Sứ mạng truyền giáo của linh mục

Sứ mạng truyền giáo của linh mục
Trong đề tài I này, vấn đề chính yếu là tìm ra mối tương quan giữa linh mục và công việc truyền giáo. Nhưng việc đầu tiên cần phải làm là tìm hiểu rõ ràng ý nghĩa và mục đích của việc truyền giáo.

 

SỨ MẠNG TRUYỀN GIÁO CỦA LINH MỤC

Đức Ông Giuse Đinh Đức Đạo

 

Trọng kính

Quí Đức Cha và Cha Tổng Đại Diện giáo phận Phan Thiết,

 

Con xin hết lòng cám ơn Đức Cha Giuse, Giám Mục Giáo phận Phan Thiết đã có nhã ý cho con đến chia sẻ trong Khóa Thường Huấn dành cho các linh mục trẻ (1 – 5 năm linh mục) của các giáo phận Phan Thiết, Nha Trang, Đà Lạt và Bà Rịa).

 

Kính thưa Quí Cha, được gọi là “linh mục trẻ”, được gặp gỡ và chia sẻ với các cha là một niềm vui và khích lệ. Vì, một đàng, tuổi trẻ nói lên sức sống, lòng hăng say nhiệt thành và sự quảng đại. Như vậy, gặp các cha là được lây sức sống và lòng hăng say của các cha. Đàng khác, trong số các cha, có một số cha Đà Lạt, thuộc khóa IX, đã tu học ở Đại chủng viện Xuân Lộc và trong hai năm, tôi đã có dịp được chia sẻ hành trình ơn gọi và lòng thao thức tông đồ và cũng có dịp được “dạy dỗ”, nhưng mà “dạy” thì ít, “dỗ” thì nhiều. Vì vậy, tôi cảm thấy gần gũi nhiều với các cha như thể trong gia đình và bây giờ trong tâm tình thân thiết gia đình, tôi xin chia sẻ với các cha ít điều theo đề tài đã được ấn định.

 

Hai đề tài tôi được chỉ định chia sẻ:

 

1. Linh mục và sứ vụ loan báo Tin Mừng

 

2. Truyền giáo cho xã hội hôm nay

 

Để cho ý tưởng được rõ ràng và cách nói được thống nhất theo chủ đề chung, tôi xin được thay đổi một chút tựa đề I:  thay vì “Linh mục và sứ vụ loan báo Tin Mừng”, chúng ta đặt lại là “Linh mục và sứ mệnh truyền giáo”.

 

LINH MỤC VÀ SỨ MỆNH TRUYỀN GIÁO

 

I.   Ý nghĩa và mục đích của việc truyền giáo

 

Trong đề tài I này, vấn đề chính yếu là tìm ra mối tương quan giữa linh mục và công việc truyền giáo. Nhưng việc đầu tiên cần phải làm là tìm hiểu rõ ràng ý nghĩa và mục đích của việc truyền giáo.

 

1. Nhu cầu xác định lại ý nghĩa và mục đích của công việc truyền giáo

 

Sau công đồng Vaticanô II, có rất nhiều suy tư về công việc truyền giáo. Điều này nói lên sự quan trọng của việc truyền giáo, được sự quan tâm của nhiều người và sự phong phú của các suy tư, nhưng đồng thời cũng gây ra những khó khăn lớn lao cho công việc truyền giáo, vì nhiều người nói đến việc truyền giáo, nhưng mỗi người lại gán cho việc truyền giáo một ý nghĩa khác nhau hoặc đồng hóa việc truyền giáo với một vài khía cạnh nào đó của việc truyền giáo. Chẳng hạn, khi nói đến truyền giáo, người ta thường hay nói là “đi đến vùng sâu, vùng sa” hoặc “đi lên miền cao nguyên, vùng anh em dân tộc”. Vô tình người ta đã đồng hóa việc truyền giáo với việc phục vụ dân nghèo, hay việc truyền giáo bị đồng hóa với vấn đề sắc tộc. Do đó, sự phong phú lại trở thành sự hỗn độn hay sự nghèo nàn. Chính vì lý do đó, cần phải xác định cho rõ ý nghĩa và mục đích của công việc truyền giáo.

 

Đấy cũng là một trong những mục đích của thông điệp “Sứ mệnh Đấng Cứu Thế” được công bố 25 năm sau công đồng Vaticano II.

 

2.Ý nghĩa và mục đích của công việc truyền giáo theo Huấn Quyền của Giáo Hội

 

a) Sắc lệnh “Ad gentes” (Đến muôn dân): “Những công tác chính yếu qua đó các sứ giả Tin Mừng đi khắp nơi trên thế giới để rao giảng Tin Mừng và thiết lập Giáo Hội giữa các dân tộc và các nhóm người chưa tin vào Chúa Kitô, thường được gọi là công tác truyền giáo và hơn nữa được thực hiện tại những miền đất được Tòa Thánh công nhận” (AG 6).

 

Theo sắc lệnh “Ad Gentes”, công việc truyền giáo là công tác tông đồ đối với anh chị em chưa biết Chúa Giêsu, mà chúng ta dùng từ “lương dân”. Vì vậy, tiêu chuẩn để xác định việc truyền giáo không phải là tiêu chuẩn kinh tế (người nghèo), xã hội (người bị bỏ rơi, bị áp bức), chủng tộc (sắc dân), nhưng là tiêu chuẩn Đức Tin, có nghĩa là đã hay chưa tin Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ.

 

Mục đích cụ thể là rao giảng và làm chứng cho Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài để người ta biết và tin theo Chúa Giêsu và sau đó, qui tụ tất cả thành những cộng đoàn của những người tin vào Chúa. Đó cũng chính là thiết lập các giáo hội địa phương và củng cố để trở thành những giáo hội địa phương trưởng thành.

 

Trong Công Đồng Vaticanô II, một số Giám Mục Âu Châu đề nghị coi những việc tông đồ giữa các giáo hữu nay đã bỏ đạo cũng là việc truyền giáo, nhưng Công Đồng đã không chấp nhận đề nghị này vì không nằm trong tiêu chuẩn chưa biết và chưa tin Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ. Tuy nhiên, vấn đề các giáo hữu nay bỏ đạo đã bị bỏ lửng, không được Công Đồng giải quyết. Ngoài ra, trong giáo huấn của Công Đồng, người ta cũng không thấy rõ ràng mối liên hệ giữa công tác truyền giáo và các công tác tông đồ khác của Giáo Hội Chúng ta phải chờ 25 năm sau, thông điệp “Redemptoris Missio” (Sứ mệnh Đấng Cứu Thế) mới trả lời điều này.

 

b)Thông điệp “Redemptoris Missio” (Sứ mệnh Đấng Cứu Thế) (RMi 33-34, 37)

 

Thông điệp “Redemptoris Missio” (Sứ mệnh Đấng Cứu Thế), trong số 33-34 và 37, không chỉ xác định ý nghĩa của việc truyền giáo mà còn đặt nó trong mối tương quan với các công tác tông đồ khác của Giáo Hội.

 

Theo Thông điệp “Redemptoris Missio”, Giáo Hội đã nhận lãnh từ Chúa Giêsu sứ mệnh tiếp tục rao giảng cho mọi người những gì Chúa đã truyền dạy và dẫn dắt tất cả trở thành môn đệ của Chúa, rửa tội họ “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19-20). Đây là sứ mệnh duy nhất của Giáo Hội và phải được thực hiện mọi nơi mọi đời. Tuy nhiên, tùy vào đối tượng, sứ mệnh này được thể hiện qua những công tác cụ thể và mỗi công tác có mục đích và đặc tính riêng của nó.

 

Thông điệp “Sứ mệnh Đấng Cứu Thế” phân chia đối tượng của sứ mệnh của Giáo Hội thành 4 nhóm người. Riêng nhóm thứ hai được chia thành 2 tiểu nhóm. Do đó, sứ mệnh của Giáo Hội được thực hiện qua 5 công tác khác nhau. Chúng ta có thể nhìn thấy điều này rõ ràng qua mô hình dưới đây.

 

3.  Tình hình truyền giáo trên thế giới

a) Thống kê truyền giáo

Dân số

2000

giữa 2012

2025

2000 - 2025

Dân số toàn cầu

6,085,572,000

7,052,132,000

8,002,979,000

1,917,407,000

Dân số kitô

2,013,132,000

2,325,507,000

2,727,153,000

714,021,000

Dân số không kitô

4,072,440,000

4,726,625,000

5,275,826,000

1,203,386,000

Công giáo

1,052,924,000

1,187,637,000

1,323,199,000

270,275,000

Hồi giáo

1,226,046,000

1,583,783,000

1,951,389,000

725,343,000

Ấn giáo

798,610,000

969,602,000

1,108,202,000

309 592,000

Không tôn giáo

764,483,000

661,288,000

636,826,000

-127,657,000

Tôn giáo trung quốc

367,967,000

467,216,000

479,302,000

111,335,000

Phật giáo

366,625,000

473,818,000

546,590,000

179,965,000

Đạo truyền thống

241,554,000

264,552,000

256,530,000

14,976,000

Vô thần

145,375,000

136,642,000

132,342,000

-13,033,000

Tôn giáo mới

101,044,000

63,220,000

64,108,000

-36,936,000

Đạo Sikh[1]

20,484,000

24,585,000

29,326,000

8,842,000

Do thái giáo

14,035,000

14,921,000

16,004,000

1,969,000

 

International Bulletin of Missionary Research (David B. Barrett & Todd M. Johnson),

January 2012  vol. 36, n. 1, p. 29.

 

BẢNG THỐNG KÊ MỚI NHẤT VỀ TÌNH TRẠNG GIÁO HỘI

(31/12/2011)

 

Bản thống kê mới nhất của Niên Giám Thống Kể của Giáo Hội (Annuarium Statisticum Ecclesiae) công bố cuối năm 2011.  Con số trong dấu ngoặc nói lên sự khác biệt đối với năm trước. Dấu (+) = tăng; dấu (-) = giảm.

 

I.DÂN SỐ THẾ GIỚI – TÍN HỮU CÔNG GIÁO

 

CHÂU LỤC

DÂN SỐ

CÔNG GIÁO

TỶ LỆ

CHÂU PHI

993.400.000

(+ 19.983.000)

179.480.000

(+ 6.530.000)

 18,07 %

(+ 0,3)

CHÂU MỸ

921.824.000

(+ 8.744.000)

582.012.000

(+ 5.863.000)

63,14 %

(+ 0,04)

CHÂU Á

4.115.586.000

(+ 47.702.000)

125.860.000

(+ 1.814.000)

3,06 %

(+ 0,01)

CHÂU ÂU

710.959.000

(+ 1.850.000)

284.030.000

(+ 597.000)

 39,95 %

(- 0,02)

CHÂU ĐẠI DƯƠNG

35.830.000

(+ 967.000)

9.283.000

(+ 147.000)

 25,93 %

(- 0,3 )

TC

6.777.599.000

(+ 79.246.000)

1.180.665.000

(+ 14.951.000)

 17,42%

(+ 0,02)

 

 

II. DÂN SỐ/TÍN HỮU CÔNG GIÁO CHO MỘT LINH MỤC

 

CHÂU LỤC

DÂN SỐ/LINH MỤC

TÍN HỮU CG/LINH MỤC

CHÂU PHI

27.022 (- 313)

4.882 (+ 25)

CHÂU MỸ

7.521 (+ 70)

4.749 (+ 32)

CHÂU Á

49.402 (- 628)

2.270 (- 30)

CHÂU ÂU

3.721 (+ 42)

1.487 (+ 16)

CHÂU ĐẠI DƯƠNG

7.521 (+ 181)

1.948 (+ 25)

TC

13.154 (+ 139)

2.876 (+ 27)

 

 

III. GIÁO PHẬN - ĐIỂM TRUYỀN GIÁO   

 

CHÂU LỤC

GIÁO PHẬN

ĐIỂM TRUYỀN GIÁO

CÓ LINH MỤC

ĐIỂM TRUYỀN GIÁO

KHÔNG CÓ LINH MỤC

CHÂU PHI

521 (+ 3)

564 (+ 280)

73.695 (+ 2.143)

CHÂU MỸ

1.078 (+ 2)

213  (+ 94)

14.336  (+ 2.131)

CHÂU Á

530 (+ 6)

997 (- 69)

42.042 (+ 937)

CHÂU ÂU

748 (=)

37 (- 110)

79 (- 30)

CHÂU ĐẠI DƯƠNG

79 (=)

39 (- 10)

796 (+ 278)

TC

2.956 (+ 11)

1.850 (+ 185)

130.948 (+ 5.459)

 

 

IV. GIÁM MỤC

 

CHÂU LỤC

TC

GIÁM MỤC

GIÁM MỤC

TRIỀU  

GIÁM MỤC

DÒNG

CHÂU PHI

681 (+ 12)

490 (+ 2)

191 (+ 10)

CHÂU MỸ

1.899 (+ 23)

1.329 (+ 19)

570 (+ 4)

CHÂU Á

746 (+ 6)

548 (+ 1)

198 (+ 5)

CHÂU ÂU

1.607 (+ 20)

1.373 (+ 17)

234 (+ 3)

CHÂU ĐẠI DƯƠNG

132 (+ 2)

88 (+ 3)

44 (- 1)

TC

5.065 (+ 63)

3.828 (+ 42)

1.237 (+ 21)

 

 

V. LINH MỤC

 

CHÂU LỤC

TC

LINH MỤC

LINH MỤC

TRIỀU

LINH MỤC

 DÒNG

CHÂU PHI

36.766 (+ 1.155)

24.863 (+ 888)

11.903 (+ 267)

CHÂU MỸ

122.567 (+ 413)

81.411 (+ 946)

41.156 (- 533)

CHÂU Á

55.441 (+ 1.519)

32.517 (+ 780)

22.924 (+ 739)

CHÂU ÂU

191.055 (- 1.674)

133.997 (- 1.105)

57.058 (- 569)

CHÂU ĐẠI DƯƠNG

4.764 (+ 14)

2.754 (+ 26)

2.010 (- 12)

TC

410.593 (+ 1.427)

275.542 (+ 1.535)

135.051 (- 108)

 

 VI. PHÓ TẾ VĨNH VIỄN

 

CHÂU LỤC

TC

PHÓ TẾ VĨNH VIỄN

PHÓ TẾ VĨNH VIỄN

TRIỀU

PHÓ TẾ VĨNH VIỄN

DÒNG

CHÂU PHI

406  (- 6)

384 (- 2)

22 (- 4)

CHÂU MỸ

24.582 (+ 552)

24.372 (+ 623)

210 (- 71)

CHÂU Á

166 (+ 23)

130 (+ 15)

36 (+ 8)

CHÂU ÂU

12.655 (+ 326)

12.362 (+ 359)

293 (- 33)

CHÂU ĐẠI DƯƠNG

346 (+ 57)

344 (+ 58)

2 (- 1)

TC

38.155 (+ 952)

37.592 (+ 1.053)

563 (- 101)

 

 

VII. TU SĨ NAM NỮ

 

CHÂU LỤC

THẦY TRỢ SĨ

NỮ TU

CHÂU PHI

8.310 (+ 294)

64.980 (+ 1.249)

CHÂU MỸ

16.792 (- 195)

198.376 (- 4.681)

CHÂU Á

10.050 (- 60)

162.261 (+ 1.399)

CHÂU ÂU

17.652 (- 445)

294.503 (- 7.468)

CHÂU ĐẠI DƯƠNG

1.425 (- 6)

9.251 (- 196)

TC

54.229 (- 412)

729.371 (- 9.697)

 

VIII. GIÁO DÂN TRUYỀN GIÁO VÀ GIÁO LÝ VIÊN

 

CHÂU LỤC

Giáo Dân Truyền Giáo

Giáo Lý Viên

CHÂU PHI

5.237 (+ 736)

426.788 (+ 19.538)

CHÂU MỸ

286.063 (- 1.531)

1.842.449 (+ 36.319)

CHÂU Á

23.545 (+ 3.774)

314.907 (+ 13.365)

CHÂU ÂU

5.091 (+ 428)

551.451 (- 994)

CHÂU ĐẠI DƯƠNG

290 (- 17)

15.482 (+ 287)

TC

320.226 (+ 3.390)

3.151.077 (+ 68.515)

 

 

 

IX. ĐẠI CHỦNG SINH

 

CHÂU LỤC

TC

Đại Chủng Sinh

Đại Chủng Sinh

Giáo phận

Đại Chủng Sinh

Dòng

CHÂU PHI

26.172 (+ 565)

17.549 (+ 425)

8.623 (+ 140)

CHÂU MỸ

36.442 (- 60)

24.214 (- 353)

12.228 (+ 293)

CHÂU Á

33.458 (+ 781)

15.499 (+ 121)

17.959 (+ 660)

CHÂU ÂU

20.846 (- 347)

13.263 (- 136)

7.583 (- 211)

CHÂU ĐẠI DƯƠNG

1.060 (+ 15)

694 (- 14)

366 (+ 29)

TC

117.978 (+ 954)

71.219 (+ 43)

46.759 (+ 911)

 

 

b) Yếu tố bổ túc định nghĩa việc truyền giáo

 

Vì thực tại “ngoài kitô giáo” rất phức tạp, để xác định công việc tông đồ của Giáo Hội là việc truyền giáo, thông điệp “Sứ mệnh Đấng Cứu Thế” (số 37) còn đưa ra 3 yếu tố, có thể tạm gọi là tiêu chuẩn bổ túc:

 

-            Vùng đất: một số vùng đất được coi là vùng truyền giáo, thường gọi là xứ truyền giáo, là những vùng đất khi Bộ Truyền Giáo được thành lập (1622), chưa có sự hiện diện của người kitô giáo. Thường là những vùng thuộc Á châu, Phi châu, Úc châu và hiện nay còn thuộc quyền Bộ Truyền Giáo. Tuy nhiên, thực tại hôm nay rất phức tạp, chẳng hạn tại nhiều nước Xứ Truyền Giáo, giáo dân đã tăng khá đông, trong khi tại nhiều nước Kitô giáo, vì những luồng sóng di dân, hiện nay có rất nhiều người ngoài kitô. Do đó, chỉ dùng tiêu chuẩn địa dư không đủ. Cần phải có những tiêu chẩun khác bổ túc. Đó là 2 tiêu chuẩn sau.

 

-            Hiện tượng văn hóa, xã hội mới, chẳng hạn, hiện tượng đô thị hóa, hiện tượng di dân…

 

-            Những điểm trọng yếu có tính cách chiến lược của cuộc sống trong xã hội mới: luồng tư tưởng triết lý, mẫu sống, thí nghiệm khoa học, cơ cấu kinh tế, chính trị, xã hội, những ngành kỹ thuật (thông tin đại chúng, máy vi tính, internet...)

 

II.      LINH MỤC VÀ VIỆC TRUYỀN GIÁO: ĐÔI SUY TƯ THẦN HỌC

 

Đối tượng của phần này là tương quan giữa linh mục và việc truyền giáo. Để đơn giản hóa vấn đề, ta có thể trích lại đây giáo huấn của hai văn kiện truyền giáo mới nhất của Giáo Hội: sắc lệnh “Ad Gentes” và “Redemptoris Missio”.

 

1. “Ad gentes” (số 39)

 

Các linh mục đóng vai trò Chúa Kitô và là cộng sự viên của hàng Giám Mục trong ba phận vụ thánh, mà tự bản tính thuộc về sứ mệnh của Giáo Hội. Vậy các ngài phải thấu hiểu sâu xa rằng đời sống các ngài cũng được cung hiến để phục vụ các xứ truyền giáo. Vì nhờ thừa tác vụ riêng của mình, thừa tác vụ này cốt yếu hệ tại Bí Tích Thánh Thể, bí tích kiện toàn Giáo Hội, các ngài thông hiệp với Chúa Kitô là Đầu và dẫn đưa kẻ khác đến sự thông hiệp này; do đó các ngài không thể không cảm thấy rằng sự viên mãn của Thân Thể đến nay vẫn còn biết bao thiếu sót, và do đó còn biết bao điều phải làm để Thân Thể ngày một lớn hơn. Vậy các ngài phải sắp đặt công việc mục vụ thế nào để mưu ích cho việc bành trướng Phúc Âm nơi những người ngoài Kitô giáo.

 

Các linh mục, trong việc mục vụ, phải cổ võ và duy trì giữa tín hữu lòng nhiệt thành đối với việc rao giảng Phúc Âm cho thế giới, bằng cách dạy giáo lý và giảng thuyết để giáo huấn họ về nhiệm vụ của Giáo Hội phải loan báo Chúa Kitô cho Muôn Dân, bằng cách dạy các gia đình Kitô hữu về sự cần thiết và vinh dự vun trồng ơn kêu gọi truyền giáo nơi con trai con gái mình; bằng cách cổ võ nhiệt tâm truyền giáo nơi thanh thiếu niên trong các trường và các hội đoàn công giáo để từ nơi họ, xuất phát những nhà rao giảng Phúc Âm tương lai. Các ngài phải dạy tín hữu cầu nguyện cho các xứ truyền giáo và đừng xấu hổ xin họ bố thí và trở nên như những hành khất vì Chúa Kitô và vì phần rỗi các linh hồn.

 

Các giáo sư Chủng Viện và Đại Học phải dạy cho thanh thiếu niên biết hoàn cảnh đích thực của thế giới và của Giáo Hội, để họ nhìn thấy nhu cầu rất cấp bách của việc rao giảng Phúc Âm cho những người ngoài Kitô giáo và để nuôi dưỡng nhiệt tâm của họ. Trong khi dạy các môn tín lý, Thánh Kinh, luân lý và lịch sử, phải nêu rõ những khía cạnh truyền giáo hàm chứa trong các môn ấy, để nhờ đó đào tạo cho các linh mục tương lai một ý thức truyền giáo”.

 

2.“Redemptoris Missio” (s. 67-68)

 

“Là cộng sự viện của Giám Mục, các linh mục, bởi Bí Tích Truyền Chức Thánh, được kêu gọi để thông phần vào mối quan tâm về sứ mệnh truyền giáo của Giáo Hội: ‘Tặng ân thiêng liêng các linh mục đã nhận được khi chịu chức, không phải cho việc truyền giáo nhỏ hẹp và giới hạn, mà là cho sứ vụ cứu độ đại đồng và gồm tóm hết mọi sự ‘cho đến tận thế’. Vì hết mọi thừa tác vụ tư tế đều thông phần vào mục tiêu đại đồng của sứ mệnh truyền giáo do Chúa Kitô ủy thác cho các vị Tông Đồ’ (Sắc Lệnh Presbyterorum Ordinis, số 10; Sắc Lệnh Ad Gentes, đoạn 39). Bởi lý do này, việc đào luyện các tuyển sinh cho chức linh mục phải nhắm đến việc hiến cho họ ‘một tinh thần Công Giáo thực sự, nhờ đó, họ sẽ biết làm siêu vượt các giới hạn thuộc giáo phận của họ, xứ sở hay Nghi Lễ, và cộng tác giúp đỡ toàn thể Giáo Hội, sửa soạn cho việc rao giảng Phúc Âm khắp nơi’ (Sắc Lệnh  Optatem Totius, 20). Tất cả mọi linh mục phải có trí khôn và tâm hồn của các nhà truyền giáo – mở lòng ra trước các nhu cầu của Giáo Hội cũng như của thế giới, chú ý đến những người xa xôi nhất, nhất là với các nhóm người ngoài Kitô Giáo trong miền của mình. Họ phải mang trong lòng mình, trong lời cầu nguyện, nhất là ở Hy Tế Thánh Thể, mối quan tâm của toàn thể Giáo Hội đối với tất cả nhân loại.

 

Đặc biệt ở những miền Kitô hữu chỉ là một thiểu số thì các linh mục cần phải đầy nhiệt tình và dấn thân truyền giáo hơn nữa. Chúa ủy thác cho họ chẳng những việc mục vụ chăm sóc cộng đồng Kitô hữu, mà còn và trên hết việc truyền bá phúc âm hóa cho đồng bào của họ là thành phần không thuộc về đàn chiên của Chúa Kitô. Các linh mục sẽ  ‘không ngừng làm cho mình lúc nào cũng sẵn sàng đối với Chúa Thánh Thần cũng như đối với vị Giám Mục để được sai đi rao giảng Phúc Âm ở ngoài biên cương đất nước của họ. Điều này chẳng những đòi hỏi họ phải trưởng thành trong ơn gọi của họ, mà còn đòi họ phải đặc biệt sẵn sàng tách lìa quê hương, văn hóa và gia đình của mình, cũng như đòi họ phải có một khả năng đặc biệt để thích nghi với những văn hóa khác, tỏ ra hiểu biết và tôn trọng những nền văn hóa ấy’ (ĐTC Gioan Phaolô II, Bài Diễn Từ ngỏ với Hội Nghị khoáng đại (Assemblea plenaria) của Bộ Truyền Giáo, ngày 14/4/1989, 4: AAS 81 năm 1989, 1140).

 

Trong Bức Thông Điệp Fidei Donum, Đức Thánh Cha Piô XII, bằng việc nhìn xa trông rộng, đã khuyến khích các Giám Mục hãy cống hiến một số linh mục của mình để tạm thời phục vụ tại các Giáo Hội Phi Châu, cũng như đã ban phép cho các dự án hiện hành nhắm đến mục tiêu này. Hai mươi lăm năm sau, Tôi đã muốn nhấn mạnh tới tính cách mới mẻ đáng của Thông Điệp này, là thông điệp ‘đã giúp cho thoát lên khỏi tính cách lãnh thổ của sứ vụ của các linh mục để hướng nó về toàn thể Giáo Hội’ (ĐTC Gioan Phaolô II, Sứ Điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo, 1982: Insegnamenti V/2 năm 1982, 1879). Hôm nay ta có thể thấy là kinh nghiệm này hiệu nghiệm và đem lại thành quả. Thật vậy, các linh mục gọi là ‘linh mục Fidei Donum là dấu hiệu đặc thù của mối liên kết hiệp thông giữa các giáo hội địa phương. Họ đã đóng góp một cách sáng giá vào việc phát triển những cộng đồng giáo hội thiếu thốn, trong khi múc được từ các cộng đồng này một đức tin tươi mới và sinh động. Dĩ nhiên, việc phục vụ truyền giáo của linh mục thuộc giáo phận phải đáp ứng một số tiêu chuẩn và điều kiện: các linh mục thừa sai phải được chọn lựa từ những tuyển sinh xứng hợp nhất, và phải được chuẩn bị thích hợp cho công việc đặc biệt đang chờ đợi họ (Sắc Lệnh Ad Gentes, 38; Thánh Bộ về Giáo Sĩ, Các Qui Tắc Postquam Apostoli, 24-25). Họ phải hòa hập vào khung cảnh mới của giáo hội địa phương nơi họ được đón nhận với với tâm tình cởi mở và huynh đệ và nên một hàng giáo sĩ với các linh mục địa phương, dưới quyền Đức Giám Mục (Thánh Bộ về Giáo Sĩ, Các Qui Tắc Postquam Apostoli, 29; Sắc Lệnh  Ad Gentes, 20).”

 

Ta có thể tóm tắt giáo huấn của hai văn kiện trên như sau:

 

1.      Cuộc đời và sứ mệnh của linh mục giáo phận gắn liền với công việc truyền giáo do hai lý do:

 

-  Thực tại ơn gọi theo Chúa: “Hãy theo Cha” (Mc 1,16-20; Mt 4,18-22)

-  Bí tích Truyền Chức: linh mục thông hiệp với Chúa Kitô là Đầu của Hội Thánh

 

2.      Công tác truyền giáo của linh mục

 

-   Cổ võ, duy trì nuôi dưỡng tinh thần truyền giáo nơi đoàn chiên đã được trao phó

-  Trực tiếp dấn thân đi truyền giáo

 

III. MỘT THOÁNG NHÌN VỀ VIỆC TRUYỀN GIÁO TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

 

1.Tinh thần và dấn thân truyền giáo tại Việt Nam

 

a)  Một số ý kiến về dấn thân truyền giáo của Giáo Hội tại Việt Nam

 

-            Nhận xét của trưởng đoàn phụ trách tôn giáo tỉnh Hòa Bình: Giáo Hội Công Giáo không truyền giáo.

 

-            Những bài viết trên mạng: Có nhiều bài viết về việc truyền giáo tại Việt Nam được đăng trên mạng và một trong những bài viết đó là bài của cha FX Trần Kim Ngọc, OP (VietCatholic News 20/08/2010) có đề tựa: “Thiếu lửa truyền giáo tại Việt Nam?” Đề tài là một câu hỏi, nhưng trong thực chất nội dung là một lời xác quyết. Tác giả đưa ra 5 lý do vì sao thiếu lửa truyền giáo tại Việt Nam: 1) Thiếu nhân lực truyền giáo; 2) Thiếu đào tạo; 3) Thiếu tổ chức; 4) Thiếu mục tiêu; 5) Thiếu cộng tác.

 

b)  Một số sự kiện

 

-   Số thống kê

 

 

Năm

1970

1990

1993

2004

2010

Dân số

31.993.143

63.286.000

70.257.700

82.320.147

86.927.700

Công giáo

2.679.776

4.341.976

4.641.677

5.667.428

6.187.486

Tỷ lệ

8,37%

6,86%

6,60%

6,88%

7,11%

 

-            Những nỗ lực truyền giáo

 

Tuy chưa có một tài liệu nghiên cứu quy mô về công cuộc truyền giáo hiện nay tại Việt Nam, những tin tức và mẩu truyện vụn vặt cho thấy là cũng có nhiều cố gắng truyền giáo tại nhiều giáo phận, nhất là những giáo phận miền Cao nguyên nơi có nhiều anh chị em dân tộc, hoặc những nơi xa xôi như Miền Tây. Chúng ta có thể nhắc lại những ghi nhận truyền giáo của cha Piô Ngô Phúc Hậu trong cuốn “Nhật ký truyền giáo” của ngài.

 

-            Tinh thần và công tác truyền giáo tại các giáo xứ

 

Nhìn lại sơ đồ công tác thực hiện Sứ Mệnh loan báo và làm chứng Tin Mừng của thông điệp “Redemptoris Missio” đã được trình bày trên đây.

 

 

Vì tình trạng di chuyển của dân chúng trong thời đại mới này, trong các giáo xứ, nhất là những giáo xứ thành thị, có tất cả 5 nhóm người này và do đó, cần thiết phải thực hiện tất cả 5 loại công tác tông đồ. Tuy nhiên, thường thì các công tác tông đồ tại các giáo xứ chỉ gói ghém trong công tác mục vụ và công tác này cũng không có chiều hướng truyền giáo. Do đó, tinh thần và dấn thân truyền giáo tại Việt Nam chắc chắn là có, nhưng xem ra mới chỉ là tinh thần và dấn thân của một số cá nhân hay nhóm các tín hữu chứ chưa phải là tinh thần chung của Giáo Hội Việt Nam.

 

Như vậy, về tinh thần và nỗ lực truyền giáo tại Việt Nam, chúng ta không thể nói cách đơn giản là “có” hay “không”, mà “có” và “không”, tuy chữ “không” có phần to hơn chữ “có”. Nhưng nếu nói về tinh thần và dấn thân truyền giáo của các gáio xứ, nhất là của các linh mục giáo phận, xem ra chữ “không” lại to hơn nữa.

 

1.  Lý do của tình trạng ít dấn thân truyền giáo

 

Vấn đề chúng ta muốn đặt ra để suy tư thêm là tình trạng ít tinh thần và ít dấn thân truyền giáo của Giáo Hội Việt Nam, hay nói theo cha Trần Kim Ngọc chúngt a đã trích dẫn ở trên, đây là vấn đề thiếu lửa truyền giáo. Vấn đền này càng đáng được lưu ý khi chúng ta biết là Giáo Hội Việt Nam là kết quả của bao công khó, của lòng hăng say và hy sinh, kể cả tử đạo của bao nhiêu nhà thừa sai truyền giáo và đã thừa hưởng một di sản tinh thần là hoa trái của tinh thần truyền giáo của các ngài.

 

Để cắt nghĩa cho tình trạng ngày, cha Trần Kim Ngọc đã đưa ra 5 lý do. Xin trích lại điều đã nói ở trên: a) Thiếu nhân lực truyền giáo; b) Thiếu đào tạo; c) Thiếu tổ chức; d) Thiếu mục tiêu; e) Thiếu cộng tác. Thực ra, 5 điều trên chưa phải là lý do, mà chỉ là những yếu tố của một tình trạng. Vì vậy, chúng ta cần phải đi tìm cho ra.

 

Những vấn đề của cuộc đời, nhất là của một cộng đoàn lớn, thường rất phức tạp và có nhiều lý do. Chúng ta cố gắng điểm mặt một số lý do có thể thấy dễ dàng:

 

a) Văn hóa gia đình, làng xóm

b) Tâm lý lệ thuộc và “ăn xin”, phát xuất từ cơ cấu văn hóa đẳng cấp thái quá và tình trạng dân bị trị.

c)  Tâm lý và não trạng tự vệ và bảo tồn sự sống và đức tin vì hoàn cảnh khó khăn trong một thời gian dài.

d) Chương trình huấn luyện trong Chủng viện

 

 


[1]Trong khi các tôn giáo khác, người ta dễ có một số ý niệm, ít là khái quát, đạo Sikh, ít người biết đến. Đạo Sikhs được sáng lập bởiNanak (1469-1538) bên Ấn Độ trong bối cảnh của Ấn giáo và Hồi giáo. Giáo lý lấy chính yếu từ khuynh hướng Bakhti của Ấn giáo và thêm một ít của khuynh hướng huyền bí Sufi của Hồi Giáo. Tên Sikhs lấy từ chữ Sanskrit có nghĩa là môn đệ, tức là những môn đệ của Nanak.