Các Bài Suy Niệm Chúa Nhật Phục Sinh

Thứ sáu - 19/04/2019 09:09

LỄ PHỤC SINH – Năm C

 

Thứ bảy tuần thánh – Ðêm Thánh Vọng Chúa Phục Sinh.

"Ngài đã sống lại và sẽ đến xứ Galilêa".

 

Lời Chúa: Mt 28, 1-10

Qua chiều ngày Sabbat, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa tảng sáng, Maria Mađalêna và bà Maria khác đến thăm mồ. Bỗng chốc đất chuyển mạnh vì Thiên Thần Chúa từ trời xuống và đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên đó. Mặt Người sáng như chớp và áo Người trắng như tuyết. Vì thế những lính canh khiếp đảm run sợ và hầu như chết. Nhưng Thiên Thần lên tiếng và bảo các người nữ rằng: "Các bà đừng sợ. Ta biết các bà tìm Chúa Giêsu, Người đã chịu đóng đinh. Người không có ở đây vì Người đã sống lại như lời Người đã nói. Các bà hãy đến mà coi nơi đã đặt Người và đi ngay bảo các môn đệ Người rằng: Người đã sống lại, và kìa Người đến xứ Galilêa trước các ông: Ở đó các ông sẽ gặp Người. Ðây Ta đã báo trước cho các bà hay".

Hai bà vội ra khỏi mồ, vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Người. Và này Chúa Giêsu đón gặp các bà, Người nói: "Chào các bà". Các bà liền lại gần ôm chân Người và phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: "Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó, họ sẽ gặp Ta".

 

SUY NIỆM 1: Người đã sống lại thật

1- Một phi thuyền đang du hành trong vũ trụ từ ngày 20/08/1977 để tìm xem có sự sống loài người nào trên các hành tinh không? Phi thuyền bắt đấu thăm dò từ hỏa tinh, mộc tinh, thổ tinh, thiên vương tinh, hải tinh, diêm tinh và phải vượt qua thái dương hệ 40.000 năm nữa mới tới một hành tinh gần nhất. Sau đó phi thuyền phải bay 100 triệu năm nữa mới tới một hành tinh xa hơn. Phi thuyền đem theo một đĩa vàng có thể tồn tại hơn 100 triệu năm để phát ra 106 tín hiệu diễn tả văn hóa loài người đi thăm dò xem có thế giới loài người nào khác đáp lại chăng? Thật là một kỳ công đi tìm sự sống loài người khác, ngoài thế giới loài người trên trái đất này.

2- Đêm Phục sinh này, Đức Giêsu đang đáp lại tín hiệu của loài người đi tìm sự sống xa lạ đó, một sự sống không còn đau khổ, không còn thập giá, không còn mạo gai đinh đóng, lưỡi đòng, không còn nếm dấm chua mật đắng, không còn bị chôn trong mồ, không còn phải chết ở đâu nữa. Đó là sự sống lại của Đức Giêsu. Sự sống lại của Đức Giêsu làm cho thập giá trở nên Thánh giá cứu độ, làm cho mạo gai trở nên triều thiên, lưỡi đòng trở nên lò lửa yêu mến của Thánh Tâm, dấm chua trở nên mật ngọt, cửa mồ phải bật tung ra, chỗ nằm u tối trở nên sáng ngời, sự chết đời đời trở nên sự sống trường sinh.

Bài đọc một sách Sáng Thế cho chúng ta thấy Thiên Chúa đã biến đổi tối tăm mù mịt, u ám mông quạnh, ra sáng láng chan hòa sức sống tươi mát, rực rỡ như buổi bình minh, thông thoáng như cảnh chiều dương, vạn vật sinh động, vui thỏa, nhuộm muôn mầu ngàn sắc. Đó là cảnh Phục sinh mà Thiên Chúa đã sáng tạo thuở ban đầu. Thiên Chúa đã cho con người sống vương giả trong cảnh trời đất huyền diệu đó như trong vườn thượng uyển của vua nước Trời.

3- Con người được sống vương giả, chính ra càng ngày càng trở nên xứng đáng với sứ mệnh cao cả của Thiên Chúa đã ban cho mình. Trái lại, con người: nhân dục vô nhai, dục vọng vô bờ, lòng tham không đáy, no bụng đói con mắt, thèm thuồng đủ thứ nên đã nếm phải nọc độc của rắn quỷ. Tham thực cực thân, ăn no tức bụng. Nọc độc đã cướp đi sự sống vương giả của con người. Lịch sử đã cho thấy bao nhiêu triều đại đế vương sụp đổ chỉ vì những ông hoàng bà chúa sống vương giả, được voi đòi tiên, ăn chơi trác táng, tranh bá đồ vương, chém giết lẫn nhau. Đức Giêsu nhiều lần đã nói những dụ ngôn về các ông bá hộ như thế, chẳng bao lâu họ phải bỏ mạng: “Đồ ngốc đêm nay người ta sẽ đòi mạng ngươi” (Lc. 12, 20). Tổ tiên loài người đã sống mất mạng vì lối sống phú hộ đó. Cain đã giết em, Evà đã kinh hoàng ôm lấy xác con vào lòng đầy đau xót chỉ vì bà đã ham mê nuốt trái cấm đầy quyến rũ ngon ngọt. “Chỉ vì một người đã sa ngã mà sự chết đã thống trị, thì Thiên Chúa làm qua một Người là Đức Giêsu Kitô sự sống lại được ban dồi dào” (Rm. 5, 12, 17-19).

4- Đêm nay, Đức Giêsu đã phục sinh sự sống dồi dào cho con người, cho chúng ta. Đêm nay Đức Giêsu đã giải phóng con người chúng ta khỏi thần chết như Mosê đã giải phóng cho dân Israel khỏi nô lệ khốn cùng của Ai cập. Israel đã dứt bỏ mọi quyến luyến Ai cập, chỗi dậy theo lệnh Mosê, vâng lời Thiên Chúa vượt qua biển máu, nên Thiên Chúa đã ra tay chôn vùi quân địch đeo bám họ dưới đáy biển máu và đã dẫn đưa họ về sống trong miền đất tự do chảy sữa và mật (Bài đọc 3). Đêm nay, chúng ta cũng phải dứt bỏ mọi quyến luyến tội lỗi, chỗi dậy theo lệnh Giáo hội, vâng lời Thiên Chúa vượt biển chết tội lỗi, thì sẽ được Đức Giêsu giải phóng ta khỏi tà thần, tiêu diệt quỷ dữ, dẫn đưa ta về miền đất phục sinh vinh quang muôn đời.

Lạy Chúa Giêsu, con đã chết và qua phép Rửa tội, Chúa đã cho con được chỗi dậy từ cõi chết. Con xin hết lòng cảm tạ Chúa vì Chúa hảo tâm vì đức từ bi Người muôn thuở. Xin Chúa gìn giữ con, ấp ủ con trong nguồn Phục sinh muôn đời của Chúa (2Cr. 3, 1-4; Tv. 117).

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. ViKiNi)

 

SUY NIỆM 2: Niềm hy vọng Phục Sinh

Lối xóm gọi anh là Tư còm vì thân hình gầy còm, lại sáng xỉn, chiều say, tối lăn quay, ngày mai nhậu tiếp và khi nhậu say, anh chửi bới tất cả xóm làng không trừ ai. Người ta tìm hiểu được biết anh có một vợ năm con, đạp xích lô suốt ngày không đủ nuôi mấy miệng ăn. Các con anh lần lượt bỏ học vì không đủ tiền đóng học phí, nhà anh nằm trên vũng sình lấy và dột nát. Sống trong hoàn cảnh kéo dài tháng này qua năm khác như thế, anh đâm ra thất vọng nên mượn chén rượu giải sầu, nhưng chén rượu càng vơi, thì chén sầu càng đầy ắp.

Hiểu được hoàn cảnh của anh, lối xóm kẻ công người của cất lại cho anh căn nhà trên đất liền chắc chắn và kín đáo; lối xóm lại tiếp tục đem đến lon gạo, bó củi, cái nồi, cái dao, cái chén, cái tô. Thế là anh có đủ vật dụng cần thiết cho cuộc sống hàng ngày và một căn nhà đàng hoàng bảo đảm cho sức khỏe; các con anh cũng được các bà mẹ nhận đỡ đầu và đài thọ học phí, tất cả đều được đi học trở lại. Quá cảm động trước lòng ưu ái của bà con lối xóm, anh Tư còm đã bỏ rượu hẳn và bắt đầu giữ đạo sốt sắng cùng với gia đình anh.

Theo một nghĩa nào đó, chúng ta có thể nói: anh Tư còm được phục sinh từ cõi chết của những ngày say sưa và bê trễ. Anh đã chết cho tính nghiện ngập của mình và sống lại trong tình yêu thương của Chúa và của mọi người.

Chúng ta đã trải qua 40 ngày của Mùa Chay là thời gian chuẩn bị cho Phục Sinh bằng ăn năn sám hối, hãm mình đền tội, thực thi bác ái. Giờ đây chúng ta sắp mừng lễ Phục Sinh. Chúng ta vui mừng vì Chúa Kitô sống lại từ cõi chết, chúng ta cũng hân hoan vì Ngài đã hứa cho chúng ta được Phục Sinh với Ngài. “Cùng chết với Ngài, chúng ta sẽ được sống lại với Ngài”. Qua việc lặp lại lời tuyên hứa sau khi chịu phép thanh tẩy trong nghi thức Vọng Phục Sinh, chúng ta khẳng định lại chân lý này và cố gắng mỗi ngày chết cho tội nhiều hơn để sống lại với Chúa trọn vẹn hơn.

Trong biến cố Phục Sinh, với quyền năng Thiên Chúa, ngôi mộ chôn cất Chúa Giêsu đã mở ra và Ngài đã bước ra khỏi mồ. Cũng với quyền năng Thiên Chúa, những hòn đá chôn vùi cuộc đời chúng ta sẽ bị lăn đi. Đó có thể là hòn đá của ích kỷ chỉ biết đến lợi riêng của mình. Đức Kitô Phục Sinh sẽ giúp chúng ta lăn hòn đá ấy đi để biết dấn thân phục vụ Chúa và tha nhân. Đó có thể là hòn đá tham lam, mê ăn uống đã từng đè nặng tâm hồn và thân xác chúng ta. Đó có thể là hòn đá lãnh đạm, thiếu tình thương đã ngăn cản chúng ta phục vụ Chúa và anh em. Đó có thể là hòn đá an phận, nhút nhát khiến chúng ta chỉ giữ đạo ngày Chúa Nhật qua việc đọc kinh, xem lễ. Đức Kitô Phục Sinh sẽ giúp chúng ta sống đạo, sống niềm tin, thực thi bác ái tích cực hơn.

Mỗi năm khi mừng lễ Phục Sinh, chúng ta chiêm ngưỡn tình thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta, và chúng ta đón nhận sức mạnh của Đức Kitô để phá vỡ những hòn đá chôn vùi cuộc đời mình. Để thực sự sống lại với Đức Kitô, trong ngày hôm nay, chúng ta hãy tìm thời giờ sống những giây phút thinh lặng để tìm xem những hòn đá nào cần phải lăn đi, như thiếu trong sạch, lười biếng, không lương thiện, kiêu căng, giận hờn, ghen tương. Cùng với Đức Kitô, chúng ta hãy ném nó ra khỏi cuộc đời chúng ta, để tận hưởng niềm vui Phục Sinh trọn vẹn hơn. Nhưng Phục Sinh cuộc đời mình mà thôi chưa đủ, mỗi người chúng ta còn có bổn phận giúp thân nhân, bạn hữu và đồng loại cùng hưởng ơn Phục Sinh.

Chúa đã chết cho chúng ta được sống, chúng ta quyết tâm tiếp tục cuộc sống của Chúa: dám sống cho một niềm tin và dám chết cho một cuộc tình. Tin vào tình thương của Chúa, chúng ta xin tận hiến cuộc đời để sống trọn luật yêu thương: yêu Chúa và thương anh em.

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

SUY NIỆM 3: Niềm Hy Vọng Phục Sinh

Bài Giảng của ÐTC Gioan Phaolô II

trong Ðêm Vọng Phục Sinh năm 2002

1. "Thiên Chúa phán: "Hãy có ánh sáng"; và có ánh sáng" (St 1,3).

Một sự bùng nổ của ánh sáng, mà Lời Chúa mang đến từ hư vô, xé toạc màn đêm đầu tiên, đêm của Tạo Dựng.

Thánh Tông Ðồ Gioan viết: "Thiên Chúa là ánh sáng, và trong Ngài, chẳng hề có tối tăm" (1Ga 1,5). Thiên Chúa đã không tạo nên bóng tối nhưng là ánh sáng! Và sách Khôn Ngoan, tiết lộ rõ ràng rằng công việc Thiên Chúa luôn có mục đích tích cực, thế nên: "Ngài tạo ra muôn vật để chúng hiện hữu, và các loài trên thế giới loài nào cũng lành mạnh. Và giữa chúng, không thấy loại nào mang nọc độc phá hoại, và dương thế thì tương khắc với cõi âm" (Khôn ngoan 1,14).

Trong đêm đầu tiên, đêm của Tạo Dựng, đâm rễ Mầu Nhiệm Phục Sinh, mầu nhiệm mà theo sau thảm kịch của tội lỗi, tiêu biểu cho sự phục hồi và đăng quang của sự bắt đầu tiên khởi ấy. Ngôi Lời chí thánh tạo ra muôn vật và, trong Chúa Giêsu, đã hóa thành nhục thể cho sự cứu độ chúng ta. Và nếu thân phận của Ađam đầu tiên là trở lại với đất từ nơi đã được tạo thành (x. St 3,19), Ađam cuối cùng đã đến từ trời cao để quay lại đó trong vinh quang, hoa quả đầu mùa của nhân loại mới (x. Ga 3,13; 1Cor 15,47).

2. Một đêm khác nữa thiết lập biến cố nền tảng trong lịch sử Israel: đó là cuộc Xuất Hành kỳ diệu từ Ai Cập, câu chuyện được đọc mỗi năm trong đêm Vọng Phục Sinh long trọng.

"Chúa khiến gió đông thổi lên thật mạnh càn quét mặt biển suốt đêm, làm cho biển cạn hết. Nước rẽ đôi như vậy đã giúp con dân Israel đi thẳng vào lòng biển như đi trên đất khô, với nước dựng như bờ tường hai bên tả hữu họ" (Xuất hành 14,21-22). Dân Chúa được sinh ra trong "phép rửa tội này" nơi Biển Ðỏ, khi họ chứng kiến cánh tay quyền năng của Thiên Chúa, Ðấng cứu họ khỏi nô lệ để dẫn đưa họ đến miền đất hứa của tự do, công lý và hòa bình.

Ðây là đêm thứ hai, đêm của Xuất Hành.

Lời tiên tri của Sách Xuất Hành ngày hôm nay, cũng được thực hiện cho chúng ta, những người là Dân Israel theo Thần Khí, hậu duệ của Abraham do bởi đức tin (x. Rm 4,16). Trong cuộc Vượt Qua của Ngài, như Môisen mới, Ðức Kitô đã cho chúng ta vượt qua sự nô lệ của tội lỗi để đến với sự tự do của con cái Thiên Chúa. Nếu chúng ta cùng chết với Ðức Giêsu, chúng ta sẽ vươn tới cuộc sống mới, nhờ vào quyền năng của Thánh Thần của Ngài. Phép Rửa của Ngài đã trở nên phép rửa của chúng ta.

3. Cả anh chị em cũng sẽ nhận được phép Rửa này, phép Rửa đưa chúng ta vào trong cuộc sống mới, những tân tòng thân mến từ nhiều quốc gia: từ Albania, Trung Quốc, Nhật Bản, Ý, Ba Lan, và Cộng Hòa Dân Chủ Congo. Hai người trong số anh chị em, một bà mẹ Nhật Bản và một bà mẹ Trung Quốc, mỗi người mang theo với mình một cháu bé, như thế, trong cùng một nghi thức này, cả mẹ lẫn con đều cùng được rửa tội.

"Trong đêm cực thánh này", khi Ðức Kitô trỗi dậy từ kẻ chết, anh chị em cũng sẽ cảm nhận một cuộc "xuất hành" thiêng liêng: hãy bỏ lại phía sau cuộc đời trước đây của anh chị em và tiến vào "miền đất của sự sống". Ðây là đêm thứ ba, đêm của sự Phục Sinh.  4. "Ðêm diễm phúc của tất cả các đêm, được Thiên Chúa chọn để thấy Ðức Kitô trỗi dậy từ kẻ chết!" Chúng ta hát lên những lời này trong lời Công Bố Phục Sinh vào đầu buổi Canh Thức long trọng, Mẹ của mọi đêm Canh Thức.

Sau đêm thảm kịch của Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, khi "quyền lực của tối tăm" (Lc 22,53) dường như thắng thế trên Ðấng là "ánh sáng thế gian" (Ga 8,12), sau cái yên lặng bao trùm của Ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, trong đó Ðức Kitô, sau khi hoàn tất công việc của Ngài trên trần gian, nghỉ ngơi trong mầu nhiệm của Chúa Cha và mang sứ điệp của sự sống vào trong cõi âm, cuối cùng chiêm ngắm đêm trước "ngày thứ ba", mà theo Thánh Kinh, Ðấng Mêsia sẽ trỗi dậy, như chính Ngài thường báo trước cho các môn đệ của Ngài.

"Ðêm thật hồng phúc, khi thiên đàng giao duyên cùng thế gian và con người được hòa giải với Thiên Chúa!" (Công Bố Phục Sinh).

5. Ðây là đêm của các đêm, đêm của đức tin và hy vọng. Trong khi tất cả đang chìm trong bóng đêm, Thiên Chúa - Ánh Sáng - vẫn chiêm ngắm. Cùng với Ngài, những người hy vọng và tín thác nơi Ngài cũng chiêm ngắm.

Lạy Ðức Mẹ, đây thật là đêm của Mẹ! Khi những ánh sánf cuối cùng của ngày Sabát tắt dần, và hoa quả của lòng Mẹ nằm trong lòng đất, trái tim của Mẹ cũng chiêm ngắm! Ðức tin của Mẹ và hy vọng của Mẹ nhìn tới trước. Ðàng sau tảng đá nặng nề, đức tin và hy vọng của Mẹ đã thấy trước ngôi mộ trống không; đàng sau màn đêm dày đặc, đức tin và hy vọng của Mẹ đã le lói buổi ban mai của sự Phục Sinh.

Lạy Mẹ, xin cho chúng con cũng chiêm ngắm trong sự yên lặng của đêm nay, tin tưởng và hy vọng vào Lời Thiên Chúa. Như thế chúng con sẽ gặp, trong sự viên mãn của ánh sáng và cuộc sống, Ðức Kitô, hoa quả đầu mùa của sự sống lại, đấng hiển trị cùng Chúa Cha và Chúa Thánh Thần cho đến muôn đời. Allêluia!

+ Gioan Phaolô II, Giáo Hoàng

(Bản dịch Việt Ngữ của J.B. Ðặng Minh An)

 

SUY NIỆM 4: Chào chị em!

Suy niệm:

Thật lạ lùng khi vào thời Đức Giêsu,

thời người ta không coi lời chứng của phụ nữ là có giá trị pháp lý,

Mátthêu lại kể cho chúng ta chuyện hai phụ nữ làm chứng về Chúa phục sinh.

Nếu chuyện ấy không có thật,

chẳng ai bịa đặt ra một chuyện vô bổ như thế.

Hai bà Maria này đã chứng kiến cái chết của Thầy Giêsu (Mt 27, 56),

đã dự việc chôn cất Thầy và biết rõ vị trí ngôi mộ (27, 61).

Suốt ngày sabát, trong đau đớn và nhớ nhung,

hai bà như sống trong một cuộc canh thức dài.

Họ chỉ mong cho chóng sáng để ra viếng mộ.

Các bà là những người đến mộ đầu tiên,

nên được diễm phúc chứng kiến những điều kỳ diệu.

Đất rung chuyển dữ dội, một thiên thần chói ngời từ trời xuống,

lăn tảng đá che cửa mộ ra và ngồi lên trên.

Quyền năng uy nghi của Thiên Chúa đè bẹp sức mạnh của tử thần.

Tảng đá nặng nề chẳng cầm giữ được Đấng bị đóng đinh.

Các bà đi tìm Đấng đã chết nơi nấm mộ.

Nhưng Đấng ấy đâu có ở đây, vì Đấng ấy đã trỗi dậy rồi (v. 6).

Thiên thần mời các bà đến xem chỗ Người nằm để kiểm chứng.

Quả thực, chẳng còn thân xác Người ở đó, ngôi mộ trống trơn.

Nhưng sự trống trơn này lại thật là một tin mừng.

Vì nếu Người còn nằm đó thì ai dám nói Người đã sống lại.

Ngôi mộ trở nên trống là do bàn tay quyền năng của Thiên Chúa Cha.

Cha đã nâng con trỗi dậy và cho con được phục sinh.

Đấng bị đóng đinh đã chết và đã nằm xuống.

Đấng nằm xuống đã được nâng dậy và sẽ đi gặp môn đệ ở Galilê (c. 7).

Lòng vui như mở hội, các bà vội vã chạy về báo tin cho các môn đệ.

Đang khi chạy về thì chính Đấng phục sinh hiện ra đón gặp họ.

Ngây ngất vì cuộc gặp gỡ quá đỗi bất ngờ,

các bà chỉ biết phủ phục dưới chân Người mà thờ lạy (c. 9).

Thầy Giêsu không dặn điều gì khác với vị thiên thần ngoài mộ.

Chỉ có điều Thầy vẫn gọi các môn đệ là anh em (c. 10),

dù họ đã bỏ rơi Thầy trong lúc Thầy cần đến họ nhất.

Rõ ràng Thầy Giêsu phục sinh muốn tha thứ và làm hòa với họ.

Các phụ nữ đã trở nên những chứng nhân đầu tiên của sự phục sinh.

Họ đã thấy ngôi mộ trống, hơn nữa, họ còn được gặp Đấng sống lại.

Nhờ họ mà có cuộc gặp gỡ giữa Thầy Giêsu và các môn đệ ở Galilê.

Giáo Hội hôm nay cần những người có kinh nghiệm gặp Chúa,

để loan báo Tin Mừng và giúp người khác gặp Chúa.

Lúc nào Giáo Hội cũng cần những Maria cháy bỏng một tình yêu.

 

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giêsu phục sinh

Chúa đã sống đến cùng cuộc Vượt qua của Chúa,

xin cho con biết sống

cuộc Vượt qua mỗi ngày của con,

Vượt qua sự nhỏ mọn và ích kỷ.

Vượt qua những đam mê đang kéo ghì con xuống.

Vượt qua nỗi sợ khổ đau và nhục nhã.

Vượt qua đêm tăm tối cô đơn của Vườn Dầu.

Vượt qua những khắc khoải của niềm tin.

Vượt qua những thành kiến con có về người khác...

Chính vì Chúa đã phục sinh

nên con vui sướng và can đảm vượt qua,

dù phải chịu mất mát và thua thiệt.

Ước gì con biết noi gương Chúa phục sinh

gieo rắc khắp nơi bình an và hy vọng,

tin tưởng và niềm vui.

Ước gì ai gặp con

cũng gặp thấy sự sống mãnh liệt của ,,,

Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.


Chúa Nhật  Phục Sinh
Lời Chúa: Lc 24,1-12; Cv 10,34a.37-43; Cl 3,1-4.

———

Mục lục

1. Hãy vui lên  (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng)

2. Đường Em-mau, đường thương xót (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Niềm vui Phục sinh (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

4. Phục sinh đem lại sự biến đổi  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)

5. Chúa đã sống lại thật rồi (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

6. Ai sẽ lăn tảng đá?  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

7. Đức Giêsu vẫn sống (Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ)

8. “Chúa đã sống lại! Halleluya!”  (Jos. Vinc. Ngọc Biển)

9. Niềm tin Phục sinh (Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng)

10. Xác tín  (Trầm Thiên Thu)

11. Ông đã thấy và đã tin  (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ)

12. Đã thấy và đã tin (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

13. Sức mạnh Phục sinh  (Anna Cỏ May, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

 

 

HÃY VUI LÊN

Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

Hãy vui lên, đó là nội dung bài ca của Giáo Hội long trọng loan tin Chúa đã phục sinh trong đêm canh thức. Lời mời gọi “Hãy vui lên” được nhắc đi nhắc lại như một điểm nhấn và một điệp khúc diễn tả niềm vui lớn lao kỳ diệu. Lời kêu mời đó được ngỏ với các thiên thần trên trời, đến cộng đoàn đông đảo các thánh, rồi đến các tín hữu và những ai thành tâm thiện chí. Đây là niềm vui trọng đại, giống như đối với tù nhân được giải phóng khỏi tù ngục để bước ra hưởng tự do hạnh phúc, như người đi xa lâu năm gặp lại người thân, như nai rừng tìm thấy nguồn suối, như bông hoa thấy ánh mặt trời.
 
Hãy vui lên và trút bỏ tang chế, vì Thiên Chúa, Đấng chúng ta tôn thờ, là Đấng hằng sống. Ngài đã làm cho Đức Giêsu là Con Một của Ngài chiến thắng tử thần, sống lại vinh quang. Vâng, hãy vui lên vì từ nay sự chết không còn quyền lực gì đối với những ai tin vào Chúa. Nếu sự chết còn tồn tại, thì nó chỉ một trạm chuyển tiếp trước khi con người bước vào thế giới linh thiêng, vĩnh cửu.
 
Hãy vui lên vì trong Đức Giêsu phục sinh, thân phận con người tìm thấy ý nghĩa và phẩm giá của mình. Từ ngàn đời, con người không ngừng đặt ra những vấn nạn về thân phận của họ bên kia cái chết. Đức Giêsu phục sinh bước ra khỏi mồ như câu trả lời cho những vấn nạn ấy, và như bằng chứng hùng hồn về những gì Người đã tiên báo trước đó: “Này chúng ta đi lên Giêrusalem, và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ kết án xử tử Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá, và ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy” (Mt 20,18-19). Người Do Thái đã xử với Chúa đúng y như Người tiên báo.
 
Lời Chúa trong Phụng vụ Đại lễ Phục Sinh giới thiệu với chúng ta những nhân chứng bằng xương bằng thịt, những người đã mắt thấy tai nghe. Họ đã nhìn thấy Chúa chết trên thập giá và nay họ được thấy Người sống lại. Trước hết, đó là lời chứng của Phêrô, vị tông đồ trưởng. Ông đã làm chứng về sự phục sinh của Chúa Giêsu tại nhà ông Cornêliô ở Xêdarê, trước mặt những “người ngoại”, tức không phải là người Do Thái. Đối với Phêrô, Đức Giêsu phục sinh đã đưa nhân loại sang một trang sử mới. Từ nay, “ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội”.
 
Bài Tin Mừng hôm nay còn giới thiệu với chúng ta chứng từ của Maria Mácđala và của Gioan, người môn đệ Chúa yêu. Có một sự kiện duy nhất là Chúa sống lại, nhưng mỗi người có một cảm nhận và một cách làm chứng khác nhau. Maria Mácđala, với tâm lý chung của người phụ nữ, vội vã chạy về gặp hai môn đệ Phêrô và Gioan để “khoe” về điều mình đã thấy. Bà không quên kèm theo một lời kết luận dựa trên phỏng đoán cá nhân: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ”. Bà ngỡ ngàng kinh ngạc trước cảnh tượng vừa được chứng kiến và nóng lòng sốt ruột chạy đi loan báo cho mọi người.
 
