Các Bài Suy Niệm Lễ Hiển Linh

Thứ năm - 02/01/2020 21:08

Các Bài Suy Niệm Lễ Hiển Linh

LỄ HIỂN LINH

 

Lời Chúa:  Is 60,1-6; Ep 3,2-3a.5-6; Mt 2,1-12

——-

DẪN NHẬP
Lời Chúa: “Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông phương và chúng tôi đến để triều bái Người” (Mt 2,2)
Nhập lễ:
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,
Phụng vụ Lời Chúa chúa nhật Chúa Hiển Linh hôm nay cho chúng ta thấy đặc tính phổ quát của Tin mừng cứu độ. Thiên Chúa muốn tỏ mình và cứu chuộc tất cả mọi dân tộc. Chính nhờ ngôi sao lạ mà các đạo sĩ phương đông ngoài dân tộc Do thái đã được kêu mời đến thờ lạy Chúa hài nhi:
Nơi đâu Vua cả Giáng Sinh?
Ngôi sao chỉ lối, thình lình mất luôn!
Tìm Người, ta có Sứ Ngôn,
Thánh Kinh, Giáo Hội: Sao hôm chỉ đường.
Rộng tay ban phát tình thương,
Mai ngày được gọi vào vương quốc Người.
Hiệp dâng thánh lễ hôm nay, xin Chúa giúp chúng ta biết noi theo các đạo sĩ phương Đông đến thờ lạy hài nhi Giêsu và dâng lên Người vàng, trầm hương và mộc dược của việc lành, lời cầu nguyện, những hy sinh trong đời sống của chúng ta. Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta hãy thành tâm sám hối.
Sám hối:
X. Lạy Chúa, Chúa là đấng cứu độ trần gian. Xin Chúa thương xót chúng con.
Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.
X. Lạy Chúa Kitô, Chúa là ánh sáng chiếu soi muôn dân. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.
Đ. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.
X. Lạy Chúa, qua Giáo hội, Chúa muốn qui tụ tất cả mọi dân tộc trong gia đình của Chúa. Xin Chúa thương xót chúng con.
Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.
Kết: Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.
CĐ: Amen.
Suy niệm:
Kính thưa quý ông bà anh chị em,
Trong lễ Giáng sinh, chúng ta đã thấy thiên thần báo tin, và mời gọi các mục đồng đến thăm viếng Chúa hài nhi, ông Simêon và bà Anna đã nhận ra chân tướng của hài nhi Giêsu. Những sự việc này như muốn nói lên sự kiện Thiên Chúa tỏ mình cho dân Do thái, dân riêng Thiên Chúa. Còn trong lễ Hiển linh, các đạo sĩ từ phương đông đến, là những người không cùng sắc tộc với dân Do thái. Sự kiện này muốn nói lên rằng ơn cứu độ mang tính phổ quát, vì Thiên Chúa muốn tỏ mình và cứu chuộc tất cả mọi dân tộc.
Thưa anh chị em, ngôn sứ Isaia trong bài đọc 1 hôm nay gợi ra trước mắt chúng ta quang cảnh thành Giêrusalem trở nên huy hoàng, rực rỡ trong tương lai để đón tiếp muôn người. Muôn dân tộc trên khắp địa cầu sẽ tuôn đến ca ngợi vinh quang Chúa: “vinh quang của Chúa đã bừng dậy trên mình ngươi”. Lời của ngôn sứ Isaia từ hơn 600 năm trước như muốn loan báo về sự kiện này. Ông thấy trước từ xa muôn dân nước sẽ lũ lượt đổ về thành thánh Giêrusalem, và “mọi dân tộc trên địa cầu đều thờ lạy Chúa” bằng việc tới chầu lễ và dâng cúng lễ vật. Sự kiện các đạo sĩ phương đông được kể trong bài Tin mừng hôm nay tìm đến Giêrussalem thờ lạy hài nhi Giêsu, cùng với lễ vật vàng, nhũ hương và mộc dược là một thể hiện lời tiên báo trên. Tuy nhiên, một sự kiện trớ triêu: chính những người Do thái kể cả cấp lãnh đạo tôn giáo thời đó đã từ chối Đấng Cứu Thế. Thánh Matthêu cho thấy Chúa Giêsu đã bị dân Do thái thờ ơ không nhìn biết ngay từ đầu đời. Các đại giáo trưởng và luật sĩ tuy biết rõ nơi chốn Vua Do thái sinh ra như được ghi trong sách ngôn sứ Mikha và đã chỉ điểm cho các đạo sĩ ngoại quốc tìm đến Bêlem. Nhưng chính họ, họ không bận tâm, không tìm đến. Thái độ thờ ơ lãnh đạm khi nghe Tin mừng về Vua Do thái mới sinh ra này đã là dấu hiệu báo trước họ sẽ không chấp nhận lời Chúa rao giảng và cuối cùng sẽ chống lại Người qua án tử hình thập giá. Trong khi dân Do thái lãnh đạm, thờ ơ và từ chối Chúa thì các dân ngoại, các dậo sĩ phương đông lại niềm nở đón nhận Tin mừng cứu độ: “Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Ápraham, Ixaác và Giacóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài”
Có câu chuyện kể rằng, Bà Gioanna người Nam Hàn, trước đây không biết đạo. Tháng 3.1959, bà xin rửa tội với tên thánh Gioanna, và cũng từ đó bà dấn thân hoạt động tông đồ. Sau 40 năm gia nhập đạo, với tuổi đời hơn 70, bà đã đưa được 529 người gia nhập đạo. Bà quả là một mẫu gương hăng say loan báo Tin Mừng cứu độ cho mọi người chung quanh.
Kính thưa quý ông bà anh chị em,
Hôm nay, chúng ta mừng lễ Chúa Hiển Linh Chúa tỏ mình cho dân ngoại, nhắc chúng ta đến việc truyền giáo. Bà Gioanna quả là một mẫu gương hăng say loan báo Tin Mừng cứu độ sau 40 năm được làm con Chúa, bà đã đưa được 529 người gia nhập đạo. Chúng ta đang sống trong một thế giới chìm đắm trong bóng tối của buồn phiền, gian dối, hận thù và  thất vọng. Chúng ta được mời gọi trở nên những ánh sao sáng của chân thành, phục vụ và yêu thương trong môi trường gia đình, nơi công sở, ngoài xã hội để mọi người nhận ra ánh sao sáng ấy mà biết cảm thông và nâng đỡ nhau, hầu giúp nhau sống đúng phẩm giá làm người và làm con Thiên Chúa.
Nguyện xin Chúa giúp chúng ta biết bắt chước thái độ của các đạo sĩ năm xưa ra khỏi nơi an toàn tự nhiên của mình để tìm gặp Chúa, đồng thời toả sáng tình yêu thương bác ái cho những ai đang khao khát tìm kiếm Chúa. Amen.
Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang.


Mục lục

1. Những ánh sao trong đời  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Niềm tin: Một chuyến đi (Gm. Giuse Vũ Duy Thống)

3. Ánh sao đạo đức  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

4. Thắp đèn cho ai?  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

5. Lên đường đi tìm Chúa tôi (Lm. Giacôbê Tạ Chúc)

6. Đấng tự biểu lộ  (Lm Giuse Hoàng Kim Toan)

7. Hãy dõi theo vì sao đến thờ lạy Chúa  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

8. Tìm Thiên Tử  (Trầm Thiên Thu)

9. Đơn sơ và thông thái (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

10. Suy niệm lễ Hiển Linh_A (Lm. Anthony Trung Thành)

11. Thiên Chúa tỏ lòng thương dân ngoại  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí) 

12. Thắp lên một ngọn nến (Lm. Inhaxiô Trần Ngà)

13. Lên đường trong hy vọng (Lm. Văn Hào, SDB)

14. Ánh sao  (Lm. Trần Việt Hùng)

15. Ánh sao rực rỡ  (AM. Trần Bình An)

16. Vì sao gọi là lễ Ba Vua? (JM. Lam Thy, ĐVD)

17. Hiển linh con người được giải thoát  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

18. Hài Nhi Giê-su tỏ mình cho muôn dân (P. Trần Đình Phan Tiến)

19. “Nguồn sáng chiếu soi u tối”  (Lm. Uyen Nguyen)

20. Ánh sao đức tin  (Lm. Trịnh Ngọc Danh)

21. Tình Ngài một chút đủ vui một đời (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa )

22. Loại trừ Thiên Chúa, khoa học có thể đi đến giết người (Lm.JB. Nguyễn Minh Hùng)

23. Ánh sao dẫn đường  (Dã Quỳ)

24. Là ánh sáng chiếu soi muôn dân  (Lm. Đan Vinh)

25. Những ngôi sao giữa đời (Lm. Giuse Nguyễn)

26. Chúa Nhật lễ Hiển Linh_A  (Lm. Antôn, giáo xứ Giuse, Tulsa)

 

 

NHỮNG ÁNH SAO TRONG ĐỜI

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

Ngày lễ hôm nay được gọi là “Lễ Hiển linh”. Tên gọi này có nghĩa “Chúa tỏ mình”, “Chúa hiện ra” hoặc Chúa tỏa sáng vinh quang của Ngài cho mọi người thấy. Một chủ đề được nhấn mạnh trong các Bài đọc Lời Chúa, nhất là Bài đọc I trích sách ngôn sứ Isaia, đó là ánh sáng. Đây không phải là ánh sáng mặt trời, mà là ánh vinh quang của Chúa. Ngài tỏ bày vinh quang của Ngài cho muôn dân được thấy. Khi tỏ ánh sáng cho muôn dân, Chúa muốn chúng ta đón nhận ánh sáng đó, và đến lượt mình, trở nên ánh sáng như những vì sao tỏa rạng trong giữa trần gian.
 
Chủ đề “Ánh sáng” cũng đã được nhắc tới trong thánh lễ Đêm Giáng sinh. Chúa Giêsu sinh hạ, như ánh sáng bừng lên giữa đêm tối. “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng. Đám người sống lầm than trong đêm tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Is 9,1). Đức Giêsu là trung gian của lịch sử. Những ai đón nhận Người là đón nhận ánh sáng. Những ai tuân giữ giáo huấn của Người là can đảm chấp nhận thoát ra khỏi bóng tối của ích kỷ, để sống chan hòa yêu thương. Vì lý do này, mà ngày sinh nhật của Đức Giêsu được cử hành vào ngày 25-12 dương lịch hằng năm, thay thế vào ngày lễ kính thần mặt trời của người La mã cổ xưa. Cũng nhằm mục đích tôn vinh Đức Giêsu là ánh sáng thế gian, mà truyền thống của Giáo Hội từ xa xưa vẫn cử hành thánh lễ Giáng sinh vào lúc nửa đêm.
 
Với sự kiện “Hiển linh”, Đức Giêsu tỏ mình cho dân ngoại. Ba nhà đạo sĩ là những người đại diện cho mọi dân tộc đang thành tâm tìm kiếm chân lý. Các ông đã theo sự hướng  dẫn của ngôi sao lạ, bỏ quê hương xứ sở, lên đường tìm cho bằng được vị vua mới sinh. Lý trí và trái tim mách bảo các ông, Hài nhi mới sinh là Thiên Chúa làm người. Các ông đã sấp mình cung kính thờ lạy.
 
Khi mừng lễ Lễ Hiển linh, Giáo Hội khẳng định với chúng ta: Đức Giêsu là Ánh sáng chiếu soi trần gian. Người cũng là Đấng Cứu độ muôn dân. Cái chết của Người trên thập giá đã đem ơn hòa giải cho mọi người, mọi nơi, mọi thời. Giáo Hội hôm nay tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu, trở nên ánh sáng muôn dân để đem cho nhân loại ơn cứu rỗi. “Ánh sáng muôn dân – Lumen Gentium” là tựa đề một văn kiện quan trọng của Công đồng Vatican II, tức là Hiến chế tín lý về Giáo Hội. Qua văn kiện này, Giáo Hội giới thiệu với thế giới hôm nay bản chất và sứ mạng của mình, đó là trở nên ánh sáng giữa đời, như Đức Giêsu, đồng thời, dẫn đưa mọi người về với Thiên Chúa, là nguồn sáng đích thực. Tự bản chất, Giáo Hội không có khả năng tỏa sáng. Ánh sáng mà Giáo Hội có được, là ánh sáng đến từ Đức Kitô, vì Giáo Hội là thân thể huyền nhiệm của Đức Kitô.
 
Trước Công nguyên khoảng 700 năm, ngôn sứ Isaia đã loan báo: vào thời Chúa can thiệp, Giêrusalem sẽ tỏa sáng huy hoàng. Muôn dân sẽ quy hướng về thánh đô. Mọi nguồn phong phú cũng tuôn đổ về đó. Giêrusalem chính là hình ảnh của Giáo Hội. Giáo Hội của Chúa bao gồm mọi nền văn hóa, mọi chủng tộc, mọi quốc gia. Đức Giêsu được tôn vinh trong mọi nền văn hóa, mọi quốc gia. Ngày sinh của Người cũng được cả thế giới nhắc đến và đón chào, như biểu tượng của hòa bình và hòa giải các dân tộc. Thánh Phaolô nói với chúng ta: “Trong Đức Kitô, các dân ngoại cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Bài đọc II).
 
Nhờ bí tích Thanh tẩy, mỗi chúng ta được chia sẻ ánh sáng của Đức Kitô. Cây nến vị linh mục chủ sự nghi thức Thanh tẩy trao cho chúng ta, đã nói lên điều ấy. Vị chủ sự căn dặn chúng ta: Con hãy nhận lấy ánh sáng Đức Kitô. Hãy sống như con cái sự sáng. Hãy giữ tâm hồn mình thánh thiện cho đến ngày ra trước tòa Chúa trong ngày sau hết. Sứ mạng của người tín hữu là trở nên ánh sáng giữa cuộc đời. Chúa Giêsu đã tuyên bố “Tôi là ánh sáng trần gian” (Ga 8,12), đồng thời Người cũng nói với chúng ta: “Các con là ánh sáng thế gian” (Mt 5,14). Qua những lời này, Chúa muốn chúng ta nên giống như Người và cùng chung một sứ mạng với Người. Đây không phải là ánh sáng trí tuệ, cũng không phải là ánh sáng khôn ngoan theo kiểu người đời, nhưng là sự thánh thiện, bao dung nhân hậu và kiến tạo hòa bình. Nhiều người có thói quen than vãn trước những bất công, gian dối, lừa lọc và đau khổ, nhưng lại chẳng làm gì để giảm bớt những điều xấu trong xã hội xung quanh. Người Kitô hữu, thay vì hằn học than vãn, hãy cố gắng thắp lên những ngọn nến trong đêm, hy vọng phần nào xua tan lạnh lẽo, của cuộc đời. Những ngọn nến ấy là lương tâm ngày thẳng, lòng nhân hậu bao dung, tình liên đới bác ái, thiện chí sống hài hòa. Như ánh sao ngày xưa đã dẫn các đạo sĩ đến thờ lạy Chúa, mỗi chúng ta hãy cố gắng để trở nên ánh sáng trong cuộc đời, qua những nghĩa cử tốt lành, để nhờ đó, nhiều người nhận ra chúng ta là con của Cha trên trời, và họ cùng với chúng ta đến thờ lạy tôn vinh Thiên Chúa.

Về mục lục

.

 

NIỀM TIN MỘT CHUYẾN ĐI

Gm. Giuse Vũ Duy Thống

(LÀM NỤ HOA TRẮNG – Trg. 13)

Phúc Âm hôm nay rất sống động. Cứ như cuốn phim mô tả cuộc hành trình đầy kịch tính của những khách lạ phương xa: từ ngạc nhiên khám phá ngôi sao lạ, qua xáo động tại Giêrusalem, tới Bêlem nghiêng mình thờ kính, rồi dắt díu nhau lặng lẽ tìm đường khác về nhà. Cứ như xô đẩy nhau xuất hiện trên màn ảnh những cuộc đối đầu càng lúc càng thêm căng thẳng: giữa chính diện và phản diện, giữa lo sợ của bên này và thanh thản của bên kia, giữa tìm gặp hướng tới và lạc mất nẻo đi. Cứ như í ới cơ man nào là tiếng nhỏ to bàn bạc chen lẫn tiếng ồn ào bàn tán của những kẻ bị xem là xa nhưng lại biết bàn vào và của những người được coi là gần nhưng chỉ biết bàn ra.

Nhưng giữa những chi tiết tưởng như bất ngờ trên hành trình rất dài và rất xa ấy, người ta thấy lấp lánh hình ảnh của niềm tin như một chuyến đi với những đặc tính tiêu biểu:

1) Niềm tin: một chuyến đi biết tiếp nhận hồng ân Thiên Chúa.

Những vai chính trong cuộc hành trình tìm tới Bêlem “triều bái Vua dân Do Thái mới sinh” được truyền thống giới thiệu bằng nhiều kiểu nói khác nhau, lúc thì gọi là Vua, lúc khác là Đạo sĩ hoặc Chiêm tinh gia. Gọi sao cũng được: Vua vì những của lễ tiến dâng, Đạo sĩ vì hành trình tìm kiếm, Chiêm tinh gia vì nhìn thấy ngôi sao và dựa vào ánh sao mà xác định lối đường. Chỉ biết họ là những người thiện chí kiếm tìm chân lý và vận dụng tốt những phương tiện đang có để tìm gặp chân lý bằng cách lên đường không mỏi mệt.

Khởi điểm cuộc hành trình là một ánh sao lạ xuất hiện phía trời Đông, tượng trưng cho ơn thánh dẫn khởi từ Thiên Chúa, để ai biết tiếp nhận, sẽ trở nên ánh sáng soi đường. Nhìn thấy ánh sao hằng hà sa số trên bầu trời đêm là một điều bình thường ai cũng có thể làm được, nhưng nhận thấy giữa muôn vàn lấp lánh ấy chỉ một ánh sao lạ thôi lại là chuyện chẳng bình thường chút nào, nếu không muốn nói là do tổng hợp giữa kiếm tìm và gặp gỡ, hay đúng ra giữa ơn Trời ban và lòng người biết mở ra tiếp nhận.

Tương tự, niềm tin trước hết là hồng ân đến từ tình thương Thiên Chúa dành cho hết mọi người, nhưng chỉ những ai biết tiếp nhận với tâm thành chí thiện, họ mới có thể có được niềm tin vào Chúa để sẵn sàng khăn gói lên đường khởi sự chuyến đi. Ra khỏi nếp nghĩ thường ngày để tiếp nhận ý Chúa, ra khỏi thói quen khô cứng lâu đời do cha ông truyền lại để mạo hiểm một phen bước theo ánh sáng trời cao, ra khỏi những tiện nghi đủ đầy dậm chân tại chỗ để cơm mắm cơm muối gieo bước lữ hành.

2) Niềm tin: một chuyến đi biết chấp nhận những thử thách

Là hồng ân Chúa ban, nhưng đức tin cũng còn là nỗ lực đóng góp không ngơi nghỉ của con người, để vượt qua những thử thách và kinh qua những thử luyện được xem là những thách đố trong chiều dài cuộc sống. Đây không chỉ là chuyện “thức lâu mới biết đêm dài” để con người chứng minh sức bền tin tưởng tháng năm, mà còn là chuyện “lửa thử vàng gian nan thử đức” trong những lúc Thiên Chúa xem ra ẩn mặt và hồng ân xem ra vắng bóng, như lúc “ba Vua toan mất hướng, ánh sao bỗng vụt lặn”. Đấy là chưa kể đến những lúc phải đối diện với âm mưu chủ ý của những người đồng đạo, cũng tin Chúa nhưng không thành tâm, thậm chí còn gài bẫy ngọt ngào giả nhân giả nghĩa như Hêrôđê; hay cũng biết cách quy chiếu Thánh Kinh nhưng không để tìm ra lối sống ngay chính, trái lại, chỉ lợi dụng để toa rập lừa gạt phỉnh phờ người khác như một số thượng tế và kinh sư trong dân.

Đêm Noel Chúa sinh ra đem xuống niềm vui, nhưng thành phố nào đó của Iran chẳng những không có niềm vui mà còn phải chịu động đất làm chết nửa thành phố. Chúa như vắng mặt. Thử thách. Đêm Noel thiên thần hát khúc bình an mà tại Bêlem chính nơi Chúa sinh ra hôm nay vẫn còn chiến tranh, chết chóc. Chúa như vắng mặt. Se lòng.

Thử thách đối với đức tin như gió đối với lửa: gió thổi tắt lửa yếu, nhưng làm bừng lên lửa sáng. Vấn đề là cần biết can đảm và bền chí. Những thử thách trong cuộc sống niềm tin không phải là dấu hiệu Thiên Chúa bỏ rơi con người, mà là những cơ hội để con người chứng minh phẩm chất niềm tin. Niềm tin không thử thách: niềm tin dễ dàng; niềm tin thất bại trước thử thách: niềm tin dễ dãi; niềm tin chấp nhận thử thách mới là niềm tin đích thực cho dẫu nhiều khi chẳng dễ chịu chút nào.

3) Niềm tin: chuyến đi biết đón nhận đồng hành

Không phải vô tình mà lễ Hiển Linh vẫn được truyền thống gọi là lễ Ba Vua, có nơi kể tên các vị đến hàng chục (theo kiểu đồng bằng sông Cửu Long thì còn có cả chục 12, chục 16 cơ đấy), nhưng chừng như hữu ý cho thấy niềm tin không phải là cuộc đơn hành mà là một chuyến đi biết đón nhận đồng hành, không chỉ vì lý do “càng đông càng vui” mà vì giới luật yêu thương là biểu hiện rõ nhất của đức tin cũng là cách cụ thể sống động nhất để diễn đạt đức tin. Con người thời nào cũng thế, không thích bị chinh phục bởi giáo điều nhưng lại tự nguyện buông mình chịu khuất phục vì gương sáng đức tin. Nhớ lại ở Thăng Long thuở hạt giống Tin Mừng mới được gieo vào thửa đất Việt Nam, tín hữu thương nhau quá trời đến nỗi người ngoài đời đã gọi tín hữu là những người theo “Đạo yêu nhau”, tức là những người cùng đi với nhau trên nẻo sáng yêu thương.

“Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn”, tín hữu đồng hành bên nhau còn để nâng đỡ nhau, nhất là trong cơn nguy biến như Ba Vua gặp Chúa tại Hang đá rồi, phải dìu nhau lên con đường khác để tránh âm mưu đen tối của Hêrôđê. Ngoài miệng thì bảo là đi triều bái, còn trong hành động lại làm điều trái, tàn sát thê lương, “giết tất cả các con trẻ ở Bêlem và vùng phụ cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh”. Con đường khác ấy sẽ mới hơn, lạ hơn và cũng có thể sẽ gặp rủi ro nhiều hơn, nhưng đã có bạn bè thân quen bên cạnh đồng hành, nên cứ an lòng nương tựa vào nhau mà dấn bước.

Giống như Kinh Tin Kính, dẫu tín hữu tuyên xưng mang tính bản thân cá nhân “Tôi tin”, nhưng không là đơn độc một mình giữa nhà thờ trống vắng mà là giữa cộng đoàn Phụng Vụ một ngày lễ trọng, nên bỗng lấp lánh như thể đồng thanh tuyên tín “Chúng tôi tin”. Tôi và chúng ta chỉ là những cách biểu lộ khác nhau của cùng một niềm tin đón nhận đồng hành.

Tóm lại, dựa vào hành trình của những vai chính ngày lễ Hiển Linh để phác vẽ niềm tin như một chuyến đi biết tiếp nhận hồng ân Thiên Chúa, biết chấp nhận thử thách và biết đón nhận đồng hành là cùng lúc tích cực hòa mình vào biến cố Chúa tỏ mình ra cho muôn dân. Nếu Chúa luôn có cách tỏ mình của Ngài thì tín hữu cũng cần lên đường đúng cách Chúa tỏ ra cho mình biết. Như thế niềm tin mới là chuyến đi đẹp lên ý nghĩa kiếm tìm và gặp gỡ. Và đó cũng là những hình ảnh sinh động mang tính hiển linh của kẻ tin trước mắt người đồng thời, giống như hình ảnh của những vai chính trong chuyến đi hôm nay: ở bước truy tìm họ được mệnh danh là Chiêm tinh gia, khi đã bước lên đường họ được gọi là Đạo sĩ và khi tới đích với lễ dâng thành kính họ được xưng tụng là Ba Vua.

Về mục lục

.

 

ÁNH SAO ĐẠO ĐỨC

Tgm. Ngô Quang Kiệt

Hôm nay, Ba Vua trên đường tìm đến thờ lạy Chúa Cứu Thế Giáng Sinh. Ba Vua là những người phương xa, không có đạo. Các Ngài tìm đến Chúa theo ánh sáng của ngôi sao lạ. Theo ngôi sao, các Ngài đến được Giêrusalem và được nghe giải nghĩa Thánh Kinh. Theo ngôi sao đưa đường dẫn lối các Ngài đã gặp được Chúa. Ánh sao đã chiếu sáng bầu trời đen tối, giúp các Ngài nhận định được hướng đi. Lời Thánh Kinh là một ánh sao chiếu soi tâm hồn giúp họ sáng lên niềm tin. Nhưng chính Đức Giêsu mới là ngôi sao mai dẫn họ đi vào một con đường mới, con đường chói ngời ngọn lửa đức mến.

Ngày nay có nhiều người đang tìm kiếm Chúa. Nhiều người muốn biết Chúa để theo Chúa. Nhưng họ không biết đường biết hướng. Cũng như Ba Vua, họ cần có những ánh sao soi đường dẫn lối.

Tìm đâu ra ngôi sao xưa đã soi đường cho Ba Vua? Ngày nay, Chúa không dùng ngôi sao xuất hiện trên trời, nhưng muốn mỗi người chúng ta trở thành một vì sao soi dẫn mọi người đến với Chúa.

Là ngôi sao có nghĩa là phải có ánh sáng. Ngôi sao chỉ chiếu sáng khi chính bản thân nó có ánh sáng. Người Kitô hữu chỉ chiếu sáng khi chính cuộc sống của họ mang ánh sáng, phản chiếu ánh sáng nhận tự nơi Thiên Chúa.

Người Kitô hữu phải chiếu lên làn ánh sáng hy vọng. Niềm hy vọng vào ơn cứu độ của Chúa giúp ta vừng bước trên đường lý tưởng. Niềm hy vọng vào một trời mới đất mới cho ta thêm sức mạnh góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp. Niềm hy vọng vào hạnh phúc thiên đàng giúp ta đánh gía đúng mức của cải vật chất đời này. Hy vọng là ánh sáng làm tươi đẹp con người và cuộc đời.

Người Kitô hữu phải chiếu lên làn ánh sáng tin yêu. Tin yêu Chúa và tin yêu người. Tin yêu để xây dựng một cuộc sống chan hoà tình người. Tin yêu đẻ tha thứ hoà giải. Tin yêu để vượt qua mọi bóng tối thù hận, chia rẽ, bất hoà. Tin yêu là làn ánh sáng ấm áp làm cho thế giới trở nên gần gũi, con người trở nên thân thiện, cuộc đời trở thành đáng yêu đáng mến.

Người Kitô hữu phải chiếu lên làn ánh sáng công bình, bác ái. Niềm hy vọng, niềm tin yêu được chứng minh bằng đời sống công bình, bác ái. Tin Chúa được biểu lộ qua sự công bình trong đời sống. Yêu Chúa được thể hiện qua tình bác ái với tha nhân.

Tất cả những làn ánh sáng nói trên góp lại thành ánh sáng đạo đức. Đắm chìm vào vật chất sẽ khiến con người rơi vào bóng tối tuyệt vọng, không lối thoát. Nghi ngờ con người sẽ khiến cuộc đời chìm vào bóng tối cô đơn. Thiếu công bình bác ái sẽ phủ lên thế giới mới một bóng tối phi nhân, tàn nhẫn. Chỉ có ánh sáng đạo đức mới đủ sức phá tan những bóng tối ấy. Chỉ có ánh sáng đạo đức mới làm cho thế giới thành vui tươi hạnh phúc.

Thế giới đang mong chờ ánh sao dẫn đường. Chúa đang mời gọi chúng ta trở thành một ngôi sao chiếu lên làn ánh sáng đạo đức. Chính qua làn ánh sáng ấy, mọi người sẽ nhận biết và yêu mến Chúa.

Lạy Chúa, xin giúp con sống xứng đáng là người con của Chúa sự sáng. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

  1. Bạn nghĩ gì về cuộc tìm kiếm của Ba Vua? Bạn có kiên trì tìm Chúa như Ba Vua không?
  2. Bạn nghĩ gì về bổn phận làm chứng cho Chúa? Bạn có mong ước trở thành ngôi sao dẫn đưa mọi người đến với Chúa không?
  3. Đâu là những ánh sáng người Kitô hữu phải có để dẫn người khác tới Chúa? Trong năm mới này, bạn sẽ làm gì để làm chứng cho Chúa?

Về mục lục

.

 

THẮP ĐÈN CHO AI?

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền 

Có một anh mù đến nhà cậu bạn chơi. Khi trời tối, anh muốn về nhà, người bạn liền thắp một chiếc đèn lồng, đưa cho anh rồi bảo: “Ngoài trời tối rồi, anh cầm cái đèn này đi cho sáng nhé”. 

 Anh mù nghe vậy tức giận nói: “Sao cậu lại nói vậy. Rõ ràng ai cũng biết tôi bị mù. Tôi cầm đèn lồng để soi đường không phải để người đời cười nhạo sao?”. 

Người bạn nhẹ nhàng giải thích: “Anh hiểu lầm ý của tôi. Vì tôi nghĩ giờ này rất nhiều người cũng đi trên đường. Anh cầm đèn lồng, người khác có thể nhìn thấy anh, vì vậy sẽ không thể đụng vào anh được”. 

Anh mù nghĩ một lát rồi nói: “Ừ, cậu nói có lý. Cảm ơn nhé! Tôi về đây”. 

Hóa ra thắp đèn sáng không hẳn cho mình mà còn cho người khác. Ở đâu đó trong một góc khuất có ánh đèn sáng sẽ làm cho khách bộ hành an tâm. Ở đâu đó có ngọn hải đăng sẽ làm cho người đi biển biết hướng về bình an. 

Nếu hiểu rằng mỗi người là một ánh sao thì cuộc đời chúng ta cũng cần được thắp lên để mang lại bình an hạnh phúc cho tha nhân. Ở tuổi thiếu niên chúng ta vẫn hát với nhau về một niềm mơ ước rằng: 

“Đếm ánh sao đêm tôi gọi người,

Hồng xanh xanh hồng xanh xám xanh.

Ngôi sao xanh chính là anh đó,

Ngôi sao vàng đó của chị đây.

Không có ngôi sao nào là ngôi sao đen.” 

Chúng ta mơ ước mình là một ánh sao. Ánh sao thì có đủ màu. Ánh sao thì luôn tỏa sáng. Không bao giờ có ánh sao đen. Nếu ý thức mình là những vì sao trên trời, chúng ta phải sống cuộc sống của những vì sao: thoải mái trong một không gian mênh mông và chiếu tỏa ánh sáng ra chung quanh tùy theo sức sáng mình có. Đất đáthì sống cuộc đời chật hẹp, tăm tối, kèn cựa nhau, nhưng những vì sao thì sống thanh thoát, vừa thi đua tỏa sáng vừa tôn trọng sự sáng của nhau. 

Hành trình Ba Vua đến gặp hài nhi Giê-su cũng cần một ánh sao dẫn lối. Tuy hành trình cũng có lúc bế tắc vì không có ánh sao nhưng với sự kiên nhẫn họ đã vượt qua. Họ từng lần mò trong thành phố nhưng chỉ gặp những người chỉ đường đầy toan tính, vụ lợi. Họ thất vọng vì giữa thủ đô lại thiếu một ánh sao thanh thoát tô thêm vẻ đẹp cho bầu trời. Nhưng họ không bỏ cuộc. Họ tiếp tục lần mò trong bóng đêm của thế giới đầy tội ác. Và rồi sự kiên trì đã được đền đáp. Ánh sao lại xuất hiện dẫn họ đến triều bái Hài Nhi mới giáng sinh nơi hang đá Belem. 

Cuộc đời hôm nay vẫn có những người đang đi tìm chân lý, tìm lẽ sống. Có rất nhiều người đang mong mỏi có một ánh sao dẫn lối đưa đường cho họ. Họ cần nơi người tín hữu hãy sống thanh thoát như những vì sao không bon chen ngụp lặn trong bóng tối tham lam, ghen ghét, lừa đảo. Họ cần người tín hữu tỏa sáng giữa bầu trời ích kỷ này một ánh sáng bác ái vị tha. 

Vâng giữa một thế giới mà bóng tối của thù hận, ghen ghét, tham lam, lừa đảo và hưởng thụ thì rất cần một ánh sao sáng giúp con người biết nhìn nhận nhau là anh em để rồi biết sống kính trọng và yêu thương nhau hơn. Giữa một thế giới đang khao khát gương sáng cũng đòi hỏi người ky-tô hữu hãy tỏa sáng phúc âm để mang tình yêu và hy vọng cho nhân gian. 

Ước gì từng người chúng ta hãy trở thành ánh sao sáng để xóa tan bóng đêm của tội lỗi. Xin đừng vì ích kỷ và đam mê mà dập tắt ánh sáng tình thương nơi họa ảnh Thiên Chúa là con người chúng ta. Amen.

Về mục lục

.

 

LÊN ĐƯỜNG ĐI TÌM CHÚA TÔI!

Lm Giacobe Tạ Chúc 

Một lối gọi bình dân cho ngày lễ hôm nay: Lễ Hiển Linh, hay lễ ba vua, lễ Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại. Theo Thánh Ma-thê-o, đây là ba nhà thông thái, đạo hạnh, làm nghề chiêm tinh. Họ thấy có ánh sao lạ xuất hiện. Lập tức, các nhà đạo sỹ cất công lên đường để đi tìm Hài Nhi vừa mới sinh ra. 

Một hành trình mạo hiểm, và không ít nguy nan. Họ lên đường, cất công đi, băng rừng vượt suối, và sẵn sàng đón nhận bao hiểm nguy đang rình rập. Có một chút gì đó rọi chiếu vào tận sâu trong tâm hồn. Theo Thánh sử Ma-thê-ô, ba nhà đạo sỹ này, xuất thân từ những con người sáng giá, thế giá, họ giàu có, và là những người dân ngoại thuộc những miền đất xa xôi. Theo Thánh Luca thì, khi Chúa sinh ra, Thiên Thần báo tin cho những mục đồng, những con người nghèo khổ và khiêm nhu. Hai cách diễn tả cho thấy, rõ ràng Tin mừng trong ngày lễ hôm nay, muốn giới thiệu mầu nhiệm nhập thể, cách phổ quát hơn, không chỉ đóng khung trong con cái thuộc dân được tuyển chọn, mà Ngôi Lời nhập thể đã đi đến với những vùng ngoại biên, điển hình là ba nhà đạo sỹ. Một hành trình dài và vất vả, ánh sao lúc ẩn lúc hiện, như dòng đời lắm lúc đục trong. Những bước chân mỏi mòn theo thời gian, nhiệt huyết của những nhà đạo sỹ cũng gặp lắm những trái ngang, và cay nghiệt. Đành tạm dừng chân ở Giê-ru-sa-lem, và họ dò hỏi Vua Hê-rô-đê: “Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu?”. Bí quá thì đành liều, họ đâu biết lòng dạ của ông vua này, kinh thành một phen húa vía, một cuộc hội nghị nhanh chóng được xác lập. Và theo lời Tiên tri Mi-kê-a (TK 8 TCN), thì tại Bê-lem, một làng nhỏ trong đất Giu-đê-a, là nơi hạ sinh của Đấng Cứu Thế. Sau những lời căn dặn hết sức chu đáo của Hê-rô-đê, họ tiếp tục cho một hành trình hơn  9 cây số ở phía trước. Dấu chỉ ánh sao lúc này lại xuất hiện, ba nhà đạo sỹ cứ thế từng bước theo ánh sao đi đến thờ lạy Chúa Hài Đồng. 

Cuộc ra đi của các nhà đạo sỹ có điều gì đó nhắc nhở cuộc Xuất hành ra khỏi đất Ai-cập của dân Do thái. Bốn mươi năm cũng những lần ra đi, tìm về miền đất hứa, họ ra đi mà dòng lệ trào tuôn rơi. Hay cũng giống như hành trình đức tin của Tổ phụ Ab-ra-ham, Thiên Chúa gọi ông và sai ông đi, đi mà không biết mình đi đâu, chỉ biết Thiên Chúa là Đấng trung tín và luôn giữ lời hứa. Đi tìm Chúa, là một nổ lực không bao giờ yên nghỉ. Nếu như, các đạo sỹ không cất công lên đường, thì sẽ chẳng có những giây phút sung sướng, đến nghẹn ngào khi họ gặp thấy Hài Nhi và thân mẫu là Đức Maria. Tìm thì sẽ gặp, và gõ thì sẽ mở cho, đáp lại những tấm chân tình của các vị khách lặn lội từ những nơi xa xôi hẻo lánh, Thiên Chúa đã cho họ gặp thấy Chúa, qua dấu chỉ của ánh sao, qua lời Chúa từ trong thánh kinh, mà các nhà đạo sỹ đã truy tầm. 

Lạy Chúa, chúng con tìm Chúa từ rạng đông cho đến lúc hôn hoàng, chính đức tin dẫn lối chúng con đi, mặc dù những đêm đen như chẳng còn đèn, những khi bình minh, nhưng bị che phủ bởi những áng mây đen. Xin cho mỗi tâm hồn luôn được chiếu rọi bởi những vì sao, và cũng xin ơn Thánh gạn đục khơi trong, cho con mắt thể xác và tâm hồn, để chúng con tìm đến thờ lạy Chúa, và tiến dâng lên, những lễ vật : Vàng, Nhũ hương, Mộc dược, tượng trưng cho niềm tin của mỗi người trong chúng con, Amen.

Về mục lục

.

 

ĐÁNG TỰ BIỂU LỘ

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Hiển Linh thường được hiểu là Thiên Chúa tỏ mình ra cho nhân loại. Đấng tỏ bày cũng là Đấng tự biểu lộ ra cho con người, cho con người được biết Người là ai? Và cho con người tham dự vào mầu nhiệm Thiên Chúa.

Trong trình thuật với Môi sê:

Ông Mô-sê thưa với Thiên Chúa: “Bây giờ, con đến gặp con cái Ít-ra-en và nói với họ: Thiên Chúa của cha ông anh em sai tôi đến với anh em. Vậy nếu họ hỏi con: Tên Đấng ấy là gì? Thì con sẽ nói với họ làm sao? “14 Thiên Chúa phán với ông Mô-sê: “Ta là Đấng Hiện Hữu.” Người phán: “Ngươi nói với con cái Ít-ra-en thế này: “Đấng Hiện Hữu sai tôi đến với anh em.” (Xh 3, 13 – 14)

Danh là người, cho biết danh là cho biết người. Cho biết danh còn là bày tỏ ước muốn thiết lập tương quan: một tương quan nhận biết người để gọi tên,  một tương quan để đối thoại và xa hơn nữa là một tương quan sống thân tình với nhau.

Thiên Chúa ngỏ lới với nhân loại, Thiên Chúa muốn thiết lập một tương quan với con người, không chỉ là tương quan để gọi tên, cũng không chỉ là để đối thoại, nhưng Người  còn đi xa hơn nữa làm cho bạn bất ngờ: Người muốn ngỏ lời sống thân tình với bạn.

Thiên Chúa đã đi bước trước trong Tình Yêu của Người để ngỏ lời với bạn. Khi Môisê hỏi về Danh Xưng của Thiên Chúa, Môisê xin biết danh xưng ấy để dân của ông có thể kêu cầu và ông có thể nói Người là ai cho họ. Thiên Chúa đi xa hơn ước muốn của ông, cũng như của nhân loại, Người muốn sống thân tình với con người, chung chia hạnh phúc cũng như chia sẻ đắng cay với con người. Dường như trong tình Yêu Thiên Chúa đã đi quá xa làm cho con người bất ngờ, con người chỉ dám xin được biết Người là ai để gọi Danh kêu cầu, Người lại muốn cùng đi với con người.

Trong sự kiện truyền tin.

Một lần nữa sứ thần Gabriel giới thiệu về Thiên Chúa làm người với danh xưng Giêsu: “Sứ thần liền nói: “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa.31 Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su” (Lc 1, 30).

Thiên Chúa tự thông ban chính mình, chính nhờ việc thông ban chính mình, con người mới có thể đến gặp gỡ Thiên Chúa. Lễ Ba Vua biểu trưng cho việc nhân loại đến tìm gặp Chúa qua chỉ dẫn của lý trí và nhờ gặp Chúa mới có thể tiếp cận chân lý vẹn toàn.

Tại Bêlem, thật bất ngờ cho Môisê và cho toàn thể nhân loại, Người đã nhẹ nhàng đến trước cửa nhà bạn, gõ cửa, và chờ đợi bạn mở cửa. Tình yêu ấy bất ngờ hơn thế nữa, khi Người chấp nhận bạn ngay cả khi bạn từ khước không mở cửa, con người có thể khước từ Tình Yêu Thiên Chúa và Thiên Chúa vẫn sẵn sàng tha thứ cho con người.

Lịch sử chối từ ấy đã diễn ra trong lịch sử của nhân loại. Đức Giêsu, Ngôi Lời của Thiên Chúa, Lời mạc khải cuối cùng, trọn vẹn và dứt khoát đã chịu đóng đinh trên Thập Giá, chết như một người tử  tội.  Quyền năng thể hiện bằng tha thứ, và tha thứ cho đến cùng.

Thiên Chúa đã ngỏ Lời và đang đứng đợi, nếu bạn nhận ra Người để gọi Người, như Đức Giêsu đã dạy gọi lên :”Abba” Cha ơi, bạn đang là người hạnh phúc. Hạnh phúc ngay cả những lúc bạn sống chưa xứng đáng làm con, bởi vì Người đã đón nhận bạn từ  muôn thưở, khi bạn chưa biết Người, chưa gọi Danh Người và đang khi chống lại Người. Người đang chờ đợi bạn.

Mở lòng ra như mở bảo tráp của tâm hồn mình: Vàng – Mộc dược – Nhũ hương, tất cả chỉ đến lòng tin – cậy  –  mến. Dâng tất cả cho Hài Nhi Giêsu, để được tiếp nhận Người là Đấng tự biểu lộ, trong con người thật và là Thiên Chúa thật.

Danh xưng Người ngỏ cho bạn là Danh Xưng vượt trên hết mọi danh xưng mà bạn có thể khám phá và gặp gỡ. Như khi mặc khải cho Môisê Danh Người là “Giavê”, Thiên Chúa muốn ngỏ lời mời gọi ông và dân tộc của ông đi vào huyền nhiệm của Người. Bạn cũng được Thiên Chúa mời gọi đi vào huyền nhiệm Thiên Chúa ở giữa loài người là Chúa Giêsu.

Về mục lục

.

 

HÃY DÕI THEO VÌ SAO ĐẾN THỜ LẠY CHÚA

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Tiếp liền sau Đại lễ Giáng Sinh, Giáo hội cử hành lễ Chúa Hiển Linh hay còn gọi là lễ Chúa Tỏ Mình. Theo một truyền thống rất xa xưa từ thế kỷ thứ II, Thánh Giustinô đã nói tới là Chúa Giêsu đã sinh ra trong một chuồng bò lừa tại Belem. 40 ngày sau, Thánh Giuse và Đức Maria đem Hài Nhi lên Đền thờ Giêrusalem để dâng cho Thiên Chúa như luật dạy. Phúc Âm Thánh Matthêô cho biết: sau khi dâng Chúa trong Đền Thánh, Thánh Gia không trở về Nagiarét ngay. Trong khoảng thời gian này đã xảy ra nhiều việc liên quan với nhau. Từ Đền Thờ, Thánh Gia lại trở về Belem. Chính nơi đây, các đạo sĩ, do một ngôi sao dẫn đường từ Phương Đông tới thờ lạy Chúa Giêsu và dâng cho Ngài lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược. Hêrôđê thấy các đạo sĩ không trở lại Giêrusalem báo tin như lời mình dặn, sợ ngai vàng của mình bị đe dạo, ông ra lệnh truyền giết các trẻ em ở Belem và các miền phụ cận từ 2 tuổi trở xuống. Thánh Giuse được Thiên thần báo tin, đã đem Chúa Giêsu và Đức Mẹ sang Ai-Cập và ở đó cho tới khi Hêrôđê băng hà.

Như thế, chúng ta thấy Lễ Chúa Hiển Linh trước hết có nghĩa là lễ Chúa tỏ mình ra cho các dân tộc, mà Ba Nhà Đạo sĩ là những đại diện.

“Epiphaino” có nghĩa là Thiên Chúa tự mặc khải trong nhân tính của Ðức Kitô, khiến người khác có thể trông thấy mình được được. Cụ thể như dùng ánh sao đêm biểu lộ cho Ba Ðạo Sĩ biết, dẫn họ lên đường đến nơi Hài Nhi vừa mới sinh để nhận ra Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Thế. Nếu lễ Giáng Sinh người ta nêu bật sự dấu ẩn của Thiên Chúa trong sự khiêm hạ với điều kiện là người, trong Trẻ Thơ Belem. Thì trong lễ Hiển Linh lại nêu bật việc Thiên Chúa tự tỏ mình, xuất hiện qua chính nhân tính.

Việc các Ðạo Sĩ đến tôn thờ Chúa Hài Nhi đã sớm được nhìn nhận như là ứng nghiệm những lời tiên tri trong Kinh Thánh. Isaia viết như sau: “Các dân tộc sẽ bước đi theo ánh sáng của ngươi, và các vua chúa tiến bước theo nguồn sáng của ngươi đang mọc lên” (Is 60,3.6). Ánh sáng của Chúa Kitô, khi xưa như được chiếu tỏa trong hang Bêlem, nay tỏa sáng trên khắp địa cầu.

Trong lễ Chúa Tỏ Mình, Giáo Hội đề nghị một văn bản rất ý nghĩa của ngôn sứ Isaia : ” Hãy đứng lên, hãy toả sáng ra, hỡi Giêrusalem! Vì sự sáng của ngươi đã tới, vì vinh quang của Chúa đã bừng dậy trên mình ngươi. Kìa tối tăm đang bao bọc địa cầu, vì u minh phủ kín các dân, nhưng trên mình ngươi Chúa đang đứng dậy, vì vinh quang của Ngài xuất hiện trên mình ngươi. Chư dân sẽ lần bước tìm về sự sáng của ngươi, và các vua hướng về ánh bình minh của ngươi.” (Is 66,1-3). Ðây là một lời mời hướng tới Giáo Hội Chúa Kitô và hướng tới từng người Kitô hữu, mời gọi chúng ta ý thức hơn về sứ mệnh và trách nhiệm truyền giáo của mình đối với thế giới trong việc làm chứng và chiếu sáng Tin Mừng khắp thế gian.

Trong số mở đầu Hiến chế về Giáo Hội có viết: “Ánh sáng muôn dân là chính Chúa Kitô, nên Thánh Công Ðồng đang nhóm họp trong Chúa Thánh Thần hết lòng mong ước soi dẫn mọi người bằng ánh sáng của Chúa phản chiếu trên dung nhan Giáo Hội bằng việc rao truyền Phúc âm cho mọi tạo vật” (LG, 1). Tin Mừng là ánh sáng không được dấu đi, nhưng để trên giá. Giáo Hội không phải là ánh sáng, nhưng nhận Ánh Sáng Chúa Kitô, tiếp nhận để được soi chiếu, và phổ biến Ánh Sáng đó ra với tất cả sự rạng ngời của nó. Và đây là điều cũng phải xảy ra trong cuộc sống cá nhân…

Các thượng tế tại Giêrusalem được Hêrôđê triệu tập để tư vấn cho ông về nơi Đấng Cứu Thế đã được sinh ra, cũng như cung cấp cho nhà vua các thông tin mà họ đã thu thập được trong truyền thống Kinh Thánh. Tuy nhiên, ý Chúa nhiệm mầu, vì ý định của Hêrôđê không trong sạch, ý định đó các nhà đạo sĩ là sứ giả cho những người tìm kiếm Thiên Chúa đã được mộng báo. Việc các nhà đạo sĩ đến kính viếng Chúa Hài Nhi cho ta thấy, sứ mạng của Đức Giêsu không chỉ dành cho Dân được tuyển chọn, nhưng cho cả nhân loại. Việc Ba Nhà Đạo Sĩ đến Giêrusalem hỏi đường, cho thấy mối liên lạc giữa sự khôn ngoan ngoại giáo và mạc khải Kitô Giáo thể hiện nơi con người của Chúa Giêsu thành Nazareth mà nhân loại khát đang mong tìm kiếm. Sứ vụ phổ quát của Chúa Kitô được Thánh Phaolô gọi là sự mặc khải của mầu nhiệm : ” Ấy vì dân ngoại, cùng (với Israel) là kẻ thừa tự, là Thân mình, và là đồng hưởng lời hứa trong Ðức Yêsu Kitô, nhờ bởi Tin Mừng” (Ep 3, 2). Ơn cứu chuộc  sẽ mở ra cho muôn người thuộc mọi quốc gia, và các dân ngoại đã trở thành người đồng thừa tự, cùng được chia sẻ lời hứa trong Chúa Giêsu Kitô  (Ep 3, 6). Sự gặp gỡ giữa sự khôn ngoan của những người sống bên ngoài mạc khải ( là các đạo sĩ, dân ngoại) , và những người hiển nhiên thừa hưởng lời hứa (Dân Do Thái) từ sự ra đời của Chúa Kitô sẽ cho thấy sứ mệnh của Chúa Giêsu trong sứ vụ công khai của mình, và bản chất của Giáo Hội mà Chúa Giêsu sẽ xây dựng.

Giáo Hội với sứ mạng phổ quát của mình, phải là nơi đáp ứng những khát vọng sâu xa của con người mọi nơi, mọi thời đại về Thiên Chúa. Giống như Chúa Kitô, Ngài đã chiếu tỏa vinh quang cho dân ngoại. Giáo Hội cũng mời gọi chúng ta hãy dõi theo ánh sao cùng ba nhà Đạo Sĩ đến thờ lạy Hài Nhi Giêsu, Thiên Chúa làm người trong khiêm hạ và nghèo khó, nhất là đón nhận chính Hài Nhi ấy là Ánh Sáng và là Chúa Kitô vào trong chúng ta, để chúng ta có sống là sống chính sự sống của Người, và lấy các tâm tình, tư tưởmg và hành động của Người làm tâm tình, tư tưởng và hành động của chúng ta. Như thế, mừng Giáng Sinh là biểu lộ niềm vui, sự mới mẻ, ánh sáng mà biến cố Giáng Sinh này đã đem lại trong toàn cuộc sống chúng ta, để chúng ta cũng là những người đem niềm vui, sự mới mẻ đích thật, và ánh sáng của Thiên Chúa đến cho mọi người. Amen.

Về mục lục

.

 

TÌM THIÊN TỬ

Trầm Thiên Thu

Cuộc đời con người là một cuộc tìm kiếm không ngừng. Có nhiều thứ để tìm kiếm, chung quy lại chỉ là để mình cảm thấy hạnh phúc, thế nhưng có thể cả đời không tìm thấy, hoặc thấy loại này rồi lại tìm loại khác. Chắc hẳn các đạo sĩ cũng không ngoài mục đích đó, nhưng họ đã đạt được mục đích, và hạnh phúc của họ có thật, nhãn tiền: gặp được chính Đấng Cứu Thế.

Các chi tiết và các điểm khác biệt từ câu chuyện về ba đạo sĩ được dựa vào Phúc Âm thứ nhất – Tin Mừng theo Thánh sử Matthêu. Qua đó, chúng ta thấy có mấy điểm chính như sau:

– Họ là những người Ba Tư, đến từ vùng đất bán thần thoại Shir (liên quan Trung quốc cổ đại), họ có một cuộc hành trình dài.

– Có hàng chục đạo sĩ chứ không chỉ có ba người, và họ đã viếng thăm Hài Nhi Giêsu. Phúc Âm theo Thánh Matthêu không xác định số người, chỉ đề cập ba người tiến dâng lễ vật cho Hài Nhi Giêsu.

– Ba đạo sĩ được mô tả là hậu duệ của Seth, con trai thứ ba của Nguyên Tổ Adam. Theo quy ước, người ta đồng ý gọi tên của ba đạo sĩ là Balthasar, Gaspar và Melchior.

– Họ thuộc một giáo phái có niềm tin vào việc cầu nguyện thầm lặng. Họ đã chờ đợi rất lâu để có thể nhận thấy Ngôi Sao Lạ xuất hiện, và họ tin đó là dấu hiệu báo về một Thiên Tử.

Như vậy, họ không phải là vua chúa hoặc quốc vương mà là các đạo sĩ, các nhà thông thái, các chiêm tinh gia, họ đến từ Đông phương xa lắc xa lơ, miệt mài đi theo dấu Ánh Sao Lạ dẫn đường đến tận Belem để diện kiến chính Vương Nhi Giêsu và Song Thân của Ngài. Lễ này ngày xưa gọi là lễ Ba Vua, ngày nay gọi là lễ Hiển Linh.

Qua Kinh Thánh, chúng ta biết rằng Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể, làm người, ở giữa loài người, cùng chia sẻ mọi “nỗi đời” với thân phận phàm nhân của chúng ta. Quả thật, đó là “độc chiêu” mà Thiên Chúa đã sử dụng để tỏ mình ra cho muôn dân. Sự khiêm nhường tột cùng của Ngài dạy chúng ta phải cố gắng sống đơn sơ và giản dị.

Ba đạo sĩ đã kiên nhẫn chờ đợi và miệt mài đi tìm Đấng họ mong đợi – và họ gặp. Họ nhắc nhở chúng ta cũng phải kiên trì và nỗ lực vượt qua mọi gian khó mới có thể gặp được Thiên Chúa. Ngài chính là cùng đích và hạnh phúc đích thực đối với các Kitô hữu.

TÌM THIÊN TỬ

Đi theo ánh sao để làm gì? Tất nhiên là để gặp được chính Thiên Tử. Từ ngàn xưa, Thiên Chúa Cha đã hứa ban Ngôi Con, và giờ đây lời hứa đó đã ứng nghiệm: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14).

Tất cả chúng ta là phàm nhân, ai cũng là tội nhân, nhưng “nô tì kiếp” của chúng ta được chính Con Thiên Chúa đến tháo gỡ mọi gông cùm của tội lỗi, “vòng kim cô” của ma quỷ, và được phục hồi quyền làm con cái của Thiên Chúa, vì thế ngôn sứ Isaia kêu gọi: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu toả, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi” (Is 60:1-2).

Ôi, thật là diễm phúc biết bao! Tại sao? Bởi vì chúng ta không chỉ được giải thoát khỏi bóng tối tội lỗi và trở nên con cái Thiên Chúa, mà chúng ta còn được Ngài quan tâm, chăm sóc và nâng niu: “Con trai từ phương xa tới, con gái được ẵm bên hông” (Is 60:4). Và vì thế, chúng ta không thể không vui cười hớn hở, mặt mày rạng rỡ, cõi lòng rạo rực, mừng như ngày hội và vui như tết.

Thật kỳ diệu, kỳ diệu tới mức nhiệm mầu, bởi vì Hài Nhi sinh ra nơi hang chiên lừa hôi tanh trong đêm tối ở cánh đồng hoang vu Belem kia lại chính là Thái Tử của Thiên Hoàng, là Tân Vương Nhi. Ngài đến để giao hòa đất với trời, đồng thời cũng để “xét xử dân Ngài theo công lý, và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn” (Tv 72:6). Các vua chúa trần gian được tiền hô hậu ủng, kẻ hầu người hạ, nhưng Ông Vua Nghèo Giêsu lại đến để phục vụ chứ không được ai phục vụ, Ngài “đến không để kêu gọi người công chính mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (Lc 5:32), Ngài “đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19:9), và Ngài “đến để cho con người được sống dồi dào” (Ga 10:10). Cách làm của Vua Nghèo quá “ngược đời”, nhân loại không thể hiểu hết, thậm chí là không muốn hiểu! Tại sao? Vì Chúa biết tỏng tư tưởng chúng ta thế nào, như Ngài đã nói “toạc móng heo”: “Tư tưởng của Tôi không phải là tư tưởng của quý vị, và đường lối của quý vị không phải là đường lối của Tôi” (Is 55:8).

Vương Nhi thuộc vương tộc Đa-vít, nhưng Ngài là Hàn Vương. Tuy nhiên, triều đại của Ngài lại “đua nở hoa công lý và thái bình thịnh trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn” (Tv 72:7), để rồi “mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự” (Tv 72:11). Vương Nhi Giêsu là Vua của các vua, là Chúa của các chúa, nhưng Ngài vô cùng nhân từ, luôn theo sát đồng bào, luôn tận tụy với đám dân nghèo, cương quyết bảo vệ công lý và chân lý – vì theo Ngài, chỉ có sự thật mới khả dĩ giải thoát nhân loại (x. Ga 8:32). Ngài không chỉ tay năm ngón, Ngài trực ngôn và hành động để “giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo. Mạng sống dân nghèo, Ngài ra tay tế độ” (Tv 72:12-13).

Từ Đông phương, các nhà hiền triết đã thấy Ánh Sao Lạ, họ biết ngay rằng có một “dị nhân” vừa xuất hiện, thế là họ không quản ngại đường xa hiểm trở, mau mắn và quyết tâm lên đường tìm cho ra “dị nhân” kia. Và ánh sao dẫn đường đã dừng lại trên một hang chiên lừa hẻo lánh bốc mùi hôi tanh. Điều kỳ lạ là họ đã tin Trẻ Thơ Giêsu là Đấng họ mong đợi, không hề thắc mắc hoặc nghi ngờ.

Nếu là chúng ta, chưa chắc chúng ta đã muốn bước chân vào, thậm chí có thể kéo nhau quay về cho nhanh, thậm chí có thể “chạy mất dép” chứ chẳng chơi đâu! Các đạo sĩ là những người không chỉ thông thái, có học thức, mà còn giàu có nữa. Họ thấy Bé Giêsu oe oe ngọ nguậy trong máng cỏ, bên cạnh chỉ có hai Cô Chú “nhìn thấy thương”, nghèo kiết xác, và lũ chiên lừa “ngu ngơ” chẳng biết ất giáp gì, có lẽ mới đầu họ cũng “xì xầm” bàn tán với “mắt chữ O, miệng chữ A”. Còn các đạo sĩ kia, họ vẫn không hề thất vọng, họ liền bước vào triều yết Hàn Vương và kính chào Hàn Phu Thê. Y như cổ tích vậy. Tuy nhiên, đó lại là chuyện hoàn toàn có thật. Không chỉ tin và bái phục, họ còn dâng những lễ vật cao quý nhất mà họ đã chuẩn bị và đem theo.

Ngày nay, chúng ta được dạy cho biết đó là mầu nhiệm, không thấy cảnh Hàn Gia lúc đó nên chúng ta đã tin. Giả sử chúng ta tận mắt chứng kiến thì chắc gì chúng ta tin Em Bé Giêsu kia chính là Ngôi Hai Thiên Chúa giáng thế làm người. Như vậy là chúng ta may mắn lắm. Thánh Phaolô viết: “Về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. Người đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Đức Kitô” (Ep 3:2-3). Thật đặc biệt, vì “Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết mầu nhiệm này, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông đồ và ngôn sứ của Người” (Ep 3:5). Thánh Phaolô giải thích: “Mầu nhiệm đó là: trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3:5-6).

Và một lần nữa, chúng ta lại thực sự may mắn và hạnh phúc vì được “thừa kế gia nghiệp” của Thiên Chúa, được nên “một thân thể” và “cùng chia sẻ” với Thiên Chúa. Vì thế, mỗi chúng ta đều phải “xắn tay áo lên và hành động” một cách cụ thể chứ không nói suông.

THẤY THÁNH TỬ

Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể và nhập thế, tôn danh Ngài là Giêsu Kitô. Ngài là Thiên Vương, do đó Đức Maria trở thành Mẫu Hậu và Đức Thánh Giuse là Phụ Vương – mặc dù ngài là Dưỡng Phụ. Sắp lâm bồn mà tìm không ra chỗ trọ, Chồng đành đưa Vợ ra “cánh đồng hoang”, may còn có cái hang để chui vào. Không người thân thích, không ai giúp đỡ. Chồng vất vả lo cho Vợ từ A đến Z. Chồng không hề than thở, chỉ âm thầm hành động. Vợ sinh xong, được Mẹ tròn Con vuông là mừng lắm rồi. Sau đó lại được đám mục đồng ghé thăm, rồi thêm mấy đạo sĩ ghé thăm. Cũng đỡ tủi thân và được an ủi phần nào nơi đất khách quê người. Hạnh phúc giản dị mà tuyệt vời. Thế nhưng chuyện đời chưa hết, bộ phim mang tên “hành tình gian khổ” còn kéo dài nhiều tập…

Kinh Thánh cho biết thời đó đương triều của ác vương Hêrôđê. Ông được mấy nhà chiêm tinh vào hỏi thăm xem Đức Vua của dân Do Thái mới sinh hiện ở nơi nào. Họ còn cho biết rằng họ đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, và họ muốn đến bái lạy Người (Mt 2:1-2).

Nghe vậy, vua Hêrôđê tá hỏa tam tinh, choáng váng, và cả thành Giêrusalem cũng xôn xao. Nhà vua sợ có kẻ nổi loạn để tiếm ngôi nên liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời chính xác là tại Bêlem, miền Giuđê, và họ dẫn chứng sách ngôn sứ “nói về miền đất Giuđa, nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen sẽ ra đời” (Mt 2:6). Vốn thâm độc, vua Hêrôđê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện, phái họ đi Bêlem và dặn: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy thì về báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người” (Mt 2:8). Loài quỷ sứ mà mang cánh thiên thần. Giả hình rất tinh vi!

Các đạo sĩ nghe nhà vua nói thế thì an tâm ra đi, vốn dĩ chân thật nên họ không hề biết vua Hêrôđê “khẩu phật, tâm xà”, mưu mô và thâm độc, chỉ muốn bảo vệ “cái ghế toàn năng” của mình thôi! Các đạo sĩ tiếp tục đi theo ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, dẫn đường họ đến tận nơi. Ngôi sao dừng lại, “họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là cô Maria, liền sấp mình thờ lạy Người” (Mt 2:11). Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến.

Hang đá Belem lúc đó chắc là rộn rã lắm. Sau khi “nựng” Bé Giêsu và trò chuyện với Song Thân của Bé, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên họ đã đi lối khác mà về xứ mình. Các đạo sĩ đã nỗ lực tìm gặp “dị nhân” Giêsu cho bằng được, gặp rồi thì họ tin, can đảm bước vào đời, họ tránh “ác nhân” Hêrôđê là cách hành động tích cực và sống tốt. Sống tốt không chỉ là “làm lành, lánh dữ” – như thế vẫn là tiêu cực, mà còn phải tích cực hành động để bảo vệ công lý cho tha nhân.

Thiên Tử Giêsu không có nghĩa là “con trời” như các ông vua ngày xưa tự xưng hoặc những người mạo nhận (lập giáo phái này nọ…), mà Ngài là Thánh Tử của Thiên Chúa Cha. Có điều chắc chắn rằng bất cứ ai tin vào Ngài sẽ được cứu độ, và bất cứ ai noi gương các đạo sĩ mà thành tâm tha thiết tìm Thiên Tử thì thấy Thánh Tử.

Lạy Thiên Chúa toàn năng và hằng hữu, xin giúp chúng con luôn thể hiện lòng thành qua cách sống thường nhật, dù bình thường nhưng không tầm thường, không ngừng tìm kiếm Ngài và can đảm hành động vì sự thật. Xin “ánh sao” Ý Chúa luôn soi đường dẫn lối chúng con suốt hành trình trần thế, để chúng con sống đúng Tôn Ý Ngài trong từng hơi thở. Lạy Đức Mẹ Maria và Đức Thánh Giuse, xin thương nguyện giúp cầu thay. Chúng con cầu xin nhân Danh Đấng Emmanuel, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

Về mục lục

.

 

ĐƠN SƠ VÀ THÔNG THÁI

Lm Giuse Nguyễn Hữu An 

Thiên Chúa đã làm người, đã sinh ra trong hình hài một trẻ thơ, với cha mẹ là Giuse và Maria. Đó là Tin Mừng Giáng Sinh. Vĩnh cửu đã đi vào trong thời gian.Vô hạn đã trở thành hữu hạn.Trời đã nối với đất và đất đã gặp gỡ trời!

Sau các mục đồng Do thái, đến lượt các Đạo sĩ phương Đông được mạc khải về Chúa Hài Đồng Giêsu. Các đạo sĩ, có lẽ là các nhà Chiêm tinh học Babylon hoặc Ba Tư đã vất vả vượt đường xa, lặn lội tìm kiếm nơi Hài Nhi giáng sinh để bày tỏ lòng yêu mến đối với một Vị Vua của nhân loại vừa ra đời. Kiến thức uyên thâm cùng với lòng khao khát tìm kiếm đã thúc đẩy các vị, từ những phương hướng khác nhau, cùng đi tới trong một ý hướng để tiến dâng lễ vật với tấm lòng thành.

Ðức Cha Fulton Sheen đã gọi các mục đồng các đạo sĩ những người đơn sơ và những người thông thái.

Khi các mục đồng canh giữ chiên ở ngọn đồi Bêlem, họ bỡ ngỡ vì vẽ đẹp của thiên thần: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Ðấng cứu độ đã sinh ra cho anh em trong thành của vua Ðavit, Người là Ðấng Kitô Ðức Chúa” (Lc 2,10-12).

Còn các đạo sĩ ở bên kia xứ phương Đông, nghiên cứu bầu trời và thấy một ngôi sao lạ xuất hiện. Họ theo ánh sao tìm đến hang đá Bêlem gặp Hài Nhi: “Bấy giờ, ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. Trông thấy ngôi sao, họ  mừng rỡ  vô cùng.Họ vào  nhà, thấy  Hài Nhi  với thân  mẫu là bà Maria, liền  sấp mình thờ lạy  Người. Rồi họ mở  bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc  dược mà dâng tiến” (Mt 2,9-12).

Như những cánh bướm bị thu hút bởi ngọn lửa, các mục đồng và các đạo sĩ tiến đến ngai vàng chỉ là một hang đá, đến với Thiên Chúa chỉ là một Hài Nhi. Thiên Chúa Hài Nhi ngước nhìn từ máng cỏ chỉ thấy hai hạng người tìm gặp Ngài và chỉ duy họ tìm gặp Ngài cho đến tận cùng thời gian. Ðó là các mục đồng và các đạo sĩ, những người đơn sơ và những người thông thái.

Các mục đồng là những người đơn sơ. Họ chẳng biết gì tới chính trị, văn chương, nghệ thuật. Họ chỉ biết hai điều quan trong là Thiên Chúa ở trên họ và họ ở giữa đoàn chiên. Ðêm hôm đó bầu trời rộng mở để loan báo Tin mừng. Thiên Thần cho biết Ðấng họ nóng lòng chờ đợi vừa sinh ra trong hang đá Bêlem nhỏ bé. Họ đã tìm và gặp Ðấng Chăn Chiên của họ

Các đạo sĩ tìm gặp Ðấng Cứu Thế là những người thông thái. Họ không là những vua chúa. Họ không phải là những người nghiên cứu nông cạn mà là những bậc thầy hoàng vương, những nhà tinh thông về vũ trụ và họ đã khám phá ra một ngôi sao lạ. Ðối với khoa học và tôn giáo họ được liệt vào hàng đầu trong nước của họ. Các vua chúa bàn hỏi với họ trước khi xuất chinh. Các nông dân hỏi ý kiến họ trước khi trồng tỉa. Hàng ngàn người đã thấy ngôi sao, nhưng sự uyên bác của ba đạo sĩ làm cho họ lên đường khám phá. Chính nhà bác học Newton đã thốt lên khi quan sát vũ trụ: Tôi thấy Thiên Chúa đi qua kính viễn vọng của tôi. Ðối với kẻ kiêu ngạo, tự phụ, ngôi sao chỉ là ngôi sao, nhưng đối với người thông thái đó là một dấu chỉ thời đại, một tác phẩm của Thiên Chúa. Thế nên các đạo sĩ đã đi theo ánh sáng ngôi sao với bao gian lao, đầy mạo hiểm. Ðến nơi, mặc phẩm phục và quỳ trên nệm rơm, các đạo sĩ chiêm ngắm một trẻ sơ sinh chưa thể hỏi han hay đối đáp được điều gì. Họ tiến dâng Ngài tặng phẩm và tâm hồn để chứng tỏ sự thần phục của thế gian. Tặng phẩm là vàng, nhũ hương, mộc dược. Vàng, vì Hài Nhi sẽ là vua. Nhũ hương, vì Ngài sẽ là Tư Tế. Mộc dược, vì Ngài sẽ chết như mọi người. Các Ðạo sĩ đã tìm gặp được Ðấng khôn ngoan.

Chỉ có các mục đồng và các đạo sĩ đã tìm gặp được Ðấng Cứu Thế. Trong khi đó các người nổi nang trong đạo Do thái không gặp được Ngài. Bởi lẽ: Các luật sĩ chỉ thao thức về lề luật. Các thượng tế chỉ nhạy bén về đền thờ. Các kỳ lão chỉ lo lắng về truyền thống. Hêrôđê cũng là con người tìm tòi, ông đã cặn kẽ điều tra nơi Hài Nhi ở, không phải để đến thờ lạy mà tìm cách hủy diệt. Loại người nào cũng tự mãn trong những cơ chế phức tạp cứng nhắc (Ðức Cha Bùi Tuần).

Thời nay cũng thế, đầy dẫy những triết gia, những nhà khoa học, những người vô thần theo thuyết bất khả tri… nhưng không ai trong họ đã nhìn thấy một thiên thần hay ánh sáng một ngôi sao. Dòng dõi của những Hêrôđê kiêu ngạo cho tới thời nay đã không tìm thấy Thiên Chúa vì họ muốn dùng lý trí để nắm bắt siêu việt. Họ quá phức tạp nên không hiểu lời xác quyết đơn sơ của các mục đồng, quá đầy kiến thức khoa học để lãnh hội chân lý do các đạo sĩ đem đến. Dòng dõi này che đậy tính kiêu ngạo và đi tới chỗ coi Giáo hội là một thể chế đã lỗi thời cần loại bỏ.

Ðiều kiện tiên quyết để gặp được Thiên Chúa, đó là lòng khiêm nhường, chung cho cả người đơn sơ lẫn người thông thái. Những tâm hồn đơn sơ như các mục đồng mới gặp được Thiên Chúa bởi họ ý thức mình không biết gì cả. Những người thông thái đích thực như các đạo sĩ gặp được Thiên Chúa bởi vì họ ý thức mình không biết gì cả.

Chúa Giêsu không sinh ra ở giữa trời, nơi người ta có thể đứng thẳng. Ngài đã Giáng sinh trong hang đá, nơi người ta phải cúi mình để đi vào. Ðó là một cử chỉ khiêm nhường. Các mục đồng và các đạo sĩ đủ đơn sơ để nghiêng mình xuống. Khi làm như vậy, họ thấy mình ở trong hang đá. Tại đó, một người nữ diễm lệ, đầu đội mặt trời, chân đạp mặt trăng và đôi tay ẵm lấy Hài Nhi, Ðấng dùng những ngón tay bé nhỏ của mình nâng đỡ trái đất. Khi các mục đồng và các đạo sĩ quỳ gối, có lẽ các đạo sĩ ghen với các mục đồng vì con đường của các mục đồng ngắn hơn, họ tìm thấy sự khôn ngoan là chính Thiên Chúa mau hơn.

Ngày nay, Thiên Chúa vẫn không ngừng lôi kéo cả nhân loại đến với Con Một của Ngài là Ðức Giêsu Kitô. Ngài vẫn không ngừng cho những ánh sao dẫn đường. Không phải là ánh sao trên trời cao mà là ánh sáng Ngài gieo vào lòng người. Mỗi người cần phải trung thành với ánh sáng đó, dấn bước trên hành trình đức tin đầy mạo hiểm của mình.

Các Thượng tế, các kinh sư thông hiểu Thánh kinh, họ cắt nghĩa cho Hêrôđê rất chính xác nhưng họ vẫn ngồi yên tại chỗ. Họ tìm Ðấng Thiên Sai trong Thánh Kinh, nhưng không nhận ra Người trong thực tế vì Người không phù hợp với những quan điểm cố định của họ.

Những tâm hồn đơn sơ như các mục đồng, những tâm hồn cởi mở khao khát chân lý như các đạo sĩ lại được hạnh phúc nhận biết Người.

Phúc âm Luca nói đến người đơn sơ và người thông thái: “Khi ấy, Chúa Giêsu đầy hoan lạc trong Chúa Thánh Thần, Người nói: “Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người thông thái khôn ngoan biết những điều này, nhưng đã tỏ cho những kẻ đơn sơ. Vâng, lạy Cha, đó là ý Cha đã muốn thế. – Cha đã trao cho Con mọi sự. Không ai biết Con là ai, ngoài Cha ra; cũng không ai biết Cha là Đấng nào, ngoài Con, và những người được Con muốn tỏ cho biết”. (Lc 10, 21-22). Chúa Giêsu ngợi khen Cha trên trời, vì đã giấu những bí ẩn của Người đối với kẻ thông thái mà lại tỏ ra cho ai đơn sơ. Xem ra có vẻ nghịch lý, nhưng điều này tỏ lộ sự khôn ngoan của Thiên Chúa.“Những người nhỏ bé, đơn sơ” là dấu hiệu cho thấy rõ ràng về việc cứu rỗi của Thiên Chúa.Những người đơn sơ theo Thánh Kinh là những người hiểu hơn ai hết tình cảnh của mình. Họ tìm Thiên Chúa với niềm phó thác và biết rằng Thiên Chúa không hề bỏ rơi một ai trong sự thất vọng. Tuy nhiên, nói như trên không có nghĩa là “những người khôn ngoan và thông thái” bị loại ra khỏi lối vào mầu nhiệm Thiên Chúa. Điều mà “những con người khôn ngoan”cần phải biết là họ chỉ có thể hiểu được Thiên Chúa – Đấng Vô hình bắt đầu từ những gì đơn sơ nhất. Sự khôn ngoan, thông thái và niềm kiêu hãnh vì có “đầy kinh nghiệm cuộc sống” hay vì mãn nguyện với “thẩm quyền trí tuệ và thần học”đã ngăn cản nhiều người khám phá kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, kìm giữ bước chân họ trong “khung trời riêng”của mình mà không hội nhập vào sự năng động của ơn cứu độ do Chúa Giêsu mang đến (x.donboscoviet.net).

Các đạo sĩ thông thái có đủ khiêm nhường để đến gặp gỡ và thờ lạy Chúa Hài Nhi. Các mục đồng và đạo sĩ thật có phúc như lời Chúa Giêsu nói: “Thầy bảo thật các con: Có nhiều tiên tri và vua chúa đã muốn xem những điều các con thấy, mà chẳng được xem, muốn nghe những điều các con nghe, mà đã chẳng được nghe” (Lc 10,24). 

Thiên Chúa từ trời cao đã làm người trần thế và làm một Hài Nhi để ta có thể gặp được Ngài. Thiên Chúa vĩ đại, quyền uy đã trở nên một trẻ thơ bọc tã, nằm trong máng cỏ, để cho ta có thể gần gũi Ngài. Lễ Giáng Sinh và lễ Hiển Linh chính là lễ hội những cuộc gặp gỡ. Thiên Chúa đến với con người và con người nhận biết Ngài nơi Hài Nhi Giêsu. Chỉ có người đơn sơ và người thông thái với đức khiêm nhường mới gặp được Người.Thiên Chúa vẫn tiếp tục tỏ mình cho thế giới qua các dấu chỉ tự nhiên của trời đất, của lịch sử, qua Thánh kinh, qua Giáo hội, qua các Bí tích, qua cuộc sống hàng ngày. Ðể gặp Ngài, chúng ta cần có lòng khiêm nhường. Nhờ sự gặp gỡ này, mỗi người sẽ trở nên ánh sao dẫn lối cho nhiều người nhận biết và yêu mến Chúa.

Về mục lục

.

 

SUY NIỆM LỄ HIỂN LINH

 Lm. Anthony Trung Thành 

Trước Đức Giêsu 700 năm, tiên tri Isaia đã tiên báo rằng: “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã nhìn thấy ánh sáng hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”(x. Is 9,1). Vào thời Đức Giêsu, Thánh Gioan Tông đồ lại nói về Người rằng: “Ở nơi Người vẫn có sự sống và sự sống là sự sáng của nhân loại, sự sáng chiếu soi trong u tối và u tối đã không tiếp nhận sự sáng”(Ga 1,4). Thánh Gioan còn cho biết thêm: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người.”(x. Ga 1,9). Sau này, chính Đức Giêsu cũng đã khẳng định rằng:  “Ta là sự sáng thế gian”(x. Ga 9,5)Như vậy, Đức Giêsu chính là Sự Sáng, là Ánh Sáng. Chính Ngài là niềm chờ mong của dân tộc Do thái cả hàng ngàn năm về trước. Nay sự xuất hiện của Ngài đã đáp ứng niềm hy vọng của họ. Ngài không chỉ đem ánh sáng đến cho dân tộc Do thái mà còn đem ánh sáng đến cho toàn thể nhân loại. Cụ thể, khi Ngài sinh ra, Ngài đem ánh sáng đến cho các mục đồng, đại diện cho những người nghèo. Họ được vinh dự nhận thấy ánh sáng. Ngài đem ánh sáng đến cho các nhà chiêm tinh bằng ngôi sao lạ xuất hiện từ phương trời đông phương. Các nhà chiêm tinh là đại diện cho các dân các nước. Ai cũng có quyền lợi được hưởng ánh sáng của Đức Giêsu. Bởi vì, những ai đón nhận thì được trở nên con Thiên Chúa. Thánh Gioan nói: “Những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.” (x. Ga 1,12). 

Chúng ta được đón nhận ánh sáng Đức Giêsu trong ngày lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Trong nghi thức rửa tội cho người lớn, sau khi người đỡ đầu nhận lấy cây nến được thắp từ cây nến phục sinh, rồi trao cho người tân tòng, chủ sự mời gọi: “Ông (bà, anh, chị, em, con) đã trở nên ánh sáng Chúa Kitô, ông (bà, anh, chị, em, con) hãy luôn sống như con cái sự sáng, để được bền vững trong Ðức Tin. Khi Chúa Kitô đến, ông (bà, anh, chị, em, con) xứng đáng ra nghinh đón Người với toàn thể các Thánh trên trời.”  Còn trong nghi thức rửa tội cho trẻ nhỏ, chủ sự thắp nến từ cây nến phục sinh rồi trao cho cha mẹ hoặc người đỡ đầu và mời gọi: “Hãy nhận lấy ánh sáng Chúa Kitô. Anh chị em là những bậc làm cha mẹ và người đỡ đầu, ánh sáng này được trao phó cho anh chị em chăm nom, tức là lo lắng cho (các) trẻ nhỏ này đã được Chúa Kitô soi sáng, luôn luôn sống như con cái sự sáng và bền vững trong đức tin. Nhờ đó khi Chúa đến, chúng được ra nghinh đón Người với toàn thể các thánh trên trời.” 

Sau ngọn nến của Bí tích Rửa tội, tùy từng lứa tuổi và điều kiện, người kitô hữu được lãnh nhận ánh sáng của Đức Giêsu qua các Bí tích khác, qua Lời Chúa, qua giáo huấn của Hội Thánh và qua đời sống cầu nguyện. 

Nhưng chúng ta không chỉ đón nhận ánh sáng mà còn có nhiệm vụ phải thắp sáng để soi dẫn cho những người xung quanh. Đức Giêsu nói: “Chính các con là ánh sáng cho trần gian”(x. Mt 5,14). Ánh sáng đó phải được thắp lên và đặt trên đế cao để soi sáng cho những người khác. Ngài nói: “Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn lên rồi lấy thùng úp lại, nhưng đặt trên đế, và nó soi sáng cho mọi người ở trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của các con phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp các con làm, mà tôn vinh Cha các con, Đấng ngự trên trời”(x. Mt 5,15-16). Sau này, chính Thánh Phaolô cũng mời gọi các kitô hữu rằng: “Anh em hãy chiếu sáng  như những vì sao trên bầu trời” (x. Pl 2,15). 

Vậy, chúng ta hãy chiếu sáng những gì? 

Nơi nào có oán ghét hận thù, chúng ta hãy đem ánh sáng  tình thương;  nơi nào có khinh khi nhục mạ, chúng ta hãy mang ánh sáng thứ tha; nơi nào có mâu thuẫn bất đồng, chúng ta hãy đem ánh sáng của sự hòa giải; nơi nào có giả dối sai lầm, chúng ta hãy đem ánh sáng chân lý; nơi nào có hoài nghi ngờ vực, chúng ta hãy đem ánh sáng đức tin; nơi nào có nản chí sờn lòng, chúng ta hãy gieo ánh sáng của niềm hy vọng; nơi nào có bóng tối mây mù, chúng ta hãy khơi nguồn ánh sáng; nơi nào có u sầu buồn bã, chúng ta hãy đem lại ánh sáng an vui. (x. Lời cầu, kinh sáng, Thứ 7, Tuần II). 

Dù xã hội đầy dẫy bóng tối, chúng ta cũng không được nản chí, sờn lòng nhưng hãy mạnh dạn chiếu sáng, bắt đầu bằng những hành động nhỏ nhất. Có ai đó đã nói rằng: “Thà thắp sáng lên một ngọn đèn, còn hơn ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối.” 

Để kết thúc, chúng ta nghe câu chuyện ý nghĩa sau đây được Mẹ Têrêsa thành Calcutta kể lại : Ở Úc Châu có một người thổ dân (Aborigine) sống trong một hoàn cảnh thật thảm thương. Ông ta đã cao niên rồi. Từ bao năm tháng ông chỉ một thân một mình cô đơn trong túp lều tối tăm xiêu vẹo. Lần đầu tới thăm ông, tôi đề nghị: 

 – Ðể tôi dọn dẹp nhà và sửa soạn giường chiếu lại cho ông. 

 Ông ta hờ hững nói: 

 – Tôi đã quen sống như vậy rồi. 

 Nhưng tôi bảo ông: 

 – Tuy vậy, ông sẽ cảm thấy dễ chịu hơn với căn nhà sạch sẽ và ngăn nắp.

 Sau cùng ông ta bằng lòng để tôi dọn dẹp lại nhà cửa cho ông. Trong khi quét dọn tôi thấy một cái đèn cũ, đẹp nhưng phủ đầy bụi bẩn. 

 Tôi hỏi ông:

 – Có bao giờ ông thắp đèn này không? 

 Ông ta trả lời với giọng chán ngán: 

 – Nhưng thắp đèn cho ai? Có ai bước chân vào nhà này bao giờ đâu. Tôi sống ở đây đã lâu rồi mà chẳng hề trông thấy một ai cả.  

Tôi hỏi ông: 

 – Nếu như các nữ tu đến thăm ông thường xuyên, ông có bằng lòng thắp đèn lên không? 

 Ông vui vẻ đáp: 

 – Dĩ nhiên rồi.

 Từ hôm đó, các nữ tu của chúng tôi quyết định mỗi chiều sẽ ghé qua nhà ông. Cũng từ đó, ông ta bắt đầu thắp đèn và dọn dẹp căn lều cho sạch sẽ hơn. 

 Ông còn sống thêm hai năm nữa, Trước khi chết ông nhờ các nữ tu nhắn tin cho tôi, ông nói: 

 – Xin nhắn với mẹ Têrêsa bạn tôi rằng, ngọn đèn mà mẹ đã thắp lên trong đời tôi vẫn còn chiếu sáng. Ðó chỉ là một việc nhỏ, nhưng trong bóng tối cô đơn của đời tôi, một tia sáng đã chiếu lên và vẫn còn tiếp tục sáng mãi. 

Ước gì, hằng ngày chúng ta biết thắp lên những ngọn nến tương tự như vậy. Đó là những ngọn nến của tình thương, thứ tha, hòa giải, chân lý, đức tin, hy vọng và an vui. Để nhờ đó, ánh sáng Hiển Linh của Chúa đến được với mọi người. Amen.

Về mục lục

.

 

THIÊN CHÚA TỎ LÒNG THƯƠNG DÂN NGOẠI

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Một buổi trưa, các em lương dân thuộc các nhà trọ đến nhà thờ chơi chung với các em trong xứ. Đến giờ viếng Chúa, các em thiếu nhi vào nhà thờ, còn các em các tôn giáo bạn đứng ngoài cửa tò mò nhìn vào. Một em thiếu nhi hỏi : Thưa cha, mấy bạn này không có đạo, các bạn có được vào viếng Chúa không? Cha xứ trả lời : Các con phải mời các bạn vào với các con, vì các bạn ấy cũng là con của Chúa, và Chúa cũng là Chúa của các bạn ấy. Em thiếu nhi ngạc nhiên : Thật vậy hả cha?
Suy nghĩ của các em thiếu nhi cũng giống suy nghĩ của nhiều người có đạo và của người Do Thái xưa, họ nghĩ rằng Thiên Chúa chỉ dành riêng cho người Do Thái hoặc cho người có đạo mà thôi, còn người khác bị loại ra ngoài.
Lễ Chúa Hiển Linh hôm nay cho thấy Thiên Chúa không hề giới hạn tình thương và ơn cứu độ của Ngài cho một dân nào hoặc một người nào. Thiên Chúa muốn tất cả mọi người, mọi dân đều nhận được ánh sáng Tin Mừng và tình thương cứu độ của Ngài. Câu chuyện các nhà đạo sĩ Phương Đông tìm đến với Hài Nhi Giêsu muốn nói lên điều đó. Đối với dân Do Thái, họ được các tổ phụ, các ngôn sứ loan báo từ rất lâu về Đấng Cứu Thế sẽ giáng trần. Còn với dân ngoại, Thiên Chúa lại dùng các dấu chỉ của vũ trụ thiên nhiên để dẫn họ đến với Chúa Giêsu và ơn cứu độ.
Thiên Chúa luôn để cho tình yêu của Ngài tuôn đổ trên người Do Thái cũng như dân ngoại. Tuy nhiên, chỉ những ai thành tâm thiện chí tìm kiếm Ngài và tin nơi Ngài, kẻ ấy mới có thể được gặp được Thiên Chúa và đón nhận ơn cứu độ. Tin Mừng hôm nay thuật lại những phản ứng khác nhau của những người được nghe tin vui Giáng Sinh. Trước hết là vua Herode và các nhà thông thái, khi các nhà chiêm tinh đến hỏi : Vua người Do Thái mới sinh hiện đang ở đâu ? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người bên phương Đông và chúng tôi đến triều bái Người. Nghe tin này, vua Herode và triều thần không vui, nhưng bối rối và lo lắng. Họ bối rối lo lắng vì họ sợ Hài nhi này sẽ trở thành kẻ tranh giành quyền lực, địa vị của họ, việc Vua người Do Thái hạ sinh là điều họ không mong đợi.
Nhà vua triệu tập các thượng tế và kinh sư để hỏi về nơi Đấng Cứu Thế giáng sinh, những người này đã chỉ một cách chính xác lời Kinh Thánh : Tại Belem, đất Giuda. Tuy nhiên, cả nhà vua và các thượng tế, luật sĩ sau khi nghe biết về vị trí Đấng Kitô hạ sinh, họ không lên đường, không tìm kiếm, không quan tâm. Các thượng tế và luật sĩ nghĩ rằng, ơn cứu độ đương nhiên thuộc về dân Do Thái, vì thế, họ không cần cố gắng để tìm kiếm, khám phá. Các thượng tế và luật sĩ đã ở lì trong tình trạng khô khan, chai cứng của tâm hồn, khiến cho tin vui Giáng Sinh không lay động được tâm hồn họ. Còn vua Herode thì đón nhận tin mừng này với sự ghen tị vì sợ Đấng Cứu Thế sẽ giành chỗ của ông. Vì thế, ông đã lên một kế hoạch, một âm mưu đen tối để tìm cách loại trừ Đấng Cứu Thế ra khỏi thế giới.
Trái lại, các đạo sĩ là những người dân ngoại, họ có một thái độ thành tâm thiện chí bước vào hành trình tìm kiếm đức tin, tìm Đấng Cứu Thế. Những đạo sĩ này tuy không được sự chỉ dẫn rõ ràng của các ngôn sứ, nhưng họ đã dựa vào các dấu chỉ của thiên nhiên để nhận ra Thiên Chúa. Thánh Matthew cho thấy hành trình tìm kiếm của họ đã trải qua rất nhiều khó khăn, thử thách. Nhìn thấy ánh sao lạ xuất hiện, họ tin rằng một Quân Vương đã xuất hiện, họ đã dám bỏ lại tất cả : gia đình, nhà cửa ruộng vườn để lên đường. Họ ra đi cũng có những lúc phấn khởi hăng say, song cũng có những lúc dường như rơi vào tối tăm mù mịt, mất phương hướng, vì không thấy ánh sao dẫn đường. Những lúc như vậy, các đạo sĩ không buông xuôi thất vọng, nhưng đã dùng những phương thức tự nhiên để tìm kiếm Chúa, họ vào hỏi thăm nơi cung điện của Herode, vì nghĩ rằng : Vua thì phải được sinh ra trong cung điện.
Những lúc tăm tối, Thiên Chúa lại dùng ánh sao để khích lệ, nâng đỡ đức tin còn non yếu của họ, Ngài cũng từng bước thanh luyện đức tin và cái nhìn của họ về Đấng Cứu Thế. Các đạo sĩ đã thấy ngôi sao dừng lại nơi Hài Nhi ở, họ vui sướng vô cùng. Khi bước vào, điều họ nhìn thấy không phải là một cung điện sang trọng lộng lẫy, những con người mà họ gặp không phải là ông hoàng bà chúa, nhưng lại là một khung cảnh rất đỗi bình dị. Thấy Hài Nhi, họ liền sấp mình thờ lậy Người. Chi tiết này cho thấy một bước nhảy vọt trong đức tin của các đạo sĩ. Nếu như trước đây họ còn hình dung Vua người Do Thái sẽ là một hoàng tử giàu sang trong cung điện của Herode, thì nay họ chỉ thấy Hài nhi trong một khung cảnh nghèo nàn và đã sấp mình thờ lậy Người. Sấp mình thờ lậy là thái độ tin nhận, tôn thờ Hài Nhi như là một vị Thiên Chúa.
Thái độ tiếp theo, họ dâng cho Chúa những lễ vật là tài sản quý giá nhất : vàng, nhũ hương và mộc dược. Họ không còn giữ cho riêng mình điều gì, cũng không nghĩ gì đến hành trình trở về, họ không cần biết tương lai sẽ như thế nào. Tin Mừng ghi lại : Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp Herode nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình. Sau khi đã gặp được Đấng Cứu Thế, các đạo sĩ đã được biến đổi, họ tiếp nhận một tinh thần mới và con người mới. Họ không quay trở lại với con đường của thế gian và những mưu mô chính trị của Herode, nhưng đã quyết tâm để sống một lối sống mới và đi một con đường mới.
Câu chuyện Chúa tỏ mình cho các đạo sĩ cho thấy, Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người. Những ai thành tâm thiện chí tìm kiếm Chúa, sẽ được gặp Chúa và ai được gặp Chúa sẽ được Thiên Chúa biến đổi nên những con người mới. Thánh Phaolô cũng đã chia sẻ với cộng đoàn Epheso về tình thương đặc biệt Chúa đã ban cho ông và cộng đoàn, đó là được nhận biết Đức Giêsu và Tin Mừng của Người. Màu nhiệm này, Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí để mặc khải cho cho các tông đồ. Màu nhiệm đó chính là màu nhiệm Thiên Chúa ban cho dân ngoại được thừa hưởng ơn cứu độ cùng với người Do Thái. Thiên Chúa đưa dân ngoại về, để làm nên một dân và một thân thể của Chúa, cùng được chia sẻ gia nghiệp Nước Trời như Chúa đã hứa.
Đa số chúng ta là những người được biết Chúa từ truyền thống gia đình và chúng ta nghĩ rằng mình biết nhiều về Thiên Chúa và Tin Mừng của Ngài. Thực ra, nhiều tín hữu chỉ biết về Chúa Giêsu, chỉ nghe nói về Ngài, nhưng chưa bao giờ tìm kiếm Ngài và cũng chưa được gặp Ngài. Chúng ta an phận với một số điều giáo lý được học khi còn nhỏ, giống như các thượng tế và luật sĩ trong câu chuyện, mà không chú ý đến việc đào sâu khám phá và tìm kiếm đức tin của mình, không thiết tha để tìm gặp Thiên Chúa. Vì thế, đời sống đạo của chúng ta thiếu trưởng thành, thiếu hiểu biết về Thiên Chúa và nhất là, vì không tìm gặp Thiên Chúa, nên chúng ta không được biến đổi, không có một lối sống phù hợp.
 Thiên Chúa muốn cho mọi dân được hưởng ơn cứu độ, Ngài muốn mỗi chúng ta trở thành ánh sao sáng để mọi người nhìn vào có thể nhận ra Thiên Chúa đang ở trong chúng ta, qua đời sống và hành động của chúng ta, sẽ dẫn họ đến gặp Thiên Chúa.
Thiên Chúa cũng đang muốn dùng mỗi gia đình, như là nơi chiếu tỏa lòng thương xót của Chúa cho các thành viên trong gia đình và cho mọi người chung quanh. Thế giới, xã hội ngày nay dường như dư thừa sự ác và bạo lực, nhưng lại thiếu thốn nghèo nàn lòng xót thương. Vì thế, mỗi người, mỗi gia đình Công giáo cần phải trở thành máng chuyển tình thương của Chúa cho anh chị em cách cụ thể, qua lời nói, việc làm yêu thương của chúng ta dành cho nhau. Chúng ta phải sống và cư xử với mọi người sao cho mọi người được cảm thấy an tâm, an toàn, được yêu thương, đón nhận và được cảm thông khi gặp gỡ, tiếp xúc và khi sống cùng với chúng ta.
Cầu chúc cho mỗi người trở thánh ánh sao của lòng thương xót Chúa chiếu tỏa cho những người chung quanh, đặc biệt các anh chị em lương dân, giúp họ nhận ra Thiên Chúa là Đấng giàu lòng xót thương. Amen.

Về mục lục

.

 

THẮP LÊN MỘT NGỌN NẾN

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Lời Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a hôm nay được vang lên như một thôi thúc, một lời mời gọi tha thiết, giục chúng ta phải toả sáng: “Hãy đứng lên, bừng sáng lên! … Kìa bóng tối bao trùm mặt đất và mây mù phủ lấp chư dân…” (Is 60,1-6).

Hôm xưa, Thiên Chúa đã nhờ ngôi sao lạ để soi đường dẫn lối cho các nhà chiêm tinh ngoại giáo đến thờ lạy Chúa hài nhi tại Bê-lem, thì hôm nay, Ngài cũng cậy nhờ chúng ta như những ánh sao Bê-lem mới để dẫn đưa muôn dân về với Chúa (Mát-thêu 2, 1-12). Chúa Giê-su dạy: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian… Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,14.16).

Thánh Phao-lô kêu gọi: “Giữa một thế hệ gian tà sa đoạ… anh em hãy chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời” (Philip 2,15).

Biết bao người còn đang chìm trong bóng tối, vì thế, trở nên một ngọn đèn, một ánh sao trong đêm tối là điều rất quan trọng.
 

Nếu chúng ta không thể là “ánh sáng cho trần gian” như lời Chúa Giê-su truyền dạy hoặc không thể là “ngôi sao trên vòm trời” như lời thánh Phao-lô mời gọi, thì ít nữa, chúng ta cũng phải là một “ngọn nến” nhỏ trong gia đình, trong khu xóm của chúng ta.

Cùng nhau thắp nến

Một ngọn nến nhỏ không toả sáng nhiều, nhưng nhiều ngọn nến dần dần được đốt lên sẽ làm sáng tỏ cả một không gian rộng lớn. Việc tốt của một người chưa có ảnh hưởng bao nhiêu, nhưng việc tốt của nhiều người sẽ mang lại ảnh hưởng lớn.

Trong đêm vọng phục sinh, sau nghi thức làm phép lửa và nến phục sinh, đang khi cả nhà thờ chìm trong bóng tối… ánh nến phục sinh trong tay linh mục chủ tế từ cuối nhà thờ từ từ tiến lên, tiến lên… Rồi ánh lửa này được thắp cho vài cây nến nhỏ của các em lễ sinh. Và các ngọn lửa từ tay lễ sinh lại truyền qua cho những người kế cận và cứ tiếp tục như thế. Thế rồi chỉ trong chốc lát, cả nhà thờ bừng sáng trước hàng trăm ngọn nến lung linh.

Nếu chúng ta để cho ánh lửa của yêu thương và việc tốt bừng cháy lên trong đời mình, rồi để cho lửa ấy tiếp tục lan sang những người kế cận… thì hy vọng một ngày không xa, cả phố phường làng mạc sẽ được bừng sáng.

Mỗi ngày làm một việc tốt

Hằng ngày, các phương tiện truyền thông như báo chí, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình… đề cập đến nhiều thứ “bóng tối” đang bao trùm xã hội. “Bóng tối” của khủng bố, của chiến tranh, bạo lực, của nạn buôn người, của ma tuý, mại dâm, của văn hoá đồi truỵ, của thực phẩm độc hại… Nhìn đâu cũng thấy tệ nạn. Đạo đức suy sụp, luân lý suy đồi…

Trước tình hình đó, người thì quy trách cho các nhà lãnh đạo yếu kém; người khác thì đổ lỗi cho thế lực này, cho tổ chức kia; người thì phê phán các cơ chế đã làm phát sinh những tệ nạn đó… Thế là người ta đua nhau nguyền rủa “bóng tối” mà không tìm cách thắp lên một ngọn đèn. Nếu ai cũng cứ ngồi nguyền rủa bóng tối mà chẳng ai chịu thắp đèn thì “bóng tối” ngày càng lan rộng, càng dày đặc thêm.

Tại sao chúng ta không quyết tâm thắp lên một “ngọn nến nhỏ” cho gia đình hay thôn xóm mình, thay vì ngồi khoanh tay nguyền rủa “bóng tối”? Mỗi người hãy thắp lên nơi mình một ngọn nến ngay từ ngày hôm nay.

Mỗi ngày hãy thắp ngọn nến của mình lên bằng cách làm một việc tốt, như mỉm cười chào hỏi người hàng xóm khó thương, ủi an người gặp khó khăn gian khổ, thăm người già yếu bệnh tật… Nay một việc tốt, mai một việc tốt, mỗi tháng có đến 30 việc tốt, mỗi năm có 365 việc tốt thì thật tuyệt vời!

Nếu chúng ta nhẫn nại thắp nến hằng ngày như thế, chắc chắn, bóng tối sẽ bị đẩy lùi, ánh sáng sẽ toả lan, gia đình và làng xóm sẽ an vui hạnh phúc.

Lạy Chúa Giê-su,

Xin giúp mỗi người chúng con quyết tâm làm một việc tốt mỗi ngày. Đó là bổn phận của người tín hữu vốn là ánh sáng trần gian. Đó là lễ vật cao đẹp mà Chúa ưa thích và chờ đợi nơi chúng con mỗi ngày. Đó cũng là ánh nến nhỏ mà chúng con cần phải thắp lên để đẩy lùi bóng tối đang bao phủ phố phường, thôn xóm chúng con.

Xin cho chúng con biết thắp lên một ngọn đèn còn hơn là nguyền rủa bóng tối.

Về mục lục

.

 

LÊN ĐƯỜNG TRONG HY VỌNG

John.W.Martens

 Văn Hào, SDB chuyển ngữ

 “Vua người Do Thái mới sinh ra ở đâu?”(Mt 2,2).

Mùa hè năm trước, gia đình tôi thực hiện một chuyến đi xuyên quốc gia bằng xe hơi, khởi hành từ Minnesota, nước Mỹ đến Vancouver, nước Canada. Mục đích của chuyến đi xa, là chúng tôi sẽ chở về nhà chiếc ghế dài để lưu giữ làm kỷ niệm. Đây là chiếc ghế do ông cố của tôi đã tự đóng lấy, khi ông mới đến định cư tại Canada. Chúng tôi coi đó như vật kỷ niệm của gia đình, kỷ vật đầu tiên ông cố tôi để lại. Hồi đó, ông cố của tôi đã khá lớn tuổi, không thể cáng đáng vườn tược, nên công việc chính của ông, là ở nhà giữ cháu. Và để trông coi những đứa trẻ chơi ngoài sân, ông đã tự đóng lấy cái ghế để ngồi.

Chúng tôi lên đường và dự trù lái xe khoảng hai tiếng, nhưng bất ngờ tôi sực nhớ đã để quên giấy thông hành ở nhà. Thế là chúng tôi phải quay ngược về, làm cho chuyến đi mất thêm bốn giờ lái xe. Đây là một sự cố đáng tiếc xảy ra ngoài mong muốn. Cuộc hành trình của chúng tôi còn xảy ra nhiều chuyện trục trặc khác nữa không lường trước cũng giống như vậy. Tuy nhiên, vì chuyến đi có mục đích, nên những bất trắc xảy ra cũng chẳng hề hấn gì, khi chúng tôi đã đến nơi, và đạt được mục đích mong muốn.

Ngay gần cổng ngôi nhà mà chúng tôi đến,  chiếc ghế cũ kỹ vẫn còn đặt ở đó. Nó đã được chế tạo gần 90 năm rồi. Cái ghế đó không giống ai. Nó rất giản dị, mộc mạc, cũng chẳng được đóng bằng đinh cái đinh nào. Nhưng, chúng tôi rất trân trọng gìn giữ chiếc ghế, vì nó liên quan đến những kỷ niệm thân thương nhất trong gia đình tôi. Từ bối cảnh gia đình ấy, con đường khai dẫn đến tương lai của chính chúng tôi được mở ra. Chúng tôi đã lái xe một quãng đường khá dài để trân trọng mang chiếc ghế về nhà, lưu giữ nó như một kỷ vật quý báu.

Theo Tin Mừng Matthêu, các nhà đạo sỹ biết họ sẽ thực hiện một cuộc hành trình dài để đi về đâu, và họ biết “con trẻ” mà họ sẽ kiếm tìm là ai? Vì vậy, họ hỏi “Vua người Do Thái mới sinh ra ở đâu? Chúng tôi đã thấy ngôi sao lạ khi nó mọc, và chúng tôi đến để triều bái, dâng lễ phẩm cho Ngài”. Cha Raymond E. Brown S.S nhắc cho chúng ta biết rằng, vượt xa những thực tại lịch sử nơi cuộc hành trình của ba vị đạo sĩ, Tin mừng Matthêu còn vén mở cho chúng ta thấy những thực tại linh thiêng sâu xa hơn. Kinh Thánh của người Do Thái đã tiên báo về thực tại đó, và đây là lúc khải thị cho thế giới lương dân biết về sự tỏ hiện thần linh của chính Đức Giêsu Đấng Messia, Đấng mà người Do thái vẫn luôn được nhắc đến, và họ vẫn mãi mòn mỏi đợi chờ.

Tuy nhiên, dọc suốt quãng đường dài từ Ba Tư, Babylon hay Ả Rập, chúng ta hỏi xem các vị đạo sĩ đã trải nghiệm điều gì khi họ đặt chân đến Bêlem? Cuộc hành trình vất vả, dài đằng đẵng có làm cho họ nản lòng muốn quay trở về hay không? Matthêu không đặt chú tâm vào cuộc hành trình  khá gian nan đó, và Thánh ký chỉ muốn nhấn mạnh rằng, cuối cùng các vị đạo sĩ đã đến, đã gặp gỡ được Hài nhi Giêsu, đã khám phá ra nguồn mạch ơn cứu độ.

Tuy nhiên, khi đến Belem, họ vẫn còn thiếu một cái gì, nên đã đến với Hêrôđê để hỏi ông ta. Điều họ thiếu, chính là nội dung mạc khải đã được công bố từ lâu cho người Do Thái, như Tin Mừng Matthêu trình thuật lại, được trích dẫn qua lời các ngôn sứ Mi 5,1 và Sam 5,2: “Hỡi Bethlem, đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Guiđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel sẽ ra đời”.

Riêng đối với ba vị đạo sĩ, “khi họ thấy ngôi sao lạ lại xuất hiện, họ rất vui mừng. Bước vào nhà, họ gặp thấy con trẻ cùng với Maria thân mẫu Ngài. Họ quỳ gối tiến dâng phẩm vật, rồi họ mở tráp, lấy ra vàng, mộc dược, nhũ hương để dâng kính”. Nếu lên đường ngập tràn trong hy vọng, thì những thất vọng và lo âu sẽ được hóa giải hoàn toàn, khi chúng ta đã đạt đến đích của cuộc hành  trình.

Họ sẽ trở về nhà cẩn trọng hơn, vì đã được báo mộng đừng trở lại với Hêrôđê. Chúng ta sẽ không sai, khi kỳ vọng rằng con người của họ sẽ được biến đổi khi trở về, bởi vì họ đi về mang theo một ánh sáng mới. Chúng ta so sánh ba vị đạo sĩ với Hêrôđê, hai hình ảnh hoàn toàn tương phản. Hêrôđê cũng biết Kinh Thánh. Ông ta cũng muốn gặp vua người Do Thái mới sinh, nhưng lộ trình mà Hêrôđê gợi ra chỉ là con đường chìm trong tăm tối và tuyệt vọng. Hài nhi Giêsu, đã trở nên như một mối đe dọa đối với quyền lực và ngai báu của ông ta. Giêsu là niềm hy vọng cho con người và cho thế giới, nhưng niềm hy vọng đó đã bi Hêrôđê hủy diệt và bóp chết ngay từ trong tâm hồn chai cứng của ông ta.

Có lẽ, các nhà đạo sĩ đã phải đối diện với những câu hỏi được đặt ra: tại sao họ lại phải vất vả đi khá xa như thế, đến tìm Hài Nhi mới sinh để làm gì? Tại sao họ lại đi theo ánh sao lạ? …Để trả lời, chúng ta có thể tóm kết rất giản đơn: Con đường mà họ đã đi qua để đến Belêm là  “con đường của hy vọng”. Đây là con đường không phải chỉ dành riêng cho họ, mà cho mọi người. Cha Brown suy tư tiếp về cuộc hành trình ấy: “Nơi ba vị chiêm tinh, Matthêu nhìn ra sự hiện thực lời hứa của chính Đức Giêsu. “Tôi nói cho các ông biết, nhiều người từ đông sang tây sẽ được ngồi đồng bàn với Abraham, Isaac và Giacóp trong Nước Trời” (Mt 8,11). Cuối cùng, các vị đạo sĩ là chuẩn mẫu để chúng ta cùng bắt chước, cùng dấn bước trên một lộ trình thật sự. Lộ trình đó không phải dẫn chúng ta đi xa, xa mãi, nhưng là lối bước đưa dẫn chúng ta trở về nhà với Chúa. Đây chính là Thiên Chúa, Đấng đã mang lấy thân phận con người và đến cư ngụ giữa chúng ta trong dáng dấp của một thơ nhi bé bỏng, nhưng chính thơ nhi đó sẽ chỉ cho chúng ta con đường về nhà của mình.

Về mục lục

.

 

ÁNH SAO

Lm. Trần Việt Hùng

Các nhà Đạo Sĩ Đông Phương,

Thấy ngôi sao lạ, tìm đường hướng đi.

Dõi theo dấu chỉ thích nghi,

Khi mờ khi tỏ, khi thì biến tan.

Tìm tòi dò hỏi vua quan,

Vua người Do-Thái, thiên ban nơi nào.

Be-lem thành nhỏ biết bao,

Dân thành bối rối, lao xao nghi ngờ.

Họp bàn giáo trưởng mong chờ,

Hê-rô-đê sợ, kính thờ Chúa ta.

Gởi lời nhắn gởi ba hoa,

Các ngài tìm thấy, đến nhà báo tin.

Ánh sao xuất hiện ngước nhìn,

Dẫn đường bước tới, niềm tin sáng ngời.

Trong hang máng cỏ diệu vời,

Hài Nhi cuốn tã, rạng ngời cao sang.

Cúi mình thờ lạy thiên nhan,

Nhũ hương, mộc dược, thỏi vàng tiến dâng.

Thiên Thần mộng báo đỡ nâng,

Ba nhà Đạo Sĩ, xin vâng đổi đường.

Đêm Giáng Sinh, Chúa Hài Nhi đã tỏ mình ra cho các mục đồng là những kẻ đơn sơ và chân thành. Lễ Hiển Linh, Chúa lại tỏ mình ra cho các nhà Đạo Sĩ Đông Phương. Các đạo sĩ là những người ngoại đạo đã lần theo dấu của ánh sao tìm đến hang Belem để tôn thờ Chúa. Các đạo sĩ cũng lần bước đi tìm kiếm, đã có lúc họ tưởng như lạc mất dấu chỉ. Nhưng với sự quyết tâm, họ đã dò tìm, hỏi han và thật tình tìm đến với Chúa.

Họ không quản ngại đường xa, mệt mỏi và đói khát. Ròng rã kiếm tìm dấu lạ trên bầu trời. Ngôi sao lạ xuất hiện như mời gọi lôi cuốn họ đi và đi mãi. Đây không phải là sự ngẫu nhiên tình cờ, nhưng là một sự kiếm tìm chân thành. Họ không biết nhiều về Kinh Thánh, Họ không biết sự loan báo của các tiên tri về Đấng Cứu Thế. Họ cũng không là con dân được tuyển chọn. Họ ra đi vì sự khao khát nội tâm. Ý chí thôi thúc từ bên trong tâm hồn của họ. Họ tìm tới. Các Đạo Sĩ  đã gặp được Chúa.

Trong cuộc lữ hành dù đường xa, họ còn mang theo những lễ vật dâng tiến. Họ đã dâng Chúa của lễ là vàng, nhũ hương và mộc dược. Của lễ quý giá mang ý nghĩa của sự hiến dâng cùng với tấm lòng thành. Chúa đón nhận của lễ họ dâng. Chúa cũng muốn đón nhận họ vào trong gia đình của con dân Ngài.

Chúng ta thấy thái độ của các nhà đạo sĩ rất chân thành. Trong khi đó, thái độ của Vua Hêrôđê, các thầy thượng tế, tư tế và con dân ở Belem lại thờ ơ với dấu sao lạ. Họ biết sao lạ xuất hiện, nhưng họ không muốn tìm hiểu. Họ học biết Kinh Thánh, biết Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra tại Belem. Họ biết nơi Chúa sinh gần cận bên, nhưng mọi người đều xem thường việc Chúa viếng thăm. Họ không muốn ngẩng mặt lên để nhìn dấu lạ từ trời mà chỉ cúi xuống tìm những sự trần thế. Họ đã bỏ mất cơ hội quý báu để gặp gỡ Thiên Chúa làm người. Và thế là cuộc lỡ này kéo theo cuộc lỡ khác. Sau cùng họ đã chối từ Chúa và chính họ giơ tay hô xin giết đi, giết đi, đóng đinh nó vào thập giá. Họ đã không gặp được Chúa.

Dõi theo bước chân của các nhà đạo sĩ, chúng ta hãy ngước mắt nhìn lên và tìm kiếm những sự trên cao. Cùng rảo bước tìm về bên Chúa như các nhà đạo sĩ để tôn thờ và dâng hiến lễ vật. Chúa cho chúng ta rất nhiều cơ hội để đến và gặp gỡ Ngài. Chúa Kitô chính là ánh sáng đến trong đêm tối. Tiếp nhận ánh sáng là tiếp nhận chính Chúa Kitô. Chúng ta sẽ được bước đi trong ánh sáng cứu độ của Chúa. Ước chi ánh sáng của Chúa được tiếp tục tỏa lan tới cùng bờ cõi trái đất.

Về mục lục

.

 

ÁNH SAO RỰC RỠ

AM Trần Bình An

Sao chổi Halley, tên được đặt chính thức là 1P/Halley một sao chổi được đặt tên theo nhà thiên văn học người Anh Edmund Halley, có thể nhìn thấy cứ mỗi 75 đến 76 năm.

Theo ghi chép thì những người đầu tiên phát hiện thấy sao chổi Halley là hai nhà thiên văn học người Trung Quốc, họ đã phát hiện thấy dấu hiệu của một ngôi sao di chuyển với tốc độ rất lớn vào năm 239 trước Công nguyên. Sao chổi Halley cũng là sao chổi đầu tiên được phát hiện trong lịch sử thiên văn.

Khi sao chổi Halley trở lại vào năm 164 tCN và 87 tCN, có lẽ nó được lưu ý trong các ghi ghép của người Babylon, nay được lưu trữ tại Bảo tàng Anh quốc ở London. Lần xuất hiện nổi tiếng nhất của Halley xảy ra không bao lâu trước cuộc xâm chiếm nước Anh năm 1066 của đội quân William. Người ta nói rằng Wiliam đã cảm thấy ngôi sao chổi báo trước sự thành công của ông. Dù sao thì sao chổi ấy đã được đưa vào Thảm thêu Bayeux để tôn vinh William.

Một lần xuất hiện khác của sao chổi Halley vào năm 1301, có lẽ đã truyền cảm hứng cho họa sĩ người Italy Giotto di Bondone vẽ bức tranh ngôi sao Bêlem trong “Ba đạo sĩ chiêm bái Chúa” theo từ điển Bách Khoa Britannica.

Tuy nhiên, các nhà thiên văn trong những thời đại này mỗi người xem sao chổi Halley là một sự kiện riêng. Các sao chổi thường được xem là điềm báo thảm họa hoặc biến cố.

Ngay cả khi Shakespeare viết vở kịch “Julius Caesar” vào khoảng năm 1600, đã viết rằng, các sao chổi là điềm báo: “Khi những kẻ ăn mày chết gục, không có sao chổi nào xuất hiện cả; chính bầu trời báo hiệu sự ra đi của hoàng tử.” 

Edmond Halley xuất bản cuốn “Toát yếu Thiên văn học Sao chổi” vào năm 1705, lập danh mục những gì ông tìm thấy từ việc nghiên cứu số liệu lịch sử 24 sao chổi, xuất hiện gần Trái đất từ năm 1337 đến 1698. Ba trong số những quan sát này dường như rất giống nhau về quỹ đạo và những thông số khác, khiến Halley đề xuất rằng, đó chính là một sao chổi đến viếng Trái đất nhiều lần.

Sao chổi đó xuất hiện vào năm 1531, 1607 và 1682. Halley đề xuất rằng chính sao chổi đó có thể trở lại Trái đất vào năm 1758. Ông đã không sống đủ lâu, để chứng kiến sự trở lại của nó. Ông qua đời vào năm 1742, nhưng khám phá của ông đã truyền cảm hứng cho những người khác lấy tên của ông đặt cho sao chổi đó. Lần gần đây nhất nó xuất hiện là vào năm 1986 và dự đoán nó sẽ trở lại vào năm 2061. (ngaynayngayxua, Trước công nguyên phát hiện sao chổi Halley nổi tiếng)

Dẫu khoa thiên văn chưa khẳng định sao chổi Halley là ngôi sao Bêlem, nhưng biết đâu đó chính là ánh sao đã dẫn dắt ba vị Đạo sĩ đến chiêm bái Hài Nhi Giêsu, như danh hoạ Giotto di Bondone đã cảm hứng vẽ bức tranh “Ba đạo sĩ chiêm bái Chúa.” Tin Mừng Matthêu hôm nay thuật lại ba Đạo sĩ theo ánh sao lạ, tìm đến chiêm bái Hài Nhi. Đến Giêrusalem thì ngôi sao biến mất, các vị vào nhờ nhà vua Herôđê chỉ giúp. Sau khi đến bái lạy Hài Nhi, ba  vị  Đạo sĩ được báo mộng về lối khác tránh vị hôn quân khát máu.

Ánh sao dấu chỉ 

Ngôi sao lạ là dấu chỉ cho ba Đạo sĩ khao khát tìm Chúa Cứu Thế. Tuy sáng vằng vặc giữa trời đêm, nhưng chỉ những ai thành tâm, thiện chí, mới nhìn thấy, mới có thể thấu hiểu được đó là dấu chỉ vĩ đại “Đấng Emmanuel, Thiên Chúa Ở Giữa nhân loại.” 

Dưới thiên hình vạn trạng, dấu chỉ có thể là hiện tượng thiên nhiên như ngôi sao lạ, động đất, sóng thần, có thể tin vui, tin buồn, có thể tình huống, hoàn cảnh éo le, khó khăn, thành công, thuận lợi, hay thất bại, trớ trêu. Dấu chỉ cũng có thể là chính thái độ của tha nhân gần gũi, hay xa lạ. Tất cả đều có thể là điều Chúa muốn gửi đến, nhắn nhủ, cảnh báo, hay hướng dẫn những ai thiện tâm, tích cực hướng thượng. Biết nhìn lên, thoát khỏi những phù phiếm thế gian, để tận tình tìm hiểu Thánh Ý Chúa chỉ dạy.   

“Cảnh sắc bầu trời thì các ông biết cắt nghĩa, còn thời điềm thì các ông lại không cắt nghĩa nổi.” (Mt 16, 3) Thiếu thiện chí tìm sự thật, thì làm sao thấu hiểu được công trình cứu độ của Đấng Thiên Sai? Làm sao nhận được Thánh Ý Chúa lặng lẽ gửi đến qua dấu chỉ?

Ánh sao rực rỡ“Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Đông phương, lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở.”  Dấu chỉ này chứng tỏ cho mọi người, tất nhiên cả dân ngoại, nhận biết rằng, Hài Nhi là Ngôi Sao cực kỳ rực rỡ vô song, muốn tỏ mình cho mọi người. Người không phải là một đại minh tinh hay một super star nhất thời, mau chìm vào lãng quên như dàn sao Hollywood lẫy lừng.

Ngôi sao Hài Nhi âm thầm, lặng lễ giáng thế, chẳng cần truyền thông loan tải ầm ĩ, chẳng cần chiêng trống rềnh rang. Chỉ có các ngôn sứ tiên báo và bấy giờ chỉ có thiên thần hân hoan ngợi ca trên trời. Dẫu vậy, riêng những tâm hồn bé mọn, chân chất, đơn sơ, như các mục đồng, thành tín, chân thật, cung kính, như ba Đạo sĩ, mới được mời gọi đến chiêm bái Hài Nhi, trong khi thiên hạ đều dửng dưng, hờ hững chẳng đoái hoài đến Người. “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.” (Ga 1, 11)

 Ánh sao dẫn đường

Sau khi vâng lời thiên thần báo tin, các mục đồng vội vã lên đường đến bái lạy, chiêm ngưỡng Hài Nhi.“Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.”  (Lc 2, 17-18) Ba Đạo sĩ sau khi bái lạy và dâng lễ vật cho Hài Nhi, nhận được lời mộng báo đừng trở lại với Hêrôđê, họ đã qua đường khác trở về xứ sở mình. Hẳn nhiên, họ không đem Tin Mừng đến cho vua Hêrôđê bất chính, bất nhân, mà đem đến những ai thành tâm muốn tìm đến Hài Nhi.

Như thế các mục đồng và ba Đạo sĩ đều trở nên những ánh sao nhỏ, Tuy chỉ sáng lung linh, nhưng cũng có thể dẫn đường cho những ai ao ước, yêu mến chân lý, sự thật và sự sống viên mãn.

“Mất để được, chết để sống, từ để gặp. Ba Đạo sĩ liều hiểm nguy, chế nhạo; Phanxicô liều xa cha mẹ, mất của cải, thú vui, Goretti liều mạng sống.” (Đường Hy Vọng, số 8)

Lạy Chúa Hài Đồng, xin soi sáng dẫn đường chúng con luôn tìm thấy Chúa, nguồn ánh sáng cứu độ, cho chúng con luôn gặp Chúa trong mọi nơi, mọi lúc, để canh tân chúng con, biến cải chúng con thành ngôi sáng đến với tha nhân.

Kính xin mẹ Maria, Ngôi Sao sáng giữa đêm đen thế gian, xin luôn chỉ đường cho chúng con tìm thấy Chúa, cho chúng con khỏi lạc bước, xa Chúa. Kính xin Mẹ gìn giữ chúng con luôn  mãi trong tình yêu của Chúa. Amen.

Về mục lục

.

 

VÌ SAO GỌI LÀ LỄ BA VUA?

JM. Lam Thy

Trong một cuộc mạn đàm nhân dịp nghỉ lễ Giáng Sinh, một ông bạn già đặt câu hỏi: Trước đây ở Việt Nam thường gọi Chúa nhật kỷ niệm 3 vị đạo sĩ phương Đông tới viếng Chúa Hài đồng Giê-su là lễ Ba Vua, mãi về sau này mới gọi đó là lễ Chúa Hiển Linh. Tại sao lại gọi 3 nhà “đạo sĩ” là ba vua? Tìm hiểu trong Thánh Kinh thì được biết: Nguồn gốc Lễ Ba Vua tới viếng hang đá Bê-lem xuất phát tù Cựu Ước. Bài đọc 1 hôm nay (Is 60, 1-6) là một minh họa: “Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước.” (Is 60, 3). Thánh vịnh 72 (câu 10-11) cũng trình thuật: “Từ Tác-sít và hải đảo xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống. Cả những vua Ả-rập, Xơ-va, cũng đều tới tiến dâng lễ vật. Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự.” Như vậy, đến viếng Hài Nhi Giê-su có đủ các thành phần, từ hàng vua chúa tới dân chúng và cả các sinh vật. 

Theo sách Thánh Kinh tiếng La-tinh thì câu trình thuật sự kiện 3 nhà đạo sĩ phương Đông tới triều bái Hài Nhi Giê-su được viết là: “Cum autem natus esset Jesus in Bethlehem Judæa in diebus Herodis regis, ecce Magi ab oriente venerunt Hierosolymam” (Mt 2, 1). Trước đây, khi chưa có Kinh Thánh tiếng Việt, nên gọi nôm na tiếng “Magi” là “Vua” và gọi lễ này là “lễ Ba Vua”. Còn vì sao không phải là 4 hay 5 vua mà chỉ có 3 vua? Căn cứ theo nhãn giới của ngôn sứ Isaia trong Bài đọc 1 (Is 60, 1-6), nếu đọc cả chương 60 của sách này thì thấy rõ chỉ có 3 sắc dân được trình thuật, mà cũng vì lễ vật tiến dâng thì thấy liệt kê có 3 món mà chỉ có các nhà quyền quý (vua chúa) mới sử dụng, đó là: Vàng, Nhũ hương và Mộc dược. Như vậy thì gọi họ là ba vua là phải lẽ. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là lo xác định họ là vua hay không phải là vua, họ có ba vị hay có thể có nhiều hơn nữa, mà chính là nhãn giới của Giáo hội đã nhìn họ như hình ảnh sống động của những ai có một lòng khát khao chân thành tìm kiếm Thiên Chúa khởi đi từ những tấm lòng thiện hảo, tốt lành. Và phải chăng niềm khát khao tìm kiếm chân lý đó chính là nguồn cội của một đức tin chính đáng? 

Sau này, ban Dịch thuật Kinh Thánh Hội Đồng Giám Mục Việt Nam dịch câu tiếng La-tinh nêu trên là: “Khi Đức Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem.” (Mt 2, 1). Chữ “Magi” được dịch là “nhà chiêm tinh” thay vì “nhà vua”. Nguyên nghĩa tiếng “Magi” là: Người có hiểu biết sâu rộng và chín chắn: nhà thông thái, bác học, hiền sĩ; nhà chiêm tinh. Ngoài ra, ở Ba Tư thời cổ “Magi” được gọi là “thầy Tư tế” (người lo việc phụng tự có khả năng hiểu biết siêu nhiên). Việt Nam dịch “Magi” là: nhà vua, nhà đạo sĩ, nhà chiêm tinh, nhà bác học, nhà thông thái, Trước Công đồng Va-ti-ca-nô II, phổ biến nhất ở VN là “lễ Ba Vua” (vì có 3 nhân vật thuộc hàng vương giả từ Phương Đông nhờ biết xem sao – chiêm tinh – lại rất am hiểu sấm truyền về Thánh Kinh Cựu Ước, nên mới nương theo vì sao lạ, không quản ngại đường xá xa xôi, đến triều bái Hài Nhi Giê-su). 

Cũng vi gọi là lễ Ba Vua là chú tâm vào người đến triều bái thuộc hàng vương giả, có thể làm cho người đọc, người nghe chỉ chú ý đến “ba vua” mà lơ là đối tượng chính yếu được chiêm bái là Chúa Hài Đồng, nên sau Công đồng Va-ti-ca-nô II, muốn cho mọi người hiểu rõ sở dĩ muôn dân muôn nước (mà đại diện là 3 nhà chiêm tinh, các mục đồng…) đến triều bái Vua Tình Yêu giáng trần, chính là nhờ ánh sáng của vì Sao Chân Lý chiếu tỏa hào quang Thiên Chúa; nên Ủy ban Dịch thuật của HĐGMVN dịch là “Hiển Linh” ( 顯  靈  : bày tỏ sự linh thánh, thiêng liêng). Từ đó, trong lịch Phụng vụ thường xuyên ghi là lễ “Chúa Hiển Linh”. Thông dụng hơn, nhiều người gọi cách nôm na đó là lễ Chúa “Tỏ Mình Ra”. 

Nhiều người cho rằng lần tỏ mình đầu tiên của Đấng Cứu Thế là Đêm Giáng Sinh nơi hang đá Bê-lem (qua nhạc ca tưng bừng cũng như lời loan báo mầu nhiệm Giáng Sinh của các thiên thần, quy tụ mục đồng và chiên lừa tới thở hơi ấm và triều bái Người), đồng thời – qua vì Sao Tinh Yêu diệu kỳ – soi đường dẫn lối 3 nhà đạo sĩ từ phương Đông đem vàng hương mộc dược tới bái kiến nữa. Thực ra, ngay từ khi mới hình thành bào thai trong cung lòng Đức Trinh nữ Maria, Đức Giê-su Thiên Chúa đã tỏ mình ra khiến một bào thai mới được 6 tháng (Gio-an Tiền Hô) đã nhảy lên mừng rỡ trong bụng người chị họ Ê-li-za-bet, cùng với lời chúc mừng của người chị họ: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.” (Lc 2, 42-45). 

Cũng không ít người cho rằng Chúa chỉ tỏ mình ra cho 3 nhà đạo sĩ, còn đối với dân Do-thái (cụ thể là dân thành Giê-ru-sa-lem) và nhất là vua-sát-thủ-Hêrôđê thì không có được vinh dự đó. Thực ra, Chúa đã tỏ mình ra cho tất cả mọi người, nhưng vấn đề đặt ra là khi thấy dấu chỉ hiển linh đó, thì con người có tin hay không và đón nhận như thế nào mà thôi. Các đạo sĩ là dân ngoại tin như vậy chỉ vì một ánh sao, còn “dân nội” Do-thái, nhất là đám thượng lưu trí thức tư tế và luật sĩ có sách Thánh và thuộc Thánh Kinh làu làu, lại không nhận ra Đức Chúa vừa giáng sinh. Thánh sử Gio-an đã chua chát thốt lên: “Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.” (Ga 1, 10-11). Họ đã cứng lòng không tin từ lần tỏ mình đầu tiên cho đến biết bao nhiêu lần khác trong suốt 33 năm Ngôi Lời làm người, để cuối cùng đóng đinh treo Người trên thập giá cho đến chết. 

Còn Hê-rô-đê thì sao? Khác với đa số cho rằng Hê-rô-đê không tin, riêng kẻ viết bài này nghĩ rằng ông ta đã tin lời ba vị đạo sĩ, nên mới “Nghe tin ấy, vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao. Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu.” (Mt 2, 3-4). Nếu không tin thì có cần như thế không? Bình thường, khi nghe hỏi “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu?”, ai cũng nghĩ rằng đó là chuyện hoang đường, vì đối với xã hội loài người, làm gì có người mới sinh ra đã là vua? Nhưng Hê-rô-đê thì lại tin rằng thực sự đã có một ông vua mới sinh, và vì mới sinh đã là vua nên tất nhiên phải là một vị vua quyền lực thượng đẳng có thể làm cho bạo chúa trở thành kẻ trắng tay. Vậy phải bằng mọi cách trừ khử ngay lập tức từ trong trứng nước kẻ đã dám đe doạ ngai vàng của mình sụp đổ. Tất yếu cơn thịnh nộ của hung thần sát thủ sẽ vô cùng khủng khiếp, hàng loạt hài nhi đã bị tru diệt thẳng tay. Thế đấy! Từ vua quan đến sĩ thứ của một dân được coi là “hàng nội 100%” đã đón tiếp Đức Vua Hoà Bình như vậy đó. Và có lẽ cũng vì thế, nên vì tình yêu bao la không phân biệt nội hay ngoại, Thiên Chúa đã dùng vì Sao Tình Yêu để “tỏ mình cho dân ngoại”. 

Ba vị đạo sĩ bằng sụ hiểu biết của mình, đã được chiêm ngắm vì Sao đó, và với tâm đia ngay thẳng bộc trực, đã vô tình chọc giận hung thần Hê-rô-đê; nhưng mặt khác lại chứng tỏ cho thiên hạ (kể cả Hê-rô-đê) biết thực sự đã có một vị Con Trời và là Ông Trời thật, giáng trần. Ngày xưa vẫn gọi vua là Thiên tử (con Trời), mà vị Vua ấy sinh tại Do thái nên mới gọi là Vua Do-thái, chớ thực ra vị Vua ấy không phải là Vua Do-thái theo cách hiểu hạn hẹp của Hê-rô-đê (nói chung là của loài người). Người là Vua, mà còn là Vua trên hết các vua trần gian nữa, bởi “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 18, 36). 

Con người luôn có niềm tin, có tin thì mới sống được. Chính vì thế, nên cần phải xét xem niềm tin đó được thể hiện như thế nào. Tin có một vị vua mới sinh sẽ làm mất ngôi vị độc tôn của mình như Hê-rô-đê, để rồi trở thành kẻ sát nhân máu lạnh khủng khiếp; tin rằng vì vua ấy sẽ làm đảo lộn sinh hoạt xã hội như dân Do-thái, để rồi hoang mang lo sợ và cách này cách khác tiếp tay cho hung thần Hê-rô-đê giết chết đối tượng mà mình đã tin; hay nên tin rằng đó là vị Vua Công Chính, là Cứu Chúa sinh ra để cứu độ nhân loại như 3 vị đạo sĩ phương Đông? Đặt giả thử nếu 3 nhà đạo sĩ cũng bán tín bán nghi như dân Do-thái, thì ánh sao lạ có lôi cuốn được hay không? Chắc chắn đó phải là 3 chiêm tinh gia (biết ngắm sao, biết xem sao) đã tìm hiểu, đã biết và đã tin, và chỉ có như thế thì mới không quản gian lao vất vả, cất công mang vàng hương mộc dược lặn lội từ phương Đông tới để được triều bái Người. 

Tỏ mình ra cho một dân (dân “nội” đàng hoàng) đã luôn miệng huênh hoang kêu “Lay Chúa! Lạy Chúa!” để khoe khoang về niềm tin của mình, nhưng thực chất trong lòng thì rỗng tuếch. Đừng trách chi tầng lớp bình dân của dân nội (Do-thái), mà ngay cả đến hàng ngũ trí thức, lãnh đạo chỉ chuyên “ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy” (Mt 23, 2) như đám thượng tế, kinh sư cũng cách này cách khác cố tình không nhận ra dấu chỉ tỏ mình của Con Thiên Chúa. Hoá cho nên Thiên Chúa đã dùng ngôi Sao Tình Yêu Bê-lem để “tỏ mình ra cho dân ngoại”. Vương quốc của Vương Nhi Giê-su không bó gọn trong phạm vi Do-thái, mà là “Trong Đức Ki-tô Giê-su và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa.” (Ep 3, 6). Như vậy thì ngôi sao Bê-lem đã báo Tin Mừng về mầu nhiệm Tinh Yêu được thực hiên khi “Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại” và đó chính là dấu chỉ mầu nhiệm Giáo Hội trong tương lai. 

Cách đây hơn 20 thế kỷ, Ngôi Hai Thiên Chúa đã tỏ mình ra và được đón tiếp bằng nhiều cung cách: 3 nhà đạo sĩ, các mục đồng tới tung hô triều bái, thậm chí đến cả động vật như chiên, bò, lừa cũng tới để thở hơi ấm cho Vương Nhi Giê-su; nhưng vua quan sĩ thứ của Do-thái thì lại hoang mang lo sợ cho địa vị của mình mà lùng giết Hài Nhi. Tưởng chừng như thế thì không còn lý do gì để Thiên Chúa tỏ mình ra nữa; nhưng trái lại, Thiên Chúa vì tình yêu, vẫn tiếp tục tỏ mình ra cho nhân loại bằng nhiều hình thức, nhiều dấu chỉ. Chúa đã tỏ mình ra với loài người, với thế giới qua vẻ đẹp của vũ trụ, qua những khám phá, những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, qua rất nhiều phép lạ cứu chữa những bệnh nhân, kể cả những người tội lỗi. Không những thế, Người còn tỏ mình ra qua những cử chỉ, những thái độ thành tâm thiện chí của con người, những tấm lòng bác ái, những tổ chức từ thiện trên khắp mặt đất. 

Chúa vẫn đi tìm con người hơn là con người đi tìm Chúa. Và con người ngày nay đã đón tiếp vị Cứu Chúa như thế nào so với thời điểm tỏ mình ra đầu tiên của Người? Cũng có đủ trạng thái không thua gì ngày xưa: Tuy Giáo Hội của Chúa đã lan toả khắp năm châu bốn biển, nhưng tỉ lệ những người tin vẫn là thiểu số so với dân số thế giới; vẫn còn nhiều những dân ngoại – kể cả dân nội “marque déposée” (nhãn hiệu trình toà) đàng hoàng – hoang mang lo sợ, nhưng lại thờ ơ trước những dấu chỉ, những biến cố mình chứng sự hiện diện của Chúa trên trần gian. Rồi cũng còn rất nhiều những sát-thủ-Hêrôđê-thời-đại cách này cách khác lùng giết Hài nhi Giê-su, đóng đinh Cứu Chúa trên thập ác. Ôi chao! Nhiều, nhiều lắm những nạo phá thai, huỷ diệt trứng, tinh trùng, làm cho chết êm dịu, rồi thì cướp của giết người, tranh bá đồ vương, khủng bố, đánh bom tự sát giết hàng loạt dân vô tội… vô cùng khủng khiếp!!! 

Ôi! Lạy Chúa Hài Đồng! Ngôn sứ Isaia đã tiên báo từ 5 thế kỷ trước khi Chúa tỏ mình ra tại Bê-lem: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của ĐỨC CHÚA như bình minh chiếu toả trên ngươi.” (Is 60, 1). Chúng con biết chắc chắn rằng “ánh sáng của chúng con đã đến rồi” không chỉ bằng vì Sao Tình Yêu Bê-lem, mà bằng chính Ngôi Lời nhập thể và nhập thế làm người cứu chuộc chúng con thoát vòng tội lỗi, để có thể chiến thắng sự chết. Không chỉ cách đây hơn 2000 năm, mà hàng ngày, hàng giờ, Chúa vẫn luôn tỏ mình ra ngay tại cung lòng chúng con, trong gia đình, khu xóm, giáo xứ cũng như trên đất nước chúng con và trên toàn thế giới. Ánh Sáng Tình Yêu vẫn luôn chiếu toả chúng con, hiềm một nỗi là chúng con vẫn chưa thực sự cảm nghiệm được mầu nhiệm ấy mà thực hành Lời Chúa dạy: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời;” (Mt 5, 15-16), để được như ngôi Sao Bê-lem hiển linh Tình Yêu của Chúa.

Ôi! “Kìa trông huy hoàng vì Sao, chiếu soi gần xa khắp miền, nào hỡi mục đồng dạy mau. Chớ lo chi, hãy bình yên. Này đây ta báo tin Vui Mừng, giờ đây trong chốn hang lừa, đã sinh ra chính Vua Muôn Trùng. Mau đến Bê-lem kính thờ… ” (TCCĐ “Kìa Trông Huy Hoàng”). Ôi! Lạy Chúa! Con ước ao được là một vì sao thật nhỏ bé (nhưng là bản sao trung thực nhất của Sao Tình Yêu Bê-lem) ở ngay trong gia đình con, để dẫn đường chỉ lối cho con cháu của con biết tìm về Chính lộ: nơi đang sáng tỏ mầu nhiệm Giáng Sinh trong mầu nhiệm Giáo Hội. Và nếu con còn một chút sức lực nào đó, xin cho con được làm một vì sao bé nhỏ trong khu xóm, trong giáo xứ của con nữa. Xin Chúa thương ban Thánh Linh cho con để con có thể làm tròn trách vụ một vì sao Ki-tô hữu trong thời buổi nhiễu nhương, vàng thau lẫn lộn này. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.

Về mục lục

.

 

HIỂN LINH CON NGƯỜI ĐƯỢC GIẢI THOÁT

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Theo chú thích trong cuốn Christian Community Bible của hai tác giả Bernard Hurault và Louis Hurault thì ‘vào thời kỳ các sách Tin Mừng được biên soạn, văn chương Do Thái thích đưa ra những truyện tường thuật lại thời thơ ấu của các người hùng trong Kinh Thánh: truyện ông Áp-ra-ham, truyện ông Mô-sê vừa được viết xong. Tương truyền rằng một ngôi sao đã báo cho vua Pha-ra-ô biết một vị cứu tinh của người Híp-ri sắp chào đời, do đó nhà vua quyết định giết tất cả các bé trai, nhưng Mô-sê đã được cứu thoát. Trong giới Ki-tô hữu cũng vậy, có những chuyện dân gian thuật lại các mẩu chuyện về thời thơ ấu của Chúa Giê-su mà Tin Mừng không hề ghi chép. Chính trong bầu khí này mà tác giả Mát-thêu mượn lại một số truyền thuyết. Đây là cơ hội cho ông nói rõ, như trong một lời tựa của sách Tin Mừng, sứ mạng của Chúa Giê-su là thế nào’ (Xem ‘Lời Chúa Cho Mọi Người’ Tân Ước, Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, Hà Nội 2006, trang 30).

Câu chuyện ‘Các nhà chiêm tinh đến bái lạy đức Giê-su Hài Nhi’, mà ta quen gọi là biến cố hiển linh hay xưa hơn nữa là sự kiện ‘Ba Vua tới thờ lạy’, được Mát-thêu tường thuật ngay sau đoạn Giu-se được báo mộng về việc Ma-ri-a thụ thai, ‘sẽ sinh một con trai’ và ông sẽ ‘đặt tên cho con trẻ là Yê-su-a’ (Mt 1:18-25). Như thế khi thuật lại truyền thuyết này, tác giả hầu như muốn nêu lên ý tưởng Hài Nhi Giê-su chính là một Mô-sê mới: nhân vật chính mình đã từng là ‘người được cứu thoát’ của Thiên Chúa, và sau này sẽ trở thành cứu tinh của cả một dân tộc. ‘Được cứu’ như Mô-sê, Hài Nhi Giê-su thể hiện nơi mình ước vọng của toàn thể nhân loại, nhưng đồng thời Người cũng là Thiên Chúa Cứu Độ, đúng với cái tên Yê-su-a thiên sứ đã báo trước. Nhân tính và Thiên tính gặp gỡ và kết hợp trọn vẹn nơi Trẻ Thơ Bê-lem là thế; nhân tính Người hiện thân cho nhân loại ‘được cứu thoát’, trong khi thiên tính lại biểu lộ ‘Thiên Chúa tích cực cứu độ’. Ngôi sao định mệnh của Người quả là độc đáo, và đã được nhiều nhà chiêm tinh nhận ra, ‘chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương đông’: ngôi sao chỉ rõ giải thoát và được cứu thoát đã gặp gỡ nhau, và cả hai đều được thể hiện cách trọn vẹn. Khi điều đó được thực hiện tức là nhân loại đã có một số phận mới; lịch sử nhân loại đã hoàn toàn bị đảo lộn. Các nhà chiêm tinh (hay đạo sĩ) cất công lên đường tìm tới bái lạy Hài Nhi chính vì điều này. Đối với họ Hài Nhi phải là một nhà vua vĩ đại, một vị lãnh tụ mới… như các ngôn sứ đã từng nói đến về đấng Mê-si-a: “vì ngươi là nơi, hỡi Bê-lem, vị lãnh tụ chăm dắt Ít-ra-en dân ta sẽ ra đời”.

Như vậy, sự kiện hiển linh (các chiêm tinh gia theo dấu ngôi sao lạ đến bái lạy Hài Nhi Giê-su) đâu phải là hành vi chỉ hiển thị thiên tính cứu độ, mà cả cái nhân tính được cứu thoát cũng được hiển thị nữa. Chẳng vậy mà ngay sau đó tác giả Mát-thêu đã tường thuật tỉ mỉ việc các anh hài bị giết hại còn Hài Nhi thì trốn thoát được qua Ai-cập, rồi ở đó an toàn cho tới khi được gọi về, “Ta đã gọi con ta ra khỏi Ai-cập”. Tương tự như Mô-sẽ không chỉ được sách Xuất Hành giới thiệu như vị cứu tinh oai hùng đưa dân Híp-ri vượt qua Biển Đỏ trở về Đất Hứa, mà còn cho thấy ngài là đứa bé ‘được vớt lên khỏi nước’… trốn chạy an toàn qua Ma-đi-an, rồi được sai trở lại Ai-cập với sứ mệnh giải thoát (Xh 2-3). Giống như các người chăn chiên ngoài đồng, khi các nhà chiêm tinh “vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Ma-ri-a, liền sấp mình thờ lạy Người”, họ không chỉ bái lạy một Thiên Chúa giáng trần, mà vì ‘thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng’ vì biết rằng ơn cứu độ của mình và của toàn nhân loại đang được thực hiện cách trọn vẹn và dứt khoát, trong hình hài của Hài Nhi nhỏ bé.

Hiển linh sẽ không có ý nghĩa gì và chẳng làm ai mừng rỡ nếu chỉ là một sự biểu dương uy quyền, cho dầu đó là quyền uy của Thiên Chúa. Hiển linh của Hài Nhi Bê-lem làm cho hết mọi người mừng rỡ, vì quả thật ‘các nhà chiêm tinh là những tư tế được kính nể của đạo Da-ra-thu-sơ-tra, lại còn là những nhà thiên văn học và thầy bói toán. Ở đây các ông đại diện cho những tôn giáo không biết đến Kinh Thánh’ (xem tác phẩm trích dẫn trên, trang 31). Hài Nhi Yê-su-a hiển linh một Thiên Chúa Cứu Độ đồng thời một loài người được trọn vẹn cứu thoát (trong đó có cả chúng ta – các Ki-tô hữu, nhưng đồng thời cũng bao gồm luôn cả các kẻ tội lỗi, những người vô thần nữa?) Hiển Linh do đó phải khơi nguồn một niềm vui mừng và hy vọng lớn lao cho toàn thể nhân loại. Có lẽ đó là lý do Giáo Hội Chính Thống Đông Phương luôn dành cho ngày lễ này một sự trang trọng lớn lao trong việc cử hành mầu nhiệm Giáng Sinh!

Lạy Hài Nhi với thân mẫu là Ma-ri-a, xin cho con được sấp mình cung kính bái lạy, không phải vì sợ sệt hay kính nể, nhưng vì mừng rỡ và sướng vui. Xin cho con nhận ra trong ngôi sao của Hài Nhi, số mệnh của chính mình đã được ấn định: vì cho dầu con có là ‘ngôi sao xấu số’ tới đâu, thì nó cũng đã là ‘ngôi sao được cứu rỗi’ nhờ ‘Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta’. Xin cũng hiển linh điều này cho hết thảy mọi người, để niềm vui Giáng Sinh được bùng nổ trên khắp cõi trần gian. A-men.

Về mục lục

.

HÀI NHI GIÊSU TỎ MÌNH CHO MUÔN DÂN

P. Trần Đình Phan Tiến

Ba nhà đạo sĩ, hay ba vua, hay ba nhà chiêm tinh là cách nói, cách gọi khác nhau về Ba người từ Phương Đông đã đến triều bái Đức Kitô – Hài Nhi.

Vâng, nói đến những từ ngữ được dùng để chỉ ba nhân vật đến triều bái Chúa Giêsu Hài Đồng, đều đúng hết. Bởi vì, “ đạo sĩ ” có nghĩa là: “ người học đạo” nghĩa là người chuyên tâm nghiên cứu chân lý, để tìm ra sự thánh thiện, sự an lành. Từ “Ba vua “ có ngĩa là : Những người nầy là những người đại diện cho muôn dân, cho nhân loại muôn thế hệ, họ là những người “đầu tiên” ngoại giáo , tức bên ngoài dân tộc Israel, đến thờ lạy “ Đấng Cứu Thế “, như vậy, họ xứng đáng được gọi là “ vua “ . Từ ngữ “ chiêm tinh “ nói đến công việc cụ thể của họ, họ là những chiêm tinh gia từ Phương Đông. Nơi mà chưa biết Thiên Chúa như dân tộc Dothai. Từ đó, chúng ta thấy, từ xa xưa, những con người chưa được Thiên Chúa mạc khải, thì họ cũng biết khao khát chân lý và đi tìm chân lý, đó là khoa chiêm tinh. Họ nghiên cứu những vì sao trên bầu trời, tinh tú để mong đợi, để khát khao ơn cứu độ.

Như vậy, suy đến chúng ta thật là hạnh phúc, vì được Thiên Chúa mạc khải và biểu lộ vinh quang  và ơn cứu độ cho chúng ta qua các vị tiền bối đó.

Chúng ta thấy, quang cảnh Giáng Sinh thật là im lặng, không một chút nô nức của loài người, chỉ có các mục đồng là những người thức đêm canh súc vật của mình, và các thiên sứ từ trời.

Nhưng, hôm nay đây, Thiên Chúa biểu lộ ánh vinh quang từ sự Nhập Thể của Người cho muôn dân, muôn nước. Thiên Chúa thật “ âm thầm “ thật nhẫn nại, thật nhân từ. Thiên Chúa đến với nhân loại, ở với nhân loại và để tỏ lộ tình yêu cho nhân loại như vậy, đến độ chính dân tộc được Thiên Chúa tỏ mình ra cho biết trước, gọi là “ dân riêng “ cũng ngỡ ngàng không tin. Họ, nghĩ rằng Thiên Chúa uy quyền tuyệt đối không thể sinh ra nghèo hèn, yếu ớt, lạnh lẽo về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Vì vậy, hơn hai ngàn năm qua họ không chấp nhận chân lý nầy.

Vâng, kính thưa quý vị, vì lẽ đó, hôm nay đây Thiên Chúa, qua Hài Nhi GIÊSU đẽ tỏ mình ra cho muôn dân, muôn nước. Lễ Hiển Linh , là lễ Thiên Chúa tỏ mình ra cho nhân loại , đại diện là Ba Đạo Sĩ.

Chúng ta thấy hai hình ảnh tương phản rõ nết, chính yếu trong đoạn Lời Chúa hôm nay là : Ba nhà Đạo sĩ và ( tiểu vương ) Herode.

Một bên là nhiệt tâm tìm kiếm “Đấng Cứu Thế” , một bên là âm mưu để bách hại. Một bên, nhờ khoa chiêm tinh học, mà xác định và tin rằng “Đấng Cứu Thế “ xuất hiện

Như vậy, qua công việc của khoa chiêm tinh học , người ta cũng được Thiên Chúa mạc khải. Người ta tin và tìm đến. Minh bạch đến nỗi có một “ ngôi sao “ dẫn đường.

Lễ Ba Vua tưởng chừng không “ quan trọng “ lắm, nhưng, kỳ thực thật là quan trọng. Điều nầy nói lên sự “ làm chứng “ về Đấng Cứu Thế. Không phải để dân tộc Dothai bất tín, bất trung “ độc quyền “ Thiên Chúa theo cách của họ.

Thiên Chúa yêu thương nhưng không độc quyền, từ bi nhưng không nhu nhược, hiền lành , nhưng không yếu thế, ẩn dật nhưng không cô đơn, thương xót nhưng không bị mua chuộc.

Nhìn sang nhân vật Herode, chúng ta thấy , một phàm phu tục tử, từ “ bụi đất “ mà cao ngạo. Từ phàm hèn nhân thế, là loài được tạo dựng, dược sinh ra trong nhung lụa sang giàu. Bất tài trong cai trị, nhu nhược với ngoại bang. Thân thụ tạo , nhưng không khiêm tốn, sự tiên báo về Đấng Cứu Thế có trong Thánh Kinh từ ngàn xưa, nhưng vẫn ngạo mạn. Bề ngoài, thì “ thơn thớt nói cười. Bên trong nham hiểm, giết người không dao “.

Vâng, đó là nhân vật Herode, herode ngày nay cũng không thiếu, đó là hình bóng của satan.

Ba nhà đạo sĩ là những người chân thật, họ đi tìm Hài Nhi GIÊSU để bái lạy, để suy tôn Đấng Cứu Thế. Chúng ta thấy sự uy quyền nhẫn nhịn đến vô cùng của một Ngôi Vị Thiên Chúa làm Người.

Một điểm đáng lưu ý là : ngay cả tại Bethlem, nơi Đấng Cứu Thế Giáng Sinh, mà Thánh Kinh đã tiên báo từ ngàn xưa, ngay tại miền đất Giuda, nhưng , người cai trị là Herode chẳng hề hay biết, nhưng, ba nhà đạo sĩ từ Phường Đông lại tìm đến thờ lạy. Như vậy, Thiên Chúa không bao giờ tỏ mình ra cho kẻ ác, mà chỉ tỏ mình cho người thiện tâm.

Từ đó, suy ra, khi chúng ta thấy những kẻ ngạo mạn xem thương Thiên Chúa là chính vì lý do nầy. Vì , không phải tự phàm nhân nhận ra , biết được Thiên Chúa, mà là phải được Thiên Chúa mạc khải cho.

Đúng như câu mà các Thiên Sứ đã tung hô ngày Chúa Giáng Sinh:

“ Vinh Danh Thiên Chúa trên trời,

Bình an dưới thế cho người thiện tâm “.

Vâng, chỉ có những ai có tâm hồn thiện tâm, họ mới được nhìn xem Thiên Chúa.

Chúng ta thấy, lễ vật để bái thờ Hài Nhi GIÊSU của ba nhà chiêm tin là : Vàng- Nhủ Hương và Mộc Dược. Tượng trưng uy quyền của Hài Nhi, sự tôn thờ của muôn dân, muôn nước đối với Hài Nhi, và sau cùng là “ơn cứu độ”.

Vâng, chúng ta cùng với ba nhà đạo sĩ hiệp thông sự thờ lạy và chúc tụng ấy với tất cả lòng thành kính và tôn thờ.

Lạy  Hài Nhi GIÊSU,. Chúa đã tỏ minh ra cho muôn dân, muôn nước, hầu cho họ nhận được sự tôn thờ trong chân lý và tinh yêu. Chúng con cầu xin nhờ Người mà muôn loài được tạo thành và cứu chuộc./. Amen.

Về mục lục

.

“NGUỒN SÁNG CHIẾU SOI U TỐI”

Lm Uyen Nguyen

 Thông thường, điều gì xuất hiện, sẽ có người hay biết, cho dù con số biết không lớn. Dẫu vậy, dù ít người biết, nhưng qua trải nghiệm, rồi cũng sẽ có thêm nhiều người biết. Nhất là những điều xuất hiện tự thân đầy phẩm chất vượt tầm cỡ! Điều như vậy, có một không hai, chỉ là Giáng Sinh, cuộc sinh hạ Giêsu nơi hang đá Bêlem, từ hai ông bà Maria và Giuse, vào một đêm đông lạnh căm, trên cánh đồng cô quạnh Bêlem!

Đã rõ về con số người hay biết tuy không lớn, dẫu chỉ ít oi, cũng đủ nói lên tính chất đại diện chứng kiến và chứng thực tuyệt đối. Khi đã nói như vậy, người ta thầm nhớ đến ĐGS khi đi rao giảng, Người cũng thích ‘con số ít’, chọn biệt riêng ba tông đồ theo bên Người trong những trường hợp đặc biệt. Như những lần mà ba tông đồ cùng với Người đi vào phòng em bé vừa đã chết để đánh thức sống dậy, ba người được dẫn riêng lên núi Tabor chứng kiến cuộc biến hình, ba người đi cầu nguyện riêng với Người khi đã vào vườn Giếtsêmani!  

Chúa Nhựt hôm nay cũng nói đến con số ba đại diện cho cả vùng thênh thang chìm lỉm trong ‘u tối’ mà nguồn sáng xuất hiện rất hào phóng soi chiếu thông tin. Đó là dành cho ba đại diện là ba nhà chiêm tinh, gốc Phương Đông, chỗi dậy lần tìm đến Bêlem, đến với Con Người vừa mới chào đời trong ánh sao lạ tin báo xuất hiện. Các nhà chiêm tinh thường tin rằng mỗi con người sinh vào đời, định mệnh và danh giá được gắn kết với mỗi vì sao, tầm cỡ hay không, tùy vào kích cỡ và cường độ ánh sao phát sáng!?    

Matthêu, trong đoạn TM trích đọc hôm nay, tường thuật cho người đọc biết được những điều như vậy, ngài viết: “Khi ĐGS ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ Phương đông đến Giêrusalem”( c.1). Bất chấp nẻo đường hành trình vạn dặm, không màng gian nan, cheo leo hiểm nguy, ba nhà chiêm tinh lên đường. Khi họ tiếp cận Giêrusalem, ánh sáng sao bỗng vụt biến. Các ông rơi vào tăm tối mất hướng. Tiến vào yết kiến Hêrôđê đang trong triều đình, như là cách khôn ngoan tìm ra ánh sáng soi đường theo phương án đối phó, họ vào triều yết và hỏi vua Hêrôđê: “Đức vua Do Thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người suất hiện bên Phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”( c.2). Khi còn ở quê hương, họ là những con người được mệnh danh là ‘lầm lũi trong vùng u tối’, giờ đã gặp được ánh sáng hướng dẫn đến kinh đô ánh sáng! Thực ra ở đây, sao chẳng sáng mà cũng đang trong u tối đồng bộ! Bởi lẽ Hêrôđê đã không thấy có dấu gì sẵn sàng hay biết điều đã xảy ra. Để biết, ông cho vời các thượng tế, kinh sư đất nước ông, đến triều yết tra vấn! Các kinh sư và tư tế đền thờ cũng chẳng hơn gì, chẳng có gì là sẵn sàng và hiểu cơ sự. Tất cả cũng chỉ dẫn ra được những lời trong sách ghi chép mang tính tiên tri, ở vào một thời cách mấy trăm năm về trước. Nhưng đối với ba nhà chiêm tinh, từ các thông tin đó, cũng là những gì hữu ích cung cấp ánh sáng còn hơn vẫn chỉ toàn trong mù mờ u tối. Đó là những gì mà theo lời họ trình bày, đáp lời tra vấn của vua họ: “Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách Ngôn Sứ, có chép rằng: Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân ta sẽ ra đời”(c.6)Chính những lời Kinh Thánh này của Do thái không ngờ đã giúp đỡ các nhà chiêm tinh vơi đi nỗi niềm nhọc nhằn lộ hành, cho niềm tin thêm chất kiên cường, và những gì, họ đã dự đoán từ nơi quê hương riêng tư của nhau, dẫn bước họ lên đường đi tìm  vì vua vừa xuất hiện vô cùng vĩ đại, cũng được xác định thâm tín.  

Qua đó, dựa vào vài chi tiết trong tường thuật, mỗi người ngày nay, về phần mình, có thể rút ra được điều gì quý giá áp dụng cho cuộc hành trình để gặp gỡ ĐKT. Với ba nhà chiêm tinh, ánh sáng sao tỏa chiếu rực rỡ, là điều quý giá cần thiết? Ánh sáng sao đó có thật xuất hiện nơi vũ trụ hay chỉ là ánh sáng xuất hiện từ nơi tâm linh dành cho ai hằng biết liên lỉ nghiền ngẫm, tra cứu, lên đường đi tìm kiếm mới có được? Ở đây điều có thể xác định cách quả quyết chính là những gì là sự thật xuất phát từ ĐGS khi đi rao giảng đã quả quyết: “Ai xin thì sẽ được, ai tìm sẽ thấy, ai gõ cửa sẽ mở cho. Anh em cöù xin thì seõ ñöôïc, cöù tìm thì seõ thaáy, cöù goõ cöûa thì seõ môû ra cho( Mt 7,7). Thực vậy, ba nhà chiêm tinh không làm theo như thế, theo điều ĐGS nói như trên sau này, chắc các ông cũng chẳng gặp được điều gì!? Ở đây, điều thiết yếu là thái độ chuyên cần, bền bỉ, chăm chú vào mục tiêu theo đuổi với triển vọng, ‘điều gì đã sẵn’ ắt là phần thưởng của hành động, là kết quả đền đáp trọng hậu. Điều đã sẵn ở đây chính là ý tiên thiên nhiệm mầu của THIÊN CHÚA muốn cho mọi người nhận biết Ngài, gặp gỡ Ngài, tính chất hào phóng của Ngài. Con người kiên tâm gõ cửa, ắt cửa sẽ mở. Đó cũng là tâm tình và thái độ minh họa mô phạm của ba nhà chiêm tinh, một cuộc đời tìm tòi, cả khi bước đầu khởi sự lên đường theo ánh sao dẫn đường không ngại gian lao, cũng như rất nỗ lực vượt qua giai đoạn được xem là bế tắc ở chính tại kinh thành Giêrusalem, khi ánh sáng sao soi đường vụt biến.

Ở đây, trong câu chuyện của Luca, còn phát hiện thêm một điều hệ trọng khác: người của TC là những đối đầu của TC. Tâm tình và thái độ này được bọc lộ chính ở những con người như Hêrôđê và các thượng tế, kinh sư. Trực tiếp và chính diện, tiên thiên là vua Hêrôđê, vị lãnh tụ toàn dân Do Thái. Ngay cuộc gặp gỡ với ba nhà chiêm tinh, vốn dĩ độc ác tham quyền, ông đã nảy sinh trong tâm hồn ý sát hại con trẻ vừa mới sinh để bảo vệ ngai vàng, cụ thể được xem là tài sản bảo đảm không thể thiếu giữ lấy vinh sang phú quý, uy quyền, sự vun thân, cứu cánh an toàn cho sinh mệnh trần thế. Lối sống thực dụng ngày nay trong nhân loại không loại trừ sự tương đồng với quyết tâm này của Hêrôđê. Với các thượng tế và kinh sư, ngay ở đây bây giờ thì chưa có động tĩnh gì, nhưng sau này chính họ cũng trở nên là những người bảo thủ quyền lợi tư riêng để quyết định đương đầu với Đấng hôm nay là con trẻ trong một tương lai liên quan mật thiết với ba mươi năm về sau: họ sẽ đồng thanh đứng lên vu khống, kết tội và lên án tử với hình phạt đóng đinh trên cây thập giá nhân danh gìn giữ chính thống luật Mosê và sự thánh thiện, vẹn toàn đền thờ. Điều này xảy ra không chỉ do tư lợi của bản thân, mà còn bởi, từ khởi đầu, họ đã phạm phải lỗi lầm lớn: là việc thiếu tỉnh thức chờ đợi, thiếu sẵn sàng miệt mài để tâm theo dõi những gì đã, sẽ diễn ra được tiên báo nơi Kinh Thánh Cựu Ước.

Lạy ĐGS là TC nhân lành, Người đã dạy con luôn bền gan tìm gặp Người. Xin nâng đỡ và ban cho con đức bền gan để con biết xem thường những gì khác ngoài theo đuổi tư thế sẵn ở mọi khi trên đường, dù phải gian lao, vì để tìm gặp Chúa.

Về mục lục

.

ÁNH SAO ĐỨC TIN

Lm Trịnh Ngọc Danh 

Một biến cố trọng đại xảy ra tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, đó là biến cố Đức Giêsu ra đời. Các mục đồng thì được thiên sứ hiện ra báo tin. Họ đã đến chiêm ngắm và thờ lạy. Là dân ngoại, mấy nhà chiêm tinh từ phương đông lại khám phá ra vì sao của Đức Vua Dân Do thái vừa mới sinh ra,và họ đã lên đường tìm về Giêrusalem để bái lạy; trong khi đó, vua Hêrôđê và cả thành Giêrusalem thì không hay biết gì, dù trong sách ngôn sứ đã chép: “Phần người, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen dân Ta sẽ ra đời.” 

Cuộc hành trình của ba nhà thông thái về Giêrusalem để bái lạy Vua dân Do thái nói lên niềm khát vọng kiếm tìm chân lý và sự cứu độ. Qua thiên nhiên, họ đã nhận ra ánh sao xuất hiện nơi họ đang sống là dấu hiệu của Vua dân Do thái. Thiên Chúa bằng cách này hay cách khác vẫn tỏ hiện cho con người sự hiện diện và hành động của Ngài. Chỉ những ai bền chí, tin tưởng cố tìm đến Ngài, Ngài sẽ tỏ hiện cho họ. Ba nhà chiêm tinh là những người dân ngoại nhưng qua thiên nhiên, họ đã nhận ra ánh sáng, trong khi đó các nhà lãnh đạo Do Thái có Kinh Thánh, lại không nhận ra. 

Ngày lễ Hiển Linh cho chúng ta thấy: Ơn cứu rỗi của Thiên Chúa không dành riêng cho một số người hay một dân tộc nào, nhưng là cho hết mọi người. Ngài mặc khải và mời gọi người Do thái và dân ngoại cùng chia sẻ như nhau về ơn cứu độ. Ơn cứu độ của Thiên Chúa được mang đến cho hết mọi người, vì tất cả mọi người đều là những chi thể của Thân Thể Đức Kitô. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Êphêxô cũng đã khẳng định: “ Trong Đức Giêsu Kitô và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại cùng được thừa kế gia nghiệp với người Do thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa.”( Ep 3:5) 

Lễ Hiển Linh đã phá vỡ bức tường ngăn cách giữa người Do thái và dân ngoại, phá vỡ những thành kiến, mặc cảm giữa người đã tin và người chưa tin Thiên Chúa. 

Vì sao đã hướng dẫn các nhà thông thái đến với Hài Nhi Giê su, thì nhiệm vụ của những ai đã đón nhận ánh sáng đức tin cũng phải  hướng dẫn chính mình và những người chưa nhận biết Thiên Chúa vượt qua đêm tối để tìm về với ánh sáng.

Một hôm, sư phụ ngạc nhiên nghe thấy tiếng la lối, cãi vã trong sân nhà mình. Hỏi ra thì được biết có một trong những đệ tử của mình đang có mặt trong cuộc cãi vã đó. Ông cho gọi đệ tử ấy vào và hỏi lý do. Đệ tử nọ thưa: “Thưa thầy, có một nhóm học giả đến thăm thầy. Con bảo với họ rằng thầy không có thời giờ cho những người mà đấu óc chỉ ngập đầy những sách vở và tư tưởng, nhưng thiếu sự khôn ngoan. Họ chính là những người, do lòng tự phụ , đã tạo ra những giáo điều và bao sự chia rẽ cho người ta ở khắp nơi.” Thầy mỉm cưới nhận xét: “ Đúng lắm, đúng lắm! Nhưng hãy nói cho ta về phần con. Không phải do lòng tự phụ muốn tỏ ra mình khác với các học giả ấy mà con đã gây ra sự xung đột và chia rẽ này sao? 

Ba nhà chêm tinh đã mau mắn đi theo ánh sao dẫn đường, nhưng trên đường đi, cũng đã có lúc họ lạc mất ánh sao. Họ mất phương hướng và đi trong tăm tối. Họ đã phải dò la, tìm hỏi; và nhờ Kinh Thánh, họ lại thấy ánh sao xuất hiện. Họ vui mừng và đã đến được với Hai Nhi. Trong cuộc sống của người Kitô hữu, tuy đã đón nhận được ánh sao đức tin, nhưng cũng có lúc mất phương hướng, mất đức tin. Phải qua cộng đoàn và Tin Mừng để tìm lại ánh sao ấy. Cuộc hành trình của ba nha chiêm tinh cũng là cuộc hành trình đức tin của mỗi người Kitô hữu chúng ta.

Sau khi đã tìm gặp được Hài Nhi, mấy nhà chiêm tinh đã tìm con đường khác mà về; cũng thế, khi đức tin đã được chiếu sáng, chúng ta cũng phải tìm con đường khác mà đi. Con đường ấy là từ bỏ những nếp sống cũ để sốn theo Tin Mừng là yêu thương phục vụ Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.

Về mục lục

.

TÌNH NGÀI MỘT CHÚT ĐỦ VUI MỘT ĐỜI

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

“Hãy trông lại, chỉ một giây thôi. Hãy ban Lời, chỉ một câu thôi. Chúa đã từng dựng nên đất trời. Tình Ngài một chút đủ vui một đời”. Ca từ của một bản thánh ca đã làm tôi ngây ngất một thời. Bỗng giật mình vì Chúa đã tỏ mình cho muôn dân. Lời Chúa phán truyền cho nhân loại đã nên trọn hảo nơi chính Đấng làm người, Giêsu Kitô (x.Dt 1,1-2). Hội Thánh cử hành Lễ Hiển Linh cũng là để khẳng định rằng Thiên Chúa đã tỏ mình cho muôn dân, bất phân màu da, chủng tộc, quốc tịch, niềm tin, phận vị hay vai vế. Các mục tử, hầu chắc là Do thái giáo tại cánh đồng Bêlem và ba vị đạo sĩ Đông phương như là đại diện cho toàn thể nhân loại. Chúa đã tự tỏ mình, thế mà vẫn còn đó rất nhiều người chưa nhận ra. Tất cả đều có lý do. Phải chăng là do ở những cách thế Chúa tỏ mình khiến nhiều người khó tiếp nhận? Nào ta cùng xem thử những cách thế Chúa thường dùng để hiển linh hay tự tỏ mình ra cho loài người chúng ta.

  1. Vũ trụ thiên nhiên và các dấu chỉ thời đại: Tác giả Thánh Vịnh không chút do dự khi xác nhận: “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa. Không trung loan báo việc tay Người làm…” (Tv 19). Thánh Tông đồ dân ngoại đã khẳng định với dân thành Roma: “Quả vậy, những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người” (Rm 1,20).

Khi đi rao giảng Tin Mừng Chúa Kitô cũng đã mời gọi người đương thời vốn biết luận suy các dấu chỉ thiên nhiên để biết tiết thời nắng mưa hay xuân hè thì cũng phải biết nhìn các hoạt động của Người để nhận ra triều đại Thiên Chúa đang đến (x.Lc 21,29-31). Tin Mừng thánh Matthêu trong thánh Lễ Hiển Linh hôm nay tường thuật ba nhà đạo sĩ Đông phương đã nhờ ánh sao lạ mà nhận ra sứ điệp của Thiên Chúa.

  1. Lời Thiên Chúa mạc khải qua Thánh Kinh: “Thưở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các Ngôn sứ, nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1,1-2). Là Kitô hữu, chúng ta dễ dàng chân nhận kho tàng mạc khải là Thánh Kinh. Tuy nhiên trong niềm tin Công giáo chúng ta còn nhìn nhận vai trò giải thích Thánh Kinh một cách chính thức và Tông Truyền của Hội Thánh mẹ.

Sau khi ánh sao lạ vụt tắt, ba nhà đạo sĩ đã vào thành Giêrusalem cầu cứu thì vua Hêrôđê đã cho vời các Trưởng Tế và luật sĩ đến để hỏi xem Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu. Nhờ lời Kinh Thánh, họ đã trả lời với Hêrôđê: “Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách Ngôn sứ có chép rằng: Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2, 5-6).

Song song với nguồn mạc khải là Thánh Kinh thì Hội Thánh Công giáo còn tin nhận một nguồn mạc khải khác đó là Thánh Truyền. Đó là những gì Chúa Kitô truyền dạy cho các Tồng đồ mà không được ghi lại trong Kinh Thánh. Nói như Thánh Tông đồ Gioan: “Còn nhiều điều khác Đức Giêsu đã làm. Nếu ghi lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra” (Ga 21,25). Đó là “việc lưu truyền Lời Chúa sống động được thực hiện trong Chúa Thánh Thần, là việc Chúa Cha truyền thông chính mình, nhờ Ngôi Lời và trong Chúa Thánh Thần; việc này vẫn tiếp diễn và tác động trong Hội Thánh” (GLHTCG số 79) (Tự Điển Công Giáo trang 314).

Thiên Chúa đã tỏ mình ra nghĩa là Người đã mạc khải chính Người, chương trình và ý định của Người cho nhân loại chúng ta. Người đã tỏ mình ra qua các công trình của Người theo dòng lịch sử là vũ trụ thiên nhiên, là các biến cố thời đại. Người đã tỏ mình ra qua Thánh Kinh, qua Đấng là Ngôi Lời, qua truyền thống đức tin của Hội Thánh do các Tông đồ truyền lại. Thế nhưng để nhận ra Thiên Chúa cũng như chuơng trình và ý định của Người thì còn cần một yếu tố có tính quyết định về phía con người đó là tấm lòng thành của một lương tâm ngay chính.

Biết bao người thời các đạo sĩ Đông phương vẫn có thể nhìn thấy ánh sao lạ, biết bao người thời vua Hêrôđê như các Thượng tế, các Kinh sư đều thông thuộc Thánh Kinh và ngay cả hôm nay cũng biết bao người đã nghe, hiểu lời giảng dạy của Hội Thánh, tiếp cận cách thời sự các dấu chỉ thời đại qua mạng lưới viễn thông, thế mà họ vẫn chưa nhận ra hay không nhận ra Thiên Chúa. Tất thảy chỉ vì họ đang thiếu tấm lòng thành như ba nhà đạo sĩ năm xưa. Rất có thể vì họ chưa có một lương tâm trong sáng và ngay lành.

“Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8). Sự trong sạch của tâm hồn ở đây không hạn hẹp ở việc giữ lòng thanh sạch, khỏi mọi vương vấn tà dâm. Một tâm hồn trong sạch, thiết nghĩ phải là một tâm hồn biết nhạy bén với điều hay, lẽ phải, với những điều tốt đẹp và sự thiêng thánh. Một tâm hồn trong sạch là tâm hồn biết tự do với những thiện hảo thế trần. Chúa Kitô đã nói rõ chân lý này khi khẳng định với các biệt phái rằng không phải giữ nghi lễ rửa chén bát, tay chân mà nên trong sạch nhưng khi biết đem những gì bên trong ra mà phân phát thì mọi sự sẽ nên thanh sạch cho chúng ta (x.Lc 11,37-41). Để có một tâm hồn trong sạch như thế, chắc chắn ta cần phải thanh luyện không ngừng để thoát khỏi những quyến luyến bất chính, từ bỏ tội ác, quyết tâm xa lánh chước cám dỗ đồng thời luôn tích cực dệt xây lòng hướng thượng và chí cầu tiến. “Phúc thay ai khao khát nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng” (Mt 5,6). Tình Ngài một chút, đủ vui một đời. Gặp Người một chút, hạnh phúc cả đời.

Về mục lục

.

LOẠI TRỪ THIÊN CHÚA, KHOA HỌC CÓ THỂ ĐI ĐẾN GIẾT NGƯỜI

Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

Nhà bác học Newton, là một nhà vật lý học nổi tiếng. Với việc phát minh ra kính viễn vọng, ông trở thành người đầu tiên trong nhân loại có thể nhìn và quan sát vũ trụ.

Sau khi nhìn thấy mọi huy hoàng rực rỡ và vẻ đẹp diệu kỳ của cả một thế giới bao la mênh mông bên ngoài trái đất thông qua công trình mới của mình, Newton đã thốt lên: Tôi thấy Thiên Chúa ở đầu kính viễn vọng của tôi.

Có phải Newton thấy Thiên Chúa bằng mắt thường qua viễn vọng kính? Không phải. Nhưng vũ trụ mà ông thấy được bằng tất cả sự hùng vĩ của nó, cho phép ông khẳng định: có Thiên Chúa!

Với ông, cũng như với những nhà khoa học chân chính, phải có một bàn tay thần diệu, một bàn tay đẹp tuyệt đối mới có thể tạo nên một vũ trụ lộng lẫy, huy hoàng đến độ quá sức tưởng tượng đến vậy.

Newton vừa là một người Công giáo, vừa là một nhà khoa học. Là người thông thái, ông làm khoa học, nghiên cứu khoa học, nhưng không tách khoa học ra khỏi đức tin của mình. Khoa học của ông là khoa học của đức tin.

Càng khám phá chân lý khoa học, càng nhận biết vẻ đẹp của thế giới, của vũ trụ, ông càng nâng cao đức tin, càng nhìn thấy Thiên Chúa mà mình tin, càng nhận ra sự tốt đẹp vô cùng của Người. Ông xác tín, Người là Thiên Chúa lộng lẫy, Thiên Chúa quyền năng, Thiên Chúa vĩ đại…

Mừng lễ Chúa Hiển linh, Hội Thánh công bố việc Thiên Chúa tỏ mình. Từ ngàn xưa, Thiên Chúa đã tìm cách tỏ mình cho loài người. Người không ngừng bày tỏ chính mình qua nhiều cách thế, từ những mạc khải tự nhiên đến siêu nhiên, để con người nhận biết Người.

Có một câu giáo lý về mạc khải tự nhiên mà từ thưở nhỏ, chúng ta đều học: “Hỏi làm sao ta nhận biết Thiên Chúa – Thưa khi nhìn xem trời đất muôn vật và trật tự lạ lùng trong vũ trụ, ta liền biết có Thiên Chúa là Đấng tạo thành và an bài mọi sự”.

Trong lễ Hiển linh, chúng ta nhìn ngắm chân dung ba nhà đạo sĩ theo hướng của mạc khải tự nhiên này.

Ba đạo sĩ là những người nghiên cứu khoa học. Cũng tương tự như nhà bác học Newton, nhờ quan sát vũ trụ, ba đạo sĩ nhận thấy một ngôi sao lạ trên bầu trời. Nhờ đọc được ý nghĩa trong ánh sáng lạ lùng của một ánh sao, cả ba đều khám phá ra dấu chỉ về một Thiên Chúa quyền năng, một Thiên Chúa vĩ đại, một Thiên Chúa là chủ tể mọi loài, mọi sự. Cả ba tức tốc lên đường tìm kiếm. Qua bao khổ nhọc cho một hành trình, họ đã gặp Đức Chúa của lòng mình.

Trên thế giới, qua bao nhiêu thời, đâu chỉ có ba đạo sĩ hay Newton mới là những nhà khoa học. Trải qua lịch sử, đã có tầng tầng lớp lớp những người làm khoa học.

Nhờ khoa học, những người làm khoa học chân chính củng cố đức tin của mình, giúp bản thân nhận ra Thiên Chúa. Nhưng chắc chắn số này không nhiều, nếu không muốn nói là rất ít.

Nhất là thời đại hôm nay, không chỉ không thêm gì cho đức tin, mà nhiều người làm khoa học, còn nhân danh khoa học loại trừ Thiên Chúa. Cũng vì thế, thế giới dường như trở nên thế giới vô thần. Càng ngày người ta càng đẩy xa Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời mình.

Khi làm khoa học mà không có đức tin, không có Thiên Chúa, thứ hoa học ấy sẽ dễ dàng quay ngược trở lại giết chết con người. Chẳng hạt các loại vũ khí tàn độc. Chẳng hạn những trái bom nguyên tử như những lò sát sinh vĩ đại, hay những tội ác giết người của y khoa. Chẳng hạn những cách thức tiêu diệt môi trường, và mọi hình thức hủy diệt sự sống…

Nhưng bởi đâu mà ba đạo sĩ và cả những nhà khoa học chân chính lại có thể nhận ra Thiên Chúa trong công tác nghiên cứu khoa học của mình? Bởi họ có một tâm hồn khiêm nhường, một ý thức hướng thiện, một tấm lòng đơn sơ.

Thiên Chúa tỏ mình cho tất cả mọi người, không trừ ai. Nhưng chỉ có những người đơn sơ, khiêm nhường và hướng thiện mới có thể  nhận ra Người.

Ngày hôm nay, Thiên Chúa vẫn đang tỏ mình cho thế giới, cho từng người chúng ta. Chẳng hạn: qua một biến cố nào đó của cuộc đời mình, qua lòng tốt của anh chị em, qua sự đạo đức của người bên cạnh, qua biết bao nhiêu hoàn cảnh, bao nhiêu những suy tư… mà ta có thể nhận ra Thiên Chúa tỏ mình.

Thế giới vẫn đầy dẫy những triết gia, những nhà khoa học, những người vô thần… Thế giới vẫn đầy dẫy những người học rộng, nghiêng cứu giỏi, hoạt bát, tinh ranh… Nhưng trong số họ, nhiều người thuộc nòi giống Hêrôđê. Họ tìm kiếm, nhưng lại cho kết quả là loại trừ sự sống, giết hại đồng loại, tẩy chay Thiên Chúa.

Họ không bao giờ nhìn thấy bất cứ một ánh sáng nào của lòng tin, của con đường đi về hạnh phúc trường cửu… Dòng dõi của Hêrôđê kiêu ngạo cho tới muôn đời, vẫn không tìm thấy Thiên Chúa, vẫn sống trong u tối, vẫn là những kẻ ngu dốt dù họ đầy những tri thức thực nghệm…

Đối với kẻ kiêu ngạo, tự phụ, ngôi sao chỉ là ngôi sao, nhưng đối với người khôn ngoan, khiêm tốn, đó là một dấu chỉ để nhận ra Thiên Chúa. Dù ngôi sao có sáng, nhưng lòng các đạo sĩ còn sáng hơn ánh sao. Họ đã lên đường, đã vượt qua bao nhiêu gian lao, đã đối mặt bao nhiêu mạo hiểm. Họ đã đến hang Bêlem, đã quỳ trên nệm rơm bái thờ Thiên Chúa.

Ánh sáng của tâm hồn, ánh sáng của lòng tin cho chúng ta gặp Chúa. Chúng ta hãy bắt chước các đạo sĩ: Chiêm ngắm một trẻ sơ sinh chưa thể hỏi han hay đối đáp được điều gì. Nhưng cũng như các đạo sĩ, chúng ta tin, đó là Đấng Cứu Chúa của mình.

Hãy cùng các đạo sĩ, chúng ta tiến dâng lễ vật là tấm lòng, là tình yêu của chúng ta. Chúng ta quyết tâm thờ phượng Chúa và yêu thương cả thế giới này. Đó là thế giới mà Chúa Hài Nhi yêu thương. Người đến đế cứu nó, để làm cho nó sống.

Mừng lễ Hiển Linh, suy niệm lại việc Chúa tỏ mình, chúng ta xin Chúa ban cho chúng ta một tình yêu nồng nàn, một đức tin đơn sơ, một cõi lòng mềm dẻo sẵn sàng để Chúa uốn nắn thành những con người biết tha thiết đi tìm Chúa qua tất cả mọi thời gian sống, nơi mọi hoàn cảnh, mọi biến cố của đời mình.

Về mục lục

.

ÁNH SAO DẪN ĐƯỜNG

Dã Quỳ

Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, ít nhiều cũng có những cuộc hành trình. Có những lúc ta lên đường để thăm viếng một người thân, hay có khi ta đi xa để lo một công việc…Đôi lần ta còn thực hiện những chuyến đi quan trọng để tìm kiếm chân lý hay trở về với đời sống tâm linh… Hành trình nào cũng khiến chúng ta cần có sự chuẩn bị và đích đến rõ ràng. Nếu như chưa biết đường, ta rất cần tấm bản đồ hay sự hướng dẫn cụ thể… Hôm nay, Tin Mừng thuật cho chúng ta hành trình của các nhà chiêm tinh, một hành trình dài, gian khó và có mục đích, đó là “Hành trình tìm đến thờ lạy Hài Nhi Giêsu- Đấng Kitô mới sinh.” Vậy nhờ đâu họ có thể tìm đến đúng địa chỉ và gặp được đúng nhân vật mà họ kiếm tìm?

Ba nhà chiêm tinh là những người ở phương Đông xa xôi, đã lên đường tìm kiếm Hài Nhi Giêsu. Nhờ ánh sao lạ dẫn lối, các ngài đã tìm đến Belem, nơi Đức Maria, thánh Giuse và Hài Nhi Giêsu đang trú ngụ “Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại.” (Mt 2,9) Tỉnh thức và trung thành với ánh sao sáng dẫn đường; can đảm và dấn thân bước vào hành trình đầy mạo hiểm, ba nhà chiêm tinh đã đến tận nơi Hài Nhi ở. Họ vào phủ phục trước con trẻ mà trong Người, họ nhận ra là Vua dân Do thái, là Con Thiên Chúa mới sinh. Họ đã dâng tiến lên Người những lễ vật vàng, nhũ hương và mộc dược là lễ vật xứng hợp dâng kính vị Vua. Họ đã dâng lên Hài Nhi Giêsu tất cả tấm lòng chân thành, khao khát tìm Người, và vì thế, trong và qua Hài Nhi, Thiên Chúa hiển vinh đã thương tỏ mình cho họ.

Lòng tràn ngập niềm vui vì đã tìm thấy và bái lạy “Đức Vua dân Do thái mới sinh.” Giờ đây, các nhà chiêm tinh trở về quê hương xứ sở của mình. Họ dự tính sẽ quay lại báo cho Hêrôđê biết về Hài Nhi và cũng trở về bằng con đường cũ họ đã đi đến. Thế nhưng, Thiên Chúa đã tính cho họ cách khác. Trong giấc mơ, họ được báo rằng sự sống của họ và của cả Hài Nhi đã bị nguy hiểm từ khi họ gặp Hêrôđê- người dặn dò và mong họ trở lại. Vì thế, “họ đã đi lối khác mà về xứ sở mình.”(Mt 2,12)

Như thế, phải chăng không có cùng một con đường để cho tất cả mọi người khám phá ra sự hiện diện của Hài Nhi Giêsu và yêu mến tôn thờ Người? Cũng là con đường ấy, nhờ ánh sao dẫn lối, ba nhà chiêm tinh đã tìm đến nơi và triều bái Đấng Kitô. Nhưng Hêrôđê, các thượng tế và kinh sư dù am tường Kinh Thánh và biết rõ nơi Hài Nhi sinh ra, thế mà họ đã không lên đường đến thờ lạy Người. Trái lại, vì lòng kiêu căng ích kỷ, họ đã tìm kiếm chỉ để sát hại Người. Ba nhà chiêm tinh khi đã gặp gỡ Hài Nhi Giêsu, họ biết lắng nghe, thay dự định, đổi lối đi, rời bỏ con đường quen thuộc để bước trên con đường mới và chắc chắn đó là con đường không biết trước. Họ cần phải chú ý nhiều hơn, điều chỉnh lại phương cách, suy nghĩ, sự nhận định và cách xử thế của họ. Bây giờ, họ khởi hành trong tâm tình mới, với trạng thái an bình vì có Ngôi Sao Sáng là chính Đức Kitô ở trong họ, soi đường dẫn lối cho họ.

Thật vậy, Thiên Chúa vẫn không ngừng tỏ mình ra và lôi kéo tất cả nhân loại đến với Con Một của Ngài là Chúa Giêsu Kitô. Con đường đến với Chúa Kitô là con đường đưa tới hạnh phúc và dẫn về Nước Trời. Thế nhưng đây không phải là con đường thênh thang chúng ta ưa thích, mà là “Cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy.“( Mt 7,14) Trên con đường này, chính Chúa Kitô là ánh sao chỉ đường dẫn lối và đồng hành cùng ta. Những người cùng đi bên cạnh ta là anh em, là con cùng một Cha. Những người ấy cần được đón tiếp, không bị xét đoán nhưng cần được giúp đỡ tận tình và phục vụ, tha thứ. Những người ấy phải được yêu thương cho đến cùng, vì dấu chỉ mà Chúa Giêsu nhắc nhớ ta là “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau.”(Ga 13,35)

Mừng Lễ Chúa Hiển Linh, mỗi người Kitô hữu chúng ta được mời gọi hăng hái bước theo ánh sao Lời Chúa, ánh sao trong các biến cố cuộc đời và nhất là ánh sao Chúa Giêsu Kitô, để đến thờ lạy, dâng lên Người trọn vẹn tâm hồn, thân xác và cuộc đời của ta. Đồng thời, nhờ ánh sáng của Chúa hướng dẫn và đổi mới, ta được trở nên ánh sao nhỏ: Ánh sao của tình yêu thương, ánh sao của niềm hy vọng, ánh sao của lòng tin tưởng, ánh sao của cảm thông và bác ái… sẽ là những ánh sao thiết thực nhất, chiếu sáng rõ để dẫn lối cho nhiều bạn bè, anh chị em xung quanh nhận ra sự hiện diện của Chúa Kitô, tin yêu và tôn thờ Người là Thiên Chúa thật để được hưởng ơn cứu độ. Đây cũng là sứ mệnh và trách nhiệm của từng người Kitô hữu Việt Nam chúng ta hôm nay: trách nhiệm Truyền Giáo. Để rồi một ngày, chúng ta sẽ thực sự hạnh phúc ca lên rằng: “Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Người.”

Lạy Hài Nhi Giêsu Kitô, xin chiếu dãi ánh sáng của Chúa vào tâm hồn và cuộc đời chúng con, để chúng con đủ sức vững bước, vượt qua cõi đời tăm tối này. Và xin Chúa cho chúng con biết ý thức ơn gọi truyền giáo của mình, để tất cả nhân loại chúng con được gặp gỡ Chúa và được cứu độ. Amen.

Về mục lục

.

LÀ ÁNH SÁNG CHIẾU SOI MUÔN DÂN

Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Mt 2,1-12

(1) Khi Đức Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem (2) và hỏi: “Đức Vua dân Do Thái mới sinh hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”. (3) Nghe tin ấy, vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao. (4) Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế, các kinh sư trong dân lại, và hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu? (5) Họ trả lời: “Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ có chép rằng: (6) “Phần ngươi hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa. Ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa. Vì ngươi là nơi Vị Lãnh Tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời”. (7) Bấy giờ vua Hê-rô-đê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. (8) Rồi vua phái các vị ấy đi Bê-lem và dặn rằng: “Xin qúi ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho Trẫm, để Trẫm cũng đến bái lạy Người”. (9) Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông lại xuất hiện dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở mới dừng lại. (10) Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. (11) Họ vào nhà, thấy Hài Nhi và thân mẫu là bà Ma-ri-a, liền sấp mình bái lạy Người. Rồi mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. (12) Sau đó họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hê-rô-đê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.

 

  1. Ý CHÍNH: NHỜ ÁNH SAO DẪN ĐƯỜNG, DÂN NGOẠI ĐÃ TÌM THẤY CHÚA.

Khi Đức Giê-su giáng sinh tại Bê-lem, có mấy đạo sĩ từ phương Đông đã theo ngôi sao lạ đi tìm Đấng Cứu Thế. Nhờ ánh sao dẫn đường và sau khi vượt qua nhiều trở ngại, cuối cùng các ông đã gặp được Hài Nhi Cứu Thế. Các ông đã biểu lộ đức tin bằng thái độ sụp lạy và tiến dâng lễ vật là vàng, nhũ hương và mộc dược. Sau đó, các ông vâng lời thiên thần để theo con đường khác trở về quê hương.

  1. CHÚ THÍCH:

– C 1-2: +Vua Hê-rô-đê: Đây là Hê-rô-đê Đại Vương, một con người đa nghi, độc ác và tham quyền cố vị, băng hà vào năm 4 sau Công Nguyên (x. Mt 2,15). Phân biệt với Hê-rô-đê An-ti-pa hay Hê-rô-đê Con, kế vị vua cha cai trị xứ Ga-li-lê. Hê-rô-đê Con cũng độc ác không kém vua cha. Chính ông đã ra lệnh chém đầu Gio-an Tẩy Giả và có lần đã xét xử Đức Giê-su trong cuộc khổ nạn của Người. +Mấy nhà chiêm tinh: Cũng gọi là đạo sĩ, đến từ phương Đông (x. Ds 23-24). Đây là những nhà thông thái, am tường khoa chiêm tinh. Dựa vào 3 lễ vật họ dâng mà người ta quả quyết có 3 vị. Truyền thuyết dân gian còn kể tên 3 vị ấy: Melchior da trắng ; Gaspar da vàng ; Balthaza da đen để nói lên rằng: Ơn cứu độ phổ quát cho mọi dân tộc, màu da hay tiếng nói, không chỉ riêng cho dân Do Thái.

– C 5-6: +Họ trả lời: “Tại Bê-lem.”..: Có một sự đối nghịch về thái độ đối với Đấng Cứu Thế giữa dân Do Thái và lương dân: Các thượng tế và kinh sư là những người dựa vào Kinh Thánh biết rõ nơi sinh của Hài Nhi Cứu Thế là Bê-lem, nhưng lại thờ ơ. Đang khi dân ngoại vất vả đi tìm Người. +Thành Bê-lem: Là một thị trấn nhỏ thuộc miền núi xứ Giu-đê, cách Giê-ru-sa-lem 10 cây số về phía Nam. Bê-lem này là quê hương của vua Đa-vít (x. 1 Sm 16,1 tt).

– C 7-8: +Hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện: Vì Hê-rô-đê muốn biết đích xác tuổi của Hài Nhi Cứu Thế và đã ra lệnh cho quân lính giết các trẻ nam tại Bê-lem và vùng phụ cận từ hai tuổi trở xuống.

– C 9-10: +Ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông lại xuất hiện dẫn đường cho họ: Đây là một ngôi sao có những đặc tính khác thường như: Lúc ẩn lúc hiện, lúc đi trước dẫn đường và lúc thì dừng lại… do Thiên Chúa ban, để trợ giúp các nhà chiêm tinh đi tìm Hài Nhi Cứu Thế.

– C 11-12: +Họ vào nhà: Chắc chắn sau đêm Chúa giáng sinh, hai ông bà Giu-se Ma-ri-a không tiếp tục cư ngụ tại cánh đồng Bê-lem vì thiếu các tiện nghi tối thiểu mà đã vào thị trấn Bê-lem thuê một căn nhà ở tạm.+ Sấp mình bái lạy Người: Các đạo sĩ biểu lộ đức tin Hài Nhi là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa. + Lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến: Các nhà chiêm tinh dâng lên Hài Nhi ba lễ vật là vàng, nhũ hương và mộc dược, là đặc sản của quê hương các ông. Vàng tượng trưng đức tin, nhũ hương tượng trưng đức cậy và mộc dược tượng trưng đức mến. Theo các giáo phụ thì Vàng ám chỉ tước vị Vua, nhũ hương chỉ tước vị Tư Tế, mộc dược ám chỉ cuộc tử nạn và mai táng bằng dầu thơm sau này. + Đi lối khác về xứ mình: Hê-rô-đê không thể chống lại quyền năng, tình thương và ơn cứu độ của Thiên Chúa. Những ai chống lại Thiên Chúa sớm muộn cũng sẽ thất bại và chuốc lấy hậu quả tai hại cho mình mà thôi.

  1. CÂU HỎI: 1) Phân biệt Hê-rô-đê Đại Vương khác với vua Hê-ro-đê An-ti-pa thế nào trong sự đối xử với Đức Giê-su và về sự gian ác quỷ quyệt? 2) Các nhà chiêm tin trong Tin Mừng có phải là vua không? Vì sao người ta gọi là 3 vua và theo truyền thuyết thì tên ba vị là gì và mang ý nghĩa như thế nào? 3) Các thượng tế và kinh sư Do thái dựa vào đâu mà nói nơi sinh của Đấng Cứu Thế là Bê-lem? So sánh giữa thái độ của các nhà thông thái của dân Do thái và của các đạo sĩ ngoại giáo trước việc Đấng Cứu Thế ra đời như thế nào? 4) Hê-rô-đê hỏi về ngày giờ ngôi sao lạ xuất hiện để làm gì? 5) Các đạo sĩ biều lộ đức tin thế nào khi gặp Hài Nhi Cứu Thế? 6) Ý nghĩa tượng trưng của ba lễ vật các đạo sĩ dâng là gì? Các giáo phụ giải thích ba lễ vật như thế nào?

II. SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: “Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Ma-ri-a, liền sấp mình bái lạy Người, rồi mở bảo tráp, lấy vàng nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến” (Mt 2,11).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) CHIẾU SÁNG LÀ SỰ CẢM THÔNG VÀ SẴN SÀNG GIÚP ĐÕ THA NHÂN CÁCH CỤ THỂ:

Có một bé gái cùng với mẹ đi viếng hang đá. Bà mẹ giải thích cho em rằng ba nhà Đạo Sĩ dâng tiến của lễ cho Chúa Hài Nhi là vàng, nhũ hương và mộc dược. Cô bé nhìn Hài Nhi trong máng cỏ một cách cung kính rồi quay sang hỏi mẹ: “Tại sao các đạo sĩ không mang đến cho Chúa Hài Nhi một cái giường nhỏ, mà để Chúa phải nằm trong máng rơm lạnh lẽo như vậy hả mẹ ?”

Một tấm lòng và một sự quan tâm thực sự đến nhu cầu của tha nhân. Cô bé cảm nhận được nhu cầu của cuộc sống thực tế đời thường. Sự kiện Chúa Giêsu sinh ra nơi hang lừa, máng cỏ đã khơi dậy được tâm tư và sự cảm thông của lòng em gái này. Chúa đến trong nghèo nàn để mời gọi chúng ta cùng chia sẻ tâm tình với những người cùng khổ nghèo đói chung quanh chúng ta. Nhu cầu thực tế của cuộc sống là miếng cơm manh áo và một chỗ để nương thân. Hài Nhi Giêsu đã chạm đến cái cùng cực nghèo khó của thân phận con người. Từ đó, Chúa mời gọi chúng ta: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.”(Mt 25, 40).

2) CHIẾU SÁNG ĐỨC ÁI LÀ BIẾT CHO NGƯỜI NGHÈO QUẦN ÁO CÒN TỐT.

Một buổi chiều nọ, anh con trai thấy một người hành khất áo quần rách nát đứng xin trước cổng nhà. Anh ta liền vào nhà rồi lấy ra một bộ quần áo cho người ăn xin. Bộ đồ này đã cũ và bị rách toạc một miếng ngay tại đầu gối, nên từ lâu anh này không thèm mặc. Nhận được bộ đồ cũ, người hành khất mừng và cám ơn rối rít, vì tuy cũ nhưng nó cũng còn tốt hơn bộ quần áo ông ta đang mặc. Sau đó lão hành khất liền mặc ngay bộ đồ mới vào người. Còn anh thanh niên thì cảm thấy vui vì nghĩ mình đã làm được một việc thiện cho người nghèo.

Mấy tháng sau, một hôm người hành khất kia lại đến xin. Lần này ông ta mặc bộ đồ lành lặn và còn mới. Chàng thanh niên thấy ông lão mặc bộ đồ màu sắc giống như bộ đồ của mình liền hỏi: “Sao ông có bộ đồ mới thế kia ?” Lão hành khất liền tươi cười trả lời: “Thì đây cũng là quần áo của anh đó ! Số là cách đây một tuần, khi tôi mặc bộ quần áo anh cho hôm trước, đến xin thì gặp ba anh. Thấy tôi mặc bộ đồ rách, ông cụ hỏi ai cho. Tôi trả lời là một anh ở trong nhà ông. Ông im lặng rồi vào nhà đem ra bộ đồ tôi đang mặc đây và nói: “Xin lỗi ông, lần trước con tôi đã lấy lộn bộ đồ rách bỏ đi mà cho ông. Hôm nay tôi thay nó để biếu ông bộ đồ tốt này”.

Sau khi người hành khất ra về, chàng thanh niên lập tức vào nhà tìm cha và cằn nhằn tại sao ông lại đem cho bộ đồ mà anh vẫn còn đang sử dụng. Bấy giờ người cha liền tươi cười nói rằng: “Con ơi, cha rất vui khi thấy con biết thương người và cho người nghèo quần áo để mặc. Nhưng cha biết con còn nhiều quần áo không sử dụng đến mà tại sao con không cho ? Lần sau nếu cho ai thứ gì, thì con nên cho những gì còn dùng được. Chứ nếu cho họ bộ đồ đã rách thì họ làm sao có thể mặc được hả con ?”

  1. SUY NIỆM:

1) XIN THÌ SẼ ĐƯỢC; TÌM THÌ SẼ GẶP; GÕ THÌ SẼ MỞ:

Khi hay tin Đấng Cứu Thế mới ra đời, thái độ của các người có liên quan như thế nào?

– Các mục đồng nghèo khó: đang chăn giữ đoàn chiên ở vùng phụ cận Be-lem đã mau lên đường đi tìm kiếm Hài Nhi Cứu Thế dựa theo dấu chỉ mà sứ thần đã cho họ biết. Vua Hêrôđê và hoàn cung nghe tin đã đi tìm nhưng không phải để triều bái Người như ông đã nói với các đạo sĩ, mà là để giết hại Người. Còn dân thành Giêrusalem thì hoảng hốt, thay vì vui mừng trước tin Đấng Cứu Thế đã ra đời. Còn các thượng tế và luật sĩ có sự hiểu biết Lời Chúa trong Kinh Thánh, có thể chỉ đường cho các đạo sĩ hãy tìm Đấng Cứu Thế tại Be-lem, nhưng chính họ lại không thiết tha đi tìm. Chỉ có các vị đạo sĩ khi nhìn thấy ngôi sao lạ bên trời Đông, đã vội vã chuẩn bị lễ vật và lên đường tìm kiếm. Các ngài đã trải qua nhiều nỗi vất vả và trắc trở và cuối cùng đã tìm thấy Hài Nhi Cứu Thế. Họ đã sụp lạy, dâng tiến lễ vật và nghe lời sứ thần mộng báo, họ đã chọn đi theo con đường khác trở về quê hương mà không quay lại với con đường gian ác của vua Hê-rô-đê muốn tìm giết hại Hài Nhi mới sinh.

– Các vị đạo sĩ: chỉ có một dấu hiệu mơ hồ là ánh sao lạ trên bầu trời, nhưng họ đã can đảm ra đi và kiên trì tìm kiếm, nên đã được Chúa trợ giúp vượt qua những gian nan để tìm thấy Hài Nhi Cứu Thế, rồi tin thờ Người và được hưởng ơn cứu độ của Người ban cho. Ngày nay cũng có rất đông anh chị em lương dân đang miệt mài nghiên cứu tìm kiếm sự thật trong các lãnh vực: khoa học, kỹ thuật, triết lý, nghệ thuật…, đang cố gắng tu tập để nên tốt hơn dựa theo ánh sáng giới hạn là các điều thiện hảo nơi các tôn giáo ngoài Kitoo giáo, hay đang tận tâm lo bảo về môi trường trái đất ngày một an toàn tốt đẹp hơn. Chúng ta tin rằng Thiên Chúa vẫn đang đồng hành với họ mà họ không hay biết. Xin cho họ sớm nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong trật tự lạ lùng nơi vũ trụ, và giúp họ sớm nhận biết Chúa Giê-su là “sự thật toàn vẹn, sự sống đời đời và là đường duy nhất dẫn đưa loài người lên trời gặp Thiên Chúa”.

– Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta: Nguyên việc tin thờ Chúa tại nhà thờ, nghe Lời Chúa giáo huấn là điều cần, nhưng chưa đủ để chúng ta nhận được ơn cứu độ của Thiên Chúa. Chúa đòi chúng ta còn phải luôn đi tìm kiếm Chúa và thực thi thánh ý của Ngài qua việc học sống Lời Chúa trong Thánh Kinh, và qua các dấu chỉ của thời đại. Rồi khi đã tìm gặp Chúa, chúng ta còn phải chu toàn sứ vụ làm cho “Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Chúa đến để ban ơn cứu độ cho mọi người, nhưng không phải mọi người đều được cứu độ, mà chỉ những ai tin Đấng Cứu Thế Giê-su và đi theo con đường của Người.

2) TRỞ NÊN ÁNH SAO LẠ DẪN ĐƯỜNG CHO LƯƠNG DÂN TÌM GẶP CHÚA:

Ngày nay, Chúa không dùng ngôi sao xuất hiện trên trời, nhưng muốn mỗi người chúng ta trở thành một vì sao soi dẫn mọi người đến với Chúa.

– Là ngôi sao là phải chiếu sáng: Ngôi sao chỉ chiếu sáng khi bản thân nó có ánh sáng. Người Kitô hữu cũng chỉ chiếu sáng khi chính cuộc sống của họ có ánh sáng, phản chiếu ánh sáng đón nhận từ ơn Chúa ban và từ việc thực hành Lời Chúa trong Thánh Kinh.

– Phải chiếu ánh sáng tin yêu: Tin yêu Chúa và tin yêu tha nhân. Tin yêu để xây dựng một cuộc sống chan hoà tình người. Tin yêu để sẵn sàng tha thứ hoà giải. Tin yêu để vượt qua mọi bóng tối của chia rẽ thù hận, bất hoà bè phái. Tin yêu là ánh sáng ấm áp làm cho thế giới trở nên gần gũi nhau, con người trở nên thân thiện với nhau, cuộc đời trở thành đáng yêu đáng sống hơn.

– Phải chiếu ánh sáng công bình, bác ái: Tin Chúa được biểu lộ bằng sự tôn trọng sự công bình trong cuộc sống. Yêu Chúa phải được thể hiện qua lối sống bác ái với tha nhân.

Tất cả những làn ánh sáng nói trên góp lại thành ánh sáng đạo đức thánh thiện. Một người chỉ mong tìm kiếm vật chất tiền bạc sẽ luôn sống trong bóng tối tuyệt vọng và cô đơn tàn nhẫn. Chỉ có ánh sáng thánh thiện mới đủ sức phá tan những bóng tối tội lỗi gian ác ấy và mới làm cho thế giới ngày một an hòa hạnh phúc và vui tươi.

– Phải chiếu sáng hy vọng ơn cứu độ của Chúa: Niềm hy vọng vào một “Trời Mới Đất Mới” cho ta thêm sức mạnh góp phần xây dựng xã hội ngày một tốt đẹp hơn. Niềm hy vọng vào hạnh phúc thiên đàng đời sau giúp chúng ta đánh gía đúng mức của cải vật chất đời này, để “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người. Còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33).

3) ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC ƠN CỨU ĐỘ CỦA CHÚA:

Thế giới hôm nay đang mong chờ ánh sao dẫn đường. Chính qua ánh sáng ấy, mọi người trên thế giới sẽ nhận biết và tin yêu Chúa.

– Muốn tìm thấy Chúa đòi ta phải hy sinh: Các đạo sĩ phải ra khỏi nhà, sẵn sàng đón nhận bất ngờ trong cuộc sống: Họ nghĩ Đấng Cứu Thế phải là con của nhà vua, phải sinh ra tại kinh thành hoa lệ, nên họ đã đến thủ đô Giê-ru-sa-lem vào hoàng cung mà hỏi: “Vua Do thái mới sinh hiện ở đâu ?” Nhưng Hài Nhi Cứu Thế lại không sinh ở nơi giàu có sang trọng, mà tại một cái hang chiên bò hôi tanh, trong hình hài một trẻ thơ mới sinh yếu đuối bọc trong tã và nằm trong máng cỏ nghèo hèn.

– Muốn tìm thấy Chúa đòi ta phải dấn thân đi tìm: Các Thượng tế và kinh sư biết rõ nơi sinh của Đấng Cứu Thế là thành Bê-lem, nhưng lại không đi tìm, đang khi các đạo sĩ dù chỉ suy đóan mơ hồ, nhưng họ lại quyết tâm lên đường tìm kiếm, nên cuối cùng họ đã gặp được Hài Nhi Cứu Thế.

– Muốn tìm thấy Chúa đòi ta phải chuẩn bị tinh thần: Khi đi tìm Chúa, các đạo sĩ đã chuẩn bị lễ vật để mang theo là các đặc sản từ quê hương như: vàng, nhũ hương và mộc dược để làm lễ vật dâng tiến Hài Nhi. Những lễ vật này chỉ là những biểu hiệu của lễ vật thiêng liêng là đức Tin, đức Cậy và đức Mến. Khi dâng vàng, các đạo sĩ cũng tuyên xưng vương quyền của Hài Nhi Giê-su. Dâng nhũ hương, các ngài nhận Hài Nhi là tư tế của Giao Ước Mới; Dâng mộc dược là các ngài đề cao mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Đấng Thiên Sai sau này.

– Rồi khi gặp được Chúa, đòi ta phải đổi mới đời sống: Sau khi gặp Chúa, các đạo sĩ đã nghe lời sứ thần mộng báo, để không quay lại với vua Hê-rô-đê độc ác, nhưng đã chọn đi đường khác trở về quê hương mình. Đây cũng là bài học cho chúng ta: Một khi đã có đức tin, đã gặp được Chúa là nguồn Chân Thiện Mỹ, chúng ta phải dứt khoát với quá khứ tội lỗi gian ác, để quyết tâm sống theo con đường tin yêu là khiêm tốn phục vụ noi gương Chúa Giê-su.

  1. THẢO LUẬN:

1) Bạn có khi nào cảm phục một ai đó trong số các nhà khoa học gia, nghệ sĩ, diễn viên điện ảnh, thầy cô hay bạn bè ngoại giáo không ? 2) Ngày nay bạn có thấy Chúa tiếp tục tỏ mình ra nơi những người lương hay không ? 3) Bạn sẽ làm gì để trở thành ngôi sao lạ dẫn đường cho các bạn bè ngoại giáo tìm thấy Chúa và tin theo Người ?

  1. NGUYỆN CẦU:

– LẠY CHÚA GIÊ-SU. Hôm nay chúng con mừng ngày Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại, mà các đạo sĩ là đại diện. Các vị này tuy chỉ thấy một ánh sao lạ, mà đã nhận biết Đấng Cứu Thế ra đời. Các ngài đã vất vả tìm kiếm Chúa và sau nhiều gian lao vất vả, đã gặp được Người. Nhờ đức tin, các ngài đã nhận ra Hài Nhi nghèo hèn chính là Vị Vua Cứu Thế, nên đã khiêm nhường sấp mình bái lạy và dâng tiến lễ vật quý giá là vàng, nhũ hương và mộc dược.

– LẠY CHÚA. Biết bao lần chúng con đến nhà thờ nhưng đã không gặp được Chúa. Đạo con giữ mới chỉ là những thói quen; Lễ con dâng chỉ là những lời kinh sáo rỗng nhàm chán; Của cải con cho người nghèo chỉ là những thứ đồ hư vất bỏ… Nhưng con lại tưởng mình đạo đức thánh thiện và đang làm chứng cho Chúa. Ước gì hôm nay con nhận ra những thiếu sót của mình, để của lễ con dâng phải là thứ vàng đức tin quý giá, là nhũ hương của đức cậy khiêm nhu, là mộc dược của lòng hy sinh mến Chúa nồng nàn. Hy vọng Chúa sẽ vui nhận, và ban muôn hồng ân cho chúng con. Để khi gặp được Chúa, như các vị đạo sĩ xưa, chúng con sẽ tránh xa những thói gian ác lọc lừa, biết làm theo những Lời Chúa dạy, biết sống hiệp nhất xin vâng và phục vụ để sau này cùng được về quê trời hưởng hạnh phúc với Chúa đời đời.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

Về mục lục

.

NHỮNG NGÔI SAO GIỮA ĐỜI

Lm. Giuse Nguyễn

Từ điển Công Giáo của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam định nghĩa: “Hiển Linh là sự tỏ ra cách linh thiêng”. Ban đầu nó được Giáo hội dùng để mừng sinh nhật của Đức Giêsu vì Người là Thiên Chúa lại xuất hiện trong thân phận con người, Ngài đã “tỏ ra cách linh thiêng”. Về sau Lễ Hiển Linh còn mang ý nghĩa về biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa, vì đó là lúc Chúa Cha chính thức giới thiệu Chúa Con cho nhân loại. Ở Tây phương, lễ Hiển Linh nhấn mạnh đến việc ba hiền sĩ đến thờ lạy Hài Nhi Giêsu, mang ý nghĩa Ngôi Lời tỏ mình ra cho dân ngoại, mà đại diện là ba hiền sĩ. Lời tổng nguyện ngày hôm nay cho chúng ta hiểu rõ hơn ý nghĩa của lễ này: “…Hôm nay Chúa đã khiến ngôi sao chỉ đường mà mặc khải cho muôn dân nhận biết Con Một Chúa…”. Nhờ ánh sáng của ngôi sao mà ba hiền sĩ đã đến được hang đá Bêlem để thờ lạy Hài Nhi Giêsu chính là Con Một Thiên Chúa.

Vì vậy ý nghĩa chính yếu của lễ Hiển Linh là Thiên Chúa muốn bày tỏ Thần tính của Ngài cho nhân loại chúng ta. Thần tính đó được thể hiện qua hình hài của  một trẻ thơ theo như lời loan báo của sứ thần trong đêm Giáng sinh: “Hôm nay Đấng cứu độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa vít, Người là Đấng Kitô, là Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2, 11-12). Trong thành vua Đavit ngày đó, tháng đó, năm đó có bao nhiêu trẻ sơ sinh? Làm sao biết được! Lại phải đi tìm xem trẻ nào nằm trong máng cỏ? Quả thực như một trò chơi tìm mật thư. Sự xuất hiện của ngôi sao lạ trên bầu trời đêm đông năm ấy chính là chìa khóa cho “những người thiện tâm” lên đường đi tìm vua dân Do Thái mới sinh. Nhờ ánh sáng của ngôi sao lạ ấy mà họ đã tìm gặp Vua Giêsu.

I.  NHỮNG NGÔI SAO GIỮA ĐỜI

Đích điểm của ngôi sao là Hài Nhi Giêsu: “Bấy giờ ngôi sao họ dã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại” (Mt 2, 9). Tất cả những ai giúp người khác nhìn thấy được tình yêu trong cuộc đời đều là những ngôi sao. Họ là ánh sáng để cho người khác nhận thấy sự hiện hữu của Thiên Chúa, vì Ngài là Tình yêu. 

  1. Những con người biết sẻ chia

Nhân vật được nhắc đến nhiều nhất trong mùa Giáng Sinh chính là ông già Noel. Hình ảnh tiêu biểu của ông già Noel là một ông già mặc bộ đồ màu đỏ viền trắng, thắt lưng da đen, đội chiếc nón đỏ với chòm râu dài trắng, bộ mặt hóm hỉnh, tồn tại trong nhiều văn hoá, đặc biệt ở các nước phương Tây. Truyền thuyết cho rằng ông già Noel sinh sống tại Bắc Cực với những người lùn. Ông dành đa số thời gian để chuẩn bị quà, đồ chơi cho trẻ em với sự giúp đỡ của những chú lùn. Vào dịp Giáng Sinh, ông nhận được rất nhiều thư của trẻ em khắp thế giới. Và mỗi đêm Giáng Sinh, ông lại bắt đầu cuộc hành trình của mình với cỗ xe kéo bởi tám con tuần lộc để mang quà và đồ chơi cho các thiếu nhi.

Ông già Noel chỉ là truyền thuyết, nhưng qua đó muốn chuyển tải thông điệp của mầu nhiệm Giáng Sinh là việc Thiên Chúa tặng cho con người món quà quý giá nhất, chính là Con Một của Ngài.

Trong đêm Giáng Sinh vừa rồi, sau khi biểu diễn 2 điểm ở Hà Nội, trên đường đi ăn tối, khi đi ngang qua góc đường, ca sĩ Mỹ Tâm thấy có một sân khấu dựng tạm, các bạn trẻ đứng trên sân hát mà không một bóng người xem. Cô đã kêu người bạn của mình quay xe lại. Đến nơi, cô ca sĩ nổi tiếng này mới biết đó là sân khấu của các bạn khiếm thị hát để kêu gọi quyên góp cho những trẻ em nghèo, có hoàn cảnh khó khăn, nhưng khổ nỗi không ai đến xem!

Nhiều bài báo đã viết: Khi biết bạn ca sĩ đứng trên sân khấu thích bolero, Mỹ Tâm đã yêu cầu hát bài Sầu tím thiệp hồng và phải nhìn điện thoại hát theo lời. Thậm chí, Mỹ Tâm chấp nhận hát theo tông nam và hát hơi với để bạn trai hát đúng tông và thoải mái. Sau khi hát xong, Mỹ Tâm còn thăm hỏi và kêu gọi mọi người cùng ủng hộ đóng góp các bạn trẻ kém may mắn. Và đoạn đường từ không một bóng người đến khi Mỹ Tâm xuất hiện đã nghẹt cả đoạn đường. Nhiều khán giả còn yêu cầu Mỹ Tâm hát thêm 1 bài nhưng cô đã từ chối: “Sân khấu của người ta, mình hát kỳ lắm”. Sau đó, cô lại không ngại yêu cầu mọi người hãy ủng hộ và còn chỉ thùng quyên tiền để mọi người giúp các bạn trẻ”.

Hành động của Mỹ Tâm đã đem đến món quà Giáng Sinh thật ý nghĩa cho chàng trai khiếm thị và nhiều người khác. Người ta đã gọi cô là “Bà già Noel”. Cô là “ngôi sao” cả nghĩa đen và nghĩa bóng, vì cô là ca sĩ nổi tiếng, hơn thế nữa, còn cho người khác thấy tình yêu đích thực là biết sẻ chia.

  1. Những con người biết đến với người khác

Trong lịch sử 13 hoàng triều Mãn Thanh của Trung Quốc, triều đại Khang Hy được xem là triều đại bình yên nhất. Khang Hy là một vị vua anh minh, sáng suốt trong đường lối trị nước và thương yêu dân chúng như con của mình. Một điều hết sức đặc biệt nơi vị hoàng đế này là thích đến với dân chúng trong bộ dạng của thường dân, nhờ vậy mà ông biết được nội tình của đất nước để thẳng thừng ra tay trừng trị bọn tham quan, ô lại, nhũng nhiễu làm hại dân lành; biết được hoàn cảnh của dân chúng để đáp ứng những nhu cầu chính đáng của họ…

Đức Thánh Cha Phanxicô cũng là một vị lãnh đạo gần gũi với dân chúng. Từ khi còn là Hồng Y Bergoglio của đất nước Argentina, Ngài thường xuyên đến thăm dân chúng ở những khu ổ chuột. Khi làm Giáo hoàng, Ngài cũng ưu tiên cho những người nghèo, những người vô gia cư, những tù nhân, những người tị nạn. Vì vậy Ngài thường xuyên với những hạn người này.

Mùa Giáng Sinh năm nay, Đức Cha Giuse Đinh Đức Đạo, Giám mục Giáo phận Xuân Lộc cũng làm một việc chưa có tiền lệ, Ngài chia sẻ niềm vui Giáng Sinh với anh chị em công thương ở chợ Long Khánh – Đồng Nai vào ngày 23/12/2016. Đức Cha đến thăm từng gian hàng kể cả những gian hàng tươi sống, tanh hôi để thăm hỏi, chúc mừng Giáng Sinh và tặng quà đến các tiểu thương Công giáo cũng như không Công giáo. Sự hiện diện của Ngài làm cho chợ Long Khánh hôm đó bừng lên niềm vui nhờ tiếng cười của các tiểu thương được gặp gỡ vị Giám mục đại diện của Chúa.

Những ai biết đến với người khác, nhất là những phận người đau khổ về nhiều mặt, họ sẽ làm cho những người đó đón nhận được tình yêu thương, khi đó họ trở thành “ngôi sao” vì họ cho người khác thấy Tình Yêu vẫn còn hiện diện trong cuộc đời. 

II.  ĐỂ TRỞ THÀNH ÁNH SÁNG

Thánh Gioan Kim Khẩu đã nói: “Các Đạo Sĩ không cất bước lên đường vì họ đã thấy một ngôi sao, nhưng thực ra họ thấy ngôi sao bởi vì họ đã cất bước lên đường”. Tâm hồn họ luôn mở ra cho những điều thiện hảo, lòng họ luôn hướng đến những thực tại cao cả ở trên trời. Nhờ những thao thức tốt lành đó mà họ được ánh sáng hướng dẫn để họ tìm gặp Hài Nhi Giêsu.

Vì vậy muốn gặp được Ánh Sáng, mỗi người chúng ta cũng phải có những thao thức tốt lành, phải biết sống cho những điều thiện hảo. Chính lúc đó chúng ta sẽ được ánh sáng Chúa soi dẫn để lên đường tìm gặp ơn cứu độ; và cũng chính lúc đó chúng ta trở thành ánh sáng để xua đi những đêm tối trong cuộc đời.

  1. Trong gia đình

Những bậc phụ huynh càng phải có trách nhiệm hướng dẫn cho con cái mình “lên đường” để tìm kiếm ơn cứu độ. Chắc chắn trong hành trình tìm kiếm ơn cứu độ đó, có lúc gia đình sẽ đi trong đêm tối do khủng hoảng kinh tế, do những đam mê riêng tư làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, do những hiểu lầm… Nhưng gia đình nào vẫn còn trung thành với giờ kinh hôm chung với nhau, thì đó chính là ánh sáng để giúp gia đình đó thoát được những đêm tối, vì trong giờ  kinh hôm sẽ có những giây phút sám hối để biết mình sai mà sửa đổi.

Gia đình Kitô hữu còn trở thành ánh sáng khi gia đình họ là địa chỉ của sự chia sẻ về nhiều thứ trong khả năng của họ. Điều đó chỉ có được nơi một gia đình biết đến với người khác khi có người đau yếu bệnh tật, khi có những dịp hiếu hỷ, khi có những gì cần giúp đỡ; biết chủ động bảo vệ môi trường bằng việc thu gom rác thải, khai thông cống rãnh, quét dọn đường xá sạch đẹp… dù đó không phải là phần đất của mình…

  1. Nơi các bạn trẻ

Sống trong xã hội hôm nay các bạn trẻ vừa khó lại vừa dễ trở thành ánh sáng. Nếu các bạn không có một lý tưởng cao cả, không có ý thức để tránh những tư tưởng độc hại, những lối sống sai trái… thì chắc chắn chính các bạn đang đi trong đêm tối. Còn nếu người trẻ Công giáo biết tự hào về niềm tin của mình, biết tích cực sống cho niềm tin đó đúng với những gì Đức Giêsu đã giảng dạy và Hội thánh hướng dẫn thì chắc chắn các bạn đang bước đi theo một ánh sáng rực rỡ. Khi các bạn biết cống hiến sức lực, khả năng của mình vào những điều tốt lành như những hoạt động bác ái xã hội, những vui chơi giải trí lành mạnh, tham gia những phong trào hữu ích… thì các bạn đang góp phần làm cho cuộc đời này thêm tươi sáng. Một truyền thống tốt đẹp mà các bạn trẻ ngày hôm nay đang dần đánh mất đi chính là việc không biết đến với người khác, kể cả bà con họ hàng. Hãy giữ truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam bằng cách lên đường đến với những người xung quanh, nhất là những trong bà con họ hàng.

Thiên Chúa đã tỏ Thần tính của Ngài và nhờ ánh sáng của ngôi sao lạ dẫn lối chỉ đường cho ba hiền sĩ đến gặp gỡ. Chúng ta đang lên đường để tìm kiếm vinh quang đó nhờ đức tin hướng dẫn. Xin Chúa cho đức tin của chúng ta ngày càng lớn mạnh.

Chúng ta được mời gọi trở thành ánh sáng khi biết sống chia sẻ với mọi người, khi biết lên đường để gặp gỡ tha nhân.  Xin Chúa cho cuộc đời chúng ta thực sự là ánh sáng.

Đặc biệt, xin cho mỗi gia đình chúng ta cũng rực lên ánh sáng của Chúa khi trong gia đình chúng ta vang lên những lời kinh nguyện,  và sáng lên tình yêu thương chân thành với nhau và với mọi người xung quanh.

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT LỄ HIỂN LINH_A

Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến. Hôm nay cùng với Giáo hội chúng ta mừng lễ Chúa Hiển Linh.  Hiển linh có nghĩa là tỏ ra cho biết ý nghĩa về một mầu nhiệm hay bí mật gì.  Như vậy, Chúa Hiển Linh có nghĩa là Thiên Chúa tỏ mình ra, qua sự nhập thể của Ngôi Hai Thiên Chúa, cho loài người trần thế biết tình yêu và ơn cứu độ của Ngài. Bài Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết ba nhà đạo sĩ Phương đông đã vượt qua một hành trình dài và nguy hiểm tìm đến Be-lem để gặp Chúa Giê-su Hài nhi đang nằm trong máng cỏ nghèo hèn với Đức Maria và thánh Giuse.  Các ông đã được ngôi sao chỉ lối dẫn đường, và đã nhận ra Hài nhi trong máng cỏ chính là Đấng Cứu Thế, vì thế các ông đã quì thờ lạy và dâng những của lễ quí lên cho Chúa.  

Cuộc hành trình đi tìm gặp Chúa của các đạo sĩ đã để lại cho chúng ta một bài học rất quí giá.  Chúng ta có thể so sánh cuộc hành trình này của các đạo sĩ với sự kiện chúng ta đi tham dự Thánh lễ, hay cuộc hành trình đức tin của chúng ta nơi dương thế về Quê Trời.   Bài học quí giá mà các đạo sĩ để lại cho chúng ta là bài học về đức tin.  Nếu chúng ta đặt câu hỏi “Thế nào là đức tin? Đức tin là gì?” thì có lẽ một số người chúng ta không biết câu trả lời, hay chỉ có thể đưa ra những tư tưởng  hay định nghĩa trừu tượng.  Nhưng nếu đặt câu hỏi cách khác “Người có đức tin thường có thái độ nào?” hay “Hành trình Đức tin đích thực là gì?” thì chúng ta có thể trả lời khá dễ dàng, rõ ràng và cụ thể hơn.  Cuộc hành trình của các đạo sĩ tới Be-lem tìm gặp Chúa Cứu Thế giúp chúng ta nhận rõ ra thái độ đức tin đó, hiểu rõ hơn cuộc hành trình đức tin của chúng ta nơi dương thế, đồng thời cũng giúp chúng ta hiểu biết ý nghĩa sâu sa hơn về sự kiện chúng ta đi tham dự Thánh lễ, để nhận được nhiều ơn ích và mật thiết với Chúa hơn.

Thái độ thứ nhất trong cuộc hành trình của những người có đức tin là lòng khao khát và tìm kiếm.  Thời Chúa Giê-su, trong khi mọi người đều thờ ơ, lãnh đạm với Lời Chúa và mải miết với công việc làm ăn của mình, thì chỉ có các nhà đạo sĩ có lòng khao khát và chờ đợi Đấng Cứu Thế.  Chúng ta thấy thái độ của các đạo sĩ khác với thái độ của mọi người trong thành Be-lem, bận rộn với vật chất, của cải, tiền bạc, và nhất là khác với Hê-rô-đê mải mê theo đuổi danh vọng, giàu sang và quyền lực.  Đấng Cứu Thế sinh ra cách Giê-re-sa-lem không xa, nhưng mọi người không hay biết, ngủ mê trong bóng tối.  Kinh thánh đã tiên báo về Đấng Cứu Thế mà họ không đọc hay thờ ơ, lãnh đạm. Sự việc xảy ra, thì Hê-rô-đê mới vội triệu tập các giáo trưởng và luật sĩ để dò hỏi.  Bài học đầu tiên có thể rút ra là: không khao khát thì không bao giờ thấy.

Giai đoạn hay thái độ thứ hai là phải lên đường thực hiện cuộc tìm kiếm, hay phải lái xe đi đến nhà thờ để tham dự Thánh lễ, và để thực hiện cuộc tìm kiếm Chúa.  Khao khát không thì chưa đủ, vì ngồi yên để chờ mà không đứng lên chuẩn bị để hành động thì không phải là khao khát thật.  Chúng ta thấy các đạo sĩ không ngồi chờ thụ động.  Thấy ánh sao lạ, họ quyết tâm lên đường ngay để thực hiện cuộc tìm kiếm. Trái lại, các giáo trưởng và luật sĩ biết rất rõ lời tiên báo trong Kinh thánh, và cả địa điểm Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra, và địa điểm đó lại gần và có phương tiện đi đến, nhưng họ đâu có nhúc nhích, lên đường.

Chúng ta thấy sự tương phản, trái ngược giữa hai thái độ trên cho thấy đức tin không phải là một ước mơ vẩn vơ hay một tư tưởng suông, thụ động.  Trái lại, tin là hành động, là thực hiện, là lên đường.

Thái độ thứ ba là không bỏ cuộc khi gặp gian nan, thử thách hay khó khăn.  Chúng ta thấy trong suốt hành trình, các đạo sĩ đã gặp không biết bao nhiêu khó khăn.  Nhưng thử thách lớn nhất đối với họ xảy ra khi ngôi sao dẫn đường biến mất.  Dầu vậy, họ đã không nản lòng cứ tiếp tục lên đường, và lòng kiên trì của họ đã đưa họ tới cùng đích.  Khi đối diện với tình cảnh khó khăn trong cuộc sống, chúng ta có thái độ như thế nào với Chúa, và đã hành động ra sao?  Hành trình đức tin đòi hỏi sự trung kiên, trung thành và kiên trì.

Thái độ thứ ba là nhận ra Thiên Chúa qua những tấm màn che lấp, hay qua những sự kiện khác với dự đoán của chúng ta.  Chúng ta thấy khi tới bên máng cỏ, các đạo sĩ chỉ thấy một hài nhi, một trẻ sơ sinh yếu hèn.  Họ tưởng gặp một Ấu nhi nằm trên giường vàng nệm bạc, hay nệm êm, chăn ấm như chúng ta, nhưng chỉ thấy hài nhi quấn khăn nằm trong máng cỏ, trong hang bò lừa, cô tịch giữa mùa đông giá lạnh.  Họ tìm một Thiên Chúa vinh quang nhưng chỉ gặp một hài nhi nghèo khó.  Họ tưởng gặp một công chúa và hoàng tử đứng bên cạnh, nhưng chỉ thấy hai ông bà nhà quê nghèo khó, đơn sơ.  Nhưng họ đã được Thánh Thần soi sáng, nên đã nhận ra đó chính là Con Thiên Chúa, và họ quì xuống thờ lạy, rồi mở “kho tàng” dâng cho Ngài những lễ vật quí giá, chỉ để dành dâng tiến cho các bậc quyền quí.  Khi chúng ta gặp Chúa, được Chúa ban ơn hay ngự trong tâm hồn chúng ta, chúng ta có dâng lên cho Chúa sự gì không? Có quí giá không? Hay của dự thừa? Và đây là thực chất của đức tin.  Tin không phải chỉ là nhìn thấy bằng con mắt thể xác, nhưng bằng đôi mắt tâm hồn.  Nếu chúng ta nhìn tấm bánh trắng trong Thánh lễ sau khi truyền phép bằng con mắt thể xác thì cũng chỉ là tấm bánh trắng mà thôi, nhưng nếu chúng ta nhìn bằng con mắt tâm hồn, đức tin, thì chúng ta mới thấy sự hiện diện của Chúa trong Tấm Bánh này.

Thái độ thứ tư cuối cùng là để cho cuộc đời biến đổi.  Chúng ta thấy, sau khi từ Be-lem ra về, các đạo sĩ đã không trở lại với Hê-rô-đê mà về bằng con đường khác.  Đời họ đã chuyển sang một hướng khác, một con đường khác.  Cuộc gặp gỡ với Hài nhi Giê-su đã đánh dấu một khúc quanh quan trọng vừa bất ngờ vừa quyết chí.  Nếu không có cuộc biến đổi hay đổi đời kèm theo cuộc gặp gỡ Thiên Chúa hay đã được Chúa ngự trong tâm hồn trong Thánh lễ, thì tin chỉ là một thái độ hời hợt bên ngoài, chứ không phải là một đức tin đích thực, hay không phải là một niềm xác tín đưa tới phó thác và dấn thân, đưa tới hy sinh và phục vụ, đưa tới bác ái và quảng đại, đưa tới khiêm nhường và trung kiên, đưa tới tốt lành thánh thiện hơn.

Ông bà anh chị em thân mến.  Những giai đoạn và thái độ nói trên không thể thiếu nơi người có và sống đức tin chân chính, và trong cuộc hành trình đức tin của chúng ta nơi dương thế về Quê Trời. Xin Chúa Giê-su Thánh Thể mà chúng ta sẽ lãnh nhận vào tâm hồn, biến đổi cuộc đời, và giúp chúng ta biết noi gương các đạo sĩ trong cuộc hành trình tìm kiếm Chúa nơi trần gian, để chúng ta sống trong an bình và ân sủng của Chúa, và đến được đích điểm là quê thật  Nước Trời.

Về mục lục

.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây