúa cũng luôn hiện diện để giúp chúng con trung thành với ơn gọi và sứ mạng do Chúa giao phó, nhất là trong những lúc đứng trước các cơn bão táp của cuộc sống.

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

SUY NIỆM 4: CẢM NGHIỆM VÀ LÀM CHỨNG (Ga 21, 20-25)

Trên các trang báo điện tử thời gian gần đây  đăng tin: Một nữ tu “cháy hết mình” trên sân khấu The Voice của Ý.

Nữ tu đó chính là Cristina Scuccia, 25 tuổi, thành viên của Dòng các chị em Ursuline Thánh Gia. Chị đã xuất hiện trên sân khấu của chương trình The Voice tại Ý. Khi sơ xuất hiện, các giám khảo và mọi người thật sự ngỡ ngàng khi thấy trang phục của thí sinh đặc biệt này.

Khi các giám khảo quay lại nhìn sơ Cristina, họ đã không tin vào mắt mình khi thấy một nữ tu trẻ đang hát “No One”, bài hát ruột của Alicia Keys.

Sau khi nghe sơ Cristina hát, Carra là một trong 4 vị giám khảo đã hỏi sơ có thật là một nữ tu không và tại sao sơ chọn tham gia cuộc thi này?

“Vâng, tôi đích thực là một nữ tu,” sơ Cristina trả lời.

“Tôi đến đây bởi vì tôi có một món quà và tôi muốn chia sẻ món quà đó. Tôi đến đây để loan báo Tin Mừng”.

Thánh Gioan hôm nay hiện lên trên trang Tin Mừng như một người chứng về tất cả những gì ngài đã viết trong Tin Mừng của mình về Đức Giêsu. Ngài đã trở nên chứng nhân cho tất cả những gì đã viết là bởi vì ngài đã được ở với Đức Giêsu, được nghe lời dạy, và cảm nghiệm được tình yêu đặc biệt mà Thầy đã dành cho mình. Như vậy, muốn hiểu phải yêu, và khi đã yêu thì phải làm chứng và lời chứng của người đó mới thật.

Như vậy, phụng vụ hôm nay muốn mời gọi chúng ta rằng: hãy yêu mến Chúa tha thiết, lắng nghe lời Ngài và hãy trở nên chứng nhân cho Đức Giêsu đến tận cùng trái đất.

Tuy nhiên, không có một mẫu số chung nào cho mọi người, vì thế, mỗi người mỗi cách, miễn sao cho Tin Mừng được loan báo và hợp với tinh thần của Giáo Hội.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết yêu Chúa hết lòng, để từ đó cũng sẵn sàng trở nên những chứng nhân cho Tin Mừng cách sống động trong cuộc sống hiện tại của chúng con. Amen.

 Ngọc Biển SSP

 

SUY NIỆM 5: Lời chứng xác thực

Suy niệm:

Trong bài Tin Mừng hôm nay, ngoài Đức Giêsu và Phêrô,

còn có người môn đệ được Đức Giêsu thương mến.

Anh đã có mặt trong bữa Tiệc Ly cùng với Phêrô, đã nằm gần Thầy,

và được Phêrô nhờ hỏi Thầy xem ai là kẻ phản bội (13,23-25).

Anh đã đưa Phêrô vào dinh thượng tế khi Đức Giêsu bị bắt (18,15-16).

Anh đã cùng với Phêrô chạy ra ngôi mộ trống lúc ban mai,

nhưng anh chạy nhanh hơn, và tin trước Phêrô (20,3-10).

Khi Phêrô chối Thầy ba lần và không lộ diện nữa (18,17-18.25-27),

thì anh là môn đệ duy nhất đứng gần thập giá Đức Giêsu,

và được Ngài trao Thân Mẫu của mình để làm Mẹ của anh (19:25-27).

Trong lần Đức Giêsu tỏ mình bên bờ hồ Galilê, sau mẻ cá lạ (21,4-7),

anh là người đầu tiên nhận ra Thầy, và nói với Phêrô: “Chúa đó!”

Có vẻ hình ảnh người môn đệ được Chúa thương nổi trội hơn Phêrô.

Dù sao Simon Phêrô đã ba lần tuyên xưng tình yêu trước Thầy,

và ba lần Thầy giao cho anh chăm sóc đoàn chiên như người mục tử.

Thầy còn tiên báo cái chết tử đạo của anh,

và mời anh một lần nữa: “Hãy theo Thầy” (21,19; x. 13,36-37).

Đó là đường đời của Phêrô, một môn đệ và một mục tử.

Nhưng đâu là con đường tương lai của người môn đệ kia?

Phêrô đi theo Đức Giêsu, quay lại, thấy anh này cũng đang đi theo.

“Thưa Thầy, còn anh này thì sao?” (c. 21).

Đức Giêsu đã không bảo là anh này sẽ không chết,

hay anh còn sống mãi cho đến ngày Ngài quang lâm (c. 23).

Khi cuốn Tin Mừng Thứ Tư được viết xong vào cuối thế kỷ thứ nhất,

thì người môn đệ kia đã qua đời, nhưng không được phúc tử đạo.

Như thế tiếng đồn về câu nói của Đức Giêsu là sai sự thật (c. 22).

Những gì anh để lại cho thế giới là cuốn Tin Mừng Thứ Tư.

“Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra.

Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực” (c. 24).

Người môn đệ này cho chúng ta một lời chứng đáng tin,

vì anh là người đã sống bên Thầy Giêsu, thật gần gũi.

Anh đã mắt thấy tai nghe, và có kinh nghiệm thân thiết với Thầy.

Không hẳn anh đích thân cầm bút viết cuốn Tin Mừng này,

nhưng anh lại chính là tác giả của mọi điều được viết trong đó.

Tất cả là kinh nghiệm riêng tư anh đã trải qua với Thầy Giêsu,

và những suy niệm lâu dài dưới ánh sáng Phục sinh và Thánh Thần.

Người môn đệ này còn là người sáng lập một cộng đoàn tín hữu.

Cộng đoàn ấy được ám chỉ qua đại từ “chúng tôi” (c. 24; x. 1,14.16).

Một người trong cộng đoàn đã viết chương cuối này (c. 25: “tôi”).

Ai là người môn đệ được Đức Giêsu thương mến?

Nhiều người nghĩ anh là Gioan, nhiều người lại nghĩ khác.

Dù sao anh thật là một môn đệ lý tưởng cho chúng ta.

Điều anh để lại cho đời trong cuốn Tin Mừng là điều anh xác tín.

Anh là nhân chứng đáng tin cậy của Đức Kitô, Con Thiên Chúa.

Đúng anh là người được Thầy yêu và là người đã hết lòng yêu Thầy.

 

Cầu nguyện :

Lạy Thiên Chúa của đời con,

chỉ trong tình yêu con mới tìm thấy Chúa.

Trong tình yêu, các cánh cửa hồn con mở tung,

để con được thở không khí tự do tươi mới

và quên đi cái tôi nhỏ mọn của mình.

Trong tình yêu, toàn bộ con người con vươn ra khỏi

những ranh giới cứng nhắc của óc hẹp hòi

và của thái độ tự khẳng định đầy bất an

khiến con bị giam mình trong sự nghèo nàn và trống rỗng.

Trong tình yêu, mọi sức mạnh của hồn con tuôn chảy về Chúa,

chẳng bao giờ còn muốn quay trở lại,

nhưng chỉ muốn mất mình trọn vẹn trong Chúa,

vì qua tình yêu, Chúa là trung tâm sâu nhất của lòng con,

Chúa gần con hơn cả chính con gần con.

Nhưng khi con yêu Chúa,

khi con tìm cách phá vỡ vòng vây chật hẹp của cái tôi, và vứt bỏ sau lưng

nỗi khắc khoải không nguôi về những câu hỏi còn bỏ ngỏ,

khi đôi mắt mù lòa của con không còn chỉ nhìn từ xa và từ bên ngoài

ánh rạng ngời không thể lại gần được của Chúa,

và hơn nữa, lạy Chúa là Đấng vô phương thấu hiểu,

khi qua tình yêu, Chúa trở nên trung tâm sâu nhất của đời con,

khi ấy con mới có thể chôn mình hoàn toàn trong Chúa,

lạy Thiên Chúa nhiệm màu,

và chôn mọi câu hỏi của con cùng với con. Amen. Karl Rahner, S.J.

Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

 

 

Suy Niệm

Bài Tin Mừng hôm qua và bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay làm nên phần kết của sách Tin Mừng theo thánh Gioan.

Trong bài Tin Mừng hôm qua, hình ảnh thánh Phê-rô được nêu bật như là người mục tử, với sứ mạng chăn dắt đoàn chiên, dựa trên tình yêu dành cho Đức Ki-tô. Nhưng trong bài Tin Mừng hôm nay, hình ảnh “Người môn đệ Đức Giê-su thương mến” được đưa lên hàng đầu, cùng với những lời chứng mà người môn đệ này để lại cho chúng ta.

1. “Ở lại”

Trả lời cho câu hỏi với ít nhiều tò mò của thánh Phê-rô về Người môn đệ Đức Giê-su thương mến : “Thưa Thầy, còn anh này thì sao ?”, Đức Giê-su nói : “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh?” Câu trả lời của Đức Giê-su không phải là một giả định không có thật, nhưng nói tới trường hợp Chúa muốn và trong thực tế, Ngài đã muốn như vậy : Ngài muốn rằng Người môn đệ Ngài thương mến “ở lại” cho tới khi Ngài đến. “Ở lại”, chứ không phải cứ sống mãi “không chết”, như lời đồn được lan truyền giữa các môn đệ.

Vậy, “ở lại” theo Đức Ki-tô phục sinh có nghĩa là gì ? Bởi vì, một người có thể ở lại hay hiện diện theo những cách thức khác nhau : bằng chính con người thể lí của mình, hoặc bằng chính tác phẩm hay công trình của mình. Vì thế, lời của Đức Ki-tô không hướng trực tiếp tới sự hiện diện thể lí của Người môn đệ Ngài thương mến, nhưng hướng tới sứ điệp Tin Mừng mà Người môn đệ đã thấm nhuần sâu xa và truyền đạt lại cho chúng ta.

2. Lời chứng

Như thế, Đức Ki-tô muốn mặc khải cho thánh Phê-rô rằng, theo ý muốn của Ngài, lời chứng của Người môn đệ Ngài thương mến sẽ tồn tại mãi cho đến tận thế, cho đến lúc Ngài trở lại. Và như chúng ta đã có thể nhận ra, quyết định này của Đức Ki-tô về Người môn đệ Ngài thương mến đang được thực sự thực hiện : một đàng, Người môn đệ này nhấn mạnh đặc biệt đến giá trị của lời chứng mà mình để lại trong Tin Mừng thứ tư : “Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực” ; và đàng khác, Giáo Hội và mỗi người chúng ta càng ngày càng khám phá ra giá trị bất hủ và thâm sâu của lời chứng mà Người môn đệ Đức Ki-tô thương mến để lại trong sách Tin Mừng của mình.

Đặc biệt, trong Mùa Chay và Mùa Phục Sinh, và nhất là trong những tuần vừa qua, Giáo Hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm cách đặc biệt dung nhan rạng ngời của Đức Ki-tô, theo Tin Mừng Gioan, nghĩa là Tin Mừng của Người môn đệ Đức Giê-su thương mến.

3. “Người môn đệ Đức Giê-su thương mến”

Ngoài ra, lời của Đức Ki-tô về Người môn đệ Ngài thương mến còn có thể mang một ý nghĩa khác, khi chúng ta không nhìn Người môn đệ như là thánh tông đồ Gioan, nhưng như là hình ảnh tiêu biểu của người môn đệ đi theo Đức Ki-tô. Và theo Đức Ki-tô phục sinh, hình ảnh này sẽ tồn tại mãi cho tới khi Ngài đến.

– Bởi vì, đó là hình ảnh Người môn đệ có một tương quan thiết thân với Đức Giê-su. Trong bài Tin Mừng, có một minh họa tuyệt vời cho mối tương quan thiết thân này : “ông này là người đã nghiêng mình vào ngực Đức Giê-su trong bữa ăn tối”.

– Bởi vì, đó là hình ảnh Người môn đệ đã nhận ra Đức Ki-tô phục sinh, khi nhìn thấy các dấu chỉ Ngài để lại trong ngôi mồ mở.

– Bởi vì đó là hình ảnh Người môn đệ đã nhận ra Đức Ki-tô hiện diện sống động trên bờ hồ Tiberia, nghĩa là ngay trong đời thường, khi nhìn thấy dấu chỉ mẻ cá lạ.

– Và bởi vì, đây là lí do quan trọng nhất, đó là hình ảnh Người môn đệ đã kinh nghiệm thật sâu xa tình yêu mà Đức Giê-su đã dành cho mình, và đã đi theo Ngài, cũng bằng tình yêu, cho đến cùng.

Mỗi người chúng ta cũng được mời gọi nhận ra chính mình, dù còn đầy bất toàn và tội lỗi, là “Người môn đệ Đức Giê-su thương mến”, để cho lời của Đấng Phục Sinh được ứng nghiệm hôm nay và cho đến khi Ngài trở lại.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Từ khóa:

môn đệ, làm chứng

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
Tin mới