Đức Maria là Mẹ Giáo Hội. Lễ Nhớ.

Chủ nhật - 09/06/2019 08:24

này

này
Sắc lệnh của Bộ Phụng tự công bố ngày 03/03/2018 khẳng định: Lễ kính Đức Maria là Mẹ Giáo Hội, do Đức Giáo Hoàng Phanxicô ấn định

Đức Maria là Mẹ Giáo Hội. Lễ Nhớ.

"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó".

 

* Đức Giáo Hoàng Phaolô 6, ngày 21-11 năm 1964, khi bế mạc khóa III của Công đồng chung Vatican 2 đã tuyên bố Đức Trinh Nữ Maria là “Mẹ Giáo Hội, nghĩa là của toàn thể dân Kitô giáo, các tín hữu cũng như các vị Chủ Chăn. Họ gọi Đức Maria là Mẹ rất quí mến” và Ngài thiết định rằng “toàn thể dân Kitô giáo ngày càng gia tăng lòng tôn kính Mẹ Thiên Chúa dưới danh hiệu rất dịu dàng này”.

   Sắc lệnh của Bộ Phụng tự công bố ngày 03/03/2018 khẳng định: Lễ kính Đức Maria là Mẹ Giáo Hội, do Đức Giáo Hoàng Phanxicô ấn định, “sẽ giúp chúng ta nhớ rằng đời sống Kitô, để tăng trưởng, cần phải ăn rễ sâu nơi mầu nhiệm Thánh Giá, nơi hy tế của Chúa Kitô trong Tiệc Thánh Thể, nơi Đức Trinh Nữ hiến dâng, Mẹ Đấng Cứu Chuộc và Mẹ của những người được cứu chuộc”.

 

Lời Chúa: Mt. 5, 1-12

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng: "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. - Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Nước làm cơ nghiệp. - Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an. - Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả. - Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương. - Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa. - Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. - Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ".

"Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời. Người ta cũng đã từng bắt bớ các tiên tri trước các con như vậy".

 

 

 

Suy Niệm 1: Tám mối phúc thật

Có lẽ người Công giáo nào cũng thuộc nằm lòng Tám Mối Phúc Thật, và có lẽ nhiều người ngoài Kitô giáo cũng đã ít hay nhiều nghe nói đến bản Hiến Chương này. Cũng giống như bản thân Chúa Giêsu, Tám Mối Phúc Thật là dấu chỉ của sự mâu thuẫn. Nếu đối với người Công giáo và nhiều bậc vĩ nhân của nhân loại, Tám Mối Phúc Thật là nguồn cảm hứng cho cuộc sống cao thượng; thì đối với một số người khác, như triết gia Nietzsch chẳng hạn, Tám Mối Phúc Thật chỉ là một lô những đức tính của loài vật, bởi vì chỉ có loài vật mới cúi đầu khuất phục và nhẫn nhục chịu đựng; đối với một số khác nữa, Tám Mối Phúc Thật chỉ là những lời hứa hão về một thứ thiên đàng ảo tưởng, hay nói theo ngôn ngữ của Karl Marx, đó chỉ là thuốc phiện ru ngủ quần chúng. Vậy đâu là tinh thần đích thực của Tám Mối Phúc Thật?

Bản văn Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay là của thánh Mátthêu. Chúa Giêsu chỉ công bố Tám Mối Phúc Thật một lần duy nhất, nhưng được hai tác giả ghi lại; dĩ nhiên, với hai cái nhìn khác nhau nhưng bổ túc cho nhau. Cái nhìn của Luca có tính xã hội: Luca giải thích các mối phúc thật dưới ánh sáng giáo huấn của Chúa Giêsu về nghèo khó và việc sử dụng của cải trần thế, để từ đó đề cao giai cấp những người nghèo khổ trong xã hội; với Luca, những người nghèo thật sự là những tín hữu tiên khởi của Giáo Hội. Trái lại, Mátthêu quan tâm đến khía cạnh luân lý nhiều hơn: nếu Luca đề cao giai cấp cùng khổ, thì Mátthêu nhấn mạnh đến tinh thần nghèo khó: "Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó", do đó theo Mátthêu, con người vào được Nước Trời không đương nhiên vì tình trạng nghèo khó, mà vì thái độ tinh thần của họ; cũng trong cái nhìn ấy, Mátthêu đáng giá về sự đói khát: nếu Luca nói đến những nạn nhân của bất công, tức những người đói khát cơm bánh thực sự, thì Mátthêu lại nhấn mạnh đến sự đói khát công lý nơi con người.

Tổng hợp hai cái nhìn khác nhau của Luca và Mátthêu, chúng ta có thể đưa ra bài học về sứ mệnh của Giáo Hội trong trần thế. Nước Chúa mà Giáo Hội loan báo không chỉ là Thiên Ðàng trong thế giới mai hậu, nhưng đang đến trong cuộc sống tại thế này, qua những giá trị như công bình bác ái, huynh đệ, liên đới. Chính trong những thực tại trần thế mà con người phải tìm kiếm và xây dựng những thực tại Nước Trời.

Niềm tin của người Kitô hữu thiết yếu hướng về cuộc sống mai hậu: mọi nỗ lực của người Kitô hữu nhằm minh chứng cho mọi người về tính cách siêu việt của cuộc sống và định mệnh của con người. Sống trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian, sống giữa thế gian, nhưng con người phải nhìn về Quê hương đích thực là Thiên Quốc. Tuy nhiên, niềm tin hướng về cuộc sống mai hậu ấy không thể làm cho người Kitô hữu xao lãng với những nhiệm vụ trần thế của họ. Họ phải xác tín rằng chính qua những thực tại trần thế, họ mới có thể gặp được những giá trị của Nước Trời; chính qua những thực tại trần thế, họ mới đạt được cứu cánh vĩnh cửu của họ. Ðây quả là một thách đố lớn lao cho người Kitô hữu ở mọi thời.

Một trong những nguyên nhân khiến người Kitô hữu bị bách hại là bởi vì con người không hiểu được sứ điệp của Tin Mừng. Chúa Giêsu đã bị chống đối và cuối cùng bị treo trên Thập giá là bởi vì những người đương thời không hiểu được sứ điệp và con người của Ngài. Ðó cũng chính là thân phận của người Kitô hữu trong trần thế, nhưng chính khi bị bách hại mà vẫn kiên trì trong niềm tin của mình, người Kitô hữu mới thể hiện được ý nghĩa sứ điệp của Tin Mừng.

Chúa Giêsu đã chẳng nói: khi nào Ta bị giương cao, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta sao? Ðó là sức mạnh và nét hấp dẫn của Tám Mối Phúc Thật mà Chúa Giêsu không chỉ rao giảng, mà còn thể hiện cho đến cùng. Chết để cho sứ điệp Tin Mừng được đón nhận, đó là nghịch lý của Tám Mối Phúc Thật. Cái chết ấy được thể hiện trong cuộc sống hàng ngày của người Kitô hữu, nghĩa là hăng say phục vụ, sống quảng đại, liêm khiết, sống bác ái yêu thương, ngay cả chấp nhận những thua thiệt miễn là không đánh mất niềm tin của mình.

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

Suy Niệm 2: Phúc thay!

Thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. Người mở miệng dạy họ rằng: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,

Vì Nước Trời là của họ.

Phúc thay ai hiền lành,

Vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. (Mt. 5, 1-4)

Những lời đầy hy vọng

Phúc thay, ai có tâm hồn nghèo khó! Phúc thay ai hiền lành! Phúc thay ai sầu khổ! Phúc thay ai xây dựng hòa bình! Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính!

Người ta thuộc lòng những lời này. Đó là cốt lõi của Phúc âm. Có lẽ Chúa Giêsu đã không bao giờ nói lời đẹp hơn. Chưa có người nào trước Người đã nói những lời chứa chan hy vọng như thế cho những ai phải sống vất vả, chiến đấu, đau khổ, đi tìm sự thiện.

Quả là những lời đầy hy vọng! Một ngày nào đây tẩt cả những ai khốn khổ hằng tin cậy vào Chúa sẽ được hạnh phúc. Một ngày nào đây công bình sẽ được thực thi. Một ngày nào đây đau khổ sẽ biến mất, tiếng khóc sẽ đổi thành niềm vui cho những kẻ tin. Mọi sự sẽ đẹp, sẽ tốt, sẽ ngon lành. Những ai rồi đây sẽ phải vất vả, chiến đấu và đau khổ mà vẫn phó thác ngả mình vào vòng tay yêu thương của Chúa, sẽ hân hoan sống bên Người.

Những lời để sống ngay bây giờ

Nhưng hạnh phúc, phải chăng chỉ ngày mai mới có? Phải chăng đến tận cùng thời gian lời Chúa hứa cho ta hạnh phúc mới được thực hiện? Mà đã là người, ai lại chẳng ước mong khi chết rồi sẽ được hưởng niềm vui và hạnh phúc? Chính ngay bây giờ, hôm nay, ngay lập tức mà chúng ta muốn được hạnh phúc.

Hạnh phúc dù phải vất vả, dù bị người ta hiểu lầm và giễu cợt, dù bị ốm đau, dù cuộc sống vất vưởng, có thể được chăng?

Chúa Giêsu trả lời: được chứ. Ngay bây giờ, chính những ai sống theo tinh thần của tám mối phúc, người ấy sẽ hạnh phúc. Nhưng mai ngày họ sẽ hạnh phúc hơn. Và niềm hy vọng này là nguồn vui cho những kẻ ấy ngay từ hôm nay.

 

Suy Niệm 3: CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN HẠNH PHÚC (Mt 5, 1-12)

Xem lại CN 4 TN A, CN 6 TN C, Thứ Sáu tuần 23 TN, lễ Các Thánh 1/11.

Là con người, từ cổ chí kim, từ Đông chí Tây, đủ mọi lứa tuổi, mọi thành phần, ai ai cũng đều mong muốn mình được hạnh phúc hoặc sờ chạm thấy hạnh phúc dù chỉ một chút. Thánh Tôma Aquinô cũng đã nói: “Theo bản tính tự nhiên, tất cả mọi người đều khát mong hạnh phúc”. Chính vì thế, nhiều người chấp nhận đánh đổi rất nhiều để cầu mong được hạnh phúc. Ngày nay, cũng đã có nhiều người tìm ra cho mình những kỹ năng để nâng niu và nắm giữ được hạnh phúc lâu dài.

Tuy nhiên, điều họ mong muốn và tìm kiếm đó có đúng không hay chỉ là một sự mơ tưởng hoặc bị hiểu sai về hạnh phúc? Vậy, hạnh phúc đích thực là gì và ở đâu?

Hôm nay Đức Giêsu đã vạch ra cho các môn đệ và những người đương thời với Ngài những con đường để đưa đến hạnh phúc. Con đường đó là: tinh thần nghèo khó; hiền lành; chịu đau buồn vì Chúa; khao khát điều công chính và sẵn sàng chấp nhận bị bách hại vì điều công chính đó; hãy thương xót người; có lòng trong sạch; ăn ở thuận hoà. Trung thành với các “mối phúc thật” và gắn vào trong đó lòng mến thì hẳn sẽ đạt được hạnh phúc đích thực là Nước Trời.

Hôm nay, Đức Giêsu cũng đang mời gọi mỗi người chúng ta đi trên con đường Chân Phúc đó để được cứu độ, hạnh phúc và bình an. Tuy nhiên, con đường đó chẳng mấy ai đi! Bởi vì nó là con đường “hẹp”, con đường của từ bỏ, của chông gai. Nhưng để đạt được niềm hạnh phúc thực sự, chúng ta không còn con đường nào khác là đi trên chính con đường mà Đức Giêsu đã đi, bởi lẽ đường rộng và lối thênh thang sẽ dẫn đến đau khổ, bất hạnh và diệt vong.

Lạy Chúa Giêsu, đã biết bao lần chúng con khước từ con đường Chúa vạch ra cho chúng con để được hạnh phúc. Ngược lại, chúng con lại lựa chọn con đường dễ dãi, thênh thang hầu thỏa mã tính xác thịt nơi mình, mà bán rẻ lương tâm, nhân phẩm của chúng con để rồi mất đi hạnh phúc thật.

Xin cho chúng con biết tìm về nguồn cội của hạnh phúc là chính Chúa, biết đi trên con đường “các mối phúc” để dẫn tới hạnh phúc đích thực. Amen.

Ngọc Biển SSP              

 

Suy Niệm 4: Phúc thay

Suy niệm:

Đức Đạt-lai Lạt-ma, vào mùa thu năm 1994 tại thủ đô nước Anh,

đã được mời chia sẻ về giáo huấn của Chúa Giêsu trong các sách Tin Mừng.

Một trong những bài chia sẻ đầu tiên là về các Mối Phúc.

Theo ngài các Mối Phúc dường như nói về nghiệp (karma), về nhân quả.

“Nếu bạn hành động như thế, thì bạn sẽ chịu hậu quả như thế.

Nếu bạn không hành động như thế, thì bạn cũng chẳng chịu hậu quả như thế.

Vậy rõ ràng nguyên lý nhân quả nằm ở trong giáo huấn của các Mối Phúc.”

Thật ra các Mối Phúc của Kitô giáo lại không bắt nguồn từ nguyên lý nhân quả,

dù mới đọc ta có cảm tưởng như vậy.

Các Mối Phúc bắt đầu bằng chữ “Phúc thay”,

kế đến nói lên ai là người được hưởng phúc ấy,

cuối cùng nêu lên lý do hay nền tảng của hạnh phúc ấy bằng chữ “vì”.

Hạnh phúc đích thật của người Kitô hữu không phải là “quả” tự nhiên

do “nhân” là việc lành phúc đức của họ.

Dù sống tốt đến mấy đi nữa, thì “nhân” ấy cũng không thể sinh “quả” ấy được.

“Quả” hạnh phúc của Kitô giáo là quà tặng lớn của Thiên Chúa cho con người.

Điều này được diễn tả qua những lối dùng động từ ở thể thụ động:

“sẽ được ủi an, sẽ được no thỏa, sẽ được xót thương, sẽ được gọi.”

Trước khi giảng về các Mối Phúc, Đức Giêsu đã loan báo:

“Hãy hối cải, vì Nước Trời đã gần bên” (Mt 4, 17).

Nước Trời người Do thái mong đợi đã đến với sự hiện diện của Đức Giêsu.

Quà tặng nhưng không của Thiên Chúa đã được trao ban,

chẳng phải do công sức của con người.

Hãy mở lòng ra đón lấy Nước ấy bằng cách hối cải, bỏ đời sống cũ.

Nhưng hơn thế nữa, còn phải đón nhận một lối sống mới cho phù hợp.

Bài giảng trên Núi, và các Mối Phúc, cho thấy hướng sống

của những ai muốn đón nhận quà tặng Nước Trời với bao hạnh phúc kèm theo.

Để nhận được quà tặng vô giá ấy, để được hưởng hạnh phúc vô bờ ấy,

cần cung kính đưa hai tay để đón lấy với lòng khiêm hạ và biết ơn.

Sống theo các Mối Phúc là có thái độ trân trọng cung kính ấy.

Không đưa tay thì cũng chẳng được quà.

Nhưng không phải cứ đưa tay là có quà,

nếu Thiên Chúa không muốn cho trước khi ta xin.

Kitô giáo không dựa trên nguyên lý nhân quả.

Cung kính đưa tay là sống nghèo khó, cậy dựa vào Thiên Chúa,

là hiền lành, là chịu sầu khổ, chịu bách hại vì Đức Kitô.

Cung kính đưa tay là có lòng thương xót, có tinh thần xây dựng hòa bình,

là làm tất cả mọi sự với quả tim trong sáng, không chút vẩn đục.

Khi làm như thế chúng ta hy vọng được chạm đến Thiên Chúa,

thậm chí được nếm biết Nước Trời ngay từ đời này (cc. 3. 10).

Chúng ta có thể viết thêm những mối phúc mới

qua những kinh nghiệm trong cuộc đời Kitô hữu.

Có bao niềm vui lớn nhỏ mỗi ngày mà ta cảm nhận khi sống lời dạy của Giêsu.

Chỉ khi ấy ta mói thấy thật sự lời của Ngài là Tin Mừng.

 

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giêsu thương mến,

xin ban cho chúng con

tỏa lan hương thơm của Chúa

đến mọi nơi chúng con đi.

Xin Chúa hãy tràn ngập tâm hồn chúng con

bằng Thần Khí và sức sống của Chúa.

Xin Chúa hãy xâm chiếm toàn thân chúng con

để chúng con chiếu tỏa sức sống Chúa.

Xin Chúa hãy chiếu sáng qua chúng con,

để những người chúng con tiếp xúc

cảm nhận được Chúa đang hiện diện nơi chúng con.

Xin cho chúng con biết rao giảng về Chúa,

không phải bằng lời nói suông,

nhưng bằng cuộc sống chứng tá,

và bằng trái tim tràn đầy tình yêu của Chúa. Amen.

(Mẹ Têrêxa Calcutta)

Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

 

Này là con Bà! Này là Mẹ con!

Monday (June 10): Woman, behold, your son! Disciple, behold, your mother!

 

Scripture: John 19:25-34

Standing by the cross of Jesus were his mother
and his mother’s sister, Mary the wife of Clopas, and Mary of Magdala. When Jesus saw his mother and the disciple there whom he loved, he said to his mother, “Woman, behold, your son.” Then he said to the disciple,”Behold, your mother.” And from that hour the disciple took her into his home. After this, aware that everything was now finished, in order that the Scripture might be fulfilled, Jesus said, “I thirst.” There was a vessel filled with common wine. So they put a sponge soaked in wine on a sprig of hyssop and put it up to his mouth. When Jesus had taken the wine, he said, “It is finished.” And bowing his head, he handed over the spirit.  Now since it was preparation day, in order that the bodies might not remain on the cross on the sabbath, for the sabbath day of that week was a solemn one, the Jews asked Pilate that their legs are broken and they be taken down. So the soldiers came and broke the legs of the first and then of the other one who was crucified with Jesus. But when they came to Jesus and saw that he was already dead, they did not break his legs, but one soldier thrust his lance into his side, and immediately Blood and water flowed out. 

Thứ Hai  10-6        Này là con Bà! Này là Mẹ con!

 

Ga 19,25-34

25 Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la.26 Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà.”27 Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.28 Sau đó, Đức Giê-su biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: “Tôi khát! “29 Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người.30Nhắp xong, Đức Giê-su nói: “Thế là đã hoàn tất! ” Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.31Hôm đó là ngày áp lễ, người Do-thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày sa-bát, mà ngày sa-bát đó lại là ngày lễ lớn. Vì thế họ xin ông Phi-la-tô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống.32 Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giê-su.33 Khi đến gần Đức Giê-su và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người.34Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra.

Meditation: 

 

Why was it necessary for the Son of God to be born of a virgin mother – only to suffer rejection, betrayal, and cruel death on a cross? God’s love knows no bounds. He created the human race in love for love – to be united with him and with one another in a bond of unbreakable love, peace, and friendship. True love risks all and gives all for the beloved. With the gift of love and fruit-bearing life God also gave freedom and responsibility – freedom to choose for good or for evil, for community or for the division, for peace or for strife, for life or for death. 

God’s gift of love – broken by sin and rebellion

Adam and Eve, the man and woman God created to be the beginning of a people who were made in the image and likeness of God, received everything they needed for life, happiness, and friendship with God. God provided a dwelling place specially made for them – a Garden of Paradise and fruit of his creation. God took great delight in his son Adam and Eve his wife – he walked with them daily in the garden so they could grow in the knowledge of his great love and wisdom. 

God allowed the tempter, whom Scripture calls the devil and Satan, the father of lies, to test them so they could freely choose whom they would serve and obey. Satan tricked them into believing that they could be all powerful and wise, like God, on their own terms and conditions, according to their own desires and preferences. Like Satan and the fallen angels who rebelled against God, Adam and Eve thought they could be equal to God and chart their own course for happiness and life together. They choose to believe Satan’s word over God’s word – a choice that opened the door to sin, rebellion, and separation from God. 

Their fall resulted in a grievous wound which only God could heal and restore to wholeness. God in his merciful love and wise judgment, disciplined them for their own good, to lead them to repentance, purification, and restoration of friendship with God. God did not leave them in sin and darkness – he promised to send them a Redeemer who would restore them and their descendants to the fullness of life with God. 

The promised Redeemer who comes to restore our fallen humanity

How did God fulfil his promise to restore a broken and fallen humanity? The prophet Isaiah foretold that God himself would send his people a Redeemer, born of a virgin mother from the house of David (Isaiah 7:14), who would willingly undergo affliction and chastisement to the point of shedding his blood to make atonement for their sins (Isaiah 53:1-12, and Isaiah 50:4-8; 52:13-15). 

 In the wondrous cross of Christ, who shed his blood for our sins, we see God’s unfolding plan of restoration for the human race. Through his obedience to the Father’s will and the willing sacrifice of his own life for our sake, he reversed the curse of our first parents’ sin and won for us pardon and abundant life. John tells us in his Gospel account that “God so loved the world that he gave us his only Son, that whoever believes in him should not perish but have eternal life” (John 3:16). God the Son, the Lord Jesus Christ, humbled himself by taking on human flesh in the womb of the Virgin Mary, so he could become one with us in our humanity and offer himself as the perfect sacrifice for our sins and the sin of the world. 

 Christ is the new Adam – who creates a new humanity through his cross and resurrection

Paul the Apostle tells us that Jesus Christ is the new Adam who begets a new humanity and a new creation (Romans 5:12-18, 2 Corinthians 15:7) through his victory on the cross and his resurrection. That is why Jesus explained to Nicodemus that we must be born anew (John 3:3) – of water and the Spirit (John 3:5,8). 

Woman, behold, your son! Disciple, behold, your mother!

As Jesus hung on the cross at Calvary, he looked down and saw his mother and John the beloved disciple standing at the foot of the cross. Jesus said, “Woman, behold your son,” and then to John, he said, “Behold, your mother” (John 19:26-27). John takes Mary as his spiritual mother, and Mary takes John as her spiritual son.

Why did Jesus address Mary as “Woman” rather than “mother” (see also Jesus addressing Mary as “Woman” in John 2:4). Jesus may be alluding to the beginning of creation in Genesis when Adam addressed Eve first as Woman, “This, at last, is bone of my bones and flesh of my flesh. She shall be called Woman, because she was taken out of Man” (Genesis 2:23). Adam later called her “Eve” because she became the “mother of all living” (Genesis 3:20).

Mary’s mission is inseparably linked with the mission of her Son, the Lord Jesus

Mary’s mission as the bearer of the Son of God  (following-tokos which means God-bearer in Greek) is inseparably linked with the mission of her Son the Lord Jesus Christ. Through the grace and gift of the Holy, Spirit Mary becomes the first disciple and a spiritual mother of a new humanity who is born again through her son, the Lord Jesus.

To become the mother of the Savior, Mary was enriched by God with the gifts of the Holy Spirit to enable her to assume this awesome role. A number of early church fathers saw Mary as a new Eve who cooperated with her Son’s mission through her faith and devotion to God’s word, and her prompt “yes” to God’s will. 

Irenaeus, an early second-century bishop of Lyons (130-200 AD), described Mary’s role in the service of her Son’s mission: 

 

“The Lord, coming into his own creation in visible form, was sustained by his own creation which he himself sustains in being. His obedience on the tree of the cross reversed the disobedience at the tree in Eden; the good news of the truth announced by an angel to Mary, a virgin subject to a husband, undid the evil lie that seduced Eve, a virgin espoused to a husband…

As Eve was seduced by the word of an angel and so fled from God after disobeying his word, Mary in her turn was given the good news by the word of an angel and bore God in obedience to his word. As Eve was seduced into disobedience to God, so Mary was persuaded into obedience to God; thus the Virgin Mary became the advocate of the virgin Eve…

The knot of Eve’s disobedience was untied by Mary’s obedience: what the virgin Eve bound through her disbelief, Mary loosened by her faith” (quotes from Against Heresies (Lib. 5, 19, 1; 20, 2; 21,1: SC 153, 248-250. 260-264)

Throughout her life, Mary remained steadfast and faithful to the call and mission God entrusted to her, as the mother of the Son of God who took flesh in her womb. She is the first Christian because she accepted the Gospel and gave her “yes” to God’s plan of redemption. She followed her son to the cross and she prayed for the outpouring of the Holy Spirit upon all the disciples at Pentecost.  She is a model for us of faith and obedience, hope and perseverance, and love and fidelity. Are you ready to take up your cross and follow the Lord Jesus in his way of love and sacrifice?

God gives us the grace to say “yes” to his will and to his transforming work in our lives

What is the key that unlocks the power of God’s kingdom and his abundant life in our personal lives? Faith is the free gift of God for all who accept his Son as Lord and Redeemer. Our faith and trust in the Lord Jesus open the door to all the promises of God who find their fulfilment in Christ. God gives us all the grace and strength we need and he expects us to respond with the same willing obedience and heartfelt trust as Mary did. When God commands he also gives the strength and means to respond. We can either yield to his grace or resist and go our own way. Do you believe in God’s promises and do you yield to his grace?

 

“Heavenly Father, you offer us abundant grace, mercy, and forgiveness through your Son, Our Lord Jesus Christ. Help me to live a grace-filled life as Mary did by believing in your promises and by giving you my unqualified “yes” to your will and your plan for my life.”

Suy niệm:

 

Tại sao Con Thiên Chúa cần phải sinh ra bởi một người mẹ trinh nữ – chỉ để chịu chống đối, phản bội, và chết thê thảm trên thập giá? Tình yêu Thiên Chúa không có giới hạn. Người đã dựng nên con người trong tình yêu và vì tình yêu – để được hiệp nhất với Người và với nhau trong mối dây yêu thương, bình an, và thân hữu không thể chia cắt. Tình yêu thật sự mạo hiểm tất cả và cho đi tất cả vì người mình yêu. Với hồng ân yêu thương và trách nhiệm – sự tự do để chọn điều tốt hay điều xấu, cho cộng đồng hay chia rẽ, cho bình an hay xung đột, cho sự sống hay sự chết.

 

Hồng ân yêu thương của TC – bị đỗ vỡ bởi tội lỗi và sự chống đối

Adam và Eva, người nam và nữ mà Thiên Chúa đã dựng nên để khởi đầu cho một dân tộc được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, đã nhận được mọi sự cần thiết để sống, hạnh phúc và tình bằng hữu với Thiên Chúa. Thiên Chúa đã cho họ một nơi ở đặc biệt – vườn Địa Đàng và muôn hoa trái trong đó. Thiên Chúa rất vui sướng với con cái mình là Adam và Eva, vợ ông – Người đi dạo với họ mỗi ngày trong vườn để họ có thể lớn lên trong sự hiểu biết tình yêu và khôn ngoan của Người.

 

Thiên Chúa đã cho phép tên cám dỗ, kẻ mà Kinh thánh gọi là ma quỷ và Satan, là cha của kẻ dối trá, thử thách họ để họ có thể tự do chọn lựa ai là người mà họ phụng sự và vâng phục. Satan đã lừa dối họ tin rằng họ sẽ có sức mạnh và khôn ngoan như Thiên Chúa, không có bất cứ giới hạn nào, tùy theo những ước muốn và sở thích riêng của họ. Giống như Satan và các thần dữ, kẻ đã chống lại Thiên Chúa, Adam và Eva nghĩ họ có thể ngang bằng với Thiên Chúa và đưa ra cách thức riêng để được hạnh phúc và sự sống với nhau. Họ chọn tin vào lời của Satan hơn lời của Thiên Chúa – sự lựa chọn đã mở ra cánh cửa cho tội lỗi, chống đối, và chia rẽ với Thiên Chúa.

 

 

Sự sa ngã của họ đã gây ra vết thương trầm trọng mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể chữa lành và phục hồi toàn vẹn. Thiên Chúa với tình yêu thương xót và sự xét xử khôn ngoan, đã kỷ luật vì lợi ích của họ, để dẫn họ tới sự sám hối, thanh tẩy, và phục hồi tình bằng hữu với Thiên Chúa. Thiên Chúa đã không để mặc họ trong tội lỗi và bóng tối – Người đã hứa gởi đến họ Đấng cứu chuộc, Đấng sẽ phục hồi họ và con cháu họ tới sự sống trọn vẹn với Thiên Chúa.

 

Đấng Cứu Chuộc theo lời hứa đến để phục hồi loài người sa ngã

Thiên Chúa đã hoàn thành lời hứa phục hồi của mình cho loài người đỗ vỡ và sa ngã như thế nào? Ngôn sứ Isaia đã tiên báo rằng chính Thiên Chúa sẽ gởi Đấng Cứu Chuộc tới dân Người, được sinh ra bởi người mẹ đồng trinh từ dòng dõi Đavít (Is 7,14), Đấng sẽ sẵn sàng chịu đau khổ và trừng phạt để độ đỗ máu ra để làm lễ đền tội thay cho họ (Is 53,1-12 và Is 50,4-8; 52,13-15).

 

Trong thập giá kỳ diệu của Đức Kitô, Đấng đã đỗ máu mình ra vì tội lỗi chúng ta, chúng ta thấy kế hoạch phục hồi bộc lộ của Thiên Chúa cho loài người. Qua sự vâng phục ý Cha và sự tự nguyện hy sinh mạng sống của Người vì chúng ta, Người đảo ngược lời nguyền tội lỗi của tổ tiên chúng ta và đem lại cho chúng ta ơn tha thứ và sự sống sung mãn. Gioan nói với chúng ta trong Tin mừng rằng “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Chúa Con, Chúa Giêsu Kitô, đã hạ mình qua ngang qua việc mặc lấy xác phàm trong lòng trinh nữ Maria, để Người có thể nên một với chúng ta trong tính loài người và hiến mình làm lễ hy sinh hoàn hảo vì tội chúng ta và của thế giới.

 

Đức Kitô là Adam mới – tạo ra một nhân loại mới qua thập giá và sự phục sinh của Người

Thánh Phaolô tông đồ nói với chúng ta rằng Đức Giêsu Kitô là Adam mới, Đấng sinh ra một nhân loại mới và sự tạo dựng mới (Rm 5,12-18; 2Cr 15,7) ngang qua chiến thắng trên thập giá và sự phục sinh của Người. Đó là lý do tại sao Đức Giêsu giải thích cho Nicodemo rằng chúng ta phải được tái sinh (Ga 3,3) bởi nước và Thần Khí (Ga 3,5.8).

 

Này là con Bà! Này là Mẹ con!

Khi Đức Giêsu bị treo trên thập giá ở Canvê, Người nhìn xuống và thấy Mẹ Người và Gioan, người môn đệ yêu dấu đang đứng dưới thập giá. Đức Giêsu nói “Hỡi Bà, này là con Bà!” và nói với Gioan “Này là Mẹ con” (Ga 19,26-27). Gioan đón nhận Maria là Mẹ thiêng liêng và Maria đón nhận Gioan là con thiêng liêng của mình.

Tại sao Đức Giêsu nói với Maria là “Bà” thay vì “Mẹ” (cũng như Đức Giêsu nói với Maria là “Bà” trong Gioan 2,4). Đức Giêsu muốn ám chỉ tới sự khởi đầu tạo dựng trong sách Sáng Thế khi Adam nói với Eva là người Phụ Nữ đầu tiên “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra” (St 2,23). Adam sau đó gọi bà là “Eva” vì bà là “Mẹ của chúng sinh” (St 3,20).

 

 

 

Sứ mạng của Maria được gắn kết chặt chẽ với sứ mạng của Con mình là Chúa Giêsu

Sứ mạng của Maria là người cưu mang Con Thiên Chúa (theo-tokos nghĩa là người cưu mang Thiên Chúa theo tiếng Hylạp) được gắn kết chặt chẻ với sứ mạng của Con mình là Chúa Giêsu Kitô. Ngang qua ơn sủng và hồng ân của Chúa Thánh Thần, Maria trở nên người môn đệ đầu tiên và là mẹ thiêng liêng của nhân loại mới, những người một lần nữa được sinh ra ngang qua Con của Mẹ, là Chúa Giêsu.

Để trở nên Mẹ Đấng Cứu Thế, Maria đã được Thiên Chúa ban cho những hồng ân của Chúa Thánh Thần để giúp Mẹ thực hiện vai trò cao cả này. Một số giáo phụ thời sơ khai đã xem Maria là Eva mới, đấng cộng tác với sứ mạng của Con mình ngang qua đức tin và lòng sùng kính với Lời Chúa và lời xin “Vâng” trước ý định của Thiên Chúa.

Irênê, một Giám mục ở thế kỷ thứ hai thành Lyons (130-200 AD) đã mô tả vai trò của Đức Maria trong sự phụng sự sứ mạng của Con mình như sau:

“Đức Chúa, đến với loài thụ tạo của chính mình trong hình thức hữu hình, đã được chấp nhận bởi thụ tạo của mình mà chính Người chấp nhận làm người. Sự vâng phục của Người trên cây thập giá đảo ngược sự bất tuân ở cây trong vườn Địa Đàng. Tin mừng chân lý được sứ thần loan báo cho Maria, một trinh nữ lệ thuộc vào chồng, tháo gỡ lời dối trá đã cám dỗ Eva, một trinh nữ đã có chồng…

 

Trong khi Eva bị cám dỗ bởi lời của một thiên sứ và chạy trốn Thiên Chúa sau khi bất tuân lời Người, thì Maria được một thiên sứ loan báo Tin mừng cưu mang Thiên Chúa trong sự vâng phục lời Người. Trong khi Eva bị cám dỗ bất tuân Thiên Chúa thì Maria được thúc giục vâng phục Thiên Chúa. Vì thế Trinh nữ Maria đã trở nên đấng bào chữa cho trinh nữ Eva…

 

 

Nút thắt của sự bất tuân của Eva đã được tháo cởi bởi sự vâng phục của Maria: những gì trinh nữ Eva bị trói buộc qua sự bất tín thì Maria đã tháo cởi qua đức tin của mình” (Trích từ khảo luận chống lạc giáo (Lib. 5,19,1; 20,2; 21,1: SC 153, 248-250. 260-264).

Qua đời mình, Maria đã bền đỗ và trung tín trước lời mời gọi và sứ mạng Thiên Chúa trao phó, làm mẹ Con Thiên Chúa, Đấng mặc lấy xác phàm trong lòng mẹ. Mẹ là tín hữu đầu tiên bởi vì mẹ đã chấp nhận Tin mừng và xin “Vâng” trước kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Mẹ đã theo con đến thập giá và cầu nguyện cho Chúa Thánh Thần đến với các môn đệ vào ngày lễ Ngũ Tuần. Mẹ là mẫu gương cho chúng ta về đức tin và sự vâng phục, hy vọng và kiên vững, tình yêu và thành tín. Bạn có sẵn sàng mang lấy thánh giá và đi theo Chúa Giêsu trên con đường tình yêu và hy sinh của Người không?

 

Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn sủng để xin “Vâng” trước ý Người và trước hoạt động biến đổi của Người trong cuộc đời chúng ta

Đâu là mấu chốt để mở được sức mạnh vương quốc của Thiên Chúa và sự sống sung mãn của Người trong đời sống riêng của chúng ta? Đức tin là ân huệ nhưng không của Thiên Chúa cho tất cả những ai đón nhận Con của Người là Chúa và là Đấng cứu độ. Đức tin và lòng trông cậy của chúng ta nơi Chúa Giêsu mở ra cánh cửa của tất cả lời hứa của Thiên Chúa, được hoàn thành nơi Đức Kitô. Thiên Chúa ban cho chúng ta tất cả ơn sủng và sức mạnh cần thiết và mong đợi chúng ta đáp trả với sự sẵn sàng vâng phục và trông cậy như Maria đã làm. Khi Thiên Chúa ra lệnh Người cũng ban sức mạnh và phương tiện để đáp trả. Chúng ta có thể đón nhận hay chống lại ơn sủng của Người và đi theo con đường riêng của mình. Bạn có tin vào các lời hứa của Thiên Chúa và bạn có đón nhận ơn sủng của Người không?

Lạy Cha trên trời, Cha ban cho chúng con ơn sủng dồi dào, lòng thương xót, ơn tha thứ ngang qua Con của Cha là Chúa Giêsu Kitô. Xin giúp con sống cuộc đời tràn đầy ơn sủng như Mẹ Maria đã sống qua việc tin vào các lời hứa của Cha và qua việc dâng cho Cha lời xin “Vâng” trước ý Cha và kế hoạch của Cha dành cho đời con.

 

 

Tác giả: Don Schwager
(http://dailyscripture.servantsoftheword.org/readings/)
Bro. Paul Thanh Vu– chuyển ngữ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây