11:45 ICT Chủ nhật, 26/05/2013

Trang nhất » Tin Tức » Chuyên đề

Sứ Vụ Truyền Giáo (6): Diễn từ của Phaolô tại Athènes (Lm GB Hoàng Văn Khanh)

Chủ nhật - 11/03/2012 15:34

 

SỨ VỤ TRUYỀN GIÁO:       CÔNG VỤ TÔNG ĐỒ
 
 
CHƯƠNG VI
DIỄN TỪ CỦA PHAOLÔ TẠI ATHÈNES
 (Cv 17, 22-31)
 

Thật thú vị khi khám phá thánh sử Luca đã đặt diễn văn khai mạc sứ vụ truyền giáo của Phaolô tại hội đường Antiokia de Pisidie cho người Do Thái (Cv 13,16-41), diễn văn kết thúc tại Milêtô cho các vị hữu trách giáo đoàn Ephêsô, giáo đoàn cuối cùng và quan trọng nhất mà Phaolô đã thiết lập (Cv 20,18-35) và giữa hai diễn văn này là diễn văn tại Athènes, thành phố biểu tượng thế giới văn minh Hy Lạp, như gặp gỡ giữa Kitô giáo và nền văn hóa Hy Lạp, giữa Giáo hội và thế giới. Ơû đây ta chỉ tìm hiểu cách rất tổng quát diễn từ quan trọng này để có thể rút ra ít bài học thực tiễn cho công việc truyền giáo.
 
1. Kết cấu và nội dung


 
a. Mở đầu và kết luận
 
Nhập đề (c. 22-23)
 
Diễn từ mở đầu bằng một lời khen xã giao dân Athènes "sùng đạo" (deisidaimonia), cũng là lời mỉa mai sự mê tín thờ ngẫu tượng của dân (c.16), cụ thể là bàn thờ kính thần vô danh (c. 23), để từ đó Phaolô xác định : "Đấng quí vị thờ mà không biết, tôi loan báo cho quí vị" (23b). Dẫn nhập như thế quả là tài tình và hùng biện.  
 
Kết luận (c. 30 -31).
 
c. 30 và c. 23b đóng khung diễn từ (vô tri - sự loan báo)  
 
b. Quảng diễn 
 
c.24 - 25: Thiên Chúa không ngự trong Đền thờ do tay người phàm làm ra, Người cũng không cần bàn tay con người phục vụ. Cả hai câu phủ định song song và bổ túc cho nhau: Chúa không cần Đền thờ cũng chẳng màng của lễ hiến dâng.
 
c.26 - 29: c. 26 bất đầu với động từ epoièsen lặp lại động từ poièsas của câu trên (c.24). Sau khi nói Thiên Chúa tạo dựng thế giới (c.24- 25), diễn từ nói đến việc tạo thành con người để làm đầy trời đất (c 26) và để tìm kiếm Chúa (c.27). Cấu trúc c.24 - 29 thật tuyệt:
 
Phần 1 gồm 4 mệnh đề phụ và 2 mệnh đề chính phủ định.
 
Phần 2 gồm 2 mệnh đề chính (I khẳng định và 1 phủ định) và một loạt các mệnh đề phụ. 
Cấu trúc làm nổi bật 3 điều then chốt của diễn từ: hai điều đầu đã được nêu trong c. 26-29 và điều thứ ba là đỉnh cao của phần hai: "Người không giống với những ngẫu tượng bằng vàng, bạc, đá do con người tạo ra".
 
2. Kitô giáo và nền văn minh Hy Lạp
 
Ngay từ những năm đầu, Kitô giáo đã chuyển đổi từ môi trường văn hóa này đến môi trường văn hóa khác. Sự thay đổi đó tạo nên những chống đối, những thích nghi, một quá trình hội nhập. Trong nổ lực đưa sứ điệp Tin mừng sát gần các tư tưởng nhân loại, diễn từ của Phaolô tại Nhã Điển có thể nói đi bước tiên phong mở đường cho quá trình Hy hóa mà các nhà hộ giáo sẽ thực hiện trong thế kỷ II. 
 
E. Norden (1913) và M. Dibellius (1939) là hai tác giả nghiên cứu Công Vụ Tông Đồ, không chấp nhận diễn từ Athènes là nơi gặp gỡ thực sự của hai nền văn hóa Kinh Thánh và Hy Lạp. Đại khái họ đưa ra những nhận định sau đây :
 
- Một trong hai sẽ chiếm ưu thế  
 
- Diễn từ Athènes là một nỗ lực "không thành công" trong việc thích nghi sứ điệp Kitô giáo vào nền văn minh Hy Lạp; nói rõ hơn là một thất bại trong việc hội nhập đức tin vào văn hóa Hy Lạp. Chính Phao lô đã tự đánh giá mình "đi lạc đường" trong 1Cr2,l-5: "Khi đến với anh em, tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà loan báo màu nhiệm của Thiên Chúa".
 
- Diễn từ nhắc đến một số truyền thống Hy Lạp, nhưng để phê bình hoặc kết án những thực hành tôn giáo nghịch chân lý. Diễn từ đặt mình trong truyền thống Thánh Kinh để phê bình những sai lạc cũng như những giá trị của triết học Hy Lạp.
 
- Diễn từ không coi các yếu tố triết lý và khôn ngoan Hy Lạp như chuẩn bị cho Tin Mừng, nhưng chỉ dùng chúng làm khởi điểm cho diễn từ.
 
- Lý trí con người có khả năng nhận biết Thiên Chúa, nhưng chỉ đóng vai trò chuẩn bị. Chỉ có mạc khải mới đáp ứng lòng khát vọng của con người. 
 
Ta nghĩ gì trước những nhận định ấy?
 
Phải nhận rằng diễn từ sử dụng nhiều yếu tố Kinh Thánh và triết học. Vấn đề là làm sao để có thể xác lập được mối tương quan giữa các yếu tố đó. Không thể chấp nhận ý kiến cho rằng đây là một thất bại. Sau diễn từ vẫn có những người trở lại, đặc biệt có ông trưởng hội đồng Arêopage và người phụ nữ tên Đamari (Cv 17,34). Nên nhớ rằng khi Đức Giêsu khai mạc sứ vụ tại hội đường Nazareth (Lc 4,16-30), Ngài còn gặp thảm bại lớn hơn đến nỗi người đồng hương tìm cách giết Ngài và người bà con thân tộc cũng chối bỏ Ngài. Nhưng có phải coi đó là một thất bại? 
 
Vì thế, cần đánh giá trung thực để nhận ra rằng diễn văn tại Athènes được trình bày như một kiểu mẫu cho việc rao giảng cho dân ngoại, nhất là trên phương diện hội nhập văn hóa và đối thoại. 
 
Để thấy rõ tầm quan trọng của diễn từ, ta sẽ triển khai ba mệnh đề chính trong diễn từ:
"Thiên Chúa không ngự trị trong Đền thờ do tay con người làm ra" (c. 24).
 
"Người không cần bàn tay phục vụ của con người" (c. 25).
 
"Người không giống các vật bằng vàng, bạc, đá do con người tạc nên" (c.29).
 
Đúng là diễn văn đã đặt mình trong truyền thống Kinh Thánh để phê bình các tôn giáo ngoại và kết án việc thờ các ngẫu tượng. Nhưng còn có gì khác ngoài  sự phê bình và kết án kia không? 
 
a. Thiên Chúa đã phục sinh Đức Giêsu. 
 
Diễn từ không nói đến đích danh Đức Giêsu (cũng như trong diễn từ của Stêphanô: 7, l-53) mà chỉ nói trong câu kết luận rằng Thiên Chúa sắp thực hiện cuộc phán xét bởi một người (17,31). Để bảo đảm cho vai trò thẩm phán tối cao mà Thiên Chúa dành cho Đức Giêsu, diễn từ khẳng định về sự phục sinh của Ngài (giống với diễn từ của Phêrô cho dân ngoại). Hầu hết các diễn từ cho dân ngoại đều kết thúc bằng sự phán xét phổ quát của Đức Giêsu (l0, 42; 2,38-40; 3, 23.26; 13, 38-41; lTx l0), với mục đích kêu mời các thính giả đón nhận ơn tha thứ bằng đức tin vào Đức Giêsu và lòng hoán cải.
 
Khi Phaolô đề cập đến sự phục sinh, các thính giả phản ứng. Nhưng đó lại là trọng tâm sứ điệp. Niềm tin vào sự phục sinh giả thiết tin vào Thiên Chúa, Đấng đã phục sinh Đức Giêsu. Do đó diễn từ triển khai nhiều về Thiên Chúa. Nhưng điểm tới của diễn từ lại chính là sự Phục sinh. Điều này đưa ta đến kết luận: sứ điệp Kitô giáo hệ tại niềm tin vào Thiên Chúa và sự Phục sinh của Đức Kitô. Sứ mệnh truyền giáo chính là loan báo sự phục sinh của Đức Kitô. Thánh Phaolô đã triển khai lòng tin vào Thiên Chúa thế nào?
 
b. Thiên Chúa là Đấng sáng tạo
 
Thiên Chúa mà diễn văn loan báo là vị Thiên Chúa của Kinh Thánh, Đấng tạo thành vũ trụ và tất cả những gì trong vũ trụ (Knl-2). Phao lô dùng  Ở đây từ "Kosmos "của văn hóa Hy Lạp. Trong tư tưởng Hy Lạp, kosmos chỉ toàn thể thực tại. Kinh Thánh lại nói kosmos là cái “chứa đựng“    (le contenant), nên Phao lô thêm “và tất cả những gì trong đó“ (le contenu). Ở đây, diễn từ dùng từ ngữ Hy Lạp, nhưng tư tưởng lại của Kinh Thánh (mẫu mực của hội nhập văn hóa. V/d ta có thể dùng từ "trời "trong văn hóa dân gian của Việt nam để trình bày về Đấng Thiên Chúa). Thiên Chúa mà diễn văn loan báo là Đấng sáng tạo mà những trang đầu sách Khởi nguyên đã nói đến. Diễn văn không nói gì về việc Thiên Chúa chọn gọi một dân riêng (khác với các diễn văn cho người Do Thái:14,15-17; Stêphanô 7, 2-8). Tại sao? Vì diễn văn muốn bày tỏ ơn cứu độ phổ quát của Thiên Chúa, Đấng sáng tạo. Không nói đến một dân được tuyển chọn, nhưng diễn văn lại nhấn mạnh tương quan giữa Thiên  Chúa và tất cả (24-25.30-31): Người Thiên Chúa của mọi người, mọi sự, mọi dân tộc ở mọi nơi. Một vấn đề được đặt ra cho ta: trong giáo lý, ta nên nói về Thiên Chúa sáng tạo trước hay Thiên Chúa cứu độ trước? Đâu là tương quan giữa sáng tạo và cứu độ? 
 
c. Con đường đưa tới Thiên Chúa 
 
Nếu người ta không biết đến mạc khải Kinh Thánh là mạc khải gắn liền với lịch sử dân Israel, người ta có thể đạt tới Thiên Chúa bằng con đường nào? Bằng lý trí tự nhiên? bằng các tôn giáo? Hay bằng một con đường nào khác? 
 
Con đường của lý trí tự nhiên.
 
Diễn từ nói đến "sự nhận biết". Sự nhận biết Thiên Chúa hệ tại những gì? Động từ "biết "mà các triết gia Athènes nói ở c.19 và c 20 chỉ là một kiến thức (savoir). Diễn từ cho thấy lúc đầu biết chỉ là một savoir đơn sơ, nhưng sau đó diễn từ nhấn mạnh đến sự vô tri, ngược lại với nhận biết, đáng lên án và lập tức phải hoán cải. Như thế, vượt lên trên sự biết tri thức khô khan của các triết gia, "sự nhận biết" của Kinh Thánh gắn liền với sự gắn kết, sự tin nhận, sự yêu thương hết mình bằng dấn cả sinh mệnh cho niềm tin và cho người mình mến yêu. 
 
Diễn từ nhấn mạnh đến việc loan báo một Tin Mừng (euangelizômetha: 14,15; euengèlizeto: rao giảng chứ không phải một chỉ dạy triết lý. Từ những dữ kiện tôn giáo và xã hội, những yếu tố triết học phái Khắc kỷ (stoicisme), diễn từ soi rọi tất cả vào Kinh Thánh để đưa ra luận chứng hùng hồn chối bỏ Thiên Chúa  không ngự trong Đền thờ do tay con người làm, không để bàn tay con người phục vụ, không giống các ngẫu tượng bằng vàng, bạc, và gỗ đá.
 
Nhìn chung, phần luận chứng này có nhiều điểm giống diễn từ tại Lystra (14,15-17), trong đó Phao lô và Barnaba kêu gọi kê ngoại từ bỏ thờ ngẫu tượng, hoán cải trở về với Chúa là Đấng đã dựng nên trời đất, biển khơi và những gì trong đó. Thiên Chúa không ngừng làm chứng về mình qua dòng chảy của vũ trụ (mạc khải qua tạo thành: Rm 1, 19). Do đó, người ta đã đi theo đường lối riêng của mình mà tìm kiếm Chúa. Các triết lý cũng dựa trên chứng tá vũ trụ để tìm câu giải đáp về Thiên Chúa. Họ đã lầm đường và sai lạc đến chỗ tôn thờ các ngẫu tượng (Rm 1, 20; cf. Kn 13). Bây giờ là lúc Thiên Chúa đặt con người trong hoàn cảnh mới, cần từ bỏ ngẫu tượng, trở về với Thiên Chúa. Nói cho cùng, diễn từ không chấp nhận con đường lý trí có thể đưa con người tới nhận biết Thiên Chúa, vì đưa tới sự vô tri đáng qui trách.
 
Con đường tôn giáo
 
Diễn từ hoàn toàn phê phán những thực hành tôn giáo ngoại giáo. Việc thờ các ngẫu tượng làm chứng sự vô tri. Cần lập tức hoán cải, nếu không sẽ bị phán xét. Vấn đề được đặt ra: có ơn cứu độ trong các tôn giáo ngoài Kitô giáo không? Vấn đề đối thoại liên tôn được đặt ra thế nào? Thông điệp "Sứ vụ Đấng Cứu độ"của Đức Jean Paul II và "Ecclesia in Asia", cũng như Tuyên ngôn "Dominus Jesus" giúp trả lời vấn đề. 
 
Hành trình tìm kiếm Chúa.
 
Diễn từ nói đến mục đích kép của việc tạo dựng: sống đầy mặt đất (c. 26) và tìm kiếm Thiên Chúa (c.27). Tìm kiếm có thể đưa đến một khám phá, tức là có thể tìm thấy Chúa, dù bằng những bước chập chững mon men! Tuy vậy, đã có những tìm kiếm sai lạc. Kn 13-15 phân biệt 3 loại sai lạc: những kẻ tôn thờ quyền lực thiên nhiên; những người thờ ngẫu tượng bằng vàng, bạc, gỗ, đá; cuối cùng hạng điên khùng thờ súc vật. Trong hạng người thứ nhất ám chỉ các triết gia Khắc kỷ: họ lầm lạc khi tìm Thiên Chúa  bằng lý trí thuần túy. Diễn từ không chấp nhận lý trí có khả năng tìm Chúa. Thiên Chúa không xa ta (c. 27-28), lại nữa ta thuộc nòi giống thần linh (c. 28-29; cf. thuyết Khắc kỷ), vậy mà bằng con đường lý trí, họ vẫn không thể tìm thấy để cuối cùng phải rơi vào sự vô tri đáng quy trách. Bằng chứng là họ tôn thờ ngẫu tượng. Diễn từ kết án không nhân nhượng những việc thực hành tôn giáo của dân ngoại: đó là một sỉ nhục Thiên Chúa, vì thế phải hoán cải.
 
Thánh Phaolô, qua diễn từ, không mong đưa thính giả đạt tới Chúa bằng hệ thống triết học, cũng không tìm cách làm sáng tỏ giáo lý độc thần bằng phương pháp hệ thống đa thần; Ngài chỉ muốn loan báo cho dân thành Nhã Điển một vị Thiên Chúa  mà họ không biết bằng cách vay mượn những cách diễn tả của triết phái Khắc kỷ làm chứng họ tìm kiếm Thiên Chúa. Cuối cùng, chỉ có mạc khải mới giúp người ta chờ đợi điều mà sứ điệp Thiên Chúa  muốn mang đến, đồng thời cần phải có tâm hồn sẵn sàng để có thể dễ dàng lĩnh hội sứ điệp. Ơû đây ta nhận thấy một phối hợp hài hòa giữa K. Barth và K. Rahner, thể hiện qua lập trường của Hans U.Von Balthasar. 
 
Kết luận
 
Sứ mệnh truyền giáo là "vừa cho vừa nhận". Chính nhờ vào việc người ngoại gia nhập đạo và những vấn nạn họ đặt ra, mà các kitô hữu tiên khởi đã có thể làm một bước tiến khả quan trong sự hiểu biết mầu nhiệm Đức Kitô và Giáo hội. Diễn từ tại Athènes là biểu tượng cho cuộc gặp gỡ với một thế giới mới mà Giáo hội cần dấn thân vào, đồng thời trình bày một thứ ngôn ngữ mới do sứ mệnh đòi buộc; sau cùng bài diễn từ còn cống hiến một điển hình về đối thoại giữa Giáo hội  và thế giới. 
 

Lm GB Hoàng Văn Khanh

 

Tác giả bài viết: Lm GB Hoàng Văn Khanh

Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn