Các Bài Suy Niệm Chúa Nhật 3 Mùa Vọng Năm A

Thứ bảy - 14/12/2019 02:44

CN3

CN3

CHÚA NHẬT 3 MÙA VỌNG_A

 

Lời Chúa: Is 35, 1-6a.10; Gc 5,7-10; Mt 11,2-11

——-

DẪN NHẬP
Lời Chúa: "Thầy có phải là Đấng phải đến hay chúng tôi còn phải đợi một Đấng nào khác" (Mt 11,3).
Nhập lễ:
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,
Phụng vụ Lời Chúa chúa nhật 3 mùa vọng hôm nay mời gọi chúng ta hãy vui lên, vì Đấng Cứu Độ của chúng ta sắp ngự đến. Người đến để giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và dẫn đưa chúng ta vào cuộc sống hạnh phúc đích thực:
Xưa kia dân thoát lưu đày,
Niềm vui lan đến cỏ cây muôn loài.
Nay ngày Chúa xuống trần ai,
Đất trời phơi phới xướng bài hoan ca.
Đến ngày thế mạt xảy ra,
Uy nghi Chúa đến thật là vinh quang.
Hiệp dâng thánh lễ hôm nay, xin Chúa giúp chúng ta biết dọn đường Chúa đến bằng việc sám hối ăn năn về những lầm lỗi của mình và quyết tâm canh tân đời sống. Nhờ vậy, chúng ta mới cảm nhận được niềm vui đón chờ Chúa đến. Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta hãy thành tâm sám hối.
Sám hối:
X. Lạy Chúa, Chúa là niềm vui và nguồn hạnh phúc đích thực của chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con.
Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.
X. Lạy Chúa Kitô, Chúa đến để đem Tin Mừng cho người nghèo khó. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.
Đ. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.
X. Lạy Chúa, Chúa là ánh sáng và là đường đi dẫn chúng con đến sự sống đời đời. Xin Chúa thương xót chúng con.
Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.
Kết: Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.
CĐ: Amen.
Suy niệm:
Kính thưa quý ông bà anh chị em,
Chúa nhật 3 mùa vọng hôm nay được gọi là Chúa nhật của niềm vui. Niềm vui đón chờ Chúa đến. Chính vì thế, phụng vụ Lời Chúa hôm nay diễn tả bằng một niềm vui và sắc màu là Màu hồng. Nhưng không phải là một thứ ửng hồng e lệ của tình yêu buổi đầu gặp gỡ, cũng không phải là thứ bột hồng điểm trang của hương phấn trong ngày lễ hội, mà chính là màu hồng của niềm vui chan hòa đón chờ Đấng Cứu Thế đến để giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi, dẫn đưa chúng ta vào cuộc sống hạnh phúc đích thực.
Thưa anh chị em, sống giữa cảnh lưu đày bên Babylon, người dân Do thái đầy đau khổ, bị áp bức đủ bề, chán chường. Ngôn sứ Isaia loan báo một tuơng lai huy hoàng, hứng khởi và thi vị: Thiên Chúa sắp giải thoát họ khỏi cảnh lưu đày và đưa họ trở về quê cha đất tổ, vùng đất phì nhiêu, có thành thánh và đền thờ nguy nga, tráng lệ. Hơn thế nữa, bấy giờ bệnh tật và tai ương cũng tan biến: “Mắt người mù sẽ nhìn thấy, và tai những người điếc sẽ được nghe, người què sẽ nhảy nhót như nai”. Hãy can đảm lên vì “Thiên Chúa anh em đây rồi”. Nghe những lời loan báo đó, tâm hồn người dân Do thái đầy tràn niềm vui, hy vọngkiên nhẫn chờ đợi. Lời loan báo ấy của ngôn sứ Isaia đã được thực hiện vào năm 538 trước Công nguyên, khi vua Tyrô ban sắc chỉ cho dân Do thái được hồi hương. Tuy nhiên, lời loan báo còn hướng tới một tương lai huy hoàng hơn nữa: Ngày Đấng Thiên sai đến giải thoát dân Người, thế nên đó là niềm vui của thời Thiên sai. Chính Chúa Giêsu đã dùng những lời loan báo đó để trả lời cho Gioan tẩy giả đang trong tù sai môn đệ đến hỏi: “Thầy có phải là Đấng phải đến hay chúng tôi còn phải đợi một Đấng nào khác?”. Không trực tiếp trả lời câu hỏi, nhưng Chúa Giêsu giới thiệu cho các môn đệ Gioan một cách tìm kiếm câu trả lời: biết nhìn các dấu hiệu, biết giải thích, biết nhận ra chúng như những công việc của Đấng Thiên sai, biết đối chiếu với Thánh kinh để nhìn ra ý muốn của Thiên Chúa. Đây là con đường dẫn ta từ dấu chỉ đến thực tại.
câu chuyện kể rằng, sau biến cố 11 tháng 9 năm 2001 tại Mỹ, con gái của một vị Mục sư giảng thuyết nổi tiếng được mời trả lời phỏng vấn trên truyền hình và người hướng dẫn chương trình đã hỏi cô ta như sau: “Tại sao Thiên Chúa lại có thể để xảy ra một thảm họa khủng khiếp như vậy?”  Cô trả lời: “Tôi nghĩ là Thiên Chúa rất buồn vì điều đó, ít nhất là Ngài cũng buồn bằng chúng ta. Từ bao năm nay, chúng ta đã yêu cầu Ngài ra khỏi trường học, khỏi chính phủ và khỏi đời sống của chúng ta. Ngài là người ‘quân tử’ nên đã lẳng lặng rút lui.”
Kính thưa quý ông bà anh chị em,
Câu chuyện trên đây muốn nhắc nhở chúng ta rằng, chúng ta đang sống trong một thế giới ồn ào náo nhiệt, con người chạy theo những trào lưu tục hoá, tôn thờ của cải vật chất và muốn loại trừ thiên Chúa ra khỏi đời sống của chúng ta, ra khỏi thế giới này. Vì thế, qua các biến cố trong lịch sử loài người giúp chúng ta có thể khám phá ra Chúa Giêsu, Đấng Thiên sai đang đến trong thời đại chúng ta, trong cuộc đời chúng ta và khiến chúng ta vui mừng, hân hoan. Thánh Giacôbê khuyên bảo chúng ta phải kiên nhẫn chờ đợi ngày Chúa đến như bác nông phu sau khi gieo vãi đã trông chờ một mùa bội thu. Phải nhẫn nại, chịu đựng những khó khăn thử thách âu lo trong đời sống hàng ngày và chờ ngày Lời Chúa được thực hiện. Vì Người sẽ biến đổi ưu phiền thành niềm vui, đau khổ thành hạnh phúc.
Nguyện xin Chúa giúp chúng ta chuyên chăm chu toàn bổn phận hiện tại như bác nông phu, kiên nhẫn chịu đựng gian khổ của cuộc sống như các Ngôn sứ, và trở nên ánh sáng Tin Mừng niềm vui của ơn cứu độ cho anh chị em mình. Amen.
Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang.






Mục lục

1. Niềm vui thật  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

2. Sự sám hối chân thành (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

3. Chúa lên tiếng  (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

4. Niềm vui trong tâm hồn (Anna Cỏ May, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

5. Niềm vui ơn cứu độ (Lm. Đaminh Trần Đình Nhi)

6. Thiên Chúa ở đâu khi tôi đau khổ?  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

7. Mong đợi  (Vũ Đình Tường)

8. Đêm tối của đức tin ấy là kiếp người (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

9. Chúa Nhật 3 Mùa Vọng (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

10. Gioan Tẩy giả đã tìm thấy (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

11. Nhẫn nại đón chờ Chúa đến (Lm. JB. Hoàng Văn Khanh)

12. Bạn có phải là Đức Giêsu không?  (Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn)

13. Ai là “Thầy”của tôi? (Lm. Hà Ngọc Đoài)

14. Đấng Thiên Sai (Lm. Giuse Trần Hưng Lợi)

15. Để khỏi vấp ngã vì Chúa Kitô  Lm. Phạm Ngọc Ngôn)

16. Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta  (Lm. Trần Thanh Sơn)

17. Còn đợi chờ ai?  (Lm. Phạm Quốc Hưng)

18. Kiên nhẫn đợi chờ (Lm. Minh Nhiên)

19. Thính thị  (Trầm Thiên Thu)

20. Đấng phải đến, đã đến (PM. Cao Huy Hoàng)

21. Hãy vui lên  (Jos.Vinc. Ngọc Biển, SSP)

22. Câu hỏi của GioanTẩy giả-Chứng từ của ChúaGiêsu (Giáohoàng Họcviện Pi-ô X ĐàLạt)

23. Suy niệm chú giải Lời Chúa-Chúa Nhật 3 Mùa Vong_A (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

24. Còn phải đợi ai?  (Lm. Trần Bình Trọng)

25. Dung mạo Đức Kitô. (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

26. Niềm vui ơn cứu độ. (Lm. Gioan Nguyễn Thiên Khải, CRM)

27. Một Đấng Cứu Thế hoàn toàn khác  (Lm. Phêrô Lê Văn Chính)

28. Chờ đợi Chúa trong kiên nhẫn và vui tươi  (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

29. Trái tim hy vọng (Jorathe Nắng Tím)

30. Trông đợi Chúa (Sr. Nguyễn Như Ý, MTG.Thủ Đức)

 

 

Mục lục

1. Dấu chỉ thời Thiên sai (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Dung mạo Đức Kitô  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Mùa Vọng: Mùa màu hồng (Gm. Giuse Vũ Duy Thống)

4. Niềm vui của lòng thương xót Chúa  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

5. Anh em hãy vui lên (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

6. Gaudete – Chúa Nhật Hồng giữa mùa tím  (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)

7. Thầy có phải là Đấng phải đến chăng?  (Lm. Giacôbê Tạ Chúc)

8. Niềm hy vọng kiên cường (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

9. Thắc mắc  (Trầm Thiên Thu)

10. Suy niệm Chúa Nhật 3 mùa Vọng_A  (Lm. Anthony Trung Thành)

11. Kinh nghiệm nơi hoang địa (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

12. Chúa đã đến  (AM. Trần Bình An)

13. Người sẽ dọn đường cho con đến  (Lm. Gioan B. Phan Kế Sự)

14. Chung một niềm vui  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

15. Chung một niềm vui như thế (Lm. Giuse Nguyễn)

16. Hãy vui lên!  (JM. Lam Thy, ĐVD)

17. Gioan Tiền hô học biết Đức Giê-su (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

18. Chúa Giêsu mạc khải Nước trời (P.Trần Đình Phan Tiến)

19. Hãy để việc làm minh chứng về Ta  (LM. Inhaxiô Trần Ngà)

20. Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi  (Fx. Đỗ Công Minh)

21. “Ông có phải là Đấng phải đến?” (Lm. Uyen Nguyen)

22. Chu toàn sứ vụ tiền sứ cho Đức Kitô như Gioan  (Lm. Đan Vinh)

23. Chúa Nhật 3 Mùa Vọng_A (Lm. Antôn)

 

NIỀM VUI THẬT

Lm. Jos. DĐH.

Tất cả những ai sử dụng zalo, viber, để liên lạc, đều có khái niệm “chuông ảo” là gì ; cũng không ít người đã từng nghe câu thành ngữ: nửa ổ bánh mì, vẫn là bánh mì, nhưng nửa sự thật vẫn chỉ là nửa sự thật ! Giả như thật, thật như giả, ôi vui sao nước mắt lại trào, đối diện với những phức tạp, lại càng thấy rõ sự giới hạn của kiếp người. Dù giầu hay nghèo, bần cùng hay quý phái, ai cũng cần được tôn trọng, mà danh dự, uy tín, luôn được sánh ví như tờ giấy, khi đã nhàu nát, trong thời gian một vài phút, liệu ai đủ khả năng để vuốt cho nó thẳng lại ! Ngày hôm nay, không phải chỉ trong binh pháp mà ngay cả lãnh vực kinh tế, người ta vẫn đang áp dụng “khổ nhục kế” để đạt lấy mục đích.

Có phải cẩn thận, chắc chắn, là điều cần thiết để xa tránh sai lạc, để gặp niềm vui thật từ gia đình, xã hội hay không, mà tiền nhân ta lại nhắc nhớ con cháu: ở chọn nơi, chơi chọn bạn ? Sống thật lòng, cư xử với nhau bằng một tình yêu thật, nhất định không phải là khẩu hiệu do các đấng bậc nghĩ ra, nhưng sự thật luôn được minh chứng bằng đời sống kỷ luật, bằng hành động cụ thể, có mực thước. Niềm vui thật không hệ tại vì được tiền, được vàng, sống thật với lòng mình, cư xử có tình có nghĩa với tha nhân, không phải vì dị đoan mê tín hoặc mơ hồ từ một khái niệm: tiền là tiên là phật. Chúa nhật mầu hồng, chúa nhật mừng vui lên vì Đấng cứu độ đang tới, sẽ là chúa nhật của bình an thật, soi mở cho triều đại mới trong vương quốc của sự thật, khi mọi người có đức yêu thương nơi tâm hồn.

Các bậc tiền bối của chúng ta cho rằng: ngồi trên đống cát nhìn ai cũng đáng được gọi là quân tử ; ngồi trên đống vàng, mọi người mới rõ hơn ai thật sự là hiền nhân quân tử. Tiếng hô ở hoang địa quả đã thu hút được số đông mọi thành phần đến sông Gio-đan xin chịu phép rửa thống hối, từ nơi ngục tù, tiếng hô vẫn mãi lan truyền đi thông điệp hãy dọn đường, chuẩn bị tâm hồn đón Đấng cứu thế, cùng với một sứ mạng: để Chúa đến. Đức Giêsu tiếp tục ban phát niềm vui cho muôn thế hệ: “các ngươi cứ về thuật lại cho Gioan những điều mắt thấy tai nghe, người mù xem thấy, kẻ què đi được, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại và người nghèo được nghe Tin-mừng”. Xưa kia và hôm nay, “Tiếng và Lời” vẫn đang hoà quyện vang lên điệp khúc yêu thương, niềm vui, và sự thật của bình an, dù tâm trí và cõi lòng mỗi người còn nhiều vướng bận khác nhau.

Tiếng hô nơi hoang địa càng lúc càng rõ ràng, thôi thúc hơn, các học trò của Gioan rất vui và hạnh phúc, vì tai được nghe, mắt họ được thấy, tâm trí được xác thực hồng ân cứu độ không còn là lời hứa. Bị giam cầm, tù tội, Gioan vẫn đủ tình yêu, sự khôn ngoan cần thiết để chỉ dẫn: Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần đã hiện diện. Đấng sẽ mở trí lòng giúp Gioan và các thế hệ hiểu: khổ đau, ngục tù, sự chết, đã thực sự gia tăng tình yêu và lòng mến, mang lại niềm vui thật cho người tông đồ. Quan niệm về hạnh phúc và niềm vui thật của mỗi chúng ta hôm nay là gì ? Chắc chắn sẽ có sự khác nhau về chiều dài của tuổi tác, hoặc tính sâu rộng của tri thức và kinh nghiệm, tuy nhiên, niềm vui thật phải là niềm vui có Chúa, vì thế mà lời kêu gọi tỉnh thức, dọn đường, dọn lòng, đón Chúa không bao giờ thừa dư.

Tại cuộc sống trần thế này, ai cũng có hy vọng và không thiếu những nguy cơ khiến mình có thể vấp ngã, hoặc có thể tìm thấy niềm vui, khi ta giúp đỡ anh chị em mình bằng cả tấm lòng. Lúc Gioan ở ngục tù, ông vẫn cảm thấy vui vì ông đã sống tin yêu, đã có dịp hướng dẫn các học trò hãy đi hỏi: “ông có phải là Đấng phải đến không, hay chúng tôi còn phải chờ …?” Gioan đã thật vui khi nghe Đấng phải đến nói qua trung gian các học trò: “các anh cứ về thuật lại cho Gioan những điều mắt thấy tai nghe”. Chúa Giêsu hôm nay cũng sẽ còn tiếp tục nói với từng người chúng ta về niềm vui và hạnh phúc thật: không yêu mến tha nhân, việc đi lễ đi thờ, việc ăn chay hãm mình, cũng chỉ là yêu giả !

Chúa Giêsu sẽ vui biết bao khi mỗi người chúng ta có niềm vui thật trong lòng, đó là chúng ta đã hiểu, đã đủ ý thức về giá trị của bình an hạnh phúc mà mỗi người đang có cơ hội lãnh nhận: không ai thực sự vui vẻ khi chưa sống yêu thương. Gioan vui thật vui, không phải vui vì ông đã làm xong nhiệm vụ ở sa mạc cõi lòng và đang ở tù, Gioan thật là vui, vì ông tin Đấng ông loan báo đã tới, và đang thực hành công lý yêu thương. Cộng đồng xã hội và từng người chúng ta hôm nay có vui thật hay không là tuỳ thuộc vào tình Chúa chúng ta nhận và tình người chúng ta chia sẻ như thế nào ? Thông điệp Chúa Giêsu gởi đến cho Gioan, cho toàn thế giới là tình bác ái được thông chia, người người có bổn phận với sứ mạng riêng của mình: tỉnh thức, nguyện cầu, và hiệp nhất nên một trong tình yêu với Đấng đã đến, đang đến và sẽ đến. Amen.

Về mục lục

.

SỰ SÁM HỐI CHÂN THÀNH

     Lm. Jos Tạ duy Tuyền

Người xưa thường nói “cái nết đánh chết cái đẹp” nhưng hôm nay người ta lại nói: “Cái đẹp đè bẹp cái nết”, và ngày xưa người ta nói: “Hồng nhan bạc phận”, còn ngày nay người ta nói: “Hồng nhan bạc triệu”. Đôi khi xấu người còn bị xem thường như trong chuyện vợ xấu Vũ Trọng Phụng đã miêu tả thật mỉa mai như sau: Chị Doãn là một người đàn bà, có cái nhan sắc của một người đàn ông không đẹp trai…”. Đàn bà mà có nhan sắc của đàn ông thôi cũng đủ là thiệt thòi quá rồi, lại thêm “người đàn ông không đẹp trai” thế thì coi như tiêu tùng về phần nhan sắc luôn rồi.

Vì cái đẹp thể xác được ưa chuộng nên chúng ta thấy ngày nay người ta chỉ chú trọng làm đẹp thể xác mà quên đi điều quan trọng là cần có một tâm hồn đẹp. Họ mặc áo lụa là, gấm vóc, sang trọng nhưng tâm hồn thì nhếch nhác bởi biết bao tội lỗi chồng chất. Họ chú trọng rửa tay chân mà quên rửa sạch tâm hồn. Cái nết không được dạy dỗ, uốn nắn nên ngày nay chúng ta thấy xã hội đầy những con người xấu và gương xấu tràn lan.

 Lời kêu gọi sửa lại cách sống dường như cũng đang vang lại cho nhân thế hôm nay. Gioanmời gọi mọi thành phần dân Do thái hãy làm đẹp phẩm chất của mình để đón tiếp Đấng Messia. Đối với đám đông dân chúng hãy biết sống chia sẻ với nhau. Hãy sống đùm bọc nhau trong tình bác ái chân thành qua việc chia sẻ cơm ăn, áo mặc. Đối với người thu thuế và người giầu có hãy sống công bình bác ái. Đừng cho vay nặng lãi. Hãy sống bằng một trái tim nhân ái biết xót thương kẻ bần cùng lầm than. Đối với binh lính, Gioan đề nghị hãy biết thương dân, đừng hà hiếp bóc lột, đừng sống theo kiểu tham quan vô nại, hãy sống theo chức vụ của mình là để bảo vệ và gìn giữ sự an ninh cho dân làng.

Nghe lời Gioan ai nấy đều muốn thay đổi lối sống cho đẹp lòng Đấng Messia. Từng đoàn người đến sông Giordan. Trong đó có đủ mọi thành phần già trẻ, lớn bé. Quyền qúy cao sang và đói khổ bần hàn. Tất cả đều cúi mình sám hối. Tất cả đều muốn thay đổi lối sống. Sửa lại những quanh co gian trá của lòng người. Lấp đầy những hố sâu của ngăn cách bằng tình yêu chân thành. Và san bằng núi đồi kiêu căng bằng đời sống hoà hợp mến yêu. Một bầu khí thật vui tươi và an bình trải rộng khắp giòng sông Giordan. Một niềm hy vọng cho một thế giới không còn bất công, không còn hận thù chỉ còn có sự chia sẻ, cảm thông trong yêu thương chân thành. Một bầu khí hứa hẹn những ngày tháng thanh bình như lời tiên tri Isaia đã nói: “sói nằm chung với chiên con. Trẻ con thò tay vào hang rắn độc. Người ta sẽ lấy lưỡi gươm mà rèn nên lưỡi cầy và nhân loại sẽ cùng nhau hát vang tiếng hát hoà bình”.

Hôm nay, Giáo hội cũng gợi lại hình ảnh đó để nhắc nhở con người thời nay. Chúa đã đến với chúng ta hôm nay qua tha nhân, qua các bí tích. Chúa sẽ đến với chúng ta trong ngày cuối cùng của đời người dương gian, và Chúa sẽ đến trong uy nghi vinh hiển trong ngày quang lâm. Vậy có ai đó đã tự hỏi lòng mình: tôi phải làm gì để đón tiếp Chúa? Nếu chúng ta tin rằng Chúa đã giáng sinh và đang ở cùng  chúng ta, liệu rằng chúng ta có gì để dâng cho Chúa? Có lẽ Chúa không cần chúng ta xây nhà nguy nga lộng lẫy cho Chúa. Chúa cũng không cần chúng ta trải thảm lót đường cho Chúa. Chúa chỉ cần chúng ta dâng cho Chúa tấm lòng thanh sạch không vương vấn tội nhơ. Một con tim tràn đầy tình yêu thương đồng loại. Một tấm lòng muốn sửa đổi, muốn thăng tiến bản thân cho tốt hơn, cho đúng với giáo huấn và lề luật của Chúa.

Xin cho chúng ta cũng biết sửa đổi tính hư nết xấu để trở thành người đẹp trước mặt Chúa và tha nhân. Chúng ta cũng cầu nguyện một cách đặc biệt cho các bạn trẻ đang lầm đường lạc lối, đang nghiện ngập được ơn hoán cải, cho những người cha đang say xưa rượu chè, cờ bạcbiết sống có trách nhiệm với gia đình, và cho  những người tham lam cho vay nặng lãi, những người có chức có quyền đang hà hiếp kẻ yếu hèn biết sống lòng xót thương. Xin cho họ được ơn hoán cải để họ luôn là người đẹp trước mặt anh em. Amen

Về mục lục

.

CHÚA LÊN TIẾNG

Bông hồng nhỏ

Cuộc đời luôn có những thăng trầm thử thách. Chính những thử thách sẽ làm cho cuộc đời ta thêm ý nghĩa, qua thử thách ta được trưởng thành hơn. Cũng giống như bao vị ngôn sứ khác, ông Gioan Tẩy Giả cũng gặp thử thách khi bị bách hại. Sau một thời gian miệt mài rao giảng kêu gọi người ta sám hối để đón chờ Đấng Mêsia, ông bị tống ngục vì đã dám lên tiếng phản đối trước hành động sai trái của vua Hêrôđê. Ngồi trong ngục thất, ông Gioan chờ đợi câu trả lời của Đức Kitô.

Thánh Mátthêu thuật lại: “Đang ngồi tù, ông Gioan nghe biết những việc Đức Kitô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người: “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” Cảnh tù đày đã khiến cho ông thực sự gặp thử thách, ông rơi vào hoang mang. Đức Kitô là Đấng mà ông đã từng làm chứng: “Tôi đã thấy, nên xin chứng thật rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” (Ga 1,34), chính ông cũng đã giới thiệu về Đức Giêsu: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian” (Ga 1, 29).  Phải chăng, Đức Kitô thật sự đã quên vị Tiền hô của mình?

Khi gặp thử thách, vị ngôn sứ của Chúa vẫn luôn lắng tai nghe thánh ý Thiên Chúa dành cho mình. Ông Gioan đã dành cả cuộc đời để vâng theo thánh ý của Thiên Chúa và ông đã đón nhận cái chết trong cảnh tù đày. Sứ mạng của ông đã hoàn tất. Chúa Giêsu đã hết lời khen ngợi vị ngôn sứ của mình và làm chứng cho ông: Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả” (Mt 11,11). Theo Chúa, ta cũng sẽ gặp những thử thách vì chính Chúa Giêsu đã hứa: “Thầy bảo thật anh em: Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau” ( Mc 10,29-30).Ta có tin rằng chính Chúa sẽ lên tiếng bênh vực ta trong lúc ta bị bách hại không? Hãy cảm nếm sự hiện diện của Chúa trong từng chi tiết nhỏ của cuộc sống và để Ngài lấp đầy tâm hồn ta. Chúa vẫn lên tiếng trả lời ta, điều quan trọng là ta phải biết lắng nghe và khao khát nghe Lời Chúa.

Lạy Chúa Giêsu! Cảm tạ Chúa đã lên tiếng bênh vực con trong những lúc con gặp bước ngặt nghèo. Lời Chúa vẫn làm vang vọng lên trong tâm hồn con niềm tin và hy vọng, chiếu sáng cho con nhìn thấy con đường phải bước tới. Xin Chúa biến đổi tâm hồn con và nâng đỡ con những khi con vì Chúa và vì Tin Mừng mà gặp thử thách. Lạy Chúa Giêsu xin ngự đến! Amen.

Về mục lục

.

NIỀM VUI TRONG TÂM HỒN

Anna Cỏ may

 Niềm vui và sự bình an là đặc điểm biểu lộ sự hiện diện của Thiên Chúa trong một cộng đoàn và nơi một người môn đệ của Đức Giêsu.

 Sau những ngày rao giảng, kêu gọi người ta sám hối, ông Gioan Tẩy Giả đã hoàn thành sứ mạng và kết thúc cuộc đời trong nhà tù. Thân xác ông ở trong nhà tù nhưng tâm hồn ông hướng về Đấng mà ông đã rao giảng. Ông sai môn đệ của mình đến hỏi Đức Giêsu rằng: “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” Đức Giêsu trả lời: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què bước đi, người cùi được sạch, kẻ điếc nghe được, người chết trỗi dậy, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11,2-5). Câu trả lời của Đức Giêsu đã củng cố niềm tin cho ông Gioan khi ông đang gặp thử thách và mang lại cho ông niềm vui thuở ban đầu khi ông tuyên xưng niềm tin: “Tôi đã thấy, nên xin chứng thật rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” (Ga 1,34).

 “Thầy nói cho anh em biết: phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Con Người cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa” (Lc 12,8). Giờ đây, Đức Giêsu công nhận ông Gioan trước mặt anh em: “Trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả” (Mt 11,11a). Là người Kitô hữu, là môn đệ Đức Giêsu, sao chúng ta không thể vui lên với những điều Chúa đã, đang và sẽ làm cho chúng ta. Nhà nhà vang lên tiếng hát mừng Chúa đến, khắp phố phường xuất hiện những hang đá nhỏ với ánh đèn nhấp nháy và người người cùng háo hức rộn ràng đón Chúa Giáng Sinh. Đó là niềm vui chung, niềm vui ở bên ngoài. Còn niềm vui bên trong tâm hồn của mỗi người thì sao? Chúng ta đã chuẩn bị tâm hồn mình thế nào? Tôi có thật vui với niềm vui của tôi không? Thánh Phaolô đã nói: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi, Chúa đã gần bên” (Pl 4,4). Niềm vui sâu xa nhất của người Kitô hữu không phải vì lợi lộc hay vì được chiếm hữu của cải vật chất mà niềm vui vì được Thiên Chúa đến hiện diện với con người. Vậy chúng ta hãy mở tâm hồn ra để Chúa ngự đến, để niềm vui và bình an chiếm trọn con người chúng ta trong từng ngày sống.

 Lạy Chúa, Ngài là Đấng luôn đem lại niềm vui và bình an cho chúng con. Xin cho chúng con biết cảm nghiệm được hồng ân Chúa ban mà tiếp tục quay trở về trong tình yêu Chúa. Amen.

Về mục lục

.

NIỀM VUI ƠN CỨU ĐỘ

Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Is 35:1-6a, 10;  Gc 5:7-10;  Mt 11:2-11)

          Chắc chúng ta còn nhớ cách đây không lâu một nhóm hướng đạo sinh bị kẹt trong một khu hầm mỏ tại Thái-lan, sau nhiều ngày, các em đã được cứu thoát.  Ai cũng cảm thấy vui, chuyên viên thợ lặn phải chui qua đoạn đường hầm ngoắt ngoéo bị ngập nước để đem từng em ra ngoài và gia đình các em cùng dân chúng chờ đợi bên ngoài.  Mỗi lần đưa được một em ra ngoài, mọi người hoan hô biểu lộ niềm vui. Cứu thoát và niềm vui gắn liền với nhau.  Cũng vậy, Thiên Chúa, Đấng phác họa kế hoạch cứu độ chúng ta, kêu gọi ta hãy vui lên vì Người sẽ cứu ta thoát khỏi tội lỗi và sự chết.  Đây cũng là lý do tại sao chúng ta có một Chúa Nhật dành riêng để suy niệm về niềm vui trong mùa Vọng.  Bài trích sách I-sai-a trình bày lý do tại sao ta phải vui lên;  thánh Gia-cô-bê thì kêu gọi chúng ta hãy kiên nhẫn cho tới ngày Chúa đến;  riêng thánh Gio-an lại muốn tìm hiểu xem có phải đích thực Chúa Giê-su là Đấng đem lại niềm vui cứu độ cho mọi người hay không.

          Trước hết ta hãy nghe ngôn sứ I-sai-a loan báo những điều Thiên Chúa sẽ làm cho đất nước Ít-ra-en khi Người đến.  Đất nước ngôn sứ nói đến ở đây như thế nào?  Đó là sa mạc, đồng khô cỏ cháy và đất hoang.  Tóm lại đất nước này không có sự sống.  Vậy mà khi Thiên Chúa đến, Người sẽ biến đổi mọi sự, từ khô cằn trở thành phì nhiêu, đồng khô cỏ cháy thành vùng đất trổ bông, sa mạc cát đá được đầy tràn “ánh huy hoàng của núi Li-băng, vẻ rực rỡ của núi Các-men và đồng bằng Sa-ron”.  Đấy là sự thay đổi cảnh quan.  Tiếp đến là sự biến đổi thân phận con người.  Khi Chúa đến, Người làm cho “những bàn tay rã rời nên mạnh mẽ, những đầu gối bủn rủn được vững vàng” và “những kẻ nhát gan” được can đảm.  Tuy nhiên những hình ảnh này vẫn chưa nói hết được niềm vui khi Thiên Chúa đến cứu độ.  Ngôn sứ I-sai-a còn cho thấy những hình ảnh sống động hơn thế nữa để diễn tả niềm vui cứu độ, như “mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được, kẻ què nhảy nhót như nai, lưỡi người câm sẽ reo hò”.  Chúng ta thử tưởng tượng quang cảnh vừa kể mà xem:  những kẻ khuyết tật này sẽ vui sướng biết chừng nào khi họ được chữa lành!  Tất cả những điều ngôn sứ kể trên chỉ là để so sánh với niềm vui tột đỉnh của dân Chúa được cứu thoát khỏi cuộc lưu đày.  Ngôn sứ muốn ám chỉ niềm vui của dân Ít-ra-en là niềm vui của những người bị lưu đày làm nô lệ cho tội lỗi đã được Đấng Cứu Độ đến giải phóng cho họ.  Quả thực ngôn sứ I-sai-a tiên báo Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa, sắp giáng trần để chuộc tội nhân loại, đem niềm vui đến và đưa họ về với Thiên Chúa.

          Tuy nhiên khi Chúa Giê-su đến để đem niềm vui cứu độ cho trần gian thì chẳng mấy ai quan tâm, mặc dù Người đã bắt đầu thi hành sứ mệnh và thực hiện những điều ngôn sứ I-sai-a báo trước.  Đặc biệt có một người rất quan tâm, đó là ông Gio-an.  Tuy Gio-an “đang ngồi tù” nhưng nghe nói những việc Chúa Giê-su làm, ông đã nhận biết Người là ai.  Ông không muốn giữ cái biết một mình, nên mới sai môn đệ đến để họ được mắt thấy tai nghe về con người và sứ mệnh của Chúa.  Chắc chắn sau khi thuật lại cho thầy mình “những điều mắt thấy tai nghe” về Chúa Giê-su, các môn đệ ông Gio-an được ông nói cho biết Chúa Giê-su chính là “Con Chiên Thiên Chúa, Đấng cứu độ trần gian”.  Đúng vậy, ông Gio-an đã thi hành nhiệm vụ làm sứ giả cho Đấng Cứu Độ.  Khi còn được tự do, bên bờ sông Gio-đan ông rao giảng kêu gọi người ta sám hối, thay đổi lối sống;  ông làm phép rửa cho họ như dấu chỉ họ cam kết sẽ thực hành những điều ông giảng dạy.  Nhưng ngay khi ông đang bị cầm tù, ông vẫn tiếp tục làm sứ giả cho Chúa, vì ông đã giúp cho các môn đệ ông nhận ra Chúa Giê-su là Đấng Cứu Độ.  Như thế, khi ông làm sứ giả cho Chúa Giê-su, Đấng thiết lập Nước Trời, thì ông đã là người đầu tiên thuộc về Nước ấy rồi!  Chúa Giê-su khéo léo khen ngợi sự cao trọng của ông Gio-an.  Người bảo:  Ông Gio-an cao trọng như vậy, “tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông”.  Đây là cách nói khéo của Chúa Giê-su đấy!  Chúa nói vậy mà không phải vậy đâu, vì chính ông Gio-an là người đầu tiên trong Nước Trời, tức là người “lớn nhất”, thì ai ai cũng phải là người “nhỏ nhất” so với ông trong Nước Trời!

Sống sứ điệp Lời Chúa

          Niềm vui của dân Ít-ra-en khi được giải phóng khỏi kiếp lưu đày và niềm vui của những người được Chúa Ki-tô cứu độ đã được trình bày qua bài đọc 1 và bài Tin Mừng.  Nhưng để đợi chờ niềm vui ấy, chúng ta phải làm gì?  Có câu trả lời đây!  Thánh Gia-cô-bê Tông đồ dạy rằng:  “Thưa anh em, xin anh em cứ kiên nhẫn cho tới ngày Chúa quang lâm”.  Để giúp ta hiểu phải kiên nhẫn như thế nào, thánh tông đồ đã dùng hình ảnh thực tế bác nông phu “phải đợi cả mưa đầu mùa lẫn cuối mùa” để giúp cho đất “trổ sinh hoa màu quý giá”.  Dĩ nhiên mưa là yếu tố quan trọng, nhưng cần có sự canh tác của bác nông phu nữa chứ!  Bác làm công việc của bác, còn trời thì cho mưa xuống.  Bác làm trong khi vẫn mong đợi trời mưa.  Chắc chắn bác sẽ vui trong niềm mong đợi và vui khi gặt hái hoa màu.  Chúng ta cũng vậy.  Mong đợi Chúa đem niềm vui sự sống vĩnh cửu đến cho chúng ta, nhưng ta vẫn phải làm tròn những trách nhiệm và bổn phận của mình đối với Chúa, với gia đình, xã hội, cộng đoàn… hằng ngày và hết mọi ngày trong cuộc sống.

Về mục lục

.

THIÊN CHÚA Ở ĐÂU KHI TÔI ĐAU KHỔ

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Vụ khủng bố đẫm máu nhất lịch sử nước Mỹ tại toà tháp đôi Trung Tâm thương mại Thế giới New York ngày 11/09/2001 đã làm 2.996 người bị chết, hơn 6.000 người khác bị thương, ngoài ra còn gây thiệt hại về tài sản và cơ sở hạ tầng ít nhất 10 tỉ đôla và gây tổn thất tổng cộng 3 nghìn tỷ đôla.

Sau biến cố 11 tháng 9 năm 2001 tại Mỹ, con gái của một vị Mục sư giảng thuyết nổi tiếng được mời trả lời phỏng vấn trên truyền hình và người hướng dẫn chương trình đã hỏi cô ta như sau: “Tại sao Thiên Chúa lại có thể để xảy ra một thảm họa khủng khiếp như vậy?”  Cô gái đã trả lời: “Tôi nghĩ là Thiên Chúa rất buồn vì điều đó, ít nhất là Ngài cũng buồn bằng chúng ta. Từ bao năm nay, chúng ta đã yêu cầu Ngài ra khỏi trường học, khỏi chính phủ và khỏi đời sống của chúng ta. Ngài là người ‘quân tử’ nên đã lẳng lặng rút lui.”

Làm sao chúng ta có thể mong Chúa ban ơn lành và che chở chúng ta khi chúng ta đã khẩn thiết xin Ngài để mặc chúng ta một mình? Về những biến cố xảy ra như tấn công khủng bố, bắn giết trong trường học, chiến tranh…, tôi nghĩ rằng mọi sự đã bắt đầu với quyết định của chúng ta đã không còn đọc kinh trong gia đình nữa. Một người khác lại có ý kiến là chúng ta không nên đọc Kinh Thánh nơi trường học, trong khi đó Kinh Thánh dạy chúng ta: ‘Chớ giết người, chớ trộm cắp, yêu thương tha nhân như chính bản thân mình, v.v…’, và chúng ta cũng đã đồng ý loại bỏ Kinh Thánh!

Điều Kì Lạ… là con người có thể vứt bỏ Thiên Chúa một cách dễ dàng, rồi sau đó lại tự hỏi Thiên Chúa ở đâu khi chúng ta đau khổ?

Thưa quý OBACE, những khi gặp khó khăn hay đau khổ, chúng ta thường đặt câu hỏi oán trách: Thiên Chúa ở đâu trong lúc tôi đau khổ, mà quên rằng chính chúng ta đã yêu cầu Chúa rời khỏi tâm hồn và cuộc sống của ta. Ngày xưa dân Do thái cũng vậy, họ dễ dàng từ bỏ Thiên Chúa và lề luật của Ngài để chạy theo lối sống của dân ngoại, bỏ rơi Thiên Chúa và quay lưng lại với Ngài. Thiên Chúa cũng đã tôn trọng tự do của họ. Nhưng lịch sử cho thấy, mỗi khi dân Do Thái loại trừ Thiên Chúa ra khỏi đời sống, thì cũng là lúc họ rơi vào tối tăm cùng cực. Bài đọc một hôm nay kể về một giai đoan lịch sử tăm tối của dân Israel: Lúc đó thay vì cậy dựa vào Thiên Chúa, thì Israel đã liên minh quân sự với các nước lân bang, nhưng họ cũng không tồn tại trước sự tấn công của người Babylon. Cả một dân tộc bị bắt đi lưu đày, làm thân trâu ngựa cho người Babylon hơn năm mươi năm.

Khi bị hành hạ, sống nhục nhã như vậy họ tự đặt câu hỏi: Thiên Chúa của Israel ở đâu? Tại sao Ngài lại để cho một dân tộc Ngài đã chọn làm dân riêng phải cực khổ thế này? Thiên Chúa có còn thương Israel như thủa xưa nữa không? Trước sự đau khổ, những dằn vặt và thất vọng chán chường như thế, Thiên Chúa đã dùng tiên tri Isaia để khôi phục lại niềm tin, niềm hy vọng cho Israel. Thiên Chúa muốn cho họ hiểu rằng Ngài vẫn ở bên họ để an ủi, bảo vệ và để giải thoát họ, chỉ có điều là họ có đồng ý mời Chúa trở lại hay không. Bằng những lời lẽ vui tươi và tràn đầy hy vọng, tiên tri Isaia đã nói với họ rằng: “Vui lên đi hỡi sa mạc và đồng cỏ khô cháy vì Thiên Chúa sẽ làm cho ngươi trổ hoa như bông huệ; Thiên Chúa sẽ tặng ban cho ngươi ánh sáng huy hoàng của núi Libăng, muôn dân sẽ nhìn thấy ánh sáng huy hoàng của Thiên Chúa… Thiên Chúa sẽ làm cho thân xác và tâm hồn các ngươi trở nên mạnh mẽ không còn sợ hãi. Hãy nói với những kẻ nhát gan sợ hãi: can đảm lên, đừng sợ! Thiên Chúa của anh em đây rồi…Chính Người sẽ đến cứu thoát anh em.” Những lời hứa hân hoan phấn khởi như thế, đã tạo nên một sức mạnh mới, một hy vọng mới cho Israel trong lúc tối tăm cùng cực, giúp Israel tin rằng, cho dù họ có lìa bỏ Thiên Chúa thì Thiên Chúa vẫn không từ bỏ họ, Ngài vẫn ở bên họ.

Không chỉ dân Do Thái mà như Gioan Tiền Hô trong lúc đau khổ tù đầy, cũng cảm thấy dường như Thiên Chúa vẫn ẩn mặt xa mình. Câu chuyện Tin Mừng thuật lại: “Lúc đó Gioan đang ngồi tù, ông sai các môn đệ đến hỏi Đức Giêsu: Thầy có phải là Đấng phải đến hay chúng tôi còn phải đợi một đấng nào khác?” Sự kiện này cho thấy Gioan, cả một cuộc đời loan báo về đấng cứu thế, từng trình bày cho mọi người về một đấng cứu thế như một vị quan toà nghiêm khắc, thẳng tay trừng trị mọi kẻ sai lỗi: “cái rìu đã kề sẵn gốc cây, cây nào không sinh trái sẽ bị Ngài chặt đi hoặc các ngươi đừng hòng trốn chạy cơn thịnh nộ của Thiên Chúa.” Nhưng thực tế Đấng Cứu Thế mà ông giới thiệu: “Đây chính là Chiên Thiên Chúa” lại không hành động như ông loan báo. Ngài nhân từ với kẻ có tội, Ngài tha thứ cho kẻ biết sám hối ăn năn, Ngài kiên nhẫn đợi chờ con người sinh hoa kết trái, Ngài không chặt không chém.

Gioan đã bị dằn vặn bởi điều này và sai các môn đệ đến hỏi Đức Giêsu: “Ngài có phải là Đấng phải đến không hay chúng tôi còn phải đợi một đấng nào khác?” Chúa Giêsu đã dùng những lời tiên báo của Isaia để trả lời cho các môn đệ Gioan: “Các anh về thuật lại cho Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què đi được, người cùi được khỏi, người chết sống lại và người nghèo được nghe Tin Mừng và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.” Khi trả lời như thế, Chúa Giêsu đã gián tiếp xác nhận với Gioan rằng Ngài chính là Đấng Cứu Thế mà các tiên tri đã loan báo. Ngài đến không phải để phá hủy, nhưng để xây dựng; không phải để phân tán, nhưng để quy tụ; không phải để trừng phạt, nhưng tha thứ và đổi mới; Ngài không ở xa hay ở bên ngoài, nhưng ở ngay bên để yêu thương và chữa lành các tâm hồn. Đức Giêsu cũng muốn Gioan thay đổi cách nhìn về Ngài, Ngài không phải một vị thần hung dữ nóng nảy, nhưng là một Thiên Chúa nhẫn nại và yêu thương, nên Ngài đã nói: “phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.”

Thưa quý OBACE, nhiều Kitô hữu ngày nay vẫn mang cái nhìn như người Do Thái cho rằng: Thiên Chúa đã vắng mặt khi con người đau khổ, hoặc như Gioan Tiền Hô nhìn Thiên Chúa như một thẩm phán nghiêm khắc. Có những người nóng vội, muốn Thiên Chúa phải ra tay ngay lập tức trừng phạt kẻ ác và đáp ứng ngay mỗi khi con người cầu xin. Họ muốn Thiên Chúa phải chấp nhận giải pháp của mình thay vì ép mình phải đón nhận giải pháp của Thiên Chúa.

Mỗi khi có các biến cố hoặc gặp đau khổ, nhiều người đã không còn nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong các biến cố xảy ra vì họ đã mời Thiên Chúa ra khỏi nhà mình để đón thần tài, ông địa và tà ma vào gia đình. Họ muốn tự giải quyết tất cả hoặc dùng tiền bạc, công việc của mình để thay thế Thiên Chúa. Nhiều cha mẹ đã để gia đình mình trở nên trống rỗng hoặc đầy ắp các công việc và lo toan khác, mà không còn chỗ, không còn giờ cho Thiên Chúa trong đời sống gia đình. Cũng vậy, nhiều bạn trẻ nghĩ rằng khoa học và công nghệ sẽ thay thế Thiên Chúa, vì vậy họ tôn thờ khoa học và mời Chúa ra khỏi cuộc đời mình. Họ để cho sự cao ngạo, lười biếng và những thú vui làm chủ cuộc đời mình thay chỗ của Thiên Chúa.

Lời Chúa hôm nay là một lời nhắc cho chúng ta nhớ rằng: Thiên Chúa vẫn hiện diện bên cạnh chúng ta, trong từng biến cố vui buồn xảy ra của cá nhân và gia đình, xã hội. Ngài chờ chúng ta ngỏ lời với Ngài, xin Ngài trợ giúp, can thiệp và chừa cho Ngài một chỗ trong tâm hồn và gia đình, để Ngài có thể hiện diện, trợ giúp và bênh đỡ chúng ta. Thánh Giacôbê trong bài đọc hai còn khuyên chúng ta đừng để mình mất kiên nhẫn hoặc rơi vào chán nản thất vọng, đừng phàn nàn kêu trách, vì Thiên Chúa là Vị Thẩm Phán khoan dung nhân từ đang đứng ngoài cửa, đang chờ chúng ta mở cửa cho Ngài.

Xin cho niềm vui chờ đón ngày đại lễ Chúa Giáng Sinh không dừng lại ở việc trang trí bên ngoài, nhưng là niềm vui sâu thẳm trong tâm hồn vì mỗi người nhận ra sự hiện diện của Chúa, nghe được tiếng Chúa và mở cửa cho Chúa, mời Chúa bước vào tâm hồn cũng như gia đình mình. Chúa sẽ là thượng khách đem lại bình an và niềm vui cho tâm hồn. Amen.

Về mục lục

.

MONG ĐỢI

Lm Vũđình Tường

Thánh Gioan Tiền Hô đi trước Đấng Cứu Thế, rao giảng chuẩn bị tâm trí mọi người đón nhận Đấng Cứu Thế khi Ngài đến. Gioan rao giảng

‘Hãy thống hối, vì nước trời đã đến gần’ Mat 3,1.

Gioan kêu gọi mọi người thống hối, nhận phép rửa từ ông như là dấu chỉ của thống hối, ăn năn, trở về con đường công chính. Gioan tin tưởng Đấng Cứu Thế sắp đến và khi Ngài đến, Ngài sẽ đến với oai phong, dũng mạnh và quyền lực. Nhắc lại bài đọc tuần trước, Gioan rao giảng

‘Cái rìu đã đặt sát gốc cây, cây nào không sanh quả tốt đều bị chặt, quăng vào lửa… tay Người cầm nia, Người sẽ rê sạch lúa… thóc lép bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt. Mat 3,11.

Vua Hêrôđê bắt giam Gioan vào ngục tối vì ông can đảm ngăn cản vua cưới chị dâu, bà Herodias là vợ của anh trai. Mat 14,1-12. Lí do khác có lẽ do tiếng vang của Gioan. Hêrôđê sống trong lo sợ, ngày nào đó ngai vàng của ông sụp đổ vì theo ông, đám đông tin theo, đặt kì vọng vào Gioan, và họ sẵn sàng làm bất cứ điều gì Gioan kêu gọi, ngay cả việc nổi loạn chống lại nhà vua. Hêrôđê sợ đám đông và cũng sợ mất ngai vàng.

Gioan tin là khi Đấng Cứu Thế đến Ngài sẽ sửa phạt những tâm hồn cứng đầu, bởi lòng dạ họ ra chai đá, không chịu thống hối, đón nhận tin mừng. Trong ngục thất, Gioan nghe tiếng đồn thổi về Đức Jesu. Ngài đến không mang sửa phạt, mang lửa thiêu đốt, trái lại Ngài đến để tha thứ, chữa lành và chung bàn ăn với phường gian ác, kẻ tội lỗi. Điều này nằm ngoài mong đợi của Gioan, vì thế ông thắc mắc và sai môn đệ của mình đến gặp Đức Kitô hỏi cho rõ lẽ xem, Ngài là Đấng Cứu thế hay ông còn phải đợi Đấng khác. Trả lời môn đệ Gioan, Đức Kitô không xác nhận, cũng không từ chối. Ngài nói với họ, về thuật lại cho Gioan biết những gì các ông nghe và thấy:

Người mù xem thấy, kẻ què đi được, phong hủi được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết sống lại, kẻ nghèo được Tin Mừng Lc 11,5.

Đức Kitô đến rao giảng tình yêu vô biên của Thiên Chúa, lòng Chúa xót thương vô bờ. Đấng rộng lượng, từ bi . Ơn gọi của Đức Kitô là tái tạo trật tự vũ trụ do tội lỗi gây ra, và lấy lại sự sống trường sinh cho nhân loại. Lí do khác khiến Gioan bất an bởi ông bị cầm tù, lo lắng không làm tròn nhiệm vụ rao giảng mở đường cho Đấng Cứu Thế. Đại đa số trong chúng ta, cuộc sống khổ sở ngục tù, thiếu ăn, thiếu ngủ, bệnh tật hành hạ, ghẻ lở, đe doạ, đánh đập, ảnh hưởng đến tâm trí họ, phán đoán bị lung lạc. Gioan có lẽ không qua tâm nhiều đến an toàn bản thân. Ngài không sợ chết rũ tù, nhưng sợ không hoàn thành trách nhiệm rao giảng và đó là mối quan tâm hàng đầu của ông. Sai môn đệ đến gặp Đức Kitô với hy vọng làm sáng tỏ vấn đề ông đang quan tâm. Một khi Gioan chắc chắn, Đấng Cứu Thế đã đến, ông cũng biết và an tâm mình đã hoàn thành sứ mạng và ngày ra đi gần kề. Sau khi môn đệ Gioan đi khỏi, Đức Kitô ca ngợi Gioan trước đám đông. Gioan, một thân, một mình, không quân đội, không giữ chức vụ nào trong chính quyền, thế mà nhà vua lo lắng, sợ sệt. Một người có đám đông ủng hộ, tiếng tăm vang lừng, dẫu thế Đức Kitô nói với mọi người, người nhỏ nhất trong nước trời còn cao trọng hơn những gì Gioan nhận được từ trần thế. Những ai chân thành đón nhận Đấng Cứu Thế vào trong cõi lòng sẽ nhận được vinh quang nước trời. Đó là phần thưởng dành cho những tâm hồn tín trung.

Về mục lục

.

ĐÊM TỐI CỦA ĐỨC TIN ẤY LÀ KIẾP NGƯỜI

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Dữ kiện “đêm tối đức tin” có lẽ là chuyện thường tình trong cuộc đời của nhiều vị thánh như thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, Têrêxa Avila hay thánh Gioan Thánh Giá và gần đây thông tin cho hay rằng nó hiện diện cả trong cuộc đời của mẹ Têrêxa Calcutta. Và dù rằng được chúc phúc vì đã tin nhưng ngay cả Mẹ Maria cũng không tránh được những thời điểm hay giai đoạn phải lần bước trong đêm tối.

Bài trích Tin Mừng theo thánh Matthêu của Chúa Nhật III mùa Vọng năm A mà Hội Thánh giới thiệu cho chúng ta một cách nào đó nói đến đêm tối đức tin của thánh Gioan Tẩy giả. Ý thức mình được kêu gọi làm tiếng hô trong sa mạc để dọn đường cho Đấng Cứu Thế, Gioan Tẩy Giả nhiệt thành, hăng say mời gọi mọi người, mọi thành phần dân Chúa xưa sám hối ăn năn. Dân chúng tuôn đến với Ngài trên bờ sông Giođan nhiều khôn xiết. Dân nghèo hay người thất học có đó. Kẻ giàu sang hay người quyền quý cũng không thiếu. Người thu thuế hay binh lính vẫn có mặt. Thậm chí đến các vị đang được xem là đạo đức như người biệt phái hay các vị tinh thông lời Chúa như các luật sĩ vẫn hiện diện. Tất cả dường như nghe theo lời khuyên bảo của Gioan, cho dù Ngài thỉnh thoảng nói với họ những lời chói tai, khó nghe.

Mình chỉ là người dọn đường, người tiền hô cho Đấng Cứu Thế. Và kìa, Đấng Cứu Thế, Con Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian đã đến. Đã như xong phận vụ, giờ thì cần Người phải lớn lên còn mình thì phải nhỏ lại (x.Ga 3,30). Người mà lớn lên thì triều đại nước Thiên Chúa sẽ hiển trị. Và chắc chắn nhiều sự sẽ có đổi thay, dĩ nhiên là theo hướng tốt đẹp, đặc biệt những gì Ngôn Sứ Isaia loan bào sẽ trở thành hiện thực. Mình đã thấy Thần Khí Thiên Chúa ngự xuống trên Người. Chắc chắn Người sẽ “loan báo tin mừng cho người nghèo khó, băng bó những tâm hồn đau thương, giập nát, giải thoát những kẻ bị giam cầm…” (x.Is 61,1-2). Thế mà cớ sao mình vẫn mãi chịu cảnh chôn chân trong bốn bức tường ngục tù? Không lẽ Đấng Cứu Thế lại thua một bạo vương Hêrôđê? Ngài có phải là Đấng phải đến chăng, hay mình còn phải đợi Đấng nào khác? Không được gặp trực tiếp với Người thì mình đành nhờ các môn đệ gửi lời nhắn hỏi.

Tuy nhiên, theo nhiều nhà chú giải Thánh Kinh hiện nay, chính Gioan cũng đã phải trải qua sa mạc đức tin. Quả vậy, nhiều khi vì quá lo bảo vệ sự tinh tuyền của đức tin của Gioan Tẩy giả nên nhiều nhà tu đức đã từng cắt nghĩa rằng thánh nhân tận dụng dịp thuận tiện để củng cố đức tin cho các môn đồ. Không thể tiên thiên loại trừ giả thiết này. Tuy nhiên nhiều khi vì qua lo chuyện bao đồng mà ta vô tình hay hữu ý lãng quên một hiện thực của kiếp người. Đang còn lữ thứ trần gian thì chúng ta mãi vẫn còn thấy cách “lờ mờ” về các thực tại. Và đêm tối đức tin là một sự thật luôn tồn tại với kiếp người trần gian lữ thứ.

Vào trần gian, mang lấy kiếp người Đức Kitô cũng không là ngoại lệ cho dù Người là Con Chiên tinh tuyền, vẹn sạch. Cơn xao xuyến bồi hồi của Chúa Giêsu là rất thật. Máu của Người đã rỉ ra theo các tuyến mồ hôi không phải là kiểu nói phóng đại. “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”(Mc 15,34). Những lời than thở của Người trên cây thập giá, phút giây hấp hối minh chứng cho ta sự thật này: Dù là Con Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô vẫn phải trải qua nhiều thử thách. Dù luôn tín thác vào Cha nhưng Người cũng đã trải qua những đau khổ, một cách nào đó giống như những cuộc thử thách đức tin mà chúng ta phải chịu.

Trong số các Tông đồ thì dường như thánh tông đồ dân ngoại là người chịu thử thách lớn lao hơn cả. Hăng say, nhiệt tình loan báo tin mừng thế mà số phận của Ngài thật lắm truân chuyên: “năm lần bị người Do thái đánh bốn mươi roi bớt một; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh trên biển khơi.” (2Cr 11,24-25). Ngục tù là nơi thường đón đợi thánh nhân. Những khó khăn bên ngoài do hoàn cảnh, do tha nhân mà Ngài phải chịu thì đã đành, thế mà ngay cả cái dằm trong thân xác của Ngài cũng chẳng để Ngài yên. Thánh Phaolô cảm nghiệm rằng Chúa không để ta chịu thử thách quá sức đâu. Ơn Người luôn đủ cho ta. Và ai bền đổ đến cùng, người ấy sẽ được cứu độ.

Hãy bền chí trong gian truân và kiên nhẫn trong đêm tối, rồi Chúa sẽ đến cứu thoát chúng ta. Đây là những lời động viên của thánh Giacôbê tông đồ, qua bài đọc thứ hai (x.Gc 5,7-10), đã nói với đoàn tín hữu thời sơ khai cũng như với chúng ta mọi thời.

Tuy nhiên, Thiên Chúa lại muốn bày tỏ sự hiện diện của Người qua con người, qua chính chúng ta. “Hãy làm cho mạnh mẽ những bàn tay rời rã, và hãy làm tăng sức những đầu gối mõi mòn. Phải nói cho những người nhát đảm rằng: Hãy can đảm lên, đừng sợ hãi” (Is 35, 3-4). Làm sao để nâng đỡ tinh thần những người đang chao đảo? Làm sao giúp họ thêm vững tin vào Chúa Kitô là Đấng Thiên sai mà Thánh Kinh đã loan báo? Tiên tri Isaia đã phác họa những việc làm cụ thể của đấng Thiên sai bằng những hình ảnh: “người mù sẽ thấy; người điếc sẽ được nghe và người què sẽ nhảy như nai” (Is 35,5-6).

Trước sự chao đảo của Gioan Tiền Hô, Chúa Kitô cũng đã nhắn gửi các môn đệ ông rằng: “Hãy về thuật lại cho Gioan những gì các ông nghe và thấy: người mù được thấy, người què đi được, người phong hủi được khỏi, người điếc được nghe, người chết sống lại, và tin mừng được loan báo cho kẻ nghèo khó” (Mt 11,5).

Đức Kitô đã thắng thế gian, nhưng cuộc chiến vẫn đang tiếp diễn, nghĩa là chưa chấm dứt nơi con cái loài người. Thần dữ và những kẻ đồng minh với nó vẫn đang ra sức hoạt động, hòng làm lung lay niềm tin chúng ta. Với sự công phá của thế lực đen tối, không ít Kitô hữu hôm nay như mất phương hướng. Thậm chí có người dám tuyên bố là đã đến thời kỳ hậu Kitô giáo. Thiết nghĩ không gì hơn là kiên trì thực thi những dấu chỉ của Nước Trời: Loan báo tin mừng cho người nghèo khó, băng bó những tâm hồn đau thương, làm cho người câm nói được, người què lại nhảy như nai… Chính khi ta góp phần với Chúa một tay dù là bé nhỏ để làm cho mạnh mẽ những bàn tay rời rã, làm tăng sức cho những đầu gối mõi mòn thì chúng ta lại được vững vàng và mạnh mẽ trong đức tin. Trong tình yêu, có nhiều điều như nghịch lý mà rất hiện thực, như lời thánh Phanxicô Axidi trong lời “Kinh hoà bình”. Quả thật, chính khi trao ban là lúc lãnh nhận và chắc chắn sẽ lãnh nhận gấp muôn ngàn lần.

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT 3 MÙA VỌNG

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Hôm nay là Chúa Nhật của sự vui mừng và niềm hy vọng. Niềm vui của Giáo Hội đã trải dài qua lịch sử ơn cứu độ. Giáo hội không ngừng mời gọi con cái mình hãy vui lên, vì ơn cứu độ đã gần kề. Lịch sử cứu độ nối tiếp lịch sử của dân tộc Do-Thái. Họ đã sống qua ngàn năm đợi chờ. Nay Đấng Cứu Thế xuất hiện giải thoát dân khỏi vòng tăm tối và nô lệ của tội lỗi. Tiên tri Isaia đã loan báo rằng hoang địa khô cằn sẽ vui mừng và cõi tịch liêu sẽ hân hoan.

Thánh Gioan Tẩy Giả được vinh dự làm kẻ tiền hô. Ông đã đi trước dọn đường cho Chúa. Mời gọi mọi người hãy ăn năn sám hối. Ông là nhân chứng cho sự thật. Cũng chính vì nói lên sự thật, ông đã bị tống giam trong ngục. Trong ngục tù, ông đã có linh cảm giờ chết sắp đến. Gioan ghi nhận còn có nhiều người, ngay cả các môn đệ dấu yêu, chưa tin vào Chúa Giêsu. Nhiều người còn đang hoang mang nghi ngờ. Chính Gioan đang trong tù ngục đã muốn xác minh con người và sứ mệnh của Chúa Giêsu cho các môn đệ của mình.

Chúng ta cũng như thánh Gioan, trong hành trình đức tin, cũng có lúc chúng ta nghi ngờ, đôi khi cảm thấy sợ hãi, thất vọng vì hoàn cảnh trái ngang xảy đến trong cuộc đời. Thánh Gioan không ngại sai các môn đồ đi hỏi Chúa. Chúa Giêsu rất hài lòng về sự chân thành và khiêm nhường của Gioan. Chúa đã khen Gioan là vị tiền hô khiêm tốn, liêm chính và anh dũng.
Thánh Gioan biết sự thật về Đấng Cứu Thế qua các việc Ngài đã thực hiện. Ông đã vui mừng vì đã chu toàn sứ mệnh được trao phó. Mỗi người chúng ta được trao ban sứ mệnh làm chứng cho Chúa qua cuộc sống mình. Qua từng lời ăn tiếng nói, từng cử chỉ thái độ và từng cách sống, chúng ta đang làm chứng cho Chúa. Nếu chúng ta muốn vui tươi phấn khởi trong cuộc sống, chúng ta phải vui với chính mình trước, như khi chúng ta soi gương, nếu chúng ta cười, nó sẽ cười lại.

Chúa đến với nhân loại, đó không chỉ là niềm vui riêng cho dân tộc Do-Thái mà cho mọi người. Mỗi người chúng ta hãy chuẩn bị tâm hồn đón Chúa và hãy vui mừng vì ơn cứu độ đã gần đến.

Về mục lục

.

GIOAN TẨY GIẢ ĐÃ TÌM THẤY

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Một đất nước có nhiều tệ đoan như bất công, tham nhũng, luân lý suy đồi, thất nghiệp, vật giá leo thang…tất nhiên dân chúng mất tin tưởng vào chính quyền.

Xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu cũng có nhiều tệ đoan. Quốc gia bị chính quyền La Mã đô hộ. Trong nội bộ lại có sự chia rẽ trầm trọng giữa các đảng phái chính trị và tôn giáo. Bất công, tham nhũng và vô luân lan tràn từ trên xuống dưới, nơi những nhà lãnh đạo dân sự cũng như tôn giáo. Vua Hêrôđê có đời sống loạn luân cướp vợ của em mình. Gioan Tiền Hô lên tiếng phản đối nên đã bị tống giam rồi bị chém đầu trong tù.

Người ta cảm thấy rất khó chịu khi có ai dám sửa sai, dám nói thẳng về những lỗi lầm của mình, người cầm quyền càng khó chịu hơn và thường dùng quyền lực để đàn áp. Vì thế quyền lực thường tạo nên sợ hãi và im lặng. Mục sư Martin Luther King nói: tội lỗi lớn nhất của chúng ta là im lặng trước cái ác và cái xấu, nhất là khi cái ác và cái xấu đang nắm quyền… Cuộc đời của chúng ta bắt đầu kết thúc khi chúng ta im lặng về những điều lẽ ra phải lên tiếng. Trong thế giới này, chúng ta xót xa không chỉ vì lời nói và hành động của những kẻ xấu, mà còn vì sự im lặng đáng sợ của cả những người tốt.

Gioan Tẩy Giả là Ngôn sứ công lý, khẳng khái lên án đời sống vô luân của nhà vua nên bị giam và bị chém đầu.

Thánh Gioan đã từng trải qua những giờ phút vinh quang khi dân chúng kéo đến với ông trong sa mạc, bên bờ sông Giođan xin ông làm phép rửa. Giờ đây, thời vàng son đã khép lại. Chỉ còn các môn đệ liều mình vào thăm nuôi rồi kể chuyện bên ngoài cho Gioan nghe. Gioan rất nhạy bén trước tội lỗi, không thể chịu đựng tội lỗi nên đã can đảm tố cáo tội của tiểu vương Hêrôđê Antipát, bất chấp hậu quả tù đày. Hêrôđê người đàn ông quyền lực mà ham mê sắc dục gắn bó với Hêrôđiađê, người đàn bà đẹp nhưng ham mê quyền bính, hai con người đó làm nên bi kịch của lịch sử. Không ai dám nói, chỉ có Thánh Gioan lên tiếng. Bênh vực chân lý, nói lên sự thật đã đưa Gioan tới cái chết. Chết là cái giá rất đắt cho chứng nhân bảo vệ chân lý, bảo vệ thuần phong mỹ tục, bảo vệ cho các giá trị đạo đức truyền thống.

Thánh Gioan băn khoăn lo lắng khi nghe tường thuật về Chúa Giêsu thường giao du với những kẻ tội lỗi, vào trong nhà người tội lỗi, đồng bàn với họ và tha thứ tội lỗi cho họ. Ngôn Sứ Tiền Hô đang ở trong tù mà không được Đấng Cứu Thế đến giải thoát.Nổi khắc khoải cào cứa trong lòng.Vì thế, Gioan đã sai các môn đệ đến hỏi thẳng Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn đợi ai khác?”.

Trước đây, Gioan đã từng giới thiệu về Chúa Giêsu cho dân chúng: “Tôi lấy nước mà rửa anh em, song có Đấng đến sau tôi, tôi không xứng đáng cởi giây giầy cho Người” (Mt 3,11); “Chính Đấng ấy sẽ rửa anh em bằng nước và Thánh Thần”. Gioan cũng đã giới thiệu với các môn đệ về Chúa Giêsu: “Đây chính là chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1,29).

Gioan không ngừng loan báo cho dân chúng uy thế của Đấng sẽ đến. Theo cách diễn tả cùng với những hình ảnh kèm theo, dường như chính ông cũng đang mong chờ Đấng ấy như một vị thẩm phán nghiêm minh. Đấng ấy sẽ không nương tay, Nguời sẽ thực thi công bình và sẽ tiêu diệt, sẽ “rê sạch thóc”, sẽ đem số “thóc lép”, tức là những kẻ làm điều gian ác, ném vào lửa đời đời. Đối với Gioan, Đấng Cứu Thế đến giải phóng Ítraen cả trong phạm vi trần thế nữa, về chính trị và kinh tế như kiểu một vị vua Do Thái bách chiến bách thắng để đem vinh quang nước Ítraen lên tột đỉnh. Gioan nóng lòng vì chưa thấy Chúa Giêsu thực thi sứ vụ theo sứ điệp “dữ dội” mà ông rao giảng, nên Gioan muốn hỏi rằng: có phải Thầy là vị cứu tinh phải đến để bài trừ những tệ đoan, bất công và tham nhũng trong xã hội không?

Những lời nói và việc làm của Chúa Giêsu lại không phù hợp với những gì ông đã rao giảng. Chúa Giêsu xuất hiện như một vì tôi tớ hơn là một Đấng quân vương. Người cũng không giống như quan toà nghiêm minh thẳng tay trừng phạt kẻ tội lỗi. Trái lại, Người luôn luôn yêu thương, kêu gọi họ trở về, đồng bàn với họ. Đối với người nghèo khổ, bệnh hoạn tật nguyền, Người hết mực yêu thương, bao bọc chở che chăm sóc chữa lành chứ không xa lánh khinh khi vì sợ lỗi luật như các Rabbi. Chính vì thế, khủng hoảng niềm tin của Gioan Tẩy Giả cũng là điều dễ hiểu. Trong hoàn cảnh ngục tù Gioan đã biết tìm đến Chúa Giêsu để tìm sự giải đáp cho những thao thức canh cánh trong lòng. Và Gioan đã tìm thấy.

Chúa Giêsu không bị giới hạn trong cái nhìn chật hẹp của Gioan. Người muốn Gioan mở rộng tầm mắt với một lối nhìn mới mẻ, phong phú hơn ″Các anh cứ về tường thuật cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch,người chết sống lại, và Tin mừng được loan báo cho người nghèo khó” (Mt 11,4-5).

Như vậy, Chúa Giêsu đã trả lời bằng cách trích dẫn ba đoạn văn Isaia đều có hậu cảnh Mêsia: Is 29,17-18: người điếc được nghe, người mù được thấy; Is 26, 19: người chết sống lại; Is 61,1: loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Chúa bảo họ hãy về thuật lại những việc Chúa đã làm và những lời Chúa đã nói, những điều đó đủ minh chứng Chúa là ai. Những điều đó đã được các ngôn sứ loan báo từ dọc dài lịch sử rồi. Trả lời như vậy là Chúa Giêsu gián tiếp bảo cho họ biết: Người không phải là một vị cứu tinh đầy uy quyền, đến giải phóng dân tộc Do Thái như họ mong đợi. Đồng thời Chúa trực tiếp xác nhận sứ mạng và quyền năng của Người: là con Thiên Chúa, là Đấng Thiên Sai đem ơn cứu độ cho mọi người.

Chúa Giêsu còn biểu dương, ca ngợi Gioan Tẩy Giả trước mặt dân chúng, trước sự chứng kiến của các môn đệ. Người tôn vinh ông, bởi lẽ ông là một Ngôn sứ vĩ đại nhất trong số các Ngôn sứ. Người tôn vinh ông, bởi ông là con người của khổ hạnh nơi hoang địa, là vị Ngôn sứ được mong đợi, là vị Tiền hô đến trước để dọn đường cho Đấng Thiên sai như Ngôn sứ Malakhi đã loan báo : “Này ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến”. Khi nghe môn đệ thuật lại những điều này, Gioan Tẩy Giả hẳn phải vui mừng, bởi Chúa Giêsu không chỉ củng cố, không chỉ giải đáp những hoang mang lo lắng của ông, Người còn khích lệ, tán dương ông, giúp ông vượt qua những thử thách ngục tù để có thể chấp nhận cái chết tử đạo mà ông sẽ lãnh nhận không lâu sau đó. Trong tù, Gioan đã có thời gian để chiêm niệm.Cần phải thay đổi nhận thức và quan điểm của mình về Thiên Chúa. Quyền năng Thiên Chúa là quyền năng của tình thương. Đấng Cứu Thế đi đến đỉnh cao quyền năng là đồi Canvê và thập giá. Từ nay, Gioan hiểu hơn về Đấng mà mình loan báo. Giờ đây Gioan hiểu rằng Đấng Mêsia mà ông loan báo không phải đến trần gian theo những quan niệm thuần tuý về chính trị, Người đến để rao giảng nước Thiên Chúa và cứu độ nhân loại. Thánh Gioan hạnh phúc an bình ra đi sau khi hoàn tất sứ vụ của mình.

Thánh Gioan Tẩy Gỉa đã trải qua những thách đố trong sứ vụ. Chính Ngài đã giới thiệu Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế nhưng khi lâm cảnh đau khổ ngục tù không thấy ai giải thoát nên đâm ra nghi ngờ. Nhưng cuối cùng, Gioan đã chứng minh một niềm hy vọng kiên cường. Ngài không phải là cây sậy yếu mềm chao nghiêng trước gió mà chính là một tượng đài bất khuất của lẽ cậy trông. Hạng người khom lòng cúi gập mình chẳng bao giờ có thể trở thành người tử đạo. Gioan không phải là một người bình thường cũng không phải là người hèn yếu như cây sậy bị xiêu đổ dưới cơn gió. Niềm hy vọng chính là sức mạnh giúp Gioan và tất cả những ai đang gặp thách đố biết kiên vững kinh qua tất cả.

Khi chúng ta gặp đau khổ thử thách, đức tin, lòng cậy trông niềm hy vọng bị lung lay chao đảo. Hãy nhớ Thánh Gioan đã chịu như thế và các tiên tri trong lịch sử cũng mang tâm trạng như vậy. Thánh Gioan không chết trong thất vọng mà chết trong đức tin, chết trong niềm hy vọng, đã đi cho đến cùng sứ mạng làm chứng cho Tin mừng.

Thánh Gioan Tẩy Giả là nhân vật nổi bật của Mùa Vọng. Ngài là Ngôn sứ hy vọng. Đời sống chúng ta là một Mùa Vọng. Mùa Vọng của đức tin, của niềm mong đợi, của lòng kiên nhẫn.

Xin Chúa cho chúng ta vững một niềm tin cậy trông vào Thiên Chúa tình thương.

Về mục lục

.

NHẪN NẠI ĐÓN CHỜ CHÚA ĐẾN

Lm. JB. Hoàng Văn Khanh

  1. Gioan dọn đường

Bên bờ sông Giođan, Gioan Tẩy Giả xuất hiện, rao giảng và làm phép rửa sám hối để dọn đường cho Đấng Thiên Sai sắp đến, như lời ông tự giới thiệu :“Tôi làm phép rửa trong nước để giục lòng sám hối; Đấng đến sau tôi, quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần và lửa”(Mt 3,11). Sứ điệp của ông về sự hoán cải thật đanh thép và minh bạch: “Lưỡi rìu đặt sẵn gốc cây; cây nào không sinh quả tốt sẽ bị chặt đi và quăng vào lửa” (Mt 3,10); “Người sẽ cam nia rê lúa, thóc tốt sẽ thu vào kho và lúa lép sẽ quăng vào lửa” (Mt 3,12). Theo ông, Đấng Thiên Sai mà ông có sứ mệnh dọn đường sẽ xuất hiện như vị thẩm phán chí công: tiêu diệt sự dữ, trả lại công bình cho những kẻ bị ức hiếp, cứu thoát những ai khốn khổ và khai mở thời cánh chung tràn trề hoan lạc, như Isaia đã từng loan báo (Is 35, 1-6.10). Ông nhiệt thành rao giảng và sung sướng chờ đón ngày ấy chóng đến ! Và này, Chúa Giêsu xuất hiện. Ông đã làm chứng về Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn (Ga 1,34), là Chiên Thiên Chúa (Ga 1,36) và chỉ cho mọi người biết đó chính là Đấng mà ông đã loan báo (Ga 1,29). Sau đó, ông bị bỏ tù (Mt 11,2) vì đã can đảm làm chứng cho sự thật khi can ngăn nhà vua Hêrôđê Agrippa không được lấy vợ của anh mình là Philippê (Mt 14,3-12). Sứ vụ dọn đường của Gioan chấm dứt với việc ông vào tù, để bắt đầu sứ vụ của Chúa Giêsu với việc Người chịu phép rửa và được tấn phong Mêsia ngôn sứ và vương đế (x. Lc 3,19.21). Giai đoạn chuẩn bị kết thúc với Gioan Tẩy Giả, mở ra giai đoạn mới: Chúa Giêsu đến loan báo Tin Mừng và rao giảng Nước Thiên Chúa.

  1. Chúa đã đến

Thật khác xa với những gì mà Gioan đã quan niệm vì Chúa Giêsu đến không phải để đoán phạt nhưng để cứu chữa những gì hư mất; Người không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi (Mt 9,13). Người chính thật là Đấng Thiên Sai mà các ngôn sứ đã từng loan báo, như chính Người, trong buổi khai mạc sứ vụ tại Hội đường Nadarét, đã áp dụng cho mình sấm ngôn Isaia chỉ về Đấng Thiên Sai(Lc 4,16-21). Người quan tâm và yêu thương hết mọi người, đặc biệt những người khó nghèo và tội lỗi là những hạng người bị xã hội ruồng rẫy và bỏ rơi. Người chữa lành các bệnh nhân; và mỗi khi chữa lành bệnh phần xác, Người quan tâm hơn đến việc chữa trị tâm hồn, nghĩa là giải thoát họ khỏi sự thống trị tội lỗi và đưa vào đời sống ân tình với Thiên Chúa và tha nhân. Người hiền lành, khiêm tốn và hết tình phục vụ: “Ta đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống mình”. Mọi người từ khắp nơi tuôn đến để nghe Người giảng dạy và để được Người chữa lành các thứ bệnh tật.

  1. “Ông có phải là Đấng phải đến…?”

Ngồi trong tù, Gioan vẫn hướng lòng về Đấng Thiên Sai và chờ đợi thời mới. Khi được nghe biết về những hoạt động của Chúa Giêsu, ông cảm thấy băn khoăn và hoang mang. Đấng Thiên Sai mà ông có sứ mệnh dọn đường phải là Đấng đến để tiêu diệt sự dữ, tái lập trật tự công lý và khai mở thời cánh chung. Đàng này Chúa Giêsu mà ông đã từng làm chứng và chỉ cho mọi người biết lại cư xử hiền hoà, khiêm tốn, yêu thương và tha thứ. Ông sai các đồ đệ đến hỏi Chúa Giêsu là Đấng phải đến, hay còn phải đợi một Đấng khác.

Gioan nóng lòng chờ đợi Đấng Mêsia, nhưng lại là một Mêsia theo quan niệm của các ngôn sứ thời chuẩn bị, đồng thời cũng là quan niệm của người đương thời về một Mêsia chính trị, đến để phục hưng dân tộc. Còn Chúa Giêsu, Người xác nhận mình là một Mêsia mà các ngôn sứ đã từng loan báo: rao giảng Tin Mừng cho người nghèo, chữa lành các bệnh tật, xua trừ ma quỷ …., nhưng không phải là một Mêsia theo quan niệm chính trị, mà là một Mêsia đến thiết lập vương quốc sự thật và yêu thương bằng năng lực tình yêu và phục vụ, một Mêsia cứu độ nhân loại bằng con đường đau khổ của người Tôi trung. Và đó chính là điều gây cớ vấp phạm cho nhiều người như ông Simêon đã từng loan báo ngày Đức Maria dâng trẻ Giêsu vào Đền Thờ (Lc 2,34). Cách trả lời gián tiếp của Chúa Giêsu vừa là một trấn an Gioan, đồng thời xác định cho ông biết Chúa Giêsu thực hiện công cuộc cứu độ nhân loại không phải bằng con đường vinh quang, nhưng bằng con đường thương khó và tử nạn như Isaia đã loan báo về người Tôi trung (Is 52,13-53,12). Cần nhìn vào các việc Người đang làm mà coi đó như là những dấu chỉ để có thể nhận ra Người là Đấng Mêsia.

  1. Nhẫn nại đón chờ Chúa đến

Trong một thời đại mà xem ra sự dữ đang lấn lướt, công lý không được tôn trọng, người công chính thường bị ghét bỏ và thua thiệt. Người tín hữu mong chờ Chúa đến để tiêu diệt sự xấu và kẻ gian ác, thiết lập lại trật tự công bình, và khai trương thời đại mới. Đó cũng chính là điều mà Gioan hằng nóng lòng chờ đợi. Thế nhưng, Thiên Chúa đã mạc khải Ngai là Thiên Chúa hay thương xót, chậm giận và không chấp tội (Xh 34,6-7). Chúa Giêsu đến loan báo Tin Mừng yêu thương và tha thứ. Người thiết lập vương quốc tình yêu bằng sự phục vụ và tình yêu tự hiến. Vì thế, Người nhẫn nại chờ mong con người hoán cải để ban ơn tha thứ (Lc 13,6-9). Thánh Phaolô coi sự nhẫn nại là hoa trái của Thần Khí (Gl 5,20). Thánh Giacôbê khuyên dạy tín hữu hãy kiên nhẫn đón chờ ngày Chúa đến, như người nông dân mong chờ mùa gặt (Gc 5,7-10). Sự kiên nhẫn giúp thanh luyện và biểu lộ lòng trung thành, đồng thời tạo điều kiện và thời gian cho kẻ tội lỗi biết hồi tâm sám hối.

  1. Người nhỏ nhất trong Nước Trời

Chúa Giêsu khen ngợi Gioan: “Trong số những người nam đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả”(Mt 11,11). Gioan cao trọng vì ông là vị ngôn sứ cuối cùng của thời chuẩn bị cho Đấng Cứu thế, như sấm ngôn Malaki đã loan báo: “Này Ta sai sứ giả của Ta đến dọn đường trước mặt Ta” (Ml 3,1). Không những dọn đường, Gioan còn nhìn thấy, làm chứng và chỉ cho người khác khi Đấng Cứu thế xuất hiện. Gioan đã sẵn sàng từ bỏ tất cả, chấp nhận cuộc sống khắc khổ trong hoang địa, để chuẩn bị cho sứ vụ và để có thể toàn tâm toàn ý thực hiện sứ mệnh. Gioan đã can đảm làm chứng và sẵn sàng chết để bảo vệ sự thật.

Gioan cao trọng thế đó, nhưng Chúa Giêsu bảo: “Kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông”. Dù cao trọng, Gioan vẫn còn là người đang đứng bên ngưỡng cửa Nước Trời, như Môsê xưa đứng ở ngưỡng cửa Đất Hứa. Kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời cao trọng hơn ông vì được diễm phúc tham dự vào vương quốc do Chúa Giêsu thiết lập. Chỉ nhờ lòng tin mà người ta mới có thể gia nhập Nước Trời và cũng chính đức tin mới làm nên sự cao trọng đó, như bà Elisabeth đã từng khen ngợi Đức Maria: “Bà thật có phúc vì đã tin… ” (Lc 1,45).

Về mục lục

.

BẠN CÓ PHẢI LÀ ĐỨC GIÊSU KHÔNG?

Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

Trong một lớp học giáo lý dành cho các em lớp Sáu mới chuyển cấp, một thầy giáo muốn dạy về Chúa Giêsu nên khai mào bằng những lời sau đây: “Hôm nay thầy muốn giới thiệu với các em về một nhân vật mà tất cả chúng ta đều phải gặp mặt. Nhân vật đó là một người rất yêu thương và quan tâm đến các em còn hơn cả cha mẹ, anh chị, hay bạn bè của các em. Ngài là người rất nhân từ và sẵn sàng tha thứ cho dù lầm lỗi của các em có khủng khiếp đến đâu đi chăng nữa. Dù các em có xấu xa thế nào thì ngài vẫn đón nhận, cảm thông và yêu mến.”

Đang khi nói, thầy giáo để ý thấy một đứa bé chăm chú lắng nghe và tỏ vẻ thích thú lắm. Thế rồi, dường như không cầm lòng được, cậu ta buộc miệng thốt lên: “Ồ, em biết thầy đang nói về ai rồi. Có phải là cha quản nhiệm của chúng ta không?”

Chẳng biết thầy giáo trả lời với em bé thế nào, nhưng câu nói của em đã khiến tôi giật mình. Em đã nhìn thấy nơi vị linh mục quản nhiệm hình ảnh của Đức Giêsu mà thầy giáo đang muốn trình bày. Không biết các hành vi, thái độ, lối sống nơi con người tôi có làm toát lên dung mạo của Đấng Cứu Thế không? Người ta sẽ thấy và nghĩ tôi là ai, một người có Chúa Giêsu hay một kẻ vô đạo?

Ngày xưa, khi Gioan sai các môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu: “Thầy là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng nào khác?”, Ngài đã không trả lời bằng những câu rất dễ như: “Đúng vậy” hay “Ta là Đấng các ngươi mong chờ.” Trái lại, Đức Giêsu đã hướng hai ông đến với các việc Ngài làm. Những gì mà xưa kia Isaia tiên báo về Đấng Cứu Thế thì nay đang thành sự. Ấy là: “Mù được sáng mắt, què được đi, phong hủi được sạch, điếc được nghe, kẻ chết sống lại, và người nghèo khó được loan báo tin vui.”

Đúng là trăm nghe không bằng mắt thấy. Lời nói dễ hơn việc làm, nhưng hành động mới chinh phục mạnh hơn ngôn từ. Đức Giêsu đã khẳng định Ngài là Đấng phải đến không phải chỉ bằng lời nói nhưng còn bằng hành động. Và Ngài mời gọi hai môn đệ hãy nhìn vào bao sự lạ lùng đang xảy ra để thuật lại cho Gioan, hầu củng cố niềm tin của ông vào Đức Mesiah.

Chắc hẳn niềm tin này không mang ông ra khỏi bao tù của vua độc gài và gian dâm Hêrôđê, người đã loạn luân khi lấy vợ của anh mình; niềm tin đó cũng chẳng giúp ông thoát được cái chết đớn đau cô độc, nhưng nó lại có sức trợ lực ông vững bước đến cùng trên hành trình rao giảng và bênh vực cho Chân lý. Đây là phúc lộc lớn lao mà Đức Giêsu muốn trao tặng cho vị tiền hô của mình: “Phúc cho người không vấp ngã vì Ta.” (Mt 11:6)

Có thể nhiều khi trong đời, tôi phải trải qua những bế tắc của chốn “lao tù” thế gian, chung quanh chỉ là bóng tối của khốn khổ lao đao. Nào là tai ương ập xuống, vợ chồng mất việc, tài sản hư hao, con cái bệnh tật… rồi bao cảnh trái tai gai mắt dường như muốn đánh gục niềm tin của chính mình. Và có lẽ đã không ít lần tôi hỏi Chúa: “Ngài có phải là Đấng Cứu Thế không, hay tôi phải tìm đến người nào khác? Có lẽ thầy này, bà kia, hay chiêm tinh gia này, tử vi bói toán nọ còn có thể cứu tôi, chứ theo Đức Giêsu… sao chẵng thấy được gì.” Phải chăng không ít lần tôi cũng đã đặt vấn đề như thế?

Trước bao tăm tối và nghi nan nơi ngục tù, lời nói của Chúa Giêsu – “Phúc cho người không vấp ngã vì Ta” đã trở thành lời an ủi khích lệ lớn lao cho Gioan. Cuối cùng, ông đã đóng trọn vẹn vai trò tiền hô cho Đấng Cứu Thế bằng những giọt máu hành anh của mình.

Không mong được giải thoát bằng phép lạ, nhưng chỉ khát khao được đỡ nâng để đi đến cùng hành trình đức tin của mình chính là mẫu gương cho tôi nhắm tới. Khi nền luân lý bị nhiễu nhương, khi đam mê xác thịt quật ngã bao lớp người, khi tình trạng rối vợ rối chồng xảy ra như cơm bữa, tôi phải có can đảm lội ngược dòng đời, dù như thế sẽ bị cô độc lẻ loi, dù như thế sẽ bị giam hãm đọa đày, nhưng chỉ có sống như thế, tôi mới làm sáng tỏ dung nhan Đức Kito, Đấng là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống.

Nói tôi có đạo, dễ quá. Chứng minh tôi có niềm tin vào Thiên Chúa bằng lối sống ngay chính và bằng hành vi yêu thương quả là một thách đố không nhỏ bé gì.

Song, “Hãy can đảm lên, đừng sợ hãi,” ngôn sứ Isaiah đã nói như thế, bởi vì rồi đây “Chính Thiên Chúa sẽ đến và cứu độ các ngươi. Bấy giờ mắt người mù sẽ nhìn thấy (ánh quang chân lý), tai người điếc sẽ được nghe (Tin mừng cứu độ), người què sẽ nhảy như nai (trên lối đường công chính)…người ta sẽ hoan hỉ triền miên và vui mừng khoái trá. Họ sẽ không còn đau buồn nữa, và rên siết sẽ trốn xa.” (Is 35)

Sự đỡ nâng lớn lao nhất cho người Kitô hữu chính là Đức Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Ai siêng năng rước Chúa sẽ nhận được sức mạnh vượt thắng bao giông tố của dòng đời. Ai thường xuyên tiếp đón Ngài sẽ được trở nên “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô”, và lúc ấy, “Tôi sống nhưng không phải tôi sống nhưng Đức Kitô sống trong tôi.” (Ga 3:20)

Về mục lục

.

AI LÀ “THẦY” CỦA TÔI?

Lm. Hà Ngọc Đoài

“Thầy có phải là Đấng phải đến, hay chúng con phải đợi Đấng khác?” (Mt 11:3).

Niềm vui của cha mẹ là sinh con ra đời, và ước muốn cũng như sự quan tâm của cha mẹ là tìm trường có thầy giỏi để gửi con theo học. Ai cũng biết rằng gia đình là “mái trường” đầu tiên cho mọi người con và cha mẹ là “thầy” có nhiều ảnh hưởng nhất cho con từ thuở nhỏ. Nhưng khi con lớn, thì cần những khả năng chuyên môn để vào đời. Nhiều lãnh vực cha mẹ không giúp con được, nhất là những phương diện làm người trong xã hội cần có thầy cô dạy dỗ. Cho dù ở nhà hay đi tới trường, tương lai của người học sinh đều chịu ảnh hưởng của sự giáo dục.

Trong lãnh vực tôn giáo, sự ảnh hưởng lại còn quan trọng hơn vì tôn giáo tạo nên những con người tốt cho xã hội. Nếu may mắn, ta được giáo dục trong một Tôn giáo chân chính, thì đời của ta sẽ sống trong hạnh phúc và trọn đầy ý nghĩa. Những thử thách chỉ là cơ hội để rèn luyện và tăng cường niềm tin cho ta mà thôi. Nếu không may, ta gặp những thầy không chân chính, họ là những “tiên tri giả”, thì đời của ta bồng bềnh như con thuyền vô định hướng và đi tới chỗ nguy hiểm.

Hiện nay có nhiều “tiên tri giả” xuất hiện để lôi cuốn thị hiếu của nhiều người. Những người thích nghe theo các tôn giáo mới thường tìm nơi đó những thỏa mãn của cảm tình tạm thời, hoặc những “mặc cả – thương lượng” xoa dịu ý riêng của ta! Chẳng hạn, chúng ta thấy có nhiều tôn giáo mới “Doomsday” xuất hiện lôi cuốn nhiều tín đồ vào chỗ chết tập thể bởi những hứa hẹn không căn bản. Trong số tín đồ đó, đa số lại là những người tài giỏi chuyên môn về các ngành của khoa học tân kỳ. Chúng ta làm học trò một lần trong đời. Nếu học sai bài của “tiên tri giả” thì đời chúng ta sẽ bị nhiều thiệt thòi vô ích. Biết tìm đâu được “Thầy” chân chính? Muốn phân biệt thầy chân chính hay tạm thời, chúng ta hãy nhìn cách sống của họ. Thầy giả thì khai thác tín đồ, còn thầy chân chính thì đem ích lợi cho tín đồ. Gương sống động của Đức Kitô cho ta biết Thiên Chúa sai Con của Người xuống để ở với chúng ta “Emmanuel”. Ngài trả lời câu hỏi muôn người bằnt việc làm và sự cứu độ. Ngài mời chúng ta đến chứng kiến, “Kìa nhìn xem, người mù được thấy, người què đi được, người phung hủi được khỏi, người điếc được nghe, người chết sống lại” (Mt 11:4) Ai làm được như vậy, nếu không phải là Đức Kitô, một người Thầy chân chính mà chúng ta đang chờ đợi trong Lễ Giáng Sinh?

THỰC HÀNH:

“Lạy Chúa, xin đến cứu độ chúng con ” (Is 35:4).

Mọi người đang sống trên trần gian là một khách hành hương. Có những người đang bơ vơ lạc lõng mà không biết kêu cứu ai! Phúc thay cho các Kitô hữu được Thiên Chúa đến đồng hành và hướng dẫn về nơi vĩnh cửu.

Về mục lục

.

ĐẤNG THIÊN SAI

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Gioan Tẩy Giả đã xuất hiện từ lâu, cách đây hơn hai ngàn năm và Ngài đã cho môn đệ của Ngài đến gặp Chúa Giêsu, đặt câu hỏi như sau: “Thưa Thầy, Thầy có phải là Đấng Thiên Chúa sai đến không, hay là chúng tôi phải đợi ai khác” ( Mt 11, 3 ). Đây là vấn nạn mà Gioan Tẩy Giả trong suốt quãng đời rao giảng đã luôn thắc mắc, do đó, Gioan đã sai các môn đệ đến chất vấn Chúa để xem Chúa trả lời thế nào? Tuy nhiên, khi các môn đệ trở về để trả lời cho Gioan Tẩy Giả về những lời Chúa Giêsu nói, Gioan đã nhận ra ngay Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai, Đấng Cứu Thế phải đến trong thế gian. Vấn nạn của Gioan cũng cho chúng ta hiểu Chúa Giêsu, Đấng được Chúa Cha sai đến trần gian, là Đấng cứu độ, Đấng mang ơn cứu rỗi cho mọi người…

Đấng Thiên Sai không phải là một Thiên Chúa như con người tự nghĩ, do con người vẽ ra. Thực tế, dân Do Thái xưa và ngay chính các môn đệ cứ tưởng Đấng cứu thế phải là một Vị Vua thật oai phong, đánh Đông, dẹp Bắc, Đấng tới để khôi phục Vương Quyền cho Israen, để rồi muôn dân sẽ được sung sướng, giầu sang phú quí theo kiểu trần gian và rồi các môn đệ sẽ được chia nhau ghế ngồi trong nội các của Vua Giêsu.Chúa Giêsu đã đến thế giới trong cảnh nghèo nàn của hang đá máng cỏ Bêlem. Chúa Giêsu đã lớn lên trong gia đình Nagiarét nơi làng quê không có gì làm nổi bật, không có gì là giầu có. Chúa đồng hóa với những con người khó nghèo, cơ cực, những người bị tù đầy, những người neo đơn, tất bạt. Chúa đến như một vị Vua hiền từ, khiêm nhượng, và rồi trong ba năm giảng đạo, Ngài đã đi đây đi đó:” Chồn có hang, chim có tổ, con Người không có đá gối đầu “. Ngài đã tiến vào Giêrusalem trên mình con lừa, được trẻ em Do Thái và dân chúng tung hô là Vua, nhưng cái trớ trêu Vua là Vua thiêng liêng, Vua nhân hậu, Vua không quân đội, không có cung điện như các Vị Vua trần gian.Loài người, con người ở muôn thời vẫn cứ mường tượng, vẫn cứ suy nghĩ, vẫn cứ vẽ ra một Vị Vua theo ý của họ. Tuy nhiên, Vua Giêsu là Vua mà ngôn sứ Isaia đã loan báo: “ Đấng làm cho kẻ mù xem thấy, kẻ điếc được nghe, kẻ câm nói được, kẻ què đi được, người cùi được sạch, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe giảng Tin Mừng “ ( Mt 11, 5 ).Té ra Đấng Thiên Sai là như thế! Ngài là Vua uy quyền, oai phong nhưng lại hết mực nhân từ, khiêm nhường. Câu trả lời duy nhất của Chúa cho các môn đệ của Gioan đến găp Chúa: “Các anh cứ về thuật lại cho ông gioan những điều mắt thấy tai nghe”( Mt 11, 4 ).

Đọc lại Tin Mừng và suy nghĩ kỹ câu trả lời của Chúa Giêsu cho các môn đệ của Gioan Tẩy Giả, chúng ta không khỏi ngạc nhiên vì những điều con người vẽ ra về một Đấng Cứu Thế hoàn toàn sai lạc. Đấng Cứu Thế mãi mãi từ muôn đời vẫn chỉ là Một Con Thiên Chúa làm người thật nhân hậu, hiền lành và đầy yêu thương. Chúa Giêsu luôn là Đấng Thiên Sai như ngôn sứ Isaia đã loan báo từ bao nhiêu nghìn năm trước. Dung mạo của Ngài trước sau vẫn chỉ là Đấng Cứu Thế hiền lành và khiêm nhượng.

Gioan Tẩy Giả chỉ là Đấng dọn đường cho Chúa.Ngài cũng là người hạnh phúc vì được giới thiệu Đấng Cứu Thế cho nhiều người.Chúa Nhật III Mùa Vọng nói lên niềm vui vì Đấng Thiên Sai đã gần đến như lời thánh Phaolô gửi tín hữu Philipphê đã viết: “Anh em hãy vui luôn trong Chúa!Tôi nhắc lại: Anh em hãy vui lên! Vì Chúa đã đến gần “ ( Pl 4, 4-5 ).

Xin mượn lời Véronique Margron để kết luận bài suy niệm này: “Chúa Nhật thứ ba Mùa Vọng chuẩn bị con đường này. Những người bạn đồng hành, những con người nghèo khó hay cả những người tàn tật, họ đang ở đây quanh ta. Nơi đây, không có chỗ cho những ai nghĩ rằng mình tốt lành, hay nghĩ rằng mình có mọi thứ. Đấng chúng ta hy vọng sẽ không lừa dối chúng ta. Ngài không hứa hẹn một thế giới không bạo lực và không có sự dối trá. Sự Giáng sinh, cuộc sống, cái chết và sự Phục Sinh của Ngài thể hiện cho chúng ta thấy sự gần gũi thân ái bằng chính cả cuộc sống của Ngài…Để tưới mát tâm hồn đang khô cằn trong ta, chúng ta không cần phải chờ đợi một ai khác ngoài Đấng mang hy vọng.

Lạy Chúa Giêsu, xin mau đến. Maranatha, xin hãy đến. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:

  1. Câu trả lời của Chúa Giêsu cho các môn đệ của Gioan đến gặp chúa Giêsu?
  2. Quan niệm của dân chúng thời Chúa Giêsu nghĩ gì về Ngài?
  3. Dung mạo đích thực của Chúa Giêsu?
  4. Gioan Tẩy Giả là ai?
  5. Chúa Nhật III Mùa Vọng nói lên gì?

Về mục lục

.

ĐỂ KHỎI VẤP NGÃ VÌ CHÚA KITÔ

Lm Phạm Ngọc Ngôn

Cái giá cho sự bảo vệ chân lý, bảo vệ thuần phong mỹ tục, bảo vệ cho các giá trị đạo đức truyền thống đã đẩy Gioan Tẩy Giả vào con đường ngục tù. Ở trong tù, điều Gioan Tẩy Giả băn khoăn lo lắng không phải là cái giá của lẽ phải mà ông đang phải gánh chịu, nhưng chính là những thắc mắc xung quanh Đấng mà ông vẫn hằng rao giảng. Chính vì thế, ông đem những thắc mắc này hỏi trực tiếp Chúa Giêsu khi sai các môn đệ đến hỏi Người: “Thưa Thầy, Thầy có đúng là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?”

Chúng ta biết, Gioan Tẩy Giả không ngừng loan báo cho dân chúng uy thế của Đấng sẽ đến. Theo cách diễn tả cùng với những hình ảnh kèm theo, dường như chính ông cũng đang mong chờ Đấng ấy như một vị thẩm phán nghiêm minh. Đấng ấy sẽ không nương tay, Nguời sẽ thực thi công bình và sẽ tiêu diệt, sẽ “rê sạch thóc”, sẽ đem số “thóc lép”, tức là những kẻ làm điều gian ác, ném vào lửa đời đời.

Thế nhưng, những lời nói và việc làm của Chúa Giêsu lại không phù hợp với những gì ông đã rao giảng. Chúa Giêsu xuất hiện như một vì tôi tớ hơn là một Đấng quân vương; Người cũng không giống như quan toà nghiêm minh thẳng tay trừng phạt kẻ tội lỗi. Trái lại, Người luôn luôn yêu thương, kêu gọi họ trở về, đồng bàn với họ; đối với người nghèo khổ, bệnh hoạn tật nguyền, Người ra sức yêu thương, bao bọc chở che và chữa lành chứ không phải xa lánh vì sợ luật ô uế như các Rabbi. Chính vì thế, cuộc khủng hoảng về niềm tin của Gioan Tẩy Giả xảy ra cũng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, đối diện với cuộc khủng hoảng đó, cùng với hoàn cảnh ngục tù, đã không làm cho ông lún sâu vào đường hoang mang lo lắng. Ông tìm đến Đấng “gây nên” cho ông sự khủng hoảng đó để tìm sự giải đáp. Và ông đã tìm thấy.

Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp những thắc mắc của Gioan Tẩy Giả, Người mời gọi các môn đệ của ông chứng kiến những gì Người đang thực hiện. Các môn đệ Gioan Tẩy Giả đến với Chúa Giêsu đúng vào lúc Người đang thi hành sứ vụ rao giảng nước Thiên Chúa. Và vì thế, các ông đã tận mắt chứng kiến những việc Chúa Giêsu đang thực hiện- điều mà xưa kia, Ngôn sứ Isaia đã loan báo về thời của Đấng Mêsia: người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin mừng. Chắc một điều, khi nghe các môn đệ kể lại, Gioan Tẩy Giả sẽ hiểu hơn về Đấng mà mình loan báo. Giờ đây Gioan Tẩy Giả hiểu rằng Đấng Mêsia mà ông loan báo không phải đến trần gian theo những quan niệm thuần tuý về chính trị, Người đến để rao giảng nước Thiên Chúa và cứu độ nhân loại.

Bên cạnh đó, Chúa Giêsu còn biểu dương, ca ngợi Gioan Tẩy Giả trước mặt dân chúng, trước sự chứng kiến của các môn đệ ông. Người tôn vinh ông, bởi lẽ ông là một Ngôn sứ vĩ đại nhất trong số các Ngôn sứ; Người tôn vinh ông, bởi ông là con người của khổ hạnh nơi hoang địa, là vị Ngôn sứ được mong đợi, là vị Tiền hô đến trước để dọn đường cho Đấng Thiên sai như Ngôn sứ Malakhi đã loan báo: “Này ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến”. Khi nghe môn đệ thuật lại những điều này, Gioan Tẩy Giả hẳn phải vui mừng, bởi Chúa Giêsu không chỉ củng cố, không chỉ giải đáp những hoang mang lo lắng của ông, Người còn khích lệ, tán dương ông, giúp ông vượt qua những thử thách ngục tù để có thể chấp nhận cái chết tử vì đạo mà ông sẽ lãnh nhận không lâu sau đó.

Mùa Vọng chỉ thật sự có ý nghĩa khi mỗi người chúng ta biết chạy đến với Chúa, không ngừng xin Chúa củng cố, nâng đỡ niềm tin; đồng thời xin Chúa hoá giải những hoang mang lo lắng trong cuộc sống nhân sinh để giữ vững niềm tin, ngõ hầu không một chướng ngại, thử thách nào có thể làm chúng ta “vấp ngã vì danh Chúa Kytô”.

Về mục lục

.

THIÊN CHÚA ĐANG Ở GIỮA CHÚNG TA

Lm Trần Thanh Sơn

Ngày hôm nay, có lẽ không có gì nhiều hơn là quảng cáo. Quảng cáo có mặt khắp nơi: đơn giản như một tờ áp phích dán trên tường, một tờ bướm cho đến các phương tiện hiện đại hơn như truyền thanh, truyền hình… cũng đầy dẫy các tiết mục quảng cáo.

Các hình thức để quảng cáo thật phong phú, nhưng mục đích chỉ có một: sản phẩm đang được quảng cáo là thứ tốt nhất trong các sản phẩm cùng loại. Chúng ta có thể thấy rõ điều này trong cùng một chương trình quảng cáo, vừa giới thiệu thứ dầu gội đầu này là số một, thì sau đó lại giới thiệu một thứ dầu gội khác là hàng đầu thế giới. Thứ bột giặt này là “chuyên gia giặt tẩy vết bẩn”, còn thứ bột giặt kia thì lại được giới thiệu như là “một chọn lựa của người nội trợ đảm đang…” Nghe qua, tôi cũng không biết thứ nào là tốt thật, thứ nào chỉ là quảng cáo. Bởi lẽ, nếu thứ nào cũng số một, thì vị trí thứ hai dành cho ai?

Chính vì thế, con người chúng ta hôm nay như đang bị lạc lối giữa thật và giả. Có những điều tưởng là giả, nhưng lại là thật, và có những điều tưởng chừng như là đúng, nhưng lại là sai. Nhiều khi cái sai, điều xấu lại mang những dáng vẻ bên ngoài rất tốt đẹp. Do đó, để nhận ra được đâu là chân lý, đâu là cái tốt thật, chúng ta không thể chỉ nghe theo những lời quảng cáo, nhưng cần nhìn vào chính hiệu quả của sản phẩm. Tương tự như thế, lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta nhìn xem những dấu chỉ để nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa chúng ta.

  1. Một thắc mắc của đời thường:

Ngay mở đầu bài Tin mừng, thánh sử Matthêu ghi lại một vấn nạn của Gioan về chính con người của Đức Kitô: “Thầy có phải là Đấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng nào khác?”. Khi nghe câu hỏi này của Gioan, có lẽ nhiều người trong chúng ta thắc mắc: Tại sao ngay trong Chúa Nhật vừa rồi, Gioan vừa làm phép rửa, vừa lớn tiếng giới thiệu Đức Kitô cho toàn dân Israel, như là Đấng Messia của Thiên Chúa, Đấng mà ông “không đáng xách giày Người”. Vậy mà giờ đây, ông lại cho người hỏi Đức Giêsu: “Thầy có phải là Đấng phải đến chăng?”. Để hiểu rõ hơn vấn đề này, chúng ta cần biết rằng theo niềm tin và suy nghĩ của Gioan cũng như của toàn dân, khi Đấng Messia xuất hiện, Ngài sẽ thực thi công lý trên toàn cõi đất. Vậy mà giờ đây, Gioan đang ở tù vì can đảm tố cáo sự loạn luân của vua Hêrôđê, thế mà Đức Giêsu không hề có một tiếng nói nào. Điều này đã khiến cho Gioan bối rối, và ông phải sai các môn đệ đến đặt vấn đề trực tiếp với Đức Giêsu.

Thắc mắc của Gioan có lẽ cũng là thắc mắc của tôi và của quý ông bà anh chị em và của con người thuộc mọi thời đại. Chúng ta thường thích đi tìm những cái rõ ràng, cụ thể theo suy nghĩ của chúng ta. Trong khi đó hành trình của đức tin là một hành trình phó thác. Hành trình này đôi khi có vẻ như là đi trong đêm tối, nhưng nếu để ý, thì chúng ta sẽ luôn thấy có những ánh sáng, những dấu hiệu chỉ đường. Những dấu hiệu này, đôi khi cũng không dễ nhận ra nếu chúng ta không thật tâm chú ý. Do đó, thay vì trả lời trực tiếp cho câu hỏi của Gioan, Chúa Giêsu đã mời gọi các môn đệ của Gioan thuật lại cho Gioan những gì họ đã nghe và đã thấy, để Gioan tự đánh giá. Đức Giêsu đã không tự quảng cáo cho chính mình, nhưng Ngài mời gọi Gioan và mỗi người chúng ta hãy “nhìn quả để biết cây”.

Đức Giêsu nói với các môn đệ của Gioan: “Hãy về thuật lại với Gioan những gì các ông nghe và thấy: người mù được thấy, người què đi được, người phong hủi được khỏi, người điếc được nghe, người chết sống lại, và Tin mừng được loan báo cho kẻ nghèo khó”. Đến đây, chúng ta nhớ lại lời loan báo của ngôn sứ Isaia khi ông loan báo về ngày của Thiên Chúa trong bài đọc một. Trong ngày Thiên Chúa đến ban ơn cứu độ thì “Bấy giờ mắt người mù sẽ nhìn thấy, và tai những người điếc sẽ đuợc nghe. Bấy giờ người què sẽ nhảy như nai”.Và giờ đây, những điều đó đang được ứng nghiệm nơi Đức Giêsu, thì điều đó là một minh chứng tỏ tường: Đức Giêsu chính là Đấng Messia mà Thiên Chúa đã hứa. Ngài chính là vị Thiên Chúa đang ở giữa nhân loại, ở giữa chúng ta.

  1. Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta:

Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta. Ngài vẫn đang nói và hành động trong lịch sử nhân loại và trong cuộc đời của mỗi người chúng ta. Điều quan trọng là chúng ta có thấy việc Ngài làm và nghe được tiếng nói của Ngài hay không. Bởi vì có thể đôi khi chúng ta cũng giống như những người Do thái vào thời của Chúa Giêsu, chúng ta vẫn nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu (x. Mt 13, 13).

Thiên Chúa vẫn đang hiện diện giữa chúng ta. Ngài vẫn đang tiếp tục điều khiển lịch sử nhân loại ngang qua không chỉ những điều tốt lành mà cả những điều xem ra là sự dữ trước mắt chúng ta. Do đó, trong tâm tình chờ mong ngày Con Thiên Chúa lại đến, phụng vụ mùa Vọng gởi đến chúng ta một lời mời gọi tin tưởng, không nản lòng trước sự dữ, nhưng luôn kiên trì “bền chí và vững tâm”, như “người nông phu trông đợi hoa màu quý báu của đồng ruộng, kiên nhẫn đợi chờ mưa xuân và mưa thu”. Chúng ta cần kiên nhẫn đợi đúng giờ, đúng khắc của từng con nước để cắm đăng, quay đáy. Nếu vội vàng, hoặc chậm trể, chắc chắn lưới của chúng ta sẽ không kéo được tôm cá như đáng phải có.

Chúng ta cần kiên trì, vì cho dù trước mắt và cuộc đời của chúng ta đang xảy ra điều gì đi nữa, thì Thiên Chúa vẫn đang ở bên cạnh, và đang sẵn sàng ra tay nâng đỡ chúng ta. Thiên Chúa vẫnđang hiện diện với chúng ta qua cha mẹ, anh chị em, bạn bè và mọi người mà chúng ta gặp gỡ. Mọi biến cố vui buồn xảy ra trong cuộc đời của chúng ta không phải là ngẫu nhiên, nhưng đó là điều tốt nhất để đem lại ơn cứu độ đời cho chúng ta, nếu chúng ta biết đón nhận với một tâm tình yêu mến và cậy trông (x. Rm 8, 28). Chính trong tâm tình đó, thánh Giacôbê khuyên nhủ chúng ta: “Anh em hãy bền chí và vững tâm, vì Chúa đã gần đến… Anh em hãy học gương kiên nhẫn và chịu đựng trong gian khổ của các tiên tri, là những người đã nói nhân danh Chúa”

Như thế, hành trình đức tin không phải là một hành trình của “mì ăn liền”. Thiên Chúa luôn hiện diện ở giữa chúng ta, nhưng Ngài không làm thay cho chúng ta. Thiên Chúa muốn chúng ta cộng tác cách tự do và tích cực vào chương trình cứu độ của Ngài, để nhờ đó, mọi việc làm của chúng ta trở nên một hành vi nhân linh có giá trị. Thiên Chúa vẫn đang hiện diện bên cạnh và ngay trong đời sống hàng ngày của mỗi người chúng ta. Do đó, trong những ngày mùa Vọng này, mỗi người chúng ta hãy cố gắng chuyên chăm lắng nghe và suy niệm lời Chúa, và nhất là siêng năng và sốt sắng lãnh nhận Thánh Thể, bí tích của tình yêu, để có thể nhận ra bàn tay yêu thương của Chúa ngay trong cuộc đời mình. Đồng thời, bằng chính cuộc sống yêu thương, chia sẻ và công chính của mình, chúng ta hãy làm cho mọi người chung quanh cũng nhận ra rằng Thiên Chúa vẫn đang hiện diện ở giữa họ. Nhờ đó, tất cả chúng ta có thể hân hoan ra đón Chúa trong ngày Ngài ngự đến. Amen.

Về mục lục

.

CÒN ĐỢI CHỜ AI?

Lm. Phạm Quốc Hưng

“Có phải Ngài là Đấng sẽ đến, hay chúng tôi phải đợi người khác?”

Bà Terry có một cô con gái tên là Cathy đến tuổi kết hôn. Bà bắt đầu để ý giúp con chọn bạn trăm năm. Cathy rất thân mẹ và tâm sự với mẹ về mẫu người lý tưởng của cô: “Anh ấy phải là người hơn con ít là hai tuổi, phải cùng là Công giáo, tương đối dễ coi, phải bằng con hay hơn con ít nhiều về trình độ học thức nghĩa là phải có bằng BA hay BS, chưa bao giờ kết hôn, không bồ bịch lăng nhăng, biết đàn ca và nhảy đầm chút ít, không hút thuốc hay rượu chè cờ bạc, có công ăn việc làm đàng hoàng, biết cách đối xử với gia đình của anh ấy, và nhất là phải được mẹ bằng lòng.”

Nghe con tâm sự như thế, bà Terry rất đỗi vui mừng vì bà cũng có cùng ý nghĩ như Cathy. Bà sung sướng khi được Cathy kể cho bà nghe các liên hệ tình cảm của nàng để bà góp ý. Có rất nhiều chàng trai để ý Cathy, nhưng không ai hội đủ những điều kiện hợp với mẫu người lý tưởng mà nàng đã đưa ra.

Đến một ngày nọ, bà nghe Cathy kể về một chàng trai đang để ý nàng tên là Tony với tất cả những phẩm chất mà Cathy hằng mong mỏi. Chỉ còn một điều kiện duy nhất Tony chưa có là phải được bà bằng lòng. Thế là bà Terry nói Cathy mời Tony về nhà chơi để bà góp ý. Chỉ sau ít lần gặp gỡ Tony, bà đã nhận ra đây đúng là mẫu người chồng lý tưởng cho con mình và đúng là mẫu rể quý bà hằng mong đợi. Bà nói với Cathy: “Đây chính là người rất xứng hợp với con, mẹ hoàn toàn bằng lòng và sẽ tận tình lo chuyện thành hôn cho hai đứa.”

Nhưng bà ngạc nhiên khi nghe Cathy nói: “Nhưng con sẽ không lấy Tony đâu vì con không có cảm tình với anh ấy.” Bà Terry buồn bực nói với con: “Già kén kẹn hom. Con còn đợi chờ ai?”

Cũng như Cathy đang kiếm tìm một người bạn trăm năm lý tưởng, mỗi người trong nhân loại qua bao thế hệ cũng chờ mong một Đấng Cứu Thế, một mẫu người lý tưởng có thể làm thỏa mãn mọi khao khát chân thiện mỹ của lòng người.

Chúa Giêsu Kitô chính là mẫu người lý tưởng mà con tim nhân loại qua mọi thời đại hằng khao khát mong chờ. Ngài là người duy nhất có thể làm thỏa mãn mọi ước mơ sâu thẳm nhất của lòng người – ước mơ được thóat khỏi ách nô lệ của tội lỗi và nết xấu, ước mơ được sự sống đời đời, ước mơ được biết chân lỳ toàn vẹn, ước mơ được chiếm hữu sự thiện tuyệt đối, ước mơ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp vô cùng. Vì Ngài chính là Đấng Cứu Chuộc nhân thế, là nguồn Chân-Thiện-Mỹ, là Thiên Chúa làm người để đưa con người lên hàng Thiên Chúa, nghĩa là cho con người được chia sẻ chính sự sống thần linh của Thiên Chúa.

Nhưng làm sao có thể biết được Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa làm người và là Đấng Cứu Thế mà nhân loại hằng mong đợi, khi có quá nhiều bậc vĩ nhân từng xuất hiện trong lịch sử nhân loại, những vĩ nhân đã có hàng triệu người sùng bái như Socrates, Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca, Mohammed?

Đức Cha Fulton Sheen đã đưa ra ba tiêu chuẩn để giúp ta nhận biết ai là Đấng Cứu Thế đích thực được Thiên Chúa sai đến cho nhân loại.

Thứ nhất: Người ta phải được thông báo trước về sự xuất hiện của người ấy.

Thứ hai: Người ấy phải làm được những phép lạ để mọi người thấy rõ quyền năng của Thiên Chúa ở nơi người ấy.

Thứ ba: Những lời nói và việc làm của người không được đi ngược với lương tâm và lý trí tự nhiên của con người.

Tất cả những nhân vật vĩ đại nói trên đã không thỏa mãn tiêu chuẩn đầu tiên, chưa nói đến hai tiêu chuẩn sau.

Chỉ một mình Chúa Giêsu Kitô đủ cả ba tiêu chuẩn trên.

Sự ra đời, nơi sinh, hoàn cảnh tị nạn, các hoạt động, cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Giêsu đều đã được các ngôn sứ nói đến trước đó cả ngàn năm trong thời Cựu Ước.

Chúa Giêsu đã thực hiện rất nhiều phép lạ để chứng minh Ngài thực sự là Đấng Thiên Sai. Phép lạ cả thể và lớn lao nhất mà Ngài đã thực hiện chính là phép lạ phục sinh của chính Ngài.

Tất cả các giáo huấn của Ngài không đi ngược với lương tâm và lý trí tự nhiên của con người, nhưng đã hướng lòng trí con người đến những gì cao trọng nhất và đáng yêu nhất là chính Thiên Chúa. Chính Ngài đã thực hiện hoàn hảo tất cả những gì Ngài hướng dẫn kẻ khác.

Như vậy, Chúa Giêsu Kitô chính là Đấng Thiên Sai, Đấng duy nhất đáng chiếm hữu trọn vẹn tình yêu của trái tim nhân loại.

Đó chính là điều mà Tin Mừng hôm nay muốn nói với chúng ta.

Các môn đệ của Gioan được sai đến với Chúa Giêsu đã thay mặt toàn thể nhân loại qua mọi thời đại để hỏi Ngài câu hỏi quyết định sau: “Có phải Ngài là Đấng sẽ đến hay chúng tôi còn phải đợi người khác?” (Mt 11:3)

Chúa Giêsu đã tự xác nhận Ngài là Đấng Thiên Sai vì chính Ngài đã thực hiện những phép lạ và hoàn tất những lời tiên tri về Ngài như sau: “Các ông hãy tin lại cho Gioan mọi điều tai nghe mắt thấy: Mù được sáng mắt và què được đi, phung hủi được sạch, và điếc được nghe cùng kẻ chết sống lại, và ngườ nghèo khó được nghe báo Tin Mừng; và phúc cho người không bị vấp ngã vì Ta.”(Mt 11:4-6)

Đấng Thiên Sai mà nhân loại mong mỏi đợi chờ qua bao thế hệ đã đến với nhân loại và đã hoàn tất chương trình cứu độ của Thiên Chua dành cho chúng ta.

Đó là niềm vui của Hội Thánh suốt hơn hai ngàn năm nay, và Hội Thánh không ngừng mời gọi mọi người chia sẻ niềm vui ấy, nhất là trong mùa vọng.

Thật thích hợp khi Giáo Hội biểu lộ niềm vui lớn lao ấy qua việc gọi Chúa nhật tuần này là “Chúa Nhật Mừng Vui” với việc xử dụng màu hồng trong phụng vụ. Nhưng chúng ta chỉ cảm nhận niềm vui này cách trọn vẹn khi chúng ta có cùng một niềm tin của Hội Thánh nơi Chúa Kitô và chấp nhận bước vào liên hệ tình yêu thiết thân với Chúa Kitô, qua việc lắng nghe và thực hành tất cả những lời Chúa Kitô và Hội Thánh truyền dạy.

Đó chính là điều các thánh đã chọn để thực hiện trong cuộc đời các ngài.

Nếu không chấp nhận Chúa Giêsu Kitô là Đấng Thiên Sai, thì chúng ta còn đợi chờ ai?

Lạy Mẹ Maria là Đấng “làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy”, xin Mẹ hãy cầu cùng Chúa cho chúng con ngày thêm xác tín rằng chỉ một mình Chúa Giêsu Con Mẹ là Đấng Thiên Sai, Đấng duy nhất có thể đem lại niềm vui viên mãn và ý nghĩa trọn vẹn cho cuộc sống của chúng con. Xin Mẹ cầu cùng Chúa Giêsu cho chúng con luôn gắn bó với Người trong mọi nơi mọi lúc, và hân hoan làm chứng về Người cho những ai chưa nhận biết Người để niềm vui cứu độ được lan rộng nơi tất cả những tâm hồn thiện chí. Amen.

Về mục lục

.

KIÊN NHẪN ĐỢI CHỜ

Lm. Minh Nhiên

Một trong những điều chúng ta thường phải làm trong cuộc sống hôm nay khi đi xin việc, ghi danh đi học, gặp bác sĩ, đi máy bay… là điền đơn trả lời các câu hỏi về căn tính nghề nghiệp khả năng của mình và rồi kiên nhẫn ngồi đợi chờ.

Bài Tin mừng hôm nay đề cập đến chuyện thánh Gioan ngồi trong tù đợi chờ câu trả lời thánh nhân hỏi về căn tính của Chúa Giêsu: “Thầy có phải là Đấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng nào khác?”

Người ta bảo tìm ra căn tính của mình là một điều quan trọng trong cuộc sống. Nếu biết rõ mình là ai chúng ta sẽ bớt đi sự nóng nảy căng thẳng khó chịu với chính mình và với người khác. Chúng ta sẽ bình an, hạnh phúc, dễ sống hòa hợp hơn, và có thể bình tâm khám phá căn tính của người khác, nhờ đó đem đến sự thông cảm nơi gia đình, bạn bè, quen thuộc hay trong cộng đoàn, quốc gia.

Tìm ra căn tính của mình, của tha nhân, của Chúa Giêsu, đòi thời gian. Thời gian đó dài bằng của cuộc sống của mình, đòi kiên nhẫn. Tuy nhiên, câu hỏi của thánh Gioan phản ảnh cuộc sống con người: muốn biết rõ và biết rõ ngay.

Chuyện thần thoại Ấn Độ kể rằng: Shiva là vị thần tạo dựng muôn loài. Ngài sung sướng trong công việc tạo dựng với đôi tay của Ngài, nhưng dẫu là thần ngài không tránh khỏi sự nhàm chán. Shiva chán ngán những gì Ngài tạo dựng. Phải làm gì? Dễ dàng, Shiva phá hủy những gì đã tạo dựng và làm nên cái mới. Cái mới cũng lại dần trở nên quen thuộc và ngài lại phá hủy rồi bắt đầu lại. Tiến trình tạo dựng, tiêu hủy, tạo dựng, tiêu hủy vẫn tiếp diễn liên tục. Shiva là một vị thần không kiên nhẫn.

So sánh thần Shiva và Thiên Chúa, chúng ta thấy có sự tương phản rõ rệt. Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa kiên nhẫn. Dù con người sa ngã phạm tôi, Ngài không bất nhẫn hủy diệt. Ngài không chỉ tạo dựng nhưng còn hứa cứu chuộc. Lời hứa cứu chuộc có lẽ là điều khó nhất cho con người chúng ta hiểu được. Thiên Chúa đã đi vào lịch sử con người với điều kiện sống của con người để chỉ cho thấy tình yêu của Thiên Chúa và giá trị của con người. Ngài đến với thân phận con người dưới hình một em nhỏ. Ngài không đến như một vị vua oai hùng khiến chúng ta sợ hãi nhưng đến mong chờ chúng ta đáp trả tình yêu.

Chúng ta sống trong một xã hội đòi hỏi giải pháp nhanh chóng ngay lập tức cho mọi vấn đề. Nhanh hơn thì tốt hơn, người ta bảo chúng ta vậy. Và điều đòi hỏi trả lời nhanh chóng ngay lập tức này còn đi sâu cả vào trong lãnh vực tâm linh nữa. Chúng ta muốn Chúa Giêsu đến và đến nhanh. Chúng ta muốn được ơn cứu độ ngay mà không muốn đón nhận đau khổ do sự từ bỏ mình hay phải chờ đợi. Nếu Thiên Chúa không hòa hợp với chương trình thời gian tính của chúng ta, chúng ta cảm thấy mình bị lường gạt hay tệ hơn nữa Thiên Chúa đã quên chúng ta rồi.

Lá thư thánh Giacôbê nhắc nhở: Kiên nhẫn và chịu đựng trong gian khổ. Thiên Chúa đã đến và sẽ đến, thái độ đợi chờ của chúng ta sẽ như thế nào? Phải chăng chúng ta cố gắng tìm hiểu căn tính của Đấng Kitô, noi gương bắt chước Đấng đã đến đem niềm vui, niềm hy vọng đến cho những người không có hy vọng. Điều cần để ý là những người mù, què, câm, điếc, phong hủi là những người đã đang phải đối diện với những thách đố của cuộc sống, gặp những trở ngại cần vượt qua. Nói một cách chung, họ là những người đang sống được nhờ tình thương lòng bác ái quảng đại của người khác. Chúa đến đem hy vọng cho họ là những người không có niềm hy vọng.

Phải chăng chúng ta kiên nhẫn đợi chờ trong an bình hạnh phúc: Một đêm nọ hai vợ chồng đang ngủ bỗng họ cảm thấy mùi khói nhà cháy. Người chồng mau lẹ nhảy ra khỏi giường tìm hiểu lý do rồi vội vàng nói với người vợ là một góc nhà của họ đang bị cháy. Nói xong, anh cầm tay vợ và cả hai mò mẫm bò qua hành lang đầy khói. Sau một lúc vất vả mệt nhọc mới đến được cửa đàng trước. Khi qua được cửa, người chồng lấy làm lạ khi thấy trên mặt vợ một nụ cười mỉm. Anh kêu lên: “Nhà của mình đang bị cháy, và chúng ta may mắn thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Vậy điều gì có thể khiến em có thể cười được trong lúc này chứ?” Người vợ đáp: “Xin lỗi anh, em không thể nhịn không cười được, vì đây là đêm đầu tiên hai vợ chồng mình đi ra ngoài chung với nhau sau 5 năm lập gia đình.” Người vợ kiên nhẫn đợi chờ với tâm hồn an bình để có thể cười được khi gia đình gặp tai biến.

Sau cùng, một đàng phải kiên nhẫn đợi chờ, một đàng phải noi gương yêu thương của Đấng Kitô tích cực dấn thân: Don’t wait for a smile to be nice. Don’t wait to be loved, to love. Don’t wait for best job, to begin to work. Don’t wait to have a lot, to share a bit. Don’t wait for the fall, to remember the advice. Don’t for pain, to believe in prayer. Don’t wait to have time, to be able to serve. Don’t wait for any one else pain, to ask for apologies… neither separation to make it up. Don’t wait, because you don’t know how long it will take. Đừng chờ nột nụ cười rồi mới niềm nở. Đừng chờ được yêu rồi mới yêu. Đừng chờ cô đơn mới nhận thức được tình bạn. Đừng đợi việc làm thật tốt rồi mới bắt tay vào việc. Đừng đợi có nhiều mới chia sẻ một chút. Đừng đợi vấp ngã, mới nhớ lại lời khuyên nhủ. Đừng đợi đớn đau, mới tin vào lời nguyện cầu…. Đừng đợi có thời giờ, mới có thể phục vụ. Đừng đợi có thêm kẻ đau khổ, mới xin thứ tha. Cũng đừng đợi chia rẽ, mới giải hòa. Đừng đợi, vì bạn không biết sẽ phải chờ đến bao giờ (TLQ phỏng dịch)

Về mục lục

.

THÍNH THỊ

Trầm Thiên Thu

Chúng Nhân Khốn Khổ Cầu Xin Đức Chúa

Thiên Tử Nhân Lành Cứu Độ Sinh Linh

Trong khoảng mong chờ luôn có niềm hy vọng, bởi vì có hy vọng mới mong chờ – chờ đợi, đợi trông, trông mong, mong ngóng. Niềm hy vọng đó được chứng tỏ cả nội tại và ngoại tại, cũng ảnh hưởng tới các giác quan, đặc biệt là thính thị.

Thính giác liên quan tai, thị giác liên quan mắt. Nghe và nhìn thường hoạt động cùng nhau – vừa nghe vừa nhìn. Hai hoạt động đó liên quan hoạt động của não: nhận biết. Nhờ nghe và nhìn mà người ta khả dĩ phân biệt đúng – sai. Phải có cách nhìn đúng mới có thể nhận thức chính xác để có thể phân định mà hành động đúng đắn.

Mùa Vọng mang sắc tím, nỗi mong chờ luôn có “chất” buồn hoặc bâng khuâng. Màu tím nhạt dần khi hy vọng tăng lên, màu tím nhạt hóa thành màu hồng, niềm hy vọng càng sắc nét thì niềm vui nỗi mừng càng rõ ràng. Khoảng-mong-chờ-tâm-linh cũng có những dấu hiệu khả dĩ giúp nhận biết mình có thánh thiện hơn chút nào hay không, con-đường-lòng-mình đã được uốn thẳng và thung-lũng-tâm-hồn đã được san lấp hay chưa.

Thời gian mong chờ cũng có giới hạn, Chúa Giêsu càng lúc càng đến gần. Đất hạn hán sẽ thỏa khát khao khi trời đổ mưa. Ngôn sứ Isaia mời gọi: “Vui lên nào, hỡi sa mạc và đồng khô cỏ cháy, vùng đất hoang, hãy mừng rỡ trổ bông, hãy tưng bừng nở hoa như khóm huệ, và hân hoan múa nhảy reo hò. Sa mạc được tặng ban ánh huy hoàng của núi Li-băng, vẻ rực rỡ của núi Các-men và đồng bằng Sa-ron. Thiên hạ sẽ nhìn thấy ánh huy hoàng của Đức Chúa, và vẻ rực rỡ của Thiên Chúa chúng ta.” (Is 35:1-2) Chắc chắn chỉ có Mưa Giêsu mới làm cho chúng ta thỏa cơn khát vọng công chính.

Ai đã từng thất vọng mới thấy điều kỳ diệu của sự mãn nguyện, ai đã từng bị tù đày mới biết thế nào là tự do, ai đã từng đau khổ mới thấy quý hạnh phúc. Có một sức mạnh lạ lùng, người đang yếu bỗng thành khỏe – cả thể lý và tinh thần. Ngôn sứ Isaia động viên chúng ta “hãy làm cho những bàn tay rã rời nên mạnh mẽ, cho những đầu gối bủn rủn được vững vàng”, đồng thời cũng khuyến khích những kẻ nhát gan: “Can đảm lên, đừng sợ! Thiên Chúa của anh em đây rồi; sắp tới ngày báo phục, ngày Thiên Chúa thưởng công, phạt tội. Chính Người sẽ đến cứu anh em.” (Is 35:4) Thiên Chúa là Đấng Công Bình, là Vua Bình An, là Thần Chân Lý, và là Nguồn Cứu Độ duy nhất.

Chắc chắn sẽ có những dấu lạ khi Vương Quốc Ngài hiển trị, như ngôn sứ Isaia cho biết: “Mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được, kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò, nước vọt lên trong sa mạc, khe suối tuôn ra giữa vùng đất hoang vu.” (Is 35:5-6) Tất cả đều biến đổi, từ cây cỏ tới con người. Không có gì tuyệt vời như vậy, vì đó là thời đại của công bình và an lành.

Khi đoàn người nô lệ được giải thoát bước đi ồ ạt như thác đổ, ca khúc khải hoàn sẽ trổi lên vang dội, khuôn mặt nào cũng rạng rỡ: “Những người được Đức Chúa giải thoát sẽ trở về, tiến đến Sion giữa tiếng hò reo, mặt rạng rỡ niềm vui vĩnh cửu. Họ sẽ được hớn hở tươi cười, đau khổ và khóc than sẽ biến mất.” (Is 35:10) Niềm vui vỡ òa, hạnh phúc quá lớn, không khác gì được cải tử hoàn sinh vậy. Phàm ngôn không đủ từ ngữ để diễn tả sự sung sướng đó.

Đấng giải thoát cứu nguy chính là Thiên Chúa, là Đấng Vô Thủy Vô Chung, mọi người sẽ vui mừng vì thỏa nỗi mong chờ: “Người là Đấng tạo thành trời đất với biển khơi cùng muôn loài trong đó. Người là Đấng giữ lòng trung tín mãi muôn đời, xử công minh cho người bị áp bức, ban lương thực cho kẻ đói ăn. Chúa giải phóng những ai tù tội, Chúa mở mắt cho kẻ mù loà. Chúa cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên, Chúa yêu chuộng những người công chính.” (Tv 146:6-8) Khi tận mắt thấy những việc tốt đẹp và kỳ diệu như vậy, người ta dễ dàng nhận ra Ngài, chắc chắn chứ không thể sai lầm.

Thế nhưng Ngài là ai? Ngài chính là Thiên Chúa giàu Lòng Thương Xót, chan chứa Suối Yêu Thương, bao la Nguồn Hồng Ân, Ngài cũng là Đấng công minh chính trực, không vị nể bất cứ ai, nhưng luôn xót thương người đau khổ: “Chúa phù trợ những khách ngoại kiều, Người nâng đỡ cô nhi quả phụ, nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân. Chúa nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở, Sion hỡi, Chúa Trời ngươi hiển trị ngàn đời.” (Tv 146:9-10)

Là con người, ai cũng kinh nghiệm rằng cuộc đời là chuỗi ngày mong tháng chờ, là Mùa Vọng triền miên. Thật vậy, Thánh Giacôbê nhắn nhủ và so sánh rất cụ thể: “Thưa anh em, xin anh em cứ kiên nhẫn cho tới ngày Chúa quang lâm. Kìa xem nhà nông, họ kiên nhẫn chờ đợi cho đất trổ sinh hoa màu quý giá: họ phải đợi cả mưa đầu mùa lẫn mưa cuối mùa. Anh em cũng vậy, hãy kiên nhẫn và bền tâm vững chí, vì ngày Chúa quang lâm đã gần tới.” (Gc 5:7-8) Chắc chắn Ngài sẽ đến, nhưng không ai biết chính xác vào thời điểm nào, đừng suy diễn vớ vẩn, và cũng đừng để kẻ xấu lừa bịp.

Trong khi mong chờ, có điều cần lưu ý là người ta dễ ảo tưởng và xao lãng, cũng như lái xe mà không tập trung lái, cứ ngó bên này rồi nhìn bên kia, không là “ngáo đá” mà là “ngáo đời”, thế thì rất nguy hiểm! Do đó, sự kiên trì rất cần thiết, bởi vì lỡ sảy chân thì không kịp hối hận. Rất rõ ràng với lời của Thánh Giacôbê: “Thưa anh em, anh em ĐỪNG phàn nàn kêu trách lẫn nhau, để khỏi bị xét xử. Kìa Vị Thẩm Phán đang đứng ngoài cửa. Thưa anh em, về sức chịu đựng và lòng kiên nhẫn, anh em hãy NOI GƯƠNG các ngôn sứ là những vị đã nói nhân danh Chúa.” (Gc 5:9-10) Không phiền vì ai là biết buông bỏ, cố gắng tu thân để nên hoàn thiện.

Khoảng mong càng dài, khoảng chờ càng rộng, thời gian càng lâu thì chúng ta càng cần phải “định vị” khéo léo, biết cách NHÌN và cách NGHE để có thể NHẬN THỨC đúng về một sự kiện nào đó, để hữu ích cho cuộc đời trong khi sống “mùa vọng lữ hành” đằng đẵng, suốt ngày thâu đêm, quanh năm suốt tháng.

Ngày ấy, ông Gioan đang ngồi tù khi Chúa Giêsu xuất hiện công khai. Ông nghe biết những việc Đức Kitô làm, nhưng ông chưa dám xác định, thế nên ông liền sai môn đệ đến gặp Ngài và hỏi trực tiếp: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” (Mt 11:3) Đức Giêsu chẳng bảo là đúng hay sai, mà chỉ điềm nhiên nói: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.” (Mt 11:4-6) Ba mặt, một lời. Thế là rõ ràng rồi.

Chúa Giêsu có phong cách đặc biệt như thế, nghe ngang mà không ngược, nghe nghịch mà vẫn xuôi, nghe như chọc tức mà không thách thức, có vẻ như “bông đùa” thế đấy, kiểu như Ngài vẫn thường nói: “Ai có tai thì nghe.” (Mt 11:15; Mt 13:9; Mt 13:43; Mc 4:9; Mc 4:23; Mc 7:16; Lc 8:8; Lc 14:35) Và ở đây cũng thế thôi: “Ai có mắt thì nhìn, ai có óc thì nghĩ.” Người hiểu thì không cần nói, người không hiểu thì nói cũng bằng thừa. Đúng là độc đáo quá chừng!

Chắc là họ lùng bùng lỗ tai, nhức cái óc, nên họ bỏ đi. Và rồi Đức Giêsu bắt đầu nói một lèo với đám đông về ông-bụi-đời Gioan: “Anh em ra xem gì trong hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng? Thế thì anh em ra xem gì? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua. Thế thì anh em ra xem gì? Một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến.” (Mt 11:7-10) Ngài vừa hỏi vừa trả lời, vì Ngài biết chẳng có ai trả lời được.

Sau đó, Chúa Giêsu kết luận: “Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông.” (Mt 11:11) Ngài đề cao ông Gioan nhưng cũng đề cao những kẻ hèn mọn vì Nước Trời. Ông Gioan đã là lớn rồi, nhưng kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn lớn hơn ông Gioan. Một nghịch-lý-thuận vô cùng độc đáo và tuyệt vời. Đức khiêm nhường luôn được Ngài nhấn mạnh, bởi vì đức khiêm nhường là “nền tảng” của mọi nhân đức, là “viên đá góc tường” của tòa-nhà-nhân-đức, là “biệt dược” khả trị bách bệnh. Chắc hẳn những ai không có đức tin thì không thể nào hiểu được dạng nghịch-lý-thuận như thế.

Thật thú vị và thâm thúy với lời ca dao Việt Nam: “Thế gian lắm kẻ mơ màng, thấy người toét mắt tưởng vàng ăn ra.” Cách mỉa mai nhẹ nhàng mà nhói đau đối với những người bị “đau mắt” và “nhức tai” – mặc dù bề ngoài có vẻ vẫn bình thường. Con mắt bị mờ hoặc đổ ghèn thì làm sao thấy và hiểu được ẩn ý của Đức Kitô? Tai điếc thì làm sao nghe lời giáo huấn của Ngài? Đáng sợ nhất là những người cố ý không thấy, hoặc có thấy mà lại cố ý không chịu hiểu, có nghe thì vào tai này rồi ra tai kia. Con-mắt-đức-tin bị mù lòa và đôi-tai-đức-tin bị điếc như vậy thì thật là nguy hiểm, kể cả bộ-óc-tâm-linh cũng như mất trí hoặc điên loạn mất rồi!

Lạy Thiên Chúa, Đấng thấu suốt mọi sự, xin ban thêm trí thông minh để chúng con biết nghe điều nên nghe, biết nhìn cái phải nhìn, để có thể phân định và nhận ra Thánh Ý Ngài mà tuân theo. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

Về mục lục

.

ĐẤNG PHẢI ĐẾN, ĐÃ ĐẾN

PM. Cao Huy Hoàng

Thánh Gioan Tiền Hô không thể không lên tiếng cảnh cáo cách sống vô luân của Hêrôđê Antipas, con của Hêrôđê chung sống với nàng Hêrôđiađê, là vợ của Philipphê, anh ông ta. Và kết quả là ông bị giam trong tù.

Rõ ràng là Thánh Gioan không chỉ kêu gọi mọi người hãy sám hối, hãy dọn đường cho Chúa đến, mà còn chỉ rõ ra việc cần làm ngay, cần khắc phục chấn chỉnh ngay, mà không hề ngán sợ vòng ngục tù lao lý.

Việc Thánh Gioan ở tù, không phải là thất bại của vị ngôn sứ, nhưng là việc phải đến cho người dọn đường cho Chân Lý của Thiên Chúa. Thiên Chúa tôi luyện niềm tin và hy vọng của ngôn sứ của Ngài trong ngục tù trần gian.

Ngục tù trần gian có thể làm cho lòng người ta hoang mang nao núng, nhưng Thánh Gioan đã tìm được phương thế vượt qua điều ấy bằng cách sai các môn đệ mình gặp trực tiếp Chúa Giêsu. “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác? “Đức Giê-su trả lời: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11, 3-6)

Nghe thuật lại thế nầy, thì chắc chắn Thánh Gioan sẽ liên hệ ngay tới lời tiên báo của Tiên Tri Is 35,1-6a, 10, và như thế, niềm tin của Ông và các môn đệ được Thánh Kinh soi dẫn và củng cố: “Hãy nói với những kẻ nhát gan: “Can đảm lên, đừng sợ! Thiên Chúa của anh em đây rồi; sắp tới ngày báo phục, ngày Thiên Chúa thưởng công, phạt tội. Chính Người sẽ đến cứu anh em. Bấy giờ mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được. Bấy giờ kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò” (Is 35, 4-6)

Đấng Cứu Thế, “Đấng Phải Đến, Đã Đến” là ông Giêsu quá tầm thường như thế, là một con người thật, sống giữa con người và sẻ chia những nỗi bi thương nhất của con người. Ngài đã sẻ chia cách cụ thể là đến thăm dân người, và thi thố quyền năng và tình thương của Thiên Chúa qua các phép lạ. Ở nơi Ngài, chúng ta gặp được bình an, niềm vui, và hạnh phúc mà con người trần gian không ban tặng được. Đó phải là niềm tin của mỗi chúng ta trong những ngày Mừng Đón Chúa Giáng Sinh.

Bởi vậy, Chúa nhật 3 mùa vọng là Chúa Nhật Hồng, một màu hồng của niềm vui Giao Duyên Trời với Đất, niềm vui của Đôi Tân Hôn mà chàng rể là Chúa Giêsu Kitô và hiền thê của Ngài là Giáo Hội, là chúng ta, là mỗi người. Một màu hồng hạnh phúc.

Niềm hạnh phúc là được sống với Chúa Giêsu “Đấng Phải Đến, Đã Đến”. Và cụ thể niềm hạnh phúc ấy, là được sống trong Giáo Hội của Ngài, nơi đây, không chỉ là dung mạo, là khuôn mặt là hình ảnh của Chúa Giêsu mà còn là chính Chúa Giêsu đang tác động trong và qua Giáo Hội.

Bạn và tôi đều có thể đã có hơn một lần cảm nghiệm tuyệt vời về nỗi mong đợi “Đấng Cứu Thế” đến trong Giáo Hội, nơi các Bí tích, và trong cuộc đời

– Hơn một lần bạn và tôi cùng với cả bà con trong Giáo Xứ ước mong và khẩn xin có một Linh Mục đến để dâng Thánh Lễ, và ban các bí tích. Nhất là ở các Giáo xứ vùng sâu, vùng xa thì nỗi khát mong càng mãnh liệt hơn. Một lần như thế, cho chúng ta mỗi cảm thông sâu sắc với những nơi, đến hôm nay, vẫn còn một Mùa Vọng dài đôi ba chục năm, năm bảy chục năm mà chưa thấy bóng dáng “Đấng phải đến, đã đến”.

Hơn một lần, cảm xúc sung sướng trào dâng khi được đón Linh Mục Quản xứ Tiên khởi như đón chính “Đấng phải đến, đã đến”. Có người mừng đến rơi lệ vì cảm nghiệm được ơn Chúa đã thương đáp lại nỗi khát mong của dân Ngài. Và từ cảm nghiệm ấy, chúng ta sống được niềm vui của bao nhiêu giáo xứ, bao nhiêu con người thỏa niềm khao khát

– Gần hơn, thường xuyên hơn, chúng ta đã hồi hộp đợi chờ gặp được Đấng Cứu Thế nơi tòa Giải tội, để xưng thú tội lỗi, để quyết tâm sám hối, để được thứ tha và nhất là để tình yêu nên trọn vẹn.

– Và gần hơn nữa, lòng chúng ta thấy đói, thấy khát của ăn của uống Thường Sinh là chính Mình Máu Thánh Chúa Giêsu qua Bí Tích Thánh Thể.

– Hình ảnh “Đấng Phải Đến, Đã Đến” còn là hình ảnh của những con người đang đứng ngay trước cửa nhà mình, ngay trong cuộc sống thường ngày, nơi những người ta gặp, và nhất là nơi những người nghe và thực hiện công việc của Đấng Cứu Thế là yêu thương nhân loại. Cho dù là linh mục, tu sĩ hay giáo dân và kể cả những người bần cùng tội lỗi bệnh tật yếu đuối nhất trong nhân loại, khi đã đến với mỗi chúng ta, thì thiết nghĩ việc tiếp đón của chúng ta cũng phải đàng hoàng như tiếp đón “Đấng phải đến, đã đến”.

Một người bạn làm gương cho tôi việc nầy, là anh ta chọn cho mình câu “Đấng phải đến, đã đến” làm kim chỉ nam cho cuộc đời mình. Và điều đã xảy ra là anh ta luôn sẵn lòng lịch sự, yêu thương và sẻ chia với hết mọi người. Anh ta có một cuộc sống bình an, hạnh phúc, vì anh ta không những tiếp đón “đấng phải đến đã đến” mà còn sống tinh thần của Đấng Cứu Thế là đem lại niềm vui cho mọi người.

Gần đây, trong Giáo Hội và ngay tại Giáo Hội Việt nam, lại trổ ra những tâm thức nghi hoặc, hoang mang, bất ổn, vẫn đặt câu hỏi với Giáo Hội rằng “Ông có phải đấng phải đến hay chúng tôi còn phải đợi đấng khác”. Xảy ra điều ấy, vì có tư tưởng nghi hoặc rằng người này, người kia, không phải “Đấng Nhân Danh Chúa Mà Đến”, nhưng lại là nhân danh mình hoặc nhân danh nhà nước thế gian mà đến.

Đáng tiếc thay, vì thiếu cảnh giác hoặc vì chủ quan, đã tạo cơ hội cho những sự hỗn độn của trần gian len lõi vào bên trong nội thất của Giáo Hội để làm mất đi sự bình an hiệp nhất và cả sự thánh thiện cần có. Vì thế, thay vì “Đấng phải đến đã đến” đem niềm vui, niềm hy vọng cho dân Chúa thì “người đã đến” đem lại cho dân Chúa bao nỗi sầu thương thất vọng, thay vì giải thoát dân Chúa khỏi những bức bách thì lại đặt vào cổ dân đen những ách nặng nề.

Trong giai đoạn hỗn độn do những kịch bản của ma quỷ, làm chúng ta bán tín bán nghi về sự chân chính của sứ vụ mỗi người, tạo nên những thất vọng và mất kiên nhẫn, Thánh Giacôbê đã kịp thời gửi thông điệp đến chúng ta. “Thưa anh em, anh em đừng phàn nàn kêu trách lẫn nhau, để khỏi bị xét xử. Kìa Vị Thẩm Phán đang đứng ngoài cửa. Thưa anh em, về sức chịu đựng và lòng kiên nhẫn, anh em hãy noi gương các ngôn sứ là những vị đã nói nhân danh Chúa” (Jac 5, 9-10)

Lời Chúa chúa nhật thứ ba mùa vọng mang đến cho chúng ta niềm vui nhưng cũng nhắc nhở cho mỗi chúng ta phải trở thành một niềm vui cho người khác.

Niềm vui ấy là làm cho “Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng”.

Và cụ thể hơn trong toàn cảnh Việt Nam, niềm vui ấy là làm cho người xa rời nhà thờ trở về với Hội Thánh Chúa, người nghèo khổ bất hạnh có được niềm an ủi, được thăm viếng; người bệnh tật được giúp đỡ, người bị áp bức được đồng thanh tiếp cứu, công lý, sự thật được tôn trọng và nhất là nhân phẩm con cái của Thiên Chúa được bảo vệ đúng mức, không thể để cho thế lực gian tà chà đạp.

Lạy Chúa, chúng con được vui mừng tiếp đón Đấng Cứu Thế. Xin cho cuộc sống chúng con mang lại niềm vui cho mọi người. Amen.

Về mục lục

.

HÃY VUI LÊN

Giuse Vinhsơn Ngọc Biển

Trong cuộc sống, nếu chúng ta đang mong ngóng chờ đợi một điều gì đó đến với mình, và khi biết nó sắp đến, phải chăng lòng chúng ta lại chẳng rạo rực lên niềm vui và hy vọng? Hoặc khi chúng ta sắp hoàn tất một chế tác nào đó, tâm hồn luôn rộn lên niềm vui, bởi vì đứa con tinh thần của chúng ta sắp ra đời.

Cũng vậy, Mùa Vọng là mùa sống lại tinh thần chờ đợi Chúa đến lần thứ nhất của người Dothái khi xưa, đồng thời cũng diễn tả niềm mong đợi Chúa đến lần thứ hai trong ngày quang lâm của mỗi chúng ta. Nếu tính về mặt thời gian thực tại, hôm nay, chúng ta đã đi được 2/3 chặng đường của Mùa Vọng. Như vậy, gần đến đích, lẽ nào chúng ta lại không vui! Chính vì vậy, Chúa nhật hôm nay được gọi là Chúa Nhật Hồng. Hồng là bởi vì toàn bộ phụng vụ Lời Chúa toát lên niềm hy vọng trong vui tươi.

  1. Niềm vui và hy vọng qua các bài đọc Kinh Thánh

Bài đọc 1: Is 35,1-  6a, hôm nay gợi cho chúng ta hình ảnh về dân Israel đang phải sống trong cảnh sầu thương tang tóc. Bóng tối bao trùm cả vực thẳm. Dân chúng sinh ra lòng chán nản và thất vọng tột cùng. Trong lúc ấy, tiên tri Isaia xuất hiện và loan báo cho họ về viễn cảnh tương lai sắp đến, đồng thời khuyên bảo dân chúng hãy can đảm và vui tươi, vì: “Thiên Chúa anh em đây rồi; sắp tới ngày báo phục, ngày Thiên Chúa thưởng công, phạt tội. Chính Người sẽ đến cứu anh em”. Rồi ông cũng nói rõ: “Những người được Đức Chúa giải thoát sẽ trở về, tiến đến Sion giữa tiếng hò reo, mặt rạng rỡ niềm vui vĩnh cửu. Họ sẽ được hớn hở tươi cười, đau khổ và khóc than sẽ biến mất”. 

Chính lời loan báo đầy hy vọng này đã mang lại niềm tin cho dân vì họ sắp được giải thoát.

Sang bài đọc II: Gc 5,7-10, thánh Giacôbê cũng cùng mạch tư tưởng như tiên tri Isaia để khơi gợi lên trong lòng dân niềm hy vọng. Nhưng thánh Giacôbê thì nhấn mạnh khía cạnh kiên trì khi mời gọi họ hãy kiên nhẫn trong chờ đợi. Sự kiên nhẫn này được ví như người nông dân trồng lúa, phải vất vả chăm bón và chờ đợi ngày đơm bông kết hạt. Như vậy, để niềm vui được trọn vẹn, thánh nhân đã khuyên bảo tín hữu hãy sống hòa thuận trong vui tươi.

Sang bài Tin Mừng: Mt 11,2-11, thánh sử Mátthêu trình thuật việc ông Gioan Tẩy Giả sai các môn đệ của ông đến gặp Đức Giêsu và hỏi xem: “Thầy có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng nào khác”?

Khi sai môn đệ đi hỏi như thế, không phải Gioan không biết về Đấng Cứu Thế, tuy nhiên, có lẽ, ông muốn cho các môn đệ của mình gặp được niềm vui trọn vẹn, bởi vì vai trò của ông chỉ là người đưa đò, dẫn đường, chỉ lối, còn Đức Giêsu mới là con đường, là đích đến. Chính vì vậy, các môn đệ của ông sẽ không thể có được niềm vui và hy vọng trọn vẹn nếu cứ bám theo ông. Niềm vui của họ chỉ có thể tràn đầy khi đã gặp trực tiếp Đức Giêsu và chứng kiến những việc Ngài làm, đồng thời sẵn sàng đi theo Ngài.

Tuy nhiên, niềm vui và hạnh phúc thực sự chỉ có khi con người tự do xây dựng hay lựa chọn. Vì thế, khi được các môn đệ Gioan hỏi về sự xuất hiện của mình, Đức Giêsu đã không trả lời trực tiếp, mà Ngài đã chỉ cho các ông biết nhận ra Ngài qua các dấu chỉ như: người mù xem thấy, kẻ què bước đi, người cùi được sạch, kẻ chết chỗi dậy, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, đúng như lời tiên tri Isaia đã báo trước về Đấng Cứu Thế.

  1. Sứ điệp Lời Chúa

Trong cuộc sống của con người mọi thời, chúng ta không thể nào nói rằng: tôi không bao giờ buồn hay thất vọng; tôi không bao giờ đau khổ hay tủi nhục; tôi không bao giờ bị lung lạc niềm tin…!

Thực tế cho thấy: cuộc đời của chúng ta nhiều khi cũng bị rơi vào ngõ cụt đường cùng; cũng vẫn còn đó biết bao nhiêu bóng mây đen tối vây phủ tâm hồn; niềm tin cũng đã có lúc bị thách đố đến tột cùng. Những lúc như thế, phản ứng của chúng ta đôi khi cũng chẳng khác gì những người Dothái trước kia, đó là: hoang mang, thất vọng, trách móc, thách thức và mất đức tin. Chính vì vậy, nhiều khi chúng ta còn nghi ngờ luôn cả sự hiện hữu của Thiên Chúa nữa, bởi vì nếu Chúa hiện hữu, thì tại sao Chúa lại để cho tôi phải chịu cảnh bất công như vậy? Nếu Chúa có mặt thì tại sao Chúa lại không bảo vệ tôi khi tôi gặp phải thử thách gian truân? Và nếu Thiên Chúa là Đấng Giàu Lòng Thương Xót, thì tại sao Chúa lại để con cái của Ngài quằn quại trong khổ đau…???

Biết bao nhiêu thắc mắc được đặt ra trong sự đau khổ. Tuy nhiên, Lời Chúa hôm nay sẽ là niềm an ủi và là câu trả lời cho mỗi chúng ta. Nếu chúng ta kiên trì, tin tưởng, phó thác, sống hài hòa, nhân hậu và xót thương anh chị em mình, không than van phàn nàn hay phản kháng thì sẽ được đẹp lòng Thiên Chúa và được Người  thưởng công xứng đáng. Lúc đó, tâm tình của chúng ta cũng tràn ngập niềm vui như dân Israel khi xưa: “Những người được Đức Chúa giải thoát sẽ trở về, tiến đến Sion giữa tiếng hò reo, mặt rạng rỡ niềm vui vĩnh cửu. Họ sẽ được hớn hở tươi cười, đau khổ và khóc than sẽ biến mất”. 

  1. Sống sứ điệp Lời Chúa trong niềm vui

Ở đời, người ta không thích nói chuyện buồn. Ngược lại, niềm vui luôn luôn hấp dẫn. Đức Cố Hồng Y F.x. Nguyễn Văn Thuận cũng đã nói: “Một ông thánh buồn là một ông thánh đáng buồn”.

Thật vậy, là người Công Giáo, chúng ta không thể không có niềm vui trong mình, bởi lẽ: Vui vì được trở nên con cái Chúa; vui vì có Chúa là nguồn hạnh phúc; vui vì mọi biến cố trong cuộc đời đều được Chúa chúc lành; vui vì niềm hy vọng của chúng ta sẽ được ở bên Chúa trong Nước Trời.

Tuy nhiên, niềm vui ấy chỉ có thể có được, nếu chúng ta biết chấp nhận hy sinh. Biết vui lòng đón nhận cuộc sống hiện tại với những sự giới hạn của nó. Nhất là biết đón nhận thánh giá trong cuộc đời là những bổn phận, nghĩa vụ trong vui tươi phấn khởi. Nếu không biết hy sinh, chúng ta sẽ không bao giờ có được niềm vui chia sẻ, bởi vì: cho thì có phúc hơn là nhận. Nếu chúng ta không biết vui lòng đón nhận sự giới hạn của mình hay của mọi người, thì không bao giờ cảm thấy đủ để mà tạ ơn cũng như vui vẻ để dâng hiến, trao tặng! Và nếu chúng ta không biết vui lòng đón nhận những thánh giá Chúa gửi đến trong cuộc đời để giúp ta sám hối, sửa sai, nhằm thánh hóa để qua đó, thánh giá trở thành con đường đưa tới sự sống đời đời, thì chúng ta sẽ mãi mãi sống trong đau khổ, thất vọng và kéo lê thánh giá cuộc đời và biến nó thành khổ giá trong cuộc sống.

Vì vậy, Chúa Nhật Hồng hôm nay Giáo Hội mời gọi mỗi chúng ta hãy can đảm đón nhận cuộc sống này trong vui tươi. Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Ngài, Ngài sẽ ra tay. Vì thế, hãy an tâm, đừng sợ, kiên nhẫn chờ đợi trong vui tươi, Chúa sẽ đến giải thoát chúng ta và lúc đó niềm hoan lạc chúng ta sẽ được tràn đầy.

Ước mong sao trong cuộc đời và qua mọi biến cố, chúng ta luôn có Chúa đồng hành và nâng đỡ, để dù trong cảnh huống nào đi nữa, đầu và tâm hồn chúng ta vẫn ngẩng cao và hướng về phía trước trong niềm vui và hy vọng.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa là niềm vui và hy vọng cho tất cả chúng con. Xin Chúa ban cho chúng con luôn biết gắn bó cuộc đời của mỗi người nơi Chúa, để chúng con được sống trong tình yêu của Chúa. Đồng thời biết kiên tâm, vững dạ trong sự phó thác, để cuối cuộc đời, chúng con được ở bên Chúa là niềm vui và hạnh phúc đích thực của chúng con. Amen.

Về mục lục

.

CÂU HỎI CỦA GIOAN TẨY GIẢ-CHỨNG TỪ CỦA CHÚA GIÊSU

CÂU HỎI GỢI Ý

1-. Làm sao giải thích câu hỏi của Gioan (11, 2- 3.)? Gioan đã nghe biết các “việc ” gì của Chúa Kitô (11, 2) ? Phải chăng ông nghi ngờ, và nghi ngờ về điểm nào? Chúa Giêsu đã đưa ra lý chứng ngôn sứ nào để trả lời ông (11, 4-6) ?

2-. Câu hỏi của Gioan (11, 3) được đặt trong thế giới chúng ta và trong Giáo Hội hiện nay như thế nào?

3-. Chúa Giêsu đặt Gioan Tẩy giả trong tương quan thế nào với mình (11, 7- 15)? Sứ vụ của Gioan Tẩy giả liên tục hay đứt đoạn với trào lưu ngôn sứ của Cựu ước? Sự cao cả của Gioan nằm ở chỗ nào (c. 11) ?

4-. Các cộng đoàn Ki-tô hữu đầu tiên, vào thời Mt, đã gặp nhiều lôi thôi với đồ đệ của Gioan Tẩy giả (x.Cv 19,1-7 chẳng hạn), với “người phái Gioan”, những kẻ cứ mải lặp lại câu hỏi của thầy họ: Đấng Thiên sai mà thầy loan báo có đúng là Chúa Giêsu không? Vấn đề thành ra còn mang tính cách thời sự khi Mt viết Tin Mừng, cũng như đối với chúng ta ngày nay: Phải chăng chúng ta không là người phái Gioan một cách nào đó khi còn mong chờ một Đấng Thiên sai hùng mạnh khác đến thay đổi thế giới và canh tân mọi cơ cấu, khi chẳng dám tin rằng Chúa Giêsu thật sự đã hoàn tất mọi sự cho chúng ta? Và như vậy là Chúa Giêsu đã bị đặt lại vấn đề, vừa do câu hỏi của Gioan, vừa do thắc mắc của người đời, xưa cũng như nay.

5-. Chẳng có người nào được Chúa Giêsu đề cập đến cách tỉ mỉ hơn Gioan Tẩy giả. Một diễn từ rất sôi nổi, với những câu hỏi ngắn móc nối nhau, tất cả đều cho thấy Gioan là một đại ngôn sứ. Những điều Chúa Giêsu nói không chỉ mặc khải ý nghĩa vai trò của Gioan Tẩy giả trong diễn tiến lịch sử cứu rỗi, mà còn cho thấy Gioan đã gây ấn tượng sâu xa cho Người đến chừng nào.

6-. Câu hỏi mà vị Tẩy giả nhờ môn đồ đặt ra là một câu hỏi đích thực, trang nghiêm. Mt chứng minh điều đó bằng cách cho biết Gioan hiện bị cầm tù, sống xa cách mọi người trong chốn lao lung. Ông đã nghe nói về các việc Chúa Giêsu làm, nhưng không tài nào giải thích được. Phải chăng ông đã chờ đợi những “việc” thuộc lại khác, như một phong trào quần chúng bộc phát, một cuộc phán xét công thẳng trên các kẻ thù của Thiên Chúa chẳng hạn? Thế nhưng cuộc phán xét đầy sóng gió mà chính Gioan đã cảm thấy được vài dấu hiệu đầu tiên (khi Chúa Giêsu chịu phép rửa) lại đã chẳng xảy đến.

Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp không làm chứng về mình. Tuy nhiên, Người đã có thể đáp lại bằng một tiếng “phải” rõ ràng, đánh tan mọi nghi ngờ, như khi đứng tước vị thượng tế sau này. Song ở đây, Người tránh làm vậy, đồng thời lại chỉ cho Gioan con đường phải theo, con đường của mọi môn đồ: đó là biết nhìn các dấu hiệu và biết giải thích, biết nhận ra chúng như là “công việc” của Đấng Thiên sai. Đấy là con đường của đức tin, khởi hành từ những hậu quả hữu hình để đi đến chỗ khám phá Chúa Giêsu. Đó là con đường đi từ tối tăm đến ánh sáng, từ dấu chỉ đến thực tại.

Nếu biết nhìn các công việc của Chúa Giêsu, nhất là nếu có khả năng liên kết chúng, ta sẽ chẳng chút nghi ngờ. Chính Chúa Giê-su đã chỉ con đường đức tin bằng một câu tuyên bố lấy lại một đoạn ngôn sứ Isaia: “Người mù được thấy” (Is 35, 5- 6 ; 61, 1). Thần khí xức dầu cho Đấng được chọn đã ban cho Người khả năng thực hiện mọi kỳ công đó. Nhưng ta không được dừng lại nơi một trong các việc ấy, chỉ nhìn phép lạ này mà không thấy phép lạ kia, chỉ lắng nghe lời nói mà chẳng quan tâm đến việc làm. Không, tất cả đềụ bộc lộ khuôn mặt đích thực của Đấng Thiên sai. Chúa Giêsu không chỉ là một nhà giảng thuyết lôi cuốn được quần chúng hay một tay chuyên làm phép lạ. Người đã chẳng chữa lành như một y sĩ mà thôi, song còn phục sinh được kẻ chết. Chính loàn thể công việc mới cho phép ta quyết đoán chắc chắn Người là Đấng Được Xức Dầu của Thiên Chúa đang hiện diện và hành động, Đấng mà Isaia đã từng loan báo.

7-. Mới thoạt nghe, câu trả lời của Chúa Giêsu làm ta thất vọng, vì hình như nó chẳng trực tiếp mặc khải con người của Người. Thật ra nó bắt Gioan nhìn vào chính Chúa Giêsu: “Phúc cho người không phải vấp ngã vì Ta” (11 ,6) vì đã mách cho vị Tẩy giả biết một “chân phúc” mà ông sẽ khám phá ra ý nghĩa qua chính cuộc đời của ông. Tin rằng các dấu hiệu thiên sai vừa được nhắc lại cho ông (11, 5) đã thật sự được hoàn tất trong con người tầm thường, khiêm tốn của Chúa Giêsu, điều đó đòi hỏi một sự từ bỏ bản thân hoàn toàn, từ bỏ cho đến chết. Và đấy là điều mà Gioan thấy mình đang được kêu mời thực hiện.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

“Bấy giờ Gioan, đang ở trong tù … “: Gioan đã chẳng sợ phê bình hạnh kiểm của Hêrôđê Antipas, kẻ đang sống với chị dâu. Để khóa miệng ông, vị tiểu vương đã giam ông trong pháo lũy Makêron (lời chứng của F.Josèphe, Ant.Jud. XVIII, 5,2) nằm trên bờ đông Từ Hải. Tuy nhiên nhà vua vẫn đối xử tử tế với tù nhân và cho phép ông gặp môn đồ. Chính Gioan đã nhờ họ đi hỏi Chúa Giêsu.

“Ngài có phải là Đấng sẽ đến hay không?” Khi nghe câu hỏi ấy, độc giả Tin Mừng không thể không nhớ lại lời Gioan đã nói về Chúa Giêsu: “Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi” (3, 11). Câu nói này là âm vang của Is 40, sấm ngôn mà Gioan cho là lời định nghĩa về sứ mạng riêng của mình: “Tiếng của người hô trong sa mạc: Hãy dọn đường cho Chúa, hãy sửa cho thẳng lối Thiên Chúa ta” (Is 40, 3 ; x. Mt 3, 3) ; phần tiếp trong sấm ngôn ấy có loan báo: “Này đây Chúa đến với uy hùng dũng lực và cánh tay Ngài sẽ thống trị” (c.10). Như thế sức mạnh là đặc điểm của “Đấng sẽ đến“.

Về tính chất của sức mạnh sắp biểu dương ấy, Gioan đã có những ý tưởng rất chính xác. Trước tiên ông so sánh nó với sức mạnh của người nông phu cầm rìu đốn ngã thân cây không sinh trái và ném vào lửa (3, 10). Ông cũng minh giải nó bằng hình ảnh người nông phu quét sạch sân lúa, thiêu đốt những gì không phải là giống tốt (c.12). Gioan kêu mời các tội nhân hối cải và ban cho họ phép rửa tha tội, mà họ phải mau mấn chịu lấy trước khi xuất hiện Đấng sẽ làm phép rửa bằng Thần khí và lửa, một phép rửa hủy diệt (c. 11). Nói cách khác, Gioan thấy “Đấng sẽ đến” như là một Thẩm phán đáng sợ lấy lửa chẳng hề tắt mà tiêu trừ mọi tội nhân không ăn năn hối cải.

Ta cũng đi đến một kết luận như vậy khi khởi từ Ml 3,1, một bản văn cũng được dùng để định nghĩa sứ mệnh Gioan (x Mt 11, 10): “Này Ta sai sứ giả Ta, và nó sẽ dọn đường trước mặt Ta“. Tiếp theo sứ giả, Chúa sẽ thân hành đến: “Ai chịu đựng nổi ngày Người đến? Ai đứng vững được khi Người hiện ra? Vì người đến như lửa của thợ luyện kim, như thuốc tẩy của người giặt ủi người sẽ ngự mà luyện kim, mà lọc bạc; Người sẽ thanh luyện con cái Lêvi …” (Ml 3, 2-3). Hình ảnh có thay đổi đấy nhưng bao giờ cũng vẫn là cuộc phán xét thanh luyện sẽ xô nhào tội nhân vào lửa.

Vì thế Gioan tự coi mình như có trách nhiệm chuẩn bị Israel đón chờ cuộc phán xét khủng khiếp; gương sáng và lời nói của ông chỉ muốn đưa tội nhân hối cải và thoát khỏi hình phạt đời đời đang đe dọa họ. Một khi Đấng phải đến xuất hiện, thì không còn giờ tránh thoát sức mạnh hủy diệt của Người. Đàng khác, Gioan cũng ý thức vai trò phụ tá của mình đối với Chúa Giêsu. Song những gì ông biết về cách thức Chúa Giêsu thi hành sứ vụ Người hoàn toàn không tương ứng với ý tưởng ông có về cuộc phán xét sẽ phải xảy ra. Do đó mà câu hỏi của ông đầy vẻ ngạc nhiên.

Hơn nữa, có một tương quan hiện sinh giữa câu hỏi của vị Tẩy giả và thân phận tù đày của ông: Đấng Thiên sai mong chờ sẽ giải cứu những tù nhân, nhất là các tù nhân đức tin (Lc 4, 18 ; Is 61, 1); phải chăng ông không là người đầu tiên được giải cứu?

Các ông hãy đi tin lại cho Gioan mọi điều tai nghe mắt thấy”: Gioan biết các phép lạ Chúa Giêsu làm (c.2). Và Chúa Giêsu bảo ông hãy nhìn vào phép lạ. Đâu là sức mạnh của lập luận? Theo quan niệm bấy giờ, dựa trên các sách ngoại thư và truyền thống giáo sĩ do thái, thì ơn làm phép lạ tự nó không phải là một trong những đặc điểm của Đấng Thiên sai. Như thế Gioan có thể nghĩ rằng Chúa Giêsu không đóng vai trò và nhiệm vụ Đấng ấy. Thế nhưng Chúa Giêsu kêu mời Gioan suy nghĩ về những phép lạ đó bằng cách thu gộp chúng trong những từ ngữ gợi lại các sấm ngôn thiên sai. Nên Người đã chu toàn ít ra là một phần phận sự của Đấng Thiên sai vậy.

Chúa Giêsu không phán trực tiếp và với uy quyền: “Ta là Đấng Thiên sai”, song kêu mời Gioan hãy cứu xét những gì mà các sứ giả của ông có thể thấy và nghe, tức là công việc và lời nói của Chúa Giêsu: đấy là con đường duy nhất để đi tới đức tin. Thành ra những kẻ không tin và người mù và điếc (23, 16), chẳng có khả năng giải thích các dấu hiệu Chúa Giêsu ban ra (13, 13). Bởi vậy Chúa Giê-su có thể bảo với những ai theo Người: “Mắt các ngươi có phúc vì thấy, tai các ngươi có phúc vì nghe” (13, 16).

Người mù xem thấy … “: Câu Chúa Giêsu trả lời không quy chiếu một bản văn nào nhất định (trừ  Is  61, 1) cho bằng quy chiếu toàn bộ các lời tuyên sấm mà sách Isaia đã dùng để mô tả các việc thiện của thời thiên sai … hơn là các hình phạt tiên báo. Gioan sẽ nhận ra lối ám chỉ đó. Ông sẽ hiểu rằng Chúa Giêsu không chỉ muốn quả quyết Người là Đấng Thiên sai song còn đưa ra bằng chứng: hành động hào hiệp của Người thực hiện những gì mà Isaia đã loan báo về thời thiên sai. Nhưng đồng thời – và đây hẳn là cao điểm của câu trả lời – Chúa Giêsu kín đáo kêu mời Gioan quan niệm vai trò Đấng Thiên sai dưới một khía cạnh hơi khác khía cạnh mà ông đã lưu tâm. Khía cạnh mới này thiếu hẳn tính chất uy hùng đến nỗi trở thành một cơ hội nghi ngờ cũng như tin tưởng. Đấy là điều mà câu tiếp minh nhiên khẳng định.

Phúc cho ngươi không phải vấp phạm vì Ta“. Theo nghĩa đầu tiên, “cớ vấp phạm” trong hy ngữ ám chỉ việc giăng bẫy, rồi được áp dụng cho chính cái bẫy, theo nghĩa đen và nghĩa bóng. Trong bản Kinh Thánh Hy-lạp, nghĩa của nó còn rộng hơn nữa, và được dùng để nói về bất cứ chướng ngại nào trên đường, đặc biệt hòn đá vấp chân. Vậy “cớ vấp phạm” là tất cả những gì có thể gây ra một sự vấp ngã, và nói theo ẩn dụ, là nguyên nhân của một sa ngã luân lý hay tôn giáo. Trong Tin Mừng, thường có đối ngẫu giữa “vấp phạm” và “tin”: kẻ không chấp nhận tin hoặc suy yếu đức tin sẽ phải “vấp phạm”. Chúa Giêsu phát biểu cách tổng quát: “Phúc cho người không phải vấp phạm vì Ta”. Người chẳng nhắm Gioan trực tiếp, nhưng rõ ràng là lời ấy nhắc nhở ông vì nằm trong sứ điệp dành cho ông. Người tiên đoán câu Người trả lời cho Gioan có thể làm ông thất vọng. Giữa quan niệm của Gioan về Đấng Thiên sai và quan niệm của Người, đối nghịch không phải nhỏ! Gioan có đi đến chỗ chấp nhận được mặc khải về tình yêu bày tỏ trong khiêm cung và yếu đuối chăng? Ta đừng ngạc nhiên về thử thách đang chờ đợi ông. Hãy nhớ lại phản ứng của Phêrô tại Césarée Philipphê (16, 22- 23) hoặc phản ứng của Gioan khi Thiên Chúa tha thứ cho thành Ninivê (Gn 4).

“Các người đi ra sa mạc để coi cái gì? cây sậy rung trước gió ư.”. “Ba lần, Chúa Giêsu hỏi tại sao thiên hạ đi ra sa mạc? Việc chỉ nơi chốn có vẻ mơ hồ. Nói đến sông Giođan không rõ hơn.  Nhưng việc nhắc đến sa mạc dễ gợi lên ngay hình ảnh con người xuất hiện như  “tiếng kêu trong sa mạc” (3, 3). Chính Gioan mà người ta nghĩ tới ngay từ đầu; con người của ông làm nổi bật các câu hỏi liên hệ tới ông.

Thiên hạ không đi vào sa mạc để nhìn xem một cây sậy phất phơ trước gió. Chắc hẳn Chúa Giêsu muốn đặt đối nghịch cây sậy với sự kiên cố bất lay chuyển của Gioan. Đức tính này làm cho Gioan gần giống với ngôn sứ Giêrêmia (Gr 1, 17-19), một con người bất khuất trước mọi sự nhờ luôn ý thức sứ mệnh thần linh của mình và nhờ được sức mạnh Thánh Thần Thiên Chúa nâng đỡ. Tính bất khuất ấy của Gioan là nơi đầu tiên nâng ông vượt trên thiên hạ và đặc trưng sự cao cả của ông.

Để thấy một ngôn sứ ư? Phải! Ta bảo các người … “. Dòng dõi đứt đoạn của các ngôn sứ (1 Mcb 9, 27 ; Tv 74,9) đã được nối lại với Gioan Tay giả. Và xét cho cùng, đó chính là cái lôi kéo mọi người đến với ông: Thiên Chúa lại bắt đầu phán bằng lời ngôn sứ, như Ngài đã từng làm trong bao thế kỷ qua tất cả lịch sử Israel. Những kẻ nghe Chúa Giêsu đều biết mọi điều ấy; lời của Người hẳn âm vang sâu xa trong tâm hồn họ. Nhưng Người còn nói hơn thế nữa.

Và còn hơn ngôn sứ nữa”. Dân chúng đã nhận ra Gioan là một ngôn sứ; nhiều người còn coi ông hơn cả một ngôn sứ, nghĩa là chính Đấng Thiên sai (Lc 3, 15 ; Ga 1, 20 ; Cv 13, 25) ; dĩ nhiên, ông lớn hơn một ngôn sứ, nhưng theo ý nghĩa khác: ông là vị Tiền hô. Đấng mà mọi ngôn sứ trước đây loan báo, thì Gioan đã thấy và đã chỉ cho biết: ông vừa đứng ở tận điểm và cao điểm thời kỳ đoan hứa, vừa đứng nơi ngưỡng của thời đại mới, thời đại Nước Trời.

“Kẻ nhỏ nhất trong Nước trời lại lớn hơn ông”: Một câu khó hiểu từng phát sinh nhiều lối giải thích khác nhau. Một số nhà chú giải, trong đó có các Giáo phụ, cho rằng “kẻ nhỏ nhất” là chính Chúa Giêsu. Văn mạch quả thật có trình bày Chúa Giêsu như là “bạn của người thu thuế và tội lỗi ” (c. 19), Người có được đồng hóa một cách nào đó với các “kẻ nhỏ” ấy và nhờ vậy khác với Gioan (F.Dibelius, F.Hanck, W.Grundmann …). Nhưng lối giải thích này vấp phải nhiều khó khăn. Khó khăn lớn nhất là ta không thấy làm sao, mặc dầu đã cố ý tự hạ, Chúa Giêsu lại có thể tuyên bố mình là “kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời”. Thật vậy, Chúa Giêsu không đi vào trong một Nước Trời đã được thành hình, nhưng là loan báo và thiết lập Nước ấy trong chính con người của mình.

Đúng ra, có lẽ không nên đem Chúa Giêsu vào mà so sánh. “Kẻ nhỏ nhất trong nước Trời” chỉ một trong những kẻ đã chấp nhận sứ điệp của Người. Tuy nhiên cần phải lưu ý. Khó mà cho rằng kẻ kém nhất trong họ về sự thánh thiện lại trổi vượt Gioan trong phương diện ấy: như thế là bảo Chúa Giêsu đã phân biệt sự cao cả của sứ mệnh thần linh (loan báo Đấng Thiên sai) và sự toàn thiện của người được trao sứ mệnh (sự thánh thiện riêng của Gioan), một lối phân biệt chẳng phù hợp tí nào với tư tướng Kinh Thánh: cao cả nhờ sứ mệnh được ủy thác, Gioan không thể bị xem như thua kém người môn đồ tồi nhất của Chúa Kitô về phương diện trung thành được. Thật ra ở đây không cố ý nói đến sự thánh thiện cá nhân, nhưng, như văn mạch cho thấy, là nói đến hai trật tự, hai kinh nghiệm, hai thiên chức. Gioan đã xuất hiện như một ngôn sứ cao cả vào lúc kết thúc thời gian hứa hẹn và chờ đợi, song ông vẫn chỉ là một tiền hô; sau ông, khi Chúa Giêsu xuất hiện, là bắt đầu thời đại cứu rỗi thiên sai mới mẻ và chung cục. Thuộc vào thời đại ấy là một số phận may mắn, vượt xa những gì đi trước. Thành ra, kẻ trông nhỏ nhất giữa các phần tử nước Trời lại được cao cả hơn những ai thuộc về các thời trước vậy.

KẾT LUẬN

Tư tưởng thần học của đoạn văn này không dừng lại nơi Gioan Tẩy giả song còn đi xa hơn. Đi xa hơn trước tiên bằng cách đối chọi sự cao cả trần gian với sự cao cả của Nước Trời sẽ đến. Sau đó bằng cách cho thấy: vai trò của vị Tiền hô được soi chiếu nhờ phẩm cách thần linh của Chúa Giêsu, Đấng mà ông đi trước dọn đường. Phận sự của Gioan, và của các thánh nói chung, không phải là làm người ta chú ý đến mình, nhưng là dẫn đưa tới Chúa, Đấng họ đang làm chứng giữa loài người.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1-. Câu hỏi môn đồ Gioan đặt ra cũng thượng được đặt do mọi thế hệ muốn đi tìm một thứ thiên sai chủ nghĩa mới, có tính cách triết học, chính trị hoặc xã hội. Đó là câu hỏi đặt ra do những ai mà đức tin trở nên do dự, mỏng dòn, do những ai thỉnh thoảng đi tìm trong các khuynh hướng tôn giáo khác (chiêu hồn, dị đoan, giáo phái) một câu trả lời cho bao mối lo âu của họ. Câu trả lời duy nhất nằm trong mặc khải về một Thiên Chúa nhân từ hằng ngỏ lời cách riêng với những kẻ nghèo nàn, khốn khổ để mang lại cho họ Tin Mừng cứu rỗi.

2-. “Người què được đi”: Chúa Giêsu đem lại cho người lảo đảo sự vững lòng và sức mạnh, đặt họ lại trên con đường ngay chính. Giáo Hội cũng không ngừng trả lại cho con người khả năng bước đi trong con đường của Chúa Kitô để tiến đến sự sống sung mãn.

3-. “Người mù được thấy“, họ không còn phải tìm một Thiên Chúa vô danh cách mò mẫm trong bóng tối nữa (Cv 17, 23- 28). Những kẻ sống nhờ Chúa Kitô là những người “nhìn thấy ánh sáng chan hòa” (Mt 4, 16) sau khi đã bước đi trong u tối.

4-. “Kẻ phong cùi được sạch, người chết sống lại”: Không ai bị loại ra khỏi Nước Trời: cho dù bị tội ác và thất vọng bôi bẩn hay giết chết, người ta vẫn có thể sống lại nhờ đức tin vào Đức Kitô, Đấng nâng dậy và tha thứ, chữa lành và tác sinh.

5-. Sứ mạng của Ki-tô hữu giống với sứ mạng của vị Tiền hô: chuẩn bị các tâm hồn sẵn sàng đón Chúa Kitô. Và như Gioan Tẩy giả, Kitô hữu sẽ được kêu mời chịu đau khổ vì đức tin.

6-. Giáo Hội tiếp tục công việc của Chúa Giêsu. Nhờ Giáo Hội, “kẻ nghèo, tức chúng ta, “kẻ nghèo của Đức Giavê, được nghe loan báo Tin Mừng”, được phụng vụ Lời Chúa, bài giảng, giáo lý và giáo huấn của các vị lãnh đạo Giáo hội dạy dỗ cho. Chính Giáo Hội cũng chữa lành các tâm hồn và không ngừng bao bọc nỗi khổ thể xác của con cái mình bằng việc thực thi bác ái, giáng phúc thi ân.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT 3 MÙA VỌNG_A

Lm. Inhaxio Hồ Thông

Hằng năm vào Chúa Nhật III Mùa Vọng, Phụng Vụ Lời Chúa mời gọi người Ki tô hữu hãy vui lên vì đại lễ Giáng Sinh sắp đến gần rồi.

Is 35: 1-10

Bài Đọc I, trích sách I-sai-a, mô tả niềm hân hoan mà những người lưu đày tại Ba-by-lon sắp cảm thấy giờ giải thoát của họ sắp đến. Cùng chung niềm vui với họ, thiên nhiên và sa mạc, nơi bước chân của họ đi qua, sẽ tưng bừng nở hoa.

Gc 5: 7-10

Trong Thư gửi cho các tín hữu đang phải chịu những thử thách trăm chiều, thánh Gia-cô-bê khuyên họ hãy kiên nhẫn, thậm chí hãy vui lên, “vì Chúa sắp đến rồi”.

Mt 11: 2-11

Tin Mừng thuật lại việc Gioan Tẩy Giả trong cảnh tù ngục đã sai các môn đệ của mình đến hỏi Chúa Giê-su có phải Ngài là Đấng Mê-si-a hay không. Chúa Giê-su đáp lại bằng cách nhấn mạnh rằng Tin Mừng được loan báo cho những người nghèo hèn và bất hạnh: người mù được thấy, người điếc được nghe, người phong hủi được chữa lành. Chúa Giê-su khai mạc triều đại tình yêu và tha thứ.

BÀI ĐỌC I (Is 35: 1-10)

Như chúng ta đã biết, tác phẩm I-sai-a không là tác phẩm của một tác giả, nhưng công trình sưu tập ba tác phẩm của ba tác giả thuộc ba thời kỳ khác nhau: trước hết, tác phẩm thứ nhất, từ chương 1 đến chương 39, là tác phẩm của chính vị ngôn sứ I-sai-a tiền lưu đày vào thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên; tiếp đó, tác phẩm thứ hai, từ chương 40 đến chương 55, là tác phẩm của một vị ngôn sứ thời lưu đày, biệt danh là ngôn sứ I-sai đệ nhị; sau cùng, tác phẩm thứ ba, từ chương 56 đến chương 66, là tác phẩm của vị ngôn sứ hậu lưu đày, biệt danh ngôn sứ I-sai-a đệ tam.

Tuy nhiên, chương 35 thì ngoại lệ: chương này có thời biểu muộn thời hơn và qua chủ đề và cung giọng của nó gần với tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị hơn, vị ngôn sứ thời lưu đày Ba-by-lon, ông an ủi đồng bào của ông và báo trước cho họ biết cuộc giải phóng gần kề (giữa năm 550 và 540 trước Công Nguyên). Chính xác đây là chủ đề của đoạn văn mà Phụng Vụ Chúa Nhật III Mùa Vọng mời gọi chúng ta suy gẫm hôm nay. Bị giam cầm gần một nữa thế kỷ đã qua ở Ba-by-lon, những người lưu đày cứ ngở rằng mình sẽ gửi nắm xương tàn ở đất khách quê người. Ấy vậy, vị ngôn sứ loan tin rằng Đức Chúa sắp giải thoát họ và dẫn đưa họ trở về quê cha đất tổ.

  1. Những viễn cảnh diệu kỳ

Để từ Ba-by-lon trở về Giê-ru-sa-lem, những người lưu đày sẽ phải băng qua sa mạc Xy-ri. Đức Chúa sẽ thực hiện những điều kỳ diệu thuận tiện cho cuộc xuất hành mới này, vì:

“Hãy nói với những kẻ nhát gan: ‘Can đảm lên, đừng sợ!”

Thiên Chúa của anh em đây rồi; sắp tới ngày báo phục,

ngày Thiên Chúa thưởng công, phạt tội.

Chính Người sẽ đến cứu anh em” (35: 4).

Qua bài thi ca, theo văn phong phóng dụ, đầy những hình ảnh thi vị, vị ngôn sứ mô tả sa mạc không còn là vùng đất hoang vu khô cằn nắng cháy, nhưng tưng bừng nở hoa, rợp bóng mát của những cây cối tốt tươi như rừng Li-băng, và phản chiếu vẻ rực rỡ của núi Các-men và đồng bằng Sa-ron (đồng bằng Pa-lét-tin vốn nổi tiếng là phì nhiêu và nhiều hoa hồng tuyệt đẹp). Cuộc hồi hương trở về Thành Thánh quá phấn khởi đến mức người mù sẽ được thấy, người điếc sẽ được nghe, người câm sẽ kêu lên trong niềm vui vỡ òa.

  1. Dấu chỉ của việc Thiên Chúa thứ tha

Trước tiên, chúng ta nhận ra chủ đề Kinh Thánh về sự liên đới của thiên nhiên với vận mệnh con người. Mặt đất liên kết mình với niềm hoan hỉ của đoàn người hồi hương. Ngoài ra, những tật nguyền thể lý sẽ biến mất. Chúng ta biết rằng vào thời xa xưa này – thậm chí vào thời Chúa Giê-su (Ga 9: 1-3) – những tật nguyền thể lý được xem như những án phạt của tội lỗi. Nếu những người mù thấy lại ánh sáng, người điếc nghe được tiếng cười vui và người què nhảy nhót như nai, chắc chắn đây là cách diễn tả niềm hân hoan của những người lưu đày gặp lại quê cha đất tổ của mình, nhưng nguyên do còn sâu xa hơn: những tội lỗi của dân đã được Thiên Chúa tha thứ.

Thiên Chúa đã bày tỏ lòng xót thương: “Chính Người sẽ đến cứu chuộc anh em”. Ngài sẽ cứu chuộc dân Ngài như một người thân chuộc lại bà con họ hàng của mình lâm vào cảnh đời nô lệ vì nợ nần và đưa họ trở lại gia tộc của mình. Theo tập tục vào thời đó, ai không thể trả nợ bị người chủ nợ bắt làm nô lệ. Người thân gần nhất đứng ra chuộc lại mà ngôn ngữ Híp-ri gọi là “go-el”. Chính người này cũng đảm nhận trách nhiệm báo thù cho những oan ức mà người ấy phải chịu.

Bản văn này minh họa một quan niệm căn bản của Cựu Ước: mối liên hệ giữa ý tưởng Tạo Dựng và ý tưởng Cứu Chuộc. Chính vì Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo nên Ngài cũng là Đấng Cứu Chuộc, vì sự tha thứ tội lỗi là một công trình sáng tạo mới. Ở đây, trong đoạn văn này, mối liên hệ này rất minh nhiên. Thiên Chúa sáng tạo khi biến đổi sa mạc, Thiên Chúa sáng tạo khi phục hồi những kẻ tật nguyền. Chính sự tha thứ của Ngài là nguồn mạch của cuộc sáng tạo mới này, sự tha thứ của Ngài hoàn lại sự sống.

“Những người được Đức Chúa giải thoát sẽ trở về,

tiến đến Xi-on giữa tiếng hò reo,

mặt rạng rỡ niềm vui vĩnh cửu.

Họ sẽ được hớn hở tươi cười,

đau khổ và khóc than sẽ biến mất” (35: 10).

Cảnh tù đày ở Ba-by-lon (như cảnh đời nô lệ ở bên Ai-cập) là hình ảnh về cảnh đời nô lệ của tội lỗi. Cuộc giải phóng mà vị ngôn sứ loan báo tiên trưng cuộc giải phóng triệt để hơn, vĩnh viễn hơn, đó là cuộc giải phóng mà Đức Ki-tô mang đến, “việc chuộc lại” này mà chúng ta gọi “Ơn Cứu Chuộc”, không có nghĩa gì khác hơn là “tái tạo chúng ta”. Vào những ngày gần đến lễ Giáng Sinh, giọng nói của vị ngôn sứ vang lên qua nhiều thế kỷ: “Thiên Chúa đích thân ngự đến và sắp cứu chuộc chúng ta”.

BÀI ĐỌC II (Gc 5: 7-10)

Thánh Gia-cô-bê mời gọi các tín hữu hãy kiên nhẫn. Bản văn này có chủ ý đặt vào giữa hai thời điểm: những người lưu đày nóng lòng được trở về quê cha đất tổ (Bài Đọc I) và Gioan Tẩy Giả mong chờ Đấng Mê-si-a sớm thực hiện sứ mạng “thưởng công phạt tội” của Ngài (đoạn Tin Mừng hôm nay).

  1. Tác giả và tác phẩm

Bức thư này được gán cho thánh Gia-cô-bê, anh em họ của Chúa Giê-su, vị lãnh tụ cộng đoàn Giê-ru-sa-lem tiên khởi, bị ném đá chết vào năm 62 sau Công Nguyên do sự xúi giục của vị thượng tế thời đó. Vì thế, thánh nhân không là thánh Gia-cô-bê Tông Đồ, anh của thánh Gioan, hai con của ông An-phê, được phúc tử đạo vào năm 44 sau Công Nguyên. Vả lại ngay từ đầu thư, thánh nhân tự giới thiệu mình không là Tông Đồ mà là: “Tôi là Gia-cô-bê, tôi tớ của Thiên Chúa và của Chúa Giê-su Ki-tô”. Để phân biệt hai vị thánh trùng tên này, người ta gọi thánh Gia-cô-bê Tông Đồ là thánh Gia-cô-bê Tiền và thánh Gia-cô-bê, người anh em họ của Chúa Giê-su, là thánh Gia-cô-bê Hậu. Chính thánh Gia-cô-bê Hậu này mà, theo thánh Phao-lô, Chúa Giê-su hiện ra sau khi Ngài sống lại (1Cr 15: 6-7).

Thư này được gửi cho các cộng đoàn Ki-tô hữu gốc Do thái, phân tán khắp thế giới La-Hy. Sống ở giữa những anh em Do thái vẫn một mực trung thành lề luật Mô-sê, những người Ki tô hữu gốc Do thái này gặp phải biết bao khó khăn trong việc thực hành đức tin của mình và là đối tượng của những quấy nhiễu. Vì thế, ngay từ đầu thư thánh Gia-cô-bê an ủi họ: “Thưa anh em, anh em hãy tự cho mình là được chan chứa niềm vui khi gặp thử thách trăm chiều. Vì như anh em biết: đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn. Chớ gì anh em chứng tỏ lòng kiên nhẫn đó ra bằng những việc hoàn hảo, để anh em nên hoàn hảo, không có chi đáng trách, không thiếu sót điều gì” (Gc 1: 2-4).

  1. Vị Thẩm Phán đang đứng ở ngoài cửa

Đoạn trích Thư chúng ta đọc hôm nay thuộc vào những lời khuyên bảo sau cùng của thánh nhân: thực hành đức kiên nhẫn trong thinh lặng, đừng phàn nàn kêu trách lẫn nhau, ngay cả những người bách hại mình; có như vậy, anh em mới “khỏi bị xét xử”, hàm ý quy chiếu đến lời của Chúa Giê-su: “Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha” (Lc 6: 37).

Thánh nhân nêu lên lý do: “Vì Chúa sắp đến gần rồi”. Thế hệ Ki-tô hữu đầu tiên đã sống trong niềm hy vọng này: “Vị Thẩm Phán đang đứng ngoài cửa”. Vào thời xưa, người ta xử án ở ngoài cổng thành. Ở đây, thánh Gia-cô-bê chuyển dời hình ảnh này sang lãnh vực tinh thần và muốn nói rằng vị Thẩm Phán đang đứng ngoài ngưỡng cửa nhà chúng ta, Ngài sẵn sàng bước vào (x. Mt 24: 33; Mc 13: 29). Sách Khải Huyền lấy lại hình ảnh này, nhưng không còn trong viễn cảnh của ngày chung thẩm, mà là trong viễn cảnh của mối thân tình: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3: 20). Chúng ta có thể nói thêm mà không sợ ngược lại tư tưởng của tác giả: “Hãy kiên nhẫn, vì anh em không biết ngày nào giờ nào”. Chữ “kiên nhẫn”, theo nghĩa mạnh của từ, có nghĩa là biết chịu đựng những gian khổ như các ngôn sứ đã từng chịu.

  1. Noi gương các ngôn sứ

“Về sức chịu đựng và lòng kiên nhẫn, anh em hãy noi gương các ngôn sứ, là những vị đã nói nhân danh Chúa”. Theo truyền thống Do thái, đa số ngôn sứ đều là những người bị ngược đãi, bị bách hại và bị giết chết. Truyền thống nói rằng ngôn sứ I-sai-a bị xử tử, ngôn sứ Mi-kha bị lăng nhục, ngôn sứ Giê-rê-mi-a bị đánh đòn và bị tống giam vào tù, chưa nói đến biết bao ngôn sứ bị giết chết dưới triều đại vua A-kháp và vua Giô-a-kim, và cũng có thể dưới triều đại vua Ma-na-sê vô đạo. Lời khóc thương thành Giê-ru-sa-lem của Chúa Giê-su chứng thực sự kiện này: “Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem! Ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được được sai đến cùng ngươi!” (Lc 13: 34). Trong Tin Mừng Mát-thêu, Mối Phúc sau cùng kết thúc với việc nêu lên những bách hại mà các ngôn sứ phải chịu: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa… Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế” (Mt 5: 11-12).

Rõ ràng thánh Gia-cô-bê thấm nhuần giáo huấn của các Mối Phúc Thật. Phúc thay những người nghèo và những người bị bách hại, được lập đi lập lại trong Thư của thánh nhân như một điệp khúc. Việc thánh nhân ám chỉ đến số phận của các ngôn sứ, dù rất ngắn, dẫn đưa chúng ta vào bản văn Tin Mừng: thánh Gioan Tẩy Giả bị tống giam vào ngục.

TIN MỪNG (Mt 11: 2-11)

Tin Mừng hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy vui lên, vì chúng ta đang sống trong thời kỳ của niềm vui, thời kỳ Tân Ước, thời kỳ của Chúa Giê-su, thời kỳ cứu độ.

  1. Câu hỏi của thánh Gioan Tẩy Giả

Thánh Gioan là một người rất nhạy bén trước tội lỗi, thánh nhân không thể chịu đựng tội lỗi, ông đã can đảm tố cáo tội của tiểu vương Hê-rô-đê An-ti-pa, bất chấp hậu quả mà mình phải gánh chịu. Chính thánh nhân đã loan báo thời Chúa Giê-su, thời xét xử đã đến, bằng những hình ảnh như cái rìu đã đặt dưới gốc cây, cây nào không sinh trái tốt sẽ bị đốn ngay hay thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt. Ấy vậy, trong khi đang bị giam trong tù, thánh nhân đã nghe các môn đệ của mình thuật lại rằng Đức Giê-su giao du với những kẻ tội lỗi, vào trong nhà của họ, đồng bàn với họ và tha thứ tội lỗi cho họ. Vì thế, thánh nhân đâm lòng ngờ vực về tính cách Mê-si-a của Chúa Giê-su, nên sai các môn đệ của mình đến hỏi Đức Giê-su: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn đợi ai khác?”.

  1. Câu trả lời của Chúa Giê-su

Chúa Giê-su trả lời bằng cách trích dẫn ba sấm ngôn của ngôn sứ I-sai-a đều có hậu cảnh Mê-si-a: trước hết, Is 29: 17-18: người điếc được nghe, người mù được thấy; tiếp đó, Is 26: 19: người chết sống lại; sau cùng, Is 61: 1: loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.

Trong ba câu trích dẫn trên, câu trích dẫn sau cùng là rõ ràng nhất, vì được đặt lại vào trong mạch văn của nó, sấm ngôn này hình thành nên một sứ điệp mà Chúa Giê-su nhắn gửi cho thánh Gioan Tẩy Giả. Quả thật, lời loan báo này được trích dẫn đầy đủ như sau:

“Thần Khí Đức Chúa là Chúa Thượng ngự trên tôi,

vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi,

sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn” (Is 61: 1a)

Vì thế, Chúa Giê-su đồng hóa mình với Đấng được Thiên Chúa xức dầu tấn phong, tức Đấng Mê-si-a. Tuy nhiên, Chúa Giê-su có chủ ý không trích dẫn lời loan báo tiếp liền ngay sau của vị ngôn sứ này:

“Băng bó những tấm lòng tan nát,

công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm,

ngày phóng thích cho những tù nhân” (Is 61: 1b)

Việc Đức Giê-su có chủ ý bỏ qua không trích dẫn lời loan báo này cũng có ý nghĩa. Gioan Tẩy Giả không thể không hiểu: thánh nhân phải đảm nhận sự thử thách của mình.

Những trích dẫn Kinh Thánh này nhắc cho vị Tiền Hô nhớ rằng kỷ nguyên Mê-si-a phải được thiết lập, nhưng không bằng bạo lực mà bằng những ân phúc. Kinh Thánh đã thấy trước cách thức hành động này của Đấng Mê-si-a, qua đó Chúa Giê-su công bố rằng mùa thu hoạch, nghĩa là ngày Thiên Chúa thưởng công báo oán, chưa đến, nhưng mùa thi ân giáng phúc đã đến.

Với lời nhắn sau cùng gửi đến Gioan Tẩy Giả: “Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi”, Đức Giê-su tiên liệu rằng câu trả lời của Ngài có thể làm cho Gioan thất vọng, bởi vì quan niệm của thánh nhân về Đấng Mê-si-a quá khác biệt với hình ảnh Đấng Mê-si-a mà Đức Giê-su đang thực hiện theo kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Chúng ta có thể nghĩ đến phản ứng của Phê-rô khi nghe Đức Giê-su loan báo lần thứ nhất về cuộc Thương Khó của Ngài (Mt 16: 22-23) hoặc phản ứng của ngôn sứ Giô-na sau khi thấy Thiên Chúa tha thứ cho dân thành Ni-ni-vê (Gn 4).

Thánh Gioan Tiền Hô, cũng như nhiều vị thánh khác, đã kinh qua những giai đoạn nghi nan ngờ vực, đêm tối của đức tin. Hơn nữa, cuộc đời của Gioan Tẩy Giả báo trước nhiều điểm cuộc đời của Chúa Giê-su. Chúa Giê-su cũng đã cảm thấy chơ vơ cô quạnh trong viễn cảnh của cuộc khổ nạn sắp đến. Thánh Thần, Đấng đã hằng nâng đỡ Ngài, dường như đã bỏ rơi mình.

  1. Chúa Giê-su ca ngợi thánh Gioan Tẩy Giả

Sau khi các môn đệ của Gioan ra đi, Chúa Giê-su hết lời ca ngợi thánh Gioan Tẩy Giả khi ngỏ lời với đám đông. Đức Giê-su ca ngợi đức công minh chính trực của thánh nhân: không khuất phục trước bạo quyền khác với cậy sậy ngã nghiêng uốn mình nương theo chiều gió, và cách sống khổ hạnh của thánh nhân trong hoang địa ngược lại với những người mặc gấm vóc lụa trong dinh thự nguy nga tráng lệ. Chính qua cung cách sống của mình, thánh nhân hiện thân một vị ngôn sứ, tức là người nói nhân danh Thiên Chúa, thế vì Thiên Chúa. Hơn nữa, thánh nhân còn cao trọng hơn các ngôn sứ trước ông, bởi vì các ngôn sứ chỉ loan báo Đấng Mê-si-a, trong khi thánh Gioan không chỉ loan báo mà còn đích thân gặp gỡ Đấng Mê-si-a và chỉ cho người ta thấy Đấng Mê-si-a nữa.

  1. Sự trổi vượt của thời Tân Ước so với thời Cựu Ước

Bất ngờ cung giọng thay đổi, Chúa Giê-su công bố những lời gây bối rối cho người nghe: “Kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời con cao trọng hơn ông”. Ở đây, Chúa Giê-su không nhắm đến công đức cho bằng hai thời kỳ, thời Cựu Ước và thời Tân Ước, và những người được dự phần vào hai thời kỳ ấy. Chúa Giê-su khai mạc thời kỳ Tân Ước, tức là thời kỳ thực hiện và kiện toàn những gì thời kỳ Cựu Ước loan báo và chuẩn bị. Như vậy, thời kỳ Tân Ước trổi vượt hơn thời kỳ Cưu Ước mà thánh Gioan, một trong các ngôn sứ, vẫn thuộc vào thời kỳ Cựu Ước này.

Lúc đó, phản đề nhắm đến hai trật tự vĩ đại: cái vĩ đại của Gioan Tẩy Giả, chính là thánh nhân không chỉ là một trong các ngôn sứ nhưng còn là vị Tiền Hô của Đấng Mê-si-a, và cái vĩ đại khôn sánh của những những người thuộc về thời Tân Ước, thời Đấng Mê-si-a, như sau này Chúa Giê-su nói rõ với các môn đệ Ngài: “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc, vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe” (Mt 13: 16-17).

Trong một bối cảnh khác, Chúa Giê-su sử dụng lập luận tương tự: trong đám đông có một phụ nữ lên tiếng: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm!”, Chúa Giê-su đáp lại: “Phúc thay kẻ lắng nghe và thực thi lời Thiên Chúa” (Lc 11: 27-28). Chúa Giê-su không muốn giảm thiểu sự cao cả của Mẹ Ngài một chút nào, rõ ràng Mẹ Ngài là mẫu gương của những ai lắng nghe và thực thi lời Thiên Chúa, nhưng nhằm mở rộng “mối phúc này” cho hết mọi người.

Ở đây cũng vậy, Chúa Giê-su không tìm cách giảm thiểu Gioan Tẩy Giả, nhưng nhằm đảm bảo với những người đang lắng nghe Ngài: Nước Thiên Chúa không chỉ được dành riêng cho bất kỳ một dân tộc nào hay cho bất kỳ một hạng người nào, nhưng cho hết mọi người, ai cũng đều được mời gọi gia nhập Nước Thiên Chúa mà Đức Giê-su khai mạc với điều kiện là “lắng nghe và thực thi lời Thiên Chúa” mà Ngài hiện thân.

Về mục lục

.

CÒN PHẢI ĐỢI AI?

Lm Trần Bình Trọng

Trong một quốc gia mà có nhiều tệ đoan như bất công, tham nhũng, thất nghiệp, thiếu thực phẩm, vật giá leo thang, thì người dân sẽ mất tin tưởng vào chính phủ. Xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu cũng là một xã hội có nhiều tệ đoan. Quốc gia của họ bị chính quyền ngoại bang là người La Mã đô hộ.

Trong nội bộ lại có sự chia rẽ trầm trọng giữa các đảng phái chính trị và tôn giáo. Bất công, tham nhũng và vô luân lan tràn từ trên xuống dưới, nơi những nhà lãnh đạo dân sự cũng như tôn giáo. Ông vua bù nhìn của họ là Hêrodê đã dẫn đầu đời sống loạn luân, bất kể luân thường đạo lý và lễ nghĩa, đã cướp vợ của em mình. Và khi Gioan tiền hô phản đối việc loạn luân của nhà Vua, thì ông đã bị tống giam rồi bị chém đầu.

Mặc dù là bà con với Chúa Giêsu, nhưng gia đình ông Gioan đã mất liên lạc với gia đình Thánh gia khi Thánh Giuse và Mẹ Maria đưa Chúa hài nhi trốn sang Ai Cập. Rồi khi trở về, gia đình Thánh gia lại lập nghiệp ở Na-da-rét, miền bắc Do Thái. Còn gia đình ông Gioan tẩy giả sống ở miền nam cách nhau cả bảy, tám chục dậm. Vào thời đó phương tiện đi lại còn thô sơ, nên có lẽ Chúa Giêsu và thánh Gioan không có dịp gặp nhau.

Từ trong ngục tù, nghe nói về Chúa Giêsu, như Phúc âm hôm nay thuật lại, Gioan tiền hô sai người đến hỏi Ðức Giêsu: Có phải Thầy là Ðấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi ai khác (Mt 11:3)? Suy luận ra thì câu hỏi của Gioan có nghĩa là: Có phải Thày là vị cứu tinh phải đến để bài trừ những tệ đoan, bất công và tham nhũng trong xã hội? Cũng lạ là trước đó khi làm phép rửa cho dân chúng, Gioan tiền hô đã nói cho các môn đệ của ông về Đức Giêsu: Tôi lấy nước mà rửa anh em, song có Ðấng đến sau tôi, tôi không xứng đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa (Mt 3:11). Và khi thấy Chúa Giêsu, Gioan tiền hô đã giới thiệu với các môn đệ của ông: Ðây chính là chiên Thiên Chúa, Ðấng xoá tội trần gian (Ga 1:29).

Vậy mà hôm nay Gioan tiền hô còn sai môn đệ đến hỏi Đức Giêsu, xem Người có phải là Ðấng Cứu thế phải đến không? Như vậy thì có phải Gioan chỉ hỏi giả vờ hay không?  Hay ông còn hồ nghi về sứ mệnh thiên sai của Ðấng Kitô. Hay là ông quá nóng lòng, không còn đủ kiên nhẫn để chờ đợi Chúa đến ra tay sát phạt, gieo rắc cơn thịnh nộ của Thiên Chúa? Nếu ẩn ý của Gioan là như vậy, thì câu hỏi của ông có ý thúc giục Chúa hành động. Chúa Giêsu không trả lời là có hay không. Chúa không xác nhận, cũng không phủ nhận Người là Ðấng sẽ đến.

Ðây chính là câu trả lời của Chúa: Hãy về thuật lại cho Gioan những gì các ngươi đã nghe và thấy: người mù được sáng, người què đi được, người phong cùi được khỏi, người điếc được nghe, người chết sống lại, và Tin mừng được loan báo cho người nghèo khó (Mt 11:4-5). Ðó chính là Tin mừng của việc Chúa đến. Bài trích sách ngôn sứ Isaia hôm nay ghi lại cảnh cực khổ và quẫn bách của dân chúng trong quá khứ. Bị lưu đầy khỏi quê hương, xứ sở, người Do Thái không bíết có ngày mai, không biết bao giờ mới được hồi hương để xây dựng lại cuộc đời. Tuy nhiên, ngôn sứ Isaia nhờ có kinh nghiệm sống gần Chúa, đã cho họ một niềm hi vọng vào Chúa trong tương lai. Trong bài trích Thư thánh Giacôbê, Thánh nhân cũng khích lệ giáo dân: Anh em hãy bền chí và vững tâm, vì Chúa đã gần đến. Anh em đừng kêu trách lẫn nhau để khỏi bị kết án (Gc 5:8-9).

Như vậy cả ngôn sứ Isaia và thánh Giacôbê đã có được giác quan thứ sáu để nhìn lên trên sự vật, vượt qua cảnh lầm than hiện tại, để giúp người ta hứơng về một tương lai bừng sáng và đổi mới. Phải chăng ta cũng đang sống trong cảnh xa cách quê hương, xa gia đình. Ta cũng có thể đang sống trong cảnh lưu đầy về tình cảm: tình nghĩa vợ chồng đã phai nhạt, hoặc đã chết trong con tim, tình nghĩa giữa cha mẹ và con cái đã trở nên lỏng lẻo… Và ta cũng có thể đang sống trong cảnh lưu đầy về đời sống thiêng liêng: đức tin đã bị lu mờ, đưa đến chỗ hồ nghi về sự hiện diện của Thiên Chúa và quyền năng của Người.

Vậy thì ta cũng có thể đặt những câu hỏi tương tự như Gioan tiền hô như sau:

–          Có phải Chúa là Ðấng ta sẽ tìm đến để chữa trị ta khỏi bệnh tật, đau khổ không?

–          Có phải Chúa là Ðấng ta sẽ tìm đến để hàn gắn những vết thương lòng giữa vợ chồng, cha mẹ, anh chị  em và con cái không?

–          Có phải Chúa là Ðấng ta sẽ tìm đến để giúp con cháu sửa đổi cách sống, làm lại cuộc đời không?

–          Có phải Chúa là Ðấng ta sẽ tìm đến để giải thoát ta khỏi cảnh cô đơn, buồn chán không, hay ta còn mong đợi một quyền lực nào khác như bói toán, tướng số, cơ may?

–          Có phải Chúa là Ðấng sẽ đem lại ý nghĩa, cùng đích và ơn cứu chuộc cho ta hay ta còn phải đi tìm chúa nào khác?

–          Có phải Chúa là Ðấng sẽ đến cứu chúng con như ngôn sứ Iasia đã hứa không? (Is 35:1-6).

Lời cầu nguyện xin đặt niềm tin vào Ðấng Cứu thế giáng sinh làm người:

Lậy Chúa Cứu thế sắp ra đời!

Không thể được.

Con sẽ không đi tìm chúa nào khác,

nhưng đặt trọn niềm tin cậy phó thác vào Chúa.

Xin Chúa hãy đến.

Lạy Ðấng Emmanuen,

xin hãy đến giải thoát và cứu chuộc con. Amen.

Về mục lục

.

DUNG MẠO ĐỨC KITÔ.

Lm Giuse Đinh tất Quý

Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Gioan Tẩy Giả sai môn đệ đến hỏi Ðức Giêsu một câu hỏi gây ngỡ ngàng mọi người: “Ngài có phải là Ðấng phải đến, hay chúng tôi còn phải chờ đợi một Ðấng khác?”

Câu hỏi đó cho thấy thánh nhân đang ở trong một tâm trạng hoang mang như thế nào.

Chúng ta tự hỏi sự hoang mang đó đến từ những nguyên nhân nào? Có nhiều nguyên nhân nhưng có hai nguyên nhân sau rõ nét nhất:

  1. Nguyên nhân thứ nhất: Ðức Giêsu có những việc làm khác với những lời Gioan loan báo.

Thánh Gioan Tiền hô đã loan báo một Ðấng Cứu Thế uy nghiêm, đến để trừng phạt nhân loại. Trong Tin Mừng tuần trước, thánh nhân đã răn đe người Do thái: Búa rìu đã để sẵn ở gốc cây, cây nào không sinh trái sẽ bị đốn cho vào lò lửa. Thiên Chúa đến cầm sàng mà rê thóc. Thóc mẩy sẽ được cho vào kho, còn rơm, trấu sẽ bị cho vào lò lửa đốt đi. Sứ điệp quả thật là dữ dội và Lời loan báo đó đã gây xôn xao và sợ hãi. Vậy mà khi Ðức Giêsu đến, Người đã hành động khác hẳn. Không oai phong, không quyền lực, lại còn tỏ ra là một Ðấng Cứu Thế tràn đầy lòng nhân từ: “Người không bẻ gẫy cây lau bị dập, không dập tắt tim đèn còn khói”.

Gioan Tẩy Giả đã loan báo sự trừng phạt. Nhưng Ðức Giêsu lại đến để cứu chữa, tha thứ. Ðức Giêsu nói: “Con người đến không phải để lên án, nhưng để cứu chữa”. “Chỉ những người bệnh mới cần đến thầy thuốc”. Thật là trái ngược. Trách nào mà Gioan chẳng hoang mang.

  1. Nguyên nhân thứ hai: Gioan bị giam trong tù.

Gioan cảm thấy mình bị ngược đãi. Hơn nữa ông còn cảm thấy như mình đã thất bại.

Ði rao giảng sự công chính nhưng chỉ gặp bất công.

Ði rao giảng ơn giải thoát nhưng lại bị giam cầm.

Còn đâu những sứ điệp rực lửa.

Còn đâu thời hy vọng tràn đầy.

Thê thảm hơn nữa, ông tự hỏi: Sao Ðấng Cứu Thế không đến giải thoát mình? Sao Người để cho sứ giả của Người mòn mỏi trong tù? Sao Người để cho bạn hữu bị khinh miệt cười chê? Và Gioan nghi ngờ: hay Người không phải là Ðấng Cứu Thế. Bị giam cầm, bị ngược đãi, Gioan còn có thể chịu được. Nhưng mối nghi ngờ gặm nhấm, thiêu đốt tâm hồn ông. Ông e sợ mình đã lầm đường, lầm người. Không nén lòng được, ông đã sai môn đệ đến hỏi thẳng Ðức Giêsu: “Ngài có phải là Ðấng Cứu thế, hay chúng tôi phải chờ đợi một Ðấng khác?” Câu hỏi táo bạo nhưng quan trọng, vì nó quyết định cả ý nghĩa cuộc đời Gioan.

Trước câu hỏi ấy, Ðức Giêsu không trả lời trực tiếp. Nhưng chỉ yêu cầu các sứ giả về thuật lại cho Gioan những việc Người làm: “Cho kẻ mù xem thấy, kẻ què đi được, người cùi lành lặn, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng”.

Với câu trả lời ấy, Ðức Giêsu nhắc Gioan nhớ lại lời sấm của I-sa-i-a về Ðấng Cứu Thế. Ðồng thời cũng thanh luyện cái nhìn của ông về dung mạo Ðấng Cứu Thế.

Ðấng Cứu Thế không phải là vị vua oai phong từ trời ngự xuống trên đám mây. Nhưng chỉ là một hài nhi bé nhỏ xuất hiện giữa loài người như một mầm cây bé bỏng.

Ðấng Cứu Thế không phải là vị vua sang trọng ngự trong cung điện nguy nga. Nhưng chỉ là anh thợ mộc nghèo khó sống trong một làng quê hẻo lánh.

Ðấng Cứu Thế không phải là vị quan toà oai nghiêm thở ra khói, hét ra lửa. Nhưng chỉ là một lương y hiền từ đến chữa lành những vết thương, an ủi những ai ưu sầu, nâng đỡ người yếu đuối, tha thứ kẻ tội lỗi.

Ðấng Cứu Thế không đến trong vinh quang huy hoàng, trong chiến thắng rực rỡ. Nhưng chỉ âm thầm và tình nghĩa như một người bạn thân thiết.

Ðấng Cứu Thế không đến trong hàng ngũ những người quý phái có địa vị cao trọng trong xã hội. Nhưng lui tới với những người bé nhỏ nghèo hèn, những thành phần bị gạt ra bên lề xã hội.

Anh chị em thân mến.

Vâng! Chính Gioan Tẩy Giả mà còn nuôi trong đầu hình ảnh về một Đấng Messia đầy uy quyền sẵn sàng xét xử và trừng trị kẻ gian ác, huống chi chúng ta. Xét cho kỹ thì có lẽ chúng ta cũng thích hình ảnh về một Thiên Chúa uy quyền, một Giáo Hội hiển hách hơn là một Thiên Chúa cúi xuống mà phục vụ cũng như một Giáo Hội nhiều khi bị lép vế. Chính vì thế mà chúng ta thích khoe với người khác về cách tổ chức, về những hoạt động, những thành tích v.v. của đạo. Chúng ta tưởng rằng, làm như thế thì người ta sẽ mến yêu và kính trọng Thiên Chúa và Giáo Hội của chúng ta hơn.

Nhưng Đức Giêsu thì lại không muốn thế: Thiên Chúa mà Ngài trình bày cho mọi người là một Thiên Chúa nhân từ, yêu thương, tha thứ. Ngài muốn cho người ta thấy Ngài là Đấng cứu nhân độ thế giàu lòng yêu thương. Mà quả thật, những hình ảnh loại này mới có sức cảm hóa và thuyết phục người ta.

Nói một cách cụ thể hơn, thay vì phô trương cho người ta thấy những nét huy hoàng của đạo, thay vì cãi nhau với người ta để tôn Giáo Hội lên, chúng ta hãy cho người ta thấy rằng, chúng ta và Giáo Hội chúng ta đang tha thiết muốn làm cho kẻ điếc được nghe, kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, người bệnh được khoẻ, kẻ nghèo được ấm no, người khổ được an ủi v.v. Chúng ta có thể làm những việc đó qua đời sống của chúng ta.

 Một nhà truyền giáo, lần đầu tiên đến Trung Hoa, giảng về Chúa Giêsu cho một nhóm dân bản địa. Khi ngài kết thúc, một người nói:

– Phải, chúng tôi đã biết ngài. Ngài đã sống ở đây.

Nghe thế, nhà truyền giáo liền nói:

– Không, Đức Giêsu sống ở nước khác, cách đây gần 2000 năm rồi.

Nhưng những người đó vẫn khăng khăng bảo:

– Chúng tôi đã thấy Chúa. Chúa đã sống trong làng này. Chúng tôi biết Ngài.

Rồi ông dẫn nhà truyền giáo đến nghĩa trang và chỉ cho nhà truyền giáo thấy ngôi mộ của một nhà truyền giáo khác, đã từng sống với họ, phục vụ họ và cuối cùng, an giấc nơi cộng đoàn của họ.

Mẹ Têrêsa đã có lần nói: “Hãy mở lòng, để Thiên Chúa làm thấm nhuần tấm lòng bạn bằng tình yêu thương. Chúa yêu thương bạn với tình yêu dịu hiền. Những gì Chúa ban tặng không phải để bạn giữ lấy và khoá kỹ, nhưng để bạn cho đi.”

Chính mẹ là người đã cho thế giới thấy rõ hình ảnh về Đấng Messia luôn quan tâm đến việc cứu giúp những kẻ khốn khổ. Tiếc thay là mẹ Têrêsa không còn nữa! Thế giới thì vẫn luôn cần có những người như mẹ. Ước gì Chúa ban cho Giáo Hội những Têrêsa Calcutta khác. Và ước gì mỗi người chúng ta cũng là một Têrêsa Calcutta cho thế giới hôm nay.

“Hay là chúng tôi phải đợi một Đấng Messia khác?”(Lc 7,20)

Ngày xưa, Gioan đã sai môn đệ ông hỏi Chúa như thế. Ngày hôm nay có lẽ cũng có nhiều người muốn hỏi Giáo Hội như vậy? Hay là chúng tôi còn phải đợi một Giáo Hội khác?

Vâng nếu Giáo Hội hôm nay không là một Giáo Hội cứu nhân độ thế, thì người ta sẽ đi tìm Đấng cứu nhân độ thế ở chỗ khác. Nếu cộng đoàn của tôi không phải là một nơi cứu nhân độ thế, thì người ta sẽ tìm đến những chỗ khác. Nếu tôi không phải là một người cứu nhân độ thế, thì dù tôi là Linh mục, tu sĩ hay Kitô hữu, tôi cũng chẳng có giá trị gì cho người mong đợi ở tôi và người ta sẽ đi tìm một người khác.

Trong quyển tự thuật Mahatma Gandhi, cha đẻ của chủ trương tranh đấu bất bạo động và là người đã giải phóng Ấn Độ khỏi ách thống trị của người Anh, người  ta được biết: Trong những ngày còn là sinh viên, ông đã đi lại khá nhiều tại Nam Phi. Ông đã say mê đọc Kinh Thánh và vô cùng cảm kích về bài giảng trên núi của Chúa Giêsu. Chính Tám Mối Phúc Thật đã gợi hứng cho chủ trương tranh đấu bất bạo động của ông.

Mahatma Gandhi xác tín rằng, Kitô giáo là giải pháp cho mối ung nhọt phân chia giai cấp đang đục khoét xã hội Ấn từ bao thế kỷ qua. Ông đã nghĩ đến chuyện gia nhập vào Giáo Hội. Thế nhưng, ngày nọ, khi đến nhà thờ để dự lễ và để đón nhận vài lời chỉ dẫn, ông đã phải thất vọng. Ông vừa vào đến cửa nhà thờ thì những người da trắng đã chặn ông lại và nói với ông rằng, nếu ông muốn tham dự thánh lễ thì hãy tìm đến một nhà thờ dành riêng cho người da màu mà dự.

Mahatma Gandhi đã ra khỏi nhà thờ và từ đó trở đi ông đã không bao giờ trở lại bất cứ nhà thờ nào nữa.

Thế là Chúa mất đi một tín đồ nhiệt thành. Người ta nói rằng, nếu hôm đó ông được đối xử một cách nhân từ và rộng lượng thì ngày nay cả nước Ấn Độ có lẽ đã được biết Chúa.

Nhưng tiếc thay! Đã quá muộn.

Chúng ta xin cho chúng ta biết sống một cuộc sống như Chúa để thành chứng nhân cho Chúa trong thế giới hôm nay.

Lạy Chúa xin cho chúng con trở thành những cánh tay nối dài của Chúa. Amen.

Về mục lục

.

NIỀM VUI ƠN CỨU ĐỘ.

Lm, Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

Thưa anh chị em,

Chúa nhật III mùa vọng được gọi là Chúa nhật hồng. Đây là Chúa nhật của niềm vui vì giờ cứu độ đã gần kề. Giờ của hân hoan, của hy vọng vì đã tới ngày Thiên Chúa viếng thăm và cứu chuộc dân Người.

Khởi đầu lời nguyện nhập lễ, mẹ Giáo hội dẫn chúng ta vào chính niềm vui thánh thiện ấy: “Lạy Chúa, xin đoái xem, này dân Chúa đem tất cả niềm tin đợi chờ ngày lễ Sinh Nhật Đấng Cứu Thế. Xin hướng niềm vui chúng con về chính nguồn hoan lạc của mầu nhiệm Giáng Sinh cao cả, để tâm hồn chúng con hoàn toàn đổi mới mà họp mừng ngày cứu độ đã gần kề.

Xưa kia, dân tộc Do thái sống trong cảnh lưu đầy cơ cực, đêm ngày họ khao khát mong chờ Đấng cứu Độ đến giải thoát, thì Thiên Chúa dùng miệng Tiên tri Isaia loan báo cho họ thấy, ngày Thiên Chúa đến, Ngài sẽ giải thoát chúng ta khỏi sự khô cằn chết chóc, như hoang địa đón được mùa mưa, như cây cối mong chờ mùa xuân ấm áp, trổ sinh hoa lá mới và đem lại hương sắc và hồi sinh cho trái đất. Thì ngày Thiên Chúa đến, Ngài cũng sẽ biến những tâm hồn khô cằn thành mảnh đất màu mỡ, biến cuộc đời héo tàn trổ sinh hoa lá mới.

Vị Tiên tri còn cho thấy niềm vui sâu xa mà Thiên Chúa mang đến. Ngài đến không phải để kết án. Ngài không bẻ gãy cây lau bị dập. Ngài là Thiên Chúa của yêu thương, khi Người đến, mắt người mù sẽ nhìn thấy, tai người điếc được nghe, người câm nói được và người què nhảy nhót như nai. Ngài là hoàng tử của bình an và hoan lạc. Ngài đến để giải thoát con người khỏi những ràng buộc của tội lỗi. Ngài giúp con người khống chế những thói hư tật xấu để sống tràn đầy niềm vui và bình an.

Thánh Phaolô cũng ngõ lời với các tín hữu thời sơ khai: “Anh em hãy vui lên, hãy vui lên trong niềm vui ơn cứu độ, vì Chúa sắp đến rồi” (Pl 4,4).

Và đỉnh cao của niềm vui này, chính là trong đêm Chúa giáng sinh, đạo binh các thiên thần từ trời xuống hát mừng và loan tin vui cho các chú Mục đồng: “Đây ta báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân, đêm nay Đấng cứu độ đã giáng sinh cho chúng ta” (Lc 2, 10).

Như vậy, Đức Giêsu chính là niềm vui mà Thiên Chúa Cha đã ban cho nhân loại. Niềm vui của một vị Thiên Chúa vì xót thương nhân loại, nên đã hạ cố xuống trong lòng nhân thế, tên Ngài là Emmanuel.

Trong niềm vui này, Mẹ Maria là người diễm phúc đón nhận đầu tiên, khi tổng sứ thần Gabriel loan báo trong buổi truyền tin: “Mừng vui lên! Hỡi Đấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà” (Lc 1, 28). Khi đón lấy niềm vui Giêsu trong lòng, Mẹ Maria liền cất lên lời ca tụng” Tâm hồn tôi hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa là Đấng cứu độ tôi” (Lc 1, 46).

Rồi ngay từ trong lòng thân mẫu, Gioan tẩy giả cũng vui mừng trước Đấng cứu độ. Ông vui vì được làm tiền hô cho Đấng Cứu thế. Ông vui được làm người đi trước dọn đường để Đức Giêsu mang ơn cứu độ đến.

Thế nhưng, niềm vui không được tròn đầy, chỉ vì dám nói thẳng nói thật vạch tội loạn luân của vua Hêrôđê, mà Gioan bị bắt giam trong ngục. Ngồi trong tù, nghe các môn đệ của mình đến thắc mắc về những việc lạ lùng Đức Giêsu đang thực hiện, thì Gioan đã cử hai người đến gặp Đức Giêsu và hỏi xem Ngài có phải là Đấng Thiên Sai không?.

Các nhà chú giải Kinh thánh giải thích rằng: Gioan tẩy giả sai các môn đệ đến hỏi Đức Giêsu là vì ngài muốn chứng minh cho các môn đệ của mình hiểu rõ hơn về sứ mạng của Đức Giêsu, để rồi họ dám tạm biệt Ông mà đi theo Đức Giêsu.

Anh chị em thân mến,

Khi được cưu mang niềm vui Giêsu trong lòng, Mẹ Maria không giữ riêng cho mình, nhưng vội vả lên đường mang niềm vui đó đến chia sẻ cho người khác.

Gioan tẩy giả cảm nghiệm được niềm vui Giêsu, ông không giữ riêng cho mình, nhưng ra đi loan tin vui rao giảng sự sám hối, chuẩn bị cho dân chúng đón nhận niềm vui là chính Đức Giêsu.

Các Mục đồng khi đến máng cỏ Bêlem gặp thấy Hài Nhi Giêsu, họ trở về tung hô ca ngợi Chúa, về tất cả những gì họ đã nghe và xem thấy, đúng như lời đã báo cho họ.

Chúng ta cũng vậy, mỗi khi rước lấy Chúa Giêsu Thánh Thể trong lòng, noi gương Mẹ Maria; bắt chước Gioan Tẩy giả và các chú Mục đồng, là hãy mang niềm vui Giêsu, đi chia sẻ cho những người chúng ta gặp gỡ.

Tiếp tục sống tinh thần sám hối của Mùa Vọng, mỗi người chúng ta hãy dọn cho Chúa Hài đồng một máng cỏ tâm hồn, được đan kết bằng những cọng rơm của lòng sám hối cải thiện đời sống. Cùng đắp cho Chúa Hài Đồng tấm khăn được dệt bằng những việc làm  bác ái, hi sinh…

Chúng ta cầu nguyện cho nhau, xin Chúa ban cho chúng ta cảm nghiệm được niềm vui có Chúa ở cùng ở với chúng ta, để rồi chúng ta cũng biết chia sẻ niềm vui ấy cho những người khác ngay trong môi trường sống của mình. Amen.

Về mục lục

.

MỘT ĐẤNG CỨU ĐỘ HOÀN TOÀN KHÁC

Lm. Phêrô Lê văn Chính

          Càng lúc Giáo hội càng tiến gần tới ngày lễ Giáng sinh, lời Chúa càng thôi thúc và vang lên những lời mời gọi vui mừng vì Chúa sắp đến để ban tặng cho con người vinh quang Thiên Chúa, sự hiện diện gần gủi của Thiên Chúa. Sứ điệp cứu độ đầy tràn vui mừng hân hoan vang lên thôi thúc nhắc nhớ lại những lời hứa năm xưa cho đoàn dân đang sợ hãi vì quân thù đe doạ, họ không phải sợ hãi gì bởi vì Thiên Chúa sẽ đến với họ để bảo vệ, gìn giữ họ, ngay cả bênh vực họ chống với quân thù : “Hãy can đảm lên, đừng sợ hãi! Kìa Thiên Chúa các ngươi sẽ đem lại điều báo ứng; chính Thiên Chúa sẽ đến và cứu độ các ngươi.”

          Tâm tình của Chúa nhật tuần này gợi lại tâm tình của thánh Gioan tẩy giả, người tiền hô nhiệt thành của Đấng cứu thế. Hơn ai hết, Gioan là người chờ đợi Đấng cứu thế mà ông đã mô tả đầy quyền năng và sẽ hành động mạnh mẽ quyết định.  Nhưng hiện nay, cung cách hành động của Đấng cứu thế làm ông kinh ngạc và hoang mang. Đấng cứu thế hiền lành làm bạn với những người tội lỗi, thăm viếng an ủi chữa lành những người bệnh tật. Từ trong tù, ông  sai các môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu: “Thầy có phải là Đấng phải đến hay chúng tôi còn đợi Đấng nào khác?”. Chúa Giêsu đã trả lời cho các sứ giả của Gioan bằng cách nhắc lại lời tiên tri xưa: người mù được thấy, người què đi được, người phong hủi được khỏi, người điếc được nghe, người chết sống lại và Tin mừng được rao giảng cho người nghèo. Chúa Giêsu đã thực hiện một đường lối cứu thế mới mẻ và phù hợp với những lời loan báo của các tiên tri. Đấng cứu thế không đánh đuổi quân thù, không trừng phạt những người tội lỗi mà lại chữa lành những bệnh tật, thương tích của con người để làm cho họ được tự do và hạnh phúc thực sự, được cảm nếm ơn chữa lành, giải thoát và cứu độ của Thiên Chúa. Gioan không phải là người đặt kỳ vọng nơi những thành quả vang dội của Đấng cứu thế, nhưng ông cũng là một con người với tầm nhìn giới hạn đứng trước điều mới mẻ đầy tràn sức mạnh Thánh Thần của Đấng cứu thế, và ông đã ra đi như một con người đã làm chứng với cái chết trung tín của một con người mạnh mẽ và khiêm tốn cho Đấng cứu thế. Điều mới mẻ của Đấng cứu thế sẽ định hướng cho niềm vui và chờ đợi của chúng ta. Người không đến để hoàn toàn ủng hộ cho những dự định trần thế của chúng ta, nhưng người lại đến với những lời nói và những việc làm hoàn toàn mới mẻ bất ngờ để soi sáng cho con đường mà chúng ta đang đi, để định hướng cho những chọn lựa và thái độ sống của chúng ta. Cũng như Gioan tẩy giả, chúng ta được mời gọi tin tưởng, nhìn những gì người đã làm và lắng nghe những gì người dạy bảo. Đấng cứu thế hoàn toàn vượt quá những gì chúng ta có thể hình dung theo cái nhìn hạn hẹp của mình. Chúng ta chỉ có thể thực sự hiểu người với lòng tin tưởng tuyệt đối, dù cho cung cách hành động của người khác với cách hành động của chúng ta. Lời người rao giảng khác với những gì chúng ta chờ đợi, không đặt chúng ta trong vị trí của những người đang vui mừng vì thành công hay đang có sức mạnh chiến thắng, đang được hạnh phúc sung sướng vì có của cải vật chất đầy đủ nhưng lại thúc đẩy chúng ta biết sống khiêm nhường và phục vụ, biết hy sinh chính mạng sống của mình, biết tha thứ hoàn toàn cho kẻ thù, dám chấp nhận mất mát ngay chính sự sống của mình.

Bi kịch của Gioan cũng chính là bi kịch của chúng ta ngày nay, của niềm hy vọng đặt vào Đấng cứu thế của chúng ta. Chúng ta chờ đợi một Đấng cứu thế làm phép lạ để chữa lành những bệnh tật, giải thoát chúng ta khỏi những đau khổ đang đè nặng đời sống vì nợ nần, mất mát của cải tài sản, vì bao nỗi buồn ám ảnh thân phận của mình vì bị phản bội trong tình yêu, để ban cho chúng ta mọi của cải giàu có hạnh phúc của một đời sống vật chất đầy đủ. Thế nhưng, mùa vọng với biết bao lời hứa vang dội tốt đẹp lại làm chúng ta chờ đợi mòn mõi hoang mang không nhìn thấy hòa bình hạnh phúc rõ rệt. Chúa Giêsu vẫn trả lời như đã trả lời cho Gioan tẩy giả đang ở trong tù, mời gọi ông nhìn vào những gì Người đang làm. Sức mạnh chữa lành và thay đổi thân phận con người của Đấng cứu thế vẫn đang thực hiện cách âm thầm nhưng mạnh mẽ trong thế giới. Câu trả lời của Chúa Giêsu cho Gioan tẩy giả thúc đẩy chúng ta có một khám phá mới về Đấng cứu thế, người không đến để chúc lành cho những sáng kiến của chúng ta, người không nhất thiết đã nói thuận lợi cho những xác tín của chúng ta. Người đến với những lời rao giảng hoàn toàn mới mẻ để soi sáng cho hành trình mà chúng ta đang đi, để định hướng và ban tặng cách quyết định cho hành trình này đạt đến cùng đích của nó. Chúng ta được mời gọi cùng với Gioan tẩy giả có hiểu biết mới mẻ về Đấng cứu thế tràn đầy Thánh Thần và tràn đầy sức mạnh và khôn ngoan này của Thiên Chúa  mà chúng ta chỉ có thể hiểu biết dựa trên lòng tin vào Lời của người.

Mùa Vọng mời gọi chúng ta định hướng cuộc đời theo Đấng cứu thế dù khi cung cách hành động, lời người rao giảng khiến chúng ta phải ngạc nhiên ngỡ ngàng. Người không đến để mang lại cho chúng ta mọi điều mình ao ước hay chờ đợi nhưng người thực sự mang lại những điều lớn hơn cả những gì chúng ta đang chờ đợi. Niềm hy vọng và niềm vui của mùa Vọng là như thế, đây là sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa đang triển khai, vượt mọi tầm nhìn hay hiểu biết giới hạn của con người, xuyên qua con đường của sự khó nghèo, hiền lành, tha thứ, phục vụ và dám chấp nhận mọi mất mát đau khổ trong cuộc đời hiện tại. Mùa Vọng thúc đẩy chúng ta sống giây phút hiện tại cách trọn vẹn, không phải là để chúng ta biết được ngày hay giờ của Con người, giờ Chúa đến viếng thăm nhưng thúc đẩy chúng ta sống giây phút hiện tại với một trái tim khai mở cho điều mới mẻ của Thiên Chúa, cho sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa. Mùa Vọng làm cho chúng ta biết hy vọng và tin tưởng giữa bao nghịch cảnh và đau khổ. Hoa trái của lòng tin tưởng Mùa Vọng này vào Thiên Chúa là Đấng cao cả lớn lao hơn những dự tính nhân loại của chúng ta. Ngay cả đón nhận sự giáng sinh khó nghèo của hài nhi trong máng cỏ như là sức mạnh của Thiên Chúa, đón nhận sự thiếu thốn mọi phương tiện vật chất như là sự giàu có của Thiên Chúa, đón nhận sự bỏ rơi khinh bị của mọi người như là dấu chỉ của Nước Thiên Chúa đang đến, giải thoát con người khỏi mọi thái độ chiếm hữu của cải. Cuối câu trả lời của Chúa Giêsu có một câu nói đáng làm cho chúng ta ngạc nhiên. Chúa Giêsu nhấn mạnh rằng Gioan quả thực là một người tiền hô của Đấng cứu thế vì Gioan đã sống một đời sống khắc khổ xứng đáng, Gioan đã chu toàn sứ vụ của mình cách hoàn hảo. Nhưng Chúa Giêsu cũng nói thêm: “Trong con cái người nữ sinh ra, chưa từng có ai cao trọng hơn Gioan tẩy giả, nhưng người nhỏ nhất trong Nước trời còn cao trọng hơn ông”. Đây sẽ là một tiêu chuẩn đánh giá mới mẻ và đảo lộn khi Chúa Giêsu đưa ra một cái nhìn mới. Đối với cái nhìn thông thường, Gioan là người cao trọng bởi vì ông đã chu toàn trọng trách của người rao giảng sự sám hối để đón nhận Đấng cứu thế. Nhưng từ nay, với sự xuất hiện của Đấng cứu thế, sẽ xuất hiện thế hệ những con người mới cao trọng vượt mọi đánh giá của chúng ta. Đó là những con người mới mà đôi khi chúng ta coi thường nhưng lại được Chúa Giêsu yêu mến, đó là những người nghèo, những người hiền lành, những người đói khát, những người trong sạch, những người bị bắt bớ, họ quả thực là những người lớn lao trong nước Trời, bởi vì họ là những người đã đáp ứng những tiêu chuẩn mới mẻ của Nước Thiên Chúa mà Đức Giêsu tôn vinh.

Về mục lục

.

CHỜ ĐỢI CHÚA TRONG KIÊN NHẪN VÀ VUI TƯƠI

Lm Giuse Đinh lập Liễm

A.DẪN NHẬP.

          Chúa nhật III Mùa Vọng được gọi là Chúa nhật mầu hồng nhắc nhở chúng ta hướng về ngày Chúa Quang lâm :”Anh em cũng vậy, hãy kiên nhẫn và bền tâm vững chí, vì ngày Chúa Quang lâm đã gần tới”(Gc 5,8). Chúa đã đến và Ngài sẽ lại đến. Việc Ngài đến làm cho chúng ta phải ngóng đợi. Chúng ta không biết khi nào Ngài đến, nên chúng ta phải kiên tâm chờ đợi. Giáo hội là Mẹ chúng ta, muốn dùng Phụng vụ Chúa nhật III Mùa Vọng để giúp chúng ta nghe lại sứ điệp hy vọng.

          Đời là một cuộc chiến đấu không ngừng. Con người phải gặp biết bao gian lao thử thách trên đường đời, những đau khổ hằng ngày có thể làm cho chúng ta nản lòng bỏ cuộc. Vì thế, thánh Giacôbê, trong bài đọc 2, đã khuyên các tín hữu hãy kiên tâm bền chí chờ ngày Chúa Quang lâm giải thóat. Hãy học đòi những người nhà nông chờ đợi cho đất trổ sinh hoa mầu, nghĩa là phải kiên tâm chịu đựng mọi gian khổ, đừng nóng lòng vội vã mà nản lòng vì “dục tốc bất đạt”.

          Vậy chúng ta hãy hướng tâm hồn tới niềm vui, và niềm vui này sẽ biến đổi những thực tại trần gian. Cuộc đời còn lắm chông gai nhưng chúng không biến thành trở ngại khiến chúng ta chùn bước khi đã có một niềm tin vững mạnh và niềm vui tràn đầy. Chúng ta hãy tiến bước trong hân hoan với tư cách là con cái Chúa, Đấng là nguồn vui và hy vọng của chúng ta. Tuy vậy, niềm vui đó hiện nay vẫn còn là niềm vui chờ đợi.

B.TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

  1. Bài đọc 1 : Is 35,1-10.

          Dân Do thái sống trong đau khổ, bị áp bức đủ bề. Dân mong đợi được giải thóat, nhưng hy vọng bị coi như ảo tưởng vì tương lai mù mịt, không có một chút ánh sáng nào cuối đường hầm. Dân chúng chán nản thất vọng. Lúc đó, tiên tri Isaia xuất hiện, khuyên dân chúng hãy vui lên , hãy can đảm lên vì “Thiên Chúa anh em đây rồi; sắp tới ngày báo phục, ngày Thiên Chúa thưởng công, phạt tội. Chính Người sẽ đến cứu anh em

          Tiên tri cho biết :”Những người được Đức Chúa giải thóat sẽ trở về, tiến đến Sion giữa tiếng hò reo, mặt rạng rỡ niềm vui vĩnh cửu. Họ sẽ được hớn hở tươi cười, đau khổ và khóc than sẽ biến mất”. Lời loan báo này giúp cho dân chúng lấy lại được hy vọng, hãy kiên nhẫn chờ đợi và hãy vui lên.

  1. Bài đọc 2: Gc 5,7-10.

          Trong bài đọc 1, tiên tri Isaia nói lên những điều hứng khởi và thi vị, còn trong bài 2, thánh Giacôbê xem ra nói những lời bình dân hơn. Ngài khuyên tín hữu hãy noi gương các người nhà nông cứ giao việc lo toan mùa lúa chín vàng cho thời gian, để khuyên chúng ta sống kiên nhẫn chờ đợi.

          Thánh nhân nói với những người dân thường,  với những người đang bị cuộc đời thử thách, Ngài khích lệ họ kiên nhẫn chịu đựng những âu lo và khó nhọc hiện tại. Kiên nhẫn theo Tin mừng không phải là nhẫn nhục cằn cỗi, nhưng nó là hy vọng tích cực và sinh động, luôn tìm cách làm cho ngày của Chúa chóng đến.  Trong khi chờ đợi Chúa đến, anh em cố sống thuận hòa với nhau.

  1. Bài Tin mừng : Mt 11,2-11.

          Bẵng đi một thời gian khá dài, khỏang 800 năm, bỗng một tiên tri siêu đẳng xuất hiện, ăn châu chấu, uống mật ong rừng, mình mặc áo da thú, rao giảng đanh thép, thúc giục mọi người hóan cải tâm hồn. Thiên hạ nô nức tuốn đến nghe Gioan giảng, chịu phép rửa và có nhiều người coi ông là Đấng Cứu Thế.

          Gioan đã biết ai là Đấng Cứu Thế rồi, nhưng môn đệ ông cứ tin tưởng ông là Đấng Cứu Thế. Nên ông kín đáo sai họ đến với Đức Giêsu để cho họ mở mắt ra và tin theo Chúa Cứu Thế.  Ông sai họ đến và hỏi Đức Giêsu:”Thầy có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng nào khác”? Đức Giêsu không trả lời trực tiếp Ngài là ai mà chỉ bảo họ về thuật lại cho Gioan những điều mắt thấy tai nghe, những phép lạ Chúa làm như người mù xem thấy, kẻ què bước đi, người cùi được sạch, kẻ chết chỗi dậy, kẻ nghèo được nghe Tin mừng, đúng như lời tiên tri Isaia đã báo trước về Đấng Cúu Thế.

          Ông Gioan đã khôn khéo giới thiệu Đức Giêsu cho môn đệ ông biết Ngài là Đấng Cứu Thế muôn dân trông đợi và đã chuyển tòan bộ môn đệ mình sang cho Đức Giêsu. Ông sai họ đến với Ngài, giới thiệu Ngài cho họ, trước khi đầu ông bị bỏ vào đĩa.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

I. NHỮNG THẮC MẮC VÀ GIẢI ĐÁP.

  1. Gioan, vị Tiền hô xuất hiện.

          Gioan là con thượng tế Zacharias thời ấy đứng vào hàng quí phái, là con một được sinh ra trong tuổi già của cha mẹ, nên được cưng chiều hết cỡ. Nhưng khi đến tuổi trưởng thành. Gioan đã tự ý từ giã cha mẹ đi vào sa mạc dọn lòng thi hành sứ mạng Tiền hô. Phần lớn đời sống Ngài ẩn dật trong sa mạc. Sống trong sa mạc đồng nghĩa với khổ hạnh. Ngòai sự khắc nghiệt của thời tiết, sự hoang vu cô tịch, sự đe dọa của thú dữ, Gioan còn tự nguyện sống khó nghèo, đơn sơ, đạm bạc. Y phục của Ngài chỉ là mảnh da thú quấn quanh thân thể. Thức ăn của Ngài là châu chấu và mật ong rừng, và bạn hữu của Ngài chỉ là muông chim cầm thú. Thiên hạ tìm đến cùng Ngài, kẻ xin làm môn đệ, người xin làm phép rửa để tỏ lòng ăn năn thống hối (Lc 3,7-8).

          Trên dòng sông Giorđan có một khúc cạn nước, cách Biển Chết không xa. Như người ta còn ghi nhớ, đây là chỗ băng qua sông thuận tiện cho các đòan tuần hành có xe ngựa kéo, các thương buôn và các du khách từ khắp nơi trên thế giới. Đây cũng là chỗ đại chúng thường gặp gỡ nhau để trao đổi đủ thứ tin tức từ khắp mọi nơi. Chính tại chỗ này, Gioan Tẩy giả đã rao giảng và rửa tội cho dân chúng. Ông cũng bận áo da thú như các tiên tri thuở xưa.  Và đám dân bắt đầu thắc mắc :”Ông này là ai vậy ? Ông ta có phải là Đấng Messia được Thiên Chúa hứa không ? Hay ông là vị sứ giả dọn đường cho Đấng Messia” ?

          Đang lúc Gioan được danh giá và hoan nghênh tột bậc thì Đức Giêsu xuất hiện. Và bài Tin mừng hôm nay sẽ soi sáng cho chúng ta để hiểu được những thắc mắc ấy.

  1. Gioan thắc mắc.

          Như chúng ta thấy trong Chúa nhật vừa qua, Gioan Tiền hô không ngừng loan báo Đấng Cứu Thế sẽ đến, “sức mạnh của Ngài giáng xuống” như sấm sét. Nhưng thái độ của Đức Giêsu rất không phù hợp với những lời khuyên bảo nghiêm khắc của ông. Không hề có ý định tiêu diệt những người tội lỗi, Ngài đi từ làng này sang làng khác, mở rộng đôi tay đón nhận tất cả những cảnh khốn khổ cùng quẫn của con người, chữa lành bệnh nhân, tha thứ tội lỗi, kêu gọi một người thu thuế bước theo Ngài, đồng bàn với những người tội lỗi. Khác xa với vị quan tòa đáng sợ mà Gioan đã loan báo, Đức Giêsu xuất hiện như người tôi tớ kín đáo, người ta không nghe tiếng Ngài trong quảng trường, Ngài không bẻ gẫy cây sậy bị giập nát và không làm tắt tim đèn còn bốc khói.

          Ở đây Gioan đối đầu với cớ vấp phạm nghĩa là đối đầøu với một chướng ngại có nguy cơ làm ông sụp ngã. Một Đấng Cứu Thế Tôi Tớ, khiêm nhường và đau khổ, khác xa vớùi Đấng mà ông đã loan báo. Đó là thử thách đức tin của ông, đang chờ đợi một sự biểu lộ công bình, thì ông lại gặp lòng thương xót của Thiên Chúa.

          Vì thế, từ trong tù ngục Machéronte, từ đáy suy tư mà hòan cảnh đã nhận chìm ông vào, Gioan, vị tiên tri bị hoang mang, đã sai các môn đệ đến đặt cho Đức Giêsu câu hỏi từ lâu thiêu đốt tâm hồn và môi miệng ông :”Thầy có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi con phải chờ đợi Đáng nào khác”.

          Tuy nhiên, một số người cho rằng câu hỏi đó không phải cho Gioan mà cho các môn đệ của ông. Có thể Gioan đàm đạo với các môn đệ của ông ở trong tù,  họ hỏi ông là Đức Giêsu có thật là Đấng phải đến không ? Gioan bảo họ : Nếu các ngươi nghi ngờ Đức Giêsu là ai thì hãy đi xem Ngài đang làm gì, và có thể làm được những gì, lúc đó các ngươi sẽ hết nghi ngờ ngay. Ý kiến này được xác nhận khi Gioan chỉ vào Đức Giêsu mà nói với các môn đệ của ông :”Chính Ngài là Đấng ta đã nói : Đấng đến sau tôi đã vượt trước tôi, vì Ngài đã có trước tôi (Ga 1,15). Tôi chưa hề biết Ngài, nhưng Đấng đã sai tôi đến thanh tẩy bằng nước, chính Ngài đã nói với tôi : ngươi thấy Thánh Thần đáp xuống và lưu lại trên ai  thì chính Ngài là Đấng thanh tẩy trong Thánh Thần. Và tôi đã được xem thấy, và xin đoan chứng : chính Ngài là Đấng Thiên Chúa chọn”(Ga 133-34).

  1. Đức Giêsu giải đáp.

          Đức Giêsu không trực tiếp trả lời cho phái đòan Gioan về thắc mắc trên nghĩa là Ngài không khẳng định cũng không phủ định Ngài là Đấng Cứu Thế muôn dân trông đợi mà cứ xem việc Ngài làm mà kết luận :”Các ngươi cứ về thuật lại cho Gioan những điều mắt thấy tai nghe : người mù xem thấy, kẻ què đi được, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin mừng”(Mt 11,4-5).

          Đếán đây, chúng ta nhớ lại lời loan báo của tiên tri Isaia khi ông loan báo về ngày của Thiên Chúa trong bài đọc 1 hôm nay. Trong ngày Thiên Chúa đến ban ơn cứu độ thì “Bấy giờ mắt người mù sẽ mở ra, và tai người điếc sẽ được nghe. Bấy giờ người què sẽ nhảy lên như nai, và lưỡi người câm sẽ reo lên vui mừng ! bởi vì, nước sẽ chảy vọt ra trong hoang địa và thác sẽ trào dâng trong thảo nguyên”(Is 35,5-6). Và giờ đây, những điều đó đang được ứng nghiệm nơi Đức Giêsu, thì điều đó là một minh chứng tỏ tường : Đức Giêsu chính là Đức Messia mà Thiên Chúa đã hứa. Ngài chính là vị Thiên Chúa ở giữa nhân lọai, ở giữa chúng ta.

          Và sau cùng là lời cảnh cáo :”Phúc cho kẻ nào không vấp phạm vì Ta”(Mt 11,6). Phải chăng Đức Giêsu nói điều này với Gioan vì Gioan chỉ nắm có phân nửa chân lý. Gioan rao giảng Tin mừng về sự thánh thiện với sự hủy diệt từ trời, còn Đức Giêsu rao giảng Tin mừng về sự thánh thiện với sự yêu thương từ trời. Vì vậy Đức Giêsu nói với Gioan rằng “có thể Ta không làm điều ngươi trông đợi nơi Ta, nhưng những quyền năng đang bị đánh bại không phải bởi sức mạnh vô địch mà bởi tình yêu vô hạn”.

          “Phúc cho kẻ nào không vấp ngã vì Ta” hay “Phúc cho những kẻ nào không đánh mất niềm tin vào Ta”, qua câu này Đức Giêsu có ý khuyên những người nghe Ngài giảng đừng bất bình với lối cư xử của Ngài. Ở đây Ngài có ý nhắc đến sự chậm tin của các môn đệ Gioan và của mọi người khác. Ngài thật là Đấng Thiên Sai, vậy đừng vì những vẻ bề ngòai : con bác thợ mộc, sống nghèo khó, đón tiếp kẻ tội lỗi, chết đau thương trên thập giá… mà vấp phạm, không tin vào vai trò cứu thế của Ngài.

II. CHỜ ĐỢI TRONG KIÊN NHẪN.

          Các bài đọc trong thánh lễ hôm nay đều có những lời đầy an ủi. Trong bài đọc 1, tiên tri Isaia nói “Hãy can đảm lên, đừng sợ”. Trong bài đọc 2, thánh Giacôbê nói “Hãy kiên nhẫn, đừng nản lòng”. Trong bài Tin mừng Đức Giêsu nói với Gioan Tẩy giả “Phúc cho những người nào không đánh mất niềm tin vào Ta”.

          Dân Do thái bị lưu đầy bên Babylon suốt 70 năm, thời gian trở nên dài lê thê đối với họ vì “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngọai”, dân chúng đã thấy chán nản và tuyệt vọng vì không còn lối thóat, chân trời tương lai còn mịt mờ. Nhưng tiên tri Isaia xuất hiện đem chút ánh sáng đến cho đêm tối. Dân Chúa được ví như hoang địa cằn cỗi, sẽ bừng lên niềm hy vọng tựa hồ dân trước viễn ảnh một cuộc xuất hành mới. Isaia thấy được sự huy hòang ấy và lên tiếng kêu gọi dân Chúa.

          Chính chúng sẽ nhìn thấy vinh quang của Chúa và huy hòang của Thiên Chúa chúng ta. Chúa đến giữa dân Ngài, dẫn đầu một cuộc xuất hành và những bàn tay rời rã nên mạnh mẽ, đầu gối mỏi mòn được tăng sức, người sợ hãi thêm can đảm. Sự thay đổi lớn lao này có thể hiểu được  khi Thiên Chúa ra tay cứu độ.

          Việc dân Do thái được giải phóng khỏi ách nô lệ bên Babylon là hình ảnh Chúa sẽ đến giải thóat dân Ngài lần cuối cùng để đem lại niềm hoan lạc tuyệt đối  cho con người. Nhưng thời đó chưa đến và cũng không biết bao giờ mới đến. Trong khi chờ đợi, chúng ta phải trải qua biết bao đau khổ, thử thách gian nan khốn khổ. Phật giáo gọi “đời là bể khổ”, theo kinh Lạy Nữ Vương thì chúng ta gọi “đời là thung lũng nước mắt”. Nhưng thánh Giacôbê khuyên :”Hãy kiên nhẫn, đừng nản lòng.

          Thánh Gioan Tẩy giả là con người thánh thiện, kính sợ Thiên Chúa, tuy nhiên cuối cùng, ngài cũng bị cầm tù với bản án tử hình. Chúng ta có thể làm hết sức mình, nhưng những sự việc vẫn có thể diễn tiến không tốt. Chúng ta cảm thấy bị Thiên Chúa bỏ rơi. Chúng ta nghi ngờ tình yêu của Ngài đối với chúng ta, và có lẽ nghi ngờ cả sự hiện diện của Ngài nữa. Trong những lúc như vậy, chúng ta hãy lắng nghe những lời của Đức Giêsu :”Phúc cho những ai không đánh mất niềm tin vào Ta”.

          Cái chết tạo ra một thử thách nghiêm khắc nhất đối với lòng tin của chúng ta. Chúng ta sống cuộc sống của mình dưới bóng tối của sự chết. Tất cả chúng ta, đặc biệt là đối với những người mới mất người thân yêu, và những người đang ở trong cảnh tối tăm, và sống trong bóng tối của sự chết, hãy nhớ lại tiên tri Isaia nói với dân Do thái :”Hãy can đảm lên, đừng sợ”.

          Trong bài đọc 2, thánh Giacôbê khuyên tín hữu hãy kiên tâm chờ đợi ngày Chúa Quang lâm. Trong khi chờ đợi chúng ta phải kiên nhẫn và chịu đựng trong gian khổ. Trước mọi vấn đề quan trọng cần giải quyết, người ta chia thành hai hạng người khác nhau :

          – Những người nóng vội : muốn giải quyết ngay tức khắc, bằng cách nào cũng được, kết quả thế nào cũng không quan trọng.

          – Những người kiên nhẫn : tìm hiểu kỹ vấn đề, suy nghĩ cách giải quyết thỏa đáng nhất, chờ có đủ điều kiện thuận lợi nhất.

          Phần Thiên Chúa, Ngài không nóng vội nhưng rất kiên nhẫn, bởi vì Ngài muốn cứu chữa tận căn, muốn cải tạo con người, muốn canh tân thế giới.

                                      Truyện : Thần Shiva của Ấn độ.

          Chuyện thần thọai Aán độ kể rằng : Shiva là vị thần tạo dựng muôn lòai. Ngài sung sướng trong công việc tạo dựng với đôi bàn tay của Ngài, nhưng dẫu là thần Ngài không tránh khỏi sự nhàm chán. Shiva chán ngán những gì Ngài tạo dựng. Phải làm gì ? Dễ dàng, Shiva phá hủy những gì đã tạo dựng và làm nên cái mới. Cái mới cũng lại dần trở nên quen thuộc và Ngài lại phá hủy rồi bắt đầu lại. Tiến trình tạo dựng, tiêu hủy, tạo dựng, tiêu hủy vẫn tiếp diễn liên tục. Shiva là vị thần không kiên nhẫn.

So sánh thần Shiva với Thiên Chúa, chúng ta thấy có sự tương phản rõ rệt. Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa kiên nhẫn. Dù con người sa ngã phạm tội, Ngài không bất nhẫn hủy diệt. Ngài không chỉ tạo dựng nhưng còn hứa cứu chuộc. Thánh Phêrô đã nói trong thư của Ngài:”Chúa không chậm trễ thực hiện Lời hứa, như có kẻ cho là Ngài chậm trễ. Kỳ thực, Ngài kiên nhẫn đối với anh em, vì Ngài không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi đến chỗ ăn năn hối cải”(2Pr 3,8b-9). 

          Chúng ta sống trong một xã hội đòi hỏi giải pháp nhanh chóng ngay lập tức cho mọi vấn đề. Nhanh hơn thì tốt hơn, người ta bảo chúng ta vậy. Và điều đòi hỏi nhanh chóng ngay lập tức còn đi sâu vào cả lãnh vực tâm linh nữa. Chúng ta muốn Đức Giêsu đến và đến nhanh. Chúng ta muốn được ơn cứu độ ngay mà không muốn đón nhận đau khổ do sự từ bỏ mình hay phải chờ đợi. Nếu Thiên Chúa không hòa hợp với chương trình thời gian tính của chúng ta, chúng ta cảm thấy mình bị lường gạt hay tệ hơn nữa, Thiên Chúa đã quên chúng ta rồi (Cf Minh Nhiên).

III. CHỜ ĐỢI TRONG VUI TƯƠI.

  1. Niềm vui thời Thiên Sai.

          Ngay những lời đầu tiên trong sách Isaia có đầy những từ ngữ : hoan lạc, hân hoan, trổ hoa, nhiệt liệt, reo hò. Diễn tả hết ý của tiên tri thật là khó. Niềm vui trong lòng ông rất to lớn, nhưng đó chỉ là niềm vui trong tương lai mà khi trình bầy, tác giả chưa được nếm. Ông nói về niềm vui sau lưu đầy khi dân Chúa hồi hương. Đất nước tuy tan hoang nhưng hứa hẹn sẽ nở hoa. Isaia muốn diễn tả niềm vui đó, niềm vui được nhìn thấy quê hương sau những năm đô hộ, nô lệ và lưu đầy.

          Giáo hội mượn lại lời ông để nói lên niềm vui khi Chúa đến. Và thật ra những lời tiên tri kia  cũng chỉ thực hiện đầy đủ khi Chúa đến và cứu chuộc chúng ta. Thế nên, đó là niềm vui của thời Thiên Sai, của ngày Chúa trở lại. Tất cả mọi khổ sở, đau phiền, bệnh tật, chết chóc bấy giờ mới chấm dứt; và người ta mới có thể nói như Isaia : vĩnh biệt phiền sầu than vãn.

          Nhưng mọi sự xẩy ra trong ngày Chúa đến đều đã khởi sự từ ngày Chúa Giáng sinh. Những điều đó Chúa đã làm từ ngày Ngài xuất hiện. Đó là dấu chỉ thời Thiên Sai đã tới. Phải vui mừng ! Nhưng chưa phải là ngày Chúa đến lần sau hết. Niềm vui hiện nay còn là niềm vui đợi chờ.

  1. Niềm vui của ngày hôm nay.

aCuộc đời vui hay buồn ?

          Tùy theo quan niệm của từng người, tùy theo tâm trạng của từng người mà cuộc đời trở nên vui hay buồn. Đời chỉ là một nhưng được nhìn dưới những khía cạnh khác nhau, có khi trái ngược nhau.

          . Phải nhận định rằng, đời có rất nhiều lúc buồn với sinh, lão, bệnh, tử, không mấy khi được vừa ý.

          . Nhưng cũng phải công nhận rằng : đời cũng có nhiều lúc vui. Phải chăng cái cười của chúng ta chẳng là biểu hiệu của niềm vui ?

          . Cho nên phải kết luận rằng : vui buồn ở tại lòng ta. Ta vui thì đời là vui mà ta buồn là đời buồn. Chính mình phóng chiếu tâm hồn mình trên cảnh vật, tâm hồn mình vui hay buồn thì cũng theo đó cảnh vật trở nên vui hay buồn.  Thi sĩ Nguyễn Du đã mô tả tình trạng tâm lý ấy rất đúng :

                             Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,

                             Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.

Truyện : Dễ tính và khó tính.

          Buổi sáng tại trạm xăng ở San Francisco, một người ngồi xe hơi đến :

          – Xin cho hỏi thăm ông chủ một chuyện. Hai tuần lễ vừa qua, tôi nghỉ mát ở Santa Cruz. Thật hứng thú. Phong cảnh ở đó đẹp. Dân ở đó dễ thương. Còn về Redwood-Highway, ông chủ có ý kiến gì không ?

          Ông chủ cây xăng hớn hở trả lời :

          – Ở Redwood-Highway dân cũng dễ mến lắm.

          Chưa đầy một tiếng đồng hồ, một người khác cũng muốn biết nơi nghỉ mát này, chàng ta nhăn nhó :

          – Vừa rồi, tôi đã uổng mất hai tuần lễ nghỉ mát. Chỉ thấy bực mình. Phòng ngủ thì thiếu tiện nghi. Dân ở đó dễ ghét. Còn về chỗ nghỉ mát ở Redwood-Highway, ông chủ nghĩ thế nào ?

          Ông chủ rầu rầu đáp :

          – Miền Redwood-Highway cũng chẳng hơn gì.

          Khách đi rồi, người ta mới hỏi ông:

          – Tại sao thay đổi ý kiến chóng vậy ?

          Ông nói :

          – Đâu có. Tôi chỉ nhận xét rằng hai ông khách kia mỗi người theo đuổi một cảm nghĩ, không ai muốn thay đổi.Ông thứ nhất yêu người đã gặp, và thích phong cảnh đã được xem. Vậy chắc là đi tới nơi nào ông cũng thích, cũng yêu nơi đó. Còn người thứ nhì thì khó tính, hay càu nhàu. Vậy tôi nghĩ rằng đi tới đâu ông ta cũng bất mãn với nơi đó.

                             (Vũ minh Nghiễm, Sống sống, 1971, tr 210-212).

b)  Đời phải là vui tươi.

          Chúa là nguồn vui tươi.

          Thiên Chúa là sự thánh thiện, sáng láng, đẹp đẽ vô cùng, nơi Ngài không có gì đen tối, buồn thảm. Nơi Ngài chỉ thấy có sự vui tươi và yên ủi. Chúa như thế chẳng lẽ dựng nên toàn tiếng khóc, toàn đau khổ mà không dựng nên được những tiếng cười, những niềm vui tươi phấn khởi sao ? Chẳng thế mà thánh vịnh 42 đã quả quyết :”Introibo ad altare Dei, ad Deum qui laetificat juventutem meam”.  Chúa là nguồn sự hoan lạc, những ai đến cùng suối hoan lạc ấy cũng sẽ được vui tươi.

          Mọi sự đều vui tươi.

          Nhìn vào cảnh vật, có người cho là vui, có người cho là buồn. Nhưng thực sự, mọi cảnh vật đều là vui tươi phấn khởi vì nó là công trình sáng tạo của Thiên Chúa, Đấng là chính nguồn vui của muôn vật, và Ngài thông ban nguồn vui ấy ra nơi vạn vật. Ai chỉ coi khía cạnh tiêu cực của vạn vật, công trình sáng tạo của Chúa thì kẻ ấy chỉ làm nhục cho Chúa, là kẻ vô ơn thôi.

          Thế nào là vui ?

          Vui không phải là cái gì vật chất, không có hình dáng, không có trọng lượng hay mầu sắc vì niềm vui chỉ là trạng thái trong tâm hồn. Chúng ta chưa tìm được một câu định nghĩa đầy đủ khả dĩ thoả mãn được sự hiểu biết của chúng ta. Tuy nhiên, ai trong chúng ta cũng đã có lần cảm thấy vui mà không tả ra được.  Chúng ta chỉ cảm thấy niềm vui đang man mác trong lòng.  Chỉ có thể cảm nghiệm được niềm vui chứ không thể định nghĩa hay mô tả đầy đủ được.  Chúng ta sẽ cảm thấy có niềm vui khi lương tâm chúng ta không hối hận về một việc gì mình đã làm, song còn được vui sướng hoặc hãnh diện về công việc đó.

          Vui khi có tâm hồn trong sạch.

Những người tội lỗi không bao giờ được vui vẻ như :

          . Cain sau khi giết em đâu tìm được giây phút bình yên vui vẻ vì con mắt lương tâm tức con mắt Chúa luôn theo dõi ông khắp nơi, khiến tinh thần ông bị rối loạn.

          . Philatô sau khi đã tuyên án bất công cho Chúa, cũng cảm thấy lương tâm cắt rứt và muốn đi tự tử cho xong đời.

                                      Truyện : Núi Philatô.

          Theo truyền khẩu, sau khi Chúa Giêsu chết, Philatô không được bình yên nữa. Ban đêm hắn bỗng giật mình dậy. Chúa Cứu thế đẫm máu hiện ra trước mặt hắn và bảo :”Philatô, tại sao ngươi để ta bị xử oan vô tội” ? Thế rồi không thể chịu nổi sự hiển hiện khủng khiếp, cái con người có trái tim hèn nhát kia bèn trốn nhà đi.  Hắn đi ra ngoại quốc, nhưng khắp nơi hắn đến, nơi nào Chúa Cứu thế đẫm máu cũng đứng trước mặt hắn.

          Sau cùng, muốn trút hết những điều hối hận, bứt rứt, hắn nhảy xuống hồ BỐN TỔNG. Nhưng cái hồ cũng không nhận hắn bình yên. Một ngọn núi bỗng nổi lên trên xác hắn, thành một cái mồ khủng khiếp.

  1. Niềm vui trong hy sinh và chấp nhận.

          Bao lâu người ta chưa biết hy sinh, chưa biết chấp nhận cuộc sống hiện tại, bấy lâu chưa có niềm vui trong lòng. Trái lại, chính sự hy sinh xả kỷ đã đem lại cho con người một niềm vui tươi man mác mà không một ai, hay của cải vật chất có thể đem lại được. Ông  Nguyễn đình Tân đã nhận thấy như vậy và ông đã diễn tả tư tưởng ấy trong cuốn Thời bút như sau :

          Xuân chỉ đến với những tâm hồn chu toàn bổn phận, với những tâm hồn biết chia vui sẻ buồn với tất cả mọi người.

          Ai biết được cái vui xuân của người lính gác trong đêm giao thừa ở nơi biên giới vắng vẻ ? Chỉ họ mới biết. Vì họ biết họ thức cho bao nhiêu người ngủ, họ canh gác cho bao nhiêu đồng bào bình yên, họ lẻ loi để bao nhiêu người xum họp.

          Ai biết được cái vui xuân của một bà Phước trong ngày mồng một Tết vẫn cắm cúi lau chùi những vết thương đau của người khốn khổ ? Ít ai biết được. Chỉ có bà ta biết được lòng mình, vì bà biết sự hy sinh của bà đã yên ủi đôi ba tâm hồn chơ vơ trong cảnh vui chung.

          Ai biết được cái vui xuân của một tu sĩ một mình lặng lẽ cầu nguyện trong bóng tối của tu viện. Ít người biết được. Chỉ có người đó biết lòng mình thôi, vì họ biết họ cầu nguyện cho người giầu sang thiếu sự an ủi, cho người cao qúi thiếu sự bình an, cho người nghèo khó no đầy ơn phúc.

                             (Phạm đình Tân, Thời bút 1967, tr 157)

          Ta mỉm cười trong đau khổ không phải luôn là hình phạt, nhưng có khi là nguyên do của một vui mừng. Chúa Giêsu đã phán :”Hạt giống gieo xuống đất phải mục nát ra, mới sinh ra trăm ngàn hạt khác’.  Người mẹ lúc sinh con phải buồn phiền, nhưng sẽ khoan khoái khi biết mình đã thêm cho đời một mụn con.

          Ta sẽ mỉm cười trong khi làm ăn thất bại hay phải thất nghiệp, vì có khi ta thất bại vì ta chán nản. Ta sẽ tìm giải quyết mọi sự trong vui tươi như thi sĩ Alfred de Musset đã để lại cho chúng ta mấy vần thơ sau đây :

 Tôi di qua cánh đồng vắng,

                             Một con chim hát trên tổ

                             Dưới chân nó, bầy chim con chết lăn lóc,

                             Thế mà chim mẹ vẫn hát trước cảnh bình minh.

                             Hỡi hồn ta, mày đừng khóc nữa,

                             Vì cho đi mày mất hết mọi sự

                             Thiên Chúa, Đấng ngự trên trời thanh thẳm

                             Vẫn là nguồn hy vọng ở trần gian cho mày.

                                      (Alfred de Musset)

Trong khi chờ đợi Chúa Quang lâm, chúng ta vẫn còn phải ở trong thế gian này, phải vật lộn với bao sóng gió cuộc đời, chúng ta hãy an tâm, đừng sợ, kiên nhẫn chờ đợi trong vui tươi, Chúa sẽ đến giải thóat chúng ta và lúc đó niềm hoan lạc chúng ta sẽ được tràn đầy. Hãy tin tưởng, hãy cầu nguyện vì biết rằng “bên trên thế giới của trăng sao, có một người Cha yêu thương đang âu yếm nhìn ta”(Trích Bài ngợi ca Niềm vui trong Bản giao hưởng số 9 của Beethoven).

Về mục lục

.

TRÁI TIM HY VỌNG

Jorathe Nắng Tím

Nếu trái tim là cơ quan quyết định cuối cùng chuyện sống, chết của thân xác, thì trái tim cũng được coi là trung tâm điều khiển toàn bộ sinh hoạt tình cảm, tinh thần, nên khi trái tim cứng cỏi, chai đá, khô cằn thì con người trở nên vô cảm, lạnh lùng, hay khi  rực lửa ganh ghét, hận thù thì con người tàn ác, nhẫn tâm, và ngược lại, một trái tim tràn đầy hy vọng sẽ đem lại chất ngất niềm vui, chứa chan hạnh phúc, dạt dào an bình, yêu thương.

Kinh Thánh nói nhiều đến trái tim : có những trái tim chai đá như trái tim của Pharaô “đã không thả cho con cái Ítraen đi” (Xh 10,20), những trái tim giả dối của những người tôn kính Thiên Chúa “bằng môi bằng miệng, còn lòng thì lại rất xa (x. Mt 15,8), những trái tim làm con người ra ô uế, vì phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống” (Mt 15,19), những trái tim hèn nhát như trái tim của Philatô vừa giao nộp người vô tội cho các thượng tế và kỳ mục đem đi đóng đinh, vừa lấy nước rửa tay trước mặt đám đông mà nói : “Ta vô can trong vụ đổ máu người này” (Mt 27,24), những trái tim tuyệt vọng như trái tim của Giuđa mặc dù đã thú nhận : “Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan” (Mt 27,4), nhưng đã không đủ  niềm hy vọng để  trở về với Thầy mình, Đấng giầu lòng thương xót, chẳng chấp cứ tội ai.

Trước những trái tim không như Thiên Chúa mong đợi, các ngôn sứ đã cảnh báo hình phạt cho những người “để lòng chai cứng như kim cương để khỏi vâng giữ Lề Luật và lời dậy bảo của Đức Chúa” ( Dcr 7,12), “những người ngoan cố, lì lợm, chúng tự tách rời Thiên Chúa và bỏ đi luôn” (Gr 5,23). Trong Tân Ước, trước trái tim chai đá của người Do Thái, thánh Gioan đã mượn lời ngôn sứ Isaia để trách móc, than thở : “Thiên Chúa đã làm mắt chúng ra đui mù và lòng chúng ra chai đá, kẻo mắt chúng thấy và lòng chúng  hiểu được mà hoán cải, rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành !” (Ga 12,40). Riêng tông đồ dân ngoại thì qủa quyết : những ai lòng dạ chai đá không chịu hối cải thì “càng làm cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa chồng chất trên đầu” (Rm 2,5).

Mùa Vọng về, không chỉ cho chúng ta niềm hy vọng có Đất của Thiên Chúa làm gia nghiệp, có Thiên Chúa đồng hành trên đường sự thật, sự sống, mà còn mời gọi chúng ta xin Chúa đổi mới trái tim và cho chúng ta trái tim như Thiên Chúa muốn : “Ta sẽ ban tặng các ngươi một qủa tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi qủa tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một qủa tim bằng thịt. Chính thần trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành” (Ed 36,26-27). “Lúc ấy, chúng sẽ là dân của Ta và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng” (Ed 11,20). “Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và một con đường hành động ; để chúng kính sợ Ta mãi mãi, nhờ đó chúng và con cháu sau này được hạnh phúc. Ta sẽ lập với chúng một giao ước muôn đời : Ta sẽ không bỏ chúng nữa, sẽ tiếp tục theo dõi và không ngừng thi ân cho chúng, cũng như ban cho chúng lòng kính sợ Ta để chúng không xa rời Ta nữa” (Gr 32,39-40).

Như thế trái tim mới, bằng thịt được Thiên Chúa ban tặng trở thành điều kiện không thể thiếu để chúng ta nhận được Thần Khí, và nhờ Thần Khí chúng ta mới biết kính sợ và tuân giữ phán quyết của Thiên Chúa, hầu có hạnh phúc được Ngài hứa ban. Tin Mừng Gioan đã khẳng định điều này khi Đức Giêsu trả lời ông Nicôđêmô : “Thật tôi bảo thật ông : không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên”, tức Thần Khí (Ga 3,3), bởi chỉ Thần Khí “mới làm cho anh em nên nghiã tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên : Ápba ! Cha ơi !” (Rm 8,15). Và trái tim mới đó, chính là trái tim mang niềm hy vọng được Thiên Chúa yêu thương, cứu độ.

Với trái tim hy vọng ở Đức Giêsu, Đấng nhân danh Thiên Chúa đến trong thế gian, chúng ta mới tin những điều người khác “đã mắt thấy tai nghe” ở Ngài : họ đã thấy “người mù được xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại , người nghèo được nghe Tin Mừng”  (Mt 11,5-6). Với trái tim hy vọng ở Đức Giêsu, Đấng Thiên Sai, chúng ta mới tin Thiên Chúa yêu thương những con người bé mọn và gọi họ là những người cao trọng nhất trong Nước Trời (Mt 11,11. 25-26). Với trái tim hy vọng ở Đức Giêsu, chúng ta mới tin Thiên Chúa bênh đỡ, an ủi  những thân phận khốn khổ, truân chuyên vì gánh nặng cuộc đời khi kêu gọi : “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28). Với trái tim hy vọng ở Đức Giêsu, Con Thiên Chúa ở giữa con người, chúng ta mới tin Ngài là “tôi trung của Thiên Chúa, hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29), vì “Người sẽ không cãi vả, không kêu to, chẳng ai nghe thấy Người lên tiếng giữa phố phường. Cây lau bị giập, Người không đành bẻ gẫy, tim đèn leo lét, Người chẳng nỡ tắt đi, cho đến khi Người đưa công lý đến toàn thắng, và muôn dân đặt niềm hy vọng nơi danh Người” (Mt 12,19-21). Với trái tim hy vọng ở  Đức Giêsu, Chiên Thiên Chúa (Ga 1, 29), chúng ta mới tin Ngài là “Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11), “để chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Với trái tim hy vọng ở Đức Giêsu, là “Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng tôi”, chúng ta mới tin Ngài kính trọng, thương yêu, thân thiện giao lưu, và tình nghiã đồng bàn với hết mọi người, kể cả những người bị  xã hội tẩy chay, nguyền rủa, coi là tội lỗi (x. Lc 15,1-3), vì sứ mệnh của Ngài trong thế gian là “đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất” (Lc 15,5) bởi Chúa Cha “sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,17). Và với trái tim hy vọng ở Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ, chúng ta mới tin Ngài sẽ cho chúng ta được sống lại với Ngài, vì Ngài “là sự sống lại và là sự sống”  (Ga 11,25).

Cũng vậy, với trái tim hy vọng vừa được Thiên Chúa ban tặng, chúng ta mới có thể tin mọi người là anh em của mình, và không ghét bỏ, lên án ai, vì “Cha trên trời cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,45). Với trái tim hy vọng ở Đức Giêsu, nguồn mạch yêu thương, chúng ta mới có thể yêu người khác, dù họ không luôn dễ thương với ta, bởi yêu ai là mong ước và đi tìm hạnh phúc cho họ, nên thiếu hy vọng, chúng ta không thể kiên trì và miệt mài đi tìm hạnh phúc. Với trái tim hy vọng ở Đức Giêsu, nguồn ơn sủng, chúng ta mới có thể hết mình tận tụy xây dựng lại tương lai của những con người bị coi là hư hỏng, bỏ đi. Với trái tim hy vọng ở Đức Giêsu nhân hậu, chúng ta mới nhận ra Thiên Chúa nơi những con người đói khát, đau yếu, rách rưới, tù đầy, tị nạn, thất học, bị đời nguyền rủa, bỏ rơi (x. Mt 25,31-46) và hết tình yêu thương, bảo vệ, giúp đỡ họ. Với trái tim hy vọng ở Đức Giêsu giầu lòng thương xót, chúng ta mới nhìn thấy tương lai của người tội lỗi ; mới cảm nhận hạnh phúc của tội nhân được thứ tha ; mới biết chung vui với thần thánh trên trời “vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (Lc 15,7).

    Mùa Vọng về, chúng ta xin Chúa thay qủa tim chai đá vì kiêu căng, ngạo mạn, cửa quyền, hống hách ; thay qủa tim cằn cỗi vì gian tham, bóc lột, hối lộ, mánh mung ; thay qủa tim cứng cỏi vì ích kỷ, đố kị, ghen tuông, thù hận ; thay qủa tim khô héo vì lửa nóng bạo lực phi nhân ; thay qủa tim ô uế, thối rữa vì dục vọng bất chính, để  với trái tim mới bằng thịt tràn đầy hy vọng trong Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, chúng ta được hưởng niềm vui thiên đàng ngay tại thế, và  được sống “sự sống Thiên Chúa” ngay trong xác phàm yếu đuối, tội lụy này, vì “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14), để chúng ta “không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, người thừa kế”, và anh em của Ngài (x. Gl 4,7).

Về mục lục

.

TRÔNG ĐỢI CHÚA

Sr. Anna Như Ý

Suốt đêm trường, hồn con khao khát Chúa, trong thâm tâm, những kiếm tìm khắc khoải” (Is 26, 9). Đây có lẽ cũng là tâm tình của Gioan Tẩy giả trong đoạn Tin mừng hôm nay. Là một vị ngôn sứ nổi bật vào cuối thời Cựu Ước cũng như Tân Ước, như Đức Giêsu đã giới thiệu về Ngài cho chúng ta biết “Trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả” (Mt 11, 11), nhưng Ngài vẫn mong mỏi trông đợi ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa.

Cho dù là vị ngôn sứ vĩ đại, cao trọng đến dường nào thì Gioan cũng là con người như bao người vẫn đang kiếm tìm và đợi trông ơn cứu độ của Thiên Chúa. Gioan là bằng chứng sống động của sự chờ đợi được thể hiện cách cụ thể nơi mỗi người chúng ta, những Kitô hữu ngày đêm luôn khao khát Chúa, cách đặc biệt trong Mùa vọng này. Chúng ta thể hiện lòng khao khát Chúa bằng nhiều cách, nơi nhà thờ, trong thánh lễ, đón nhận các Bí tích. Ta khao khát Chúa mọi nơi mọi lúc. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải cẩn thận khi thể hiện lòng khao khát của mình. Bởi nhiều khi chúng ta lầm lạc trong việc kiếm tìm Thiên Chúa. Giống như khi nghe ở đâu có phép lạ xảy ra, người này người kia chữa lành bệnh khi được đặt tay cầu nguyện, cha này cha kia giảng hay thì ta lại hăng hái lên đường ngay tức khắc, như sợ rằng chỉ có Chúa ở nơi đó. Dường như chúng ta thích nghe thấy những điều lạ lẫm, vĩ đại, còn những điều bình dị trong cuộc sống ta lại không để ý đến. Giêsu đến với ta chỉ là tấm bánh nhỏ bé nơi nhà tạm, hằng ngày ta rước Ngài, nhưng có lẽ ta chưa đón nhận Ngài. Chúa hiện diện nơi những người nghèo khổ, ốm đau, thấp hèn, nơi những người sống chung quanh ta, có khi lại là những người họ hàng bà con thân thuộc của ta thì ta lại không nhận ra. Phải chăng ta cũng đang trông đợi một Thiên Chúa cao sang quyền quý. Như thế, chúng ta đóng khung Chúa trong suy nghĩ và ước muốn của ta dẫn đến đức tin của chúng ta dễ dàng thay đổi theo từng sự kiện hoặc biến cố mà chúng ta đối diện hay gặp phải. Nếu những gì xảy ra hợp ý ta, thì đó là Chúa đang quan tâm đến ta, còn nếu không thì có lẽ Chúa không yêu chúng ta. Chúa hiện diện ngay giữa chúng ta nhưng nhiều lần chúng ta đã không gặp Ngài. Và do đó, khi đến trần gian, Chúa đã chọn lối sống bình thường, nhưng chẳng ai nhận ra Ngài. Cách Chúa chọn để sống chẳng ai muốn bắt chước theo. Việc Chúa hi sinh mạng sống trên thập giá thì cũng chẳng ai muốn chịu nhục nhã như vậy. Vì lẽ đó, chúng ta cần suy nghĩ lại cách mà chúng ta chờ đợi Chúa. Chúng ta đã thật sự mở rộng lòng mình để đón chờ ngày Chúa đến chưa? Và nếu đã mở lòng thì chúng ta đã chuẩn bị như thế nào để Chúa có thể ngự vào?

Lạy Chúa, chúng con thật sự đang mong ngóng ngày Chúa đến nhưng có khi cách thức chúng con chào đón Chúa lại không phù hợp với ý Chúa. Xin Chúa soi lòng mở trí hướng dẫn chúng con biết đi trong nẻo chính đường ngay để cùng với Chúa hân hoan chung hưởng hạnh phúc Chúa hứa ban. Amen.

Về mục lục

.

 

DẤU CHỈ THỜI THIÊN SAI

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Mục đích của Mùa Vọng không chỉ là thời gian chuẩn bị cử hành lễ Giáng sinh, nhưng còn là lúc chúng ta được mời gọi nhận ra những dấu chỉ của thời Thiên sai trong cuộc sống. Quả vậy, Đức tin nói với chúng ta, những gì đang xảy ra xung quanh, dù vui hay buồn, bao giờ cũng mang một thông điệp của Chúa, qua đó, chúng ta được mời gọi nhận ra và thực hiện thánh ý của Ngài.
 
Thánh Mátthêu kể lại, lúc ông Gioan Tẩy giả đang bị giam trong tù, với tâm trạng hoang mang. Ông không biết vị ngôn sứ quê ở Nagiarét có phải là Đấng muôn dân mong đợi hay không. Không lẽ ông chịu ngồi tù một cách vô ích? Vì vậy, ông đã sai môn đệ của mình đến gặp Chúa Giêsu và thẳng thắn đặt câu hỏi: “Thầy có thật là Đấng phải đến hay không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?”. Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp câu hỏi này, nhưng Người bảo họ hãy về kể lại với ông Gioan những gì họ thấy. Chúa muốn gửi cho ông Gioan một thông điệp: Phúc cho người nào không vấp ngã vì tôi. Ông Gioan Tẩy giả là một người am hiểu Cựu ước và giáo huấn của các ngôn sứ, nên chắc chắn khi nghe thuật lại, ông dễ dàng nhận ra những phép lạ Chúa Giêsu làm là những dấu chỉ của thời Thiên sai. Tác giả Tân ước không cho chúng ta biết ông Gioan phản ứng thế nào khi nghe những lời nhắn nhủ của Chúa. Tuy vậy, những gì xảy ra sau đó đối với ông, đã đủ để chứng minh rằng ông tin Đức Giêsu là Đấng phải đến. Gioan Tẩy giả đã chấp nhận cảnh tù đày và ông đã chết để làm chứng cho chân lý. Sự hy sinh và can đảm của ông Gioan được chính Đức Giêsu khen ngợi. Nhiều lần, trong Tin Mừng, Đức Giêsu khen ngợi lòng tin vững vàng của một số người. Nhờ lòng tin này, Chúa đã chấp nhận làm những phép lạ như họ mong ước. Ta có thể dẫn chứng trường họp vị sĩ quan, hoặc người đàn bà xứ Ca-na-an. Đối với ông Gioan Tẩy giả, Chúa tuyên bố, ông còn hơn một vị ngôn sứ, và là người cao trọng nhất trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ.
 
Nhờ bí tích Thanh tẩy, mỗi người tín hữu được Chúa trao cho ba chức vụ: Ngôn sứ, Tư tế và Quản trị. Nhờ thi hành ba chức năng này, họ cộng tác vào sứ vụ loan báo Tin Mừng, thánh hóa bản thân và thánh hóa thế gian, tham gia điều hành cộng đoàn Giáo Hội địa phương. Dù sống bậc giáo dân hay dù nghèo nàn ít học, người tín hữu đều có quyền và có bổn phận thực thi ba chức năng này trong cuộc sống. Noi gương ông Gioan Tẩy giả, chúng ta hãy góp phần loan báo Chúa Giêsu cho con người của thời đại hôm nay. Hãy trở nên những “dấu chỉ của Nước Trời”, qua đời sống ngay thẳng chân thành và thánh thiện của chúng ta. Hãy phản ánh lòng nhân hậu của Thiên Chúa qua những hành vi cử chỉ của mình trong cuộc sống đời thường. Đó cũng là những “dấu chỉ của thời Thiên sai”, vì chúng góp phần làm cho người khác nhận ra Thiên Chúa đang hiện diện giữa lòng nhân loại.
 
Hai mươi thế kỷ sau khi Chúa Giêsu xuống thế làm người, có thể con người thời nay đặt ra những vấn nạn: tại sao chúng tôi không còn thấy những phép lạ làm cho người mù sáng mắt, người què đi được, người điếc nghe được? Tại sao chúng tôi vẫn còn thấy chiến tranh, bạo lực và giết chóc tàn sát lẫn nhau?  Tại sao người tốt phải đau khổ, trong khi người gian ác lại sung sướng giàu có? Thánh Phaolô trả lời: “Anh em hãy kiên nhẫn, giống như nhà nông kiên nhẫn chờ đợi đất trổ sinh hoa màu. Họ phải đợi cả mưa đầu mùa lẫn cuối mùa” (Bài đọc  II). Vị Tông đồ dân ngoại vừa khuyên chúng ta hãy tin vào Thiên Chúa là Thẩm phán chí công, vừa mong muốn chúng ta hãy cố gắng làm việc thiện, để rồi qua những việc tốt lành ấy, Chúa sẽ thưởng công cho chúng ta.
 
Một trong những sứ điệp quan trọng mà người ngôn sứ được mời gọi loan báo trong xã hội hôm nay, đó là niềm vui. Nội dung của “Tin Mừng” chính là niềm vui. Chúng ta vui mừng hạnh phúc vì được Chúa yêu thương và chúc lành. Chúa yêu chúng ta đến nỗi ban Con Một của mình để dạy dỗ và chúc lành cho chúng ta. Chúng ta vui mừng vì Chúa hiện diện để nâng đỡ và “làm cho những bàn tay rã rời trở nên mạnh mẽ” (Bài đọc I). Niềm vui chỉ có thể được loan báo nếu chính bản thân chúng ta cảm nghiệm được trong đời sống cá nhân của mỗi người. Ngôn sứ Isaia đã diễn tả niềm vui của thời Thiên sai, khi Chúa xuất hiện. Những điều ông tiên báo như: người mù sáng mắt, người què đi được, người điếc nghe được… cũng chính là điều Đức Giêsu đã nói với những môn đệ của ông Gioan hãy về thuật lại cho thày mình.
 
Hãy vui lên, đó là lời ngôn sứ Isaia kêu mời chúng ta. Đó cũng là lời mời gọi của Giáo Hội trong những ngày chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh. Hãy làm cho niềm vui lan tỏa trong cuộc sống. Không chỉ là niềm vui lý thuyết, nhưng được thể hiện qua tâm hồn cao thượng, tấm lòng nhân ái, lương tâm ngay thẳng và trái tim chân thành. Đó chính là dấu chỉ của thời Thiên sai.

Về mục lục

.

DUNG MẠO ĐỨC KITÔ

Tgm. Jos Ngô Quang Kiệt

Thánh Gioan Tiền Hô là một vị tiên tri cương trực. Ngài không hề run sợ trước thế lực, cường quyền. Ngài chỉ quan tâm một điều: làm chứng cho chân lý. Khi Hêrôđê Antipas cướp vợ của người anh, thánh nhân đã không ngần ngại lên tiếng công kích hành động vô luân của nhà vua. Vì thế mà thánh nhân bị bắt giam trong ngục Machéronte. Khi bị giam trong ngục, thánh nhân vẫn theo dõi những hoạt động của Chúa Giêsu. Hôm nay thánh nhân sai môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu một câu hỏi gây ngỡ ngàng cho ta: “Ngài có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải chờ đợi một Đấng khác?”.

Thật lạ lùng đến khó hiểu. Người đi mở đường, người giới thiệu Đấng Cứu Thế nay lại nghi ngờ Người mà mình giới thiệu. Đó là bi kịch của thánh Gioan Tiền Hô. Câu hỏi cho thấy thánh nhân ở trong một tâm trạng hoang mang. Đức tin của ngài chao đảo. Nửa tin nửa ngờ.

Sự hoang mang của thánh Gioan Tiền Hô đến do hai nguyên nhân sau:

1) Nguyên nhân thứ nhất: Chúa Giêsu có những việc làm khác với lời Gioan loan báo.

Thánh Gioan Tiền Hô đã loan báo một Đấng Cứu Thế uy nghiêm, đến để trừng phạt nhân loại. Trong Phúc Âm tuần trước, thánh nhân đã răn đe người Do Thái: Búa rìu đã để sẵn ở gốc cây, cây nào không sinh trái sẽ bị đốn cho vào lò lửa. Thiên Chúa đến cầm sàng mà rê thóc. Thóc sẽ được cho vào kho, còn rơm, trấu sẽ bị cho vào lò lửa đốt đi. Sứ điệp quả thật là dữ dội, bởi loan báo ấy đã gây xôn xao sợ hãi. Thế mà khi Chúa Giêsu đến, Người đã hành động khác hẳn. Không oai phong, quyền lực, Chúa Giêsu tỏ ra là Đấng Cứu Thế tràn đầy lòng nhân từ: “Người không bẻ gẫy cây lau bị dập, không dập tắt tim đèn còn khói”. Gioan Tiền Hô loan báo sự trừng phạt. Nhưng Chúa Giêsu lại đến để cứu chữa, tha thứ. Chúa Giêsu nói: “Con người đến không phải để lên án, nhưng để cứu chữa”. “Chỉ những người bệnh mới cần đến thầy thuốc”. Thật là trái ngược. Trách nào Gioan chẳng hoang mang.

2) Nguyên nhân thứ hai: Gioan bị giam trong tù.

Ông bị ngược đãi, tất nhiên. Hơn nữa ông cảm thấy mình thất bại. Đi rao giảng sự công chính nhưng chỉ gặp bất công. Đi rao giảng ơn giải thoát nhưng lại bị giam cầm. Hết rồi những sứ điệp rực lửa. Hết rồi thời hy vọng tràn đầy. Thê thảm hơn nữa, ông tự hỏi: Sao Đấng Cứu Thế không đến giải thoát mình? Sao Ngài để cho sứ giả của Ngài mòn mỏi trong tù? Sao Ngài để cho bạn hữu bị khinh miệt cười chê? Lời sấm của Isaia còn rành rành: “Đấng Cứu Thế sẽ mở cửa phóng thích tù nhân”. Thế mà sao chờ đợi hoài chẳng thấy. Và Gioan nghi ngờ: hay Ngài không phải là Đấng Cứu Thế. Bị giam cầm, bị ngược đãi, Gioan còn có thể chịu được. Nhưng mối nghi ngờ gặm nhấm, thiêu đốt tâm hồn ông. Ông e sợ mình đã lầm đường, lầm người. Không nén lòng được, ông đã sai môn đệ đến hỏi thẳng Chúa Giêsu: “Ngài có phải là Đấng Cứu Thế, hay chúng tôi phải chờ đợi một Đấng khác?” Câu hỏi táo bạo nhưng quan trọng, vì quyết định cả ý nghĩa cuộc đời Gioan.

Trước câu hỏi ấy, Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp. Nhưng chỉ yêu cầu các sứ giả về thuật cho Gioan những việc Ngài làm: “Cho kẻ mù xem thấy, kẻ què đi được, người cùi lành lặn, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng”.

Với câu trả lời ấy, Chúa Giêsu nhắc Gioan nhớ lại lời sấm của Isaia về Đấng Cứu Thế. Đồng thời cũng thanh luyện cái nhìn của ông về dung mạo Đấng Cứu Thế.

Đấng Cứu Thế không phải là vị vua oai phong từ trời ngự xuống trên đám mây. Nhưng chỉ là một hài nhi bé nhỏ sơ sinh xuất hiện giữa loài người như một mầm cây bé bỏng.

Đấng Cứu Thế không phải là vị vua sang trọng ngự trong cung điện nguy nga. Nhưng chỉ là anh thợ mộc nghèo hèn sống trong một làng quê hẻo lánh.

Đấng Cứu Thế không phải là vị quan tòa oai nghiêm hét ra lửa, thở ra khói. Nhưng chỉ là một lương y hiền từ đến chữa lành những vết thương, an ủi những ưu sầu, nâng đỡ người yếu đuối, tha thứ kẻ tội lỗi.

Đấng Cứu Thế không đến trong vinh quang huy hoàng, trong chiến thắng rực rỡ. Nhưng chỉ âm thầm và tình nghĩa như một người bạn thân thiết.

Đấng Cứu Thế không đến trong hàng ngũ những người quý phái có địa vị cao trọng trong xã hội. Nhưng lui tới với những người bé nhỏ nghèo hèn, những thành phần bị gạt ra bên lề xã hội.

Câu trả lời của Chúa Giêsu khiến tôi tỉnh ngộ. Chúa Giêsu đã cho tôi một hình ảnh trung thực về dung mạo Đấng Cứu Thế. Qua câu trả lời đó, Chúa Giêsu cũng muốn nói với tôi rằng: Nếu con muốn Giáo Hội là hình ảnh đích thực nguyên tuyền của Thày, con hãy xây dựng một Giáo Hội không quyền lực, không tiền bạc, không phô trương. Hãy làm cho Giáo Hội mang dung mạo của Thày: một dung mạo khiêm tốn, nghèo hèn, bình dị, thân ái và nhân từ. Nếu con muốn tiếp tục sứ mạng của Thày, hãy chạy trốn quyền lực, hãy sợ hãi tiền bạc, hãy tránh thói phô trương. Hãy yêu thích những việc âm thầm bé nhỏ. Trước hết hãy đến với những người nghèo hèn. Hãy bắt đầu bằng tình thương. Vì chỉ có tình thương mới cứu được thế giới.

Ta đang chờ đón Chúa đến. Hãy cảnh giác. Chúa không đến trong một biến cố kinh thiên động địa. Chúa không có những pha biểu diễn ngoạn mục. Chúa không đến trong những thành công rực rỡ. Chúa không đến trong uy tín hay quyền lực. Chúa sẽ chỉ đến rất âm thầm, bé nhỏ nhưng đầm ấm tình người. Chúa sẽ đến trong một bàn tay kín đáo nâng đỡ. Chúa sẽ đến trong một nụ cười khích lệ. Chúa sẽ đến trong một cái bắt tay thân ái. Chúa đến chỉ thoáng qua. Nơi nào có dấu hiệu của tình thương, nơi đó đang vẽ nên dung mạo của Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con nhận ra dung mạo đích thực của Chúa, để con biết đón tiếp Chúa trong Mùa Giáng Sinh năm nay. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) Đức Thánh Cha đã khiêm nhường xin lỗi Trung Quốc. Bạn nghĩ sao về cử chỉ này? Cử chỉ của Đức Thánh Cha có làm tổn thương đến uy tín của Giáo Hội không?

2) Bạn muốn một Giáo Hội yêu thương phục vụ hay một Giáo Hội cai trị quyền uy?

3) Bạn nghĩ gì về những lầm lỗi trong Giáo Hội?

4) Bạn phải làm gì để làm chứng cho Chúa. Bằng những việc lớn lao hay bằng những việc nhỏ bé hằng ngày?

Về mục lục

.

MÙA VỌNG: MÙA MÀU HỒNG

Gm. Giuse Vũ Duy Thống

(Trích trong ‘Nút Vòng Xoay’ – trg. 19)

Nếu khởi đầu Mùa Vọng là một màu xanh của những tâm hồn biết rằng Thiên Chúa hằng hy vọng vào mình và hành trình Mùa Vọng là một màu tím của những cuộc đời sám hối, thì ở giữa lòng Mùa Vọng, đời người đã được đặt vào một vận hành mới với một năng lực mới cho một cuộc đời mới. Những cái mới ấy Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay diễn tả bằng một niềm vui và lễ phục minh họa bằng một tông màu bất ngờ tươi sáng để cùng với Giáo Hội, Chúa Nhật hôm nay xin được gọi tên Mùa Vọng là mùa màu hồng.

Vâng! Màu hồng. Nhưng không phải là một thứ ửng hồng e lệ của tình yêu buổi đầu gặp gỡ, cũng không phải là thứ bột hồng điểm trang của hương phấn trong ngày lễ hội, mà chính là màu hồng của niềm vui chan hòa và những chí bền chiến đấu đã làm nên sức sống và sức mạnh không ngừng gieo hưng phấn trên hành trình đức tin.

Qua cách gọi tên Mùa Vọng là mùa màu hồng, xin được gợi ý về hiệu quả của niềm hy vọng.

1) Niềm hy vọng đem lại cho đời tín hữu một niềm vui chan hòa.

Không phải vô cớ mà thánh Phaolô năm xưa đã kêu gọi các tín hữu của mình “Hãy vui lên!” cũng chẳng phải tình cờ khi Phụng Vụ gọi Chúa Nhật thứ ba Mùa Vọng là Chúa Nhật của niềm vui, mà tất cả đã là một hữu ý dàn dựng để làm nổi bật lên nỗi vui mừng và niềm hy vọng không phải như hai nỗi niềm đặt cận kề nhau, mà như hai yếu tố tương tại vào nhau của cùng một nỗi niềm duy nhất kết nên đời sống Kitô hữu. Có hy vọng là có niềm vui.

Bởi có hy vọng nên đời tín hữu cũng có một vũ trụ quan tươi vui: Họ không chấp nhận cuộc đời theo kiểu “cũng liều nhắm mắt đưa chân” trôi nổi vật vờ theo dòng nước cuốn, mà là đón nhận cuộc đời bằng một phong thái thanh thản vui tươi. Họ không chấp nhận nhìn môi trường mình đang sống như những sự kiện bên lề mà biết nhận ra đó chính là nơi mình được kêu gọi đến để thể hiện ơn gọi làm người và làm con Chúa. Cho dẫu cuộc đời có thế nào cũng vẫn có đó niềm hy vọng vươn cao. “Trong khi chưa có được điều mình thích, hãy bắt đầu bằng cách thích những điều mình đang có”. Tôi muốn một cuộc đời rộng đẹp nhưng trước mắt tôi vẫn chỉ là những mảnh đời chật hẹp thì trong niềm hy vọng, tôi phải bắt đầu bằng cách nới rộng đời mình ra.

Bởi có niềm hy vọng nên đời tín hữu cũng có một nhân sinh quan chan hòa. Trong đại dương không ai là một hòn đảo. Trong chuyến đi cuộc đời chẳng ai là người lữ khách cô đơn. Thế nên, trong tinh thần liên đới, tín hữu là những kẻ đồng hành và đồng hành cũng có nghĩa là biết cho đi và nhận về. Cũng giống như tình yêu, hy vọng là rộng mở, là biết cho đi. Trong đổi chác, không ai có thể cho cái mình không có, nhưng trong niềm hy vọng, không ai có thể có được điều mà mình không biết cho đi. Bởi lẽ bạc tiền cho đi sẽ có lúc vơi cạn, nhưng niềm hy vọng biết cho đi thì ngược lại, bỗng trở nên phong phú lạ thường. Nỗi vui cho đi sẽ thành nỗi vui lớn hơn của kẻ cho và người nhận gộp lại, và niềm hy vọng biết cho đi sẽ nên niềm hy vọng vĩ đại của một sự sống triển nở sinh sôi.

Rõ ràng là với niềm hy vọng, cuộc sống đã biến thành niềm vui, cho dẫu niềm vui ấy chưa ở độ tinh ròng mà vẫn còn đan xen với những nỗi niềm riêng tư hay nỗi lo đại cuộc, nhưng đã hồng hào lên một sức sống tươi trẻ vì đó chính là thành quả của niềm hy vọng.

Chắc cộng đoàn còn nhớ Đức Thánh Cha Gioan Phaolô I. Triều đại Giáo Hoàng của ngài chỉ có ba mươi ba ngày nhưng hình ảnh của ngài thì thế giới khó mà quên. Đó là hình ảnh của một Giáo Hoàng với nụ cười thật tươi, nụ cười trong hồn và nụ cười ngoài miệng. Chính ngài là người đã lập lại quan điểm của thánh Tôma để chủ trương: vui vẻ là một nhân đức. Và Mẹ Têrêsa Calcutta, một trong mười phụ nữ được xếp vào hàng vĩ nhân hiện đại, khi người ta hỏi Mẹ xem phải làm gì cho cuộc sống tốt hơn, Mẹ bảo: “Hãy mỉm cười. Cười là thông điệp hòa bình. Cười là nếm cảm thực tại Thiên Chúa”.

2) Niềm hy vọng đem lại cho đời tín hữu một chí bền chiến đấu.

Những lúc an bình, niềm hy vọng mở ra một cuộc sống tươi vui nhưng khi gặp phải thử thách, niềm hy vọng lại trở nên sức mạnh kiên cường. Chính vì thế, hy vọng không chỉ được xem là nhân đức của nụ cười mà còn được khẳng định là nhân đức của sự chiến đấu trước những thách đố không thiếu trong đời.

Có những thách đố đến từ những nghịch lý trong đời sống đức tin thể hiện qua những câu hỏi “tại sao?” khó mà trả lời nếu không có niềm hy vọng. Như câu hỏi tại sao của Cựu Ước: “Tại sao kẻ lành thường gặp hoạn nạn còn kẻ dữ lại cứ phây phây?”. Như câu hỏi của thánh Phaolô: “Tại sao điều tốt muốn làm tôi lại chẳng làm, còn điều xấu muốn tránh tôi lại hay vấp phải?”. Như câu hỏi về Giáo Hội: “Tại sao Giáo Hội bản chất là duy nhất mà trong lịch sử vẫn cứ mãi ghi dấu bằng những cuộc phân ly?”. Như câu hỏi của các bạn trẻ Tây Ban Nha đặt ra cho Đức Gioan Phaolô II năm 1982: “Tại sao Thiên Chúa tốt lành mà trong tạo thành của Ngài lại có quá nhiều tội ác?”. Như câu hỏi của báo chí: “Tại sao người ta cứ phải lo đề phòng đối phó mà không biết yêu thương nhau?”. Hay như câu hỏi mỗi người thường đặt ra với lòng mình: “Tại sao nhân đức như lúa tốt chăm hoài vẫn khó mọc còn nết xấu như cỏ dại nhổ mãi vẫn cứ còn?” Những câu hỏi ấy được đặt ra và còn được đặt ra mãi mãi. Sẽ là hoang mang chao đảo nếu không tìm được giải đáp; nhưng sẽ không có câu trả lời đích thực nếu không nại đến niềm hy vọng vào điều toàn bích vốn chỉ có nơi Thiên Chúa và trong cuộc sống mai sau.

Có những thách đố đến từ những nghịch biến trong lối sống đạo như sự ly thân giữa giáo lý tốt lành của đạo với đời sống kèn cựa của người tín hữu, như cách sống thực dụng của một số thành phần có đạo, như xu hướng tục hóa đang có nguy cơ tràn lan, và phổ biến nhất vẫn là thái độ “mackeno” dửng dưng với đạo của một số kẻ tự nhận là có đạo mà thực tế chẳng tốt hơn ai. Sẽ là dị ứng co cụm nếu chỉ thở dài thất vọng, nhưng sẽ là bản lĩnh hy vọng nếu biết vươn lên khẳng định niềm tin.

Và cũng có những thách đố đến từ những nghịch cảnh trong cuộc đời như tai nạn bất ưng, như sức khỏe yếu kém, như hoàn cảnh không thuận lợi cho ngành nghề, như những thất bại nhiều mặt. Sẽ là thất vọng nếu cúi gập trên nỗi đau của mình, nhưng sẽ là hy vọng nếu biết vươn lên, cho dẫu hoàn cảnh có tuyệt vọng đi nữa thì ở đó vẫn cứ sáng rỡ một niềm cậy trông.

Trọn trang Tin Mừng hôm nay là một thách đố không nhỏ mà Gioan Tẩy Giả đã gặp phải: rao giảng về một sự trừng phạt đến cận kề nhưng lại gặp phải sự chậm trễ; loan báo về Đấng Cứu Thế như một vị Chúa oai phong đáng sợ nhưng lại thấy Chúa Giêsu chan hòa nhân ái; công bố về thời mở cửa cứu độ nhưng chính mình lại bị cầm tù vào giữa lúc mọi người xôn xao hạnh phúc. Đã có lúc nóng lòng chờ đợi như việc gửi môn đệ đến chất vấn Chúa Giêsu qua đoạn Phúc Âm hôm nay, nhưng từ những thách đố ấy, nơi Gioan Tẩy Giả đã chứng minh một niềm hy vọng kiên cường: ông không phải là cây sậy yếu mềm chao nghiêng trước gió mà chính là một tượng đài bất khuất của lẽ cậy trông.

Niềm hy vọng chính là sức mạnh hồng hào giúp Gioan Tẩy Giả và tất cả những ai đang gặp thách đố biết kiên vững kinh qua tất cả.

Tóm lại, với hiệu quả của niềm hy vọng là niềm vui chan hòa và chí bền chiến đấu, đời sống của tín hữu đã được đặt vào một vận hành mới vươn tới một điều còn lớn lao hơn cả chính nỗi niềm của mình. Đó không chỉ là chân lý cho trí ta đong đầy, không chỉ là thiện hảo cho lòng ta mê thích, cũng không chỉ là nét đẹp cho mắt nhìn no thỏa mà chính là một Đấng, Đấng ấy là Thiên Chúa hằng hy vọng vào ta.

Và như thế, thiết tưởng đã đến lúc đặt ra vấn đề: liệu ta có niềm hy vọng ấy chưa?

Bài đọc thứ nhất nhắc nhở “Đừng sợ. Đừng sợ không có niềm hy vọng vì trước khi ta có thể hy vọng thì Chúa đã hy vọng vào ta. Đó là một hồng ân. Cũng đừng sợ mình mất niềm hy vọng như thể ta sống có một mình. Có một Đấng cùng sống với ta và Đấng ấy không dễ gì để mất ta đâu. Cũng đừng sợ niềm hy vọng của ta sao quá nhạt nhòa, bởi hy vọng là một công trình cả đời. Điều đáng sợ đáng ngại và đáng đau khổ nhất là “thấy Thiên Chúa bị bóp chết trong một đời người”, nghĩa là người ta khước từ hy vọng, bóp nghẹt hy vọng nhân danh sự tự do hoặc danh lợi thú.

Bài đọc thứ hai khuyến khích “Hãy vui lên!” Vui vì ta là niềm hy vọng trong mắt nhìn cứu độ của Thiên Chúa và đồng thời cũng là niềm hy vọng thắp sáng cho anh em mình nữa, để không chỉ gây thắc mắc “nghĩ gì vui thế mà cười một mình” như Trần Tiến trong ca khúc “Thành phố trẻ”, mà còn để chuyển tải đến môi trường xung quanh một niềm vui chan hòa và chí bền chiến đấu.

Ai đã coi cuốn phim “Cuộc đời Chúa Cứu Thế” chắc còn nhớ lúc kết, sau khi đã có biến cố lên trời và lời trao sứ vụ đến với muôn dân, người ta cho xuất hiện trên màn ảnh một chân dung của Chúa Giêsu thật lớn tươi cười với chiếc răng khểnh đàng hoàng. Không biết dụng ý của đạo diễn thế nào, nhưng phải nói là có tác dụng phấn khích, vừa đem lại nét tươi tắn cho cuốn phim, vừa đem đến niềm vui chan hòa hy vọng.

Mong rằng nụ cười thật lạ ấy cũng trở thành niềm vui cho ta trên nẻo sống đức tin và thể hiện niềm hy vọng. Được như thế, Chúa Nhật hôm nay đích thực là Chúa Nhật của niềm vui, và Mùa Vọng cũng thêm sáng nghĩa là mùa màu hồng hy vọng thật đẹp thật tươi thật nhiều nụ cười cho người người hạnh phúc.

Về mục lục

.

NIỀM VUI CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Cuộc đời là một chuỗi những ngày đi tìm hạnh phúc. Hạnh phúc luôn được tìm kiếm qua từng lứa tuổi. Từng ngày trôi qua ta vẫn mong chờ hạnh phúc đến. Con người sống dường như không thể thiếu hạnh phúc. Họ luôn khao khát. Họ luôn mong chờ. Họ luôn tìm kiếm. Nhưng dường như hạnh phúc vẫn không trọn vẹn. Hạnh phúc cũng chợt đến, chợt đi khiến con người vẫn lao đao tìm kiếm.
Có một chàng trai luôn đặt câu hỏi này với những người mà chàng cho rằng quan điểm của họ có thể giúp chàng đi đúng hướng trên con đường gian nan đi tìm hạnh phúc.
– Hạnh phúc là gì?
– Hạnh phúc là tiền bạc – người thương gia giàu có đáp.
– Hạnh phúc là sự nổi tiếng – một ca sĩ trả lời.
– Hạnh phúc là một gia đình hòa thuận, trên dưới một lòng – một người cha đáng kính đáp.
– Hạnh phúc là một công việc làm tốt, thân thể khỏe mạnh không bệnh tật – một anh công nhân nói.

Và còn vô số những định nghĩa mà thoạt đầu chàng đều cho là có lý và chàng cố gắng làm theo.
Năm tháng trôi qua, chàng đã có một công việc ổn định, một người vợ đảm đang cùng 2 đứa con xinh xắn, khôn ngoan. Chàng không bệnh tật gì, trái lại còn có một sức khỏe rất tốt. Chàng đã bắt đầu có tiếng trên thương trường và tiền bạc không còn là một nỗi băn khoăn gì cả.
Thế nhưng chàng vẫn chưa thỏa mãn, chàng vẫn chưa cảm thấy hạnh phúc hoàn toàn. Và chàng tiếp tục săn tìm lời giải cho câu hỏi:
– Hạnh phúc là gì?
Và một hôm tình cờ chàng thấy một ông lão ăn xin áo quần tả tơi đi trong mưa gió. Chàng dừng lại trao cho ông chiếc áo khoát của chàng. Chàng che dù cho ông. Vừa đi vừa nói chuyện. Tâm hồn chàng tự dưng cũng vui lên. Chàng chợt nhận ra hạnh phúc chính là biết giúp đỡ tha nhân. Biết cho đi mới là hạnh phúc.
Chúa Giê-su đã đến trần gian để hát khúc hát yêu thương. Ngài đã tìm niềm vui trong đời sống phục vụ. Cuộc đời Ngài cũng trở thành niềm vui cho nhân thế. Có biết bao mảnh đời bất hạnh nay tìm thấy ủi an, nâng đỡ nơi Đấng Messia. Đây chính là dấu chỉ của triều đại Nước Thiên Chúa đang đến. Một dấu chỉ tràn đầy tình thương khi những mảnh đời bất hạnh được yêu thương. Người mù được nhìn thấy. Người điếc được nghe tin mừng. Người câm nói được. Người què nhảy nhót như nai.
Như vậy triều đại của Đấng Messsia sẽ tràn ngập niềm vui cho những mảnh đời bất hạnh lầm than. Nước Chúa hiển trị cũng đồng nghĩa với việc con người sống hạnh phúc hơn khi được quan tâm chia sẻ với nhau. Trong Nước của Thiên Chúa sẽ không còn tiếng khóc của khổ đau, nghèo đói. Không còn cảnh chiến tranh loạn lạc mà tiên tri Isaia từng loan báo: người ta sẽ lấy gươm mà rèn thành lưỡi cày và mọi người sẽ hát khúc hoan ca thanh bình.
Cuộc sống sẽ đẹp hơn khi con người đùm bọc chia sẻ với nhau. Biết sống yêu thương để không ai nghèo đói trong cộng đoàn của mình. Biết sống nâng đỡ nhau để không ai ngã quỵ mà không có bàn tay cảm thông nâng đỡ. Một xã hội biết sống đùm bọc nâng đỡ nhau sẽ mang lại niềm vui hạnh phúc cho mọi phận người.
Hôm nay gọi là Chúa nhật hồng. Phụng vụ cho chúng ta thấy khuôn mặt của Đấng Messia tràn đầy tình thương của Lòng Thương Xót. Lòng Thương Xót Chúa sẽ dành cho mọi phận người. Chính Ngài khi cư ngụ giữa chúng ta sẽ mang lại niềm vui và hạnh phúc cho con người. Qua đây, Giáo hội cũng muốn chúng ta hãy rao giảng về lòng thương xót của Chúa cho anh em. Rao giảng bằng đời sống yêu thương và phục vụ. Rao giảng bằng lời nói đi đôi với việc làm. Rao giảng không phải là truyền cho họ một mớ lý thuyết mà là diễn tả lòng thương xót của Chúa qua chính đời sống của mình.
Xin cho chúng ta đủ niềm tin để phó thác vào lòng Thương Xót Chúa , đồng thời cũng trở thành nhân chứng cho Lòng Thương Xót của Chúa giữa thế gian mà lòng quảng đại, sự dấn thân vô vị lợi đang thiếu dần, ngõ hầu làm cho triều đại Chúa luôn rạng rỡ trên thế gian. Amen.

Về mục lục

.

ANH EM HÃY VUI LÊN

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Bước vào Chúa nhật thứ I Mùa Vọng, Lời Chúa mời gọi chúng ta : “Hãy tỉnh thức” (Mt 24, 44). Sang Chúa nhật thứ II, tiếng hô lớn của Gioan Tẩy Giả vọng vang : “Hãy ăn năn thống hối, vì nước trời gần đến”. Chúa nhật thứ III hôm nay, Phụng vụ Giáo hội đang màu tím chuyển sang hồng như Chúa nhật IV Mùa Chay, đánh dấu một giai đoạn sám hối, nay nghỉ một chút để nhìn lại chặng được đã qua với niềm vui vì những gì đã đạt được, và lấy thêm đà mới chuẩn bị mừng (Chúa Giáng Sinh), nên Giáo hội mời gọi con cái mình “Gaudete” Hãy vui lên.

Vui lên, vì theo tiên tri Ôsê loan báo: “Với Ít-ra-en Đức Giêsu sẽ như làn sương mai làm nó vươn lên như bông huệ ” (Os 14, 6). Chúng ta tỉnh thức, làm việc lành chứng tỏ lòng thống hối nhưng không buồn rầu, trái lại vui tươi “anh em hãy vui luôn trong Chúa…vì Chúa đã gần đến”  (Ph 4,4-5). Với những lời trên của thánh Phaolô Tông Đồ làm tâm hồn chúng ta rạo rực hẳn lên. Niềm vui này nảy sinh từ cuộc gặp gỡ với con người sinh động là Chúa Giêsu.

Gaudete” là chủ đề của Chúa nhật này; “Anh em hãy vui luôn trong Chúa! Tôi nhắc lại một lần nữa: anh em hãy vui lên!” (Ph 4,4-5). Lời nguyện nhập lễ hôm nay đưa chúng ta vào chính niềm vui thiêng thánh ấy: “Lạy Chúa, xin đoái xem, này dân Chúa đem tất cả niềm tin đợi chờ ngày lễ Sinh Nhật Đấng Cứu Thế. Xin hướng niềm vui chúng con về chính nguồn hoan lạc của mầu nhiệm Giáng Sinh cao cả để tâm hồn chúng con hoàn toàn đổi mới mà họp mừng ngày cứu độ đã gần kề”.

Chúng ta bước vào mầu nhiệm của niềm vui ơn cứu độ: “Các tầng trời, hãy trổ hoa công chính, và ngàn mây hãy mưa ơn cứu độ! Hỡi ngươi là kẻ đưa tin mừng cho Sion, hãy trèo lên núi cao! Hỡi ngươi là kẻ đưa tin mừng cho Giêrusalem, hãy mạnh dạn cất tiếng! Hãy cất tiếng cao đừng sợ, hãy nói cho các dân thành thuộc chi họ Giuđa rằng: Đây Thiên Chúa các ngươi, đây Chúa là Thiên Chúa các ngươi sẽ đến trong quyền lực” (Is 40, 9).

Làm sao không thể không vui khi nghe những lời loan báo đầy niềm vui của Isaia: “Hãy nói với những kẻ nhát gan: “Can đảm lên, đừng sợ! Thiên Chúa của anh em đây rồi; sắp tới ngày báo phục, ngày Thiên Chúa thưởng công, phạt tội. Chính Người sẽ đến cứu anh em.” (Is 35, 4) Và làm sao không thể không mừng khi “nơi hoang địa cằn cỗi sẽ vui mừng, cõi tịch liêu sẽ hân hoan và nở bông dường như khóm huệ, sẽ nẩy chồi non và hoan hỉ vui mừng” (Is 35, 1). Lại nữa : “Bấy giờ mắt người mù sẽ nhìn thấy, và tai những người điếc sẽ được nghe. Bấy giờ người què sẽ nhảy nhót như nai, những người được Chúa cứu chuộc, sẽ trở về, và đến Sion với lời khen ngợi; và trên đầu họ mang hoan hỉ triền miên, họ sẽ được vui mừng khoái trá, họ sẽ không còn đau buồn; rên siết sẽ trốn xa” (Is 35, 6).

Đọc trang Tin Mừng hôm nay, chúng ta bắt gặp một nhân vật có vai trò đặc biệt trong việc chuẩn bị đón Chúa Giêsu giáng sinh đến với nhân loại là  Gioan Tẩy Giả. Ngài xuất hiện trong tư cách là vị tiên tri cuối cùng của Cựu Ước, là hy vọng cuối cùng của một dân tuyệt vọng. Ngài được các tiên tri báo trước : “Này Ta sai sứ thần Ta đi trước mặt con, người sẽ dọn đường cho con đi ” (Mt 11, 10). Chúng ta đang vui sẵn, sự xuất hiện của ngài làm cho chúng ta vui thêm, vì lời hứa đã trở thành hiện thực. Việc ngài sai các môn đệ đến hỏi Đức Giêsu có phải là Đấng phải đến không cho chúng ta câu trả lời đầy niềm vui vì Chúa đã đến thật rồi.

“Gaudete” Hãy vui lên, chúng ta lặp lại lời thánh Phaolô lần nữa: “Anh em hãy vui lên!”  (Ph 4,4). Niềm vui chân thực không phải là kết quả sự vui chơi giải trí, nhưng gắn liền với một cái gì sâu xa hơn, đó là quan hệ với Thiên Chúa. Ai đã gặp được Chúa Kitô trong cuộc đời, người ấy sẽ cảm nghiệm sự thanh thản và niềm vui trong tâm hồn mà không một ai hoặc hoàn cảnh nào có thể tước mất. Thánh Augustinô đã hiểu điều đó rất rõ. Trong cuộc tìm kiếm của ngài đối với chân lý, an bình và mừng vui, sau khi đã kiếm tìm trong nhiều sự mà không có kết quả, thánh nhân đã kết luận với câu thời danh rằng : “Tâm hồn bất an của con người chỉ tìm được thanh thản và an bình cho đến khi được an nghỉ trong Chúa” ( Le Confessioni, I,1,1). Niềm vui đích thực không phải chỉ là một tâm trạng chóng qua, cũng chẳng phải là điều ta đạt tới bằng sức riêng của mình, nhưng là một hồng ân, nảy sinh từ sự kiện ta dành chỗ cho Chúa trong chúng ta, Trong Mùa Vọng này, chúng ta hãy củng cố xác tín Chúa đã đến giữa chúng ta và tiếp tục đổi mới sự hiện diện an ủi, yêu thương và vui mừng của Ngài. Chúng ta hãy tín thác nơi Chúa; như thánh Augustinô cũng đã quả quyết, do kinh nghiệm của ngài: “Chúa gần chúng ta hơn chúng ta gần chính mình” (Le Confessioni, III, 6,11).

Chúng ta hãy phó thác hành trình của chúng ta cho Ðức Maria, thần trí của Mẹ đã vui mừng trong Chúa là Ðấng Cứu Thế. Xin Mẹ hướng dẫn tâm hồn chúng ta trong sự vui mừng chờ đợi Chúa Giêsu đến, một sự chờ đợi đầy kinh nguyện và việc lành. Amen.

Về mục lục

.

GAUDETE – CHÚA NHẬT HỒNG GIỮA MÙA TÍM

Lm. GB. Trần Văn Hào

Trong Hiến chế Gaudium et Spes, công đồng Vaticanô 2 đã mở đầu với đường hướng mục vụ như sau: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày hôm nay cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Đức Kitô, và không có gì là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ”. Những môn đệ của Chúa Giêsu phải sao chép lại cuộc sống của Thầy mình. Ngài đã đến trần gian chung hòa kiếp sống với chúng ta và đi sâu vào phận người. Ngài vui với người vui, khóc với người khóc và tiến nhận cái chết trên Thập giá để khai mở cho nhân loại chân trời ơn cứu độ. Cái chết và sự Phục sinh của Đức Giêsu chính là căn nguyên của niềm vui, biến ưu sầu thành hoan lạc, biến khổ đau thành hạnh phúc cho con người.

Nói tóm lại, đạo Công giáo không phải là một tôn giáo nhuốm vẻ bi thương và sầu khổ, cho dù khi nhìn lên Thánh giá, chúng ta dễ rơi vào tình cảm đạo đức mang dáng dấp khổ đau. Đạo hay con đường mà Chúa Giêsu mở toang ra cho nhân loại chính là con đường của niềm vui và hy vọng.

Đây cũng chính là chủ đề của phụng vụ Chúa nhật hôm nay, Chúa nhật Gaudete. Các bài đọc đều vang vọng lời hiệu triệu: “ Hãy vui lên vì Chúa đã gần đến, Đấng thánh Israel đang ở giữa ngươi”. Chúa Nhật hôm nay còn được gọi là ‘Chúa Nhật hồng giữa mùa tím’ với tâm tình hoan vui này.

Vui mừng và hy vọng

Các bài đọc Lời Chúa Giáo hội đọc lên trong phụng vụ hôm nay đều mang âm hưởng của một niềm vui sâu xa. Trong bài đọc thứ nhất, ngôn sứ Isaia tiên báo về kỷ nguyên thiên sai, thời kỳ ngập tràn niềm vui và an bình. Hình ảnh ‘Sa mạc, đồng khô cỏ cháy trổ bông như khóm huệ, nước vọt lên giữa sa mạc, mọi người hân hoan nhảy múa, mắt người mù được mở ra, tai người điếc nghe được, kẻ quẻ nhảy nhót như nai..’ là những hình tượng biểu trưng một nền hòa bình thịnh vượng vào kỷ nguyên Thiên sai. Đức Giêsu -Đấng Messia- chính là căn nguyên của niềm vui, là điểm tựa cho những người khổ đau, và cũng là Đấng chúng ta đang ngong ngóng đợi chờ trong hy vọng và vui mừng. Trong bài đọc 2, Thánh Gia cô bê cũng mời gọi chúng ta hãy kiên nhẫn và bền tâm vững chí chờ đợi Chúa quang lâm. Ngài là ‘Đấng từ bi nhân hậu’ sẽ mang đến cho chúng ta niềm vui tròn đầy. Đó là những lý do căn bản để Giáo hội khơi dậy niềm vui qua phụng vụ hôm nay.

Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 cũng đã khởi đầu triều đại Giáo hoàng của mình với thông điệp ‘Đừng sợ’. Đây không phải là lời trấn an mang tính tâm lý nhưng là lời mời gọi chúng ta hãy đi sâu vào cảm thức đức tin để luôn bám chặt vào Thiên Chúa, Đấng mang lại niềm vui và sự an bình. Vì thế bắt đầu mùa vọng để khai mở năm thánh 2000, Ngài đã gửi đi bức thông điệp để nhắn nhủ mọi người, đặc biệt các bạn trẻ: “ Đừng sợ, hãy mở cửa đón Đức Kitô” (Don’t be afraid, open the door to Christ).

Kinh thánh Cựu ước kể lại câu chuyện về bà Sara vợ ông Abraham. Bà Sara đã già nua, đến tuổi gần đất xa trời, nhưng Đức Chúa lại nói cho bà biết bà sẽ sinh con trai. Có lẽ bà nghĩ Thiên Chúa cũng có đầu óc khôi hài, nên bà đã phì cười. Thần sứ hỏi tại sao bà cười, hay bà nghi ngờ và không tin lời Chúa nói. Bà chối phắt vì sợ (St 18, 16). Sự sợ hãi đã làm lịm tắt nụ cười trên đôi môi của bà. Nhưng khi bà sinh con, niềm vui đã trở lại, vì bà đã hoàn toàn tin tưởng nơi Chúa. Abraham được mệnh danh là cha của những kẻ tin. Còn bà Sara, (theo nguyên ngữ tiếng Aram, có nghĩa là ‘người đàn bà cười’), đã tìm lại niềm vui và thoát khỏi sợ hãi, vì cuối cùng bà cũng tin vào lời của Đức Chúa.

Vì vậy, để có được niềm vui, chúng ta phải quy hướng trọn vẹn về Chúa. Niềm vui và sự bình an chân thật không đến từ những ồn ào náo nhiệt bên ngoài của ngày lễ Giáng sinh, nhưng niềm vui phát xuất từ sâu tận bên trong tâm hồn. Chúng ta nhìn vào mẫu gương Mẹ Maria. Sau khi thưa lời xin vâng và đón nhận Đức Giêsu đến ẩn cư trong cung lòng mình, Mẹ liền vội vã lên đường với niềm vui tròn đầy. Vừa đến nhà bà chị họ Isave, Đức Maria đã thốt lên: “ Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng trong Chúa Đấng cứu chuộc tôi” (Lc 1, 39). Đó là niềm vui sâu xa trong tâm hồn của những ai luôn sống kết hợp với Chúa là Chúa của niềm vui.

Thưa ông chúng tôi phải làm gì?

Để có được niềm vui thực sự, chúng ta cũng phải đặt ra câu hỏi giống dân Do thái ngày xưa khi nghe Gioan rao giảng: “ Thưa ông, chúng tôi phải làm gì?” Điều mà Thánh Gioan tiền hô khuyên nhủ dân chúng là hãy thành tâm chỉnh sửa lối sống, thực thi công bằng và sống bác ái đối với nhau. Con đường đến với Chúa và con đường đến với tha nhân cũng chỉ là một, bởi vì tha nhân chính là bí tích hiển thị dung mạo của Đức Kitô, như Ngài đã nói: “Vì xưa Ta đói các ngươi đã cho ăn, Ta khát các ngươi đã cho uống, Ta trần trụi các ngươi đã cho mặc, Ta đau yếu hay ở tù các ngươi đã thăm nom” (Mt 25, 40).

Triết gia Nietzche đã có lần tuyên bố: “ Tha nhân là hỏa ngục”. Ông là một người vô thần, không tin Thiên Chúa nên không thể nào khám phá ra hình ảnh Thiên Chúa nơi những con người mà ông gặp gỡ hằng ngày. Ngược lại, Thánh Giacôbê đã viết: “ Ai nói mình yêu mến Thiên Chúa mà giận ghét anh em, đó là kẻ nói dối”. Thánh Gioan tiền hô là người dọn đường để chúng ta đến  với Chúa, và con đường để đến được với Chúa phải đi ngang qua tha nhân.

Trước lễ Giáng sinh, chúng ta vẫn thường gửi những cánh thiệp để chúc nhau một lễ Noel vui tươi và an bình. Niềm vui và sự bình an đó chỉ có thể đạt được khi chúng ta biết giao hòa thực sự với Chúa và với nhau, gạt bỏ hết những thù hận và chia cách.

Có một vị linh mục đã có sáng kiến trang trí cho ngày lễ Giáng sinh bằng cách dựng một máng cỏ với cây Thánh giá bên cạnh thay cho cây Noel. Sáng kiến này khá độc đáo, bởi vì theo Ngài, Chúa Giêsu đến trần gian để bắt đầu cuộc hành trình yêu thương nơi chuồng bò Belem và kết thúc cuộc hành trình ấy nơi đỉnh cao Calvê. Máng cỏ Belem và Thập giá núi Sọ là hai thông số của một thực tại duy nhất, đó là tình yêu Thiên Chúa dành trao cho con người. Vì thế muốn hưởng nhận niềm vui Giáng sinh cách thật sự, chúng ta cũng phải cảm thấu và hiển thị tình yêu một cách rõ nét, không phải chỉ qua những buổi tham dự phụng vụ để đến với Chúa, mà còn trong trọn cuộc sống để đến với nhau, nhất là phải cải thiện mối tương quan với mọi người như lời nhắn nhủ của thánh Gioan tiền hô ngày hôm nay.

Kết luận 

Chúa Nhật hôm nay còn được gọi là Chúa Nhật Gaudete, Chúa Nhật của niềm vui và cũng là Chúa Nhật hồng giữa mùa tím. Đạo Công giáo là đạo của niềm vui, đạo của mầu hồng tươi sáng. Chúa đến trần gian không phải để thiết lập một tôn giáo như người ta vẫn hay nghĩ tưởng. Hai ngàn năm trước, Ngài đi sâu vào phận người để công bố cho chúng ta một tin vui, đó là tin Thiên Chúa yêu thương con người. Tin vui hay Tin mừng này khởi đầu từ máng cỏ Belem và đạt đến đỉnh điểm khi Ngài bị treo thân trên Thập giá. Chúa Giêsu đến trần gian và mời gọi chúng ta nên thánh, nhưng như DonBosco đã nói cho các học sinh: “Bí quyết nên thánh là luôn sống vui tươi và chu toàn bổn phận của mình”. Cũng tương tự, Thánh Phanxicô Salê cũng dí dỏm nói rằng:  “Một vị thánh buồn là một vị thánh thật đáng buồn”. Chớ gì chúng ta cảm nhận được niềm vui thánh thiện trong dịp lễ Giáng sinh sắp tới cũng như trong suốt cả ‘mùa vọng lớn’ là chính cuộc lữ hành đức tin của chúng ta ngày hôm nay.

Về mục lục

.

THẦY CÓ PHẢI LÀ ĐẤNG PHẢI ĐẾN CHĂNG ?

 Lm Giacobe Tạ Chúc 

Trong hoàn cảnh thật trớ trêu, ở chốn lao tù đầy khổ hạnh. Thánh Gioan Tẩy Giả luôn canh cánh trong lòng, niềm khao khát mong đợi Đấng Cứu Thế, đến để giải thoát dân tộc Do thái, khỏi mọi xiềng xích nô lệ, tinh thần cũng như thân xác. Giờ đã đến, lúc Đấng Cứu Thế sẽ đến, và những dấu chỉ để nhận ra Ngài  như I-sai-a đã loan tin: “Bấy giờ mắt người mù sẽ nhìn thấy, và tai những người điếc sẽ được nghe. Bấy giờ người què sẽ nhảy nhót như nai, những người được Chúa cứu chuộc, sẽ trở về, và đến Sion với lời khen ngợi; và trên đầu họ mang hoan hỉ triền miên, họ sẽ được vui mừng khoái trá, họ sẽ không còn đau buồn; rên siết sẽ trốn xa” (Is 35, 1-6) 

Chúa Giê-su, không trực tiếp trả lời những chất vấn của Thánh Gioan, qua trung gian, những môn đệ mà Gioan sai đến, Ngài đã chỉ cho họ Đấng Cứu tinh đã đến và đang tới. Triều đại của Ngài được loan báo với những tín hiệu vui mừng, hân hoan và tràn đầy niềm vui vĩnh cửu. Giấc mơ một xứ sở, chảy sữa và mật ong không còn xa nữa. Thời gian như được rút ngắn lại. Thiên Chúa đã tỏ vinh quang của Ngài cho con người. Vinh quang mà những ai khiêm nhu, nghèo khó, và siêu thoát thì mới có thể nhận ra Ngài. Thánh Gioan loan báo và chỉ cho mọi người biết để đón nhận Đấng Cứu Thế. Về phần mình, Chúa Giê-su bày tỏ cảm xúc đặc biệt với vị Tiền hô, đã vì chân lý Tin mừng mà phải chịu cảnh tù đày trước bạo chúa Hê-rô-đê An-ti-pa: “ Ta bảo thật các ngươi, trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông”(Mt 11,11). Gioan đã thi hành phận vụ là kẻ dọn đường cho Chúa Giê-su một cách hết sức cao cả, và ông đã kết thúc cuộc đời trong triều thiên, của một chứng nhân, cho Đấng Cứu Độ, mà muôn dân hằng đợi trông. Máu của Gioan một cách nào đó, như là những giọt máu, mồ hôi, nước mắt của cuộc đời Chúa Giê-su sau này. Sự khiêm hạ của ông đã làm Chúa Giê-su khen ngợi, và chỉ cho đám đông thấy chân dung của một vị ngôn sứ là: “ Anh em ra xem gì trong hoang địa, một cây sậy phất phơ trước gió” (Mt 11,7). Vâng đúng như cuộc đời thoát tục và trầm mình trong khổ chế của Gioan. Chúa Giê-su đến để mang lại hòa bình cho chúng ta. Ngài chính là Sứ Giả mà Chúa Cha đã gởi đến cho nhân loại. Mặc dù sinh ra và lớn lên trong cảnh cơ hàn, cuộc sống của Ngài là một hành trình xuất thế và nhập thể, dẫu rằng con người không tin nhận, nhưng mãi mãi Ngài vẫn là Đấng mà Thánh Gioan đã loan báo, và chỉ cho dân chúng thấy khi Ngài xuất hiện.  Hãy kiên nhẫn chờ đợi, vì Thiên Chúa chúng ta đã gần đến: “ Anh em cũng vậy, hãy kiên nhẫn và bền tâm vững chí, vì ngày Chúa quang lâm đã gần tới”(Gc 5,7-10). 

Mừng vui lên vì Chúa sắp ngự đến, nơi hoang địa khô cằn sẽ vui mừng và cõi tịch liêu sẽ hân hoan, đón mừng ngày Chúa sinh ra. Maranatha! Lạy Chúa Giê-su  xin hãy đến với chúng con, trong gia đình, cuộc sống, và từng phút giây trong cuộc đời. Amen.

Về mục lục

.

NIỀM HY VỌNG KIÊN CƯỜNG

Lm Giuse Nguyễn Hữu An 

Ngày 5/12/2013, cựu tổng thống Nam Phi-Nelson Mandela qua đời ở tuổi 95. Ông là người lãnh đạo phong trào xóa bỏ chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid ở Nam Phi, giúp cho người da đen được hưởng các quyền bình đẳng như thiểu số da trắng. 

Bước ra ánh sáng sau 27 năm bị giam cầm vào năm 1990, việc đầu tiên Mandela làm là tìm cách hòa giải một dân tộc bị chia rẽ bởi thù hận và định kiến trong hàng thế kỷ qua.Ông hiểu rằng hòa giải không thể thiếu sự thật: nếu tội ác của chế độ Apartheid không được làm sáng tỏ và công lý không được thực thi thì người dân Nam Phi sẽ sống trong một nền hòa bình rất mong manh, chỉ cần một biến cố nhỏ là bạo lực sẽ lại bùng phát.

Ông biết rằng, nếu đi tìm công lý bằng một cuộc tắm máu khác, chắc chắn đất nước sẽ bị đẩy vào vòng nội chiến.Ông đã dùng tài ngoại giao, trí thông minh, và cả trái tim bao dung của mình để “đi trên dây” giữa hai làn ranh giới.Một mặt ông đi gặp những nhà lãnh đạo của người Afrikaner, chủng tộc da trắng nắm quyền trong chế độ apartheid để đàm phán về tương lai đất nước. Mặt khác, ông tích cực thuyết phục quần chúng giận dữ phải giữ bình tĩnh vì lợi ích chung. 

Ông nói với những thành phần cực đoan muốn trả nợ máu với người da trắng ở Johannesburg vào năm 1993: “Tôi là lãnh đạo của các bạn. Nếu các bạn không cần tôi nữa, thì tôi sẽ lui về nghỉ. Nhưng chừng nào tôi còn làm lãnh đạo, tôi phải lên tiếng rằng: điều chúng ta đang làm là rất sai”. Đám đông này sau đó tự động giải tán. 

Để xử lý vấn đề tội ác của chế độ Apartheid, Mandela đã lựa chọn một giải pháp mà chưa từng một lãnh đạo nào trong hoàn cảnh của ông thực hiện.Thay vì tạo ra một phiên toàn xét xử tội ác của chế độ như thông thường, ông cho thành lập “Ủy ban Sự thật và Hòa giải” với mục đích đúng như tên gọi của nó: làm lành đi những vết thương quá khứ. Nạn nhân kể về những tội ác mà họ đã chứng kiến hoặc trải qua dưới chế độ apartheid, và những kẻ cầm quyền cũ sẽ được khoan hồng nếu thừa nhận những tội ác mà họ gây ra. 

Với tài năng của một chính trị gia, và hơn tất cả là một trái tim biết khoan dung, Nelson Mandela đã tạo ra sự khởi đầu cho điều kỳ diệu ở Nam Phi: từ một quốc gia bị chia rẽ sâu sắc bởi chủng tộc, Nam Phi trở thành một “đất nước cầu vồng,” nơi tất cả màu da đều được tôn trọng và đối xử bình đẳng. Nam Phi vươn lên thành quốc gia giàu nhất ở lục địa Đen, có mặt trong nhóm các quốc gia “quyền lực mới” BRICS, và xây dựng lên một xã hội tự do và hiện đại (x.Khắc Giang, tuanvietnam.net). 

Ông Mandela đã trải qua gần 30 năm ngục tù vì cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho người da màu. Vị Tổng thống này đã được trao giải Nobel Hòa bình vào năm 1993. 

Lên tiếng cho Sự thật và lương tri, Thánh Gioan Tiền Hô, vị Ngôn sứ công lý bị nhốt vào tù ngục. Xã hội Do Thái thời Gioan có rất nhiều tệ đoan. Quốc gia bị chính quyền La Mã đô hộ. Trong nội bộ lại có sự chia rẽ trầm trọng giữa các đảng phái chính trị và tôn giáo. Bất công, tham nhũng và vô luân lan tràn từ trên xuống dưới, nơi những nhà lãnh đạo dân sự cũng như tôn giáo.Vua Hêrôđê có đời sống loạn luân, cướp vợ của em trai mình. Người ta cảm thấy rất khó chịu khi có ai dám sửa sai, dám nói thẳng về những lỗi lầm của mình. Người cầm quyền càng khó chịu hơn và thường dùng quyền lực để đàn áp. Vì thế quyền lực thường tạo nên sợ hãi và im lặng. Gioan rất nhạy bén trước tội lỗi nên đã can đảm tố cáo tội của tiểu vương Hêrôđê, bất chấp hậu quả tù đày. Hêrôđê người đàn ông quyền lực và ham mê sắc dục, gian díu với Hêrôđiađê, người đàn bà đẹp nhưng ham mê quyền bính. Hai con người đó làm nên bi kịch của lịch sử. Ai cũng sợ hãi, không dám nói. Chỉ có Thánh  Gioan Tiền Hô lên tiếng phản đối nên đã bị tống giam. Bênh vực công lý, nói lên sự thật đã đưa Gioan tới cái chết. Chết là cái giá rất đắt cho chứng nhân bảo vệ công lý, bảo vệ thuần phong mỹ tục, bảo vệ cho các giá trị đạo đức truyền thống. 

Theo truyền thống Do thái, đa số ngôn sứ đều là những người bị ngược đãi, bị bách hại và bị giết chết. Truyền thống nói rằng ngôn sứ Isaia bị xử tử, ngôn sứ Mikha bị lăng nhục, ngôn sứ Giêrêmia bị đánh đòn và bị tống giam vào tù, chưa nói đến biết bao ngôn sứ bị giết chết dưới triều đại vua Akháp và vua Giôakim, và cũng có thể dưới triều đại vua Manasê vô đạo. Ngôn sứ Gioan thật cương nghị với lối sống không hề cúi gập người lại trước những bậc quyền quý (x.Mt 14,3-12). Thực thi công lý nên Gioan là một ngôn sứ nói nhân danh Thiên Chúa và đáng tin (x.Mt 21,26.32).

Thánh Gioan đã từng trải qua những giờ phút vinh quang khi dân chúng kéo đến với ông trong sa mạc, bên bờ sông Giođan xin ông làm phép rửa. Giờ đây, thời vàng son đã khép lại. Chỉ còn các môn đệ liều mình vào tù thăm nuôi rồi kể chuyện bên ngoài cho Gioan nghe. 

Thánh Gioan băn khoăn lo lắng khi nghe tường thuật về Chúa Giêsu thường giao du với những kẻ tội lỗi, vào trong nhà người tội lỗi, đồng bàn với họ và tha thứ tội lỗi cho họ. Ngôn Sứ Tiền Hô đang ở trong tù mà không được Đấng Cứu Thế đến giải thoát.Nổi khắc khoải cào cứa trong lòng.Vì thế, Gioan đã sai các môn đệ đến hỏi thẳng Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn đợi ai khác?”.  

Trước đây, Gioan đã từng giới thiệu về Chúa Giêsu cho dân chúng: “Tôi lấy nước mà rửa anh em, song có Đấng đến sau tôi, tôi không xứng đáng cởi giây giày cho Người” (Mt 3,11); “Chính Đấng ấy sẽ rửa anh em bằng nước và Thánh Thần”. Gioan cũng đã giới thiệu với các môn đệ về Chúa Giêsu: “Đây chính là chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1,29). 

Gioan không ngừng loan báo cho dân chúng uy thế của Đấng sẽ đến. Theo cách diễn tả cùng với những hình ảnh kèm theo, dường như chính ông cũng đang mong chờ Đấng ấy như một vị thẩm phán nghiêm minh. Đấng ấy sẽ không nương tay, Nguời sẽ thực thi công bình và sẽ tiêu diệt, sẽ “rê sạch thóc”, sẽ đem số “thóc lép”, tức là những kẻ làm điều gian ác, ném vào lửa đời đời. Đối với Gioan, Đấng Cứu Thế đến giải phóng Ítraen cả trong phạm vi trần thế nữa, về chính trị và kinh tế như kiểu một vị vua Do Thái bách chiến bách thắng để đem vinh quang nước Ítraen lên tột đỉnh. Gioan nóng lòng vì chưa thấy Chúa Giêsu thực thi sứ vụ theo sứ điệp “dữ dội” mà ông rao giảng, nên Gioan muốn hỏi rằng: có phải Thầy là vị cứu tinh phải đến để bài trừ những tệ đoan, bất công và tham nhũng trong xã hội không? 

Những lời nói và việc làm của Chúa Giêsu lại không phù hợp với những gì ông đã rao giảng. Chúa Giêsu xuất hiện như một vì tôi tớ hơn là một Đấng quân vương. Người cũng không giống như quan toà nghiêm minh thẳng tay trừng phạt kẻ tội lỗi. Trái lại, Người luôn luôn yêu thương, kêu gọi họ trở về, đồng bàn với họ. Đối với người nghèo khổ, bệnh hoạn tật nguyền, Người hết mực yêu thương, bao bọc chở che chăm sóc chữa lành chứ không xa lánh khinh khi vì sợ lỗi luật như các Rabbi. Chính vì thế, khủng hoảng niềm tin của Gioan Tẩy Giả cũng là điều dễ hiểu. Trong hoàn cảnh ngục tù, Gioan đã biết tìm đến Chúa Giêsu để tìm sự giải đáp cho những thao thức canh cánh trong lòng. Và Gioan đã tìm thấy.

Chúa Giêsu không bị giới hạn trong cái nhìn chật hẹp của Gioan. Người muốn Gioan mở rộng tầm mắt với một lối nhìn mới mẻ, phong phú hơn: ″Các anh cứ về tường thuật cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch,người chết sống lại, và Tin mừng được loan báo cho người nghèo khó” (Mt 11,4-5). 

Như vậy, Chúa Giêsu đã trả lời bằng cách trích dẫn ba đoạn văn Isaia đều có hậu cảnh Mêsia: Is 29,17-18: người điếc được nghe, người mù được thấyIs 26, 19: người chết sống lại; Is 61,1: loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Chúa bảo họ hãy về thuật lại những việc Chúa đã làm và những lời Chúa đã nói, những điều đó đủ minh chứng Người là ai. Những điều đó đã được các ngôn sứ loan báo từ dọc dài lịch sử rồi. Trả lời như vậy là Chúa Giêsu gián tiếp bảo cho họ biết: Người không phải là một vị cứu tinh đầy uy quyền, đến giải phóng dân tộc Do Thái như họ mong đợi. Đồng thời Chúa trực tiếp xác nhận sứ mạng và quyền năng của Người: là con Thiên Chúa, là Đấng Thiên Sai đem ơn cứu độ cho mọi người. 

Chúa Giêsu còn biểu dương, ca ngợi Gioan Tẩy Giả trước mặt dân chúng, trước sự chứng kiến của các môn đệ. Người tôn vinh ông, bởi lẽ ông là một Ngôn sứ vĩ đại nhất trong số các Ngôn sứ. Người tôn vinh ông, bởi ông là con người của khổ hạnh nơi hoang địa, là vị Ngôn sứ được mong đợi, là vị Tiền hô đến trước để dọn đường cho Đấng Thiên sai như Ngôn sứ Malakhi đã loan báo : “Này ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến”. Khi nghe môn đệ thuật lại những điều này, Gioan Tẩy Giả hẳn phải vui mừng, bởi Chúa Giêsu không chỉ củng cố, không chỉ giải đáp những hoang mang lo lắng của ông, Người còn khích lệ, tán dương ông, giúp ông vượt qua những thử thách ngục tù để có thể chấp nhận cái chết tử đạo mà ông sẽ lãnh nhận không lâu sau đó. Trong tù, Gioan đã có thời gian để chiêm niệm.Cần phải thay đổi nhận thức và quan điểm của mình về Thiên Chúa. Quyền năng Thiên Chúa là quyền năng của tình thương. Đấng Cứu Thế đi đến đỉnh cao quyền năng là đồi Canvê và thập giá. Từ nay, Gioan hiểu hơn về Đấng mà mình loan báo. Giờ đây Gioan hiểu rằng, Đấng Mêsia mà ông loan báo không phải đến trần gian theo những quan niệm thuần tuý về chính trị, Người đến để rao giảng nước Thiên Chúa và cứu độ nhân loại. Thánh Gioan hạnh phúc an bình ra đi sau khi hoàn tất sứ vụ của mình. 

Thánh Gioan Tẩy Gỉa đã trải qua những thách đố trong sứ vụ. Chính Ngài đã giới thiệu Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế nhưng khi lâm cảnh đau khổ ngục tù không thấy ai giải thoát nên đâm ra nghi ngờ. Nhưng cuối cùng, Gioan đã chứng minh một niềm hy vọng kiên cường. Ngài không phải là cây sậy yếu mềm chao nghiêng trước gió mà chính là một tượng đài bất khuất của lẻ cậy trông. Hạng người khom lòng cúi gập mình chẳng bao giờ có thể trở thành người tử đạo. Gioan không phải là một người bình thường cũng không phải là người hèn yếu như cây sậy bị xiêu đổ dưới cơn gió. Niềm hy vọng chính là sức mạnh giúp Gioan và tất cả những ai đang gặp thách đố biết kiên vững kinh qua tất cả.

Khi chúng ta gặp đau khổ thử thách, đức tin, lòng cậy trông, niềm hy vọng bị lung lay chao đảo. Hãy nhớ Thánh Gioan đã chịu như thế và các tiên tri trong lịch sử cũng mang tâm trạng như vậy. Thánh Gioan không chết trong thất vọng mà chết trong đức tin, chết trong niềm hy vọng, đã đi cho đến cùng sứ mạng làm chứng cho Tin mừng.

Về mục lục

.

THẮC MẮC

Trm Thiên Thu

Franklin Patrick Herbert (1920-1986, văn sĩ, ký giả, nhiếp ảnh gia, nhà phê bình và giảng viên người Mỹ) phân tích: “Người sáng sut, khi không hiu thì h nói: Tôi không hiu. Còn k kh không biết xu h v s ngu dt ca mình. Người sáng suốt là người khôn ngoan, họ biết giới hạn của mình nên không dám khoác lác, cái gì biết thì nói, cái gì không biết thì nói không biết. Ngược lại, kẻ khờ dại lại cứ tưởng mình khôn, luôn ra vẻ “ta đây”, luôn tự ái vì sợ người ta thấy cái dốt của mình.

Biết thắc mắc là cửa ngõ dẫn vào cõi khôn ngoan, tới vùng hiểu biết. Tuy nhiên, muốn thắc mắc cũng phải biết cách thắc mắc, nếu không sẽ hóa ngớ ngẩn hoặc dớ dẩn (từ này có nghĩa “nặng nề” hơn vớ vẩn). Thật vậy, Thomas Fuller (1608-1661, giáo sĩ Anh giáo và sử gia người Anh) nói: “Không phi câu hi nào cũng xng đáng có câu tr li. Cũng có những câu hỏi Chúa Giêsu đã không trả lời.

Hôm nay, Tin Mừng cho biết rằng ông Gioan Tẩy Giả đã thắc mắc về Đấng Cứu Thế nên ông sai đệ tử đến hỏi Chúa Giêsu, nhưng Chúa Giêsu không nói đúng hay sai. Ông Gioan là anh em họ với Đức Giêsu mà vẫn thắc mắc, có lẽ không phải là ông chưa tin người anh em họ với mình là Đấng Cứu Thế, mà ông muốn cho đám đệ tử biết về Đức Giêsu là Đấng Kitô. Nhưng phong cách của Chúa Giêsu luôn khác người, giống như kiểu nói của người Việt: “Người khôăn nói na chng, đ cho k di na mng na lo.

Chúa Nhật III Mùa Vọng là Chúa Nhật Hồng, mệnh danh là Chúa Nhật Vui (Gaudete) – Chúa Nhật IV Mùa Chay cũng là Chúa Nhật Hồng, nhưng mệnh danh là Chúa Nhật Mừng (Lætare). Hơn nữa, trình thuật Kinh Thánh hôm nay – sách Isaia (Is 35:1-6a. 10) – mời gọi mọi người hân hoan: “Vui lên nào, hi sa mc và đng khô c cháy, vùng đt hoang, hãy mng r tr bông, hãy tưng bng n hoa như khóm hu, và hân hoan múa nhy reo hò”.

Có nhiều lý do để người ta vui sướng, đặc biệt là trong thời gian gần dịp Lễ Giáng Sinh, nhưng lý do mà ngôn sứ Isaia đưa ra cụ thể và rất đời thường: “Sa mđược tng ban ánh huy hoàng ca núi Li-băng, v rc r ca núi Các-men và đng bng Sa-ron. Thiên h s nhìn thánh huy hoàng cĐc Chúa, và v rc r ca Thiên Chúa chúng ta. Hãy làm cho nhng bàn tay rã ri nên mnh m, cho nhng đu gi bn rđược vng vàng.

Lý do cụ thể hơn là về tinh thần, ngôn sứ Isaia khuyên chúng ta hãy mạnh dạn nói với những kẻ nhát gan điều này: “Can đm lên, đng s! Thiên Chúa ca anh em đây ri; sp ti ngày báo phc, ngày Thiên Chúa thưởng công, pht ti. Chính Người s đến cu anh em. By gi mt người mù m ra, tai ngườđiếc nghe được. By gi k què s nhy nhót như nai, ming lưỡi người câm s reo hò”. Nghe thì nghe vậy, rất “đã” cái lỗ tai, nhưng quả thật lại rất khó. Cuộc sống cho chúng ta thấy rõ: có nhiều người “mạnh miệng”, nói đâu ra đó, nhưng rồi rất có thể họ lại là những kẻ co cẳng chạy trước người khác, khi phải đối diện với sự thật – nhất là liên quan vấn đề công lý.

Kẻ nhút nhát thì thường mạnh miệng, khoác lác, muốn chứng tỏ mình là “anh hùng”. Nhưng rồi cũng chỉ là “anh hùng rơm”. Thuyết giảng hoặc viết lách thì chưa đến nỗi khó, nhưng hành động thì khó lắm. Nói và viết mà không làm thì nên im lặng thì tốt hơn, kẻo “họa vô đơn chí”, vì Thiên Chúa không nói đùa mà rất nghiêm túc, thẳng thắn. Nói hay, viết giỏi để làm gì? Nếu không sống theo đó thì chỉ khốn nạn thêm chứ chẳng lợi ích gì!

Chúa Giêsu đến thế gian là để làm chứng cho sự thật (Ga 18:37), ai dám bảo vệ sự thật thì sẽ được Thiên Chúa xót thương và cứu độ. Đó là niềm vui quá lớn: “Nhng ngườđượĐc Chúa gii thoát s tr v, tiếđến Sion gia tiếng hò reo, mt rng r nim vui vĩnh cu. H s được hn h tươi cười, đau kh và khóc than s biến mt. Cười và khóc cũng có cái giá nhất định, như một hệ lụy tất yếu vậy!

Quả thật, Thiên Chúa thẳng thắn hơn chúng ta tưởng, vì Ngài là ĐẤNG CÔNG MINH CHÍNH TRỰC (Tv 7:18; Tv 9:9; Tv 11:7; Tv 25:8; Tv 67:5), và Ngài KHÔNG THIÊN VỊ bất cứ ai (Lc 20:21; Cv 10:34; Rm 2:11; Gl 2:6; Ep 6:9). Cách làm việc của Thiên Chúa được tác giả Thánh Vịnh xác nhận: “Thiên Chúa x công minh cho người b áp bc, ban lương thc cho k đói ăn. Chúa gii phóng nhng ai tù ti, Chúa m mt cho k mù loà. Chúa cho k b dìm xung đng thng lên, Chúa yêu chung nhng người công chính. Chúa phù tr nhng khách ngoi kiu, Người nâng đ cô nhi qu ph, nhưng phá v mưđ bác nhân (Tv 146:7-9).

Người ta thường ví von: “Lưới tri lng lng. Phàm nhân mà còn nói được như vậy thì chắc chắn không ai thoát khỏi Thiên Chúa. Ngài thấu suốt mọi sự (Sbn 28:9; Gđt 8:14; Et 5:1; 2 Mcb 7:35; 2 Mcb 9:5; 2 Mcb 12:22; 2 Mcb 15:2; G 28:27; Tv 139:2; Cn 16:2; Cn 21:2; Cn 24:12; Kn 1:6; Kn 7:23; Hc 23:19; Hc 42:20; Gr 11:20; Gr 20:12; 1 Cr 12:4-6) và nắm giữ mọi quyền hành: “Chúa nm gi vương quyn muôn muôn thu, Sion hi, Chúa Tri ngươi hin tr ngàđi (Tv 146:10).

Thiên Chúa Ngôi Hai là TRUNG GIAN giao ước mới (Dt 12:24). Ngài đến thế gian để bênh vực những kẻ thấp cổ, bé miệng. Họ kêu mà không ai thèm nghe. Thiên Chúa rất coi trọng họ, vì người nghèo là tài sản của Giáo Hội. Ngôn sứ Isaia cho biết: “Thánh Thn Chúa ng trên tôi. Ngườđã sai tôđem tin mng cho người nghèo khó” (Is 61:1; x. Lc 4:12). Đó là hình ảnh về Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế.

Mùa Vọng nhắc nhở chúng ta về ngày Chúa quang lâm, tức là ngày tận thế. Đây cũng là vấn đề khiến người ta thắc mắc nhiều nhất từ xưa tới nay. Nhưng hãy nhớ rằng không ai có thể biết trước “ngày ấy”, kể cả Chúa Giêsu, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi (Mt 24:36; Mc 13:32). Không thể biết thì đừng thắc mắc làm chi!

Thánh Giacôbê nhắn nhủ chúng ta về việc mong chờ: “Thưa anh em, xin anh em c kiên nhn cho ti ngày Chúa quang lâm. Kìa xem nhà nông, h kiên nhn ch đi cho đt tr sinh hoa màu quý giá: h phđi c mưđu mùa ln mưa cui mùa. Anh em cũng vy, hãy kiên nhn và bn tâm vng chí, vì ngày Chúa quang lâđã gn ti (Gc 5:7-8). Ai cũng có cách mong chờ đặc trưng theo công việc của mình, mỗi lĩnh vực trong cuộc sống đều có kiểu mong chờ riêng.

Khi mong chờ, người ta nôn nóng nên dễ nổi nóng. Về tâm linh cũng tương tự. Thánh Giacôbê khuyên: “Thưa anh em, anh em đng phàn nàn kêu trách ln nhau, đ khi b xét x. Kìa V Thm Pháđang đng ngoài ca. Thưa anh em, v sc chđng và lòng kiên nhn, anh em hãy noi gương các ngôn s là nhng v đã nói nhân danh Chúa (Gc 5:9-10). Trách cứ lẫn nhau xem chừng là chuyện nhỏ nhặt, nhưng Thánh Giacôbê cho biết rằng không phải như chúng ta nghĩ, nghĩa là có ảnh hưởng xấu tới nhiều thứ khác.

Thật đúng như vậy, bởi vì tiền nhân cũng đã xác định: “Tâm phn xí tc bđc k chính. Thánh Phêrô cũng phân tích tỉ mỉ về cách mong chờ: “Anh em hãy sng tiếđ và tnh thc, vì ma qu, thù đch ca anh em, như sư t gm thét, ro quanh tìm mi cn xé. Anh em hãđng vng trong đc tin mà chng c, vì biết rng toàn th anh em trên trn gian đu tri qua cùng mt loi thng kh như thế (1 Pr 5:8-9).

Tin Mừng của Chúa Nhật Vui, theo chu kỳ Phụng Vụ năm A, là trình thuật Mt 11:2-11. Trình thuật này đề cập thắc mắc của ông Gioan Tẩy Giả về Đấng Cứu Thế.

Dù đang ở trong chốn lao tù, ông Gioan cũng vẫn nghe biết những việc Đức Kitô làm, ông sai môn đệ đến hỏi xem Ngài có thật là Đấng phải đến hay còn phải đợi Đấng nào khác. Đức Giêsu không trả lời bằng cách nói xác định, mà Ngài nói họ cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng. Đặc biệt Ngài cho biết một mối phúc khác: “Phúc thay người nào không vp ngã vì tôi.

Sau khi các đệ tử của ông Gioan đi rồi, Đức Giêsu bắt đầu đặt vấn đề với đám đông về ông Gioan: “Anh em ra xem gì trong hoang đa? Mt cây sy pht phơ trước gió chăng? Thế thì anh em ra xem gì? Mt người mc gm vóc la là chăng? Kìa nhng k mc gm vóc la là thì  trong cung đin nhà vua. Thế thì anh em ra xem gì? Mt v ngôn s chăng?. Một loạt câu hỏi được Chúa Giêsu đặt ra, cách nói cũng rất lạ.

Chắc chắn chẳng ai có thể trả lời, Ngài biết rõ như vậy, và Ngài cũng biết người ta đang thắc mắc về ông Gioan vì ông là một người khác thường, đến nỗi người ta đã tưởng ông là Đấng Cứu Thế mà Kinh Thánh đã đề cập. Chúa Giêsu nói cho họ biết luôn về “dị nhân” Gioan: “Đúng thế đó. Mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn c ngôn s na. Chính ông là người Kinh Thánh đã nói ti khi chép rng: Này Ta sai s gi ca Ta đi trước mt Con, người s dđường cho Con đến. Tôi nói tht vi anh em: trong s phàm nhâđã lt lòng m, chưa tng có ai cao trng hơông Gioan Ty Gi. Tuy nhiên, k nh nht trong Nước Tri còn cao trng hơông.

Kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời mà lại còn lớn hơn ông Gioan. Lạ thật đấy. Nhưng đó là sự thật. Người ta thích làm lớn mà lại không muốn làm nhỏ. Cũng lạ thật đấy. Cái tôi của con người nhiêu khê quá!

Ly Thiên Chúa, xin giúp con biết hóa mình ra không gia cuđi này, không thc mc hođòi hi gì v s phn ca con hôm nay, nhưng con mun mãi mãi có Ngài là gia nghip. Ch thế thôi, ly Thiên Chúa! Con cu xin nhân danh Thánh T Giêsu, Đng cđ nhân loi. Amen.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 3 MÙA VỌNG_A

 Lm. Anthony Trung Thành

Lời Chúa hôm nay phác họa cho chúng ta chân dung hoàn hảo của Đấng Cứu Thế. Tuy nhiên, không phải ai cũng nhận ra chân dung hoàn hảo đó. 

Trước hết, đối với người Do thái, Đấng Cứu Thế mà họ trông chờ là một vị vua lỗi lạc, thuộc dòng dõi Đa-vít. Ngài đến để giải thoát dân tộc của họ thoát khỏi ách nô lệ Rôma, sẽ phục hưng nền độc lập quốc gia, mở rộng đất nước cả về phương diện chính trị lẫn về phương diện tôn giáo.

Thánh Gioan Tẩy Giả cũng ảnh hưởng quan niệm của người Do Thái, nên dường như ông cũng quên đi khía cạnh nhân từ của Đấng Cứu Thế, ông quan niệm về Đấng Cứu Thế như là một vị thẩm phán uy nghi, đến để xét xử và trừng phạt những tội lỗi của con người: “Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa”(x. Mt 3,10); “Tay Người cầm nia, Người sẽ rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi”(x. Mt 3,12); khi đám đông lũ lượt kéo đến xin ông làm phép rửa, ông đã nặng lời quở trách họ rằng: “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy?”(x. Mt 3,7). 

Chính vì có những quan niệm như trên, nên cả người Do thái và Thánh Gioan Tẩy Giả không nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế khi Ngài xuất hiện. Nói đúng hơn, nhiều người Do Thái không tin nhận Đức Giêsu, còn Thánh Gioan Tẩy Giả thì nghi ngờ Đức Giêsu. Sự nghi ngờ đó thể hiện qua việc, Thánh Gioan sai các môn đệ đi hỏi Đức Giêsu rằng: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?”(x. Mt 11,3). Đức Giêsu không trả lời trực tiếp. Ngài muốn Gioan nhớ lại hình ảnh Đấng Cứu thế mà sách tiên tri Isaia diễn tả hàng thế kỷ trước: “Bấy giờ mắt người mù sẽ nhìn thấy, và tai những người điếc sẽ được nghe. Bấy giờ người què sẽ nhảy nhót như nai…”(x. Is 35,5-6). 

Vì vậy, Đức Giêsu bảo họ: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng.” (x. Mt 11,4-5).

Chân dung hoàn hảo về Đấng Cứu Thế là như vậy: Ngài không chỉ là một vị thẩm phán uy nghi mà còn là một người Cha đầy tình yêu thương hằng quan tâm săn sóc đến dân Người. Trong suốt thời gian tại thế, Ngài đã thể hiện tình yêu thương đó đối với tất cả mọi người, nhất là những người bệnh hoạn tật nguyền. Chính Ngài đã chấp nhận cái chết nhục nhã trên thập giá để hoàn thành ý định của Thiên Chúa Cha là cứu độ nhân loại. Nhờ Ngài chúng ta được cứu độ. Nhưng cũng như ngày xưa, ngày hôm nay vẫn còn đó những quan niệm sai lầm về Đấng Cứu Thế. Vì vậy, vẫn có rất nhiều người không tin nhận Đức Giêsu là vị Cứu Tinh. Chúng ta phải có trách nhiệm làm cho người khác hiểu về chân dung hoàn hảo của Đấng Cứu Thế. Đồng thời, Lời Chúa hôm nay cũng mời gọi chúng ta dọn lòng sốt sắng để đón mừng ngày lễ Giáng Sinh sắp tới. Ngoài ra, đây cũng là thời gian thuận tiện để chúng ta chuẩn bị đón Chúa đến lần thứ hai trong ngày Tận thế và trong giờ chết của mỗi người. 

Vậy, chúng ta cần phải làm gì? 

Thứ nhất: Chúng ta cần phải chờ đợi Đấng Cứu Thế đến trong niềm vui. Vui vì chúng ta sẽ được gặp Ngài, một vị vua uy nghiêm nhưng cũng rất nhân từ. Vui vì Ngài sắp đến với chúng ta. Ngôn sứ Isaia mời gọi: “Vui lên nào, hỡi sa mạc và đồng khô cỏ cháy, vùng đất hoang, hãy mừng rỡ trổ bông, hãy tưng bừng nở hoa như khóm huệ, và hân hoan múa nhảy reo hò. Sa mạc được tặng ban ánh huy hoàng của núi Li-băng, vẻ rực rỡ của núi Các-men và đồng bằng Sa-ron. Thiên hạ sẽ nhìn thấy ánh huy hoàng của Đức Chúa, và vẻ rực rỡ của Thiên Chúa chúng ta” (x. Is 35,1-2). Niềm vui đó không chỉ là niềm vui bề ngoài mà còn phải là niềm vui trong tâm hồn. Nghĩa là niềm vui của người đang sống trong ơn nghĩa Chúa. Hay nói như Thánh Phaolô, đó là niềm vui trong Chúa: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em!” (x. Pl 4,4).   

Thứ hai: Chúng ta cần phải chờ đợi ngày Chúa đến trong sự kiên nhẫn. Dẫu biết rằng, Đấng Cứu Thế sẽ đến, nhưng không biết Ngài đến lúc nào? Chính vì vậy, cần phải có thái độ chờ đợi trong sự kiên nhẫn. Thánh Giacôbê mời gọi: “Thưa anh em, xin anh em cứ kiên nhẫn cho tới ngày Chúa quang lâm. Kìa xem nhà nông, họ kiên nhẫn chờ đợi cho đất trổ sinh hoa màu quý giá: họ phải đợi cả mưa đầu mùa lẫn mưa cuối mùa. Anh em cũng vậy, hãy kiên nhẫn và bền tâm vững chí, vì ngày Chúa quang lâm đã gần tới” (x. Gc 5,7-8). 

Kiên nhẫn tức là luôn ở trong tư thế sẵn sàng, tâm hồn luôn phải trong sáng, luôn phải sạch tội nặng. Nhưng, thông thường, con người hay nản chí sờn lòng, thiếu kiên nhẫn, dễ “phàn nàn kêu trách lẫn nhau” (x. Gc 5,9). Đặc biệt, khi phải chờ đợi trong một khoảng thời gian quá lâu. Trong tình trạng đó, con người thường quên mất nhiệm vụ chờ đợi của mình: giống như 5 cô trinh nữ khờ dại, họ đi ngủ mà không chuẩn bị dầu đèn (x. Mt 25,1-13); giống như tình trạng của người đầy tớ đợi chủ đi ăn cưới về, anh ta không làm theo ý chủ, mà còn chè chén say sưa, đánh đập tôi trai tớ gái (x. Lc 12,45). Nhiều người trong chúng ta cũng vậy: tình trạng tâm hồn lúc đầu có thể tốt lành thánh thiện, nhưng theo thời gian, tình trạng tâm hồn có thể trở thành xấu xa. Vậy, xin Chúa giúp chúng ta có sự kiên nhẫn chờ đợi trong niềm vui cho đến khi Chúa đến. 

Lạy Chúa Giêsu, xin cho mỗi người chúng con biết nhận ra Chúa là Đấng Cứu Thế, đồng thời biết dọn mình mừng lễ Giáng Sinh sốt sắng và luôn ở trong tư thế sẵn sàng để đón chờ Chúa quang lâm. Amen.

Về mục lục

.

KINH NGHIỆM NƠI HOANG ĐỊA

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Kinh nghiệm từ hoang địa đến bị giam tù của Gioan Tẩy Giả gợi lên những bài học quan trọng, cần thiết cho cuộc sống.

Thông thường đặt ra câu hỏi của Gioan về Chúa Giêsu thì thiếu minh bạch. Câu hỏi này đến từ các môn đệ của Gioan, họ thấy một người thầy khác đang thu hút nhiều người theo, lắng nghe hơn Gioan thầy mình nên sinh lòng ghen ghét. Dù họ là những người tự do bên ngoài khung sắt, nhưng ý nghĩ và điều suy tưởng của họ lại đang ở tù vì những đố kỵ, hiềm thù, ghen ghét, ích kỷ…

Câu trả lời của Chúa Giêsu cho thấy chính Người đang ứng nghiệm lời loan báo của Isaia: “Bấy giờ mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được. Bấy giờ kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò.” (Is 35, 5 – 6) và cả thánh vịnh cũng nhắc đến thời Đấng Messia: “ Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự. Người giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo. Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ, giải thoát cho khỏi áp bức bạo tàn, từng giọt máu họ, Người đều coi là quý.” (Tv 72, 11 – 14). Đối với môn đệ của Gioan vẫn kỳ vọng về Đấng Mesia theo nghĩa chính trị, quyền bính trong tay để lập vương quốc, chứ không phải một vị Mesia của dân nghèo nàn. Tư tưởng liên minh phe nhóm để tìm lợi ích luôn luôn có, trục lợi cho mình khi có thân thế. Chúa Giêsu căn dặn: “Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi” (Mt 11, 6).

Giới thiệu về Gioan Tẩy Giả

Người từ trong hoang địa:

Gioan đã ở hoang địa suốt nhiều năm từ khi trưởng thành đến khi Chúa Giêsu ra rao giảng công khai. Kinh nghiệm hoang địa dầy dặn làm cho ngài kinh nghiệm hơn ở tù giam. Chính mình tự giam mình trong khuôn khổ, trong những điều khắc nghiệt thì khó hơn việc người khác giam mình.

Để thành công, thành người, bài học cần thiết luôn là “nghiêm khắc với bản thân và bao dung với người khác”. Nếu không nghiêm khắc với bản thân,  Stephen R. Covey từng nói: “Những người không có kỷ luật là nô lệ cho cảm xúc, dục vọng, và đam mê.”.

Trong giáo dục thì có châm ngôn: “Con giữ kỷ luật thì kỷ luật giữ con”. Kỷ luật đem lại tự do, giống như sợi dây diều, giữ con diều tự do bay lượn trên không, nếu bứt dây diều, là sợi dây ràng buộc, diều sẽ rơi xuống đất.

Kỷ luật làm nên sức mạnh. Thánh Gioan bị giam cầm về thân xác nhưng không thể giam cầm một con người tâm hồn luôn tự do hướng về Thiên Chúa.

Người dọn đường:

Tiếng hô của Gioan tẩy Giả dường như đang lạc vào trong những tiếng nhạc Giáng Sinh thế tục, những quảng cáo lễ hội, party, lạc vào trong những đèn led trang trí, hươu, nai, ông già Noel. Tiếng hô bị đẩy ra ngoài nơi hoang vắng, để người ta vui chơi kỳ nghỉ Giáng sinh với những ngày mua sắm, với những ngày nghỉ dài bên các bãi biển tràn ngập nắng, những chè chén say sưa.

Chúa không còn thấy trong hang đá, những ý nghĩa sâu xa về Thiên Chúa làm người bị bỏ qua, thay vào đó những hang đá phô diễn trang hoàng rực rỡ, đủ các loại sao chớp, thiên thần bay lên, bay xuống, Đức Mẹ, Thánh Giuse đưa tay qua lại ru võng, xem Ipad, cầm Iphone… Thế tục hoá như Đức Thánh Cha Bênêdictô đã nhận định: “biến Giáng sinh thành câu chuyện huyền thoại” (Xem Thiên Chúa và trần thế, ĐGH Benedicto XVI, Phạm Hồng Lam dịch, NXB Tôn giáo 2011).

Trong một thế giới đang đầy hiểm hoạ chiến tranh, khủng bố, tội ác, giết người, lạm dụng tính dục, thờ ơ… Cần có thêm rất nhiều người như Gioan tẩy Giả, những con người dấn thân cho Tin Mừng, dọn tâm hồn với ý nghĩa sâu xa của ngày Con Chúa ra đời, “làm người ở giữa chúng ta” (Ga 1, 14). Là tiếng hô không mệt mỏi: “lúc thuận lợi cũng như khi không thuận lợi” (2Tm 4, 2), sửa lối cho Chúa đến.

Gioan Tẩy Giả hơn cả ngôn sứ (Mt 11, 9). Đó là lời giới thiệu của Chúa Giêsu về Gioan. Khi mỗi người tiếp tục sống theo gương thánh Gioan, “nghiêm khắc với chính mình” để dọn đường cho Chúa đến với chính mình và với người khác, chúng ta tiếp tục sống sứ vụ đã lãnh nhận trong Bí Tích Rửa Tội.

Về mục lục

.

CHÚA ĐÃ ĐẾN

AM Trần Bình An

Ông Nguyễn Hữu Cầu sinh năm 1947, quê quán ở Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Nguyên là Đại úy Chủ Lực Quân, xuất thân khóa 6/68. Sĩ quan trừ bị Thủ Đức, ra trường về phục vụ tại Tiểu Khu Quảng Nam, thuộc vùng 1 chiến thuật, quân đội Việt Nam Cộng Hoà.  Ông bị bắt làm tù binh, sau khi Vùng 1 chiến thuật thất thủ vào đầu tháng 4/1975. Sau 30/4/1975 chuyển thành học tập cải tạo và được thả về vào cuối năm 1980, sau hơn 5 năm bị tù cải tạo.

Sau đó, do làm đơn tố giác hai cán bộ đảng viên CS của tỉnh Kiên Giang hãm hiếp một số nữ thuyền nhân, ông bị đưa ra xét xử vào năm 1983 và bị kết án tử hình với tội danh “Chống phá nhà nước CHXHCN Việt Nam,“ bằng chứng dựa vào những bài thơ và các ca khúc do ông sáng tác. Bản án được giảm xuống thành tù chung thân đày biệt giam ở khu tù chính trị, phân trại K2, Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai, sau khi xử phúc thẩm năm 1985.

Trải qua tất cả 37 năm bị giam cầm, ông luôn giữ vững lập trường, cương quyết không nhận tội, không xin ân xá trước một bản án, mà ông cho là vô lý. Dưới áp lực của Ủy ban Nhân quyền Quốc tế (Human Rights Watch), báo chí quốc tế, và do sức khỏe của ông ngày càng suy giảm: tim yếu, tai gần như điếc, một mắt bị mù lòa không còn thị lực, cuối cùng ông đã được nhà cầm quyền trả về nhà vào 9 giờ tối ngày 21 tháng 3, 2014. (Wikipedia)

Ông Gioan Baotixita Nguyễn Hữu Cầu, tù nhân lương tâm bị giam lâu nhất ở Việt Nam, đã hạnh phúc tìm thấy ánh sáng đức tin ngay trong chốn tối tăm, được vinh dự làm con Chúa qua Bí tích Thánh Tẩy của Linh mục Giuse Nguyễn Công Đoan vào lễ Phục Sinh 1986. Trong Tin Mừng Chúa nhật hồng hôm nay, Thánh Gioan Baotixita cũng đang bị giam cầm trong ngục thất tăm tối, cũng muốn chuyển lửa tin yêu cho các môn đệ, nên sai các ông đến gặp gỡ Đức Giêsu, để trực tiếp lãnh hội mạc khải. 

“Thầy có phải là Đấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng nào khác?” Không trực tiếp trả lời, Đức Giêsu chỉ nhắc họ, về thuật lại những gì nghe và thấy Người làm, như ngôn sứ Isaia đã từng cụ thể giới thiệu sứ mạng của Đấng Mêsia. (Is 26, 19; 29, 18; 61,1)

Và phúc cho ai không vấp ngã vì Ta.” Người còn kín đáo dặn đò, đừng ngộ nhận trông chờ một Đấng Mêsia xuất chúng, đến với vinh quang, chiến thắng về chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội. Sau đó, Người tôn vinh ngôn sứ Gioan Tiền Hô khiêm hạ, trong sạch, dũng cảm, kiên trung ơn gọi, vâng lời Thánh Ý.

Ngôn sứ bé mọn 

“Các ngươi đi xem gì ở hoang địa? Ba lần liên tiếp hỏi dân chúng, vào hoang địa xem gì, Đức Giêsu muốn nhấn mạnh, đề cao nhân đức và sứ mạng của ông Gioan Tiền Hô. “Một cây sậy phất phơ trước gió ư?” Đức Giêsu không sánh ngài là đại thụ, như cây tùng, cây bách, hay cây bá hương trên núi Liban, mà chỉ ví von là cây sậy yếu ớt, tầm thường, xoàng xĩnh, trong đầm lầy sông Jordan.

“Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” (Ga 3, 30). Ngôn sứ Gioan Tiền Hô đã công khai tự hạ mình trước Đấng Mêsia. Bé mọn, nghèo nàn, thấp kém, khiêm nhu, là đức tính đầu tiên mà Chúa ưu tiên tuyển chọn làm ngôn sứ, làm người thân cận, như Mẹ Maria, thánh Giuse và các tông đồ.“Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn.”(Mt 11, 25) Khiêm hạ, nhu mì, ngôn sứ đích thực, chứng nhân đức tin, thường chịu thua thiệt, chịu bạc đãi, hà hiếp, xỉ vả, chịu vu oan cáo vạ, bắt bớ, kết án, tù đày, thảm sát.

Ngôn sứ trong sạch 

“Vậy các ngươi đi xem gì? Một người ăn mặc lả lướt ư? Nhưng những người ăn mặc lả lướt thì ở nơi cung điện nhà vua.” Gioan Tiền Hô vẫn kiên  quyết giữ lòng thanh sạch, vẫn dứt khoát không dây dưa, nịnh nọt, luồn cúi, xin xỏ thế quyền, vua quan, đại gia, mặc dù nghèo khổ, thiếu thốn, chỉ “mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn.”

Dứt khoát không thoả hiệp, cấu kết với quyền lực đen tối để tồn tại, để rao giảng. Cũng chẳng im lặng trước việc sai trái của thế quyền. Gioan Tiền Hô thẳng thừng lên tiếng tố cáo vua Hêrôđê loạn luân. Sẵn sàng chịu sự trả thù hèn hạ, gian nan, khốn khó. “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an. Phúc thay ai khát khao nên người công chính,  vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.” (Mt 5, 5-6)

Ngôn sứ vâng phục 

“Vậy các ngươi đi xem gì? Một tiên tri ư? Phải, Ta bảo các ngươi, và còn hơn một tiên tri nữa.” Cao cả vì Gioan Baotixita chính là ngôn sứ tiền hô chân chính của Đấng Mêsia.“Này Ta sai sứ giả của Ta đến dọn đường trước mặt Ta.” (Ml 3, 1) Vâng Thánh Ý, ngài cương quyết làm trọn bổn phận và trách nhiệm, mặc dù đầy gian nan, khó khăn, nguy hiểm, thách đố, của ngôn sứ Tiền Hô dọn đường.

Cao cả vì ngôn sứ Tiền Hô can đảm, không hề khúm núm, sợ hãi, dám công kích hết sức nặng nề cả đến giới thần quyền, nhiều người phái Pharisêu và phái Sađốc giả hình, dối trá, tà tâm. “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy?” (Mt 3, 7)

Nếu Chúa muốn con chịu sỉ nhục vì bổn phận, chính lúc ấy Chúa cho con vinh hiển vì Thánh giá Chúa.” (Đường Hy Vọng, số 29)

Lạy Chúa Giêsu, đã đến thế gian và sẽ trở lại khi mạt thế, xin giúp chúng con trở thành ngôn sứ trung kiên của Chúa, như thánh Gioan Tiền Hô, biết từ bỏ mình, trọn đời theo Chúa, dấn thân làm chứng nhân, dẫu muôn vàn khó khăn, trở ngại. Xin Chúa sẽ dìu dắt chúng con đến cùng.

Khấn xin Mẹ Maria cầu bầu chúng con thành tâm theo Chúa, đem Tin Mừng đến mọi người, nhất là yêu thương, phục vụ những người bé nhỏ, côi cút, đau khổ, bị bỏ rơi. Amen.

Về mục lục

.

NGƯỜI SẼ DỌN ĐƯỜNG CHO CON ĐẾN

Lm. Gioan B.Phan Kế Sự

Câu hỏi của Gioan “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không,hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác”.Câu hỏi không chỉ là để thỏa tính tò mò, nhưng hơn thế,Gioan muốn cho các môn đệ tự mình nhìn thấy bằng mắt những phép lạ Chúa đã  làm cho những người đau bệnh.Chúa không thích tự quảng cáo về mình, nhưng thích người ta nhận ra con người thật bằng những việc làm cụ thể.

· Chúa đến để cho kẻ nghèo nghe được Tin Mừng,người chết sống lại Những phép lạ phi thường đó, tự nó chứng minh về quyền năng của Chúa,và cũng rao giảng về Nước Trời,nơi mà bệnh tật,cùi hủi,mù lòa và kẻ chết sẽ được chữa lành và sống lại.Nước trời chính là sứ điệp mà Chúa đem đến cho con người niềm hy vọng và sự tín thác tuyệt đối,để những ai tin vào Chúa rồi sẽ được cứu thoát.

·  Gioan đã được sai đến,và với sứ mạng tiền hô,ông sẽ giới thiệu về Chúa cho mọi người như là “con chiên gánh tội trần gian”.Bằng lời rao giảng thống hối,Gioan đã đưa mọi người đến phép rửa thống hối tin vào Chúa và tín thác vào một mình Ngài.Ông chính là “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến”.

·  Biết chuẩn bị và sẵn sàng mở rộng lòng để đón Chúa,đó vẫn là thái độ khôn ngoan nhất,mà Giáo Hội đang mời gọi tất cả chúng ta trong những ngày này.Có thống hối,có ăn năn,có chuẩn bị tâm hồn cách tích cực,thì ngày giờ Chúa đến viếng thăm,chúng ta sẽ vui mừng và hạnh phúc tràn đầy.

Niềm vui Gíang sinh sẽ ngập tràn trong tâm hồn mỗi người,khi nó đi sâu vào trong lòng người, khi chúng ta sẵn sàng mở lòng ra để đón nhận Chúa và chia sẻ với anh em.Năm thánh lòng thương xót vừa kết thúc,nhưng điều cần hơn cả là chúng ta biết sống chia sẻ và quảng đại, cho đi.Chúa sẽ viếng thăm và ở lại với chúng ta,khi chính chúng ta cần đến Ngài và mau mắn cộng tác với Ngài để đến với anh em.

Lạy Chúa,chúng con thật vui mừng khi biết rằng Chúa chính là Đấng phải đến,đã đến,để cứu thoát chúng con.Nhờ ơn nhập thể và cái chết trên thập giá,Chúa đã cứu chuộc và giải thoát con người chúng con khỏi cảnh nô lệ tội lỗi và cái chết. Xin giúp chúng con luôn tín thác nơi Chúa và  sẵn sàng, để ngày giờ Chúa đến viếng thăm,chúng con sẽ không bao giờ là những kẻ lỡ hẹn.Amen.

Về mục lục

.

CHUNG MỘT NIỀM VUI

Lm. Jos. DĐH.

Niềm vui chung của người nghèo là được no cơm ấm áo, công ăn việc làm sớm ổn định. Hạnh phúc thật của người giầu, thường mông lung khó tìm thấy điểm chung, tuy nhiên ở thời nào, giai cấp tri thức hay bình dân, đều chi phối bởi niềm vui tinh thần và vật chất. Thực trạng con người hôm nay, cũng là thao thức chung của từng gia đình hôm xưa, đó là chúng ta cần làm gì để được an vui hạnh phúc ? Hẳn chúng ta đã hiểu, nếu là quan chức, hãy sống công bình, nếu là cha mẹ, hãy thủy chung yêu thương, nếu là con, hãy sống đức thảo hiếu, vì niềm vui hạnh phúc chỉ thực sự có khi ta ý thức sống đạo làm người.

Niềm vui bao giờ cũng gắn liền với hạnh phúc, an vui nâng tâm hồn ta phấn chấn, tươi trẻ ; cuộc sống có vui khỏe như ý là cuộc sống thắm đượm tình người được cảm thông chia sẻ. Năm xưa ông Gioan ở trong ngục tù, tâm hồn ông cũng rạo rực chung với ơn cứu độ đang tới. Dù phải chịu khổ đau, bắt bớ, mất mạng…, chẳng ai có thể ngăn cản tâm tư vui mừng của ông đang “rung nhịp” đón ơn Thiên Chúa cứu độ. Bị giam cầm, Gioan vẫn chỉ dẫn các môn đệ ông cách tiếp tận với Đấng phải đến, để rồi ông cũng chung niềm vui vì sứ mạng tiền hô của ông đã hoàn thành. Đối với Gioan, hạnh phúc không phải là không có rắc rối, nhưng là ông có đủ khả năng để đối phó với những phức tạp đang cản trở.

Năm xưa, dân tộc Do-thái vui, tự hào, vì họ là dân riêng được tuyển chọn, nhưng lịch sử cho thấy niềm vui của họ không đi đến đâu cả, hoặc vì thiếu sự chuẩn bị, hoặc vì không nghe được sứ điệp của Gioan ? Niềm vui và hạnh phúc của thế hệ chúng ta cũng vậy, nghe, hiểu và biết sống tỉnh thức, đó mới là tinh thần chuẩn bị mà Gioan từng sống và hô hoán dọn lòng đón Chúa. Hôm nay, Chúa Giêsu vui vì có nhiều sứ giả đã cùng một tâm tình loan báo mầu nhiệm Đấng cứu độ, vui bởi thành quả các ngôn sứ đã mở đường, dọn lòng, để tình người và tình Chúa được giao hòa. Chúa Giêsu vui vì thời gian sống ơn gọi làm con ở Nagiarét đã hoàn tất, nay mở ra sứ mạng làm Đấng cứu thế cách hiển nhiên theo thánh ý Chúa Cha.

Hôm nay, phụng vụ mời gọi chúng ta xác tín hơn về mầu hồng tình yêu sẽ thay cho mầu tím hy vọng, niềm vui chung được mở rộng khỏi ranh giới địa lý, nhưng tỏa chiếu trên hết mọi tâm hồn khao khát chờ đợi. Ơn cứu độ sẽ đến thay cho lời hứa, tình yêu sẽ phủ lấp các tương quan, biến đổi trái tim chai đá nên mềm mại, chung một niềm vui trong Thiên Chúa cứu độ. Ông Gioan cùng các đệ tử của ông, và khắp mọi dân tộc trên khắp thế giới sẽ còn được biết đến. “Người mù xem thấy, kẻ què đi được, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, phúc cho những ai không vấp ngã vì tôi”.

Tục ngữ có câu: nước lên bèo cũng lên, Chúa Giêsu vui, Thầy Gioan vui, các học trò và muôn thế hệ cũng sẽ tràn trề niềm vui. Đám đông dân chúng đến samạc hôm xưa, từ nay họ sẽ thấy rõ hình ảnh của Gioan sống mãi trong sứ mạng Đấng phải đến, cái biết về Đấng cứu độ trở nên xác thực với mọi tâm hồn. Lời mạnh mẽ của Gioan sẽ còn vang lên trong ơn gọi người môn đệ: “cây nào không sinh trái tốt sẽ phải chặt đi”. Đúng như câu thành ngữ: chuông không đánh không kêu, đèn không khêu không tỏ. Niềm vui của Chúa Giêsu sẽ trở nên bất tử, khi mà tất cả những ai đã và đang sống tỉnh thức đợi chờ ngày Chúa đến.

Mỗi ngày là một cơ hội thay đổi, làm mới cuộc đời mình, mỗi biến cố vui buồn làm sáng tỏ hơn về giá trị tình yêu của cuộc sống. “Khi các môn đệ của Gioan đi rồi, Đức Giêsu bắt đầu nói với đám đông : anh em xem gì trong hoang địa ? một cây gậy phất phơ trước gió chăng” ? Hẳn Chúa Giêsu không chỉ gởi lên vài câu hỏi đánh động lòng trí một số đang “lơ mơ” về lời giảng dạy của Đấng Gioan giới thiệu. Niềm vui và hạnh phúc trần gian không bao giờ có ở hoang địa, tình yêu và ơn cứu độ sẽ không giới hạn ở một số đối tượng, Thiên Chúa làm được mọi sự, nhưng Ngài cần sự tự do đáp trả của mỗi người.

Chúa Giêsu còn mở lời khen ngợi Gioan như một xác thực, không thể so sánh hạnh phúc trần thế với hạnh phúc Nước Trời. Thành công, thất bại ở đời này, chính là những nỗ lực mà người ta đầu tư công sức đúng và đủ, hợp lý hợp tình ra sao. Có được niềm vui như Gioan, nhất định không phải do ông ăn châu chấu uống mật ong rừng. Nhưng là do ông biết chuẩn bị tâm hồn, biết lắng nghe và biết thực thi sứ mạng chung như các sứ giả của Thiên Chúa : hãy ăn năn sám hối vì Nước Trời đã gần đến. Xin tình yêu Chúa thấu hiểu sự giới hạn của mọi tâm hồn nhân thế, xin tha thứ, chúc lành, để Chúa nhật mầu hồng, sẽ mãi là tình yêu và hạnh phúc cho thế hệ hôm nay và mai sau. Amen.

Về mục lục

.

CHUNG MỘT NIỀM VUI NHƯ THẾ

Lm. Giuse Nguyễn

Trào lưu đổ xô đi mua sổ xố tự chọn của Vietlott đã trở thành làn sóng, thậm chí trở thành một vấn đề của tâm lý xã hội…. Bổng chốc có người sở hữu trong tay hàng mấy chục tỉ đồng làm cho nhiều người ôm trong lòng giấc mộng “bổng nhiên thành tỉ phú”; mặc dù cũng có những vấn đề khó hiểu của hình thức xổ số theo kiểu Mỹ này. Có những người khốn đốn vì chuyện “bổng nhiên sở hữu khối tài sản khủng”. Ví dụ nhiều người đến làm phiền, lo lắng không biết làm gì với số tiền này, lo sợ bị cướp… Thế cho nên niềm vui này không trọn vẹn.

Phụng vụ lời Chúa trong Chúa Nhật 3 Mùa Vọng luôn luôn là một niềm vui cho những ai đang trông chờ ơn cứu độ. Xin được nói đến một niềm vui như thế.

I.  PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

  1. Bài Đọc I: Is 35, 1-6a.10

Chương 35 của sách Isaia nói về cảnh Giêrusalem toàn thắng. Cảnh này hoàn toàn tương phản với cảnh Ê đôm sẽ vĩnh viễn thành nơi hoang phế, còn Giêrusalem được tiên báo như sa mạc sẽ trổ hoa để đón dân thánh trở về từ Sion. Isaia nói cho dân biết: “Chính Thiên Chúa sẽ đến cứu anh em”. Dấu chỉ sự cứu độ đó là: “Mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được. Bấy giờ người què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò”.  Ơn cứu độ đó làm cho: “Họ sẽ được hớn hở tươi cười, đau khổ và khóc than sẽ biến mất”.

  1. Tin Mừng: Mt 11, 2-11

Khi nghe biết những việc Đức Giêsu làm, Gioan rất đỗi vui mừng vì thấy điều mình đang mong đợi đã thành hiện thực. Tuy nhiên các môn đệ Gioan vẫn còn hoang mang vì người công chính bị bách hại, vẫn còn chưa hiểu rõ về ơn cứu độ, nên ông sai họ đích thân đến gặp Đức Giêsu để Ngài giúp họ hiểu rõ vấn đề hơn. Khi họ đến nơi, họ chứng kiến những việc Đức Giêsu làm: “Người mù xem thấy, kẻ què bước đi, người cùi được sạch, kẻ điếc nghe được”… những việc đó hoàn toàn ứng nghiệm lời tiên tri Isaia loan báo về Đấng Messia nên họ tin Ngài là đấng ấy. Tuy nhiên, Đức Giêsu cảnh báo cho họ không tìm kiếm một Đấng Messia vinh quang theo kiểu trần gian. Nếu họ kiếm tìm điều đó họ sẽ hoàn toàn thất vọng: “Phúc cho những ai không vấp ngã vì tôi”.

  1. Bài Đọc II: Gc 5, 7-10

Cùng chung tâm trạng với môn đệ của Gioan Tẩy giả, giáo đoàn Giacôbê  nôn nóng mong đợi ngày Chúa đến, vì vậy thánh nhân đã khuyên họ: “Xin anh em cứ kiên nhẫn cho tới ngày Chúa quang lâm… vì ngày Chúa quang lâm đã gần tới”. Trong khi chờ đợi như vậy, thánh nhân khuyên họ hãy sống tốt tương quan với mọi người: “Anh em đừng phàn nàn kêu trách lẫn nhau”.

Như vậy lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy một niềm vui lớn lao vô cùng, niềm vui do một thời đại mới, thời đại mà tất cả những gì bị hư hại, cằn cỗi, không có sự sống sẽ được biến đổi hoàn toàn. Đó là niềm vui ơn cứu độ. Nhưng để được sống trong thời đại đó phải kiên trì, phấn đấu. Thế cho nên niềm vui này là một cái gì lạ lẫm lắm, quý giá lắm, chứ không phải như những niềm vui chóng qua nhưng cũng chóng tàn mà con người vẫn đang tìm kiếm.

II.  CÓ MỘT NIỀM VUI NHƯ THẾ

Chia sẻ trong Thánh lễ thứ Ba tuần II mùa Vọng tại nhà nguyện thánh Marta tuần qua, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói: Chúa Giêsu không chỉ làm thay đổi từ xấu thành đẹp, từ ác thành thiện, mà Người làm nên một sự biến đổi. Không phải là biến đổi theo kiểu làm đẹp, kiểu trang điểm, mà là biến đổi tận căn từ nội tâm. Sự biến đổi sâu xa ấy là cuộc sáng tạo mới. Thiên Chúa đã sáng tạo thế giới, con người sa ngã trong tội lỗi, và Chúa Giêsu thực hiện cuộc tái tạo, cuộc sáng tạo mới”.

Vì vậy trông chờ Chúa đến chính là trông chờ công cuộc sáng tạo mới của Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa đã sáng tạo “mọi sự đều tốt đẹp”, nhưng ma quỷ đã làm cho công trình đó trở nên xấu. Đó là hình ảnh sa mạc nắng cháy khô cằn, đất đai cằn cỗi, những con người què quặt, đui mù, câm điếc… được Isaia nói đến trong bài đọc thứ nhất.

Nhưng chính Đức Giêsu đã giải phóng tất cả những điều đó: “Người mù được xem thấy, kẻ què bước đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết trỗi dậy, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng”. Ngài là Đấng tái tạo mọi sự. Niềm vui sâu thẳm chính là niềm vui tái tạo, niềm vui được biến đổi.

Vì lẽ đó mà Đức Thánh Cha mời gọi mỗi người chúng ta: “Hãy mở rộng tâm hồn cho Chúa” và  “Hãy dâng lên Chúa những tội lỗi của ta”.

  1. Hãy mở rộng tâm hồn cho Chúa

Ân sủng của Chúa có khả năng biến đổi tất cả, nhưng điều quan trọng là chúng ta có mở rộng tâm hồn cho Chúa biến đổi hay không mà thôi.

Tại sao nhiều người trong Họ đạo chúng ta vẫn còn khô khan nguội lạnh? Có phải là do Chúa không có khả năng? Hay do Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp không chịu làm dấu lạ? Thưa không phải, nhưng chỉ vì những người đó chưa chịu mở tâm hồn ra cho Chúa biến đổi. Họ vẫn đổ thừa lý do này, lý do nọ. Họ vẫn nghe các Linh mục, nghe những người đạo đức cũng như những người thân khuyên lơn, mời gọi, nhưng họ vẫn khép kín linh hồn mình lại.

Quý Cha trong Họ đạo vừa có thư ngỏ gởi các gia đình trong Họ đạo để nhắc nhở mọi người việc hoán cải, trở về với Chúa, đồng thời thực hiện việc đọc kinh hôm chung trong gia đình. Nếu mọi người biết mở rộng tâm hồn, thì chắc chắn sẽ có một sự tái tạo trong Họ đạo chúng ta. Nhưng chắc chắn sẽ có một số người không mở lòng, không thực hiện. Chúng ta vẫn cầu nguyện cho những người đó. Có một số người cũng áy náy lương tâm, cũng muốn thực hiện, nhưng vì cái tôi quá lớn, nên có ý định không thực hiện “tâm thư” của quý cha. Hãy mạnh dạn mở rộng tâm hồn để cho Chúa được một lần có cơ hội làm cuộc biến đổi tâm hồn chúng ta, thì chắc chắn chúng ta sẽ có niềm vui sâu thẳm.

  1. Hãy dâng lên Ngài những tội lỗi của ta

Có nhiều người không dám xưng thú những tội lỗi của mình, hoặc họ e ngại xưng tội rồi vẫn “ngựa quen đường cũ” nên có yêu mến Chúa, có thờ phượng Chúa, có đi lễ… nhưng vẫn còn những tội lỗi thâm căn cú đế trong mình.

Có một vị thánh cầu nguyện với Chúa: “Lạy Chúa con dâng lên Chúa điều này… Ngài có vui không?” Chúa đáp: “Không!”. Vị thánh đó hỏi: “Tại sao vậy?” “Vì vẫn còn thiếu”, Chúa đáp như thế. “Nhưng con đã dâng lên Chúa tất cả rồi mà”! “Vẫn còn thiếu đấy con ạ!”. Thánh nhân hỏi tiếp: “Thưa Chúa, con đã quên điều gì?” Chúa nhẹ nhàng trả lời: “Đó là tội của con!”

Đó là điều Chúa đang muốn nói với chúng ta: “Hãy dâng cho Ta tội lỗi của con!” Lúc đó chúng ta sẽ được tái tạo để trở thành con người mới, chúng ta sẽ có một niềm vui sâu thẳm. Hãy thử mà xem!

Niềm vui mà Đức Giêsu Kitô đem đến cho chúng ta trong tuần III mùa Vọng hôm nay chính là niềm vui được tái tạo cho những ai biết mở rộng tâm hồn và dâng cho Chúa những tội lỗi của mình. Nhiều người trong gia đình, nhiều gia đình trong họ đạo chúng ta bấy lâu nay vẫn sống trong tình trạng sa mạc của tâm hồn, vẫn què quặt, đui mù, câm điếc trong đời sống đức tin. Mùa Vọng trong năm mục vụ Gia Đình này là cơ hội để những anh chị em đó, những gia đình đó có được niềm vui thực sự mà Đức Giêsu đem đến. Bấy lâu nay họ đang sống trong bóng tối. Những điều họ đang có được chỉ là những thứ giả tạo, chóng qua. Đây là cơ hội để họ được tái tạo, trở nên con người mới. Và đó là giá trị vĩnh cửu, vượt lên trên mọi giả trị khác, vì cùng đích cuộc đời chúng ta là được cứu độ.

Chúng ta hãy cầu nguyện cho chính mình cũng như những người trong gia đình chúng ta có được niềm vui như thế!

Về mục lục

.

HÃY VUI LÊN!

JM. Lam Thy. 

Tiếng La-tinh “Adventus” có nghĩa là “Đến”, ban Phụng tự Giáo hội Việt Nam dịch là Mùa Vọng theo nghĩa “sự trông chờ, mong đợi”. Mùa Vọng là mùa dân It-ra-en trông đợi Chúa đến lần thứ nhất và vì thế nên toàn dân Do-thái hãy “Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Xi-on, hò vang dậy đi nào, nhà Ít-ra-en hỡi! Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy nức lòng phấn khởi.” (Xp 3, 14). Như vậy, Mùa Vọng là thời gian trông chờ mong đợi điều tốt lành sắp đến, rất hợp với chủ đề chính của Mùa Vọng là sự chuẩn bị mừng ngày Đấng Cứu Độ Giê-su giáng sinh cách đây trên 20 thế kỷ.

Tuy nhiên, học thuyết Thánh Kinh hiện đại cho rằng đây là sự chuẩn bị tâm linh nhằm hướng đến cuộc trở lại để phán xét thế gian của Chúa Giê-su trong tương lai. Bài đọc 2 hôm nay là một minh hoa: “Thưa anh em, xin anh em cứ kiên nhẫn cho tới ngày Chúa quang lâm. Kìa xem nhà nông, họ kiên nhẫn chờ đợi cho đất trổ sinh hoa màu quý giá: họ phải đợi cả mưa đầu mùa lẫn mưa cuối mùa. Anh em cũng vậy, hãy kiên nhẫn và bền tâm vững chí, vì ngày Chúa quang lâm đã gần tới.” (Gc 5, 7-8). Đó cũng là lý do giải thích vì sao Giáo hội luôn kêu gọi người tín hữu hãy tỉnh thức và sẵn sàng đón chờ “Ngày Chúa quang lâm”; vì ngày đó sẽ đến một cách bất ngờ không ai lường trước được, như Lời cảnh tỉnh của chính Con Người (“Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.” – Mt 24, 42-44). 

Người ta thường ví thời Cựu Ước như một đêm trường của nhân loại. Tuy rằng loài người sống trong đêm đen, nhưng Thiên Chúa vẫn luôn yêu thương và gặp gỡ con người (như trên núi Si-nai, như gặp gỡ tổ  phụ Áp-ra-ham, các tiên tri, ngôn sứ…, để thông qua các vị này mà gặp gỡ mọi người. Ngoài ra, còn biết bao nhiêu cuộc gặp gỡ giữa con người với Thiên Chúa nữa, nhưng chưa được ghi lại bằng sấm ký, sách vở…), chính điều này đã thắp lên một ngọn đèn hy vọng cho nhân loại. Và cũng vì hy vọng là trông đợi điều tốt lành, nên mới nói thời Cựu Ước là mùa trông đợi (Vọng) Chúa đến lần thứ nhất. 

Con người sống trên đời, đối với điều dữ, điều xấu thì thường sợ hãi, lo lắng, tìm mọi cách để tránh né, chớ chẳng ai dại gì mong nó tới. Người ta chỉ mong đợi (hy vọng) những điều phúc đức, tốt lành. Khi người ta tìm cách tránh né điều xấu vì lo âu, sợ hãi, thì thường buồn rầu, lo sợ (bi quan); nhưng khi trông đợi điều tốt lành thì thường phấn khởi vui mừng (lạc quan). Đó là lý do Chúa nhật thứ III Mùa Vọng được gọi là Chúa nhật “Hãy vui lên”. Vâng, “Vui lên nào, hỡi sa mạc và đồng khô cỏ cháy, vùng đất hoang, hãy mừng rỡ trổ bông, hãy tưng bừng nở hoa như khóm huệ, và hân hoan múa nhảy reo hò.” (Is 35, 1-2). Mừng vui lên vì này Đấng Cứu Tinh đã tới, mà khi Người tới thì: “những bàn tay rã rời nên mạnh mẽ,… những đầu gối bủn rủn được vững vàng, mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được, kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò… nước vọt lên trong sa mạc, khe suối tuôn ra giữa vùng đất hoang vu.” (Is 35, 3-6). 

Lời tiên báo từ 5 thế kỷ trước công nguyên của ngôn sứ I-sai-a đã trở thành hiện thực, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên Tân Ước Cứu Độ – do chính Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, thực hiện. Người là “Đấng phải đến” và đã đến để làm cho “Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng.” (Mt 11, 5). Người đã đến, đã nói, đã dạy và đã làm nhiều đến độ không bút mục nào có thể kể hoặc ghi lại cho hết được; thật đúng như lời Gio-an Thánh sử: “Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực. Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.” (Ga 21, 24-25). 

Thông thường, con người nếu phải sống một cuộc đời khổ nhọc, bất hạnh, tất sẽ sinh bi quan, yếm thế. Cuộc đời như vậy được ví như sống trong đêm đen, tối tăm, lạnh lẽo. Tuy nhiên, ý chí sinh tồn luôn tồn tại trong mọi động vật, cho dù là con sâu cái kiến cũng tham sinh uý tử, huống chi con người có tri giác. Đó chính là lý do giải thích tại sao con người tuy vẫn ngồi “nguyền rủa bóng tối”, nhưng vẫn không quên tìm mọi cách “thắp lên một ngọn đèn”. Nói khác hơn, cho dù là bi quan yếm thế đến bậc nào chăng nữa, thì cũng vẫn nuôi những hy vọng ngọn đèn đổi đời sẽ được thắp lên. Niềm hy vọng ấy thúc đẩy con người kiên trì vươn tới, vượt thắng chông gai, hoàn thành chí nguyện. Xét về lý thì đó là lẽ đương nhiên, còn xét về tình thì cũng không thiếu những trường hợp chỉ biết ngồi nguyền rủa bóng tối cho đến khi tự huỷ hoại cuộc đời của mình vì bi quan, bi lụy. “Thất bại là mẹ thành công” biến thành “thất bại là cha thất vọng” cũng là vì thế. 

Sống là hy vọng, hy vọng giúp con người – bất kể là già, trẻ, lớn, bé – lạc quan tiến tới tương lai. Đã gần tới Tết Nguyên Đán, gặp một em nhỏ thử đặt một câu hỏi “Cháu có mong Tết tới không? Mong tới Tết để làm gì?” và sẽ được em trả lời ngay với vẻ phấn khởi: “Cháu rất mong cho mau tới Tết, vì tới Tết cháu sẽ được mặc quần áo mới và có nhiều tiền lì xì”. Với những người nghèo thì hy vọng một cuộc đổi đời, nhưng còn với những người giàu có, quan quyền, thì họ cũng vẫn hy vọng ngày một giàu hơn, được thăng quan tiến chức cao hơn. Ngay đến cả những người tưởng chừng đã đạt đến đỉnh vinh quang rồi, cũng vẫn hy vọng được hơn thế nữa hoặc ít ra thì cũng hy vọng cuộc sống vương giả sẽ kéo dài miên viễn. Cho tới khi đã gần đất xa trời, biết chắc là mình sẽ gặp thần chết, nhưng vẫn hy vọng đời sau sẽ được đầu thai vào nơi giàu sang, quyền quý, hoặc nếu có niềm tin tôn giáo thì lại hy vọng mình sẽ được lên thiên đàng, lên niết bàn, thậm chí đến kẻ vô thần cỡ bự cũng vẫn nói rằng mình sắp được sang thế giới người hiền gặp cụ nọ, cụ kia (!). 

Hãy dừng lại một chút với những người tự tử, ai cũng chung một nhận xét là những người tìm đến cái chết là những người đã hoàn toàn tuyệt vọng, không còn một chút tin tưởng nào nơi cuộc sống, cho dù là tự tử vì tình, vì tiền, vì bị ngược đãi hoặc bất cứ lý do gì khác. Ở một tình huống thất vọng đến cùng cực như vậy, họ tìm đến cái chết để hy vọng được giải thoát. Chính điều này lại một lần nữa khẳng định hy vọng sẽ giúp con người có được một quyết tâm hành động. Như thế để thấy rằng, trong chán chường tuyệt vọng vẫn có hy vọng giải thoát khỏi cảnh bĩ cực tột cùng, vẫn hy vọng “hết cơn bĩ cực tới hồi thái lai” (tục ngữ VN), trong nỗi bi quan yếm thế vẫn manh nha niềm lạc quan đổi đời. Đó mới chỉ là những hy vọng về một tương lai theo truyền thuyết, theo quan niệm chung của loài người, chưa thật sự có cơ sở vững chắc. 

Với Ki-tô hữu thì khác hẳn, chúng ta đã có những nhân chứng hiện thực và rất sống động “đã nghe, đã thấy, đã chiêm ngưỡng, đã chạm đến” sự kiện lịch sử Ngôi Lời nhập thể bằng xương bằng thịt (“Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống.” – Ga 1, 1). Vậy thì tại sao lại không cùng vui lên mừng đón ngày Chúa quang lâm, bởi “Chính Người sẽ đến cứu anh em” (Is 35, 4)? Tại sao lại cứ “phàn nàn kêu trách lẫn nhau”, mà không biết “kiên nhẫn và bền tâm vững chí, vì ngày Chúa quang lâm đã gần tới” (Gc 5, 8-9)? Đã đành “cái khó bó cái khôn”, nhưng vẫn có thể “trong cái khó sẽ ló cái khôn” (tục ngữ VN), nếu biết học theo Thánh Gia-cô-bê tông đồ, đừng  “phàn nàn kêu trách lẫn nhau”, mà bền tâm vững chí, kiên trì cầu nguyện, tìm kiếm, cố gắng “thắp lên một ngọn đèn” hy vọng. Đừng tuỵêt vọng trước cái khó để đi tới tự huỷ hoại, mà hãy vui lên vì Đấng Khôn Ngoan đã tới, đang tới và sẽ tới. 

Trong bài giảng Chúa nhật 3 Mùa Vọng tại Vương Cung Thánh Đường La-tê-ra-nô ngày 13/12/2015, ĐTC Phan-xi-cô nói: “Lời mời gọi của vị Ngôn sứ dành cho người Giê-ru-sa-lem thời xưa cũng hướng về toàn thể Giáo hội trong thời đại hôm nay, và hướng về mỗi chúng ta: “Vui lên, mừng vui lên!“ (Is 35, 1). Lý do của việc vui mừng được diễn tả thông qua những lời mang đến niềm hy vọng cũng như cho phép người ta nhìn về tương lai một cách bình thản. Thiên Chúa đã xóa bỏ tất cả mọi lời kết án cũng như đã quyết định đến sống giữa chúng ta. Chúa Nhật thứ ba Mùa Vọng này hướng cái nhìn chúng ta về Đại Lễ Giáng Sinh đang càng ngày càng đến gần. Chúng ta không được phép để cho mình bị khống chế bởi sự mệt mỏi; và chúng ta cũng không được phép buồn rầu ngay cả khi chúng ta có nhiều những lý do để buồn, chẳng hạn như vì có nhiều sự lắng lo cũng như có rất nhiều hình thức bạo lực mà chúng đang gây tổn thương cho nhân loại chúng ta. Nhưng cuộc quang lâm của Chúa sẽ lấp đầy con tim chúng ta với niềm vui.“ (nguồn: Vatican.net). 

Ước mong bản thân cũng như tất cả mọi Ki-tô hữu ý thức được vấn đề như lời dạy của ĐTC, ngõ hầu “cuộc quang lâm của Chúa sẽ lấp đầy con tim chúng ta với niềm vui“. Ôi! “Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, này dân Chúa đem tất cả niềm tin đợi chờ ngày lễ Sinh Nhật Ðấng Cứu Thế. Xin hướng niềm vui chúng con về chính nguồn hoan lạc của mầu nhiệm Giáng Sinh cao cả để tâm hồn chúng con hoàn toàn đổi mới, mà họp mừng ngày cứu độ đã gần kề. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ Chúa nhật III mùa Vọng).

Về mục lục

.

GOAN TIỀN HÔ HỌC BIẾT ĐỨC GIÊ-SU

Lm. GB. Nguyễn Văn Ty

Ngay cả vị Tiền Hô cũng còn cần học biết Đức Giê-su là ai

Thưa thầy, thầy có thật là đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” câu hỏi bộc lộ tất cả nỗi khắc khoải của Gio-an, vị tiền hô có sứ mạng loan báo đấng Thiên Sai sẽ đến! Mà ông không ray rứt sao được, khi mà Thầy Giê-su xem ra không đáp ứng được các kỳ vọng của ông, cũng như cái sứ điệp ông dày công và mạnh bạo rao giảng!

Bằng cả cuộc sống, Gio-an biết mình có sứ mạng duy nhất là rao truyền cho mọi người biết về việc đấng Mê-si-a sắp đến, một triều đại mới sẽ xuất hiện. Như mọi vị tiền hôi, có lẽ ông tưởng rằng: mình phải hơn ai hết biết rõ về đấng sẽ đến, và triều đại của ngài sẽ là như thế nào. Các tiên tri thời Cựu Ước đã chẳng phác họa lên, bằng nhiều nét rất chi tiết, dung mạo của đấng Thiên Sai sẽ tới, và vương quốc của Ngài là gì? Vì là một đan sĩ khắc khổ thuộc cộng đoàn Ê-sê-ni tại Kum-ram, Gio-an đã in sâu trong tâm trí hình ảnh của một Đấng Mê-si-a đầy nét khải huyền: ngài sẽ là một con người nghiêm nghị, quyền uy, trừng trị và thanh lọc. Nhờ một mạc khải của Thần Khí, Gio-an được biết Giê-su Na-da-rét chính là vị phải đến đó (xem Ga 1:31-34); ông thậm chí còn giới thiệu Người cho vài môn đệ của mình. Kể từ đó Gio-an không ngừng nghe ngóng mọi tin tức về Thầy Giê-su. Thế nhưng, trớ trêu thay, những gì ông nghe được lại hoàn toàn trái ngược hẳn với quan niệm mà ông đã từng có về đấng Mẽ-si-a.Theo ông, nếu Giê-su là đấng thiên sai mà dân Do Thái hằng mong đợi, thì Người phải tỏ hiện trong lời nói và hành động “cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống” (xem Mt 3:7-12). Vì lẽ đó, dầu bị giam hãm trong ngục thất, ông buộc phải sai sứ giả tới hỏi thẳng Người: “Thầy có phải là đấng phải đến không?”Đức Giê-su đã trả lời bằng cách: chỉ cho sứ giả thấy một số công việc mình đang thực hiện, và xin họ về báo lại cho Gio-an. Các việc này ăn khớp hoàn toàn với những nét tiên tri I-sai-a đã sử dụng để mô tả về đấng Thiên Sai, nhưng lại là điều bị Gio-an quên lãng: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: ‘người mù xem thấy, kẻ què đi được, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Is 35:5; 61:1). Như vậy, qua lời giải đáp cụ thể đó Thầy Giê-su muốn khảng định cho vị tiền hô của mình biết: đấng Mê-si-a tiên quyết phải là con người từ nhân và cứu độ chứ không thể là con người luận phạt. Hơn thế nữa, Người không quên nhắn gởi tới ông lời mời gọi: chính ông cũng phải chấp nhận thay đổi từ bên trong để có thể tiếp thu được điều này. Lời mời gọi chắc chắn sẽ gây cho ông đau nhức không nhỏ, nhưng là cần thiết để chính ông cũng phải chấp nhận Tin Mừng: “Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi”.

Vị Tiền Hô lại được nhắc nhở cần phải chỉnh sửa chính quan niệm mình có về Đấng mà mình có bổn phận phải loan báo, đó quả là một đòi hỏi phũ phàng, thế nhưng trường hợp của Gio-an lại là như thế đó! Trong một mức độ nào đó, đòi hỏi này cũng đang được gởi tới tất cả mọi Ki-tô hữu chúng ta, nhất là những ai có nhiệm vụ (= chuyên nghiệp) rao giảng hay loan báo Đức Giê-su cho kẻ khác, tức các linh mục tu sĩ, cách riêng các nhà truyền giáo chẳng hạn: phải chỉnh sửa không ngừng hình ảnh hay quan niệm họ vốn có về Đức Giê-su Ki-tô, sao cho ngày càng phù hợp với Tin Mừng cứu độ hơn nữa!

Tôi đã từng có một chút kinh nghiệm về điều này:

Trong tư cách một nhà truyền giáo, tất nhiên tôi mong muốn rao giảng Đức Ki-tô cho nhóm sinh viên Mongolia xin tôi dạy giáo lý; trong khi ra sức giải thích sự khác biệt giữa đạo Shaman truyền thống của dân du mục Bắc Á, một tín ngưỡng hoàn toàn dựa trên nỗi sợ hãi các thần linh bí hiểm, với Tin Mừng cứu độ của Ki-tô giáo hoàn toàn đặt nền móng trên tình yêu của Thiên Chúa, tôi mới phát hiện ra rằng: sự hiểu biết của mình về Thiên Chúa và về Đức Ki-tô – bất chấp các môn thần học và giáo lý mình đã từng học chuyên sâu – cũng cần phải được chỉnh sửa lại: tôi nhất thiết phải chuyển dịch trọng tâm niềm tin của mình, từ tin vào một Thiên Chúa luận phạt nghiêm minh qua một Thiên Chúa nhân hậu, giầu lòng từ bi và hay thương xót. Lời giảng dạy của tôi từ nay, thay vì nhấn trên tội – phúc, thưởng – phạt, sẽ cần phải đề cập nhiều hơn tới ơn cứu độ và sự tha thứ của Thiên Chúa; thay vì kéo sự chú tâm tới các mặt luân lý để phân biệt tốt / xấu, làm lành / lánh dữ… thì hãy hướng cặp mắt đổ dần về Thập Giá cứu độ; thay vì chi ly với sự công thẳng đòi phải thanh luyện khắt khe, hãy để cho lòng từ ái Chúa bao bọc và dấn mình sâu hơn nữa vào vòng tay hiền mẫu…

Tiếp đó tôi khám phá ra rằng chính Phao-lô cũng đã từng trải qua một cuộc biến đổi tận căn như thế, nhất là phát xuất từ các quan niệm Cựu Ước mà một Biệt Phái như ông từng theo đuổi trong nhiều năm tháng. Kể từ ngày gặp được Giê-su trên đường Đa-mát, ông đã hoàn toàn thay đổi: từ nay đối với ông chỉ một mình Đức Ki-tô Thập Giá mới là quan trọng hơn cả. Ông nhận ra sự công chính do ơn cứu độ Đức Ki-tô mang lại còn lớn hơn cả ngàn vạn lần sự công chính của tất cả các luật pháp trần gian gộp lại (xem 1 Cr 2:2 và Gl 6:14). Gần đây hơn nữa, tôi cũng đã nhận ra tư tưởng này nổi bật nơi thánh nữ Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, nơi Mẹ Tê-rê-xa Kơn-ka-ta, nơi Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, và đặc biệt nơi Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đang hiển trị.

Thế thì mùa vọng này đúng là thời gian cần thiết để tôi, một linh mục giảng dạy cho kẻ khác chuẩn bị đón Chúa, phải chính mình làm một cuộc hoán cải tận căn, một cuộc chỉnh sửa cần thiết để khám phá sâu rộng hơn nữa một Thiên Chúa giầu lòng xót thương và cứu độ.

Thánh Gio-an Tiền Hô ơi, theo tiếng ngài mời gọi, con đang chuẩn bị tâm hồn đón Chúa đến! Qua bài Tin Mừng hôm nay, ngài cũng đang thôi thúc con tìm gặp một đấng Mê-si-a Cứu Độ thay vì một đấng Thiên Sai luận phạt công thẳng, điều mà chính ngài khi xưa đã từng được Thầy Giê-su mời gọi làm. Xin hãy giúp con và mọi Ki-tô hữu ngày càng nhận ra rõ hơn, Đức Giê-su Cứu Thế mới chính là hình ảnh trung thực nhất về một Thiên Chúa từ nhân; để rồi qua cuộc sống và lời rao giảng, chúng con cũng có thể giới thiệu và trình bày Người cách chính xác cho nhiều anh chị em khác nữa. A-men.

Về mục lục

.

CHÚA GIÊSU MẠC KHẢI NƯỚC TRỜI

P.Trần Đình Phan Tiến 

Thưa quý vị, thưa các bạn, ngay cả Gioan Tẩy Gỉa còn bán tín, bán nghi về Đấng Cứu Thế, vì ngay câu đầu tiên của Đoạn Tin Mừng hôm nay ( Mt 11, 2 – 3 ) cho thấy điều ấy. Và mặc nhiên, Chúa Giêsu đã trả lời cho môn đệ của Gioan là người đã “muốn biết” rõ về Chúa Gie6su . Chúa Giêsu đã thẳng thắn trích dẫn Kinh Thánh về Người (Is 35, 4), vì, không ai có thể làm được những điều kỳ diệu là : “ Người mù được xem thấy, kẻ què được đi, kẻ điếc được nghe, người câm nói được, người cùi được sạch, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng”, (Mt 11, 5) 

Vâng, và câu quan trọng nhất là : “ phúc thay những ai không vấp ngã vì Tôi “ ( c 6) 

Rõ ràng, Gioan Tiền Hô là sứ giả mở đường cho Đấng Cứu Thế cũng phải có tâm trạng bán tín , bán nghi, phương chi là dân chúng. Vâng, quả thật, nếu một Vị Cứu Thế đến trong thế gian mà theo “thiển ý” của thế gian, mà Người làm được những việc phi thương như vậy, ắt là “tiền muôn, bạc thước” chứ chẳng chơi. Nhưng, đằng nầy, nếu danh tiếng Ngài lẫy lừng, thì tại sao, Người không thể hiện quyền uy ấy mà “ tiêu diệt”  bọn “ khốn nạn”, lại để chúng muốn làm gì thì làm. Vâng, như chúng ta biết, sứ mạng Tiền Hô, là sứ mạng ngôn sứ, mà sứ mạng ngôn sứ là “ tiếng nói ” của sự thật, của lương tri. Nhưng, thật ra, theo đó thì “sứ mạng Messia” của Chúa Giêsu không phải đến thế gian để tạo lập vương quyền và gia sản như phàm nhân. Vâng, điều nầy là mấu chốt của vấn đề về sứ mạng của Người. 

Khởi đi từ bài đọc I hôm nay ( Is 35, 1 -10), cho chúng ta thấy một viễn cảnh thái bình, tức Nước Trời, nơi có Thiên Chúa ngự trị. Đất khô cằn biến thành phì nhiêu, những tật bệnh, khiếm khuyết của con người được chữa lành, không còn những đau khổ bệnh tật. Mảnh đất phì nhiêu ấy, tượng trưng mảnh đất tâm hồn con người, nhờ Đấng Cứu Thế, chúng ta sẽ có được một mảnh đất tâm hồn “ phì nhiêu “ màu mỡ. theo đó, Nước Trời  mà Chúa Giêsu thiết lập chính lá mảnh đất “tâm hồn “ nhân thế, nơi đó chính là “Nước Trời” khi và chỉ khi nó đón nhận Lời Chúa và sinh hoa trái.

Như vậy, khi Chúa Giêsu đến và trả lời cho môn đệ của Gioan Tiền Hô, thì chính Người cũng dùng chính lời Thánh Kinh ( Is 35, 5-6) để ứng dụng. 

Ý muốn của Gioan Tiền Hô và những người đương thời lúc bấy giờ là, Đấng Cứu Thế phải là bậc Quân Vương theo kiểu trần gian. Có nghĩa là, phải dù lọng, võng xe, tiền bạc đầy nhà. Nhưng, Người không thiết lập vương quốc trần gian, chứng minh rằng, sự Tiền Hô của Gioan Tẩy giả, là tiếng kêu trong hoang địa: “Hãy dọn đường cho Đức Chúa, sửa lối ngay thẳng để Người đi …” (Mt 3, 3) cũng chính là lời tiên tri Isaia đã loan báo. 

Như vậy, “Nhiệm Cục Nước Trời” chính Chúa Giêsu thiết lập không phải là một vương quốc taị thế bởi quyền lực và thống trị bằng vương quyền và tài sản. mà là bằng hy sinh và tự hiến.

Chúa Giêsu không thống trị bằng quyền lực, nhưng bởi tình yêu, Người không thống trị bằng tiêu diệt, mà bằng kêu gọi sám hối. Sám hối là sự kêu gọi bằng “ lòng thương xót”, tha thứ. 

Chúng ta thấy, sự trả lời cho “nghi vấn” của Gioan Tiền Hô, cùng tương tự như sự trả lời cho những môn đệ đầu tiên muốn đi theo Người : “Hãy đến mà xem… Con chồn có hang,  chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chổ tựa đầu” (Mt 8, 20)( Lc 9, 58) 

Cũng vậy, phần hai : Phần Chúa Giêsu nói về Gioan Tiền Hô. 

Gioan Tiền Hô, nhân vật số 01, là vị ngôn sứ đầu tiên của Tân Ứơc. Có thể nói, Gioan Tiền Hô là người Kitô hữu đích thực và là mẫu gương Kitô hữu, bởi vì ngài chu toàn ba chức năng cách xuất sắc đó là : Tư Tế – Ngôn Sứ và Vương Đế. 

–          Ngôn sứ : Thánh Gioan Tiền Hô là : Tiếng kêu trong hoang địa của Thiên Chúa: “ Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến” ( Mt 11, 10)

Và như vậy, chính Chúa Giêsu xác nhận ngài là “Ngôn sứ” của Thiên Chúa. 

–          Tư Tế : Chính hôm nay, ngài đang sắp sửa là tư tế, vì sau đó, ngài sẽ là chứng nhân cho Đấng Cứu Thế. Ngài sẽ trở nên vị tư tế dâng chính mình ngài làm lễ vật, ngài sẽ bị chặt đầu, vì để bảo vệ chân lý. 

Đứng ra ngăn cản vua Herodia, lấy em dâu của mình. Nên bị chặt đầu. 

–          Vương Đế : Cao trọng hơn mọi phàm nhân, căn cứ vào Lời Chúa Giêsu : “ Tôi nói thật cho anh em biết : trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Gỉa.” ( c 11 a ). 

Nhưng, cũng chính câu nầy, Chúa Giêsu đã mặc khải Nước Trời “ Tuy nhiên , kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông.” ( c 11 b) 

Vâng , thưa quý vị, nhân dịp nầy, Chúa Giêsu đã tiết lộ chân lý Nước Trời. Như vậy, Nước Trời thật cao trọng, đối với phàm nhân, thì những gì là hạ giới thì không thể so với Nước Trời. Từ đó, chúng ta thấy, chính Chúa  đã hạ mình xuống thế làm Người , để trở nên phàm nhân, hầu “đổi “ chổ cho phàm nhân vào được Nước Trời. Theo đó, chúng ta thấy mầu nhiệm Nước Trời, thật là cao cả,  với những gì thuộc hạ giới không thể so sánh được, dù là Gioan Tiền Hô. 

Nên chi, mầu nhiệm Giáng Sinh cho chúng ta một sự mặc khải về tình yêu cao cả của Thiên Chúa qua Đức Giêsu – Kitô, sự “ trao đổi kỳ diệu”. Rõ ràng, nếu Chúa Giêsu không từ Trời xuống thế, thì không ai từ dưới đất mà lên trời được. 

Bài đọc II hôm nay thánh Giacobe ( Gc 5 , 7 -10 ) cho chúng biết được sự đợi chờ, tính kiên nhẫn chờ đợi ngày “Chúa Quang Lâm “. 

Lạy Chúa Giêsu , xin cho chúng con biết tín thác vào Chúa mọi giây, mọi lúc trong cuộc đời trần thế, hầu luôn tỉnh thức mong chờ ngày giờ Chúa đến. Chúa là Đấng hằng sống, hằng trị muôn đời./. Amen

Về mục lục

.

HÃY ĐỂ VIỆC LÀM MINH CHỨNG VỀ TA

 Lm Inhaxiô Trần Ngà

Qua lời rao giảng của mình, ông Gio-an đã từng loan báo về Đấng Cứu Thế sẽ đến như là vị thẩm phán uy nghi đáng sợ; Ngài đến để xét xử và trừng trị nghiêm khắc những lỗi phạm của con người. Ông gióng lên những lời răn đe nẩy lửa: “Chiếc rìu đã kề sẵn gốc cây, cây nào không sinh trái sẽ bị chặt đi và quăng vào lửa… Ngài cầm nia trong tay mà sẩy sân lúa của Ngài, lúa tốt thì cho vào kho, còn lúa lép thì đốt đi trong lửa không hề tắt.” (Mt 3, 10. 12) 

Vậy mà từ bấy lâu nay, Gio-an chưa từng thấy Chúa Giê-su trừng phạt bất cứ tội nhân nào; chưa thấy Ngài kê “rìu” để đốn hạ những “cây không sinh trái”; chưa từng thấy Ngài loại trừ phường gian ác như những thứ “lúa lép” và “thiêu đốt họ trong lửa không hề tắt”… 

Ngoài ra, theo như mong đợi của dân Do-thái, khi Đấng Cứu Thế đến, Ngài sẽ tiêu diệt quân thù, giải thoát những ai bị giam cầm tù tội… Vậy mà Chúa Giê-su đâu có đánh đuổi quân xâm lược Rô-ma, chưa thấy Ngài giải thoát kẻ bị xiềng xích tù đày…

Thế nên Gioan phái các môn đệ đến gặp và hỏi thẳng Chúa Giê-su: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” 

Trước câu hỏi của Gioan, Chúa Giê-su không dùng lời nói nhưng dùng chính việc làm để minh chứng về mình, như có lần Ngài đã nói: “Công việc tôi làm nhân danh Cha tôi làm chứng về tôi (Gio-an 5, 36). 

Vì thế, Chúa Giê-su chỉ cho các môn đệ của Gio-an thấy những việc Ngài đang làm và bảo họ: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin mừng…” 

Từ ngàn xưa, Ngôn Sứ I-sa-i-a đã tiên báo rằng khi Đấng Thiên Sai đến, Ngài sẽ cho “người mù được thấy, người điếc được nghe, người què sẽ nhảy như nai…” (Is 35,10…) 

Gio-an là người am hiểu lời các lời ngôn sứ tiên báo về Đấng Thiên sai và thấy rằng Chúa Giê-su đã thực hiện đúng như lời ngôn sứ I-sa-i-a đã tiên báo như trích dẫn trên đây, tất nhiên Gio-an biết rằng Đức Giê-su chính là Đấng Thiên Sai mà ngôn sứ I-sa-i-a đã loan báo. 

Như vậy, chính việc làm của Chúa Giê-su minh chứng cho biết Ngài là Đấng cứu thế. 

Hôm nay, người đời cũng thường chất vấn chúng ta như xưa kia, môn đệ của Gio-an đã từng chất vấn Chúa Giê-su. Họ hỏi chúng ta: “Bạn có phải là môn đệ của Chúa Giê-su không?” 

Trước câu hỏi nầy, chúng ta không thể đáp gọn: “Phải, tôi chính là môn đệ của Thầy Giê-su”, vì một câu trả lời suông mà chẳng dựa trên cơ sở nào cả thì chẳng thuyết phục được ai. 

Người khôn ngoan và thận trọng không dễ tin vào lời tự khẳng định của người khác nhưng căn cứ vào việc làm. Chính việc làm của từng người sẽ chứng tỏ cho người khác biết bản chất của người đó. 

Thế thì, trước câu hỏi: “Bạn có phải là môn đệ của Chúa Giê-su không”, chúng ta cần dựa vào câu đáp của Chúa Giê-su trước thắc mắc của các môn đệ Gioan, (Ngài nói: “Hãy về thuật lại cho ông Gio-an những gì tôi đã làm…”) để đáp lại như sau: “Các bạn hãy xem công việc tôi làm… Các bạn cứ nhìn vào lối sống của tôi thì biết… 

Đúng vậy, chỉ có nếp sống yêu thương, phục vụ, hy sinh của các Ki-tô  hữu mới chứng tỏ cho mọi người thấy họ thực sự là môn đệ của Chúa Giê-su, như Lời Ngài dạy: “Người ta cứ dấu nầy mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con yêu thương nhau.” (Gio-an 13, 35)

Lạy Chúa Giê-su,

Xin cho chúng con biết sống thế nào để cho việc làm của chúng con không tố cáo chúng con là người môn đệ giả, nhưng luôn minh chứng cách thuyết phục rằng chúng con đích thực là môn đệ chân chính của Chúa. Amen.

Về mục lục

.

PHÚC THAY NGƯỜI NÀO KHÔNG VẤP NGÃ VÌ TÔI

Fx Đỗ Công Minh .

           Mùa Vọng, mùa trông đợi đã trở về với nhân lọai chúng con. Tuần này đã là tuần thứ ba của mùa Vọng. Đó đây trong khuôn viên các nhà thờ đã có đèn sao nhấp nháy trên những cây thông xinh xắn. Những hang đá máng cỏ đang được dựng lên chuẩn bị cho ngày đại lễ. Trên những xóm ngõ của các xứ đạo, người người chăng đèn kết sao. Những hàng chữ MERRY CHRISTMAS bên những Ông già Noel vai đeo túi quà tươi cười vẫy chào. Không khí ngày lễ đang tràn về trên phố phường khiến mọi người có thêm niềm vui.

           Lạy Chúa, 

           Con cũng đang chuẩn bị cho ngày đại lễ, con dọn lại nhà cửa, sắp xếp cho Chúa một chỗ nhỏ trong căn phòng khách. Nơi đó sẽ có một cây thông nhỏ, có bộ tượng be bé xinh xinh, có những dây đèn điện, những quả cầu trang trí, những dây kim tuyến đủ màu. Nhìn vào là thấy một bầu khí ấm cúng của đêm Chúa ra đời, thay cho  một đêm đông giá rét ngòai đồng vắng không người qua lại, chỉ có những chú mục đồng nghèo nàn trong các căn chòi tá túc hơn 2000 năm trước đây. Con dọn chỗ đón Chúa bằng những hình thức quả có trang trọng, đẹp đẽ trong nhà của con với những thứ bên ngòai, như mọi người trên thế giới này. Như thế có đầy đủ ? 

          Bài tin mừng hôm nay Thánh Matthêu thuật lại chuyện về thời gian Thánh Gioan Tẩy giả bị ngồi tù, khi nghe biết Đức Kitô xuất hiện, ông cho môn đệ đến hỏi về Người: “  Thầy có thật là Đấng phải đến không ? hay chúng tôi còn phải đợi ai khác ! “. Đức Kitô đã khẳng định về chính mình :”  Các anh cứ về thuật cho Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què bước đi, người cùi được sạch, kẻ điếc nghe được, người chết trỗi dậy, người nghèo được nghe tin mừng  và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi “

         Lời Chúa không chỉ là câu trả lời cho Gioan mà còn là cho con người ngày hôm nay. Rất nhiều người đã tin Chúa và đông đảo người chưa tin, từ cả ngàn năm nay vẫn đặt câu hỏi : Đức Kitô là ai ?. Ngay các tông đồ, những người cận kề bên Chúa, được nghe lời Người dạy, chứng kiến việc Người làm, mà Thầy Giêsu cũng từng đặt câu hỏi :”Người ta bảo Thầy là ai ?” rồi “ Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ? “. Chúa không trả lời trực tiếp câu hỏi của môn đệ Gioan, Người chỉ yêu cầu những người đến hỏi về thuật lại cho Gioan biết về những việc Người đã thực hiện. 

          Ngày hôm nay, được sự soi sáng của Thánh Thần Chúa và những giáo huấn của Hội Thánh, con tin vào Chúa là đấng phải đến để cứu độ nhân loại. Con tin vào lời xác tín của Thánh Phêrô Tông đồ :”Thầy là Đức Kitô con Thiên Chúa hằng sống “ thế nhưng để  thể hiện niềm tin ấy trong cuộc sống, để có thể giới thiệu niềm vui Chúa đến cứu độ cho những người sống bên con, con phải nhận ra được những việc Chúa đã làm, thực hiện điều Chúa truyền dạy tức là tiếp tục trở nên những người thân cận với những người anh em đang sống cùng, sống với con mỗi ngày. 

         Chúa đến trần gian này để con người được chia sẻ hạnh phúc là con Thiên Chúa. Được hưởng niềm vui Chúa trao, đó là sự bình an. Con người không còn sống trong tội lỗi, không còn tranh chấp, khinh chê lẫn nhau, áp bức nhau. Sẵn sàng coi nhau là anh em con một Cha, sẵn sàng đến với nhau, giúp nhau cùng thăng tiến. Và để có được những điều ấy con phải mở lòng đón tiếp Chúa, dọn cho Chúa một con đường đi vào nhà Linh hồn con. Con đường ấy không thể lồi lên những thói xấu, những ích kỷ. Không lõm xuống nhửng đam mê dục vọng. 

       Những  núi đồi kiêu căng, tự mãn, coi rẻ người khác nơi con phải được bạt đi cho phẳng. Những khúc quanh dối trá, lươn lẹo của con phải được uốn nắn lại theo sự công chính và ngay thẳng . Con có dám làm những điều ấy ? Con có xứng đáng là người loan báo Chúa cho những anh chị em con chưa nhận biết Người ? Con có nói về Chúa, sống làm gương ngay trong gia đình, để giới thiệu Chúa cho con cái, người thân của con ? Lời Chúa vẫn đang tra vấn con.. .

      Lạy Chúa, 

      Xin cho con nhân những ngày này biết dọn lòng đón Chúa vào gia đình, vào linh hồn con, biết thay đổi cách sống của mình. Bây giờ con còn tội lỗi, vấp phạm  thì nhờ ơn Chúa, con sẽ đứng lên và đến với Chúa xin ơn tha thứ.

      Xin Chúa giúp con. Chúa ơi!

Về mục lục

.

“ÔNG CÓ PHẢI LÀ ĐẤNG PHẢI ĐẾN?”

Lm Uyen Nguyen

            CN 3 MV giới thiệu hai khuôn mặt có quan hệ mật thiết với nhau. Mối quan hệ mật thiết này vì sứ mệnh liên đới nhau. Mỗi vị có sứ mệnh được trao khác nhau. Mỗi sứ mệnh quan trọng khác nhau. Sứ mệnh của người này liên kết với người kia. Sự gắn kết mật thiết đến nỗi có thể nói không có vị này sẽ không có vị kia. Hai tương quan với nhau như bóng với hình, chính là Gioan tẩy giả và Đức Giêsu. Đức Giêsu sinh bởi gia tộc Gioakim và Anna, mẹ là Maria và Giuse. Còn Gioan tẩy giả sinh bởi Êlisabết và Zacaria. Cả hai sinh ra ‘cùng năm’ nhưng không cùng ngày cùng tháng, cả hai khi cưu mang và sinh hạ đều có những dấu lạ kèm theo. Vị này sinh ra cách vị kia 6 tháng tuổi.

            Gioan được gọi là Gioan tẩy giả vì ông làm phép rửa trên dân chúng bên bờ sông Gio-đan. Phép rửa của ông mang ý nghĩa chỉ dấu chuẫn bị lòng mọi người đón nhận điều gì đó sắp đến thật cao cả và trọng đại. Ông là một tiên tri giao thời giữa quá khứ và hiện tại. Là một tiên tri lớn, ông sống nhiệm nhặt trong hoang địa, và từ đây khởi đi rao giảng, kêu gọi sám hối và làm phép rửa. Một khi ai đến với ông là đã đón nhận lời ông rao giảng, lãnh nhận phép rửa ông làm, mang ý: đón nhận dấu chỉ của lòng thống hối, hoán cãi

            Gương mặt thứ hai, ĐGS Người thành Nagiaret. Một bộ mặt mà Gioan phải nói đến khi rao giảng cùng với lời kêu gọi mọi người thống hối dọn mình để tiếp đón Người. Khi này, Người cũng đã bắt đầu việc rao giảng, xuất phát từ Galilée, ngay lúc, theo lệnh vua Hêrôdê bắt Gioan cầm tù (x. Mt.4,12tt). Lời đầu tiên mà Người rao giảng, cũng là lời khai mạc công cuộc rao giảng của Người: “Hãy thống hối và tin vào Tin Mừng”. Tâm tình và thái độ phải như vậy vì: “Nước Trời đã đến gần”. Sự hòa hợp giữa những lời rao giảng ngay từ khởi đầu của hai khuôn mặt rất khớp nhau. Tất cả nằm trong khâu: thống hối để đón nhận Nước Trời đến gần.  

            Gioan tẩy giả sống khắc khổ để thanh khiết hóa chính mình, rất am tường và xác tín sứ mệnh mình cũng như những gì mình rao giảng! Tuy nhiên chỉ vì đấu tranh cho sự công chính mà phải bị cầm tù, Gioan tin rằng mình sẽ được giải thoát. Tuy nhiên niềm tin này ngày càng xa vời và sự tín thác vào Đấng cứu độ, mà các tiên tri trước kia đã rao giảng cũng như chính mình rao giảng cho dân chúng để có hành vi chịu phép rửa thống hối đón nhận Đấng ấy, điều này ngày một lu mờ, nét đậm của niềm tin dần mờ phai. Ông đâm ra hoài nghi Đấng mà ông đang quảng bá cho dân chúng: Người có thực là Đấng Cứu Thế?

             Vì rằng điều ông suy nghĩ là Đấng cứu thế có vai trò trừ diệt bất công, như ‘thiên lôi’ được sai phá vỡ tù ngục, cứu nguy người bị lao lý. Gioan đang nghĩ vậy, khao khát vậy. Mà cụ thể, ông đang bị giam cầm, hi vọng đó chưa thấy. Nhưng cũng thật rất đáng khâm phục và đáng để nên gương học hỏi, Gioan đầy ơn khôn ngoan sớm lấy lại tâm lý bình ổn về thực chất ý tưởng nơi ông nghĩ, chưa phải vội vã, chưa dám khẳng định gì, còn phải tra cứu cặn kẻ mới rõ thực hư về điều mà ông đã ngờ vực. Nghĩ vậy, ông sai môn đệ của ông đi gặp và thỉnh vấn ĐGS: “Người có thực là Đấng cứu thế”! Để trả lời Gioan tiền hô đáng thương của mình, ĐGS chỉ đưa ra những bằng chứng thực tế mà Người đã thực hiện suốt thời qua đi giảng: ‘hãy về thuật lại tất cả những gì đã nghe và đã thấy’ : các dấu lạ đã làm cho mọi người, đặc biệt quyền trên các thần ô uế, quyển trên các bệnh lý đã ảnh hưởng nặng nề nơi các bệnh nhân, hơn tất cả là ‘kẻ nghèo được nghe tin mừng’! Trả lời như vậy, ĐGS không trực diện nói dứt khoát cho Gioan về điều ông nghi vấn, mà chỉ lưu ý ‘tư tưởng và hình ảnh về Đấng cứu thế’nơi ông đang tự vẽ ra trong mong ước bị méo mó lệch lạc! Cần sửa sai.

            Rồi để xoa dịu, Người nói về Gioan tẩy giả cho các môn sinh của ông. Người nói với tất cả tâm tình ca ngợi, lòng trân trọng về phong thái sống, về tư cách một vị vừa là kẻ chờ đợi Đấng cứu thế vừa là tiên tri tiền hô được cắt cử, sau cùng là lời động viên, khuyến khích họ đón nghe và làm theo những gì mà Gioan đã giảng và đã dạy.

            Trước hai diện mạo như vậy của CN 3 mùa vọng này, GH muốn nói gì với con cái mình? Có phải GH cố ý nêu hình ảnh Gioan như là gương mẫu của kẻ chờ đợi đầy nhân đức xán lạn và là vị tiên tri tiền hô hoàn hảo của Đấng cứu thế, tuy nhiên dù đã là tấm gương mẫu mực cũng còn sơ xuất để lộ lầm lỗi, vết đen, bóng mờ che phủ. Gioan là kẻ chờ mong và kẻ dọn đường cho Đấng cứu thế, nhưng tư tưởng vẫn chưa đủ sáng suốt, suy nghĩ có lầm lỗi, nên cũng còn phải canh chừng và sám hối? Đó là sự hoài nghi về hình ảnh và về vai trò của Đấng cứu thế, cụ thể là nơi tấm lòng biển cả của Người, biểu lộ qua việc làm và hành động không đáp ứng điều ông mong ước? Dẫu biết Gioan chưa dám quả quyết là đúng không sai điều ông đã nghĩ về Đấng cứu thế, tuy nhiên chính đây để lộ nhược điểm phát sinh ý nghĩ lầm lạc do từ bản chất suy tư giới hạn, lại ưa thích bày vẽ phóng đại nơi con người. Điều hay nơi ông là có biết hồi tâm trở về, còn sáng suốt tận dụng tra cứu sửa sai, lắng nghe để thấu đáo, liền đó thành tâm đón nhận!   

            Lạy ĐGS Đấng quang minh khôn sánh, xin ban cho con ơn hiểu biết  và óc phán đoán chính xác vì đó là nguồn sáng dẫn con đến hoàn hảo, dắt dìu con về Nước Trời?

Về mục lục

.

CHU TOÀN SỨ VỤ TIỀN SỨ CHO ĐỨC KITÔ NHƯ GIOAN

Lm. Đan Vinh

I.   HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Mt 11,2-11

(2) Ông Gio-an lúc ấy đang ngồi tù, nghe biết những việc Đức Ki-tô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng: (3) “Thưa Thầy, Thầy có đúng là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác ? (4) Đức Giê-su trả lời: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: (5) Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng. (6) Và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi”. (7) Họ đi rồi, Đức Giê-su bắt đầu nói với đám đông về ông Gio-an rằng: “Anh em ra xem gì trong hoang địa ? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng ? (8) Thế thì anh em xem gì ? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng ? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua. (9) Thế thì anh em ra làm gì ? Để xem một vị ngôn sứ chăng ? Đúng thế đó. Mà tôi nói cho anh em biết: Đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. (10) Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con. Người sẽ dọn đường cho Con đến”. (11) Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông”.

  1. Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng nhằm giới thiệu Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai và đề cao Tân Ước trổi vượt hơn Cựu Ước. Khi Gio-an trong tù nghe biết hoạt động của Đức Giê-su, liền sai môn đệ đến gặp Người để tìm hiểu rõ hơn về sứ mệnh Thiên Sai của Người. Đức Giê-su đã gián tiếp trả lời bằng các công việc Người đang thực hiện ứng nghiệm lời tuyên sấm của I-sai-a về Đấng Thiên Sai. Người cũng khen ngợi các đức tính của Gio-an và xác nhận vai trò tiền sứ của ông.

  1. CHÚ THÍCH:

– C 2-6: + Gio-an lúc ấy đang ngồi tù…: Gio-an đã bị vua Hê-rô-đê bắt giam về tội dám ngăn cản nhà vua lấy bà chị dâu là Hê-rô-đi-a-đê vợ của ông hoàng Phi-líp-phê làm vợ của mình (x. Mt 14,3). + Liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng: Thầy có đúng là Đấng phải đến không, hay chúng tôi còn phải đợi ai khác ?: Gio-an rất vui khi nghe môn đồ thuật lại những việc Đức Giê-su làm (x. Ga 3,28-30). Ông đã được chứng kiến cuộc thần hiện cho thấy sứ mệnh Thiên Sai của Đức Giê-su khi ông làm phép rửa cho Người tại sông Gio-đan. Đang khi các môn đệ của ông lại tỏ ra ganh tị khi thấy Đức Giê-su thành công hơn thày mình (x. Ga 3,26). Giờ đây Gio-an sai môn đệ đến gặp Đức Giê-su, để họ tin Người thực là Đấng Thiên Sai. Tuy nhiên, chính Gio-an cũng thắc mắc tại sao Đức Giê-su không hành xử công thẳng như Đấng Mê-si-a thẩm phán, mà ông đã loan báo cho dân chúng trước đó (x. Mt 3,10.12). + Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: Khi các môn đệ của Gio-an tới thì gặp lúc Đức Giê-su đang chữa nhiều bệnh hoạn tật nguyền trong dân, xua trừ ma quỷ (x. Lc 7,21). Đức Giê-su đã gián tiếp trả lời cho Gio-an về sứ mệnh Thiên Sai của Người khi cho thấy các việc Người đang làm ứng nghiệm các sấm ngôn về Đấng Thiên Sai (x. Is 26,19). + Và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi: Đức Giê-su cũng cảnh báo: Cần loại bỏ quan niệm về một Đấng Thiên Sai hành xử công thẳng và thiết lập một Nước Trời mang tính thế tục.

– C 7-9: + Đức Giê-su bắt đầu nói với đám đông về Gio-an rằng: Đức Giê-su đã hết lời khen ngợi Gio-an để đánh tan hiểu lầm của dân chúng cho rằng ông đã bị thất bại và bị Thiên Chúa bỏ rơi khi để mặc ông cho vua Hê-rô-đê bắt bớ. + Anh em ra xem gì ở hoang địa…: Gio-an cao trọng vì đức tính can đảm bất khuất, không chịu luồn cúi trước bạo lực. + Một người mặc gấm vóc lụa là chăng ?: Gio-an không sống giàu sang buông thả nhưng có nếp sống đơn giản khổ hạnh. + Để xem một vị Ngôn sứ chăng…: Gio-an chính là một Ngôn sứ do Thiên Chúa sai đến.

– C 10-11: + Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến”. Đây là lời tuyên sấm của Ngôn sứ Ma-la-khi về một vị tiền hô đi trước dọn đường cho Chúa ngự đến (x Ml 3,1) đã được ứng nghiệm nơi Gio-an là vị tiền hô có sứ mệnh đi trước để dọn đường cho Đức Giê-su. + Trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả. Tuy nhiên kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông: Gio-an tuy là ngôn sứ cao trọng nhất trong thời Cựu Ước, nhưng ông vẫn không thể sánh được với Đức Giê-su trong thời Tân Ước.

  1. CÂU HỎI:

1) Tại sao Gio-an bị vua Hê-rô-đê bắt giam vào tù ? 2) Gio-an có tin Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai hay không ? Tại sao ? 3) Tại sao ông sai môn đệ đến hỏi Đức Giê-su về vai trò Thiên Sai của Người ? 4) Đức Giê-su đã làm gì để chứng tỏ Người là Đấng Thiên Sai ? 5) Đức Giê-su khen ngợi Gio-an về những điểm nào ? 6) Sứ vụ của Gio-an đã được Ngôn sứ nào nói tới? 7) Tại sao Gio-an là người vừa cao trọng lại vừa nhỏ bé nhất ?                

SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con. Người sẽ dọn đường cho Con đến” (Mt 11,10).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) TIỀN SỨ BẰNG GƯƠNG SÁNG TIN YÊU PHÓ THÁC:

Có một cô bé mới chỉ bốn tuổi mà đã có thể cảm hóa được ba em làm dấu đọc kinh trước bữa ăn. Trưa hôm đó, khi đang chơi đồ hàng ngoài sân, thì cô chị ra kêu vào nhà ăn cơm. Ngồi vào bàn, em nhìn ba và khẽ nói:

– Ba à, Ma-sơ bảo phải đọc kinh trước khi ăn cơm.

Lúc đó người cha chỉ còn cách làm dấu và đọc kinh Lạy Cha, một thói quen mà ông đã bỏ từ lâu.

Câu chuyện thứ hai: Một bác sĩ giải phẫu đã được ơn trở lại tin yêu Chúa nhờ gương sáng của một bệnh nhân là một bé trai 5 tuổi. Em bị đau bụng dữ dội được đưa đến bệnh viện khám bệnh. Sau khi siêu âm và chụp X quang ổ bụng, bác sĩ khẳng định em bị khối u trong dạ dày cần được phẫu thuật. Về sau bác sĩ giải phẫu đã kể lại câu chuyện mổ cho em như sau:

“Hôm đó, em bé được đưa vào phòng mổ và trước khi gây mê, tôi nói với em rằng:

– Bác sĩ sắp sửa giúp con khỏi bệnh. Nhưng trước hết con cần phải qua một giấc ngủ nhé”. Nghe nói sắp đi ngủ, em bé được mẹ dạy thói quen cầu nguyện trước khi đi ngủ đã nói:

– Vậy xin bác sĩ cho con cầu nguyện trước khi đi ngủ.

Nói đoạn em quỳ xuống bên cạnh bàn mổ, hai tay chắp lại, đôi mắt ngước lên cao, em khẽ đọc một kinh lạy cha. Nhìn thấy cảnh em cầu nguyện, vị bác sĩ và mấy y tá đều cảm động rưng rưng nước mắt. Vị bác sĩ kể tiếp: Sau đó, tôi tự nhiên cảm thấy lương tâm cắn rứt, nên đã đi xưng tội sau 20 năm, và từ đó mỗi buổi tối, tôi không bao giờ đi ngủ mà không cầu nguyện”.

Thánh Gioan Tẩy Giả cũng được trao sứ vụ làm tiền sứ của Đấng Thiên Sai như ngôn sứ I-sai-a đã tuyên sấm: “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước Con, để dọn đường cho Con” (Mc 1,2). Mỗi người chúng ta đều được mời gọi để làm tiền sứ cho Chúa, giúp tha nhân tin yêu Chúa bằng một lối sống tin yêu phó thác như em bé trong câu chuyện trên.

2) TIỀN SỨ BẰNG LỐI SỐNG YÊU THƯƠNG CHIA SẺ:

Một nhóm thương gia dự một cuộc họp. Người nào cũng báo trước với vợ con là sẽ về nhà đúng giờ ăn bữa tối với gia đình. Nhưng cuộc họp kéo dài hơn dự định. Tan buổi họp, ai nấy hối hả chạy ra xe buýt. Một người chẳng may xô phải quầy bán táo của một cậu bé, táo rơi tứ tung. Nhưng không ai dừng lại để lượm giúp cậu. Rồi mọi người vội lên ngồi trên xe buýt và thở phào nhẹ nhõm.

Nhưng ít giây sau, một người trong nhóm cảm thấy bứt rứt về chuyện cậu bé bán táo. Ông xuống xe trở lại chỗ cũ và thấy cậu bé đang vất vả đi mò tìm từng trái táo lượm lại. Thì ra cậu bé bị mù! Tội nghiệp quá, ông giúp cậu lượm lại từng quả cho đến hết. Một số quả đã bị giập. Ông móc túi dúi vào tay cậu bé một món tiền, rồi ra đi. Cậu bé bán táo liền hỏi với theo “Ông có phải là Chúa Giêsu không ?”

Quả thật, theo một nghĩa nào đó, ông thương gia kia chính là Chúa Giê-su hiện thân. Ngày nay Hội Thánh cũng rất cần có những Chúa Giê-su như thế.

3) TIỀN SỨ BẰNG THÁI ĐỘ LUÔN KHIÊM TỐN HÒA ĐỒNG VỚI THA NHÂN:

Vào một buổi chiều, sau ngày lên ngôi vị Giáo Chủ, Đức Thánh Giáo Hoàng Gio-an 23 ra khu vườn của điện Va-ti-can đi bách bộ để tìm thư giãn sau một ngày làm việc căng thẳng. Ngài thấy một người đang làm vườn, bên mình bác ta có đeo theo một chai rượu. Vị Giáo chủ khả ái tiến lại gần hỏi chuyện và không chút ngần ngại, ngài đã ngồi xuống đất uống rượu chung với bác ta. Vì chưa biết mặt vị tân Giáo chủ, nên trước vẻ xuề xòa của ngài, bác làm vườn nghĩ ngài cũng chỉ là một viên chức cao cấp trong giáo triều, nên bác ta hết lời ca ngợi vị tân Giáo chủ dựa theo dư luận mà bác đã nghe biết về ngài. Sau khi đã uống cạn bình rượu với bác làm vườn, trước khi từ giã, Đức Gio-an 23 mới hỏi rằng: “Này bác, bác chưa bao giờ thấy mặt vị Giáo chủ phải không ?” Bác ta trả lời: “Thưa chưa ạ”. Bấy giờ Đức Gio-an 23 mới ôn tồn nói: “Thế là hôm nay bác đã thấy rõ rồi nhé. Giáo chủ mới chính là người đã ngồi uống rượu với bác từ nãy đến giờ đó !”.

Đức thánh Giáo Hoàng Gio-an 23 chính là gương mẫu cho chúng ta học tập. Thái độ khiêm tốn hòa đồng, sẵn sàng đến ngồi nói chuyện và chia sẻ một ly rượu tầm thường với người giúp việc nhà cho thấy: sự thánh thiện không hệ tại ở những việc lớn lao, nhưng biểu lộ qua thái độ luôn khiêm hạ và đi bước trước đến với mọi người, sẵn sàng sống chan hòa yêu thương những người đang sống bên cạnh mình. 

4) TIỀN SỨ BẰNG MỘT ĐỜI SỐNG CÔNG MINH CHÍNH TRỰC:

Tể tướng lưng gù là một câu chuyện huyền thoại về một vị tể tướng có hình thể dị dạng bị gù lưng, nhưng rất anh minh trong việc trị nước.

Chuyện xảy ra vào đời nhà Thanh: Lưu Dung là con của một thầy giáo, sở học và thú đánh cờ đều giỏi như nhau. Tiểu thư Hà là con gái của vị tể tướng trong triều vừa xinh đẹp, vừa là cao thủ cờ tướng, được rất nhiều người yêu mến, trong đó có cả nhà vua. Tiểu thư lá ngọc cành vàng ấy chỉ lấy làm chồng người nào vô địch trong cuộc tỉ thí cờ do cô mở ra. Đúng lúc Lưu Dung về kinh thi trạng nguyên và chàng đã lấy được người đẹp. Sau đó lại thi đỗ trạng nguyên, được làm tể tướng.

Tuy hình thù dị dạng nhưng tể tướng họ Lưu là một người coi trọng công bằng và chính nghĩa. Ông đã lật tẩy nhiều thói hư tật xấu của bọn tham quan, hương lý. Ông trở thành đại ân nhân của lớp dân đen bị quan lại hà hiếp đàn áp bóc lột. Tuy là tể tướng đầy quyền uy, nhưng ông lại chọn lối ứng xử khôn khéo mưu lược hơn là vũ lực, nên rất được dân chúng tin yêu.

5) TIỀN SỨ BẰNG LỐI SỐNG SIÊU THOÁT TIỀN BẠC VẬT CHẤT:

Thánh Phanxicô thành Assisi khi còn là một thanh niên đã đến viếng thăm thủ đô Rôma nước Ý, quì gối cầu nguyện trước mộ thánh Phêrô. Để tỏ lòng biết ơn đối với thánh cả Phê-rô, Phanxicô đã bỏ vài đồng tiền kẽm vào thùng công đức. Nhưng khi vừa bước ra tới đường lộ, Phan-xi-cô gặp một người ăn xin nghèo khó. Với tâm trạng hưng phấn, Phanxicô đã yêu cầu người ăn xin đổi chiếc áo choàng cũ rách của anh lấy chiếc áo choàng đắt tiền quý giá của mình. Người ăn xin rất sung sướng, và còn sướng hơn nữa khi ông ta phát hiện ra những đồng tiền cắc còn sót lại trong túi áo mới đổi được. Rồi sau đó, Phanxicô tập nghề ăn xin: Anh ngồi ở góc đường, mở miệng xin những người qua lại bên đường giúp đỡ. Nhưng dù trong hoàn cảnh nghèo khó ấy, Phan-xi-cô lại cảm nghiệm thấy trong lòng một niềm vui khôn tả. Chính nguồn vui ấy đã gợi hứng cho Phan-xi-cô sau này đã thiết lập một trong những dòng tu lớn nhất của Hội Thánh Công Giáo là dòng “Anh em hèn mọn”.

Mùa đông năm 1206, Phanxicô Assisi, đã công khai từ bỏ cha ruột của mình để thuộc trọn về Chúa Cha trên trời. Ngài từ bỏ những cuộc vui chơi tiệc tùng với bạn bè để đi giúp những người phung cùi, những kẻ vô gia cư và những người bị xã hội khai trừ. Hai năm tiếp đó, ngài đi hành khất, sống ẩn dật và sửa sang ba nhà thờ đổ nát trong miền Assisi.

Lối sống siêu thoát của Phan-xi-cô đã thu hút được nhiều người đi theo: trước tiên là 12 “người đền tội” và lữ hành, không nhà cửa hoặc nơi cư trú cố định, sống theo Luật Dòng Anh em Hèn mọn. Phan-xi-cô đã cử các tu sĩ thừa sai đi khắp nơi để loan báo một Đức Kitô nghèo khó, khiêm hạ và chịu đóng đinh, hầu mang lại sự hòa giải và bình an cho mọi người như lời cầu trong “kinh Hòa Bình”. Căn tính của phong trào Phan sinh là sống siêu thoát noi gương Chúa Giê-su theo luật dòng được Hội Thánh chấp nhận, để rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật.

6) TIỀN SỨ BẰNG VIỆC NĂNG GIỚI THIỆU CHÚA CHO THA NHÂN:

Vào một ngày đẹp trời, có một ông cụ ngồi trên ghế xích đu vẻ đăm chiêu, lòng mong đợi Chúa đến. Tình cờ một bé gái tung banh rơi vào sân nhà ông. Cô bé chạy lại nhặt trái banh và mở lời làm quen: “Thưa ông, ngày nào ông cũng ngồi trên ghế này, ông đang chờ đợi ai vậy?” Ông nói: “Cháu còn quá nhỏ làm sao hiểu được điều ông mong đợi.” “Ông à, mẹ cháu nói rằng nếu có điều gì trong lòng, thì hãy nói ra mới hiểu rõ hơn.” Nghe cô bé nói thế, ông liền thổ lộ tâm tình: “Ông đang chờ đợi Chúa đến.” Cô bé kinh ngạc, ông già giải thích: “Trước khi nhắm mắt, ông muốn tin chắc rằng có một Thiên Chúa hiện hữu. Ông cần một dấu hiệu, cháu à.” Bấy giờ cô bé lên tiếng: “Ông chờ một dấu hiệu hả? Thưa ông, Chúa đã cho ông dấu hiệu rồi: Mỗi khi ông hít thở không khí, nghe tiếng chim hót, nhìn hạt mưa rơi… Chúa cho ông dấu hiệu trong nụ cười trẻ thơ và trong nước mắt người đau khổ. Ông ơi, Chúa ở trong ông. Chúa ở trong cháu. Chúa luôn hiện diện nơi đây.”

  1. SUY NIỆM:

1) Thầy có đúng là Đấng phải đến không?

– Dù bị Hê-rô-đê bắt giam vào tù, nhưng Gio-an vẫn được các môn đệ cho biết về các hoạt động của Đức Giê-su. Khi thấy Người không hành xử cách công thẳng là trừng phạt tội nhân (x. Mt 3,10-12), ông bị hoang mang, nên sai môn đệ đến gặp Người và nêu thắc mắc về sứ mệnh Thiên Sai của Người. Đức Giêsu không trả lời trực tiếp, mà yêu cầu các môn đệ Gio-an trở về thuật những việc Người làm: “Cho kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi lành sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe rao giảng Tin Mừng”.

– Với câu trả lời ấy, Chúa Giêsu nhắc Gioan nhớ lại lời sấm của Isaia về Đấng Cứu Thế, (Is 35,5-6a) và thanh luyện cái nhìn của ông về sứ mệnh Đấng Thiên Sai: Đấng Cứu Thế không phải là ông Vua oai phong từ trời ngự xuống. Mà chỉ là một hài nhi bé nhỏ xuất hiện giữa loài người. Người không phải là vị Vua oai phong trong cung điện nguy nga, nhưng như một người lao động nghèo hèn. Người không phải là Quan tòa oai nghiêm trừng phạt tội nhân, mà là một lương y hiền hòa, đến để chữa lành những thương tích, an ủi những kẻ ưu sầu, nâng đỡ những người yếu đuối, tha thứ những tội nhân. Người không đến trong chiến thắng vinh quang, mà âm thầm như một người bạn thân thiết của mọi người. Người không đến như một người quý tộc cao xa, nhưng sẵn sàng sống hòa đồng với mọi kẻ khó nghèo, những người thu thuế và tội lỗi bị xã hội khinh thường loại bỏ…

– Ngoài ra, Đức Giê-su còn muốn Gio-an đổi mới cái nhìn về Đấng Thiên Sai, để tránh bị vấp ngã (x. Mt 11,6), như Phê-rô đã từng bị vấp ngã khi khuyên Đức Giê-su không theo con đường đau khổ thập giá theo thánh ý Chúa Cha (x. Mt 16,22-23).

2) “Anh em ra xem gì trong hoang địa ?” :

Đức Giê-su ba lần đặt câu hỏi này với thính giả về vai trò của ông Gio-an Tẩy Giả.

– Ông được Người khen là một người dũng cảm cương nghị chứ không luồn cúi hèn hạ như lau sậy phất phơ trước gió (x. Mt 11,7).

– Ông sống đơn sơ khổ hạnh chứ không ham mê gấm vóc lụa là trong đền vua (x. Mt 11,8).

– Ông không những là một ngôn sứ, mà còn hơn thế nữa: vì có sứ mệnh làm tiền sứ, đi trước dọn đường giúp người đời đón Đấng Thiên Sai sắp đến (x. Mt 11,10).

3) Sống tinh thần Mùa Vọng là khiêm hạ phục vụ:

– Sống khiêm nhường như Gio-an: Sự khiêm nhường chính là điều cần thực hiện trong mùa Vọng này, bởi vì chỉ những người khiêm nhường mới gặp được Chúa như lời Người phán: “Chúa hạ bệ những kẻ kiêu căng và nâng cao những người phận nhỏ”. Kinh nghiệm cho thấy: Một người yếu đức tin mà có lòng kiêu căng tự mãn sẽ khó quay về với Chúa, hơn một kẻ dù mê đắm xác thịt mà có lòng tin vào Chúa. Bởi vì người sa ngã nếu có đức tin sẽ sớm nhận ra thân phận yếu hèn của mình để quay về giao hòa với Chúa.

– Ngày kia, một du khách đang đứng chiêm ngắm bức tượng Chúa chịu nạn thời danh của THORWALDSEN. Nhưng ông ta nhìn ngắm hồi lâu mà chẳng khám phá ra một vẻ đẹp nào như lời đồn đại. Bỗng ông ta nghe thấy có tiếng người thì thầm bên tai: “Phải quì xuống ông mới có thể nhìn thấy khuôn mặt từ ái của Chúa”. Ông ta làm theo và bấy giờ ông đã khám phá ra vẻ đẹp tuyệt vời của bức tượng. Về phần chúng ta trong những ngày này, nếu biết khiêm hạ quì xuống trước nhan Chúa, thì chúng ta mới có thể gặp được lòng thương xót của Người.

4) Chu toàn sứ mệnh làm tiền sứ cho Chúa bằng lối sống vui tươi:

– Trong bầu khí của năm Mục Vụ Gia đình, các bậc làm cha mẹ được mời gọi sống vui tươi trong bổn phận vợ chồng với nhau và cha mẹ đối với con cái. Nhiều gia đình ngày nay đã trở nên buồn bã thiếu sinh lực. Để có thể tìm lại niềm vui cho gia đình, các bậc cha mẹ cần sống vui tươi, và làm cho niềm vui lan tỏa trong gia đình mình. Hãy vui vì chúng ta được làm con Thiên Chúa, hãy đem Chúa vào trong đời sống của gia đình mình nhờ các giờ kinh gia đình, cầu nguyện trước mỗi bữa ăn…

– Các bạn trẻ đừng tìm vui trong men rượu, đừng giải sầu trong bài bạc, trong các quán hát ka-ra-ô-kê hay những quán cà-phê đèn mờ để tìm hưởng lạc thú bất chính… vì những thứ đó chỉ đem đến bệnh tật, gia đình bất hòa và ly tán, chứ không mang lại niềm vui và bình an thực sự.

– Hãy tìm kiếm niềm vui thực sự nơi Đức Giêsu, bằng cách gặp Ngài qua các buổi học Lời Chúa và cầu nguyện để được Ngài lấp đầy sự trống rỗng của chúng ta.

– Nhưng quan trọng hơn cả: Chúng ta chỉ có thể vui mừng và được bình an khi tâm hồn chúng ta sạch tội, không bị đam mê dục vọng bủa vây, không bị lương tâm dày vò, bằng cách đến với bí tích giải tội, và năng dự lễ để rước Chúa vào lòng. Dù bên ngoài có gặp phải các điều trái ý cực lòng, chúng ta vẫn có được niềm vui và sự bình an. Bấy giờ chúng ta mới khả năng sống bình an với tha nhân, thay cho xung đột, chiến tranh và bất hạnh.

  1. THẢO LUẬN: Noi gương Đức Giê-su cứu thế bằng con đường khiêm tốn yêu thương và phục vụ (x. Mt 11,5), bạn sẽ làm gì để nên môn đệ thực sự của Đức Giê-su trước mặt người lương ?
  2. NGUYỆN CẦU:

– LẠY CHÚA GIÊ-SU. Hôm nay chúng con rất khâm phục thánh Gio-an, vị Tiền Hô của Chúa khi can đảm nói lên sự thật, dù bị Hê-rô-đê thù ghét và đã anh dũng chết để làm chứng cho sự thật. Xin đừng để chúng con bao giờ hèn nhát, vào hùa với kẻ mạnh hiếp đáp người thân cô thế cô, giống như loài lau sậy ngả nghiêng theo chiều gió. Gio-an đã sống khổ hạnh, đi ngược lại trào lưu đam mê ích kỷ trong đền vua chúa. Xin cho chúng con biết tiết giảm mua sắm vật dụng quần áo, để dành tiền quảng đại chia sẻ cho những anh chị em nghèo khổ chung quanh chúng con. Gio-an đã trung thành với sứ mệnh công bố Lời Chúa để giúp những kẻ gian ác bỏ đường tội lỗi mà về với Chúa. Xin cho chúng con biết luôn chu toàn sứ mệnh làm ngôn sứ khi dám đứng ra bênh vực công lý, bất chấp những lời đe dọa trả thù.

– Lạy Chúa, xưa Chúa đã dùng hành động cứu nhân độ thế để làm chứng về sứ mệnh Thiên Sai của mình. Xin cho chúng con mỗi ngày biết làm chứng cho Chúa bằng việc hăng say phục vụ những người bệnh tật đau khổ, đồng thời luôn biết xét đoán ý tốt, nói tốt và phục vụ tha nhân vô vụ lợi. Nhờ đó chúng con có thể chu toàn sứ mệnh làm chứng cho Chúa trước mặt người đời như thánh Gio-an xưa.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT 3 MÙA VỌNG_A

Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến. Gioan Tiền hô là một nhân vật quan trọng của Mùa Vọng.  Trong Tin mừng Chúa nhật trước, chúng ta nghe Gioan Tiền hô loan báo Đấng Cứu Thế sẽ đến là một Thẩm Phán thường phạt công minh.  Ngày Đấng Cứu Thế đến sẽ là một ngày kinh hoàng đối với những người gian ác, tội lỗi, không chịu hối cải. Chúng ta biết, mặc dù là bà con với Chúa Giêsu, nhưng sau khi Chúa Giê-su sinh ra thì gia đình Gioan đã mất liên lạc với gia đình Thánh gia vì Thánh Giuse và Mẹ Maria đưa Chúa Giê-su hài nhi trốn sang Ai Cập.  Rồi khi trở về, gia đình Thánh gia lại lập nghiệp ở Na-da-rét, miền Bắc Do Thái. Còn gia đình ông Gioan tẩy giả sống ở miền Nam cách nhau cả bảy, tám chục dậm. Chúng ta biết vào thời đó phương tiện đi lại còn thô sơ, khó khăn và hiểm trở, nên có lẽ Chúa Giêsu và thánh Gioan không có dịp gặp nhau.

Như mọi người vào thời gian đó, Gioan Tẩy Giả cũng mang một tâm trạng mong chờ Ðấng Cứu Thế của Thiên Chúa đến.  Khi Chúa Giê-su đến, có lẽ ông tin Người là Đấng Thiên Sai, nhưng ông chẳng thấy có gì là kinh hoàng, hay có những hành động sửa phạt và trừng trị những người gian ác, tội lỗi, không chịu ăn năn sám hối thay đổi đời sống. Vì thế, khi thấy Chúa Giêsu chưa ra tay hành động, thậm chí ngay lúc đó chính Gioan cũng là nạn nhân đang bị kẻ ác giam giữ trong tù mà Chúa cũng chưa ra tay, hay giải thoát ông, cho nên Gioan đâm ra hoang mang, ngờ vực.  Cho nên, ông đã sai môn đệ đến hỏi Chúa Giê-su cho biết đen trắng, tỏ tường. Một sự kiện hơi lạ là trước đó khi làm phép rửa cho dân chúng tại sông Gio-đan, Gioan Tiền hô đã nói cho các môn đệ của ông về Chúa Giêsu: “Tôi lấy nước mà rửa anh em, song có Ðấng đến sau tôi, tôi không xứng đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa.” Và khi thấy Chúa Giêsu, Gioan tiền hô đã giới thiệu với các môn đệ của ông: “Ðây chính là chiên Thiên Chúa, Ðấng xoá tội trần gian.”  Vậy mà hôm nay Gioan Tiền hô còn sai môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu, xem Người có phải là Ðấng Cứu thế phải đến không!  Như vậy có lẽ Gioan quá nóng lòng, không còn đủ kiên nhẫn chờ đợi hành động Chúa ra tay sát phạt, gieo rắc cơn thịnh nộ của Thiên Chúa!  Nếu ẩn ý của Gioan là như vậy, thì chúng ta có thể nhận ra chủ ý của ông có ý thúc giục Chúa phải ra tay hành động ngay sát phạt những người tội lỗi, không nghe lời ăn năn trở lại.  

Bài Tin mừng cho chúng ta biết, Chúa Giêsu đã không trả lời trực tiếp. Ngài bảo các môn đệ của Gioan về thuật lại cho Gioan biết tất cả những điều họ thấy Ngài đang làm: những kẻ bệnh hoạn tật nguyền được cứu chữa, và Tin Mừng được loan báo cho người nghèo. Ðó là những công việc mà ngôn sứ Isaia trong bài đọc một cho biết khi Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ đến sẽ thực hiện.  Ngài sẽ chữa lành những ai đang đau khổ, ban sức mạnh cho những người yếu đuối, sẽ giải phóng dân Ngài đang sống trong cảnh tù đày, khổ cực, và đất đai sẽ tươi tốt và sinh nhiều hoa trái.  Như thế, một cách gián tiếp, Chúa Giêsu đã trả lời và khẳng định cho Gioan biết Ngài chính là Ðấng Cứu Thế, đồng thời Ngài cũng muốn điều chỉnh lại quan niệm Đấng Cứu Thế của Gioan, Ðấng Cứu Thế đến không phải để trừng trị mà để cứu giúp. Quan niệm này quả là quá xa lạ với suy nghĩ của Gioan. Vì thế, Chúa Giêsu nhắn với ông, “Phúc cho ai không vấp ngã vì Ta.”

Sau đó Chúa Giê-su đề cao và cho chúng ta biết Gioan Tẩy giả là người cao trọng nhất, Chúa nói, “Ta bảo thật các ngươi, trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả.”  Chúng ta hỏi, “Lý do gì làm cho Gioan trở thành người cao trọng nhất?”  Xin thưa, thứ nhất vì Gioan là người thánh thiện, không phải vì sống trong sa mạc ăn châu chấu và uống mật ông, nhưng tất cả cuộc đời của Gioan là sự hy sinh và xả thân cho Chúa và tha nhân.  Ông còn can đảm làm chứng cho sự thật và luân lý trước mặt vua Hê-rô-đê,  hy sinh chịu tù đày và chết.  Lý do thứ hai là Gioan được Thiên Chúa chọn trở thành người tiền hô đi trước sửa soạn cho ngày Chúa, Đấng Cứu Thế xuất hiện.

Sau khi tuyên bố Gioan là người cao trọng nhất, Chúa Giê-su đã làm cho chúng ta phải ngạc nhiên khi Người tuyên bố: “Nhưng người nhỏ nhất trong nước trời còn cao trọng hơn ông.”  Chúng ta hãy nghe cho thật rõ về lời Chúa phán.  Chúa nói tất cả chúng ta hiện diện trong thánh đường hôm nay còn cao trọng hơn Gioan. Người thấp hèn nhất, ít quan trọng nhất trong Nước Trời còn quan trọng hơn người cao trọng nhất “trong các con cái người nữ sinh ra.”  

Ông bà anh chị em thân mến.  Lý do gì làm cho chúng ta trở nên cao trọng và quan trọng hơn người từng được người nữ sinh ra là Gioan?  Thưa vì chúng ta tiếp nhận, có lòng xác tín và yêu mến Chúa, vì vậy` chúng ta được kết hợp mật thiết với Chúa, chúng ta trở thành một với Người, chúng ta trở thành chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô, là Giáo hội, là Nước Chúa ở trần gian.  Và như vậy, tất cả chúng ta liên kết với nhau một cách mật thiết với Chúa Giê-su, trong Ba Ngôi Thiên Chúa, và thật sự được gọi Thiên Chúa là “Cha chúng ta.”   Khi chúng ta được kết hợp mật thiết với Chúa Giê-su Ki-tô chúng ta trở nên cao trọng hơn Gioan, quan trọng hơn bất cứ người nào được sinh ra nơi trần gian.  Và như vậy, chúng ta được tràn đầy ơn sủng Chúa và có một sứ vụ cao trọng hơn Gioan, đó là sứ vụ của Chúa Ki-tô “Làm người mù được sáng, người què đi được, người phong cùi được khỏi, người điếc được nghe, người chết sống lại, và Tin mừng được loan báo cho người nghèo khó.”   Ðó chính là sứ vụ và cũng là tin vui mừng của việc Chúa đến.    

Ngày nay, chúng ta xác tín Đấng Cứu Độ trần gian đã đến, và tiếp tục đến với chúng ta và qua chúng ta.  Trong mùa vọng này, chúng ta hãy tự hỏi “Chúng ta sống và xử dụng ơn lành của Chúa như thế nào để trở nên thánh thiện hơn Gioan Tiền hô?” “Chúng ta làm cho tình yêu, Nước Chúa và ơn cứu độ của Người tỏ hiện hơn nơi trần gian bằng cách nào?”   Chúa Giê-su, Đấng Cứu Thế, ngày hôm nay vẫn còn thực hiện những phép lạ, làm cho người mù được sáng, người què đi được và người nghèo khó được nghe báo Tin mừng, qua lòng xác tín và bác ái nơi những người tin theo Ngài.  Chúng ta biết Giáo Hội đang có những việc đem Tin mừng và từ thiện bác ái giúp đỡ nhưng người nghèo khổ rên toàn thế giới. Không phải để khoe khoang, nhưng để nhận thức rằng lòng bác ái là dấu chỉ của người môn đệ Chúa.  Đồng thời chúng ta cũng nên nhớ rằng đó chỉ là những việc bác ái công khai của Giáo Hội, và chỉ có Chúa mới biết được tất cả những gì mỗi cá nhân người Công giáo chúng ta đang làm để mang tin vui mừng, và xoa dịu sự nghèo khổ. Còn chúng ta, chúng ta đã làm được những gì để góp phần vào công việc bác ái của Giáo Hội?

Về mục lục

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây