Thứ Sáu đầu tháng, tuần 30 thường niên.

Đăng lúc: Thứ sáu - 03/11/2017 03:51 - Người đăng bài viết: Ban Truyen Thong

Thứ Sáu đầu tháng, tuần 30 thường niên.

"Trong ngày Sabbat, ai trong các ông có con lừa hay con bò rơi xuống giếng mà không kéo nó lên sao?"

 

Lời Chúa: Lc 14, 1-6

Khi ấy, vào một ngày Sabbat, Chúa Giêsu vào dùng bữa trong nhà một thủ lãnh biệt phái, thì những người hiện diện ở đó dòm xét Người. Bấy giờ có một người mắc bệnh thuỷ thũng ở trước mặt Người. Chúa Giêsu lên tiếng hỏi các Luật sĩ và biệt phái rằng: "Trong ngày Sabbat, có được phép chữa bệnh không?" Các ông ấy làm thinh. Bấy giờ Người kéo kẻ ấy lại, và chữa lành, rồi cho về. Ðoạn Người bảo các ông rằng: "Trong ngày Sabbat, ai trong các ông có con lừa hay con bò rơi xuống giếng mà không lập tức kéo nó lên sao?" Nhưng các ông không thể trả lời câu hỏi ấy.

 

 

 

Suy Niệm 1: Linh Hồn Của Lề Luật

Gilgal Zamir, người thanh niên 25 tuổi đã sát hại Thủ tướng Do thái, ông Y. Rabin, khi bị tòa án tại Tel Aviv kết án tù chung thân, chẳng những không để lộ bất cứ cử chỉ hối hận nào, mà còn tuyên bố: "Tất cả những gì tôi làm là làm cho Chúa, làm cho lề luật, làm cho dân tộc Israel".

Thái độ của Gilgal Zamir đã khiến cho quan tòa đưa ra nhận định: Gilgal Zamir có những khuynh hướng vị kỷ, nhìn thế giới chỉ dưới hai mầu trắng đen mà thôi; anh ta là sản phẩm của một nền giáo dục không quan tâm đủ đến những giá trị nhân bản và đạo đức cần mang lại cho người trẻ hiện nay.

Gilgal Zamir có thể là hiện thân của những Biệt phái thời Chúa Giêsu, nghĩa là luôn miệng nhân danh Chúa và lề luật. Cũng như những người Biệt phái, anh tin tưởng nơi Chúa, anh trung thành với lề luật, anh yêu tổ quốc. Nhưng anh thiếu một điều hệ trọng nhất để có thể sống như một con người, đó là một trái tim, một trái tim để biết yêu thương, để biết rung động trước nỗi khổ đau của người khác. Khi con người không có một trái tim, thì họ sẽ mù quáng: mù quáng vì không những không còn nhạy cảm trước nỗi khổ đau của người khác, mà nhất là không còn biết hối hận vì đã xúc phạm đến người khác.

Nhân danh lề luật, những người Biệt phái thời Chúa Giêsu không ngừng dòm ngó rình mò để bắt bẻ Ngài, nhất là những gì có liên quan đến việc tuân giữ ngày Hưu lễ như được ghi lại trong Tin Mừng hôm nay. Nhưng đối với Chúa Giêsu, linh hồn của lề luật chính là tình yêu thương. Tất cả vụ án của Chúa Giêsu đều bắt nguồn và xoay quanh những cuộc đối đầu về lề luật. Ðối đầu với những người Biệt phái cho đến cùng bằng cái chết trên Thập giá, Chúa Giêsu muốn chứng tỏ cho con người thấy rằng chỉ có một lề luật duy nhất để tuân giữ, đó là luật yêu thương, và chỉ có một giá trị cao cả nhất để sống và chết cho, đó là tình yêu.

Giáo dục con người sống cho ra người có nghĩa là giáo dục cho con người biết sống yêu thương. Thông minh đĩnh đạc, mà không có trái tim để yêu thương, thì đó là một tai họa cho bản thân cũng như cho xã hội. Có tất cả mà không có một trái tim để yêu thương, thì đó là nỗi bất hạnh lớn nhất đối với con người. Cách mạng mà không xây dựng trên tình yêu thương, thì đó chỉ là phá hoại. Ðạo đức mà không có yêu thương, thì chỉ là một trò lừa bịp.

Chúng ta hãy cảm tạ Chúa đã mạc khải cho chúng ta chân lý về con người. Mang lấy hình ảnh của Thiên Chúa Tình Yêu, xin cho chúng ta luôn ý thức rằng chúng ta chỉ đạt được định mệnh của mình bằng cuộc sống yêu thương mà thôi. Là môn đệ của Ðấng đã chết trên Thập giá để nêu gương yêu thương cho chúng ta, xin cho chúng ta ý thức rằng cốt lõi của đạo là giới răn yêu thương mà Ngài đã để lại cho chúng ta.

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

Suy Niệm 2: Quyết Tâm Chiến Thắng

Một trong những lực sĩ được chú ý trong kỳ thế vận hội dành cho người khuyết tật lần thứ 11 vào tháng 10 năm 2000 là anh Gabriel, vận động viên bơi lội duy nhất của Chilê. Sinh ra chỉ với một chân và lại là một chân không bình thường, còn hai cánh tay thì cụt gần sát nách, vậy mà trong hồ bơi anh sải người lướt tới trong nước chẳng khác nào bất cứ một vận động viên bình thường nào. Tuy không đạt được một huy chương nào nhưng ý chí phấn đấu của người lực sĩ tàn tật ba mươi hai tuổi này đã biến anh thành một ngôi sao sáng chiếm lĩnh được sự ngưỡng mộ, khâm phục và nhất là lòng quí mến của khán giả.

Trong một lá thư gởi cho khán giả, anh đã nói đến ý chí phấn đấu của mình. Sinh ra trong một gia đình đông con, lại tàn tật, Gabriel đã vượt qua được mọi giới hạn để thành đạt. Hiện nay, anh làm kế toán viên trong một công ty. Thời gian nhàn rỗi anh đi bơi. Qua anh, người ta thấy được chiến thắng của sự quyết tâm của con người. Nhưng Gabriel không chỉ nói đến chiến thắng của sự quyết tâm, anh còn đề cao sự nâng đỡ mà những người chung quanh dành cho anh. Trong lá thư gửi cho khán giả, anh viết như sau:

"Tôi đến đây với niềm hy vọng và với chút tham vọng là đạt được một huy chương. Tôi quả tình mong muốn điều đó. Nhưng tình yêu mà quí vị dành cho tôi làm cho tôi cũng cảm thấy như đã đạt được chiến thắng rồi. Tôi sẽ mãi mãi trân trọng tình yêu của quí vị. Nếu có một thiên đàng thì thiên đàng chính là nơi đây".

Tâm tình trên đây của một người lực sĩ khuyết tật cũng có thể là tâm tình của bất cứ một kẻ bị đẩy ra bên lề của xã hội hay một tâm tình đau khổ nào, khi họ gặp được một sự nâng đỡ, một lời nói an ủi, một cử chỉ thương mến, hay bất cứ một sự tôn trọng nào dành cho họ.

Trong Tin Mừng hôm nay, một lần nữa chúng ta bắt gặp cử chỉ quen thuộc của Chúa Giêsu. Ngài vượt qua mọi rào cản trong cuộc sống để tìm đến với những người tàn tật và bất cứ ai đang gặp đau khổ trong thể xác và tâm hồn. Những người biệt phái và luật sĩ đã đưa ra không biết bao nhiêu là hàng rào để đẩy những con người khốn khổ ra bên lề xã hội. Chúa Giêsu đến để qui tụ mọi người không trừ một ai. Ngài đạp đổ mọi thứ rào cản của cuộc sống. Có mặt trong những bữa tiệc linh đình của những người biệt phái giàu sang, Ngài cũng không ngần ngại ngồi đồng bàn với những người thu thuế, những người bị xã hội gán cho nhãn hiệu là hạng người bất chính, ngay cả những cô gái điếm.

Là trái tim của một Thiên Chúa nhân từ, là tình yêu nhập thể, Chúa Giêsu muốn thể hiện tình yêu với tất cả mọi người trong xã hội. Nhưng một cách đặc biệt, Ngài dành ưu ái cho những người khốn khổ, những người bị đẩy ra bên lề xã hội. Chữa bệnh cho một người bị mắc bệnh phù thủng trong nhà một người biệt phái và ngay trong ngày sabát, Chúa Giêsu muốn nhắn nhủ các biệt phái rằng chỉ có một luật duy nhất tóm kết mọi thứ Lề Luật, luật ấy chính là luật yêu thương.

Một lần nữa, Tin Mừng hôm nay nhắc nhở các tín hữu Kitô chúng ta về cốt lõi của đạo là Tình Thương. Trong bài ca bác ái được ghi lại trong đoạn 13 của thư thứ nhất gửi cho giáo đoàn Côrintô, thánh Phaolô đã khẳng định:

"Giá như tôi có đem hết gia tài mà bố thí hay nộp cả thân xác tôi để bị thiêu đốt mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi".

Ước gì bất cứ ai chúng ta gặp gỡ trong ngày hôm nay, nhất là những người cần sự giúp đỡ, đều tìm được thiên đàng của cuộc sống qua tình yêu của các tín hữu Kitô chúng ta.

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

Suy Niệm 3: Tình yêu trên mọi lề luật

Người lên tiếng nói với các nhà thông luật và những người Pha-ri-sêu: “Có được phép chữa bệnh ngày sa bát hay không? Nhưng họ làm thinh. Người đỡ lấy bệnh nhân, chữa khỏi và cho về.” (Lc. 14, 3-4)

Ngày Sa-bát là ngày người ta mời bạn bè thân quen đến dùng bữa. Đức Giêsu lợi dụng những dịp này để dạy tinh thần giữ luật Sa-bát cho những biệt phái và chuyên gia về luật. Trước sự khước từ trả lời câu hỏi của Đức Giêsu. Người đã chữa người phù thũng để cho các tiến sĩ luật hiểu rằng ngày Sa-bát được đặt ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày Sa-bát, Đức Giêsu nhiều lần chữa bệnh trong ngày Sa-bát. Bây giờ Người vẫn tự do chữa bệnh như vậy. Trên đường Người đi chịu khổ nạn để cho người ta thấy rõ rằng ngày Sa-bát phải lo cứu giúp mọi người khốn khổ.

Chữa bệnh là giải thoát

“Họ cố dò xét Người” để xem Người xưng mình là Con Thiên Chúa, có giữ đầy đủ luật thánh ngày Sa-bát không. Và kìa một người phù thũng, không được mời xuất hiện trước mặt Đức Giêsu. Do tình cờ hay cố ý? Đức Giêsu không sợ mắc bẫy. Trái lại, Người biết người ta coi bệnh tật là hậu quả của tội lỗi. Chữa khỏi bệnh chính là giải thoát khỏi bệnh và tội lỗi một trật và như vậy chữa bệnh là lý do rất chí lý để ca tụng và tôn thờ Thiên Chúa trong ngày Sa-bát.

Trước hàng rào con mắt rình dò Đức Giêsu không làm Người thất đảm, Người hỏi các nhà thông luật và những người biệt phái: “Có được phép chữa bệnh ngày Sa-bát hay không?”. Người biết rõ câu trả lời và sự im lặng của các người khách đó.

Theo thái độ của họ, Đức Giêsu tỏ cho họ thấy tình yêu và quyền phép của Thiên Chúa. “Người đỡ lấy bệnh nhân, chữa khỏi và cho về”. Một kinh nghiệm quý báu cho họ, nhưng họ vẫn cố chấp không hiểu gì về tình yêu và quyền phép Thiên Chúa.

Ngày Sa-bát là ngày giải thoát

Để mở trí thông minh cho họ, Đức Giêsu đã đặt một câu hỏi để làm cho họ phải suy nghĩ: “Ai trong các ông có đứa con trai hoặc có con bò sa xuống giếng, lại không kéo nó lên ngay, dù là ngày Sa-bát?”. Vậy ngày Sa-bát sao không được kéo người đau ra khỏi hố sâu của bệnh tật? Thiên Chúa yêu thương con cái của Ngài, và đặc biệt hơn nữa đối với người tội lỗi và đau khổ. Cho nên ngày của Chúa là ngày giải thoát họ khỏi mọi xiềng xích tội lỗi và bệnh tật, đó là ngày tốt nhất đối với Thiên Chúa và bày tỏ tình yêu của Ngài. Những ông khách đó đã không thể trả lời vì họ không nhận: Tình yêu trên mọi lề luật. Họ chỉ nhận luật lệ trên tình yêu và lòng thương xót.

RC

 

Suy niệm 4:

Sau khi dự nghi thức ở hội đường vào ngày sabát, 
người ta thường mời khách về nhà dùng bữa trưa. 
Bữa ăn này đã được chuẩn bị từ ngày hôm trước. 
Hôm nay Đức Giêsu lại được một người Pharisêu mời dùng bữa. 
Đây là lần thứ ba Ngài được mời ăn như thế (x. Lc 7, 36; 11, 37). 
Và đây cũng là lần thứ ba có sự căng thẳng 
vì Ngài chữa bệnh trong ngày sabát (x. Lc 6, 6; 13, 10). 
Những người Pharisêu trong bữa ăn hôm nay chăm chú nhìn Ngài (c. 1). 
Chúng ta không rõ người mắc bệnh phù thũng có là khách không. 
Hay phải chăng anh ấy là người không mời mà đến? 
Nếu là khách thì tại sao Đức Giêsu lại cho anh về sau khi chữa khỏi? 
Dù sao thì anh ấy cũng đang đứng trước mặt Đức Giêsu (c. 2). 
Ngài thấy những dấu hiệu của bệnh phù thũng nơi thân xác anh. 
Trên người anh có chỗ sưng lên vì nước bị ứ lại. 
Chính Đức Giêsu là người chủ động đặt vấn đề với người Pharisêu. 
“Có được phép chữa bệnh trong ngày sabát không ?” (c. 3). 
Hiển nhiên đối với họ, chỉ được phép chữa những bệnh nhân hấp hối. 
Anh bị phù thũng không nằm trong diện này. 
Vậy mà họ đã giữ thái độ thinh lặng trước câu hỏi đó (c. 4). 
Đức Giêsu đã chữa bệnh cho anh chỉ bằng một cử chỉ đỡ lấy. 
Không có lời nói nào kèm theo. 
Có lẽ anh đã đi về nhà, lòng vui sướng vì được khỏi bệnh. 
Đức Giêsu đã muốn biện minh cho hành vi chữa bệnh trong ngày sabát 
bằng một câu hỏi về cách ứng xử trong một trường hợp cụ thể (c. 5). 
“Giả như các ông có đứa con trai hoặc con bò sa xuống giếng, 
các ông lại không kéo nó lên ngay lập tức, dù là ngày sabát sao?” 
Họ đã không thể đưa ra câu trả lời, 
vì dĩ nhiên là phải kéo nó lên ngay, trước khi nó chết dưới giếng. 
Đối với Đức Giêsu, chữa bệnh đơn giản là kéo một người lên ngay. 
Dù Ngài không phủ nhận tầm quan trọng của việc giữ ngày sabát, 
nhưng ngày sabát lại không cấm làm điều phải làm, đó là chữa bệnh. 
Rõ ràng Đức Giêsu quan tâm đến nhu cầu của con người. 
Nếu để đến hôm sau mới chữa cho anh phù thũng thì cũng được. 
Nếu để bà còng lưng mười tám năm chịu thêm một ngày cũng không sao. 
Nhưng Ngài muốn giải phóng con người ngay lập tức, khi có thể được. 
Ngài muốn làm vơi nỗi đau kéo dài đã lâu của con người. 
Chính vì bà còng lưng đã mười tám năm đau khổ 
nên không cần kéo dài thêm, dù chỉ một ngày nữa. 
Luật lệ đạo đời nhằm phục vụ cho hạnh phúc thực sự của con người. 
Trong cuộc sống hôm nay, có nhiều việc cần làm ngay. 
Có bao mảnh đời sắp bị đổ vỡ, có những nguy cơ đe dọa nhân phẩm, 
có những người trẻ đứng trên bờ vực, có những thai nhi bị chối từ. 
Làm sao chúng ta không dửng dưng với những em nhỏ ở kề miệng giếng, 
và không quay lưng với những người đã sa xuống vực sâu?

Cầu nguyện:

Lạy Cha, xin cho con ý thức rằng 
tấm bánh để dành của con thuộc về người đói, 
chiếc áo nằm trong tủ thuộc về người trần trụi, 
tiền bạc con cất giấu thuộc về người thiếu thốn. 
Lạy Cha, có bao điều con giữ mà chẳng dùng, 
có bao điều con lãng phí 
bên cạnh những Ladarô túng quẫn, 
có bao điều con hưởng lợi 
dựa trên nỗi đau của người khác, 
có bao điều con định mua sắm dù chẳng có nhu cầu. 
Con hiểu rằng nguồn gốc sự bất công 
chẳng ở đâu xa. 
Nó nằm ngay nơi sự khép kín của lòng con. 
Con phải chịu trách nhiệm 
về cảnh nghèo trong xã hội. 
Lạy Cha chí nhân, 
vũ trụ, trái đất và tất cả tài nguyên của nó 
là quà tặng Cha cho mọi người có quyền hưởng. 
Cha để cho có sự chênh lệch, thiếu hụt, 
vì Cha muốn chúng con san sẻ cho nhau. 
Thế giới còn nhiều người đói nghèo 
là vì chúng con giữ quá điều cần giữ. 
Xin dạy chúng con biết cách đầu tư làm giàu, 
nhờ sống chia sẻ yêu thương. Amen. 

Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

 

 

 SUY NIỆM:

1. « Họ có dò xét Người »

Trong bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay có nhiều tương phản giữa thái độ của Đức Giê-su và thái độ của những người Pha-ri-sêu và các nhà Luật. Thật vậy, Đức Giê-su dùng bữa và người ta quan sát Ngài. Đó chính là tương phản thứ nhất : Đức Giê-su sinh động, những người khác bất động ; Đức Giê-su đến để chia sẻ bữa ăn thân hữu, những người khác lại muốn biến bữa ăn này thành một cái bẫy ! Và tất cả chúng ta đều hiểu các nhà thông Luật và những người Pha-ri-sêu đứng yên một chỗ để quan sát Đức Giê-su nhằm mục đích gì. Lời nguyện Thánh Vịnh, vốn là lời nguyện của mọi người nơi một người nhờ Đức Giê-su Ki-tô, đã biết đến thái độ này rồi :

Lạy Chúa, suốt ngày chúng phá rối việc con làm
và chỉ nghĩ đến chuyện hại con.
Chúng tụ tập, rình mò, theo dõi con từng bước
để tìm hại mạng con.
(Tv 56, 6-7)

Ở mọi nơi và mọi thời, đều có những người thích quan sát người khác, không chỉ trong các bữa ăn, nhưng suốt ngày, để lưu ý, nhắc nhở, sửa sai, và có khi để buộc tội người ta nữa. Điều này làm cho cuộc sống không thể sống nổi cả cho người bị quan sát lẫn cho người quan sát. Nhưng điều đáng buồn là người quan sát hay dò xét lại không nhận ra tình trạng khốn khổ này, và nhất là không nhận ra mình hành động theo Sự Dữ, giống như Sự Dữ !

2. « Họ làm thinh »

Và rồi có một người bị bệnh phù thủng hiện diện trước mặt Đức Giê-su ; Người hỏi họ :

« Có được phép chữa bệnh ngày sa-bát hay không? » Nhưng họ làm thinh ! (c. 3-4)

Đó chính là tương phản thứ hai, giữa lời nói và im lặng. Ngày sabát, có vị trí trung tâm trong Mười Điều Răn (x. Xh 20, 1-17; Đnl 5, 1-22), được lập ra để tưởng nhớ ơn được giải thoát khỏi kiếp nô lệ, từ đó một dân tộc được tự do và được khai sinh. Chính vì thế, người Do Thái không làm việc vào ngày sa-bát, bởi vì làm việc, xét ở bình diện nào đó, mang chiều kích lệ thuộc, thậm chí nô lệ. Tuy nhiên, trong thực tế, ngày sa-bát đã biến dạng thành những khoản luật chi li, phức tạp, và qua đó thành phương tiện để dò xét và lên án; thế mà, dò xét, gài bẫy và lên án chính là hành động đặc trưng của Sự Dữ (x. Mc 3, 1-6 và Rm 7, 7-13). Đức Giê-su sẽ bật lên chiều kích chết chóc này, vốn mang dáng vẻ bề ngoài hợp Luật, và trả lại chiều kích sự sống cho ngày sa-bát.

Ngày sa-bát cấm làm một số điều tốt, nhưng không thể cấm lòng ước ao thực hiện những việc này và cũng chẳng áp đặt được. Ngược lại, ngày sa-bát giả định lòng ước ao, và khi giả định, ngày sa-bát làm cho lòng ước ao trở nên sống động hơn. Như thế, khi không cho phép làm một số điều tốt, ngày sa-bát lại củng cố lòng ước ao hướng đến sự sống, và đồng thời làm bật ra lựa chọn ngược lại, nghĩa là lựa chọn sự chết.

Đức Giêsu chấn vấn họ về vấn đề mà họ rất có chuyên môn và thẩm quyền. Nhưng họ im lặng; sự thinh lặng mà bài Tin Mừng đặc biệt nhấn mạnh (x. c. 4 và 6). Điều này chứng tỏ câu hỏi của Đức Giêsu không thuộc bình diện kiến thức, nhưng đụng đến nơi sâu kín trong lòng, đến lựa chọn của con tim. Trong sự im lặng, chất chứa điều gì, nếu không phải là lựa chọn “không có, cũng chẳng không” (x. Mt 5, 37). Ngày sa-bát truyền lệnh không được làm điều tốt này (trong trường hợp của Tin Mừng hôm nay là không được chữa bệnh) hôm nay, chính là để con người quyết định lựa chọn sự sống hôm nay. Xét theo vẻ bề ngoài, im lặng có nghĩa là không quyết định, nhưng nó lại làm lộ ra lựa chọn của con tim: con tim lựa chọn lề luật và biến lề luật thành nơi ẩn nấp của ý muốn giết chết. Chính lựa chọn này, trong Tin Mừng theo thánh Mác-cô (Mc 3, 1-6) làm Đức Giêsu giận dữ; nhưng Ngài cũng đau khổ, nghĩa là thương cảm, vì con tim chai cứng của họ.

3. “Người đỡ lấy bệnh nhân, chữa khỏi”

Ngày sa-bát là trung tâm của Mười Điều Răn, và Mười Điều Răn là trung tâm của Lề Luật. Vì thế, luật sa-bát tượng trưng cho Lề Luật. Đức Giê-su không dời việc chữa lành vào ngày hôm sau và cũng không trình bày lập trường của mình về ngày sa-bát; Ngài đáp lại sự im lặng bằng quyền năng chữa lành. Lời giảng của Ngài về ngày sa-bát không phải là một giáo huấn lí thuyết, nhưng là hành động, hành động chữa lành. Hành động trong thinh lặng này loan báo sự thinh lặng của cuộc Thương Khó.
Hành động của Đức Giêsu làm rõ ước ao sự sống của Ngài đối với người bệnh. Ước ao trao ban sự sống vô hạn, nhưng lại được biểu lộ trong một hành vi hữu hạn. Khi làm thế, Ngài làm lộ ra ước ao sự chết đang hiện diện trước mặt Ngài, bởi vì Ngài không vi phạm luật sa-bát, khi chữa bệnh bằng quyền năng, chứ không phải bằng việc làm như thầy thuốc; do đó, lề luật không còn là chỗ ần nấp của họ. Chính những người rình rập Ngài chứng kiến vực thẳm của lựa chọn sự chết mở ra trong lòng họ. Để đáp lại, chứ không chống lại, ở đây Đức Giêsu còn làm hơn cả lời giảng “đừng chống lại kẻ dữ”, Ngài để mình bị chi phối bởi lựa chọn sự chết của kẻ dữ, vì đó là cách duy nhất để thuyết phục nó.
Quyền năng được bày tỏ ngang qua một hành vi chữa lành rất giới hạn, nhưng lại nói cho chúng ta quyền năng sự sống vô hạn, nói cho chúng ta lòng ước ao trao ban sự sống Thiên Chúa cho con người. Lời loan báo này được cảm nhận từ xa như là việc hủy bỏ ngày sa-bát, xét như là một giải pháp dành chỗ cho quyết định, nhưng lại có thể chứa chấp lựa chọn hướng tới sự chết (x. Mc 3, 1-6). Nếu con tim của những kẻ đối nghịch hướng tới cực điểm như thế, nghĩa là quyết định giết chết, chính là vì đã cảm nhận được nơi hành vi của Đức Giêsu lời loan báo về một ngày sa-bát được đẩy tới cùng đích, nhằm giải phóng hoàn toàn chân lý của ngày sa-bát, đó là ước ao sự sống nơi con người và trao ban sự sống nơi Thiên Chúa.

Ý nghĩa tận cùng của hành động mà Đức Giêsu thực hiện, đó là giờ đã đến, giờ quyết định để đưa ngày sa-bát và ngang qua ngày sa-bát, toàn bộ lề luật đến cùng đích, nghĩa là đến “sự hoàn tất” (x. Mt 5, 17), đó là ước ao và trao ban sự sống, sự sống dồi dào. Hành động chữa lành người bại tay diễn tả lựa chọn sự sống của Chúa ; hành động này loan báo Thập Giá, loan báo « lời Thập Giá » (1 Cr 1, 18).

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
Tin mới