Về phần mình, Gioan không hốt hoảng vội vã như Mácđala, không hăng hái hùng biện như Phêrô, nhưng chứng từ của ông mang tính nội tâm và sâu sắc. Chính ông đã ghi lại lời chứng của mình một cách khách quan: “Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào (mộ). Ông đã thấy và đã tin”. Việc chứng kiến ngôi mộ trống đã lập tức làm cho Gioan liên tưởng và kết nối các sự kiện cũng như những lời báo trước của Chúa, giúp ông xác tín vững vàng rằng Chúa đã sống lại. Ngôi mộ trống thay vì làm ông hốt hoảng như Mácđala, lại giúp ông tin rằng Thày mình đang sống. Ngôi mộ trống soi sáng cho ông hiểu những lời giáo huấn của Chúa và những lời tiên báo trong Kinh Thánh.
 
Giáo Hội tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu trong niềm xác tín Người vẫn đang sống và đang hiện diện. Chúa đã sống lại, hãy vui lên. Lễ Phục Sinh là lễ của niềm vui. Người tín hữu vui mừng hân hoan vì Chúa phục sinh là bảo chứng cho những ai tin theo Chúa sẽ được phục sinh vinh quang với Người.
 
Khi long trọng mừng lễ Phục Sinh, chúng ta được mời gọi hãy “sống lại về phần linh hồn”, nghĩa là hãy đoạn tuyệt với tội lỗi để sống xứng đáng là con Thiên Chúa. Những thực hành của Mùa Chay gồm chay tịnh khổ chế và cầu nguyện bác ái đã giúp chúng ta phần nào trút bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới được ánh sáng của Đấng Phục Sinh chiếu soi. Không chỉ có Chúa Giêsu phục sinh bước ra khỏi nấm mồ, nhưng mỗi chúng ta cũng đang bước ra từ những nấm mồ là sự ích kỷ, mưu mô và hận thù toan tính, rũ bỏ quá khứ tội lỗi để làm lại của đời.
 
Sự Phục Sinh của Chúa là một sứ điệp cần loan báo cho con người mọi nơi, mọi thời. Những ai đã lãnh nhận phép Thanh Tẩy đều là những sứ giả loan tin vui Phục Sinh. Như Phêrô, Mácđala và Gioan, mỗi người có cách loan báo riêng của mình, nhưng nội dung của lời loan báo luôn là Chúa Giêsu phục sinh, chúng ta cũng vậy, mỗi người có hoàn cảnh riêng, những khó khăn và thuận lợi riêng, nhưng đều có sứ mạng loan báo Đấng Phục Sinh, Đấng đang sống và đang hiện diện giữa chúng ta.
 
Xin cho mỗi chúng ta nhiệt thành nói với anh chị em chúng ta rằng: hãy vui lên, Chúa đã sống lại. Hãy vui lên, vì chúng ta cũng được sống lại với Người.

Về mục lục

.

ĐƯỜNG EM-MAU, ĐƯỜNG THƯƠNG XÓT

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

Lời Chúa hôm nay nói về những con người mới. Thánh Phê-rô và thánh Phao-lô trở nên người mới sau khi gặp Chúa Phục Sinh. Tin mừng trình bày chi tiết hai môn đệ buồn phiền chán nản đến tuyệt vọng: Bỏ Giê-ru-sa-lem; Bỏ lý tưởng; Bỏ cộng đoàn; Bỏ Chúa. Họ đi vào đêm đen, tâm hồn chìm trong bóng tối, không lối thoát. Họ đang chết. Nhưng, Chúa đã đến. Chúa làm ấm lên cõi lòng băng giá; Chúa làm sáng lên đêm đen; Chúa làm sống lại hi vọng. Họ trở lại: với Chúa, với anh em, với lý tưởng và với sự sống.

Chúa Giê-su đã phục sinh các tâm hồn nhờ những phương thuốc thần diệu sau:

1.Chúa phục sinh. Họ chết vì nghĩ rằng Chúa đã chết. Họ sống lại ngay khi biết Chúa sống lại. Nhưng để phục sinh Chúa đã phải trải qua khổ nạn, trải qua cái chết, trải qua nhục nhã, trải qua thất bại.

2.Chúa đi tìm. Con người cô đơn và buồn phiền. Đi trên con đường tăm tối bất định. Họ không thể tìm Chúa nên Chúa đi tìm họ. Chúa đến gặp họ, ngay trên đường họ đi, ngay trong nỗi buồn của họ.

3.Lúc trời đã tối. Buổi tối là lúc nghỉ ngơi. Chẳng ai làm việc buổi tối, nhất là phải ra đường thì rất nguy hiểm. Nhưng Chúa đã lên đường lúc trời tối vì  Chúa thương những tâm hồn tăm tối hơn bóng tối.

4.Chúa chia sẻ. Chúa đến chia sẻ những ưu tư lo lắng của họ. “Các anh có chuyện gì mà buồn thế”? Chúa để họ chia sẻ nỗi niềm. Họ được dịp giãi bầy. Chúa lắng nghe. Chúa giải nghĩa Thánh Kinh suốt chặng đường dài mấy giờ đồng hồ.

5.Chúa trở nên người bạn. Từ người xa lạ Chúa đã trở thành thân thiết. Đến nỗi họ không muốn rời xa Chúa nữa, vì Chúa hiểu họ và giúp họ.

Đó chính là Lòng Thương Xót của Chúa. Lòng Thương Xót nhìn thấu nỗi cô đơn tuyệt vọng; Quan tâm đi tìm những tâm hồn lạc lõng bơ vơ; Chiếu sáng và sưởi ấm giữa đêm đen lạnh lẽo; Cảm thông chia sẻ với những tâm hồn cô đơn; Chữa lành những tâm hồn bị thương tích; Phục sinh những tâm hồn đang chết dần mòn.

Thế giới hôm nay tràn đầy những con người như thế: buồn sầu, tuyệt vọng nhưng chẳng có ai cứu giúp. Vì con người ngày nay quá bận rộn, chỉ chú ý đến bản thân, không có thời giờ cho người khác. Mỗi con người đang trở thành một con đường cô đơn đi về sự chết, cần có Chúa, cần có Lòng Thương Xót để đường Em-mau trở thành đường yêu thương gặp gỡ, đường sự sống. Ta hãy thực hành những gì Chúa đã làm. Đó là:

Hãy đi tìm. Biết bao anh em đang cô đơn lạc lõng giữa ngã ba đường, đang khao khát được gặp gỡ, được chia sẻ.

Hãy khẩn cấp lên đường. Dù giữa đêm khuya. Biết bao người sắp chết đang chờ đợi ta.

Hãy trò chuyện. Hãy lắng nghe. Biết bao nỗi lòng cần được giãi bầy, cần được cảm thông.

Hãy làm bạn. Một người bạn sẵn sàng chia vui sẻ buồn, sẵn sàng hiện diện. Có mặt dù chỉ để cảm thông, chỉ để ăn một bữa cơm, chỉ để nói một câu chuyện, hoặc giản đơn chỉ để ở bên nhau dù không làm được gì.

Nhưng trước hết và trên hết ta hãy phục sinh chính mình. Thánh Phao-lô mời gọi ta hãy chết cho con người cũ để “sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa” được tỏ hiện. “Đừng lấy men cũ là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ”.

Hãy đón nhận Lòng Thương Xót của Chúa Phục Sinh. Hãy đem Lòng Thương Xót gieo rắc khắp nơi để bất cứ con đường nào ta đi cũng trở thành Đường Em-mau, Đường của Lòng Thương Xót; để bất cứ ai gặp ta cũng gặp được Lòng Thương Xót, gặp được lòng tốt, gặp được sự cảm thông chia sẻ, gặp được một người bạn.

Lạy Chúa, hằng ngày Chúa đi bên cạnh con mà con không nhận biết Chúa. Xin cho con nhận ra Chúa trong những người anh em sống chung với con, đi bên cạnh con, cùng làm việc với con. Amen.

Về mục lục

.

NIỀM VUI PHỤC SINH

Lm. Jos. DĐH

Đau khổ, niềm vui, ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm, vì đã gặp; thức khuya dạy sớm để đi làm, chúng ta đã từng thức, còn thức dạy sớm để ra mồ, xức dầu thơm cho người chết, thì chưa. Không ai có thể bắt người ta cười, trong khi họ đang đau khổ, nước mắt tuôn rơi; nhưng Đấng có tên là “Giêsu Nagiarét, vua dân Do-thái”, Ngài đã làm cho người thân của Ngài khóc trong vui sướng. Các phụ nữ, các tông đồ hôm xưa cười trong lúc đau khổ, không phải do gặp may hay trúng số, nhưng họ vui cười vì tìm thấy dấu hiệu của sự sống nơi “mộ trống”.

Đức Giêsu chịu đau khổ vì bất công, nhằm giúp con người qua các thời đại hiểu, và đừng nguyền rủa đau khổ. Đức Giêsu chịu đóng đinh thập giá là để biến khổ đau thập giá thành Thánh Giá cứu chuộc nhân loại tội lỗi chúng ta. Đau khổ sự chết không giết được Đức Giêsu, thì độc ác gian tà nơi nhân loại, không thể cản lối che đường người có đức có tâm gặp được sự sống lại trong Đức Kitô. Tảng đá to lớn lăn ra khỏi cửa mộ, khiến nhiều người nhớ đến câu ví von : người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo.

Đúng, lính canh đã sợ hãi bỏ chạy vì “ngôi mộ trống”, các phụ nữ nửa lo nửa mừng khi phát hiện tảng đá được lăn ra khỏi cửa mộ; và rồi tâm trí các tông đồ bừng sáng lên bởi niềm vui từ “mộ trống”. Có những sự thật ám ảnh ta đau lòng mãi không nguôi, làm sao ta có thể nghe được kinh nghiệm của cha ông mình : đừng ngồi đó mãi mà hối tiếc ly sữa đã đổ. Sai thì sửa, vấp ngã thì đứng lên, có tội, hãy sám hối để được tha; hãy giúp nhau mạnh dạn lên, dù chỉ một lời : “tôi đã thấy tảng đá lăn khỏi mộ”.

Nhân loại đã giết Đức Giêsu, các tông đồ bỏ Thầy, tìm lối thoát thân, chúng ta ở đây từng vi phạm giới luật yêu thương, tất cả đều tội lỗi bất xứng. Vâng, hãy để Đức Giêsu Phục Sinh con người tội lỗi của ta, hãy đối diện với sự thật để tâm hồn ta được bao dung tha thứ, được rửa sạch vết nhơ tội lỗi. Tội lỗi và bội phản đã giết Chúa, khổ đau thập giá Chúa chúng ta đã chịu, đã mang vác; tình yêu của Thiên Chúa đã Phục Sinh Đức Kitô từ cõi chết, vì cớ gì ta không tìm gặp Ngài ?

Tin-mừng Phục Sinh đến với hai môn đệ thân tín, các ông không từ từ hay dửng dưng, hai vị đã tức tốc chạy mau ra ngôi mồ, hẳn các ông cũng như các phụ nữ không thể tìm “người sống nơi kẻ chết”. Ánh sáng Phục Sinh đã làm cho con người phải công tâm nhìn nhận : Sự Sống mới đã đến từ Đức Kitô, Đấng đã vâng lời cho đến chết. Sự Phục Sinh vinh hiển của Đức Giêsu không như tình cờ chuyện phải tới, mà được tỏa chiếu từ tình hiệp thông Nên Một trong Thiên Chúa yêu thương.

Để khen giới phụ nữ, mọi người, mọi thời đại, sẽ còn thán phục tính đơn sơ, nhưng đầy can đảm của họ trước mục đích bé nhỏ là xức dầu thơm cho thân xác Chúa đã bất động. Để chê các học trò Đức Giêsu, người ta sẽ còn nói hoài, nói mãi : sao các ông nhút nhát thế, ham sống sợ chết vậy ? Sự kiện “ngôi mộ trống” hôm xưa và hôm nay cho chúng ta thấy sự khác biệt, Đức Giêsu sống lại, nhưng không hiện diện cho người thân, cho các tông đồ, hay cho những người giết Chúa được thấy cách tỏ tường. Chúa không hiện ra ở mộ đá để các phụ nữ, các tông đồ được “tay bắt mặt mừng”, phút đầu gặp được sự sống, nhất định phải là tình yêu, chứ không hẳn chỉ là con tim khói óc.

Niềm vui được gặp Chúa sống lại bắt đầu từ niềm tin “nho nhỏ” nơi “mộ trống”; tâm hồn trống rỗng của các phụ nữ, của các tông đồ, được lấp đầy hạnh phúc chính là điệp khúc yêu thương giữa tình Thầy-trò. Sự kiện kẻ chết và sống lại của Đức Kitô sẽ phai nhạt theo năm tháng, nếu người ta sống đạo hời hợt, sống đạo xa xa, sống vu vơ ở ngoài nhà thờ. Tình yêu và niềm vui được lớn lên là nhờ được nuôi dưỡng, nhất là tình hiệp thông. Đấng Phục Sinh sẽ ban ánh sáng tình yêu của Ngài, đặc biệt là ơn bình an, để mọi người sẽ tâm phục khẩu phục : tôi đã tin nên tôi đã vui mừng thấy Đấng Kitô Phục Sinh đã sống lại trong tôi. Amen.

Về mục lục

.

PHỤC SINH ĐEM LẠI ƠN BIẾN ĐỔI

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Trong một lần thăm viếng mục vụ,  một linh mục trò chuyện với một cụ già gần 90 tuổi. Vị linh mục hỏi ông cụ : Nếu Chúa cho cụ sống thêm 50 năm nữa, cụ có muốn không ? Cụ già trả lời : Con chỉ muốn sống thêm, nếu con được thay đổi để sống một cuộc sống khác hơn thì con muốn. Con cũng chỉ muốn sống thêm khi thấy con cái cũng thay đổi, sống khác hơn bây giờ, yêu thương nhau hơn, kính trọng, thảo hiếu hơn, thì con mới muốn sống thêm. Chứ sống lâu mà bệnh tật, nhìn thấy con cháu ngỗ nghịch, phá phách thì sống thêm nữa để làm gì ?

Họp mừng Chúa Sống Lại chỉ thực sự là niềm vui và có ý nghĩa khi mỗi chúng ta thật lòng thay đổi nếp sống, để cùng Chúa Giêsu sống một cuộc sống mới. Nếu Đức Giêsu sống lại để sống một cuộc sống mới, mà những kẻ tin vào Ngài vẫn sống nếp sống cũ, thì điều đó sẽ không có giá trị và ý nghĩa gì. Như vậy, chúng ta phải làm sao để cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu thực sự tác động và biến đổi cuộc đời chúng ta.

Các bài đọc ngày lễ Chúa Phục Sinh muốn nói đến sự biến đổi của những con người đã được gặp và đã tin vào Mầu nhiệm Chúa Phục Sinh. Sự kiện Phục Sinh là sự kiện của đức tin. Sự kiện này vượt quá khả năng của lý trí và sự kiểm nghiệm của giác quan. Để đón nhận đức tin, cần phải có ơn Chúa và đón nhận sự chỉ dạy của Giáo Hội. Tin Mừng Gioan cho chúng ta nhiều hình ảnh mang tính biểu trưng. Thánh sử kể lại chuyện của Bà Maria Madalena. Bà là người đã tin Chúa sống lại nhờ tìm kiếm dựa vào kinh nghiệm cá nhân và lời chứng của Giáo Hội. Thánh Gioan cho thấy bà ra mộ từ sáng sớm, khi trời còn tối. Khi đến nơi, bà thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Bầu trời tối, không chỉ là sự tối tăm của thiên nhiên, nhưng còn là sự tối tăm trong tâm hồn của bà Madalena. Ánh sáng Phục Sinh chưa chiếu vào tâm hồn bà được. Mặc dù đã nhìn thấy tảng đá được lăn ra khỏi mộ, nhưng bà vẫn nuôi trong mình suy nghĩ của sự chết và hình ảnh Thầy Giêsu đã chết. Vì thế, bà về nói với các tông đồ : Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.

Thánh Gioan cũng cho thấy, trong lúc bối rối về Mầu nhiệm Phục Sinh, bà đã chạy về gặp ông Simon Phêrô và môn đệ Chúa Giêsu thương mến. Điều đó có nghĩa là khi gặp thử thách về đức tin, chúng ta đừng chạy ra, cũng đừng chạy đi, mà phải chạy về với Simon, tức là với Giáo Hội. Vì Simon và các tông đồ chính là chỗ dựa đức tin cho chúng ta, các Ngài là những người có thẩm quyền trong đức tin.

Thánh Gioan cũng kể về kinh nghiệm đức tin của Simon và của chính ông, người môn đệ Chúa yêu. Một người là môn đệ được Chúa yêu, người kia là môn đệ yêu Chúa nhất. Cả hai ông cùng chạy ra mộ. Người môn đệ kia đến trước, nhưng ông vẫn chờ và nhường cho Simon đến sau vào mộ trước. Hành động này cho thấy sự tôn trọng quyền thủ lãnh của Phêrô, người được Chúa trao nhiệm vụ củng cố đức tin cho anh em.

Simon Phêrô bước vào trong mồ, thấy những tấm băng vải để đó được xếp gọn gàng, khăn che đầu được cuộn lại và để riêng một nơi. Chi tiết này chứng tỏ không hề có ai lấy xác Chúa như bà Madalena đã nói. Vì nếu kẻ trộm lấy xác, chắc chắn chúng không gỡ những băng vải ra làm gì. Nếu là kẻ trộm, chúng sẽ không có thời giờ để gấp gọn các khăn và băng vải. Như thế, Simon đã nhận ra, đây chính là dấu chứng cho thấy Thầy của các ông đã sống lại.

Niềm tin của Gioan vào mầu nhiệm Phục Sinh có khác với Simon. Đứng trước việc tảng đá đã lăn ra khỏi mộ, Gioan đã cúi xuống để nhìn vào trong mồ và thấy những băng vải còn đó. Tin Mừng muốn nói rằng, để có thể chấp nhận được niềm tin Phục Sinh, cần phải có một thái độ khiêm tốn, cung kính cúi mình trước những mầu nhiệm siêu việt này. Chỉ khi cúi xuống, mới có thể thấy những dấu vết của mầu nhiệm Chúa Phục Sinh để lại trong cuộc đời chúng ta. Kế đó, ông bước vào trong mộ cùng với Simon Phêrô, ông đã thấy và ông đã tin.

Tuy nhiên, không phải mọi người đều có thể tiếp cận được với những lý chứng như ngôi mộ trống hoặc những tấm khăn xếp gọn là dấu vết về cuộc phục sinh của Chúa. Vì thế, thánh Gioan mời gọi chúng ta, muốn đón nhận được niềm tin Phục Sinh thì cần phải đọc và suy gẫm Kinh Thánh. Tác giả ghi lại : Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : Theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải chỗi dậy từ cõi chết. Kinh Thánh là Lời của Chúa và là chương trình yêu thương của Thiên Chúa dành cho con người. Kinh Thánh nói về Chúa Giêsu và cuộc tử nạn phục sinh của Người. Tin vào Kinh Thánh, chúng ta sẽ có niềm tin vào Chúa Giêsu phục sinh.

Khi đón nhận được niềm tin phục sinh, chúng ta sẽ được biến đổi và phải biến đổi nên con người mới. Chúa Giêsu sống lại, Ngài không sống lại với con người cũ. Mặc dù vẫn là thân xác, vẫn mang những dấu đinh, nhưng thân xác ấy đã hoàn toàn biến đổi. Thân xác của Chúa không còn bị giới hạn hay lệ thuộc vào không gian thời gian. Thân xác Chúa dù rất quen thuộc khiến cho Madalena nhận ra giọng nói của Ngài, nhưng cũng rất khác lạ khiến cho các phụ nữ và các tông đồ khi gặp đã không nhận ra Ngài.

Có một điều chắc chắn, Chúa Phục Sinh đã biến đổi hoàn toàn cuộc đời các tông đồ. Các ông từ những kẻ nhát sợ, đã trở nên can đảm ; từ những kẻ như đã chết, nay được hồi sinh ; từ những kẻ bình dân, nhà quê nay trở nên thông thái, mạnh dạn nói về Chúa Giêsu Phục Sinh.

Bài đọc một cho thấy, Phêrô đã không còn nhát sợ, không còn tính bồng bột trước đây, ông đã trở thành cột trụ cho Giáo Hội sơ khai, thành người rao giảng không mệt mỏi về Chúa Phục sinh. Tại nhà ông Cornêliô, Phêrô đã có một bài giảng long trọng nói về Chúa Giêsu Nazaret : Ngài là Đấng được Thánh Thần xức dầu để thi hành sứ mạng cứu độ. Ngài đã thi ân giáng phúc, dùng quyền năng mà làm nhiều phép lạ. Cuối cùng, người Do Thái đã giết Ngài, treo trên thập giá, nhưng vào ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho Ngài chỗi dậy.

Phêrô đã làm chứng rằng : Chúa Giêsu đã chỗi dậy, đã hiện ra tỏ tường với chúng tôi là những nhân chứng Người đã tuyển chọn từ trước. Chính chúng tôi là những kẻ đã ăn uống với Người sau khi Người từ cõi chết sống lại. Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho toàn dân và làm chứng rằng : Chính Ngài là Đấng Thiên Chúa đã đặt làm thẩm phán để xét xử kẻ sống và kẻ chết.

Khi lãnh Bí tích Rửa tội, chúng ta được dìm vào cái chết và bước vào cõi sống cùng với Chúa Giêsu Kitô. Do đó, tuyên xưng Chúa sống lại không chỉ là lời tuyên xưng trên môi miệng, mà phải cùng biến đổi với Chúa Kitô. Thánh Phaolô chỉ cho chúng ta : Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc về thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Tin Chúa Giêsu sống lại, chúng ta không thể để mình bị chìm trở lại trong con người cũ, nhưng phải sống một con người mới, một thay đổi mới. Chắc chắn Chúa chịu chết và sống lại muốn nhìn thấy chúng ta là con Ngài sống tốt hơn, gắn bó với Ngài hơn. Ngài chết để cứu chuộc chúng ta, Ngài muốn chúng ta thuộc về Ngài. Ngài sống lại để đem đến cho nhân loại sự sống mới, Ngài muốn chúng ta đón nhận sự sống mới từ nơi ngài để được sống.

Hãy bắt đầu bằng việc làm mới lại bản thân, sống một quyết tâm mới, một con người mới. Hãy đến với Chúa thường xuyên hơn, gặp gỡ, gắn bó với Chúa nhiều hơn trong cầu nguyện và trong những công việc thường ngày. Hãy làm cho gia đình mình thực sự trở nên mới hơn, nhiều tiếng cười, nhiều niềm vui và nhiều hạnh phúc hơn. Hãy bước đến với anh em chòm xóm và mọi người với một gương mặt mới, vui hơn, tươi hơn. Hãy đem đến cho nhau tấm lòng tốt hơn, đẹp hơn và hãy làm nhiều việc nhân ái hơn, bao dung, quảng đại hơn cho người chung quanh.

Xin cho chúng ta biết để Chúa Phục sinh biến đổi mỗi người nên những con người mới và làm cho mầu nhiệm Chúa Phục sinh lan tỏa và biến xã hội này nên tốt đẹp hơn. Amen.

Về mục lục

.

CHÚA ĐÃ SỐNG LẠI THẬT RỒI

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Ngày thứ nhất trong tuần, ngày mà nước mắt chưa vơi, tình người chưa cạn. Maria Mađalêna, người đàn bà rất thật đàn bà, mạnh mẽ phi thường. Lúc các môn đệ, giới mày râu vai u thị bắp, có những vị được mệnh danh là con cái sấm sét, đang ẩn đâu đấy sau khi thầy bị bắt, bị giết và an táng trong mồ, thì Maria Mađalêna vẫn can đảm dõi bước theo Thầy trong hành trình Thương Khó, tận mắt thấy cảnh Thầy bị đánh đòn vai mang thập giá, can đảm hơn bà còn đứng dưới chân Thánh giá, chôn cất Thầy, nay lại ra viếng mồ Thầy khi trời còn chưa sáng như Gioan thuật lại trong Tin Mừng hôm nay : Ngày đầu tuần, Maria Mađalêna đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối” (Ga 20, 1) . Lúc tranh tối tranh sáng, người ta thường hay sợ thế lực nào đó, Maria đã chứng tỏ bản lĩnh của mình. 

Bà tới mộ, ô kìa, chuyện gì đã xảy ra vậy ? Sao tảng đá lấp cửa mồ lại lăn ra, xác Thầy tôi đâu ? Cho dù can đảm, nhưng vốn bà vẫn là phái yếu, liễu yếu đào tơ, cần tìm người trợ giúp, hiển nhiên phải là các ông rồi. Bà liền tức tốc quay về tìm Simon Phêrô và người môn đệ kia được Chúa Giêsu yêu mến, với hy vọng mấy ông sẽ tìm ra thủ phạm, bà nói với các ông rằng: “Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu ?” (Ga 20, 2). Chúng ta cứ tưởng tượng xem, khi hay tin, tâm trạng các ông như thế nào lúc “cả hai cùng chạy, nhưng một ông chạy nhanh hơn, tới mộ trước cúi mình xuống thấy những khăn liệm để đó, nhưng ông không vào trong“(x. Ga 20, 4). Tại sao ông lại không vào trong ? Ông không vào là vì ông tôn trọng Phêrô là đầu của nhóm. Ông thấy và ông  tin Người phải sống lại từ cõi chết, đúng như lời Kinh Thánh.

Chúa đã sống lại thật rồi ! Allêluia ! Allêluia ! Allêluia ! Chúng ta có tin không ?

Hôm nay Giáo hội mừng Chúa sống lại với niềm vui khôn tả. Chúa Giêsu sống lại là một thực tế của lịch sử mà những người phụ nữ thánh thiện, các tông và môn đệ chứng thực, họ đã nhìn thấy và nhất là đã đụng chạm vào Chúa Giêsu Phục sinh. Lời của Phêrô là bằng chứng : “Chúng tôi là chứng nhân tất cả những gì Người đã làm trong nước Do-thái, và tại Giêrusalem, Người là Đấng người ta đã giết treo Người trên thập giá. Nhưng ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho Người sống lại và hiện ra không phải với toàn dân, mà là với chúng tôi là nhân chứng ” (Cv 10, 37-41).

Chính Phaolô, người Do thái nhiệt thành cũng quả quyết : “Vì tiên vàn mọi sự, tôi đã truyền lại cho anh em, điều mà chính tôi cũng đã chịu lấy: là Ðức Kitô đã chết vì tội lỗi ta, theo lời Kinh thánh, là Ngài đã bị chôn cất, là Ngài đã sống lại, ngày thứ ba, theo lời Kinh thánh, là Ngài đã hiện ra cho Kêpha, đoạn cho nhóm Mười hai. Rồi Ngài hiện ra cho hơn năm trăm anh em một lần, trong số đó phần đông hiện nay cũng còn sống, nhưng cũng có người đã yên nghỉ. Rồi Ngài đã hiện ra cho Giacôbê; đoạn cho các tông đồ hết thảy.  Cuối hết Ngài đã hiện ra cho cả tôi nữa, không khác một đứa con ranh (1 Cr 15, 3-8 ; Ga 20, 1-29) ; Mt 28, 9-10). Những người dân ngoại và Do thái cũng là những chứng nhân rất đặc biệt !

Bài Ca Tiếp Liên chúng ta hát trong ngày hôm nay nhắc lại biến cố lịch sử quan trọng này. Maria Madalêna đã thực sự gặp các thiên thần làm chứng tỏ tường, thấy y phục và khăn liệm của Đức Kitô Phục Sinh. Với hồng ân đức tin, đến lượt chúng ta phải công bố tin mừng Chúa phục sinh (x. Ca Tiếp Liên lễ Phục Sinh).

Mừng lễ Chúa Kitô Phục sinh là dịp để người kitô chúng ta vui mừng hân hoan và tràn trề niềm hy vọng vào một tương lai huy hoàng sáng lạng trong nước Thiên Chúa sau khi đã hoàn tất cuộc đời lữ thứ trần gian. Chúa Kitô Phục sinh khải hoàn, đó là niềm tin và lẽ sống của người Kitô. Hôm nay chúng ta hân hoan vui mừng với tinh thần mà thánh Phaolô nói : Vì Chiên Vượt Qua của ta, là Đức Kitô, đã chịu sát tế. Cho nên ta hãy mừng lễ, đừng với men cũ, và men gian tà, ác độc, nhưng là với Bánh không men của lòng tinh tuyền và chân thật” (1Cr 5,7-8). Từ nay chúng ta quả quyết mà không sợ sai lầm rằng, cái chết không phải là tiếng nói cuối cùng nữa, bởi vì ngày chúng ta chịu phép rửa tội, “nhờ thanh tẩy, ta đã được mai táng làm một với Ngài trong sự chết, ngõ hầu như Ðức Kitô, nhờ bởi vinh quang của Cha, mà được sống lại từ cõi chết, thì cả ta nữa, ta cũng bước đi trong đời sống mới” (Rm 6, 4). Ước mong niềm tin vào Đấng Phục sinh luôn đem đến cho Giáo hội, cho thế giới và mọi người trên trái đất này sự bình an, ơn hiệp nhất để cùng hướng về mục đích đệ nhất của kiếp người là được hưởng sự sống vĩnh hằng trong ngày sau hết.

Sau khi hân hoan mừng Chúa Phục Sinh. Giáo hội muốn nhắn gửi mỗi người chúng ta rằng : hãy lên đường, để sự hiện diện của ta là lời chứng rao giảng hùng hồn về Đức Kitô đã chết đi, loan tin Người đã sống lại, trong vinh quang mai Người lại đến đón chúng ta, những người tin vào Đức Kitô lên trời về với Chúa Cha. Vì quê hương chúng ta là quê Trời, nước chúng ta là Nước Trời. Thánh Phao lô khuyên chúng ta “hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa” (Cl 3, 3).

Chúa sống lại thật rồi, Allêluia! Kính dâng Người vinh quang và uy quyền đén muôn đời muôn thủa. Allêluia!

Về mục lục

.

AI SẼ LĂN TẢNG ĐÁ?

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An 

Tin Mừng Chúa Nhật Phục Sinh nói đến tảng đá lấp cửa mộ đã bị bật tung và mở toang. Sự kiện khởi đi buổi “sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần”, Maria Mađalêna đi thăm mộ và “thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ”, bà liền kết luận “người ta đã đem Chúa đi khỏi mồ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu”. Phêrô thinh lặng. Gioan “đã thấy và đã tin”.

Mađalêna đau khổ thất vọng nên chỉ thấy tảng đá là sự kết thúc. Bà chưa hiểu phía sau tảng đá được lăn ra kia ẩn chứa một mầu nhiệm siêu phàm.

Tông đồ Phêrô, quan sát kỹ lưỡng từ tảng đá cho đến ngôi mộ trống và tất cả những gì đã xảy ra nơi đây, nhưng ngài không nói gì, không bày tỏ thái độ mà chỉ thinh lặng. Vì sao vậy? Lý do có thể Phêrô là lãnh đạo tinh thần của nhóm tông đồ nên sự im lặng là cần thiết? băn khoăn, không biết nghĩ thế nào hay phải ăn nói làm sao! Tuy nhiên, căn cứ vào những gì Tin mừng trình bày, sự im lặng của Phêrô có nguyên nhân từ sự chưa hiểu thấu mầu nhiệm Phục sinh: “Trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: Theo Kinh thánh, Đức Giêsu phải chỗi dậy từ cõi chết” (x. Ga 20,9). Thật thế, cho đến mãi sau này, khi đã được gặp Đấng Phục Sinh và đón nhận Thánh Thần, Phêrô mới hiểu vì sao ngôi mộ trống và tâm hồn ông lúc ấy mới bừng sáng để hiểu điều mà Kinh thánh từng loan báo. Phêrô là một người chân chất đơn sơ. Điều gì chưa biết thì im lặng và chờ đợi chứ không nhiều lời, không suy diễn.

Khi từ mộ trở về, các bà Maria Macđala, bà Gioanna và bà Maria, mẹ ông Giacôbê và các bà khác cùng đi với mấy bà này. Các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy. Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẫn, nên chẳng tin” (Lc 24,11). Tảng đá nghi ngờ đang che mờ đôi mắt đức tin của họ.

Các thượng tế và kỳ mục thì lo âu sợ hãi trước hiện tượng mồ trống. Vì thế, các ông mới cho lính canh số tiền hậu hĩ và bảo những người này phao tin là các môn đệ của ông Giêsu đã đến lấy trộm xác: “các anh hãy nói như thế này: ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ đã đến lấy trộm xác” (Mt 28,13). Tảng đá ghen ghét đã bịt lối nhìn lối nghĩ của họ.

Cuối cùng chỉ có một người tin. Đó là Tông đồ Gioan. Nhưng Gioan tin không phải vì hiện tượng mồ trống mà vì những gì đã thấy. Gioan thấy gì? Ông thấy những băng vải và khăn che đầu không xếp lộn với nhau, nhưng để riêng ra một nơi. Cảnh tượng này làm Gioan nhớ lại lời Kinh Thánh nói rằng Đức Kitô phải chịu đau khổ, phải chết rồi mới chỗi dậy mà vào chốn vinh quang (Lc 24,26). Gioan đã chứng kiến dấu lạ Chúa Giêsu cho Ladarô sống lại. Ladarô ngồi dậy, nhưng thân mình còn quấn chặt các thứ khăn liệm, còn ở đây, mọi thứ được xếp gọn gàng. Gioan nhớ lại lời nói của Chúa Giêsu sau khi đuổi phường buôn bán ra khỏi đền thờ: “Hãy phá đền thờ này đi, và trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại” (Ga 2,19). Gioan còn nhớ điềm lạ của Giona với lời khẳng định của Chúa Giêsu: “Như Giona ở trong bụng cá ba ngày ba đêm thế nào, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày đêm như vậy” (Mt 12,40). Gioan vẫn nhớ như in, trên núi Tabor, Chúa hiển dung và căn dặn các ông không được nói lại với ai về chuyện đó, cho đến khi Ngài sống lại từ cõi chết (Mc 9,9). Gioan luôn nhớ, trước lúc lên đường về Giêrusalem để dự lễ Vượt qua, Thầy cũng đã nói với 12 môn đệ thân tín: “Này, chúng ta lên Giêrusalem và sẽ hoàn tất cho Con Người mọi điều các tiên tri đã viết. Vì chưng Ngài sẽ bị nộp cho dân ngoại, sẽ bị nhạo báng, hành hạ, khạc nhổ, và sau khi đã đánh đòn Ngài, người ta sẽ giết Ngài, nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại” (Lc 18,31-33). Gioan ghi tạc vào lòng lời tâm sự của Thầy trong buổi tiệc ly: “Hết thảy các ngươi sẽ vấp ngã vì Ta trong đêm nay… Nhưng sau khi Ta sống lại, Ta sẽ đi trước các ngươi tới Galilê” (Mt 26,31-32)…Những lời đó làm Gioan tin chứ không phải thấy Đấng Phục Sinh. Gioan không thấy Đấng Phục Sinh nhưng ông tin Đấng mà ông yêu mến đã sống lại. Ngay từ giây phút đầu tiên khi thấy những vết tích còn để lại trong mồ trống, Gioan đã tin cách tuyệt đối. Tuy không thấy xác nhưng những vải liệm kia chính là những dấu chỉ có giá trị đối với ông. Nói như J.P Duplantier, “ngôi mộ không trống cũng chẳng đầy, nhưng nó đã trở nên một ngôn ngữ”. Nhờ việc chú ý đến thứ ngôn ngữ ấy, người môn đệ Chúa yêu đã khám phá và hiểu rằng Chúa Kitô đã toàn thắng sự chết, điều mà lúc bấy giờ ngoài ông ra, các môn đệ khác còn chưa hiểu nổi. Rõ ràng, thấy là nền tảng và bằng chứng cho lòng tin. Nhưng thấy ở đây không phải là thấy những sự kiện bên ngoài mà là thấy ý nghĩa bên trong gắn liền với sự kiện. Tông đồ Gioan thấy sự kiện những băng vải và khăn che đầu, nhưng vì nhớ lời Kinh Thánh mà tin. Thấy rồi mới tin là chuyện bình thường. Còn không thấy mà tin mới là phúc như lời Chúa Giêsu nói với tông đồ Tôma : “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20,28).

Sáng sớm ngày thứ nhất đầu tuần mới, tảng đá lấp cửa mồ đã mở toang. Nấm mồ lạnh lẽo, chật hẹp, tối tăm đã mở tung ra như cánh hoa hồng hay đôi môi thắm tươi của nụ cười thiếu nữ, đầy sức sống và bình an. Tảng đá lấp mộ làm sao niêm giữ được Đấng Phục Sinh! Nấm mồ chỉ là giai đoạn chuyển tiếp. Nó giống như lối đi ngầm dưới mặt đất, sẽ mở lên một vòm trời vinh quang. Chúa Giêsu dùng nó như cánh cửa mở vào miền đất tử thần và từ đó biến nó thành ngõ mở vào cõi sống trường sinh.

Có những hòn đá ta bước qua rất dễ. Có những tảng đá phải tốn thời giờ công sức mới dịch chuyển nó sang một bên để có đường đi. Nhưng cũng có những tảng đá to chắn bít lối đi, che khuất tầm nhìn nên không thể bước tiến.Trong đời sống thường nhật, có biết bao tảng đá vô hình mà nặng nề, cần phải được tháo bỏ. Giuđa bán Thầy với giá 30 đồng bạc, cả một tảng đá tham lam đè nặng tâm hồn. Phêrô chối Thầy đến 3 lần, ấy là vì tảng đá sợ hãi che kín. Các môn đệ bỏ trốn, vì tảng đá nhát đảm sợ liên luỵ đang vây bủa. Mỗi người chúng ta có thể cũng đang bị một tảng đá vô hình nào đó đè nặng tâm hồn. Tảng đá đam mê nết xấu.Tảng đá ghen ghét, chia rẽ. Tảng đá đam mê dục vọng… Ai sẽ giúp chúng ta lăn những tảng đó ra?. Xin thưa là chính Chúa Giêsu Phục Sinh. Ngài sẽ giúp ta lăn tảng đá đó ra khỏi đời mình và làm cho tâm hồn ta được phục sinh để sống bình an.

Tảng đá to đã niêm phong cửa mồ, các Thượng tế và những người Pharisiêu xin Tổng trấn Philatô cắt đặt một tiểu đội binh sĩ đến canh ngôi mồ (Mt 27,62),  và “Thế là họ ra đi canh giữ mồ, niêm phong tảng đá, rồi cắt lính canh mồ” (Mt 27,66). Tảng đá đó thể hiện sức mạnh quyền lực của sự dữ và sự thống trị của con người. Cận vệ đền thờ nghĩ rằng dấu niêm phong của lãnh đạo Do thái có khả năng thách thức được quyền phép Thiên Chúa sao? Đấng Phục Sinh đã bật tung tảng đá niêm phong, từ cõi chết, Người sống lại vinh quang, mở lối vào sự sống mới.

Chúa Giêsu sống lại, chân lý đã chiến thắng, tình yêu vượt trên hận thù và sự sống mạnh hơn sự chết. Phục Sinh là niềm tin và hy vọng cho người Kitô hữu vào sự sống mai sau: “Nếu chúng ta đã chết với Đức Kitô, chúng ta sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta” (Rm 6,8).

Phục Sinh là niềm vui của những người được Chúa Kitô đẩy tảng đá ra khỏi cuộc đời họ, làm cho tâm hồn họ được bình an. Như Giakêu, như Lêvi đã được Chúa Giêsu giải thoát khỏi tảng đá của tội lỗi nên họ cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng thanh thản và bước theo Chúa. Và còn biết bao tấm gương khác đã được giải thoát khỏi những tảng đá vô hình, và từ đó hân hoan bước theo Chúa Giêsu.

Chúa đã Phục Sinh. Tin vui làm ấm áp cõi lòng đang buồn phiền vì mất mát đắng cay. Tin mừng đã lau khô đôi mắt ngấn lệ khóc than tiếc thương của các môn đệ. Mầu nhiệm sự sống qua cái chết mà Thầy từng rao giảng thực sự được khai trương. Chúa đã chỗi dậy từ chính nơi đã được mai táng. Ánh sáng tràn ngập. Niềm hy vọng lớn lao đã được bắt đầu từ chính nơi hôm qua còn đầy đau thương tuyệt vọng. Chúa Phục Sinh đã đẩy mọi tảng đá nặng nề ra khỏi tâm hồn các môn đệ.Từ đây các môn sinh bắt đầu một hành trình mới, loan báo Tin mừng Phục sinh.

Chúa đã sống lại thật! Allêluia! Đó là niềm vui và tuyên tín của các Tông đồ. Niềm vui và tuyên tín đó đã được loan truyền cho tới ngày nay và mãi cho tới ngày tận cùng của nhân loại. Nhìn lại đời sống mình, chúng ta sẽ nhận thấy vô vàn sự phục sinh. Khi một tình bạn, một tình yêu bị tan vở, chúng ta biết hàn gắn lại bằng yêu thương thì đó không phải là sự phục sinh sao ? Khi mà chúng ta có kinh nghiệm về sự tha thứ, dẹp tan lòng thù hận, oán ghét thì đó là cuộc vượt qua phi thường…Tảng đá vô hình đè nặng được lăn ra khỏi tâm hồn chính là phục sinh. Tin vào Đấng Phục Sinh là thắp lên ánh sáng mới, là đón nhận tình yêu mới cho mùa xuân tâm hồn.

Về mục lục

.

ĐỨC GIÊSU VẪN SỐNG

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Sáng ngày thứ nhất trong tuần, khi đến thăm mồ Đức Giêsu, chị Maria Magdala phát hiện không có xác Đức Giêsu trong đó. Chị cho rằng có ai đã lấy xác Đức Giêsu và quăng đi đâu đó, vì có lẽ chị không biết mồ nơi chôn táng Đức Giêsu là tài sản của ông Giuse Arimathia. Chị chạy về báo tin cho các tông đồ, cụ thể là cho Phêrô và Gioan. Hai môn đệ này tới, và cũng nhận thấy xác Đức Giêsu không còn trong mồ nữa. Tin mừng Gioan cho thấy “người môn đệ đến trước”, đã thấy và đã tin (Ga.20, 8); tuy nhiên tin mừng lại không cho thấy ông tin điều gì. Theo tin mừng Maccô, không có tông đồ nào tin Đức Giêsu Phục Sinh khi các chị phụ nữ báo tin Đức Giêsu đã phục sinh (Mc.16, 9-14).

Tất cả các tông đồ chỉ tin Đức Giêsu Phục Sinh, khi các ông gặp gỡ Ngài. Trong lần hiện ra đầu tiên cho các tông đồ, Thomas không ở đó nên không thấy, nên ông đã không tin Đức Giêsu phục sinh cho dù các tông đồ khác và các chị phụ nữ loan tin cho ông. Tám ngày sau, khi Chúa Phục Sinh hiện ra với ông, ông mới tin. Phục Sinh, là điều vượt trên kinh nghiệm bình thường của con người, nên các tông đồ không tin Đức Giêsu Phục Sinh, cũng là điều dễ hiểu. Đã đành các tông đồ có kinh nghiệm người chết sống lại như trường hợp con trai bà góa thành Naim, con gái ông Giairô, Lazarô em của Matta và Maria, nhưng Đức Giêsu Phục Sinh khác với những người khác sống lại. Ngài vẫn sống nhưng người ta không giữ Ngài lại được. Ngài hiện ra và biến đi, không gì ngăn cản được Ngài.

Những người được Đức Giêsu phục sinh như Lazarô, con trai bà góa thành Naim, ai muốn gặp có thể tới để gặp họ. Đức Giêsu Phục Sinh thì không như vậy. Chỉ người nào Ngài muốn, người đó mới được gặp Ngài mà thôi. Trong khoảng 40 ngày, các tông đồ còn có thể gặp Ngài (Cv.1, 3); nhưng sau thời điểm này, không ai được diễm phúc gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh nữa. Ai tin Ngài, là ngang qua những chứng nhân để tin vào Ngài. Đức Giêsu phục sinh là một biến cố mà người ta phải tin để biết. “Phúc cho những ai không thấy mà tin”. Bao nhiêu người tin vào Đức Giêsu Phục Sinh, đều là những người được ơn đức tin. Tin Đức Giêsu Phục Sinh, là hồng ân lớn lao. “Không ai có thể tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa mà không nhờ Thần Khí” (1Cor.12, 3).

Tin Đức Giêsu Phục Sinh, là một hành vi tự do. Những lý chứng cho thấy Đức Giêsu phục sinh, không đạt được tính buộc người ta phải chấp nhận như luận chứng toán học 2+2=4. Người ta vẫn tự do để tin Đức Giêsu phục sinh hay không. Tin cũng là biết. Hai anh chị yêu nhau, người này nói yêu người kia, và người kia cần tin. Tin vào người khác, là một cách biết người đó. Tin ai đó, cho rằng những điều người đó nói hay làm chứng là đúng, và nếu không tin thì không thể biết được vậy.

Tất cả các tông đồ chỉ tin Đức Giêsu Phục Sinh, sau khi các ngài đã được thấy Đức Giêsu Phục Sinh. Sau đó những ai tin vào Đức Giêsu Phục Sinh đều phải tin qua lời chứng của các tông đồ. Các tông đồ đã dùng chính mạng sống của mình để làm chứng rằng những gì các ngài nói là sự thật. Từ ngữ tử đạo (martureô) có nghĩa là làm chứng. Lời chứng đáng tin nhất, là lời chứng của người dám dùng chính mạng sống mình để bảo đảm rằng điều mình khẳng quyết là sự thật. Tất cả các tông đồ đều tử đạo trừ tông đồ Gioan.

Không tin Đức Giêsu Phục Sinh, đây là điều bình thường. Tin Đức Giêsu Phục Sinh, là một ơn vô cùng lớn. Kitô hữu không ngạc nhiên khi người ta không tin Đức Giêsu Phục Sinh. Kitô hữu cũng biết rằng họ muốn người khác chia sẻ niềm tin với họ, là để người đó hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, đức tin là một hồng ân, là điều vượt khả năng của Kitô hữu. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể ban hồng ân ấy cho người ta. Muốn ai Đức Giêsu Phục Sinh, Kitô hữu phải cầu xin Chúa ban ơn ấy cho người đó. Không phải vì người Kitô hữu giảng hay, dạy tốt mà người đó tin vào Đức Giêsu Phục Sinh. Tin Đức Giêsu Phục Sinh, không phải là chuyện con người có thể làm được. Đó là hồng ân của Thánh Thần.

Để có thể đón nhận đức tin, để có thể biết như người của Thiên Chúa, người đó phải có đời sống có thể đón nhận đức tin. Nếu một người có đời sống bất lương, nếu người đó chỉ tin vào mình, thì cũng khó có thể tin Đức Giêsu Phục Sinh. Tin Đức Giêsu Phục Sinh, đòi người đó phải đổi đời, phải có đời sống mới, phải sống lương thiện. Không sẵn sàng đổi đời để thành người lương thiện, người đó sẽ tìm mọi cách để biện luận từ khước tin vào Đức Giêsu Phục Sinh.

Kitô hữu không là những người mê tín, nhưng là những người ý thức mình được ơn đặc biệt. Tin Đức Giêsu Phục Sinh, là hồng ân vô cùng lớn. Niềm tin này làm Kitô hữu có cái nhìn mới về thế giới, về Thiên Chúa, và về con người. Tin vào Đức Giêsu Phục Sinh, Kitô hữu nhận ra mình được Thiên Chúa yêu thương vô cùng. Và một khi biết Thiên Chúa yêu thương mình, mình có thể phó thác đời mình trong tay Thiên Chúa, Đấng yêu thương mình vô cùng, Ngài sẵn sàng làm tất cả mọi sự để được mình.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

  1. Tại sao có những người trẻ hổ thẹn khi người khác biết họ là Kitô hữu?
  2. Đâu là lý do chính nhất làm bạn tin Đức Giêsu Phục Sinh?

Về mục lục

.

“CHÚA ĐÃ SỐNG LẠI! HALLELUYA!”

Jos.Vinc. Ngọc Biển 

Trong suốt Mùa Chay, nhất là Tuần Thánh, đỉnh cao là đêm Vọng Phục Sinh, Chúng ta được Giáo Hội qua các nghi thức cử hành, mời gọi chúng ta hướng về Quê Trời, cởi bỏ con người cũ, mặc lấy con người mới là chính Đức Kitô. Từ bỏ tội lỗi để sống xứng đáng là con cái Chúa. Ra khỏi bóng tối để đi vào Ánh Sáng. Những ý nghĩa này, đã được các nghi thức tối hôm qua diễn tả thật rõ nét. Thánh lễ giờ đây, chúng ta được Giáo Hội mời gọi hãy hân hoan hát lên bài ca Chúa Đã Sống Lại! Halêluiya! và hãy loan tin vui này đến tận cùng trái đất. Nhưng điều quan trọng là làm sao chúng ta tin? Làm sao chúng ta dám loan truyền Chúa đã sống lại? Dựa vào đâu để xác tín điều đó?

  1. Ngôi mộ bị bỏ trống?

Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe, thuật lại sự kiện Chúa Phục Sinh. Bắt đầu từ việc bà Maria Mácđala đi ra mộ, mang theo thuốc thơm để sức xác Chúa. Khi tới nơi, bà ngỡ ngàng vì những gì hiện lên trước mắt bà. Tảng đã khổng lồ đã lăn ra khỏi mồ. Như vậy, theo linh tính, bà biết rằng xác Chúa không còn trong đó. Phải chăng người ta đã mang xác Chúa đi chỗ khác? Có thể là do một hoặc nhiều người đã lấy cắp xác Chúa? Bà liền chạy về báo cho các môn đệ, và Phêrô cùng với Gioan đã chạy tới, nhưng tiến thêm một bước nữa, cả hai ông đều vào và thấy khăn vải quấn người Đức Giêsu cũng như khăn che đầu vẫn còn đó. Một trong hai ông đã tin, đó là Gioan. Sự kiện ngôi mộ trống đã rõ ràng. Chắc chắn không còn xác Đức Giêsu trong đó. Nhưng Chúa đã sống lại hay bị mang đi hoặc bị đánh cắp? Tin Mừng cho chúng ta thấy có những suy nghĩ trái chiều. Maria Mácđala thì cho rằng: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để người ở đâu”. Với các Kinh Sư, Luật Sĩ, Thượng Tế…và những kẻ chủ mưu giết Đức Giêsu, sau khi nghe tin Chúa đã sống lại thì đã dàn dựng một vở kịch nhằm vu khống cho các môn đệ, đồng thời bảo các lính canh thế này: “Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm hắn đi. Nếu sự việc này đến tai quan Tổng trấn, chính chúng tôi sẽ dàn xếp với quan và lo cho các anh được vô sự” (Mt28:13-15).

Tuy nhiên việc phao tin là các môn đệ lấy cắp xác Đức Giêsu không khả tín cho lắm vì những lý do:

– Các môn đệ là những người ít học, đơn sơ chất phác. Những người chủ mưu giết Đức Giêsu thì có cả một kế hoạch (x. Mt 27, 62-66; 28,13-15).

– Khả năng chuyên môn của các môn đệ là chài lưới, thu thuế…Còn đội lính canh giữ Đức Giêsu thì tinh nhuệ và sắc bén (x. Mt 27, 62 – 66).

– Các môn đệ đang trong tình trạng sợ sệt, không thể nào lấy cắp xác Chúa mà vẫn ung dung xếp những giải khăn gọn gàng được (x. Ga 20:18-19).

–  Các môn đệ là những người thụ động. Lính canh là những người chủ động…

Như vậy, không có thể bày đặt ra chuyện Chúa đã sống lại để rồi lừa dối được. Gioan đã hiểu điều đó nên ông đã tin.

Tuy nhiên, nếu chỉ có chứng cứ về ngôi mộ trống thì không thuyết phục cho lắm. Sự kiện này chỉ có tính cách khai mở và là dấu chỉ của sự phục sinh mà thôi. Bằng chứng cho thấy vẫn còn nhiều giả thiết trái ngược nhau được đưa ra. Vậy, chúng ta còn dựa vào đâu nữa? 

  1. Những lần Đức Giêsu hiện ra và những lời Đức Giêsu đã báo trước

Đức Giêsu sống lại, Ngài đã hiện ra với rất nhiều người, có những lúc trong nhà, trên đường, ngoài bãi biển. Trong số những người được Chúa hiện ra, chúng ta gặp những tên tuổi và những nhóm người như: hiện ra cho Maria Mácđala (x. Ga 20, 11- 18); với các phụ nữ đi ra viếng mồ Ngài (x. Mt 28,9-10; Mc 16,9; Ga 20,11-18); hiện ra với 2 môn đệ trên đường về Emau (x. Mc 16,12-13; Lc 24,13-35); hiện ra với các môn đệ khi các ông đang họp kín, trong đó có Tôma (x. Ga 20,19-29); bên bờ hồ Giênêdarét (Ga 21); phép lạ đánh cá (x. Ga 21, 1- 14).v.v… ; và hiện ra tại Galilê, sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng (x. Mt 28,16-20; Mc 16: 14 -18; Lc 24: 36 -49; Ga 20: 19 -23; Cv 1:6-8).

Những lần hiện ra, có những nhận thức khác nhau, và việc nhận thức này được thực hiện theo nhiều mức độ khác nhau:

– Nhận ra khuôn mặt Đức Giêsu (x. Ga 20, 20.27); 

– Nghe thấy những gì Ngài nói (x. Ga 20,16);

– Những hành động Chúa làm (x. Lc 24, 35); 

– Hiểu Kinh Thánh (x. Lc 24,27.45). 

Mặt khác, đây chính là sáng kiến từ phía Đức Giêsu: Ngài đến gặp họ (x. Mt 28,9); Ngài tiến lại gần các môn đệ, đến ở giữa họ, hiện ra với họ (x. Lc 24,15), đón gặp họ, cùng đi với họ, và, ở lại với họ (x. Lc 20,14;21,4).

Sự kiện Đức Giêsu hiện ra và việc nhận ra Ngài  đã được tông đồ Tôma đáp lại cách tuyệt đối sau khi đã sỏ ngón tay vào lỗ đinh, thọc bàn tay vào cạnh sườn: “lạy Chúa tôi, lạy Chúa của tôi” (Ga 20,28). Mặt khác, Đức Giêsu còn ra dấu hiệu về việc làm chứng và sứ vụ. Đồng thời, những lần hiện ra, Ngài còn hứa hẹn và loan báo sẽ trao ban Chúa Thánh Thần đến để trợ giúp, đồng hành với các ông trong sứ vụ.  

Cuối cùng, Đức Giêsu đã mở lòng trí các ông, để các ông nhớ lại tất cả những điều đã được báo trước trong Kinh Thánh và chính Ngài đã nói cho các ông trước khi lên Giêrusalem để chịu chết: “Thày đi Giêrusalem, chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16, 21).

Các bằng chứng đã rõ. Chúng ta không thể không tin được. Chỉ có cố chấp và trai lì trong ích kỷ, tội lỗi…thì mới không tin mà thôi.

Như vậy, sự kiện Đức Giêsu sống lại là một biến cố lịch sử, với những chứng từ lịch sử được tất cả bốn sách Tin Mừng ghi lại: ngôi mộ trống, khăn liệm xếp ngay ngắn gọn gàng, Đức Giêsu đã nhiều lần hiện ra cùng ăn uống và đàm đạo với các môn đệ, sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng, và hứa sẽ đồng hành với các môn đệ mọi ngày cho đến tận thế qua việc trao ban Chúa Thánh Thần, và điều quan trọng nhất đó là những lần Ngài đã báo trước. 

  1. Sự kiện Đức Giêsu sống lại và niềm tin của chúng ta

Chúa Đã Sống Lại! Halêluiya!” đó là tiếng hô vui mừng của Phêrô, của Gioan, của các tông đồ…, và của mọi thế hệ Kitô hữu. Đó là niềm tin của Giáo Hội hơn 2000 năm qua, là Tin Mừng trọng đại không chỉ cho các môn đệ Đức Giêsu mà thôi, nhưng còn cho tất cả mọi người, mọi dân tộc, bởi vì: “Nếu Đức Kitô đã không sống lại, chúng ta là những người khốn khổ nhất trong mọi người” (1Cr 15, 19), và niềm tin của chúng ta trở nên hão huyền, lời rao giảng là vô cớ. Nhưng Ngài đã sống lại và đã phục sinh tâm hồn chúng ta, biến chúng ta thành con người mới: “Nếu Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết ngự trong anh em, thì Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới” (Rm 8, 11). Đây quả là Tin Mừng, và Tin Mừng đó phải được vang xa đến tận chân trời góc biển. Cái chết không còn là tiếng nói cuối cùng, bởi vì sau sự chết là sự sống lại, qua đau khổ là vinh quang. Sự kiện Chúa Phục Sinh, đem lại cho chúng ta niềm hy vọng cũng được Phục Sinh như Ngài.

Giờ đây, niềm tin vào Đức Giêsu Phục sinh lại một lần nữa được chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua Kinh Tin Kính: tôi tin Đức Giêsu […] Đấng đã “chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đanh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết sống lại; lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng; ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.”. Đây là niền tin của Giáo Hội và của mỗi chúng ta. Chúng ta hãnh diện, tự hào và tuyên xưng đức tin ấy cùng với Giáo Hội và trong Giáo Hội mà chúng ta là thành phần của Giáo Hội ấy. Amen.

Về mục lục

.

NIỀM TIN PHỤC SINH

Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

Bà Maria Mađalêna đi thăm mộ Thầy Giêsu lúc trời còn tối. Có lẽ cả đêm qua bà không chợp mắt được, chỉ mong cho mau sáng để lên đường.

Ai có thể hiểu trái tim của bà? Bà yêu mến Thầy cách đặt biệt. Mới chiều thứ sáu, vì lòng yêu mến, bà đứng bên chân thánh giá (Ga 19, 25). Sau đó, cũng vì lòng yêu mến, bà đã tham dự cuộc mai táng Thầy (Mt 27, 61). Bây giờ tình yêu ấy lại thôi thúc bà ra mộ trước tiên, trước cả người môn đệ được Thầy thương mến…

Nhưng thật kinh hoàng: xác Thầy đã biến mất. Tảng đá che mộ đã bị ai đó lăn ra… Maria Mađalêna hớt hãi chạy vội về báo tin cho các môn đệ. Bà nghĩ, có lẽ có kẻ đã ăn cắp xác Thầy. Vấn đề duy nhất làm bà âu lo khắc khoải, đó là họ đang để Người ở đâu (Ga 20, 2.13.15). Bà cần biết chỗ đó để lấy ngay xác về. Maria không hề nghĩ rằng Thầy của bà, và là Chúa của bà đã phục sinh. Bà chỉ mong tìm lại xác của Thầy đã chết…

Nghe Maria nói, hai tông đồ Phêrô và Gioan cũng chạy đến mộ. Họ chạy bằng những bước chân hối hả. Nhưng khi đến mộ, thì chỉ có ngôi mộ trống và băng vải đặt ở đó, còn khăn che đầu được cuốn lại, xếp riêng. Thấy mọi điều đó, tông đồ Gioan tin rằng, Thầy đã phục sinh. Chẳng ai ăn cắp xác mà lại để gọn ghẽ khăn vải liệm…

Chúng ta cần có lòng mến như bà Maria Mađalêna, nhưng rất cần có sự nhạy cảm để tin như tông đồ Gioan. Khi tin, người ta khám phá ra ý nghĩa của các biến cố: Đó là ý nghĩa của cái chết bi đát trên Núi Sọ. Đó là ý nghĩa của ngôi mộ trống và tấm khăn xếp gọn gàng. Tất cả những ý nghĩa đó dạy ta biết: Chúa chúng ta đã phục sinh.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, xin cho con được phục sinh với Chúa trong đời sống hằng ngày của con. Đó là cho con biết vượt qua sự nhỏ mọn và ích kỷ, vượt qua những đam mê kéo ghì con xuống, vượt qua nỗi sợ khổ đau và nhục nhã, vượt qua đêm tăm tối cô đơn của Vườn Dầu. Đó là cho con vượt qua những khắc khoải của niềm tin, vượt qua những thành kiến mà con có về người khác…

Xin cho con như Chúa Phục Sinh, gieo rắc bình an và hy vọng; tin tưởng và niềm vui. Ước gì ai gặp con, họ cũng đều gặp thấy sự sống mãnh liệt của Chúa. Amen.

Về mục lục

.

XÁC TÍN

Trầm Thiên Thu

Tử Thần thua cuộc đành khuất phục

Con Chúa phục sinh giữa vinh quang

Tin là diễm phúc, xác tín là đại phúc. Chúng ta là hậu sinh nhưng lại thực sự diễm phúc vì đã được biết rõ là Đức Kitô Giêsu đã sống lại vinh quang, chứ không bán tín bán nghi như những người thời Chúa Giêsu. Thật vậy, nếu Đức Kitô không sống lại, niềm tin của chúng ta chỉ là hoang đường!

Vâng, Con Thiên Chúa đã chiến thắng Tử Thần và phục sinh khải hoàn. Vì vậy, chúng ta không thể trì hoãn cái sự sung sướng này được, mà phải cùng nhau hân hoan hợp xướng: “ALLELUIA!”. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải cố gắng thực hiện trọng trách: “Anh em phi ci b con người cũ vi nếp sng xưa, là con người phi hư nát vì b nhng ham mun la di, anh em phi đ Thn Khí Chúa đi mi tâm trí anh em, và phi mc ly con người mi, là con người đã được sáng to theo hình nh Thiên Chúa đ tht s sng công chính và thánh thin” (Ep 4:22-24).

Ánh sáng Phục sinh đang chiếu tỏa chói ngời trên mỗi chúng ta, trên cả thế gian này. Chúng ta vô cùng vui mừng vì Đức Kitô đã sống lại thật và lòng chúng ta đầy tin tưởng nhờ Lời Chúa đã động viên: “Đng s! Ta là Đu và là Cui. Ta là Đng Hng Sng, Ta đã chết, và nay Ta sng đến muôn thu muôn đi; Ta gi chìa khoá ca T thn và Âm ph” (Kh 1:17-18).

Đức Kitô đã sống lại thật. Đó là một sự thật minh nhiên, thật hơn cả sự thật, không thể chối cãi, lịch sử và khoa khảo cổ đã cho thấy nhiều chứng cớ về những gì liên quan Chúa Giêsu, chứng tỏ rằng thực sự có một Ông Giêsu bị đóng đinh, được mai táng và đã sống lại – dù sự thật này bị một số người bóp méo, vì họ cố chấp hoặc vô thần.

Đã và đang có các nhân chứng ở khắp nơi, điển hình nhất là ông Phêrô. Kinh Thánh cho biết: “Mt hôm, ti nhà ông Co-nê-li-ô, ông Phêrô lên tiếng: “Qu tht, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên v người nào. Nhưng h ai kính s Thiên Chúa và ăn ngay  lành, thì dù thuc bt c dân tc nào, cũng đu được Người tiếp nhn” (Cv 10:34-35). Chúng ta cũng nên nhớ rằng Kinh Thánh là bộ sách được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới, và được bán chạy nhất thế giới, ước tính mỗi năm có thêm 100 triệu bản (*). Điều đó chứng tỏ rằng Kinh Thánh nói những điều có thật, chứ không hư cấu hoặc bịa đặt như một số người cố chấp.

Sau khi sám hối vì chối Thầy ngay lúc dầu sôi lửa bỏng nhất, ông Phêrô đã xác tín và can đảm nó sự thật: “Qu tht, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên v người nào” (Cv 10:34). Đó là điều chắc chắn, và không loại trừ ai, vì mi người đu bình đng trước mt Chúa. Không ai có thể cậy quyền ỷ thế hoặc ảo tưởng mạo nhận là mình “ngon” hơn người khác!

Khi nói về Sư Phụ Giêsu, ông Phêrô đã giải thích rạch ròi từng chi tiết: “Đc Giêsu xut thân t Nadarét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thn và quyn năng mà xc du tn phong Ngài. Đi ti đâu là Ngài thi ân giáng phúc ti đó, và cha lành mi k b ma qu kim chế, bi vì Thiên Chúa  vi Ngài” (Cv 10:37-38). Sau khi lỡ chối bỏ Sư Phụ mình vì khiếp nhược và nhận biết sự thông cảm của Sư Phụ Giêsu khi Ngài quay lại nhìn mình (x. Lc 22:61), ông Phêrô “thót tim” khi thấy ánh mắt ấy “rất lạ”, vừa nhân từ vừa trách móc, nhẹ nhàng mà có sức xoáy vào sâu vào lòng người, nên ông đã “khóc hết nước mắt” (x. Lc 22:62), không chỉ hối hận mà còn tự xấu hổ, vì vừa mới chịu chức thánh xong (x. Ga 21:15-17) mà đã phản bội ngay, chính Thầy cho biết trước mà vẫn không tránh được. Thật khốn nạn!

Vô tri bất mộ. Biết rồi thì không thể lặng im. Và khi biết rõ Thầy Giêsu đã thực sự sống lại, ông Phêrô mạnh dạn nói một lèo, nói như chưa bao giờ được nói: “Còn chúng tôi đây xin làm chng v mi vic Ngài đã làm trong c vùng dân Do Thái và ti chính Giêrusalem. H đã treo Ngài lên cây g mà giết đi. Ngày th ba, Thiên Chúa đã làm cho Ngài tri dy, và cho Ngài xut hin t tường, không phi trước mt toàn dân, nhưng trước mt nhng chng nhân Thiên Chúa đã tuyn chn t trước, là chúng tôi, nhng k đã được cùng ăn cùng ung vi Ngài, sau khi Ngài t cõi chết sng li. Ngài truyn cho chúng tôi phi rao ging cho dân, và long trng làm chng rng chính Ngài là Đng Thiên Chúa đt làm thm phán, đ xét xk sng và k chết. Tt c các ngôn s đu làm chng v Ngài và nói rng phàm ai tin vào Ngài thì s nh danh Ngài mà đượơn tha ti” (Cv 10:39-43).

Trước đây, một Phêrô-năng-động-và-thẳng-tính (trước mặt đám côn đồ mà ông dám rút gươm chém đứt tai một người đầy tớ thầy thượng tế – Ga 18:10) đã biến thành một Phêrô-khiếp-nhược. Nhưng sau khi Chúa Giêsu phục sinh, một Phêrô-nhát-đảm đã biến thành một Phêrô-can-đảm, lại dám nói thẳng nói thật như xưa. Đó là tác động của Chúa Thánh Thần!

Chúng ta cũng vậy, cũng đã bao phen “chối” Chúa và “bán” Chúa không văn tự. Nếu không tin thì cứ “sờ gáy” và thật lòng xét mình kỹ lưỡng mà xem: Mỗi lần phạm tội là mỗi lần chối Chúa, mỗi lần lườm nguýt tha nhân là liếc xéo Chúa, vân vân và vân vân… Vô kể! Nhưng dù chúng ta có dã tâm với Ngài thì Ngài vẫn cho đó là “chuyện nhỏ”, và Ngài sẵn sàng “cho qua” hết. Vì thế, chúng ta hãy can đảm và tin tưởng mời gọi người khác cùng xưng tụng Ngài: “Hãy t ơn Chúa vì Chúa nhân t, muôn ngàn đi Chúa vn trn tình thương (Tv 118:1). Cả Thánh vịnh 136 cũng lặp đi lặp lại 26 lần điệp khúc: “Muôn ngàn đi Chúa vn trn tình thương. Chúng ta tin tưởng và đoan hứa: “Tôi không phi chết, nhưng tôi s sng, đ loan báo nhng công vic Chúa làm” (Tv 118:21). Tại sao? Vì:

Tng đá th xây nhà loi b

Li tr nên đá tng góc tường

Đó chính là công trình ca Chúa

Mt công trình kỳ diu vô thường

(Tv 118:22-23)

Thánh Phaolô đặt vấn đề: “Anh em không biết rng ch mt chút men cũng đ làm cho c khi bt dy lên sao? Anh em hãy loi b men cũ đ trthành bt mi, vì anh em là bánh không men” (1 Cr 5:6-7). Thật không dễ khi phải bỏ một thói quen cũ mà xấu, để sống theo một thói quen mới mà tốt. Muốn được vậy, người ta phải cố gắng rất nhiều và cố gắng không ngừng.

Thiên Chúa Ngôi Hai, Đức Kitô Giêsu, đã phục sinh, vì thế mà chúng ta cũng được sống lại và phải sống lại với Ngài. Thánh Phaolô minh định thêm: “Qu vy, Đc Kitô đã chu hiến tế làm chiên l Vượt Qua ca chúng ta. Vì thế, chúng ta đng ly men cũ, là lòng gian tà và đc ác, nhưng hãy ly bánh không men, là lòng tinh tuyn và chân tht, mà ăn mng đi l” (1 Cr 5:8). Phải có đức tin mới khả dĩ thực hiện như vậy.

Người-môn-đệ-Chúa-yêu (tức là nhân chứng Gioan tông đồ) đã tường thuật: Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mađalêna đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến.

Bà Maria Mađalêna hốt hoảng thông báo: “Người ta đã đem Chúa đi khi m, chúng tôi chng biết h đ Ngài  đâu” (Ga 20:2). Vì quá sợ bọn thủ ác mà ai cũng quên khuấy những gì Thầy mình nói trước. Nghe vậy, ông Phêrô và Gioan liền tức tốc đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng Gioan trẻ hơn nên chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào, vì lịch sự và vì “kính lão đắc thọ”.

Kẻ trước, người sau, rồi ông Phêrô cũng đến nơi. Kính lão đắc thọ. Ông Phêrô đến sau nhưng vào trước, vào thẳng trong mộ. Ông thấy những băng vải để và khăn che đầu Đức Giêsu có ở đó. Khăn che đầu không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ Gioan mới bước vào sau. Ông “đã thấy và đã tin” (Ga 20:8). THẤY và TIN là hai động từ quan trọng. Thấy rồi, liệu có đủ lòng tin? Nếu THẤY và TIN rồi thì phải có bổn phận LAM CHỨNG. Một quy trình hợp lý!

Theo Kinh Thánh cho biết, Đức Giêsu PHẢI trỗi dậy từ cõi chết. Nhưng trước đó, cả Phêrô và Gioan cũng chưa hiểu (x. Ga 20:9), dù cả hai ông đều là những đệ tử ruột của Chúa Giêsu. Thế nên người thời nay, kể cả chúng ta, không thấy thì rất khó tin. Chúng ta không thấy Chúa Giêsu, nhưng chúng ta có thể thấy những nhân chứng can đảm suốt đời sống và chết vì niềm tin vào Đức Kitô. Vả lại, chính Chúa Giêsu đã xác định: “Phúc thay nhng người không thy mà tin!” (Ga 20:29). Phần còn lại là có xác tín hay không, và đó là phần của mỗi chúng ta.

Xin được nhắc lại lời của Thánh nữ Bernadette (1844-1879, người được Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức): “Người tin thì không cn gii thích, người không tin thì có gii thích cũng vô ích!”.

Ly Thiên Chúa chí thánh và toàn năng hng hu, xin Ngài ban thêm đc tin cho chúng con và xin giúp chúng con sng trn nim vui phc sinh ngay trên cuc l hành trn gian này, đng thi giúp chúng con can đm làm chng nhân ca Ngài sut cuc đi này, mi nơi và mi lúc, qua tng nhp th. Chúng con cu xin nhân danh Đc Giêsu Kitô Phc Sinh, Thiên Chúa cu đ ca chúng con. Amen.

——-

 (*) Trong hơn na thế k qua, Kinh Thánh là cun sách đng đu trong 10 cun sách được đc nhiu nht trên thế gii: [1] Kinh Thánh (3,9 tbn), [2] Các Trích Dn t Mao Trch Đông (820 triu bn), [3] Harry Potter (400 triu bn), [4] Chúa T Nhng Chiếc Nhn (103 triu bn), [5] Nhà Gi Kim: 65 triu bn, [6] Mt Mã Da Vinci (57 triu bn), [7] B truyn Chng Vng (43 triu bn), [8] Cun Theo Chiu Gió (33 triu bn), [9] Suy Nghĩ và Làm Giàu (30 triu bn), [10] Nht Ký ca Anne Frank (27 triu bn). Kinh Thánh là cun sách c xưa nht nhưng li có t l “vượt tri” hơn các sách khác.

Về mục lục

.

ÔNG ĐÃ THẤY VÀ ĐÃ TIN

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu,

Suy niệm:

Niềm vui phục sinh khởi sự bằng thái độ hốt hoảng. 
Tảng đá che cửa mộ đã bị ai đó lăn ra. 
Xác của Thầy đặt bên trong đã biến mất. 
Thật là chuyện kinh khủng đối với bà Maria Mácđala!

Bà đã đi thăm mộ lúc trời còn tối. 
Có lẽ cả đêm qua bà không chợp mắt được, 
chỉ mong cho chóng sáng để lên đường. 
Ai có thể hiểu được trái tim của bà? 
Tình yêu đã khiến bà đứng dưới chân thập giá (Ga 19,25) 
và tham dự cuộc mai táng Thầy Giêsu (Mt 27,61). 
Bây giờ tình yêu ấy lại thúc đẩy bà ra mộ trước tiên, 
trước cả người môn đệ được Ðức Giêsu thương mến… 
Maria hốt hoảng chạy về báo tin cho hai môn đệ. 
Bà nghĩ chắc có kẻ đã ăn cắp xác Thầy. 
Vấn đề duy nhất làm bà âu lo khắc khoải, 
đó là họ đang để Người ở đâu (Ga 20,2.13.15). 
Bà cần biết chỗ đó, để lấy ngay xác về. 
Maria chẳng nghĩ gì đến chuyện Chúa phục sinh, 
bà chỉ mong tìm lại xác của Thầy đã chết.

Maria chạy về để kéo theo Phêrô và Gioan chạy đến mộ, 
những bước chân hối hả vội vàng. 
Chỉ có ngôi mộ trống và những băng vải đặt ở đó, 
còn khăn che đầu thì được cuốn lại, xếp riêng. 
Thấy mọi điều đó, Gioan tin rằng Thầy đã phục sinh. 
Chẳng ai ăn cắp xác mà để lại gọn ghẽ khăn vải liệm.

Chúng ta cần có lòng mến thiết tha của bà Maria Macđala, 
nhưng cũng cần có sự nhạy cảm để tin như Gioan. 
Khi tin, người ta khám phá ra ý nghĩa của các biến cố: 
ý nghĩa của cái chết bi đát trên Núi Sọ, 
ý nghĩa của ngôi mộ trống và tấm khăn xếp gọn gàng. 
Chúng ta cần có lòng tin 
để khỏi rơi vào sự thất vọng hay hốt hoảng, 
trước những thất bại, đổ vỡ mất mát trong cuộc đời. 
Ðời chúng ta lắm khi giống ngôi mộ trống trải. 
Những gì chúng ta yêu quý nay chẳng còn. 
Chúng ta đôn đáo kiếm tìm điều đã mất, 
trong nước mắt đau khổ như bà Maria (Ga 20,11)

Nhưng nếu xác Ðức Giêsu cứ nằm yên trong mồ, 
để cho bà Maria đến thăm viếng, 
thì làm gì có chuyện Chúa phục sinh? 
Phiến đá cửa mộ không giữ được Ngài, 
những băng vải không ngăn được Ngài ra đi. 
Sự sống bật dậy từ tro tàn của cái chết. 
Ánh sáng bừng lên từ bóng tối mịt mù. 
Tình yêu thắng trận khi tưởng như bị hận thù nuốt chửng. 
Niềm vui phục sinh là quà tặng bất ngờ cho Maria. 
Bà sẽ chẳng bao giờ tìm thấy xác Thầy trong mộ đâu, 
nhưng bà sẽ gặp chính Ðấng Phục Sinh ở ngoài mộ đá.

Cầu nguyện:


Lạy Chúa Giêsu phục sinh
xin ban cho con sự sống của Chúa,
sự sống làm đời con mãi mãi xanh tươi.

Xin ban cho con bình an của Chúa,
bình an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời.

Xin ban cho con niềm vui của Chúa,
niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn.

Xin ban cho con hy vọng của Chúa,
hy vọng làm con lại hăng hái lên đường.

Xin ban cho con Thánh Thần của Chúa,
Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con.

Về mục lục

.

ĐÃ THẤY VÀ ĐÃ TIN

Bông hồng nhỏ

Trước cái chết của một người thân yêu, nỗi đau trong tâm hồn ta quá lớn, dường như chẳng có niềm vui nào lấp đầy. Thầy Giêsu đã chết, các môn đệ cũng đã rất đau, nỗi đau lớn đến nỗi làm họ không nhớ lời loan báo Phục Sinh của Thầy. Để khi đứng trước ngôi mộ trống, các ông đã thấy nhưng không phải tất cả đã tin.

Thánh sử Gioan đã thuật lại biến cố “ngôi mộ trống”. Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Macđala đi đến mộ (x.Ga 20, 1). Có lẽ, bà đã rất muốn tỏ lòng yêu mến Thầy nên không thể để chờ trời sáng hơn một chút. Ra đến mộ, thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ, không thấy xác Thầy đâu, bà liền vội chạy về báo tin cho môn đệ Phêrô và người môn đệ mà Thầy thương mến rằng Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu (x. Ga 20, 2). Bà không thể nghĩ đến việc Thầy Giêsu đã Phục Sinh.

Môn đệ Gioan chạy nhanh hơn nên đến trước ông Phêrô. Ông đến nhưng chỉ cúi xuống quan sát từ xa và thấy băng vải còn đó. Hành động của ông có thể là một sự bình tĩnh, xem xét từ ngoài vào trong? Còn ông Phêrô khi chạy đến nơi, ông vào thẳng trong mộ và thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Chúa Giêsu, khăn này không để lẫn với các băng vải nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi (x.Ga 20, 6-7). Ông Phêrô cũng ngạc nhiên và ông cũng không tin. Bấy giờ, ông Gioan đi vào, ông đã thấy những gì ông Phêrô thấy nhưng ông đã tin. Ông tự nhận mình là người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Bấy giờ ông thấy những sắp xếp mới mẻ nơi ngôi mộ trống này, ông còn thấy cả sự đụng chạm của Thầy trong những sắp xếp này. Ông tin Thầy đã Phục Sinh.

Lạy Chúa Giêsu Chịu – Đóng – Đinh, Đấng đã Phục Sinh!  Cảm tạ Chúa đã luôn đồng hành với con trong những đau thương của cuộc đời và ban cho con niềm hy vọng được Phục Sinh với Chúa. Giữa những nỗi đau lớn lao, xin giúp chúng con có cái nhìn của người môn đệ được Chúa thương mến, để luôn thấy những đụng chạm của Chúa, những sắp xếp mới mẻ Chúa đã làm nơi cuộc đời chúng con. Chúng con có thể đã mất đi một người thân yêu, thiếu đi một niềm vui trong đời nhưng không bao giờ chúng con thiếu vắng tình yêu của Chúa. Xin Chúa củng cố niềm tin nơi chúng con và làm cho niềm tin ấy trổ sinh hoa trái. Amen.

Về mục lục

.

SỨC MẠNH PHỤC SINH

Anna Cỏ May

Chúa đã sống lại Alleluia, Alleluia. Đó là bài ca mà toàn thể Giáo hội ca mừng Chúa Kitô trong suốt mùa Phục Sinh. Đó chính là niềm tin của chúng ta.

Sáng ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Macđala đi đến mộ. Đến nơi bà thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ, liền chạy về báo tin cho các môn đệ. Bà nói: “Người ta đã đêm Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu?” (Ga 20, 2). Bà Maria Macđala là đại diện cho những người phụ nữ giàu cảm xúc trước những sự mất mát. Khi vừa trông thấy tảng đá được lăn ra, bà nghĩ ngay đến người khác đã lấy xác Chúa Giêsu. Khi Đức Giêsu hiện ra với và hỏi bà: “Này bà, sao bà khóc? Bà tìm ai?” Bà Maria Macđala tưởng người làm vườn, liền nói: “Thưa ông, nếu ông đã đem người đi, thì xin nói cho tôi biết, ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về” (Ga 20, 15). Ở trong nỗi đau mất Thầy, dường như bà không còn suy nghĩ được điều gì khác, chỉ có một điều chiếm hết tâm trí bà là “Thầy đâu rồi”. Nên bà nói mà không suy nghĩ “xin ông nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về” (Ga 20,15). Làm sao một người phụ nữ yếu ớt như bà lại có thể mang nổi thân xác Thầy mà “đem Người về”?

Trước đó, bà về báo tin cho ông Phêrô và người môn đệ Chúa thương, họ liền chạy ra mộ. Nhưng người môn đệ Chúa thương chạy nhanh hơn nên đến trước ông Phêrô. Ông đến nhưng chỉ cúi xuống quan sát từ xa và thấy băng vải còn đó. Hành động của ông có thể là một sự cẩn trọng, xem xét từ ngoài vào trong? Còn ông Phêrô khi chạy đến nơi, ông vào thẳng trong mộ và thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Chúa Giêsu, khăn này không để lẫn với các băng vải nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi (x.Ga 20, 6-7).

Phêrô luôn là người đi bước trước nhưng ít nhiều đã vấp ngã. Ông được Chúa chỉ bảo và trách cứ nhiều lần. Ông cũng là người chối Thầy ba lần. Nhưng lần này ông đã có hành động can đảm. Ông đã chạy thẳng vào mộ và thấy được tất cả những gì còn lại trong ngôi mộ. Ông đã thấy nhưng không hiểu. Khi ông Phêrô vào rồi, bấy giờ ông Gioan mới vào theo. Ông đã thấy và đã tin. Ông là người tin rằng Chúa đã Phục Sinh (x.Ga 20,8). Tạ ơn Chúa, nhờ các Tông đồ và bà Maria Macđala mà chúng ta đã biết Chúa Phục Sinh.

Chúa Giêsu đã Phục Sinh, chúng ta hãy tin vào Ngài, dù niềm tin của chúng ta luôn bị thử thách. Điều quan trọng là chúng ta phải mang sức sống nguyên lý của đời sống mới trong Chúa Giêsu Phục Sinh. Sức sống Phục sinh sẽ đẩy lùi sức mạnh của sự chết ra khỏi con người bất toàn của chúng ta, chữa lành mọi vết thương tâm hồn. Thật vậy, mỗi người chúng ta cần được Phục Sinh vì một xã hội tuy đầy đủ vật chất, tiện nghi nhưng sức mạnh thần chết vẫn đang ẩn mình dưới vỏ bọc của một xã hội giàu sang. Ai sống trong niềm vui của Chúa Giêsu, tâm hồn sẽ được sống lại toàn diện như Thánh Phaolô tuyên xưng: “Thiên Chúa đã làm cho Chúa Giêsu sống lại; chính Người cũng sẽ dùng quyền năng của mình mà làm cho chúng ta sống lại” (1Cr 6, 14).

Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa đã sống lại để đem niềm tin, sức sống mới cho chúng con. Xin cho chúng con lãnh nhận sức sống của Chúa và sống trong niềm tín thác. Nhờ đó chúng con đạt tới sự sống trong Nước Trời. Amen.

Về mục lục

.

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây