Tài liệu cuối của Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới: “Người trẻ, Đức tin và Sự Phân định Ơn gọi” – Thông tin và Giáo dục Salêdiêng Việt Nam

Thứ ba - 26/03/2019 00:07

Tài liệu cuối của Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới: “Người trẻ, Đức tin và Sự Phân định Ơn gọi” – Thông tin và Giáo dục Salêdiêng Việt Nam

Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.NGƯỜI TRẺ, ĐỨC TIN VÀ PHÂN ĐỊNH ƠN GỌI Tài liệu cuối của Thượng Hội Đồng Giám Mục về Giới Trẻ Roma...
Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

NGƯỜI TRẺ, ĐỨC TIN VÀ PHÂN ĐỊNH ƠN GỌI

Tài liệu cuối của Thượng Hội Đồng Giám Mục về Giới Trẻ
Roma 01-28/10/2018

Nội dung chính

  • 1 DẪN NHẬP
  • 2 LỜI GIỚI THIỆU
  • 3 PHẦN I: “NGƯỜI ĐÃ CÙNG ĐI VỚI HỌ”
    • 3.1 CHƯƠNG I: MỘT GIÁO HỘI LẮNG NGHE 
      • 3.1.1 Nghe và nhìn thấu cảm
      • 3.1.2 Sự đa dạng của bối cảnh và văn hóa
      • 3.1.3 Một cái nhìn đầu tiên về Giáo Hội ngày nay
    • 3.2 CHƯƠNG II: BA KHỚP NỐI QUAN TRỌNG
      • 3.2.1 Những mới mẻ trong môi trường kỹ thuật số
      • 3.2.2 Di dân như một điển hình của thời đại chúng ta
      • 3.2.3 Nhận biết và phản ứng với tất cả các hình thức lạm dụng
    • 3.3 CHƯƠNG III: CĂN TÍNH VÀ TƯƠNG QUAN
      • 3.3.1 Gia đình và những mối tương quan giữa các thế hệ
      • 3.3.2 Thân xác và đời sống tình cảm
      • 3.3.3 Những dạng thức của tình trạng dễ bị tổn thương
    • 3.4 CHƯƠNG IV: LÀ NGƯỜI TRẺ HÔM NAY
      • 3.4.1 Những khía cạnh văn hóa của người trẻ hôm nay
      • 3.4.2 Đời sống tâm linh và tôn giáo
      • 3.4.3 Tham dự và giữ vai chính
  • 4 PHẦN II: “MẮT HỌ MỞ RA”
      • 4.0.1 Một lễ ngũ tuần mới
    • 4.1 CHƯƠNG I: ÂN HUỆ TUỔI TRẺ
      • 4.1.1 Đức Giê-su trẻ giữa các bạn trẻ
      • 4.1.2 Trở nên trưởng thành
      • 4.1.3 Được mời gọi hướng đến tự do
    • 4.2 CHƯƠNG II: MẦU NHIỆM ƠN GỌI
      • 4.2.1 Việc tìm hiểu ơn gọi
      • 4.2.2 Ơn gọi bước theo Đức Giê-su
      • 4.2.3 Ơn gọi và các ơn gọi
    • 4.3 CHƯƠNG III: SỨ MẠNG ĐỒNG HÀNH
      • 4.3.1 Giáo Hội, người đồng hành
      • 4.3.2 Sự đồng hành nơi cộng đoàn, nhóm và cá nhân
      • 4.3.3 Những vị đồng hành tốt
    • 4.4 CHƯƠNG IV: NGHỆ THUẬT PHÂN ĐỊNH
      • 4.4.1 Giáo Hội, môi trường để phân định
      • 4.4.2 Lương tâm trong tiến trình phân định
      • 4.4.3 Thực hành việc phân định
  • 5 PHẦN III: “HỌ LÊN ĐƯỜNG NGAY LẬP TỨC”
      • 5.0.1 Một Giáo Hội trẻ trung
    • 5.1 CHƯƠNG I: SỰ HIỆP NHẤT SỨ VỤ CỦA GIÁO HỘI
      • 5.1.1 Một năng động nền tảng
      • 5.1.2 Một hình thức cho sứ vụ
    • 5.2 CHƯƠNG II: ĐỒNG HÀNH TRONG ĐỜI SỐNG THƯỜNG NHẬT
      • 5.2.1 Từ hệ thống tới tương quan
      • 5.2.2 Đời sống cộng đoàn
      • 5.2.3 Mục vụ giới trẻ từ góc nhìn ơn gọi
    • 5.3 CHƯƠNG III: ĐỔI MỚI NHIỆT TÂM TRUYỀN GIÁO
    • 5.4 CHƯƠNG IV: HUẤN LUYỆN TOÀN DIỆN
  • 6 KẾT LUẬN

DẪN NHẬP

1. “Ta sẽ đổ Thần Khí của Ta trên hết thảy người phàm, con trai con gái các ngươi sẽ trở thành ngôn sứ. Thanh niên sẽ thấy thị kiến, bô lão sẽ được báo mộng” (Cv 2, 17; Gl 3, 1). Đó chính là kinh nghiệm mà chúng tôi đã có trong Thượng Hội Đồng [1] lần này, khi cùng nhau bước đi và đặt mình lắng nghe tiếng Chúa Thánh Thần. Người đã làm chúng tôi ngạc nhiên sửng sốt với bao nhiêu là ân sủng. Người đã đổ đầy trong chúng tôi sự can đảm và sức mạnh của Người, hầu chúng tôi mang niềm hy vọng đến cho thế giới.

Chúng tôi cùng nhau bước đi, cùng với Đấng kế vị thánh Phê-rô. Ngài đã củng cố chúng tôi trong đức tin và tiếp thêm cho chúng tôi sức mạnh trong lòng nhiệt thành với sứ mạng. Dù đến từ những bối cảnh rất khác nhau về văn hoá và Giáo Hội, ngay từ khởi đầu, chúng tôi đã nhận thấy một tinh thần hoà hợp, một ước muốn đối thoại và một sự đồng cảm thực sự. Chúng tôi đã làm việc cùng nhau, đã chia sẻ những gì thật nhất trong lòng mình, đã cùng chia nhau những mối bận tâm và không hề che giấu những vất vả của mình. Rất nhiều bài tham luận đã làm chúng tôi rung động và làm nảy sinh nơi chúng tôi sự thương cảm của Tin Mừng: chúng tôi cảm nhận mình là một thân thể duy nhất, đau khổ và vui mừng. Chúng tôi muốn chia sẻ tất cả kinh nghiệm về ân sủng mà chúng tôi đã sống, đồng thời thông truyền đến toàn Giáo Hội và thế giới niềm vui của Tin Mừng.

Sự hiện diện của những người trẻ đánh dấu một điều mới mẻ: nhờ họ mà tiếng nói của cả một thế hệ đã được vang lên trong Thượng Hội Đồng. Khi cùng họ hành hương về mộ thánh Phê-rô, chúng tôi đã nghiệm ra rằng chính sự gần gũi tạo điều kiện thuận lợi để Giáo Hội trở thành một không gian đối thoại và làm chứng về tình huynh đệ khiến người ta say mê. Sức mạnh của cảm nghiệm ấy vượt trên mọi vất vả và yếu đuối. Chúa Giê-su tiếp tục lặp lại với chúng ta: Đừng sợ, Thầy ở cùng anh em.

Quá trình chuẩn bị

2. Chúng tôi đã được giúp đỡ rất nhiều từ sự đóng góp của các giám mục, sự hỗ trợ của các linh mục, tu sĩ, giáo dân, các chuyên gia, các nhà giáo dục và nhiều người khác nữa. Ngay từ đầu những người trẻ đã tham dự tích cực vào tiến trình của Thượng Hội Đồng ngang qua bản câu hỏi trực tuyến, và nhiều đóng góp cá nhân. Trên tất cả, cuộc họp Tiền Thượng Hội Đồng là dấu chứng hùng hồn về sự tham dự ấy. Sự đóng góp của họ là thiết yếu, như trong trình thuật về năm chiếc bánh và hai con cá: Chúa Giê-su có thể thực hiện phép lạ là nhờ sự sẵn lòng của một cậu bé đã quảng đại dâng những gì mình có (x. Ga 6,8-11).

Tất cả những đóng góp đã được tóm tắt lại trong tài liệu Instrumentum laboris. Đây là nền tảng vững chắc để đối chiếu trong suốt những tuần lễ diễn ra Thượng Hội Đồng. Giờ đây, Tài liệu cuối cùng này là góp nhặt kết quả của hành trình đã qua và mở ra với tương lai: là tổng hợp những gì các Thượng Phụ đã nhận ra, đã diễn giải và đã chọn lựa dưới ánh sáng của Lời Chúa.

Tài liệu cuối cùng của Thượng Hội Đồng

3. Cần làm rõ mối liên hệ giữa Instrumentum laborisTài liệu cuối cùng. Tài liệu đầu tiên là khung tham chiếu thống nhất và tổng hợp, là kết tinh từ hai năm lắng nghe. Tài liệu thứ hai là thành quả của việc thực hiện phân định và là tập hợp các chủ đề thiết yếu đã nảy sinh, những chủ đề đã được các Thượng Phụ nhấn mạnh với sự quan tâm và say mê cách đặc biệt. Do đó, chúng tôi nhìn nhận cả sự khác biệt và tính bổ sung tương hỗ của hai văn bản này.

Tài liệu cuối cùng này đệ trình cho Đức Thánh Cha (x. ĐGH Phan-xi-cô, Episcopalis communio, số 18; hướng dẫn số 35 §5) và cũng cho toàn thể Giáo Hội, như là thành quả của Thượng Hội Đồng. Vì hành trình của Thượng Hội Đồng vẫn chưa kết thúc và dự kiến trong thời điểm hiện tại (x. Episcopalis communio, số 19-21), Tài liệu cuối cùng sẽ là một bản đồ định hướng cho các bước tiếp theo mà Giáo Hội được mời gọi để di chuyển.

LỜI GIỚI THIỆU

Chúa Giê-su đồng hành với các môn đệ trên đường Em-mau

4. Trình thuật về hai môn đệ trên đường Em-mau (x. Lc 24,13-35) là một bản văn điển hình để hiểu về sứ mạng của Giáo Hội đối với những thế hệ trẻ. Trình thuật ấy thể hiện rõ những gì chúng tôi đã trải qua tại Thượng Hội Đồng và những gì chúng tôi mong mỗi Giáo Hội địa phương của chúng ta có thể sống trong tương quan với người trẻ. Chúa Giê-su cùng đi với hai môn đệ, là những người không hiểu ý nghĩa của những biến cố đã xảy đến với Người. Họ đang rời xa Giê-ru-sa-lem và lìa bỏ cộng đoàn. Để có thể ở lại trong sự bầu bạn với họ, Người cùng bước đi với họ. Người đặt câu hỏi và lắng nghe lời tường thuật theo cách của họ về những gì đã xảy ra, hầu giúp họ nhận biết những gì mình đang trải qua. Rồi Người loan truyền Lời Chúa cho họ, với sự trìu mến và với đầy năng lượng, giúp họ diễn giải dưới ánh sáng của Lời Chúa những biến cố mà họ đã trải qua. Người nhận lời mời ở lại với họ lúc ngày đã tàn: Người bước vào trong đêm tối của họ. Qua việc lắng nghe, con tim của họ dần ấm lên và tâm trí của họ được rọi sáng. Qua việc bẻ bánh, mắt họ mở ra. Chính họ chọn lựa tiếp tục cuộc hành trình theo hướng ngược lại không chút chậm trễ, để trở về với cộng đoàn và chia sẻ kinh nghiệm gặp gỡ Đấng Phục Sinh.

Tiếp nối tài liệu Instrumentum laboris, Tài liệu cuối cùng này được chia thành ba phần, đánh dấu theo nhịp của trình thuật trên. Phần đầu tiên có tựa đề là “Ngài đã cùng đi với họ” (Lc 24,15), tìm cách làm sáng tỏ những gì mà các Thượng Phụ đã nhận biết về bối cảnh sống của những người trẻ, đồng thời nêu bật những thuận lợi và thách đố của bối cảnh ấy. Phần thứ hai, “Mắt họ mở ra” (Lc 24,31), diễn giải và cung cấp một số giải thích cơ bản để đọc những chủ đề của Thượng Hội Đồng. Phần thứ ba, có tựa đề “Ngay lập tức họ lên đường” (Lc 24,33), thu thập các lựa chọn cho một sự hoán cải thiêng liêng, mục vụ và truyền giáo. 

PHẦN I: “NGƯỜI ĐÃ CÙNG ĐI VỚI HỌ”

5. “Cùng ngày hôm đó, hai người trong số họ lên đường đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem khoảng mười một cây số. Họ vừa đi vừa trò chuyện với nhau về mọi chuyện đã xảy ra. Trong khi họ đang trò chuyện và thảo luận với nhau, chính Chúa Giê-su tiến đến và cùng đi với họ ”(Lc 24,13-15).

Trong đoạn văn này, tác giả Tin Mừng họa lại ước mong của hai người lữ hành trong việc tìm kiếm một ý nghĩa cho các biến cố mà họ đã trải qua. Cần lưu ý đến thái độ của Chúa Giê-su khi Người đặt mình cùng đi với họ. Đấng Phục Sinh khao khát đồng hành với mỗi người trẻ hôm nay, đón nhận cả những kỳ vọng cũng như thất vọng của họ. Người đón nhận cả những hy vọng không chính đáng. Chúa Giê-su cùng đi, lắng nghe và chia sẻ.

CHƯƠNG I: MỘT GIÁO HỘI LẮNG NGHE 

Nghe và nhìn thấu cảm

Giá trị của việc lắng nghe

6. Lắng nghe là một cuộc gặp gỡ của tự do, đòi hỏi lòng khiêm nhường, sự kiên nhẫn, và việc sẵn sàng thấu hiểu. Đó là một dấn thân cách mới mẻ để tìm câu trả lời. Sự lắng nghe làm biến đổi con tim của những ai thực hành nó, nhất là khi người ấy đặt mình lắng nghe bằng một thái độ nội tâm hòa hợp và nhu thuận với Chúa Thánh Thần. Lắng nghe không phải chỉ là tổng hợp thông tin, cũng không phải là một chiến lược để đạt được mục tiêu, nhưng là các thức mà chính Thiên Chúa đặt mình vào tương quan dân Người. Thực vậy, Thiên Chúa nhìn thấy đau khổ của dân Người và nghe thấy tiếng khóc than của họ. Ngài đã để cho mình bị đụng chạm trong tận nơi sâu thẳm, và đi xuống để giải phóng họ (Xh 3,7-8). Vì thế, qua việc lắng nghe, Giáo Hội bước vào guồng chuyển động của Thiên Chúa, Đấng đến và gặp gỡ mọi người nơi Người Con.

Người trẻ mong được lắng nghe

7. Các bạn trẻ liên tục phải thực hiện các chọn lựa để định hướng cho cuộc sống của mình. Họ bày tỏ ước mong được lắng nghe, được nhìn nhận, và được đồng hành. Rất nhiều bạn trẻ nghiệm thấy chừng như tiếng nói của mình chẳng được ai quan tâm và chẳng hữu ích gì trong cộng đồng xã hội và Giáo Hội. Trong nhiều bối cảnh khác nhau, hầu như chẳng có ai quan tâm đến tiếng kêu cầu của họ, đặc biệt là trường hợp của những người nghèo nhất và bị bóc lột nhiều nhất. Cả những người lớn cũng thiếu sự sẵn sàng và khả năng lắng nghe.

Việc lắng nghe trong Giáo Hội

8. Trong Giáo Hội, không thiếu những sáng kiến và những trải nghiệm chắc chắn mà qua đó người trẻ có thể nghiệm được sự đón nhận, thấy tiếng nói của mình được lắng nghe. Tuy nhiên, Thượng Hội Đồng thừa nhận rằng không phải lúc nào cộng đoàn Giáo Hội cũng biết làm nổi bật thái độ mà Đấng Phục Sinh dành cho các môn đệ Em-mau: trước khi soi sáng cho họ bằng Lời Chúa, Người đã hỏi họ: “Dọc đường, các anh bàn luận với nhau về chuyện gì thế?” (Lc 24,17). Đôi khi, chúng ta có xu hướng cung cấp những câu trả lời được soạn sẵn, những công thức đã có sẵn, mà không để cho những câu hỏi của người trẻ có cơ hội được giải bày cách mới mẻ và biết đón nhận những thách thức đến từ các câu hỏi ấy.

Lắng nghe tạo cơ hội cho việc trao đổi, trong bầu khí đồng cảm. Việc lắng nghe cho phép người trẻ cống hiến những đóng góp của họ cho cộng đoàn, giúp cộng đoàn có được những nhạy cảm mới mẻ và biết đặt ra cho mình những câu hỏi mới. Đồng thời, sự lắng nghe tạo điều kiện để việc loan báo Tin Mừng có thể thực sự chạm đến trái tim, theo một cách thức tinh tế và hiệu quả.

Việc lắng nghe của các mục tử và những người giáo dân có chuyên môn

9. Lắng ghe là thời khắc quan trọng trong thừa tác vụ của các mục tử, và nhất là các giám mục. Tuy nhiên, các vị này thường có quá nhiều việc để làm và họ phải rất vất vả mới có thể tìm được thời gian thích hợp cho việc phục vụ vô cùng cần thiết này. Nhiều vị đã nhận thấy việc thiếu người có chuyên môn và muốn dấn thân cho việc đồng hành. Tin vào giá trị thần học và mục vụ của việc lắng nghe đòi hỏi phải cân nhắc để đổi mới các cách thức thực thi sứ vụ linh mục thường thấy, cũng như việc phải xác định những ưu tiên cho các cách thức ấy. Hơn nữa, Thượng Hội Đồng nhận thấy cần phải chuẩn bị cho những người sống đời thánh hiến và cả giáo dân nam nữ để họ có khả năng đồng hành với người trẻ. Đặc sủng biết lắng nghe, ơn mà Chúa Thánh Thần ban cho cộng đoàn, có thể được công nhận bằng một hình thức mang tính thể chế trong việc phục vụ trong Giáo Hội.

Sự đa dạng của bối cảnh và văn hóa

Một thế giới ở dạng số nhiều

10. Các thành phần tham dự Thượng Hội Đồng đã cho thấy sự hiện diện và đóng góp của các vùng khác nhau trên thế giới, làm nổi bật vẻ đẹp của Giáo Hội phổ quát. Mặc dù bối cảnh toàn cầu hóa đã càng lúc càng tăng, các Giáo Phụ vẫn yêu cầu làm rõ những khác biệt giữa các bối cảnh và văn hóa, ngay cả trong cùng một quốc gia. Có một sự đa dạng trong thế giới của người trẻ, đến độ ở một số nước người ta có xu hướng sử dụng thuật ngữ “tuổi trẻ” ở dạng số nhiều. Hơn nữa, nhóm tuổi được Thượng Hội Đồng này xem là trẻ (16-29 tuổi) không đại diện cho một tổng thể đồng nhất, nhưng bao gồm các nhóm sống trong những hoàn cảnh đặc thù.

Tất cả những khác biệt này có ảnh hưởng sâu sắc đến kinh nghiệm cụ thể mà người trẻ đang sống: thực vậy, những khác biệt ấy liên quan đến các giai đoạn khác nhau của độ tuổi đang lớn, các dạng thức của những kinh nghiệm tôn giáo, cấu trúc và tầm quan trọng của gia đình trong việc truyền trao đức tin, tương quan giữa các thế hệ – như vai trò của người già và sự tôn trọng mà họ đáng được nhận – các phương thức tham gia vào đời sống xã hội, thái độ hướng đến tương lai, câu hỏi đại kết và liên tôn. Thượng Hội Đồng nhìn nhận và chào đón sự phong phú đa dạng của các nền văn hóa, đồng thời đặt mình phục vụ cho sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần.

Những thay đổi đang diễn ra

11. Đặc biệt nổi bật là sự khác biệt về việc bố trí dân số. Một số quốc gia có tỉ lệ sinh cao, trong đó người trẻ chiếm một tỉ lệ lớn và càng lúc càng tăng; trong khi đó tại một số quốc gia khác, tỉ lệ và gánh nặng này đang giảm. Một khác biệt nữa xuất phát từ lịch sử. Có các quốc gia và lục địa vốn đã có truyền thống Ki-tô giáo cổ xưa, dòng văn hóa của những vùng này cưu mang nơi mình một ký ức không thể chia cách; trong khi đó, lại có các quốc gia và lục địa được ghi dấu bởi các truyền thống tôn giáo khác, nơi đó Ki-tô giáo chỉ là thiểu số và đôi khi còn rất mới mẻ. Ở các vùng lãnh thổ khác, cộng đoàn Ki-tô hữu và những người trẻ lại trở thành đối tượng bị bách hại.

Sự loại trừ và dạt ra bên lề

12. Mặt khác, giữa các quốc gia khác nhau, hoặc chính trong nội bộ của mỗi quốc gia, cũng có những khác biệt do cấu trúc xã hội và sức mạnh kinh tế. Những khác biệt này đôi khi làm phân rẽ rạch rạch ròi giữa những người càng ngày càng có nhiều cơ hội phát triển nhờ việc toàn cầu hóa, với những người bị dạt ra bên lề xã hội, những người sống ở nông thôn, những người phải gánh chịu hậu quả của của việc bị kỳ thị và loại trừ. Nhiều bài tham luận khác nhau đã cho thấy sự cấp thiết của việc Giáo Hội phải can đảm đứng về phía những người nghèo, phải tham gia vào việc dựng xây các giải pháp có khả năng tháo bỏ sự loại trừ và tình trạng bị dạt ra bên lề, đồng thời thăng tiến việc đón nhận, đồng hành và hội nhập. Vì lý do này, cần phải ý thức về sự thờ ơ trong lối sống của nhiều Ki-tô hữu, để vượt qua sự thờ ơ đó bằng việc đào sâu chiều kích xã hội của đức tin.

Những người nam và nữ

13. Chúng ta không thể không ý thức về sự khác biệt giữa người nam và người nữ, những khả năng đặc thù, sự nhạy cảm riêng biệt và những kinh nghiệm khác nhau của họ về thế giới. Từ sự khác biệt này có thể sinh ra các hình thức thống trị, loại trừ và kỳ thị. Toàn xã hội và bản thân Giáo Hội cũng cần phải giải phóng mình khỏi những hình thức ấy.

Kinh Thánh cho thấy người nam và người nữ là những người bạn đời bình đẳng trước mặt Thiên Chúa (x. St 5, 2): mọi sự thống trị và kỳ thị về giới tính đều xúc phạm đến nhân phẩm con người. Kinh Thánh cũng trình bày sự khác biệt giới tính như là một mầu nhiệm, vừa như một yếu tố cấu thành của hiện hữu con người nhưng vừa không thể bị rút gọn vào những khuôn mẫu. Vì thế, tương quan giữa người nam và người nữ được hiểu như là một ơn gọi chung sống trong sự hỗ tương và đối thoại, trong sự hiệp thông và sinh sôi nảy nở (x. St 1,27-29; 2,21-25) trong tất cả các lĩnh vực của kinh nghiệm con người: trong đời sống lứa đôi, công việc, giáo dục và những điều khác nữa. Thiên Chúa đã giao phó trái đất cho giao ước của họ.

Nền thực dân văn hóa

14. Nhiều Thượng Phụ đến từ những bối cảnh không phải Tây phương đã chỉ ra rằng tại các quốc gia của họ việc toàn cầu hóa cưu mang nơi mình những hình thức thực dân văn hóa thực sự, bứng người trẻ khỏi những gốc rễ văn hóa và tôn giáo mà họ xuất thân. Giáo Hội cần phải dấn thân thật sự để đồng hành với người trẻ trong chặng đường này mà không làm mất đi những đặc điểm quý giá nhất nơi bản sắc của họ.

Đã có những lối giải thích khác nhau về quá trình tục hóa. Trong khi một số người coi đây là cơ hội quý giá để thanh tẩy chính mình khỏi một thứ tôn giáo dựa theo tập quán hoặc dựa trên tính sắc tộc và quốc gia; với một số người khác, đó là một trở ngại cho việc thông truyền đức tin. Trong các xã hội thế tục, chúng ta cũng chứng kiến ​​một cuộc tái khám phá về Thiên Chúa và đời sống tâm linh. Điều này thôi thúc Giáo Hội phục hồi tầm quan trọng của những năng động trong đức tin của mình, cũng như của việc rao giảng và đồng hành mục vụ.

Một cái nhìn đầu tiên về Giáo Hội ngày nay

Dấn thân giáo dục của Giáo Hội

15. Tại nhiều nơi, người trẻ nhìn Giáo Hội như một sự hiện diện sống động và hấp dẫn. Sự hiện diện ấy cũng có ý nghĩa quan trọng đối với những bạn bè đồng trang lứa của họ, những người không tin hoặc thuộc về các tôn giáo khác. Các cơ sở giáo dục của Giáo Hội luôn cố gắng đón tiếp tất cả người trẻ, không phân biệt tôn giáo, xuất thân văn hóa, tình trạng cá nhân, hoàn cảnh gia đình hoặc xã hội. Bằng cách này, Giáo Hội đóng góp cách nền tảng cho việc giáo dục toàn diện người trẻ ở nhiều nơi trên thế giới. Điều này đạt được thông qua việc giáo dục tại các trường học, ở tất cả các cấp và trong các trung tâm dạy nghề, các trường cao đẳng và đại học, cũng như trong các trung tâm thanh thiếu niên và các phòng thí nghiệm; việc dấn thân này cũng được thực hiện thông qua việc đón tiếp người di dân và tị nạn cũng như vô số những dấn thân khác trong lĩnh vực xã hội. Trong tất cả những sự hiện diện này, Giáo Hội kết hợp việc giáo dục và thăng tiến con người, giữa đời sống chứng tá và việc loan báo Tin Mừng. Khi có thể gợi hứng cho các cuộc đối thoại liên văn hóa và liên tôn giáo, hoạt động giáo dục của Giáo Hội được cả những người ngoài Ki-tô giáo nhìn nhận như là một hình thức thăng tiến con người đích thực.

Các hoạt động mục vụ giới trẻ

16. Trong hành trình của Thượng Hội Đồng, xuất hiện nhu cầu nhìn lại việc mục vụ cho người trẻ dưới ánh sáng của ơn gọi, nghĩa là xem tất cả những người trẻ như là đối tượng của việc mục vụ ơn gọi. Thượng Hội Đồng nhấn mạnh đến tính cần thiết của việc phải phát triển các quy trình mục vụ hoàn chỉnh, từ thời thơ ấu cho tới đời sống trưởng thành và gia nhập cộng đoàn Ki-tô hữu. Thượng Hội Đồng cũng nhận thấy rằng có nhiều nhóm giáo dân khác nhau, nhiều phong trào và hiệp hội giới trẻ đang thực hiện một tiến trình hiệu quả trong việc đồng hành và huấn luyện những người trẻ trong đời sống đức tin.

Ngày giới trẻ thế giới – sinh ra từ một trực giác tiên tri của Thánh Gioan Phaolô II và vẫn còn là điểm quy tụ cho những người trẻ thuộc thiên niên kỷ thứ ba – cùng với những cuộc gặp gỡ ở cấp quốc gia và giáo phận, đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của nhiều người trẻ. Những cuộc gặp gỡ này mang lại một kinh nghiệm sống động về đức tin và tình hiệp thông, giúp người trẻ có thể đối diện với những thử thách lớn lao của cuộc sống, có thể đảm nhận trách nhiệm của mình trong xã hội và trong cộng đoàn Giáo Hội. Do đó, những cuộc gặp gỡ này có thể được xem như là việc đồng hành mục vụ thường kỳ trong từng cộng đoàn, nơi đó việc đón nhận Tin Mừng phải được đào sâu và biến thành những lựa chọn trong cuộc sống.

Gánh nặng của việc quản trị

17. Nhiều Thượng Phụ chỉ ra rằng gánh nặng của công việc quản trị đã làm tiêu tốn rất nhiều năng lượng và đôi khi làm các mục tử kiệt sức. Đây là một trong những lý do khiến cho việc gặp gỡ người trẻ và đồng hành với họ trở nên khó khăn. Để dành ưu tiên rõ hơn cho các dấn thân mục vụ và thiêng liêng, các Thượng Phụ đã nhấn mạnh rằng cần phải suy nghĩ về phương cách cụ thể trong việc thực thi các tác vụ.

Tình hình của các giáo xứ

18. Giáo xứ vẫn là mô hình đầu tiên và chính yếu của Giáo Hội nơi các địa phương. Dẫu vậy nhiều tiếng nói khác nhau cho thấy mô hình giáo xứ đã gặp phải những khó khăn trong việc trở thành một nơi thích hợp cho người trẻ, cũng như việc cần phải suy nghĩ lại về ơn gọi truyền giáo của người trẻ. Thực tế về vai trò mờ nhạt của giáo xứ trong môi trường đô thị, những mô hình thiếu năng động, cùng với những đổi thay về không gian và thời gian của cuộc sống đòi hỏi phải có một sự đổi mới trong mô hình giáo xứ. Cả khi đã có nhiều nỗ lực đổi mới, cuộc sống của người trẻ thường vẫn như một dòng chảy bên lề và không hòa vào được đời sống của cộng đoàn.

Việc khai tâm Ki-tô giáo

19. Nhiều tham dự viên lưu ý rằng hành trình khai tâm Ki-tô giáo không phải lúc nào cũng thành công trong việc trình bày vẻ đẹp của kinh nghiệm đức tin cho thanh thiếu niên và những người trẻ. Khi trở nên như một nơi hiệp thông và như một gia đình thực sự của con cái Thiên Chúa, cộng đoàn diễn tả một sức mạnh có khả năng làm phát sinh và thông truyền đức tin. Ngược lại, ở những nơi mà cộng đoàn mang bóng dáng của uy quyền và nặng tính tổ chức quan liêu, hành trình khai tâm Ki-tô giáo sẽ bị hiểu lầm chỉ như là một tiến trình huấn giáo và thường sẽ chấm dứt với Bí Tích Thêm Sức. Do đó, cần phải khẩn thiết suy nghĩ lại cách sâu xa về lối dạy giáo lý, về mối liên hệ giữa gia đình và cộng đoàn trong việc thông truyền đức tin, cũng như cần đẩy mạnh những tiến trình đồng hành cá nhân.

Việc huấn luyện các chủng sinh và những người sống đời thánh hiến

20. Các chủng viện và các nhà huấn luyện là những nơi rất quan trọng, nơi đó những người trẻ được kêu gọi vào đời sống tư tế và thánh hiến có thể đào sâu chọn lựa ơn gọi cá nhân và trưởng thành hơn trong hành trình làm môn đệ. Đôi khi những môi trường huấn luyện này lại không hiểu cách thích đáng về kinh nghiệm mà ứng viên đã trải qua, hoặc đánh giá thấp tầm quan trọng của những kinh nghiệm ấy. Thực trạng này chặn đứng việc trưởng thành của ứng viên, vì nó có nguy cơ đưa ra những giả định chỉ dựa trên những biểu hiện bên ngoài, thay vì giúp phát triển những ân huệ của Thiên Chúa nơi ứng viên và giúp họ hướng đến một sự hoán cải sâu xa từ trong con tim.

CHƯƠNG II: BA KHỚP NỐI QUAN TRỌNG

Những mới mẻ trong môi trường kỹ thuật số

Một hiện thực phổ biến

21. Môi trường kỹ thuật số là điều đặc trưng của thế giới đương đại. Nó thấm nhập vào phần lớn đời sống của nhân loại một cách tự nhiên và liên tục. Ở đây không chỉ bàn về việc “sử dụng” các phương tiện thuyền thông, mà là việc sống trong một nền văn hóa đã được số hóa rộng rãi. Nền văn hóa ấy tác động rất sâu sắc đến ý niệm về thời gian và không gian, đến nhận thức về chính mình, về người khác và về thế giới, đến cách giao tiếp, cách hiểu biết, cách truyền tải thông tin, cách đi vào các tương quan với tha nhân. Cách tiếp cận hiện thực theo xu hướng dành ưu quyền cho hình ảnh hơn là việc nghe và đọc sẽ ảnh hưởng đến cách nhận thức cũng như sự phát triển về mặt phản biện. Cho đến nay, rõ ràng “môi trường kỹ thuật số không phải là một thế giới song song hay thuần tuý ảo, mà là một phần của hiện thực thường nhật của rất nhiều người, đặc biệt là những người trẻ” (ĐGH Biển Đức XVI, Thông điệp Ngày Truyền thông xã hội thế giới XLVII).

Mạng lưới của các cơ hội

22. Các trang web và mạng xã hội là nơi người trẻ dành rất nhiều thời gian và gặp gỡ nhau dễ dàng, dù cho không phải tất cả mọi người đều có thể truy cập cách bình đẳng, đặc biệt là ở một số khu vực trên thế giới. Những trang mạng đang tạo nên một cơ hội đặc biệt cho việc đối thoại, gặp gỡ và trao đổi giữa con người, cũng như trong việc tiếp cận thông tin và kiến thức. Hơn nữa, các loại hình kỹ thuật số cũng tạo điều kiện cho việc tham gia chính trị-xã hội và quyền công dân cách tích cực, và có thể tạo thuận lợi cho việc lưu chuyển thông tin độc lập, nhờ đó có khả năng bảo vệ hiệu quả những người dễ bị tổn thương nhất bằng cách chỉ ra những điều vi phạm đến các quyền của họ. Ở nhiều quốc gia, các trang web và mạng xã hội giờ là một nơi không thể thiếu để tiếp cận người trẻ và giúp họ tham gia vào cả trong những sáng kiến và hoạt động mục vụ.

Mặt tối của mạng Internet

23. Môi trường kỹ thuật số cũng là lãnh địa của sự cô đơn, thao túng, khai thác và bạo lực, thậm chí đến mức cực đoan như trường hợp các web đen. Phương tiện truyền thông kỹ thuật số có thể phơi bày nguy cơ của việc bị lệ thuộc, cô lập và việc mất dần nối kết với hiện thực cụ thể của cuộc sống, gây cản trở sự phát triển của các mối quan hệ chân thực giữa người với người. Các hình thức bạo lực mới đang lây lan qua các phương tiện truyền thông xã hội, chẳng hạn như việc bắt nạt trực tuyến; web cũng là một kênh để phổ biến các nội dung khiêu dâm và khai thác người dùng theo các mục đích tình dục hoặc cờ bạc.

24. Cuối cùng, các lợi nhuận kinh tế khổng lồ trong thế giới kỹ thuật số có khả năng tạo ra những hình thức kiểm soát vừa tinh tế vừa xâm lấn, tạo lập các cơ chế thao túng lương tâm và tiến trình dân chủ. Các loại sân chơi này thường dẫn đến việc chỉ thúc đẩy các cuộc gặp gỡ giữa những người có lối nghĩ giống nhau, và cản trở việc gặp gỡ giữa các khác biệt. Các vòng khép kín này tạo thuận lợi cho việc phổ biến thông tin và tin tức sai lệch, thúc đẩy các thành kiến và lòng hận thù. Sự gia tăng tin giả là biểu hiện của một nền văn hóa đã đánh mất cảm thức chân lý và bẻ cong sự thật vì những lợi ích cụ thể. Danh dự của nhiều người bị đe doạ từ các quy trình tóm tắt trực tuyến. Hiện tượng này cũng liên quan đến Giáo Hội và các mục tử của Giáo Hội.

Di dân như một điển hình của thời đại chúng ta

Một hiện tượng đa dạng

25. Di dân đã trở thành một hiện tượng có tính cơ cấu ở tầm mức thế giới, chứ không còn là một trường hợp khẩn cấp tạm thời nữa. Hiện tượng ấy có thể diễn ra trong cùng một quốc gia hoặc giữa các quốc gia khác nhau. Giáo Hội đặc biệt lưu tâm đến những người phải chạy trốn chiến tranh, bạo lực, bắt bớ chính trị hay tôn giáo, thiên tai do biến đổi khí hậu, và nghèo đói cùng cực: nhiều người trong số họ là người trẻ. Nói chung, họ đang tìm kiếm cơ hội cho bản thân và gia đình của họ. Họ mơ ước một tương lai tốt đẹp hơn và mong muốn tạo ra các điều kiện để thực hiện ước mơ đó.

Nhiều Thượng Phụ đã nhấn mạnh rằng di dân là một “kiểu mẫu” có khả năng làm bừng sáng thời đại của chúng ta, đặc biệt là đối với hoàn cảnh của người trẻ. Những người di cư nhắc chúng ta về tình trạng ban đầu của đức tin, đó là tình trạng làm “người lạ và khách hành hương trên mặt đất” (Dt 11, 13).

Bạo lực và tính dễ bị tổn thương

26. Những người di cư khác bị thu hút bởi văn hóa phương Tây, có khi họ nuôi dưỡng những kỳ vọng không thực tế khiến họ bị thất vọng nặng nề. Những kẻ buôn người vô đạo đức, thường liên quan đến ma túy và vũ khí, đã khai thác điểm yếu của những người di cư. Điều rất thường xuyên đồng hành trên bước đường của người di cư là bạo lực, buôn người, lạm dụng tâm lý và thậm chí thể chất, và những đau khổ không nói nên lời. Cần chú ý đến tính dễ bị tổn thương cách đặc biệt của những người di cư nhỏ tuổi không có người đồng hành, và tình trạng của những người bị buộc phải ở nhiều năm trong các trại tị nạn hoặc những người bị kẹt ở các nước quá cảnh, không có điều kiện theo đuổi học hành và không có cơ hội thể hiện tài năng của họ. Ở một số quốc gia mà người di cư đến, hiện tượng di dân đã gây nên những e dè và sợ hãi, thường trở thành mục tiêu bị xúi dục và khai thác vì động cơ chính trị. Điều này làm lan rộng tâm lý bài xích, đóng cửa và rút vào chính mình; vì thế, cần có phản ứng dứt khoát với tình trạng này.

Những câu chuyện chia ly và gặp gỡ

27. Những người trẻ di cư nghiệm thấy sự tách biệt khỏi bối cảnh quê hương của họ và thường cũng là tách biệt khỏi cội nguồn văn hóa và tôn giáo. Sự rạn nứt cũng xảy ra nơi các cộng đồng ở quê nhà khi bị mất các nhân tố trụ cột và tháo vát nhất. Tình trạng chia ly xảy ra cho các gia đình, đặc biệt là khi một người hoặc cả cha lẫn mẹ di cư, để con cái ở lại trong nước. Với những người trẻ thuộc về các gia đình ly tán như thế này, Giáo Hội đóng một vai trò quan trọng.

Tuy nhiên, những người di cư cũng tạo nên lịch sử gặp gỡ giữa người với người và giữa các nền văn hóa: đối với cộng đồng và xã hội nơi họ đến, những người di cư mang đến một cơ hội làm phong phú và phát triển khía cạnh nhân bản trọn vẹn cho tất cả mọi người. Từ điểm này, các sáng kiến đón nhận di dân xuất phát từ Giáo Hội đóng một vai trò quan trọng, và chúng có thể giúp hồi sinh những cộng đồng có khả năng hiện thực hóa các sáng kiến đó.

Vai trò tiên tri của Giáo Hội

28. Nhờ xuất xứ đa dạng của các Thượng Phụ, khi bàn tới chủ đề di dân Thượng Hội Đồng đã quy tụ nhiều quan điểm, đặc biệt là giữa các quốc gia có người di cư và các quốc gia có người nhập cư. Hơn nữa, Giáo Hội được nghe thấy tiếng kêu báo động từ các Giáo Hội địa phương có thành viên bị buộc phải chạy trốn vì chiến tranh và khủng bố. Những cuộc di cư bắt buộc này đe dọa sự sống còn của các Giáo Hội ấy. Việc hàm chứa tất cả các quan điểm khác nhau như vậy đã đặt Giáo Hội vào vị trí phải thực hiện một vai trò tiên tri đối với xã hội về chủ đề di dân.

Nhận biết và phản ứng với tất cả các hình thức lạm dụng

Thực thi chân lý và cầu xin tha thứ

29. Các loại lạm dụng khác nhau do một số giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân gây ra cho các nạn nhân, trong số đó có nhiều người trẻ, tạo nên những đau khổ có thể kéo dài suốt đời. Chẳng một sự hối hận nào có thể chữa lành được những đau khổ ấy. Thực trạng này phổ biến trong xã hội, có cả phần của Giáo Hội, là một trở ngại nghiêm trọng đối với sứ mạng của Giáo Hội. Thượng Hội Đồng tái khẳng định cam kết kiên quyết của mình đối với việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt nhằm ngăn chặn việc lặp lại các lạm dụng, khởi đi từ việc lựa chọn và đào tạo những người sẽ được giao trách nhiệm và sứ vụ giáo dục.

Trở về cội nguồn

30. Có nhiều loại lạm dụng khác nhau: quyền lực, kinh tế, lương tâm, tình dục. Điều hiển nhiên là phải xóa bỏ những loại hình thực thi quyền bính tạo kẽ hở và đi ngược lại tính trách nhiệm và tính minh bạch vốn đã dẫn đến nhiều trường hợp lạm dụng. Mong muốn thống trị, thiếu đối thoại và minh bạch, các hình thức sống hai mặt, sự thiếu vắng đời sống thiêng liêng, cũng như sự mong manh về mặt tâm lý chính là mảnh đất màu mỡ cho sự lạm dụng. Cách đặc biệt, chủ nghĩa giáo sĩ trị, “phát sinh từ tầm nhìn đặc quyền và không bao gồm tầm nhìn ơn gọi, đã diễn giải thánh chức như một quyền lực để thực thi chứ không phải như một ơn gọi phục vụ vô vị lợi và quảng đại; và điều này dẫn đến việc tự xem mình thuộc về một nhóm sở hữu tất cả mọi giải đáp và không còn cần phải lắng nghe và học bất cứ điều gì, hoặc chỉ giả vờ lắng nghe.”(ĐGH Phan-xi-cô, Diễn từ dành cho Thượng Hội Đồng, tại Phiên họp Khoáng Đại đầu tiên, ngày 3 tháng 10 năm 2018).

Lòng biết ơn và sự khích lệ

31. Thượng Hội Đồng bày tỏ lòng biết ơn đối với những người có can đảm tố cáo ngay tội trạng: họ giúp Giáo Hội nhận thức về những gì đã xảy ra và sự cần thiết phải phản ứng dứt khoát. Thượng Hội Đồng cũng đánh giá cao và khuyến khích sự cam kết chân thành của vô số nam nữ giáo dân, tu sĩ, linh mục và giám mục, những người sống mỗi ngày với sự trung thực và tận hiến phục vụ người trẻ. Công việc của họ như một khu rừng đâm chồi nảy lộc mà không gây tiếng ồn. Ngoài ra, nhiều người trẻ có mặt tại Thượng Hội Đồng bày tỏ lòng biết ơn của họ đối với những người đã đồng hành cùng họ và đã tái khẳng định nhu cầu cần thiết phải đề cập đến họ. Đức Giê-su không bao giờ bỏ rơi Giáo Hội của mình, Ngài ban cho Giáo Hội sức mạnh và các phương tiện trong hành trình mới. Khi xác nhận đường hướng “các hành động và các biện pháp chế tài cần thiết” kịp thời (ĐGH Phan-xi-cô, Thư gửi Dân Chúa, ngày 20 tháng 8 năm 2018, số 2) và nhận thức rằng lòng thương xót đòi hỏi công lý, Thượng Hội Đồng công nhận rằng việc giải quyết vấn đề lạm dụng trong tất cả các khía cạnh, cả với sự giúp đỡ quý giá của những người trẻ, thực sự có thể là cơ hội để cải cách cả dòng chảy của thời đại.

CHƯƠNG III: CĂN TÍNH VÀ TƯƠNG QUAN

Gia đình và những mối tương quan giữa các thế hệ

Gia đình, điểm tham chiếu ưu tiên

32. Gia đình tiếp tục là điểm tham chiếu chính yếu cho người trẻ. Con cái xem trọng tình yêu và sự quan tâm của cha mẹ, quan tâm đến các mối liên hệ gia đình, và hy vọng đến lượt họ cũng có thể hình thành được một gia đình của họ. Điều chắc chắn là sự gia tăng những đổ vỡ, ly dị, tái hôn, và gia đình theo mô hình cha mẹ đơn thân có thể gây ra nỗi đau khổ và khủng hoảng căn tính ở những người trẻ. Đôi khi họ phải gánh vác trách nhiệm không tương xứng với độ tuổi của họ và buộc họ trở thành người lớn trước tuổi. Ông bà thường có sự đóng góp mang tính quyết định về mặt tình cảm và giáo dục tôn giáo: với sự khôn ngoan, họ là mối dây liên kết chính trong tương quan giữa các thế hệ. 

Tầm quan trọng của việc làm cha mẹ

33. Người cha và người mẹ có vai trò khác nhau nhưng quan trọng như nhau, như là những điểm quy chiếu trong việc giáo dục và thông truyền đức tin cho con cái. Hình ảnh người mẹ tiếp tục đóng vai trò được người trẻ coi là thiết yếu cho sự trưởng thành của họ, ngay cả khi vai trò đó không được thừa nhận đầy đủ từ một số quan điểm văn hóa, chính trị và môi trường làm việc nào đó. Nhiều người cha thực hiện vai trò của họ với sự tận tuỵ, nhưng chúng ta không thể trốn tránh một thực tế rằng, trong một số bối cảnh, hình ảnh người cha bị vắng bóng hoặc mờ nhạt, còn trong một số bối cảnh khác, hình ảnh người cha lại mang tính áp bức hoặc độc tài. Những nhập nhằng này cũng hiện diện nơi các quan hệ cha con thiêng liêng. 

Tương quan giữa các thế hệ

34. Thượng Hội Đồng công nhận sự cống hiến của nhiều bậc cha mẹ và các nhà giáo dục trong việc dấn thân thông truyền các giá trị, bất chấp những khó khăn của bối cảnh văn hóa. Ở các vùng khác nhau, vai trò của người già và sự tôn kính đối với tổ tiên là nền tảng của giáo dục và đóng góp mạnh mẽ vào việc hình thành bản sắc cá nhân. Ngay cả gia đình mở rộng – mà trong một số nền văn hóa là gia đình theo đúng nghĩa – cũng đóng một vai trò quan trọng. Tuy nhiên, một số người trẻ cảm thấy truyền thống gia đình như một sự áp bức và họ chạy trốn nó dưới thôi thúc của nền văn hóa toàn cầu hoá, là nên văn họa vốn lại khiến họ không có điểm quy chiếu. Một số nơi khác trên thế giới tuy không có xung đột thế hệ thực sự giữa người trẻ và người lớn, nhưng mối tương quan lại chỉ là một sự xa lạ lẫn nhau. Đôi khi người lớn không cố gắng hoặc không thành công trong việc truyền tải các giá trị nền tảng của đời sống, hoặc chính họ lại mang lấy cách sống của người trẻ, gây ra một sự đảo ngược mối quan hệ giữa các thế hệ. Bằng cách này, mối quan hệ giữa những người trẻ và người lớn có nguy cơ chỉ còn ở bình diện cảm tính, mà không chạm tới khía cạnh giáo dục và văn hóa.

Tuổi trẻ và cội nguồn văn hóa

35. Người trẻ dự phóng hướng tới tương lai và đối diện cuộc sống với tràn đầy năng lượng và năng động. Nhưng họ cũng bị cám dỗ tập trung vào việc tận hưởng hiện tại và đôi khi có khuynh hướng ít chú ý đến quá khứ của mình, đặc biệt đến những tặng phẩm được thông truyền cho họ từ cha mẹ, ông bà và từ nền văn hóa xã hội nơi họ sinh sống. Việc giúp những người trẻ khám phá sự phong phú sống động của quá khứ, ghi nhớ và sử dụng chúng trong các chọn lựa và các khả năng của chính họ, chính là hành vi tình yêu đích thực dành cho họ, hướng về sự phát triển của họ và về những lựa chọn mà họ được mời gọi thực hiện.

Tình bạn và các tương quan đồng đẳng

36. Bên cạnh các mối tương quan giữa các thế hệ, không nên quên những tương quan giữa người trẻ với các bạn đồng trang lứa, vốn là kinh nghiệm nền tảng về sự tương tác cũng như về tiến trình vươn mình ra khỏi phạm vi gia đình. Tình bạn và sự trao đổi, thường là trong các nhóm ít nhiều mang tính cấu trúc, cung cấp cơ hội để tăng cường các kỹ năng xã hội và tương giao trong bối cảnh không bị đánh giá và phán xét. Kinh nghiệm nhóm cũng là một cơ hội lớn để chia sẻ đức tin và giúp đỡ lẫn nhau trong việc làm chứng nhân đức tin. Người trẻ có khả năng dẫn dắt những người trẻ khác và sống đời tông đồ chân chính giữa những người bạn của họ.

Thân xác và đời sống tình cảm

Những thay đổi hiện tại

37. Người trẻ nhận ra rằng cơ thể và giới tính có một tầm quan trọng thiết yếu đối với cuộc sống và tiến trình phát triển căn tính của họ; do đó, việc sống tình bạn và tình cảm là bất khả thay thế. Tuy nhiên, trong thế giới hiện đại chúng ta chứng kiến hiện tượng tiến triển quá nhanh liên quan đến vấn đề này. Thứ nhất, sự phát triển về khoa học và công nghệ y sinh ảnh hưởng lớn đến nhận thức về cơ thể, tạo nên suy nghĩ rằng cơ thể ta có thể được sửa đổi không giới hạn. Khả năng can thiệp vào DNA, khả năng chèn các yếu tố nhân tạo vào trong cơ thể (cyborg) và sự phát triển của khoa học thần kinh tạo ra một nguồn lực lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra vấn đề về nhân học và đạo đức. Việc tiếp nhận mà không đánh giả đủ về những can thiệp của kỹ thuật đối với cơ thể đã làm suy yếu nhận thức về cuộc sống như một quà tặng và giảm thiểu ý thức về giới hạn của tạo vật. Lối nhìn ấy có thể trở nên lệch lạc hoặc có thể bị khai thác bởi các động cơ kinh tế và chính trị (x. ĐGH Phan-xi-cô, Laudato sì, số 106).

Hơn nữa, trong một số bối cảnh của người trẻ, có sự lây lan quyến rũ của việc thực hiện các hành vi nguy hiểm như một phương thức để khám phá bản thân, để tìm kiếm cảm giác mạnh và để đạt được sự thừa nhận. Song song với các hiện tượng đã có từ trước, như quan hệ tình dục sớm, bừa bãi, du lịch tình dục, tôn sùng quá mức phương diện thể lý, ngày nay chúng ta còn chứng kiến sự phổ biến rộng rãi các nội dung khiêu dâm kỹ thuật số và phơi bày trực tuyến thân xác của chính họ. Việc tiếp xúc với những hiện tượng này là một chướng ngại đối với sự trưởng thành êm ả của người trẻ. Chúng cho thấy những năng động xã hội chưa từng thấy trước đây, ảnh hưởng lên các kinh nghiệm và lựa chọn cá nhân, tạo nên lãnh địa cho một hình thức thực dân ý thức hệ.

Việc tiếp nhận những giáo huấn đạo đức của Giáo Hội

38. Nơi những giáo huấn đạo đức của Giáo Hội, các gia đình Công giáo và toàn thể cộng đồng Giáo Hội nỗ lực giúp người trẻ khám phá tính dục như một quà tặng tuyệt vời được trao ban từ Đấng Huyền Nhiệm, để ta sống theo tinh thần Tin Mừng. Tuy nhiên, không phải lúc nào họ cũng có khả năng diễn giải ao ước này thành một hình thức giáo dục về cảm xúc và tính dục cách đầy đủ, nghĩa là không chỉ giới hạn trong các can thiệp thường xuyên và lẻ tẻ. Nơi nào hình thức giáo dục này thực sự được tiếp thu như một đề xuất được lựa chọn, nơi đó kết quả tích cực được ghi nhận, là giúp những người trẻ nắm bắt mối quan hệ giữa việc sống niềm tin vào Đức Giê-su Ki-tô, sống đời sống cảm xúc và mối tương quan giữa các cá nhân. Những kết quả này thúc giục và khuyến khích đầu tư lớn hơn nguồn năng lực của Giáo Hội vào trong lĩnh vực này.

Những mong muốn của người trẻ

39. Giáo Hội có truyền thống phong phú trong việc xây dựng và đề xuất việc giảng dạy của mình đối với chủ đề này: ví dụ, Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, thần học về thân thể do Thánh Gioan Phaolô II phát triển, Thông điệp Deus caritas est của Giáo Hoàng Biển Đức XVI, Tông huấn Amoris laetitia của Giáo Hoàng Phan-xi-cô. Nhưng những người trẻ, ngay cả những người hiểu biết và sống theo giáo lý này, vẫn bày tỏ mong muốn nhận được một chỉ dạy rõ ràng, nhân văn và đồng cảm từ Giáo Hội. Trong thực tế, giáo thuyết luân lý tính dục thường gây ra sự hiểu lầm và kỳ thị đối với Giáo Hội, vì nó thường bị xem như không gian phán xét và kết án. Đối mặt với những thay đổi về mặt xã hội, với nhiều cách sống thiên về cảm xúc và tính đa dạng trong các quan niệm đạo đức, người trẻ tỏ ra nhạy cảm với các giá trị của tính chân thực và tính cống hiến, nhưng họ thường bị mất phương hướng. Họ đặc biệt diễn tả mong ước rõ ràng rằng cần đối diện với những vấn đề liên quan đến sự khác biệt giữa căn tính nam và nữ, hay sự hỗ tương giữa hai phái, hay vấn đề đống tính luyến ái.

Những dạng thức của tình trạng dễ bị tổn thương

Thế giới công việc

40. Thế giới công việc là môi trường mà nơi đó người trẻ có thể diễn tả sự sáng tạo và khả năng đổi mới. Đồng thời, nơi đó họ cũng kinh nghiệm được những dạng thức của sự loại trừ và bị gạt ra bên lề. Dạng thức đầu tiên và nghiêm trọng nhất là sự thất nghiệp của người trẻ. Ở một số quốc gia, tỷ lệ thất nghiệp này cao đến mức báo động. Ngoài việc khiến người ta trở nên nghèo khổ, thất nghiệp còn cắt đứt khả năng ước mơ và hy vọng của người trẻ, đồng thời cũng tước khỏi họ khả thể được cống hiến cho sự phát triển xã hội. Trong nhiều quốc gia, nguyên nhân của tình trạng này là do một bộ phận công dân trẻ thiếu khả năng chuyên môn thích hợp, có khi là do thiếu hụt hệ thống giáo dục và huấn luyện. Thông thường tình trạng nghề nghiệp bấp bênh làm dằn vặt người trẻ là phản ảnh về những nhóm lợi ích kinh tế đang thao túng công ăn việc làm.

Bạo lực và bắt bớ

41. Nhiều bạn trẻ đang sống trong bối cảnh của chiến tranh và phải gánh chịu bạo lực với vô số những dạng thức khác nhau: bắt cóc, tống tiền, tội phạm có tổ chức, buôn bán người, nô lệ và khai thác tình dục, hãm hiếp trong chiến tranh, v.v… Những bạn trẻ khác, vì đức tin của mình mà khó tìm được một chỗ đứng trong xã hội, và phải gánh chịu nhiều hình thức khác nhau của bạo lực cho đến chết. Rất nhiều những bạn trẻ, do bị ép buộc hay không còn chọn lựa nào khác, phải sống trong tình trạng phạm pháp và vướng vào bạo lực: những binh lính trẻ em, những băng đảng được vũ trang và tội phạm, buôn bán thuốc phiện, khủng bố, v.v… Tình trạng bạo lực này đã xé nát cuộc sống của nhiều bạn trẻ. Những lạm dụng và nghiện ngập, cũng như bạo lực và sự buông thả là những lý do trong vô số lý do khiến người trẻ vướng vào vòng lao lý. Tình trạng này đặc biệt rơi vào một số nhóm sắc tộc và nhóm xã hội. Tất cả những trạng huống này đang gọi hỏi và chất vấn Giáo Hội.

Tình trạng bị dạt sang bên lề và sự khốn khổ mang tính xã hội

42. Trên thế giới vẫn còn rất nhiều người trẻ đang phải gánh chịu những hình thức của sự gạt bỏ và loại trừ khỏi xã hội, vì những lý do tôn giáo, sắc tộc và kinh tế. Chúng ta hãy nhớ đến tình trạng khó khăn của thanh thiếu niên và các bạn trẻ đang mang thai và phải sống trong dịch nạo phá thai, sự lan tràn HIV, những hình thức khác nhau của nghiện ngập như hút sách, bài bạc, sách báo khiêu dâm, v.v… cả tình trạng của những trẻ em và thanh thiếu niên đường phố, không nhà cửa, không gia đình và không có nguồn kinh tế nào. Cần đặc biệt lưu tâm đến các bạn trẻ đang trong cảnh tù tội. Nhiều tham luận khác nhau đã nhấn mạnh rằng Giáo Hội cần quý trọng khả năng của những người trẻ đang bị loại trừ và những đóng góp mà họ có thể cống hiến cho cộng đoàn. Giáo Hội muốn can đảm đứng về phía họ, đồng hành với họ trên một hành trình dài tái xây dựng phẩm giá và vai trò của họ trong việc xây dựng lợi ích chung.

Kinh nghiệm đau khổ

43. Trái ngược với lối suy nghĩ phổ biến trước đây, thế giới của người trẻ cũng bị ghi dấu cách xâu xa bởi kinh nghiệm về sự tổn thương, bất lực, bệnh tật và đau khổ. Trong nhiều quốc gia, càng lúc càng có nhiều người trẻ lâm vào tình trạng bệnh tâm lý, trầm cảm, bệnh thần kinh, những rối loạn trong ăn uống. Những hình thức này có liên quan đến những kinh nghiệm bất hạnh sâu xa trong quá khứ và việc không thể tìm được một vị trí trong lòng xã hội. Và cuối cùng ta cũng không thể làm ngơ trước bi kịch tự tử. Các bạn trẻ đang phải sống trong những điều kiện sống đau khổ khác nhau, và gia đình họ cũng đang cậy dựa vào sự đỡ nâng của các cộng đoàn Ki-tô hữu. Tuy nhiên, các cộng đoàn này không phải lúc nào cũng được trang bị thích đáng để đón tiếp các bạn trẻ và gia đình của họ.

Nguyên nhân của tình trạng tổn thương

44. Trong số những tình trạng đau khổ này, có nhiều tình trạng là kết quả của một “nền văn hóa hoang phí”: các bạn trẻ là nạn nhân đầu tiên. Tuy nhiên văn hóa này cũng có thể thấm nhiễm vào các bạn trẻ, các cộng đoàn Ki-tô hữu, các nhà lãnh đạo; và như thế, nó làm giảm giá trị của con người, xã hội và môi trường sống. Văn hóa này tác động mạnh mẽ đến thế giới của chúng ta. Đối với Giáo Hội, tình trạng này là một lời mời gọi hoán cải, liên đới và hành động đổi mới mang tính giáo dục, đặt mình hiện diện cách đặc biệt trong những hoàn cảnh khó khăn ấy. Cả những bạn trẻ đang sống trong hoàn cảnh này cũng có thể chia sẻ với cộng đoàn những kho tàng quý giá, và dạy chúng ta biết sống có chừng mực, giúp ta triển nở trong tình người. Sự sáng tạo là không bao giờ vơi cạn. Nhờ sự sáng tạo này, cộng đoàn được làm cho sống động bởi niềm vui Phúc Âm, và có thể trở thành một chọn lựa khác trước những tình trạng đau khổ và khó khăn. Theo cách này, xã hội có thể kinh nghiệm được rằng những viên đá bị thợ xây loại bỏ có thể trở nên đá táng góc tường (x. Tv 118,22; Lc 20,17; Cv 4,11; 1 Pr 2,4).

CHƯƠNG IV: LÀ NGƯỜI TRẺ HÔM NAY

Những khía cạnh văn hóa của người trẻ hôm nay

Tính độc đáo và nét tiêu biểu

45. Thế hệ trẻ là những người mang trong mình một phương pháp tiếp cận thực tại với những đặc nét tiêu biểu. Các bạn trẻ đòi phải được đón nhận và tôn trọng trong sự độc đáo của họ. Trong số những đặc nét rõ ràng nhất nơi văn hóa của người trẻ có thể kể ra: ưa thích hình ảnh hơn là các ngôn ngữ giao tiếp khác, xem trọng cảm giác và cảm xúc như cách thức để tiếp cận với thực tại, ưu tiên tính cụ thể và chức năng hơn là phân tích lý thuyết. Những tương quan bạn bè và việc thuộc về một nhóm cùng trang lứa, vốn được củng cố bởi truyền thông xã hội, là điều vô cùng quan trọng. Nói chung, các bạn trẻ là những người mang trong mình tính cởi mở hồn nhiên đối với sự đa dạng, khiến họ chú ý tới những vấn đề liên quan đến hòa bình, tính đại đồng và việc đối thoại giữa các nền văn hóa cũng như tôn giáo. Vô số kinh nghiệm từ nhiều nơi trên thế giới đã minh chứng rằng người trẻ biết cách trở thành những người tiên phong trong việc gặp gỡ và đối thoại liên văn hóa và liên tôn giáo, trong viễn cảnh chung sống hòa bình.

Tham dự và dấn thân xã hội

46. Sự dấn thân trong xã hội là một đặc nét của người trẻ hôm nay, dù theo cách thức khác so với những thế hệ trước đây. Bên cạnh một số người dửng dưng, vẫn có nhiều bạn trẻ sẵn sàng dấn thân cách sáng tạo vào những công việc thiện nguyện, trở thành công dân năng động và tạo nên sự liên đới trong xã hội. Họ muốn được đồng hành và cổ vũ nhằm khơi dậy những năng khiếu, kỹ năng và sức sáng tạo của người trẻ; đồng thời họ cũng muốn được khích lệ để dám đảm nhận trách nhiệm của mình. Việc dấn thân xã hội và gặp gỡ trực tiếp người nghèo là một cơ hội cần thiết để khám phá hoặc đào sâu đức tin và phân định ơn gọi cho người trẻ. Sự nhạy cảm đối với những vấn đề sinh thái và bảo vệ tài nguyên môi trường, mà thông điệp Laudato si’ thúc đẩy, đã trở nên mạnh mẽ và phổ biến. Sự ứng trực trong việc dấn thân vào lĩnh vực chính trị để xây dựng lợi ích chung cũng được nhấn mạnh. Đây là điều mà không phải lúc nào Giáo Hội cũng có thể đồng hành để tạo nên những cơ hội cho việc huấn luyện và những không gian cho việc phân định. Liên quan đến thăng tiến công bình, các bạn trẻ yêu cầu Giáo Hội có một dấn thân dứt khoát và liên tục, để đánh bật gốc rễ của mọi hình thức đồng lõa với não trạng thế gian.

Nghệ thuật, âm nhạc và thể thao

47. Thượng Hội Đồng nhìn nhận và trân quý tầm quan trọng mà các bạn trẻ đã cống hiến trong tất cả mọi loại hình nghệ thuật: nhiều bạn trẻ đã sử dụng tài năng của mình trong lĩnh vực này, để thúc đẩy chân, thiện, mỹ, và để triển nở trong đời sống nhân văn và trong tương quan với Thiên Chúa. Với nhiều người, việc diễn đạt nghệ thuật cũng là một ơn gọi đích thực và một công việc chuyên nghiệp. Chúng ta không thể quên rằng qua nhiều thế kỷ, “đường lối của cái đẹp” là một trong những cách thức được ưu tiên để diễn tả đức tin và loan báo Tin Mừng.

Tầm quan trọng của âm nhạc cũng hết sức đặc biệt, vì âm nhạc mang đến một bầu khí chính thực mà các bạn trẻ không ngừng đắm mình vào, cũng như một nền văn hoá và ngôn ngữ có khả năng gợi lên những cảm xúc và định hình căn tính. Ngôn ngữ âm nhạc cũng giúp cho việc mục vụ. Cách đặc biệt, âm nhạc chất vấn và đòi hỏi một sự đổi mới trong phụng vụ. Việc chiều theo những thị hiếu có tính thị trường đôi khi có thể gây ra ảnh hưởng tiêu cực trong việc tiếp nối những hình thức diễn tả âm nhạc và phụng vụ truyền thống.

Việc nỗ lực rèn luyện thể dục thể thao của các bạn trẻ cũng quan trọng không kém. Bởi vậy, Giáo Hội không được đánh giá thấp những tiềm năng thể thao trong lĩnh vực giáo dục và huấn luyện, và duy trì một sự hiện diện lâu bền trong lĩnh vực đó. Trong môi trường thể thao, người ta cần được giúp đỡ để vượt qua những theo đuổi mơ hồ: huyền thoại của những nhà vô địch, việc quá lệ thuộc vào xu hướng thương mại và ý thức hệ về việc thành công bằng bất cứ giá nào. Như vậy, cần phải tái khẳng định giá trị của việc đồng hành và giúp đỡ những người khuyết tật trong việc rèn luyện thể thao.

Đời sống tâm linh và tôn giáo

Bối cảnh tôn giáo khác biệt

48. Kinh nghiệm tôn giáo của các bạn trẻ bị ảnh hưởng cách mạnh mẽ bởi bối cảnh xã hội và văn hoá nơi họ sống. Trong một số quốc gia, niềm tin Ki-tô giáo là một kinh nghiệm cộng đoàn mạnh mẽ và sống động mà các bạn trẻ chia sẻ với nhau trong niềm vui. Trong những vùng đã từng có truyền thống Ki-tô hữu cổ xưa, đa số người công giáo không sống cảm thức thuộc Giáo Hội cách đích thực. Tuy nhiên, không thiếu những nhóm nhỏ có tính sáng tạo và đầy kinh nghiệm cho thấy rằng sự quan tâm đến tôn giáo đang dần tái sinh như cách phản ứng trước lối nhìn có tính giảm thiểu và bóp nghẹt. Trong những vùng khác, người công giáo chỉ là thiểu số, cùng với những nhánh Ki-tô giáo khác, đôi khi họ bị kỳ thị và thậm chí là bắt bớ. Cuối cùng, có những vùng mà ở đó tồn tại sự phát triển của những giáo phái hay dạng thức tín ngưỡng khác; ai theo đuổi những tín ngưỡng này thường bị thất vọng và trở nên thù địch với mọi tôn giáo. Nếu trong một số vùng, những người trẻ không có cơ hội để diễn tả công khai niềm tin của mình và không thấy sự tự do tôn giáo được nhìn nhận, họ sẽ cảm thấy nặng nề về những chọn lựa trong quá khứ – ngay cả những chọn lựa chính trị – điều này bào mòn tính khả tín của Giáo Hội. Không thể nói về tín ngưỡng của các bạn trẻ mà không đề cập đến tất cả những khó khăn này.

Sự tìm kiếm tôn giáo

49. Cách chung các bạn trẻ tuyên bố rằng họ đang tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời và cho thấy mối quan tâm về đời sống tâm linh. Tuy nhiên sự quan tâm này đôi khi giống như một cuộc kiếm hạnh phúc mang tính tâm lý hơn là mở ra một cuộc gặp gỡ với Mầu Nhiệm của Thiên Chúa hằng sống. Đặc biệt trong một số nền văn hóa, nhiều người xem tôn giáo là vấn đề cá nhân, và họ chọn ra từ những truyền thống tâm linh khác nhau những yếu tố củng cố cho niềm xác tín riêng của bản thân mình. Như vậy người ta đang truyền bá một chủ nghĩa hỗn hợp về tôn giáo. Chủ nghĩa này phát triển dựa trên giả thuyết tương đối rằng tất cả mọi tôn giáo đều như nhau. Vì thế, không phải tất cả mọi người đều nghĩ rằng tham gia vào một cộng đoàn đức tin là con đường đặc lợi để đạt được ý nghĩa của cuộc sống, nhưng chỉ là một lối đi phụ và đôi khi bị thay thế bởi những ý thức hệ hay bởi sự tìm kiếm thành công trong lãnh vực nghề nghiệp và kinh tế, trong lối suy nghĩ về một sự tự hoàn thiện mang đậm tính vật chất. Tuy nhiên, một số thực hành có từ truyền thống vẫn còn sống động: như những chuyến hành hương viếng các đền thánh đôi khi thu hút được sự tham gia của rất nhiều bạn trẻ, những cách thể hiện lòng đạo đức bình dân thường kết nối với lòng sùng kính Đức Mẹ và các thánh. Những việc thực hành này nuôi dưỡng kinh nghiệm đức tin của mọi người.

Gặp gỡ Đức Giê-su

50. Cũng thế, sự đang dạng này có thể nhìn thấy trong mối tương quan giữa các bạn trẻ với con người Giê-su. Nhiều người xem Ngài như Đấng Cứu Thế và Con Thiên Chúa, và thường cảm thấy Ngài gần gũi ngang qua Mẹ Maria, mẹ của Ngài và họ dấn thân vào một hành trình đức tin. Một số người không có một tương quan cá vị với Đức Giê-su, nhưng xem Ngài là một người tốt lành và bậc thầy đạo đức. Cũng có người gặp gỡ Đức Giê-su ngang qua một kinh nghiệm mãnh liệt của Thần Khí. Nhưng đối với một số người khác, Đức Giê-su là một nhân vật quá khứ, không hề có bất kỳ mối liên hệ hiện sinh nào, hay nói cách khác là rất xa vời với kinh nghiệm nhân sinh.

Nếu đối với nhiều bạn trẻ, tôn giáo và Giáo Hội dường như là những lời nói trống rỗng, họ sẽ nhạy cảm với hình ảnh của Đức Giê-su khi Ngài được trình bày trong một cách thức hấp dẫn và hiệu quả. Bằng rất nhiều cách thức khác nhau, các bạn trẻ hôm nay vẫn nói với chúng ta: “Chúng tôi muốn gặp Đức Giê-su” (Ga 12,21), và như thế họ cho thấy nỗi thao thức lành thánh nơi con tim của mỗi con người: “Sự thao thức trong cuộc tìm kiếm thiêng liêng, thao thức được gặp gỡ Thiên Chúa, thao thức của tình yêu” (Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, Thánh lễ khai mạc Tổng Công Hội của Dòng Âu-gus-ti-nô, 28/08/2013).

Khao khát một nền phụng vụ sống động

51. Trong nhiều bối cảnh khác nhau, các bạn trẻ công giáo đang cần những gợi ý cho việc cầu nguyện, những thời khắc tham dự bí tích, như là những khoảng lặng trong nhịp sống thường ngày của họ, với những buổi phụng vụ trẻ trung, chân thực và vui tươi. Nhiều nơi trên thế giới, kinh nghiệm phụng vụ là nguồn gốc chính yếu cho căn tính Ki-tô giáo. Kinh nghiệm ấy thu hút được nhiều người tham dự, với lòng xác tín. Các bạn trẻ nhận ra nơi phụng vụ một thời khắc đặc biệt trong kinh nghiệm với Thiên Chúa và với cộng đoàn Giáo Hội, và một điểm khởi cho sứ mạng. Tuy nhiên, ở những nơi khác, đang có một sự xa rời nhất định đối với các bí tích và thánh lễ ngày Chúa Nhật. Người ta hiểu thánh lễ như một khái niệm đạo đức hơn là một sự gặp gỡ đầy hạnh phúc với Thiên Chúa Phục Sinh và với cộng đoàn. Đáng lưu ý là ngay cả nơi dạy giáo lý về các bí tích, việc đồng hành mang tính giáo dục giúp người ta sống việc cử hành bí tích trong chiều sâu và giúp đi vào sự phong phú mầu nhiệm của các biểu tượng và các nghi thức, cũng rất yếu ớt.

Tham dự và giữ vai chính

Các bạn trẻ khao khát được giữ vai chính

52. Trước những trái ngược trong xã hội, nhiều bạn trẻ mong muốn tận dụng tối đa những năng khiếu, kỹ năng, sự sáng tạo của mình và họ sẵn sàng đảm đương lấy trách nhiệm. Bảo vệ môi trường và xã hội, sự phân biệt đối xử và phân biệt chủng tộc là những chủ đề quan trọng nhất đối với họ. Sự dấn thân của các bạn trẻ thường kèm theo những phương pháp mới, khai thác những tiềm năng của truyền thông kỹ thuật số dưới dạng huy động và tạo sức ép về mặt chính trị: truyền bá những lối sống và hình thức tiêu thụ cũng như sự đầu tư mang tích phê phán, liên đới và ý thức với môi trường, đưa ra những cách thức dấn thân và tham dự cách mới mẻ vào xã hội và chính trị, những hình thức phúc lợi mới nhằm bảo đảm cho những chủ thể yếu đuối nhất.

Những lý do xa cách

53. Thượng Hội Đồng ý thức rằng rất nhiều bạn trẻ, với rất nhiều lý do khác nhau, đã không đòi hỏi bất cứ điều gì nơi Giáo Hội vì thấy rằng Giáo Hội chẳng có ý nghĩa gì đối với cuộc sống của họ. Trái lại, một số bạn khác minh nhiên yêu cầu Giáo Hội để cho họ được yên, vì họ cảm thấy sự hiện diện của Giáo Hội là một sự phiền toái và thậm chí khiến người khác bực bội. Yêu cầu này thường không nảy sinh từ một thái độ khinh thường có vẻ hấp tấp và thiếu phê phán, nhưng có gốc rễ từ những lý do nghiêm trọng và đáng phải lưu tâm: những vụ bê bối tình dục và kinh tế, sự thiếu chuẩn bị nơi những người có chức thánh khiến họ không thể đồng cảm cách thích đáng với sự nhạy cảm của các bạn trẻ; thiếu chăm lo trong việc chuẩn bị bài giảng và trình bày lời Chúa; các bạn trẻ chỉ được giao một vai trò thụ động trong cộng đoàn tín hữu; Giáo Hội chỉ nỗ lực biện minh cho những lập trường tín lý và luân lý của mình trước xã hội đương thời.

Các bạn trẻ trong Giáo Hội

54. Các bạn trẻ công giáo không chỉ là những người cần được chăm sóc mục vụ, nhưng đã được rửa tội và là thành viên sống động trong một thân thể Giáo Hội duy nhất, ở nơi đó Thánh Thần của Thiên Chúa luôn lao tác và sống động. Các bạn trẻ góp phần làm phong phú thêm những gì Giáo Hội là, chứ không chỉ những gì Giáo Hội làm. Các bạn trẻ là hiện tại chứ không chỉ là tương lai của Giáo Hội. Họ là những nhân vật chính trong các hoạt động của Giáo Hội. Chính họ là những người quảng đại phụ vụ. Đặc biệt, họ làm linh hoạt các buổi học hỏi giáo lý và phụng vụ. Họ chăm sóc những người nhỏ bé nhất, và là những tình nguyện viên phục vụ người nghèo. Ngay cả những phong trào và tổ chức tôn giáo cũng như các dòng tu cũng có thể trao cho các bạn trẻ cơ hội dấn và cùng gánh vác trách nhiệm. Đôi khi sự ứng trực của các bạn trẻ lại đụng phải một chủ nghĩa độc đoán chuyên quyền và sự không tin tưởng của người lớn cũng như của các mục tử. Các vị ấy không nhận thức hết được sự sáng tạo của các bạn trẻ, và vì thế không dám chia sẻ trách nhiệm với họ.

Phụ nữ trong Giáo Hội

55. Phụ nữ cần phải được công nhận và coi trọng hơn trong xã hội và Giáo Hội. Đây cũng là một yêu cầu của các bạn trẻ. Nhiều người nữ đang đảm đương những vai trò bất khả thay thế được trong cộng đoàn tín hữu. Nhưng ở những chỗ khác, người ta lại thấy khó khăn khi cho họ có tiếng nói trong tiến trình thực hiện những quyết định, ngay cả khi họ chẳng hề đòi hỏi những trách nhiệm quản lý đặc biệt. Việc thiếu tiếng nói và lối nhìn của người nữ khiến cho các cuộc thảo luận và đường hướng của Giáo Hội trở nên nghèo nàn, đánh mất đi một đóng góp quý giá cho việc phân định. Thượng Hội Đồng yêu cầu tất cả mọi người ý thức hơn về tính khẩn thiết của một thay đổi bắt buộc, khởi đi từ việc suy tư phản tỉnh có tính nhân học và thần học về sự tương hỗ giữa nam và nữ.

Sứ mạng của người trẻ đối với các bạn đồng trang lứa

56. Trong nhiều bối cảnh khác nhau, có những nhóm bạn trẻ, thường là những nhóm phong trào hay tổ chức của Giáo Hội, rất năng động trong việc loan báo Tin Mừng cho các bạn đồng trang lứa ngang qua những chứng tá sáng ngời trong đời sống, ngang qua một thứ ngôn ngữ dễ hiểu và khả năng xây dựng những tình bạn chân thực. Việc tông đồ này cho phép ta mang Tin Mừng đến những người mà các hình thức mục vụ giới trẻ thông thường khó có thể tiếp cận được họ, đồng thời cũng góp phần làm triển nở đức tin của chính những người dấn thân cộng tác vào công việc này. Vì vậy, đây là công việc cần phải được trân trọng, ủng hộ, đồng hành với sự khôn ngoan và cần được hội nhất vào nhịp sống của cả cộng đoàn.

Khao khát một cộng đoàn Giáo Hội chân thực và huynh đệ hơn

57. Các bạn trẻ đòi hỏi Giáo Hội phải tỏa sáng bằng sự chân thực, đơn sơ, khôn ngoan, chia sẻ trách nhiệm và sự vững chắc về văn hóa. Đôi khi đòi hỏi này nghe như một lời phê bình, nhưng thái độ ấy mang tính tích cực của một sự dấn thân cá nhân vì một cộng đoàn huynh đệ, hiếu khách, vui tươi và dấn thân theo một cách thức ngôn sứ để đấu tranh chống lại bất công xã hội. Nổi bật nhất trong số những mong chờ của các bạn trẻ đó là mong muốn rằng Giáo Hội có được một cách thức đối thoại ít tính gia trưởng và chân thành hơn.

PHẦN II: “MẮT HỌ MỞ RA”

58. Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh. Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. Họ nài ép Người rằng : “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. (Lc 24,27-31).

Sau khi lắng nghe họ, Đức Giê-su nói với hai người lữ hành một “Lời” mạnh mẽ và dứt khoát, có quyền năng và có sức biến đổi. Như thế, với sự dịu dàng và mạnh mẽ, Đức Giê-su bước vào nơi họ cư ngụ, ở lại và chia sẻ với họ bánh sự sống là dấu chỉ Thánh Thể, giúp hai môn đệ cuối cùng cũng có thể mở mắt ra.

Một lễ ngũ tuần mới

Hoạt động của Chúa Thánh Thần

59. Chúa Thánh Thần làm bừng cháy con tim, mở đôi mắt và thắp lên đức tin của hai người lữ hành. Ngài hành động ngay từ ban đầu trong công trình sáng tạo thế giới, để kế hoạch của Thiên Chúa Cha là quy tụ mọi loài trong Đức Ki-tô được viên mãn. Ngài hành động trong mọi thời điểm và ở mọi nơi, trong sự đa dạng của những bối cảnh và của những nền văn hóa khác nhau. Ngay cả giữa những khó khăn và đau khổ, Ngài cũng làm trổi lên sự dấn thân cho công bình, sự kiếm tìm chân lý, sự can đảm của hy vọng. Bởi vậy thánh Phaolô khẳng định rằng “cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở” (Rm 8,22). Khát vọng sống trong tình yêu và nỗi thao thức lành thánh nơi con tim của các bạn trẻ là một phần trong ao ước mãnh liệt của mọi loài thụ tạo đang hướng đến sự tròn đầy của niềm vui. Nơi mỗi người, ngay cả nơi những người không biết Đức Ki-tô, Thánh Thần sáng tạo vẫn hoạt động để đưa họ đến với chân, thiện, mỹ.

Chúa Thánh Thần làm cho Giáo Hội tươi trẻ

60. Tuổi trẻ là giai đoạn nền tảng và đầy hứng khởi của cuộc sống. Chính Đức Giê-su đã sống và thánh hóa tuổi trẻ. Thông Điệp Gửi Các Bạn Trẻ của Công Đồng Vatican II (7/12/1965) đã trình bày Giáo Hội như là “sự trẻ trung đích thực của thế giới”, có “khả năng vui mừng khi khởi đầu, trao đi mà không cần đền đáp, tự làm mới mình và lại sẵn sàng ra đi cho những cuộc chinh phục mới”. Với sự tươi trẻ và với đức tin của mình, các bạn trẻ góp phần cho thấy khuôn mặt của Giáo Hội, khuôn mặt ấy phản chiếu “Đấng Hằng Sống vĩ đại, Đức Ki-tô mãi mãi trẻ trung”. Bởi vậy, người ta không tạo ra một Giáo Hội mới cho người trẻ, nhưng là cùng họ tái khám phá sự tươi trẻ của Giáo Hội, nhờ đó chúng ta mở ra trước ân sủng của một lễ Ngũ Tuần mới.

Chúa Thánh Thần trong cuộc sống của người tín hữu

61. Ơn gọi Ki-tô hữu là theo Đức Ki-tô ngang qua dòng nước của Bí Tích Thanh Tẩy, nhận lãnh ấn tích của Bí Tích Thêm Sức và trở nên chi thể trong thân thể của Đức Ki-tô ngang qua Bí Tích Thánh Thể: “Chúa Thánh Thần ngự đến, trước hết là nước sau đó là lửa và anh em trở nên tấm bánh, nghĩa là thân thể của Đức Ki-tô” (Agostino, Discorso 227). Trong hành trình khai tâm Ki-tô giáo, Bí Tích Thêm Sức trước hết sẽ cho phép các tín hữu nhận lãnh kinh nghiệm của ngày lễ Ngũ Tuần, về một sự tuôn trào mới mẻ của Thần Khí, giúp họ trưởng thành và hướng đến sứ mạng. Vì vậy, điều quan trọng là phải tái khám phá sự phong phú của bí tích này, và nhận lãnh bí tích ấy trong mối liên hệ với ơn gọi cá nhân của một người đã được rửa tội, cùng với ý nghĩa thần học của các đặc sủng. Cần chăm sóc việc lãnh nhận bí tích này chu đáo hơn qua mục vụ, sao cho việc lãnh nhận ấy không chỉ mang tính hình thức nhưng lại thiếu ý nghĩa. Chúa Thánh Thần là nhân vật chính trong mỗi hành trình ơn gọi: Ngài là “thầy dạy nội tâm”, Đấng sẽ đồng hành với chúng ta.

Một kinh nghiệm chân thực về Thiên Chúa

62. Điều kiện đầu tiên để phân định ơn gọi trong Thần Khí là một kinh nghiệm đức tin chân thực trong Đức Ki-tô đã chết và phục sinh. Cần nhớ rằng kinh nghiệm ấy “không là ánh sáng có thể xua tan đi mọi tối tăm nhưng là ngọn đèn hướng dẫn ta bước qua đêm tối cuộc đời, và như thế là đủ cho cuộc hành trình” (Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, Lumen fidei, s. 57). Trong các cộng đoàn Ki-tô hữu, đôi khi vô ý, chúng ta có nguy cơ trình bày một thuyết hữu thần mang tính đạo đức và trị liệu, nhằm đáp ứng nhu cầu an toàn và tìm kiếm an ủi của nhân loại thay vì một cuộc gặp gỡ sống động với Thiên Chúa trong ánh sáng Tin Mừng và trong sức mạnh của Thánh Thần. Nếu đúng là sự sống chỉ được đánh thức bởi sự sống, thì rõ ràng rằng những người trẻ cần gặp gỡ các cộng đoàn Ki-tô hữu để thật sự được bén rễ trong tình bạn với Đức Ki-tô, Đấng dẫn ta đến với Chúa Cha trong sự hiệp thông với Chúa Thánh Thần.

CHƯƠNG I: ÂN HUỆ TUỔI TRẺ

Đức Giê-su trẻ giữa các bạn trẻ

Tuổi trẻ của Đức Giê-su

63. “Trẻ trung giữa những người trẻ để trở nên tấm gương cho những người trẻ và thánh hiến họ cho Thiên Chúa” (Irene, Chống dị giáo, II,22,4), Đức Ki-tô đã thánh hiến tuổi trẻ bởi vì chính Người đã sống tuổi trẻ ấy. Trình thuật Tin Mừng kể lại duy nhất một chi tiết về tuổi trẻ của Đức Giê-su (x. Lc 2,41-52): Người đã sống cách âm thầm, không khoa trương ầm ĩ, trong sự đơn sơ và lao động làm việc nơi làng quê Nadaret, và được biết đến như “anh thợ mộc” (Mc 6,3) và “con bác thợ mộc” (Mt 13,55).

Chiêm ngắm cuộc đời của Đức Giê-su là cách tốt nhất để chúng ta đón nhận tuổi trẻ như một phúc lành. Đức Giê-su đã đặt niềm tin vô điều kiện vào Cha, đã chăm sóc tình bạn với các môn đệ, và ngay cả trong những thời khắc khủng hoảng Người vẫn trung tín. Đức Giê-su đã tỏ bày sự thương cảm sâu xa khi gặp những người yếu đuối nhất, đặc biệt là những người nghèo, bệnh tật, tội lỗi và bị loại trừ. Người đã can đảm đối diện với những quyền lực tôn giáo và chính trị trong thời của mình, đã từng kinh nghiệm bị hiểu lầm và bị loại bỏ, đã trải qua nỗi sợ hãi khi đau khổ và nếm cảm sự mong manh trong cuộc Khổ Nạn. Nhưng Người đã hướng nhìn về tương lai trong niềm tin tưởng phó thác vào bàn tày vững chắc của Cha và sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Trong Đức Giê-su, mọi người trẻ có thể tìm thấy chính mình, với chính những nỗi sợ hãi và niềm hy vọng, với sự bấp bênh và những ước mơ, và nơi Người họ có thể đặt trọn niềm hy vọng. Việc chiêm ngắm cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su với các bạn trẻ sẽ trở thành nguồn gợi hứng cho người trẻ hôm nay.

Với cái nhìn của Thiên Chúa

64. Lắng nghe Đức Ki-tô và kết hiệp với Người cũng giúp các mục tử và những nhà giáo dục viết nên bài học khôn ngoan về giai đoạn này của cuộc sống. Thượng Hội Đồng đã cố gắng nhìn các bạn trẻ với thái độ của Đức Giê-su, để phân định những dấu chỉ hoạt động của Thần Khí trong cuộc sống của họ. Thật vậy, chúng ta tin rằng, Thiên Chúa đang nói với Giáo Hội và với thế giới ngang qua người trẻ, ngang qua sự sáng tạo và dấn thân của họ, cũng như qua những đau khổ và tiếng họ kêu cầu giúp đỡ. Cùng với các bạn trẻ, chúng ta có thể đọc thời đại chúng ta một cách tiên tri hơn và nhận ra những dấu chỉ của thời đại. Bởi vậy, người trẻ đang ở một trong những “địa điểm thần học”, nơi mà Thiên Chúa tỏ lộ với chúng ta những chờ đợi và thách đố của Ngài để kiến tạo tương lai.

Những đặc tính của tuổi trẻ

65. Tuổi trẻ, một giai đoạn trong sự phát triển nhân cách, được đánh dấu bởi những ước mơ. Những ước mơ ấy dần định hình nhờ những tương quan ngày một kiên định và quân bình hơn, nhờ những cố gắng và những trải nghiệm, nhờ những chọn lựa dần xây nên một kế hoạch sống. Trong giai đoạn này của cuộc sống, các bạn trẻ được mời gọi đề ra dự phóng cho tương lai nhưng không cắt đứt những nền tảng căn cốt, được mời gọi xây dựng tính độc lập nhưng không cô độc. Bối cảnh xã hội, kinh tế, văn hóa không phải lúc nào cũng đem đến những điều kiện thuận lợi. Thế nhưng những vị thánh trẻ đã làm cho những đặc tính của tuổi trẻ bừng sáng lên trong tất cả vẻ đẹp của nó. Trong thời đại của mình, họ đã là những tiên tri đích thực mang lại sự thay đổi. Gương sống của họ cho thấy người trẻ có thể làm được những gì khi họ mở lòng ra gặp gỡ Đức Ki-tô.

Ngay cả những bạn trẻ khiếm khuyết hay bệnh tật cũng có thể cống hiến những điều quý giá. Thượng Hội Đồng mời gọi các cộng đoàn hãy tạo không gian cho những sáng kiến, tức là nhìn nhận và để họ trở thành những nhân vật chính, ví dụ như việc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu cho người khiếm thính, việc dạy giáo lý hướng đến mục đích rõ ràng, và giúp họ có những kinh nghiệm tương tác hoặc kinh nghiệm được dấn thân làm việc.

 Sự thao thức tốt lành của người trẻ

66. Các bạn trẻ là những người mang trong mình nỗi niềm thao thức. Thao thức ấy trước hết cần được đón nhận, tôn trọng và đồng hành, sẵn sàng đánh cược với sự xác tín về tự do và trách nhiệm của họ. Bằng kinh nghiệm, Giáo Hội biết rằng đóng góp của người trẻ là nền tảng cho sự đổi mới. Trong một số khía cạnh nào đó, người trẻ có thể vượt trội hơn những mục tử. Thật vậy, trong buổi sáng Phục Sinh, người Môn Đệ Trẻ Được Chúa Yêu đã chạy đến mộ trước nhất, sau đó mới tới Phêrô, người bị đè nặng bởi tuổi tác và sự phản bội (x. Ga 20, 1-10); cũng cùng một cách thức ấy, trong các cộng đoàn Ki-tô hữu, năng động của tuổi trẻ là một năng lượng có sức đổi mới cho Giáo Hội, vì giúp Giáo Hội rũ bõ sức ì nặng nề và chậm chạp để mở lòng ra với Đấng Phục Sinh. Đồng thời, thái độ của người Môn Đệ Được Chúa Yêu cho thấy rằng việc duy trì sự liên kết với kinh nghiệm của những bậc lão thành, nhận ra vai trò của những mục tử và không tiến lên phía trước một mình là điều hết sức quan trọng. Như vậy, chúng ta sẽ có được một bản giao hưởng hài hòa, là hoa trái của Thần Khí.

Những người trẻ bị tổn thương

67. Cuộc sống của các bạn trẻ, giống như của tất cả mọi người, cũng được ghi dấu bởi những thương tích. Đó là vết thương của những thất bại trong chính lịch sử đời mình, của những khát vọng không được toại nguyện, của những kỳ thị và bất công, của việc thấy mình không được yêu thương và đón nhận. Đó là những vết thương cả về thể xác lẫn tinh thần. Đức Ki-tô, Đấng đã chấp nhận trải qua khổ nạn và cái chết, ngang qua thập giá, đã trở nên người thân cận của tất cả những bạn trẻ đang khổ đau. Có cả những thương tích về luân lý, gánh nặng từ những lỗi lầm của chính mình, cảm giác tội lỗi vì đã làm sai. Ngày nay, việc hòa giải với những thương tích của chính mình là điều cần thiết hơn bao giờ hết cho một cuộc đời tốt đẹp. Giáo Hội được mời gọi nâng đỡ tất cả những người trẻ đang trong cơn thử thách và đẩy mạnh những hành động mục vụ thích hợp.

Trở nên trưởng thành

Tuổi của những chọn lựa

68. Tuổi trẻ chỉ là một giai đoạn của cuộc đời, đến một lúc nào đó phải nhường chỗ cho tuổi trưởng thành. Giai đoạn chuyển đổi này không chỉ diễn ra trên giấy tờ sổ sách, nhưng hàm chứa một tiến trình trưởng thành. Nhưng môi trường mà những người trẻ sống không phải luôn luôn thuận lợi cho tiến trình này. Trong nhiều vùng, người ta truyền bá một nền văn hóa của sự tạm bợ, ủng hộ một sự kéo dài bất tận của tuổi xuân và luôn trì hoãn những quyết định; nỗi sợ trước những cam kết dứt khoát gây ra một loại bại liệt khiến người ta không thể ra quyết định. Nhưng tuổi trẻ không thể ở mãi trong tình trạng nửa vời: đây là tuổi của những chọn lựa, giai đoạn này chứa đựng vẻ đẹp hấp dẫn cũng như nhiệm vụ to lớn nhất của tuổi trẻ. Người trẻ thực hiện những quyết định trong môi trường nghề nghiệp, xã hội, chính trị và trong những lĩnh vực căn bản khác, mang lại cho cuộc sống của họ một diện mạo xác định. Chính trong những lĩnh vực này mà người ta nói cách chính xác hơn về “những chọn lựa phò sự sống”: quả vậy, chính cuộc sống, trong tính duy nhất và bất khả sao lặp của mình, nhận được từ những chọn lựa này một định hướng chung cục.

Hiện hữu dưới dấu chỉ của sứ mạng

69. Đức Thánh Cha Phan-xi-cô mời gọi các bạn trẻ suy nghĩ về cuộc sống của chính mình trong viễn cảnh sứ mạng: “Nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta tốn thời gian để hỏi mình rằng: ‘Tôi là ai?’. Bạn có thể hỏi chính mình rằng bạn là ai và bạn dành cả cuộc đời để tìm hiểu xem mình là ai. Nhưng bạn hãy hỏi mình: ‘Tôi là tôi cho ai?’ (Bài phát biểu trong đêm canh thức cầu nguyện chuẩn bị cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới, Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả, 08/04/2017). Khẳng định này soi sáng những chọn lựa trong cuộc sống cách sâu xa, vì nó thôi thúc chúng ta đảm nhận những chọn lựa ấy trong viễn cảnh tự do của sự trao ban chính mình. Đây là con đường duy nhất để đạt được hạnh phúc đích thực và trường cửu! Thật vậy, “sứ mạng đi vào tâm hồn nhân loại không phải là một phần trong đời tôi, hay là một món trang sức mà tôi có thể gỡ bỏ, cũng không phải là một trang phụ lục hay là một giây phút trong vô vàn những giây phút hiện sinh. Sứ mạng ấy là một điều gì đó mà tôi không thể tách ra khỏi hữu thể của tôi nếu tôi không muốn hủy hoại chính mình. Tôi hiện hữu là một sứ mạng trên trái đất này, và chính vì điều ấy mà tôi thấy mình trong thế giới này” (Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, Evangelii gaudium, s. 273).

Một nền sư phạm có khả năng chất vấn

70. Sứ mạng là một la bàn chắc chắn trong hành trình cuộc đời, nhưng nó không phải là “người lái tàu”, tức là người chỉ cho ta thấy trước tất cả cuộc hành trình. Sự tự do luôn kèm theo một chiều kích rủi ro. Chiều kích này cần phải được xem trọng với sự can đảm và phải được đồng hành trong một cách thức tiệm tiến và khôn ngoan. Nhiều trang Tin Mừng cho chúng ta thấy Đức Giê-su mời gọi người ta dám can đảm đương đầu, dám đi qua bờ bên kia, dám chuyển từ lối sống nệ luật sang lối nhìn nhận mọi sự như là tặng phẩm quảng đại và vô điều kiện. Dẫu vậy, Ngài cũng không dấu diếm đòi hỏi phải vác lấy thập giá của mình (x. Mt 16,24). Đức Giê-su rất quyết liệt: “Trao ban tất cả và đòi hỏi tất cả: Trao ban một tình yêu trọn vẹn và đòi hỏi một con tim không chia cắt” (Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, Bài giảng thánh lễ ngày 14/10/2018). Cần tránh đánh lừa người trẻ với những đề xuất tối thiểu hay bóp nghẹt họ bởi hàng loạt những quy tắc luật lệ, là những điều làm cho Ki-tô giáo mang lấy một hình ảnh giản lược và nặng tính đạo đức. Chúng ta được mời gọi đặt tin tưởng vào sự táo bạo của người trẻ và giáo dục họ biết đảm nhận trách nhiệm. Chắc chắn rằng cả những sai sót, thất bại và khủng hoảng cũng là những kinh nghiệm giúp cho chính con người của họ nên vững mạnh.

Ý nghĩa đích thực của quyền lực

71. Để thực sự hoàn tất hành trình trưởng thành, người trẻ cần những người lớn có thẩm quyền. Theo nghĩa tầm nguyên, từ quyền lực (la auctoritas) chỉ về khả năng làm cho lớn lên, về một sức mạnh thực sự có khả năng làm phát sinh, chứ không diễn tả ý tưởng về một uy quyền chuyên để chỉ huy. Khi Đức Giê-su gặp gỡ người trẻ, dù họ đang trong tình trạng và điều kiện nào, ngay cả khi họ đã chết, bằng cách này hay cách khác, Người nói với họ: “Hãy đứng dậy! Hãy lớn lên!” Và những gì Người nói đã trở thành hiện thực (x. Mc 5,41; Lc 7,14). Trình thuật chữa lành người bị động kinh do quỷ ám (x. Mc 9,14-29) kể về nhiều cách thức mà người người trẻ hôm nay bị tha hóa; rõ ràng việc Đức Giê-su cầm tay đứa bé không phải để tước đi tự do nhưng để kích hoạt tự do ấy, để giải thoát đứa bé. Đức Giê-su đã dùng trọn uy quyền của mình: Người chẳng muốn gì ngoại trừ sự triển nở của đứa trẻ, chẳng hề có bất cứ sự chiếm hữu, thao túng hay hình thức dụ dỗ nào.

Tương quan với gia đình

72. Gia đình là cộng đoàn đức tin đầu tiên, mặc dù có những giới hạn và bất toàn, nhưng nơi cộng đoàn ấy người trẻ kinh nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa và bắt đầu phân định ơn gọi của mình. Những Thượng Hội Đồng trước đây, và sau đó là Tông Huấn Amoris Laetitia, không ngừng nhấn mạnh rằng gia đình là một Giáo Hội tại gia, có nhiệm vụ sống niềm vui Phúc Âm trong đời sống hằng ngày và làm cho tất cả mọi thành viên trong gia đình được tham dự vào niềm vui ấy tùy theo điều kiện của mỗi người, duy trì việc mở lòng ra với chiều kích ơn gọi và sứ mạng.

Tuy nhiên không phải mọi gia đình đều giáo dục con cái nhìn về tương lai theo lối nhìn của ơn gọi. Đôi khi việc tìm kiếm danh vọng xã hội hay sự thành công cá nhân, tham vọng của cha mẹ hay khuynh hướng muốn định đoạt những chọn lựa của con cái lấy mất đi không gian của việc phân định và điều kiện hóa những quyết định. Thượng Hội Đồng nhận thấy cần phải giúp đỡ các gia đình hiểu rõ hơn rằng cuộc sống là một ơn gọi. Trình thuật Tin Mừng về thời niên thiếu của Đức Giê-su (x. Lc 2,41-52) cho thấy rằng tuy Người thuộc quyền cha mẹ nhưng vẫn có khả năng tách mình ra để thi hành công việc của Chúa Cha. Trình thuật này có thể cho chúng ta những ánh sáng quý giá để gầy dựng những mối tương quan gia đình theo cách thức Tin Mừng.

Được mời gọi hướng đến tự do

Tin Mừng về sự tự do

73. Tự do là điều kiện thiết yếu của mọi chọn lựa đích thực của cuộc sống. Tuy nhiên, tự do có nguy cơ bị hiểu lầm, bởi vì không phải lúc nào nó cũng được trình bày một cách đúng đắn. Đối với nhiều bạn trẻ, Giáo Hội nói cho cùng cũng chỉ như là một thể chế áp đặt những quy tắc, những cấm đoán và đòi buộc. Nhưng trái lại, “chính để chúng ta được tự do mà Đức Ki-tô đã giải thoát chúng ta” (Gal 5,1), giúp ta vượt qua vương quốc của Lề Luật mà tiến vào vương quốc của Thần Khí. Dưới ánh sáng Tin Mừng, ngày nay cần phải nhận rõ hơn rằng bản chất của tự do là có tính tương quan, và cho thấy rằng những đam mê và cảm xúc cần được hiểu trong mức độ chúng hướng ta đến một cuộc gặp gỡ chân thực với tha nhân. Lối nhìn đó cũng minh chứng rằng tự do đích thực là điều có thể hiểu được. Tự do ấy chỉ có thể có được khi đặt mình trong tương quan với chân lý (x. Ga 8,31-32) và trên tất cả là với bác ái (x. 1 Cor 13,1-13, Gal 5,13): tự do có nghĩa là được là chính mình trong trái tim của tha nhân.

Tự do có trách nhiệm

74. Ngang qua việc sống tình huynh đệ và liên đới, đặc biệt với những người nhỏ bé nhất, các bạn trẻ khám phá ra rằng tự do đích thực sinh ra từ cảm thức được đón nhận và phát triển trong việc tạo không gian hướng đến người khác. Họ có kinh nghiệm này khi dấn thân trau dồi tính điềm đạm hay thái độ tôn trọng môi trường. Kinh nghiệm về sự nhìn nhận nhau và dấn thân cùng nhau giúp họ khám phá rằng trong trái tim họ có một lời mời gọi thầm lặng hướng đến tình yêu, thứ tình yêu vốn khởi từ Thiên Chúa. Như vậy họ dễ nhận ra chiều kích siêu việt mà tự do đã cưu mang từ trong căn cội của chính mình. Và chiều kích siêu việt này được đánh thức cách rõ ràng nhất trong tương quan với những kinh nghiệm sống mãnh liệt nhất – sinh và tử, tình bạn và tình yêu, tội lỗi và tha thứ. Chính những kinh nghiệm này giúp ta nhận ra rằng bản chất của tự do, một cách tận căn, phải mang tính trách nhiệm.

Tự do và đức tin

75. Hơn 50 năm trước, Thánh Giáo Hoàng Phaolo VI đã giới thiệu cụm từ “cuộc đối thoại của ơn cứu độ” và đã giải thích sứ mạng của Người Con trong thế giới như là sự diễn tả của một “đòi hỏi mãnh liệt về tình yêu”. Tuy nhiên ngài nói thêm rằng chúng ta có “tự do để đáp lại hay từ chối” (x. Ecclesiam suam, s. 77). Trong viễn cảnh này, hành động đức tin của cá nhân là một hành động tự do và có tính giải phóng: đó sẽ là khởi điểm cho sự hội nhất tiệm tiến của những nội dung đức tin. Vì thế, đức tin không phải là một yếu tố được thêm vào từ bên ngoài sự tự do, nhưng đức tin hoàn thành sự khát mong của lương tâm hướng đến chân, thiện, mỹ. Tất cả những điều này được tìm thấy cách trọn vẹn nơi Đức Giê-su. Chứng tá của nhiều vị tử đạo trẻ tuổi trong quá khứ và hiện tại, đã vang vọng cách mạnh mẽ trong Thượng Hội Đồng, là bằng chứng thuyết phục nhất cho thấy đức tin đã giải thoát họ khi họ phải đương đầu với quyền lực thế gian, với những bất công hay ngay cả trước cái chết.

Tự do mang thương tích và được cứu chuộc

76. Tự do của con người bị ghi dấu bởi những thương tích do tội cá nhân và bởi những nghiêng chiều về tội. Nhưng nhờ sự tha thứ và lòng thương xót, khi người ta ý thức về những chướng ngại đang cầm tù họ, họ sẽ trưởng thành và sẽ có thể dấn thân cách rõ ràng hơn vào những chọn lựa quyết định của cuộc sống. Trong viễn cảnh giáo dục, việc quan trọng là giúp các bạn trẻ không nhụt chí bởi những sai lỗi và thất bại, dù có thể khá xấu hổ, để họ có thể hội nhất vào cuộc hành trình hướng đến tự do triển nở hơn, và ý thức về sức mạnh cũng như yếu đuối của mình.

Sự dữ không phải là tiếng nói cuối cùng, vì “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3, 16). Thiên Chúa yêu chúng ta đến cùng và vì thế đã chuộc lại tự do cho chúng ta. Trước khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá vì chúng ta, Đức Giê-su đã trao ban Thần Khí và “ở đâu có Thần Khí của Thiên Chúa, thì ở đó có tự do” (2 Cor 3,17): một sự tự do mới mẻ, mang tính phục sinh, được hoàn tất trong việc trao ban chính mình hằng ngày.

CHƯƠNG II: MẦU NHIỆM ƠN GỌI

Việc tìm hiểu ơn gọi

Ơn gọi, hành trình và khám phá

77. Trình thuật về ơn gọi của Sa-mu-en (1Sm 3,1-21) cho thấy những dấu chỉ nền tảng của việc phân định: việc lắng nghe và đón nhận sáng kiến đến từ Thiên Chúa, một kinh nghiệm cá vị, một sự hiểu biết tiệm tiến, một sự đồng hành kiên nhẫn và biết tôn trọng mầu nhiệm đang diễn tiến, hướng đến một sứ vụ có tính cộng đoàn. Ơn gọi không được áp đặt trên Sa-mu-en như một vận số phải chịu, nhưng là một đề nghị của tình yêu, một cuộc sai đi vì sứ mạng ngang qua câu chuyện vẫn diễn ra mỗi ngày về niềm tin mà người ta đặt vào nhau.

Tương tự như với cậu trẻ Sa-mu-en, câu chuyện ơn gọi cũng thường diễn ra như thế với mỗi bạn trẻ nam nữ. Mặc dù có những phút giây mạnh mẽ đặc biệt, nhưng ơn gọi thường là một hành trình dài. Cần có thời gian để hiểu và diễn giải Lời của Thiên Chúa. Sứ mạng của một ơn gọi chỉ được vén mở cách tiệm tiến. Những người trẻ thường được cuốn hút bởi việc phiêu lưu khám phá chính mình ngày một hơn. Họ luôn sẵn lòng học hỏi từ những hoạt động mà họ dấn thân, từ những cuộc gặp gỡ và các mối tương quan, từ đặt mình đối diện với những thách đố mỗi ngày. Dẫu vậy, họ vẫn cần được giúp đỡ để có thể hội nhất những kinh nghiệm khác nhau và đọc những kinh nghiệm ấy dưới lăng kính của đức tin, để thắng được nguy cơ bị phân mảnh và để đọc ra những dấu chỉ Thiên Chúa đang dùng để nói với họ. Trong việc khám phá ơn gọi, không phải tất cả đều rõ ràng ngay lập tức, bởi lẽ đức tin “’nhìn thấy’ trong mức độ mình bước đi, trong mức độ mình bước vào trong khoảng không gian mở ra với Lời của Thiên Chúa” (Thông Điệp Lumen fidei, số 9).

Ơn gọi, ân sủng và tự do

78. Qua nhiều thế kỷ khác nhau, sự hiểu biết thần học về mầu nhiệm ơn gọi đã có những điểm nhấn khác nhau, tùy theo bối cảnh xã hội và Giáo Hội mà trong đó chủ đề này được nghiên cứu. Dù sao đi nữa, cần nhận ra tính chất loại suy trong thuật ngữ “ơn gọi” và những chiều kích ám chỉ về thực tại mà thuật ngữ này muốn nói. Thường có tình trạng chỉ nhấn mạnh đến một vài chiều kích đơn lẻ, và không biết cách giữ sự quân bình khi nhìn trọn vẹn sự phức hợp của thực tại. Để đón nhận trong chiều sâu mầu nhiệm ơn gọi, là ơn có cội nguồn từ chính Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi thanh lọc những ảo tưởng và ngôn ngữ tôn giáo của chúng ta, tìm lại sự phong phú và quân bình trong các tường thuật Kinh Thánh. Đặc biệt, cuộc gặp gỡ giữa sự tuyển chọn của Thiên Chúa và tự do của con người cần phải được suy tư vượt ra ngoài mọi chủ nghĩa tiền định hay chủ nghĩa tự thân. Ơn gọi không phải là một kịch bản đã được viết sẵn và con người chỉ có nhiệm vụ phải diễn, cũng không phải là một đoạn kịch ngẫu hứng không đầu không đuôi. Bởi lẽ Thiên Chúa gọi chúng ta trở thành bạn hữu, chứ không phải thành nô lệ (Ga 15,13), những chọn lựa của chúng ta diễn ra đồng điệu với diễn tiến lịch sử trong kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa. Mặt khác, kế hoạch cứu độ là một Mầu Nhiệm vô hạn vượt xa chúng ta; do đó, chỉ việc lắng nghe Thiên Chúa mới có thể vén mở cho chúng ta thấy mình được mời gọi để tháp nhập vào phần nào trong kế hoạch ấy. Nhìn dưới ánh sáng này ơn gọi mới thực sự là một quà tặng của ân sủng và giao ước, như là bí mật đẹp đẽ nhất và quý giá nhất thuộc về sự tự do của chúng ta.

Sáng tạo và ơn gọi

79. Khẳng định rằng mọi sự đều được tạo thành nhờ Đức Ki-tô và hướng về Người (Cl 1,16), Kinh Thánh đọc mầu nhiệm ơn gọi như là một thực tại tương đồng với sự sáng tạo của Thiên Chúa. Thiên Chúa sáng tạo bằng Lời, “kêu gọi” vào hiện hữu và vào cuộc sống, rồi “phân rẽ” từ cõi hỗn mang những thực tại hỗn độn, ghi khắc vào vũ trụ dấu ấn đẹp đẽ của trật tự và hài hòa giữa những khác biệt. Thánh Giáo Hoàng Phao-lô IV đã khẳng định: “mỗi cuộc đời là một ơn gọi” (Thông Điệp Popolorum Progressio, số 15). Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI thì nhấn mạnh rằng được làm người nghĩa là được tạo dựng như một hiện hữu đối thoại: Lời sáng tạo “kêu gọi mỗi người cách cá vị, vén mở rằng chính sự sống là một ơn gọi trong tương quan với Thiên Chúa” (Tông Huấn Verbum Domini, số 77).

Hướng đến một văn hóa ơn gọi

80. Nói về sự hiện hữu của con người bằng ngôn ngữ ơn gọi là nhấn mạnh đến một số yếu tố hết sức quan trọng trong sự trưởng thành của một người trẻ: nói như thế đồng nghĩa với việc phủ nhận rằng sự hiện hữu của con người bị tất định bởi một vận số nào đó hay chỉ là kết quả của một sự ngẫu nhiên, đồng thời cũng phủ nhận rằng hiện hữu của một con người là điều gì đó riêng tư và chỉ được quyết định cách riêng tư. Trường hợp thứ nhất không có ơn gọi, bởi lẽ không có sự nhìn nhận về một cùng đích xứng đáng cho hiện hữu của con người; trường hợp thứ hai, một người nghĩ rằng “không có tương quan” thì người ấy trở thành “không có ơn gọi”. Do đó, điều quan trọng là cần tạo điều kiện để tất cả các cộng đoàn Ki-tô hữu, khởi đi từ ý thức về Bí Tích Rửa Tội của mỗi thành viên, phát triển một nền văn hóa ơn gọi và một sự dấn thân liên lỉ trong việc cầu nguyện cho ơn gọi.

Ơn gọi bước theo Đức Giê-su

Sức cuốn hút của Đức Giê-su

81. Vô số người trẻ bị cuốn hút bởi hình ảnh Đức Giê-su. Với họ, cuộc sống của Người tốt lành và đẹp đẽ, vì đó là một cuộc đời khó nghèo và giản đơn, được tạo nên bởi những tình bạn chân thành và sâu sắc, trao ban cho anh em bạn hữu với lòng quảng đại, không đóng lại trước bất cứ người nào nhưng luôn sẵn lòng cho đi. Ngày nay cũng vậy, cuộc đời của Đức Giê-su vẫn luôn hấp dẫn và gợi hứng sâu xa. Cuộc đời ấy luôn là một lời chất vấn thôi thúc tất cả các bạn trẻ. Giáo Hội biết rằng tất cả những nét hấp dẫn ấy đến từ việc Đức Giê-su có một mối liên hệ sâu sắc với mỗi con người, bởi lẽ “Đức Ki-tô, A-đam mới, chính nơi việc mạc khải về mầu nhiệm Thiên Chúa Cha và tình yêu của Người, cũng vén mở trọn vẹn con người của chính mình và cho thấy ơn gọi vô cùng cao cả của mình” (Hiến Chương Gaudium et Spes, số 22).

Đức tin, ơn gọi và việc làm môn đệ

82. Thật ra, Đức Giê-su không chỉ lôi cuốn người khác bằng cuộc sống của mình, Người còn minh nhiên mời gọi họ hướng đến đức tin. Những người nam cũng như nữ gặp gỡ Đức Giê-su đều nhận thấy nơi những cử chỉ và lời nói của Người cách thế chính đáng để nói về Thiên Chúa và để tương quan với Người, để nhóm lên một niềm tin mang lại ơn cứu độ: “Này con, đức tin của con đã cứu chữa con. Hãy đi bình an!” (Lc 8,48). Có những người khác khi gặp gỡ Người thì đã được gọi để trở nên những môn đệ và chứng nhân của Người. Với những ai muốn làm môn đệ của Người, Người không hề che dấu đòi hỏi phải vác thập giá của mình mỗi ngày và phải bước theo Người trên con đường Thương Khó và Phục Sinh. Đức tin chứng tá vẫn tiếp tục sống động trong Giáo Hội, như là dấu chỉ và khí cụ cho ơn cứu độ của muôn dân. Có nhiều dạng thức khác nhau của việc bước theo Đức Giê-su và việc thuộc về cộng đoàn của Người. Phần lớn những người môn đệ đều sống đức tin trong những điều kiện bình thường của cuộc sống thường ngày; những người khác, bao gồm cả một số người nữ, cùng chia sẻ với Thầy mình cuộc hiện hữu lưu động và mang đầy tính ngôn sứ. Ngay từ khởi đầu, các Tông Đồ đã nhận những nhiệm vụ quan trọng trong cộng đoàn, họ liên kết với Người trong sứ vụ hướng dẫn và rao giảng.

Đức Trinh Nữ Maria

83. Trong số tất cả những nhân vật của Kinh Thánh có thể minh họa về mầu nhiệm ơn gọi, cần đặc biệt chiêm ngắm hình ảnh Đức Maria. Là một người nữ trẻ với lời đáp “Xin Vâng”, Mẹ đã làm cho Mầu Nhiệm Nhập Thể thành hiện thực, nhờ đó tạo điều kiện để mọi ơn gọi khác được sinh ra trong lòng Giáo Hội. Mẹ là môn đệ đầu tiên của Đức Giê-su, là khuôn mẫu của mọi cuộc đời môn đệ. Trong cuộc lữ hành đức tin của mình, Mẹ Maria đã theo Con cho đến tận chân Thập Giá. Sau biến cố Phục Sinh, Mẹ đã đồng hành với Giáo Hội được sinh ra trong biến cố Hiện Xuống. Như một người Mẹ và một người Thầy đầy lòng nhân ái, Mẹ vẫn tiếp tục đồng hành với Giáo Hội và cầu xin Thánh Thần ban sức sống cho mỗi ơn gọi. Thế nên “Nguyên Lý Maria” luôn đóng một vai trò chủ chốt và luôn soi dẫn cho trọn vẹn đời sống của Giáo Hội trong những cách thế thể hiện khác nhau của mình. Đứng cạnh bên Đức Trinh Nữ, Thánh Giu-se, bạn trăm năm của Mẹ, cũng chính là một gương mẫu tiêu biểu của việc đáp trả trong ơn gọi.

Ơn gọi và các ơn gọi

Ơn gọi và sứ mạng trong Giáo Hội

84. Không thể hiểu đầy đủ ý nghĩa ơn gọi của Bí Tích Thánh Tẩy, nếu người ta không coi đây là ơn gọi dành cho tất cả mọi người, không loại trừ ai. Đó là ơn gọi nên thánh. Ơn gọi ấy nhất thiết phải bao hàm lời mời gọi tham gia vào sứ mạng của Giáo Hội. Sứ mạng ấy có mục đích căn bản là hiệp thông với Thiên Chúa và hiệp thông với nhau. Thực tế, các ơn gọi trong Giáo Hội được diễn tả đa dạng và phân biệt, qua đó Giáo Hội nhận ra ơn gọi của chính mình là trở thành dấu chỉ thực sự của Tin Mừng được đón nhận trong một cộng đoàn huynh đệ. Những cách thức khác nhau để bước theo Chúa Ki-tô, mỗi người mỗi cách, đều diễn tả sứ mạng làm chứng về Người. Nơi Đấng ấy, mọi người tìm thấy ơn cứu độ.

Sự đa dạng của các đặc sủng

85. Thánh Phaolô đã nói đi nói lại nhiều lần trong các thư của ngài về chủ đề này. Thánh nhân nhắc nhớ chúng ta về hình ảnh Giáo Hội như là một thân thể được tạo nên từ nhiều chi thể. Thánh nhân còn nhấn mạnh rằng các chi thể phải biết liên kết với nhau, bởi vì chỉ có sự hiệp nhất toàn thể mới làm cho thân thể sống động và quân bình. Nguồn gốc của sự hiệp nhất này bắt nguồn từ chính mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi: “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người” (1Cr12,4-6). Công Đồng Vaticano II và các giáo huấn của Giáo Hội sau đó tiếp tục đưa ra các chỉ dẫn quý giá để xây dựng một nền thần học đúng đắn về các đặc sủng và các sứ vụ trong Giáo Hội, theo đó có thể đón nhận và tái nhận biết cũng như khôn ngoan lượng giá những quà tặng ân sủng mà Chúa Thánh Thần vẫn tiếp tục làm trổ sinh trong Giáo Hội để làm tươi trẻ khuôn mặt của Giáo Hội.

Nghề nghiệp và ơn gọi

86. Đối với nhiều bạn trẻ, định hướng nghề nghiệp được nhìn từ viễn tượng ơn gọi. Không hiếm trường hợp người ta từ chối một công việc hấp dẫn nhưng lại không phù hợp với các giá trị Ki-tô giáo. Khi lựa chọn các hành trình huấn luyện, cần phải tự hỏi làm thế nào để làm cho các tài năng cá nhân sinh hoa kết trái cho việc phục vụ Nước Thiên Chúa. Qua nhiều dịp nhiều cách, cần nhận biết và lượng giá các tài năng mà mình được lãnh nhận; theo cách này, mọi người nam nữ có thể tham dự tích cực vào sứ vụ của Chúa Ba Ngôi trong việc tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa.

Gia đình

87. Hai kỳ Thượng Hội Đồng gần đây về gia đình, và sau đó là Tông Huấn “Niềm Vui của Tình Yêu”, đã mang lại những đóng góp quý báu về ơn gọi gia đình trong Giáo Hội. Đóng góp không thể thay thế của các gia đình là việc làm chứng cho Tin Mừng qua tình yêu vợ chồng, qua việc sinh sản và giáo dục con cái. Bằng việc đề cập đến sự phong phú của các văn kiện gần đây, chúng tôi cũng muốn nhắc lại tầm quan trọng của việc giúp các bạn trẻ tái khám phá vẻ đẹp của ơn gọi gia đình.

Đời sống thánh hiến

88. Đời sống thánh hiến, dù chiêm niệm hay hoạt động, là một quà tặng mà Chúa Thánh Thần ban cho Giáo Hội. Đời sống này có một giá trị ngôn sứ đặc biệt khi được sống như một chứng tá vui tươi về tính nhưng không của tình yêu. Các cộng đoàn tu trì và những hiệp hội mới, khi sống tình huynh đệ cách đích thực, sẽ trở thành trường học về tình hiệp thông, trở thành trung tâm cầu nguyện và chiêm niệm, trở thành trường chứng nhân và nơi đối thoại liên thế hệ và liên văn hóa, trở thành không gian cho công cuộc loan báo tin mừng và đức bác ái. Sứ mạng của những người sống đời thánh hiến, đang chăm sóc những con người ở ngoại biên của thế giới, cho thấy sự cống hiến của một Giáo Hội biết ra đi. Nếu như ở một số nơi có sự giảm sút về số lượng và sự vất vả vì tình trạng già nua, thì ở những nơi khác, đời sống thánh hiến vẫn tiếp tục phát triển và đầy sức sáng tạo nhờ vào việc cộng tác đồng trách nhiệm của rất nhiều giáo dân. Họ chia sẻ cùng một tinh thần và cùng một sứ mạng giữa các đặc sủng khác nhau. Giáo Hội và thế giới không thể thiếu quà tặng ơn gọi này, vì đó là một nguồn lực lớn lao cho thời đại của chúng ta.

Chức thánh

89. Giáo Hội luôn dành sự chăm sóc đặc biệt đối với các ơn gọi tiến tới chức thánh, vì biết rằng các ơn gọi ấy là yếu tố cấu thành căn tính của Giáo Hội và cần thiết cho đời sống Ki-tô hữu. Vì lý do này, Giáo Hội luôn chú trọng đặc biệt đến sự huấn luyện và đồng hành với các ứng viên hướng tới chức thánh. Lo lắng về sự giảm sút số lượng ơn gọi khiến nhiều Giáo Hội nghĩ rằng cần phải có một sự phản tỉnh mới về ơn gọi hướng tới chức thánh, về ơn gọi mục tử, để có thể làm cho mọi người say mê con người Giê-su và lời mời gọi trở thành mục tử cho đàn chiên của Người. Ngoài ra, ơn gọi phó tế vĩnh viễn cũng cần được lưu tâm nhiều hơn, vì đây cũng là một nguồn lực chưa được phát triển hết tiềm năng.

Tình trạng “độc thân”

90. Thượng Hội Đồng đã suy tư về tình trạng của những người sống “độc thân”, thừa nhận rằng thuật ngữ này có thể nói tới những tình trạng sống rất khác nhau. Tình trạng này có thể phụ thuộc vào nhiều lý do, tự nguyện hoặc không tự nguyện, nhiều yếu tố văn hóa, tôn giáo và xã hội. Do đó, tình trạng này có thể phản ánh rất nhiều sắc thái khác nhau trong những hành trình sống. Giáo Hội công nhận rằng tình trạng này, được nhìn nhận dưới ánh sáng đức tin và ân sủng, có thể trở thành một trong nhiều nẻo đường để hiện thực hóa ân sủng của Bí Tích Rửa Tội và để tiến bước hướng về sự thánh thiện mà tất cả chúng ta được mời gọi.

CHƯƠNG III: SỨ MẠNG ĐỒNG HÀNH

Giáo Hội, người đồng hành

Trước những chọn lựa

91. Thế giới đương đại càng lúc càng được đánh dấu bởi đặc tính đa nguyên và bởi những chọn lựa có sẵn. Chủ đề chọn lựa được đặt ra cách đặc biệt và ở nhiều mức độ khác nhau, nhất là trước những hành trình cuộc sống ngày càng phức tạp chồng chéo và đầy bấp bênh. Trong thực tế, những người trẻ thường dao động một cách ngây thơ giữa các hướng cực đoan: từ chỗ tự xót xa về một số phận đã không thể đổi thay, đến việc cảm thấy bị choáng ngợp bởi lý tưởng mơ hồ về sự xuất sắc, trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt và bạo lực.

Vì thế, việc đồng hành với các bạn trẻ, để có thể thực hiện những chọn lựa giá trị, vững chắc và bền vững, là việc mục vụ rất cần thiết. Việc hiện diện, trợ giúp và đồng hành để hướng tới những chọn lựa chân thực là cách mà Giáo Hội thực hiện chức năng làm mẹ của mình trong việc sinh ra những người con hướng tới tự do như là con cái Thiên Chúa. Việc phục vụ này không gì khác hơn là việc tiếp tục công trình mà Thiên Chúa nơi Chúa Giê-su đã thực hiện với dân của Ngài: qua sự hiện diện liên lỉ và quan tâm, qua việc gần gũi yêu thương và sự hiền từ vô biên.

Cùng nhau bẻ bánh

92. Như trình thuật về hai môn đệ trên đường Em-mau cho thấy, việc đồng hành đòi hỏi phải có thời gian bước đi cùng nhau, để thiết lập một tương quan ý nghĩa. Gốc của thuật ngữ “đồng hành” gợi lên hình ảnh một tấm bánh được bẻ ra và được chia sẻ (cum pane), biểu tượng phong phú về con người và về bí tích. Do đó, cả cộng đoàn là chủ thể đầu tiên thực thi việc đồng hành, bởi vì chính cộng đoàn là nơi nảy sinh các mối tương quan. Chính những mối tương quan này có thể nâng đỡ mỗi thành viên trong hành trình của họ, cho họ những điểm kết nối và định hướng. Việc đồng hành trong tiến trình lớn lên của con người và niềm tin Ki-tô giáo, hướng đến một đời sống trưởng thành, là một trong những cách mà cộng đoàn cho thấy khả năng tự làm mới lại chính mình và đổi mới thế giới.

Bí tích Thánh Thể là ký ức sống động của biến cố vượt qua, là nơi đặc biệt của công cuộc Tin Mừng hóa và việc thông truyền đức tin trong viễn tượng sứ mạng. Khi cộng đoàn họp nhau cử hành Thánh Lễ, chính kinh nghiệm được đụng chạm cách cá vị, được dạy dỗ và được Đức Giê-su chữa lành sẽ đồng hành với mỗi người trên hành trình trưởng thành của họ.

Môi trường và vai trò

93. Bên cạnh các thành viên gia đình, cũng có nhiều người quan trọng trong cuộc sống của người trẻ, ví như giáo viên, linh hoạt viên, huấn luyện viên, và những người khác. Các linh mục, các tu sĩ, mặc dù không chuyên lo về việc đồng hành, nhưng họ vẫn phải có một nhiệm vụ đặc biệt bắt nguồn từ chính ơn gọi của họ. Đó là ơn gọi mà họ phải tái khám phá nhân danh những người khác, theo như yêu cầu của các bạn trẻ có mặt tại Thượng Hội Đồng. Kinh nghiệm của một số nơi là cần phát huy vai trò của các giáo lý viên như là những người bạn đồng hành với các cộng đoàn Ki-tô hữu và với các thành viên của họ.

Đồng hành cùng nhau trong xã hội

94. Việc đồng hành không thể chỉ giới hạn trong hành trình trưởng thành thiêng liêng và trong những thực hành Ki-tô giáo. Để mang lại hoa trái, việc đồng hành phải kéo dài suốt hành trình thăng tiến các trách nhiệm trong lòng xã hội, ví dụ trong lĩnh vực nghề nghiệp hoặc trong các dấn thân về chính trị xã hội. Theo nghĩa đó, Thượng Hội Đồng đề nghị phát huy học thuyết xã hội của Giáo Hội. Trong lòng xã hội và cộng đoàn Giáo Hội, ngày càng đa văn hóa và đa tôn giáo, cần có một sự đồng hành đặc biệt trong tương quan với tính đa dạng. Sự đồng hành ấy cần nhìn nhận tính đa dạng như là một sự phong phú có tính hỗ tương và như là cơ hội cho việc hiệp thông huynh đệ, để chống lại một cám dỗ kép: khép kín và tương đối.

Sự đồng hành nơi cộng đoàn, nhóm và cá nhân

Một trương lực mang lại hiệu quả

95. Sự đồng hành cá nhân và đồng hành cộng đoàn bổ túc cho nhau chặt chẽ, mà mỗi linh đạo hay nguồn hứng Giáo Hội được mời gọi thi hành cách tích cực. Có những thời điểm quan trọng đặc biệt, ví dụ khi phân định để làm một chọn lựa nền tảng về đời sống hay đang vượt qua những thời điểm khó khăn, khi đó, việc đồng hành cá nhân trực tiếp sẽ mang lại những kết quả tích cực đặc biệt. Bên cạnh đó, sự đồng hành cũng quan trọng ngay cả trong đời sống thường nhật như là cách thức để đào sâu tương quan với Chúa. Kế đến, cần nhấn mạnh đặc biệt đến nhu cầu cấp thiết của việc đồng hành cá nhân đối với các chủng sinh và linh mục trẻ, các tu sĩ trong giai đoạn huấn luyện, cũng như với các đôi bạn trẻ chuẩn bị đời sống hôn nhân và trong thời gian đầu sau khi cử hành Bí Tích Hôn Phối, và cũng cần cho các người dự tòng.

Đồng hành cộng đoàn và trong nhóm

96. Đức Giê-su đã đồng hành với nhóm các môn đệ của mình, chia sẻ cuộc sống với họ mỗi ngày. Kinh nghiệm cộng đoàn cho thấy những phẩm chất và giới hạn của mỗi người và làm triển nở lòng khiêm tốn. Nếu không có sự chia sẻ những món quà lãnh nhận cho lợi ích chung thì không thể bước theo Chúa được.

Kinh nghiệm này tiếp tục được thực hành trong Giáo Hội, khi những người trẻ tham gia các nhóm, các phong trào và các kiểu hội đoàn, nơi đó họ trải nghiệm bầu khí ấm cúng, nồng nhiệt và thân ái trong tương quan. Thực tế, dấn thân kiểu này có một tầm quan trọng đặc biệt khi hoàn tất một hành trình của đời sống Ki-tô hữu, bởi vì nó tạo điều kiện cho người trẻ tiến đến sự trưởng thành trong ơn gọi Ki-tô hữu của mình. Trong những môi trường này, họ được khuyến khích gặp gỡ các mục tử để có được một sự đồng hành thích hợp.

Trong các nhóm, những nhà giáo dục và linh hoạt viên được xem như một điểm quy chiếu theo nghĩa đồng hành. Các tương quan tình bạn trong những nhóm này giúp kiến tạo môi trường đồng hành giữa họ.

Đồng hành thiêng liêng cá nhân

97. Đồng hành thiêng liêng là quá trình giúp đỡ cá nhân hội nhập từng bước vào những khía cạnh khác nhau của đời sống bước theo Chúa Giê-su. Quá trình này cần hội đủ ba điều kiện: lắng nghe cuộc sống, gặp gỡ Giê-su và đối thoại cách nhiệm mầu giữa tự do của Thiên Chúa và tự do của cá nhân. Ai đồng hành phải đón nhận cách kiên nhẫn, khơi lên những câu hỏi thật nhất và nhận biết những dấu hiệu của Thánh Thần trong những câu trả lời của người trẻ.

Trong đồng hành thiêng liêng cá nhân, người ta học cách nhận biết, giải thích và chọn lựa trong nhãn quan đức tin, khi lắng nghe Thánh Thần gợi lên cho mỗi người trong cuộc sống thường ngày (x. ĐGH Phan-xi-cô, Evangelii gaudium, số 169-173). Đặc sủng đồng hành thiêng liêng, ngay cả trong truyền thống, không nhất thiết gắn với tác vụ tư tế. Chưa bao giờ những người hướng dẫn thiêng liêng, những người cha người mẹ với kinh nghiệm đức tin và nhân bản sâu xa lại cần thiết như hôm nay. Chỉ chuẩn bị về tri thức thôi thì không đủ. Thượng Hội Đồng Giám Mục mong ước sẽ có một sự tái khám phá trong bầu khí này cũng như trong kho tàng phong phú của đời sống thánh hiến, đặc biệt về nữ giới, về giáo dân, người lớn và người trẻ được huấn luyện tốt.

Đồng hành và bí tích Hoà Giải

98. Bí tích Hoà Giải đóng một vai trò không thể thiếu cho đời sống đức tin, bởi đời sống ấy vốn được ghi dấu không chỉ từ những giới hạn và yếu đuối, nhưng cả bởi tội lỗi. Sứ vụ hoà giải và đồng hành thiêng liêng phải có chỗ đứng đặc biệt, bởi vì chúng có mục đích và thể thức khác. Một phương pháp tiệm tiến đúng đắn và khôn ngoan trong hành trình sám hối là một cơ hội mục vụ thích hợp, với sự tham gia của nhiều nhà giáo dục, sẽ giúp người trẻ đọc ra đời sống luân lý của họ, giúp trưởng thành một cảm thức đúng đắn về tội lỗi, đặc biệt sẵn sàng đón nhận niềm vui của người được giải phóng bởi lòng thương xót.

Một sự đồng hành toàn diện

99. Thượng Hội Đồng nhận thấy cần phải cổ võ một sự đồng hành toàn diện, nơi đó những khía cạnh thiêng liêng được hội nhất với các khía cạnh nhân bản và xã hội. Đức Thánh Cha Phan-xi-cô giải thích rằng: “việc phân định thiêng liêng không loại trừ những đóng góp của sự khôn ngoan nhân loại, hiện sinh, tâm lý, xã hội hay luân lý. Nhưng phân định thiêng liêng vượt trên những khôn ngoan ấy” (Gaudete et exsultate, số 170). Điều này đụng đến các yếu tố cần được tiếp nhận cách năng động và trong sự tôn trọng những khác biệt về linh đạo và văn hoá, mà không loại trừ cũng như không lẫn lộn.

Đồng hành tâm lý và trị liệu, nếu mở ra với chiều kích siêu việt, có thể trở thành nền tảng cho một hành trình hội nhất của tính cách cá nhân, mở lại những khía cạnh cá nhân vốn bị đóng kín và khoá chặt hướng đến khả thể lớn lên trong ơn gọi. Người trẻ sống cả sự phong phú lẫn mỏng giòn nơi một “công trường mở”. Giải quyết vấn đề tâm lý có thể giúp không chỉ trong việc kiên nhẫn đọc lại lịch sử cá nhân, mà còn mở lại vấn đề để đạt tới một sự cân bằng tâm lý ổn định hơn.

Đồng hành trong huấn luyện tác vụ có chức thánh và đời sống thánh hiến

100. Trong việc thu nhận người trẻ vào các nhà huấn luyện và các chủng viện, điều quan trọng là cần phải kiểm tra khả năng có thể bám rễ nơi một cộng đoàn, một sự ổn định trong tương quan tình bạn với những người cùng lớp, trong sự dấn thân học tập và công việc, trong liên hệ với sự khó nghèo và đau khổ.

Trong đồng hành thiêng liêng, việc cầu nguyện và làm việc nội tâm có tính quyết định trong giai đoạn khởi đầu, người được huấn luyện cần học cách phân định trước mọi việc trong đời sống của mình, có khi cần cả các hình thức từ bỏ và khổ chế. Độc thân vì Nước Trời (x. Mt 19,12) cần được nhìn nhận như một ân huệ, cần được nhìn nhận và xác chuẩn trong tự do, niềm vui, tính nhưng không và lòng khiêm tốn trước khi bước vào chức thánh hay khấn đầu. Sự đóng góp của tâm lý học được hiểu như là hỗ trợ cho sự trưởng thành tâm cảm và hội nhất nhân cách, giúp hội nhập vào hành trình huấn luyện chuyên môn, và để tự do thực sự như đòi hỏi đối với người trong giai đoạn huấn luyện. Hình ảnh vị viện trưởng hoặc người có trách nhiệm huấn luyện càng ngày càng quan trọng hơn, để hợp nhất quá trình huấn luyện, để đạt đến một sự phân định thực tế khi tham khảo ý kiến của tất cả những người liên quan trong việc huấn luyện, để đưa ra quyết định cuối cùng cho việc dừng tiến trình huấn luyện và giúp tìm kiếm một ơn gọi khác.

Kết thúc giai đoạn huấn luyện khởi đầu, cần phải đảm bảo việc thường huấn và đồng hành đối với các linh mục và nam nữ tu sĩ, đặc biệt là những linh mục, tu sĩ trẻ. Những người này thường phải đối diện với những thách đố và bổn phận bất cân xứng. Nhiệm vụ đồng hành với họ không chỉ thuộc về những thụ uỷ tương ứng, mà phải được thực hiện cách cá nhân bởi các giám mục và các bề trên.

Những vị đồng hành tốt

Được mời làm đồng hành

101. Bằng nhiều cách, những người trẻ đòi chúng ta đánh giá hình ảnh của những vị đồng hành. Việc đồng hành là một sứ mạng thật sự, đòi hỏi một sự ứng trực tông đồ đối với ai thực thi nó. Như phó tế Phi-lip-phê, người đồng hành được kêu mời vâng theo tiếng gọi của Thần Khí, thoát ra và bỏ đi việc gắn chặt với tường thành Giê-ru-sa-lem, hình ảnh của cộng đoàn Ki-tô hữu, để hướng về vùng đất sa mạc và không hiếu khách, có thể nguy hiểm, để cố gắng đuổi theo cỗ xe của viên thái giám. Gặp được ông ấy, vị Tông Đồ phải tìm cách bắt chuyện với vị khách xa lạ, để làm trổi lên câu hỏi mà có lẽ nếu để tự phát thì chẳng bao giờ được nêu lên (x. Cv 8,26-40). Tóm lại, việc đồng hành đòi hỏi đặt mình vào vị trí sẵn sàng, đối với Thần Khí của Đức Ki-tô và của người được đồng hành, bằng tất cả khả năng và phẩm chất, rồi can đảm thực hiện với lòng khiêm tốn.

Chân dung vị đồng hành

102. Một người đồng hành tốt lành là một người quân bình, về lắng nghe, về lòng tin và cầu nguyện, biết thận trọng cân nhắc với những yếu đuối và mỏng giòn của chính mình. Vì thế, họ biết đón nhận những người trẻ được trao cho họ, không duy luân lý và không dễ giải cách sai lầm. Khi cần thiết, vị ấy cũng biết đưa ra những lời sửa lỗi trong tình huynh đệ.

Việc ý thức rằng đồng hành là một sứ mạng đòi hỏi một sự bén rễ sâu xa trong đời sống thiêng liêng sẽ giúp cho vị ấy giữ được tự do khi gặp gỡ những người trẻ và đồng hành với họ: tôn trọng kết quả hành trình của họ, hỗ trợ bằng lời cầu nguyện và vui vẻ với hoa trái mà Thánh Thần làm phát sinh đối với những ai mở con tim, và không tìm cách áp đặt ý riêng hay ưu tư riêng. Cũng vậy, đó là người có khả năng đặt mình ở vị thế phục vụ, thay vì đứng ở vị trí trung tâm và có thái độ chiếm hữu hay lèo lái, tạo nên sự phụ thuộc và không tự do nơi người thụ huấn. Sự tôn trọng sâu xa này cũng sẽ là điều đảm bảo tốt nhất khỏi nguy cơ lèo lái và lạm dụng ở mọi thể loại.

Tầm quan trọng của huấn luyện

103. Để có thể thi hành sứ mạng đặc thù này, người huấn luyện cần trau dồi đời sống thiêng liêng, nuôi dưỡng tương quan thắt chặt với Đấng đã sai mình vào sứ mạng này. Đồng thời, người ấy cần cảm nhận được sự nâng đỡ của cộng đoàn Giáo Hội mà mình thuộc về. Thật quan trọng nếu người ấy nhận được một nền huấn luyện đặc biệt cho sứ vụ đặc biệt này, và đến lượt mình, người ấy có thể giúp trong việc đồng hành và giám sát.

Cuối cùng, cần nhớ rằng các đặc tính tiêu biểu thuộc bản chất Giáo Hội nhận được sự tán đồng rất lớn của các bạn trẻ đó là sự sẵn sàng và khả năng làm việc theo nhóm: Cách thức này sẽ mang lại ý nghĩa lớn hơn, hiệu quả và sâu sắc trong huấn luyện người trẻ. Khả năng làm việc chung này đòi hỏi sự trưởng thành trong đức tính tương giao cụ thể: nguyên tắc lắng nghe và khả năng tạo không gian cho người khác, sẵn lòng tha thứ, sẵn sàng đặt mình nhập cuộc theo một linh đạo hiệp nhất đúng đắn và thích hợp.

CHƯƠNG IV: NGHỆ THUẬT PHÂN ĐỊNH

Giáo Hội, môi trường để phân định

Sự hội tụ ý nghĩa trong nhiều truyền thống thiêng liêng

104. Đồng hành về ơn gọi là khía cạnh nền tảng của một tiến trình phân định từ phía người đang được gọi để làm việc chọn lựa. Hạn từ “phân định” được sử dụng trong sự đa nghĩa, nhưng liên kết với nhau. Theo nghĩa chung nhất, phân định nói đến một hành trình đi đến những quyết định quan trọng; nghĩa thứ hai, mang tính chất riêng biệt của Ki-tô giáo và chúng ta sẽ dừng lại một cách đặc biệt, tương ứng với năng động thiêng liêng, qua đó một người, một nhóm hay một cộng đoàn tìm để hiểu và đón nhận ý Thiên Chúa cụ thể trong hoàn cảnh của họ. “Hãy cân nhắc mọi sự và giữ những gì là tốt” (1Tx 5,21). Liên quan đến việc chú ý nhận ra tiếng nói của Thánh Thần và đón nhận lời mời gọi của Ngài, phân định là một chiều kích căn bản trong lối sống của Chúa Giê-su, một thái độ còn sâu hơn cả một thói quen.

Dọc theo lịch sử Giáo Hội, nhiều linh đạo khác nhau đã đề cập đến chủ đề phân định với những điểm nhấn khác nhau, liên quan đến ý nghĩa đặc sủng khác nhau và thời đại lịch sử. Trong suốt Thượng Hội Đồng, chúng tôi nhận thấy một vài điểm chung, mà không loại trừ sự đa dạng của ngôn ngữ: sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống và trong lịch sử của mỗi cá nhân; khả năng nhận biết hành động của Thiên Chúa; vai trò của cầu nguyện, của đời sống bí tích và của khổ chế; sự đối điện liên tục với đòi hỏi của Lời Chúa; tự do trước những điều chắc chắn đã được thủ đắc; sự kiểm chứng liên tục bằng cuộc sống hằng ngày; tầm quan trọng của sự đồng hành thích đáng.

Điểm quy chiếu cốt lõi vào Lời Chúa và Giáo Hội

105. Là “thái độ nội tâm bén rễ trong một hành vi đức tin” (ĐGH Phan-xi-cô, Diễn từ dành cho Thượng Hội Đồng, tại Phiên họp Khoáng Đại đầu tiên, ngày 3 tháng 10 năm 2018), việc phân định quy chiếu trực tiếp về Giáo Hội, với sứ mạng giúp cho mọi người nam nữ gặp được Chúa, Đấng đang lao tác trong đời sống và trong trái tim của họ.

Bối cảnh cộng đoàn Giáo Hội cổ võ một bầu khí tin tưởng và tự do trong việc tìm hiểu ơn gọi của mỗi cá nhân, trong sự đón nhận và cầu nguyện; trao cơ hội cụ thể để đọc lại lịch sử bản thân và khám phá ra những ơn riêng, những yếu đuối riêng dưới ánh sáng của Lời Chúa; cho phép mình đối diện với những điều khác nhau của cuộc sống. Việc gặp gỡ người nghèo cũng thúc giục việc đào sâu những gì là thiết yếu trong cuộc sống, trong khi các Bí Tích – đặc biệt là Bí Tích Thánh Thể và Hoà Giải – nuôi dưỡng và nâng đỡ những ai dấn bước khám phá thánh ý Thiên Chúa.

Mọi cuộc phân định đều cần được xét đến trong chiều kích cộng đoàn, và không bao giờ bị giảm thiểu trong chiều kích cá nhân. Đồng thời, mọi phân định cá nhân đều chất vấn cộng đoàn, thúc đẩy cộng đoàn đặt mình lắng nghe điều mà Thánh Thần gợi lên ngang qua kinh nghiệm thiêng liêng của các thành viên trong cộng đoàn. Cũng như mọi tín hữu, Giáo Hội cũng luôn luôn phải phân định.

Lương tâm trong tiến trình phân định

Thiên Chúa nói nơi trái tim

106. Việc phân định mời gọi chú ý đến những điều xảy đến nơi con tim của mỗi người. Nơi các bản văn Kinh Thánh, hạn từ “trái tim” được dùng để chỉ tâm điểm của nội tâm con người. Nơi đó, việc lắng nghe Lời Chúa một cách liên lỉ trở nên tiêu chuẩn để đánh giá đời sống và chọn lựa (x. Tv 139). Khi nói đến trái tim, Kinh Thánh đề cập đến khía cạnh cá nhân, nhưng cũng đồng thời nhấn mạnh chiều kích cộng đoàn. “Trái tim mới”, như được hứa từ các tiên tri, cũng không chỉ là một ân huệ dành cho cá nhân nhưng liên quan đến toàn dân Ít-ra-en. Chính trong dòng truyền thống và lịch sử cứu độ của cộng đoàn dân thánh ấy, người tín hữu được tháp mình vào (x. Ed 36,26-27). Các Tin Mừng tiếp tục hành trình đó: Đức Giê-su luôn quả quyết về tầm quan trọng của nội tâm và lấy con tim làm tâm điểm của đời sống luân lý (x. Mt 15,18-20).

Quan niệm Ki-tô giáo về lương tâm

107. Thánh tông đồ Phao-lô làm phong phú truyền thống Kinh Thánh bằng việc khai triển chủ đề về con tim, đặt nó trong tương quan với hạn từ “lương tâm”, là từ được du nhập từ văn hoá thời của ngài. Chính tại lương tâm, ta có thể gặt hái được hoa trái của cuộc gặp gỡ và của sự thông hiệp với Đức Ki-tô: sự biến đổi mang tính cứu độ và sự đón nhận một niềm tự do mới mẻ. Truyền thống Ki-tô giáo nhấn mạnh đến lương tâm như một nơi đặc cách cho sự thân mật đặc biệt với Thiên Chúa và cho việc gặp gỡ Ngài, nơi đó tiếng của Ngài hiện diện: “Lương tâm là hạt nhân bí mật và thánh thiêng nhất của con người, nơi đó chỉ có họ với Thiên Chúa, và tiếng của Ngài vang vọng nơi sâu thẳm tâm hồn” (Gaudium et spes, số 16). Lương tâm này không thể được đánh đồng với cảm nhận tức thời và hời hợt, hay với một “sự nhận biết chính mình”: Lương tâm cho thấy có một sự hiện diện siêu việt mà mỗi người tìm thấy nơi sâu thẳm của chính mình, nhưng mình thì không thể làm chủ sự hiện diện ấy.

Huấn luyện lương tâm

108. Huấn luyện lương tâm là hành trình cả đời. Trong hành trình ấy, một người học cách nuôi dưỡng nơi mình những cảm thức như của Đức Giê-su Ki-tô, nhận lấy những tiêu chuẩn chọn lựa của Người và nương theo hành động của Người (x. Pl 2,5). Để đạt tới chiều kích lương tâm sâu xa hơn theo cái nhìn Ki-tô giáo, việc chăm sóc nội tâm là cần thiết, bao gồm những lúc thinh lặng, chiêm niệm và lắng nghe Lời Chúa, sự nâng đỡ đến từ việc thực hành các Bí Tích và các giáo huấn của Giáo Hội. Hơn nữa, cần phải thực hành các thói quen tốt, cần nhìn lại trong phút hồi tâm: một bài tập không chỉ xét về các tội, mà còn nhận ra hoạt động của Thiên Chúa trong kinh nghiệm bản thân hàng ngày, trong các biến cố lịch sử và trong văn hoá mình sống, trong chứng tá của bao nhiêu người đã đi trước hoặc đang đồng hành với chúng ta bằng sự khôn ngoan của họ. Tất cả những điều đó giúp chúng ta lớn lên trong nhân đức khôn ngoan, hướng dẫn thực hành định hướng chung của cuộc sống ngang qua những chọn lựa cụ thể, trong sự nhận biết rõ ràng những ân sủng và giới hạn của riêng mình. Vị vua trẻ Sa-lô-môn đã xin ơn này hơn mọi thứ khác (x. 1 Vua 3,9).

Lương tâm Giáo Hội

109. Lương tâm của mỗi tín hữu trong khía cạnh cá nhân nhất luôn liên hệ với lương tâm Giáo Hội. Chỉ qua trung gian của Giáo Hội và của truyền thống đức tin, chúng ta mới có thể gặp được khuôn mặt thật sự của Thiên Chúa, Đấng mạc khải chính mình trong Đức Giê-su Ki-tô. Do đó, sự phân định thiêng liêng tựa như một cuộc tự vấn lương tâm cách chân thành, trong việc dấn thân nhận biết sự tốt lành hết sức có thể, để dựa trên nền tảng ấy có thể quyết định với tinh thần trách nhiệm trong việc thực hành đúng đắn lý trí thực tiễn, nơi nội tâm cũng như nơi ánh sáng tương quan với Đức Giê-su Ki-tô.

Thực hành việc phân định

Sự thân thuộc với Chúa

110. Như một cuộc gặp gỡ Thiên Chúa, Đấng hiện diện trong tình thân mật của tâm hồn, việc phân định có thể được hiểu như là một lối cầu nguyện đích thực. Do đó, cần có thời gian thích hợp cho việc hồi tâm, cả trong sự đều đặn của đời sống thường ngày lẫn trong những dịp đặc biệt, như trong các khoá tĩnh tâm, linh thao, hành hương… Một sự phân định nghiêm túc phải được nuôi dưỡng bởi tất cả những cơ hội gặp gỡ Thiên Chúa và đào sâu tình thân với Ngài, trong những dạng thức khác nhau, thể hiện qua các Bí Tích, đặc biệt là Thánh Thể và Hoà Giải, qua lắng nghe và suy niệm Lời Chúa, qua cầu nguyện Lectio divna trong cộng đoàn, qua kinh nghiệm huynh đệ trong đời sống chung, qua việc gặp gỡ người nghèo là những người mà Chúa Giê-su đã tự đồng hoá mình với họ.

Sự sẵn lòng của con tim

111. Việc mở ra để lắng nghe Thánh Thần đòi hỏi một sự sẵn sàng nội tâm thật sự: trước hết là sự chăm chú của con tim, có được từ sự thinh lặng và sự từ bỏ vốn đòi hỏi khổ chế. Một số thái độ nền tảng khác cần phải có là sự ý thức, việc chấp nhận chính mình và lòng ăn năn. Tất cả được hội nhất trong việc sẵn sàng sắp xếp lại trật tự cuộc đời của mình, loại bỏ những điều cảm thấy là chướng ngại, và phục hồi một sự tự do nội tâm cần thiết để thực hiện những chọn lựa chỉ dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Một cuộc phân định tốt đẹp cũng đòi hỏi chú ý đến những chuyển động của con tim, đòi hỏi việc lớn lên trong khả năng nhận biết và gọi tên những chuyển động ấy. Cuối cùng, việc phân định đòi hỏi một sự can đảm dấn thân trong cuộc chiến đấu thiêng liêng, bởi vì sẽ không thiếu những biểu lộ của cám dỗ hay cản trở mà ma quỷ đặt ra trên bước đường của chúng ta.

Sự đối thoại trong đồng hành

112. Những truyền thống thiêng liêng khác nhau đều đồng thuận rằng: để có một sự phân định tốt, cần đều đặn gặp gỡ một vị hướng dẫn thiêng liêng. Việc chia sẻ và diễn giải những kinh nghiệm đã trải qua, bằng một cách thế chân thật và cá nhân, sẽ giúp cho việc phân định nên rõ ràng. Đồng thời, vị đồng hành cũng đảm nhận một chức năng thiết yếu hướng về bên ngoài, đóng vai trò trung gian cho sự hiện diện từ mẫu của Giáo Hội. Điều này liên quan đến một chức năng tế nhị đã được đề cập đến trong chương trước.

Quyết định và xác chuẩn

113. Sự phân định, như là một chiều kích trong lối sống của Đức Giê-su và của các môn đệ, cho phép những tiến trình cụ thể đang muốn thoát ra khỏi tình trạng lưỡng lự vô định đảm nhận trách nhiệm của những quyết định. Do đó, những tiến trình phân định không thể kéo dài vô tận, cả trong trường hợp cá nhân lẫn cộng đoàn và các cơ sở. Theo sau quyết định phải là giai đoạn thực hiện căn bản và lượng giá quyết định ấy trong đời sống thường nhật. Do đó, việc theo đuổi một giai đoạn cẩn thận lắng nghe những rung động nội tâm để tiếp nhận tiếng nói của Thánh Thần là điều không thể thiếu được. Việc đối chiếu với thực tế cụ thể đóng một vai trò quan trọng đặc biệt trong giai đoạn này. Cách riêng, nhiều truyền thống thiêng liêng chỉ ra rằng cuộc sống huynh đệ và việc phục vụ người nghèo có giá trị như là trạm kiểm chứng đối với những quyết định đã được đưa ra, và như là nơi mà cá nhân tỏ lộ trọn vẹn chính mình.

PHẦN III: “HỌ LÊN ĐƯỜNG NGAY LẬP TỨC”

114. “Họ mới bảo nhau: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao? ” Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. Những người này bảo hai ông: “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-môn.” Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.” (Lc 24, 32-35)

Việc nghe Lời Chúa dẫn đến niềm vui gặp gỡ. Niềm vui ấy đong đầy con tim, trao ban ý nghĩa hiện hữu và tiếp thêm nguồn năng lượng mới. Dung mạo ngời sáng và bước chân thanh thoát: đó là ánh sáng và sức mạnh của lời đáp trả ơn gọi và trở thành sứ mạng đối với cộng đoàn và toàn thế giới. Không do dự và không sợ hãi, các môn đệ quay trở lại để gặp gỡ anh em mình và làm chứng về cuộc hội ngộ của họ với Thầy Giê-su phục sinh.

Một Giáo Hội trẻ trung

Một hình ảnh của sự phục sinh

115. Cùng với gợi hứng từ trình thuật Emmau, hình ảnh chị Maria Ma-đa-le-na (x. Ga 20, 1-8) soi sáng nẻo đường mà Giáo Hội đang tiến bước cùng và cho giới trẻ như là hoa trái của Thượng Hội Đồng lần này: nẻo đường phục sinh dẫn đến việc loan báo và dẫn đến sứ vụ. Mang trong lòng niềm khao khát cháy bỏng đối với Thầy mình, Madalena không quản ngại đêm tối chạy đến với tông đồ Phêrô và người môn đệ kia. Bước chân của chị thúc đẩy đôi chân họ, lòng sùng mộ đầy nữ tính của chị đi trước các môn đệ và mở đường cho họ. Vào buổi sớm ngày thứ nhất trong tuần, xảy ra sự ngỡ ngàng của cuộc gặp gỡ: Maria tìm Chúa vì yêu mến Người, nhưng chị thấy Người vì chị được yêu mến. Đấng Phục Sinh làm cho chị nhận ra Người bằng cách gọi chính tên của chị và bảo chị không được giữ Người lại, bởi thân thể phục sinh không phải là một kho báu để cất dấu mà là một mầu nhiệm cần được sẻ chia. Như thế, chị trở thành người môn đệ đầu tiên thi hành sứ vụ, tông đồ của các tông đồ. Được chữa lành các vết tổn (x. Lc 8, 2) và làm chứng cho Đấng Phục Sinh, đó là hình ảnh của Giáo Hội trẻ trung mà chúng ta mơ ước.

Bước đi cùng với người trẻ

116. Nhiệt huyết tìm kiếm chân lý, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của Chúa, khả năng chia sẻ và niềm vui loan báo Tin Mừng là những điều đang sống trong tâm thức nhiều bạn trẻ là những thành viên sống động của Giáo Hội. Vì vậy, chúng ta không nói là phải làm gì đó “cho họ” nhưng là sống liên đới “với họ”, thăng tiến cùng họ trong việc tìm hiểu Tin Mừng và tìm ra cách thế hữu hiệu nhất để sống và làm chứng cho Tin Mừng. Việc tham gia có trách nhiệm của người trẻ vào đời sống Giáo Hội không phải là tuỳ chọn nhưng là thiết yếu cho đời sống Ki-tô hữu và là yếu tố không thể thiếu cho đời sống của mỗi cộng đoàn. Những vất vả và mỏng manh của tuổi trẻ thúc đẩy chúng ta phải trở nên tốt hơn, những khúc mắc của họ thách đố chúng ta, những ngờ vực của họ chất vấn về phẩm chất niềm tin của chúng ta. Ngay cả những phê phán từ họ cũng thật cần thiết, bởi qua đó chúng ta nghe được tiếng Chúa mời gọi ta hoán cải con tim và đổi mới chính mình.

Ước muốn đến với mọi người trẻ

117. Trong khuôn khổ Thượng Hội Đồng, chúng tôi luôn tự hỏi về người trẻ, không chỉ những bạn thuộc về và đang hoạt động trong Giáo Hội, nhưng còn tất cả những bạn có quan điểm khác biệt về đời sống, tín ngưỡng hay thậm chí xa lạ với đời sống tâm linh. Tất cả các bạn trẻ, không trừ một ai, đều được cư ngụ trong trái tim Chúa và do đó cũng ở trong cung lòng Giáo Hội. Nhưng phải thừa nhận rằng xác tín này, được thốt ra trên môi miệng chúng ta, không thường xuyên tìm được lối diễn tả thực tế trong hoạt động mục vụ. Chúng ta thường xuyên đóng kín trong môi trường của mình, nơi tiếng nói của người trẻ không vươn tới được; hay chúng ta dấn thân cho những hoạt động ít thách đố và thú vị hơn, bóp nghẹt nỗi ưu tư mục vụ chính đáng thường lôi chúng ta ra khỏi sự an toàn của chính mình. Trong khi đó, Tin Mừng đòi buộc chúng ta phải dám và phải muốn thực hiện xác tín ấy, mà không tự phụ và không bè phái, hầu làm chứng cho Thiên Chúa và dang rộng đôi tay đến tất cả người trẻ trên thế giới.

Hoán cải tâm linh, mục vụ và sứ vụ

118. Đức Thánh Cha Phan-xi-cô thường nhắc nhở rằng sẽ là không thể nếu không có một tiến trình hoán cải tận căn. Chúng ta ý thức rằng đây không phải chỉ là chuyện gắn cho những hoạt động mới một nguồn cội, và chúng ta không muốn viết ra “những kế hoạch tông đồ hoành tráng, tỉ mỉ và đẹp mắt, và thường đi đến thất bại” (ĐGH Phan-xi-cô, Evangelii Gaudium, số 96). Chúng ta biết rằng để trở nên khả tín, chúng ta phải thực hiện cải tổ trong Giáo Hội, bao gồm việc hoán cải con tim và thay đổi cung cách. Giáo Hội phải thực sự để cho mình được định hình bởi Bí Tích Thánh Thể, là đỉnh cao và nguồn sống của mình. Giáo Hội phải là hình dạng của tấm bánh được dệt từ nhiều hạt lúa và phải được bẻ ra cho thế giới. Hoa trái của Thượng Hội Đồng lần này, chọn lựa mà Chúa Thánh Thần gợi hứng nơi chúng ta ngang qua việc lắng nghe và phân định, là đồng hành với người trẻ đi đến với mọi người để làm chứng cho tình yêu Chúa. Chúng ta có thể mô tả tiến trình này khi nói về cảm thức chung về sứ vụ: “Thánh lễ trong hoạt động của Giáo Hội hiệp nhất được coi là thiết yếu cho một khởi đầu mới của sứ vụ dành cho toàn thể Dân Chúa.” Như Công đồng Vatican II đã tiên báo rằng chúng ta chưa đảm nhận hết chiều kích cao sâu và được phát triển trong các áp dụng thường nhật của Công đồng. Đức Thánh Cha Phan-xi-cô gợi nhớ cho chúng ta rằng: “Hành trình của sự hiệp nhất là hành trình mà Thiên Chúa mong đợi nơi Giáo Hội trong ngàn năm thứ ba” (ĐGH Phan-xi-cô, Diễn văn nhân dịp 50 năm định chế về Thượng hội đồng Giám mục, 17.10.2015). Nhờ ơn Chúa, chúng ta tin rằng lựa chọn này, hoa trái của cầu nguyện và đối thoại, sẽ làm cho Giáo Hội trở nên và tỏ hiện tỏ tường nhất như là “sự trẻ trung của thế giới”.

CHƯƠNG I: SỰ HIỆP NHẤT SỨ VỤ CỦA GIÁO HỘI

Một năng động nền tảng

Người trẻ yêu cầu chúng ta sánh bước

119. Giáo Hội, trong ý nghĩa tổng thể của mình, tại thời điểm Thượng Hội Đồng lần này chọn để bàn về người trẻ, đã có chọn lựa chính xác: coi sứ vụ này là một ưu tiên mục vụ mang tính thời đại, nơi đó Giáo Hội đầu tư thời gian, năng lực và nguồn lực. Ngay từ bước đầu chuẩn bị, người trẻ đã diễn tả khao khát được tham dự, được trân trọng và được xem như nhân vật chính trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội. Trong Thượng Hội Đồng, chúng ta đã chứng kiến rằng trách nhiệm đồng hành với người trẻ công Công Giáo là nguồn vui sâu xa của cả các Giám mục. Chúng ta coi kinh nghiệm này như hoa trái của Thần Khí đang tiếp tục đổi mới và mời gọi Giáo Hội thực hành hiệp nhất như là cách thức hiệu hữu và hành động ngang qua việc cổ võ sự tham gia của mọi Ki-tô hữu và những ai thiện tâm, mỗi người tuỳ theo độ tuổi, địa vị và bậc sống. Nơi Thượng Hội Đồng, chúng ta đã kinh nghiệm rằng tính giám mục đoàn, liên kết các giám mục cùng và dưới tông tông đồ Phêrô trong việc chăm lo đoàn Dân Chúa, được mời gọi để thông hiệp và củng cố ngang qua việc thực hành hiệp nhất ở mọi cấp độ.

Tiến trình hiệp nhất tiếp tục

120. Việc khép lại các phiên làm việc của Thượng Hội Đồng và văn bản thu hoạch hoa quả của các phiên làm việc ấy không khép lại tiến trình hiệp nhất nhưng góp phần xây dựng tiến trình ấy. Bởi những điều kiện thực tế, khả thể hiện tại và các nhu cầu cấp thiết của người trẻ rất khác biệt giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, dù có cùng điểm chung là đức tin, chúng tôi mời gọi các Hội Đồng Giám Mục và các Giáo Hội địa phương cùng theo đuổi hành trình này ngang qua việc dấn thân vào tiến trình phân định chung mà thành phần tham dự bao gồm cả những ai không phải là giám mục, như Thượng Hội Đồng lần này đã làm. Cung cách của các hành trình mang đậm tính Giáo Hội này cần bao gồm việc lắng nghe huynh đệ và đối thoại xuyên thế hệ, với mục đích đưa ra hướng mục vụ đặc biệt quan tâm đến người trẻ bị loại trừ và đến những ai có ít hoặc không có liên hệ với các cộng đoàn tín hữu. Chúng tôi mong ước các gia đình, hội dòng, hiệp hội, phong trào và các bạn trẻ tham gia tiến trình này hầu cho “ngọn lửa nhiệt huyết” mà chúng tra trải nghiệm những ngày qua được lan đi mạnh mẽ.

Hình thức hiệp nhất trong Giáo Hội

121. Việc trải qua kinh nghiệm của Thượng Hội Đồng giúp các thành viên tham dự ý thức tầm quan trọng của hình thức hiệp nhất trong Giáo Hội hướng tới việc loan báo và thông truyền đức tin. Việc tham gia của các bạn trẻ đã đóng góp “hồi chuông cảnh báo” và sự hiệp nhất vốn là “khía cạnh nội tại của Giáo Hội như thánh Gioan Kim Khẩu đã nói: “Giáo Hội và Thượng Hội Đồng là giống nhau”. Bởi lẽ Giáo Hội không là gì khác ngoài việc đoàn chiên của Chúa “đồng hành với nhau” trên lối nẻo lịch sử để gặp gỡ Thiên Chúa” (ĐGH Phan-xi-cô, Diễn văn nhân dịp 50 năm định chế về Thượng hội đồng Giám mục, 17.10.2015). Sự hiệp nhất là đặc trưng cho cả đời sống và sứ mạng của Giáo Hội, như là đoàn dân Chúa bao gồm cả người già và người trẻ, người nam và người nữ thuộc mọi nền văn hoá và viễn tượng, và như là Thân thể Đức Ki-tô, mà chúng ta là chi thể của nhau, khởi đi từ những ai bị gạt ra bên lề và bị chà đạp. Trong quá trình trao đổi và ngang qua những chứng tá, Thượng Hội Đồng đã xây dựng được vài khía cạnh nền tảng cho một hình thức hiệp nhất, ngang qua đó, chúng ta được mời gọi hoán cải.

122. Chính trong tương quan với Đức Ki-tô, với tha nhân, trong cộng đoàn, mà đức tin được thông truyền. Trong viễn tượng sứ mạng cũng vậy, Giáo Hội được mời gọi mặc lấy khuôn mặt của sự đối thoại hầu đặt trọng tâm vào việc lắng nghe, đón nhận, đối thoại, phân định chung trong một tiến trình làm biến đổi đời sống của những ai tham dự. “Một Giáo Hội hiệp nhất là Giáo Hội biết lắng nghe, biết ý thức rằng lắng nghe thì “còn hơn là cảm nghiệm”. Đó phải là việc lắng nghe lẫn nhau, nơi mà mỗi người có gì đó để học hỏi. Dân Chúa, Hội Đồng Giám Mục, giám mục Roma: mỗi người lắng nghe những người khác, và tất cả phải lắng nghe tiếng nói của Thánh Thần, “Thần Khí sự thật” (Ga 14, 7) để biết những gì Người “nói với Giáo Hội” (Kh 2, 7) (ĐGH Phan-xi-cô, Diễn văn nhân dịp 50 năm định chế về Thượng hội đồng Giám mục, 17.10.2015). Trong cách thức này, Giáo Hội như là “lều hội ngộ” – nơi lưu giữ hòm bia Giao ước (x. Xh 25), một Giáo Hội năng động và trên đường, đồng hành và được trợ lực bởi nhiều đặc sủng và tác vụ. Thiên Chúa tỏ hiện như thế trong thế giới này. 

Một Giáo Hội tham dự và cùng chịu trách nhiệm

123. Một khía cạnh tiêu biểu của hình thức này trong Giáo Hội là việc đánh giá các đặc sủng mà Thánh Thần ban tặng tuỳ theo ơn gọi và vị trí của mỗi thành viên, ngang qua năng động của việc cùng chịu trách nhiệm. Để thực hiện điều này cần có sự hoán cải tận căn và thái độ sẵn sàng lắng nghe lẫn nhau hầu xây dựng một hiệu ứng cảm thức chung. Được thúc đẩy bởi tinh thần này, chúng ta có thể tiến tới một Giáo Hội mang tính tham dự và đồng trách nhiệm, có khả năng đánh giá sự phong phú của những khác biệt, đón nhận với lòng biết ơn những đóng góp của giáo dân, gồm cả người trẻ lẫn phụ nữ, nam nữ tu sĩ, những người thuộc các nhóm, các hiệp hội và các phong trào. Không ai bị loại ra hay có nguy cơ bị gạt ra bên lề. Đây là cách thế để loại bỏ chủ nghĩa giáo sĩ, điều đã loại trừ nhiều tiến trình mang tính quyết định, cũng như việc giáo sĩ hoá giáo dân, nơi đó họ tự đóng kín hơn là mở ra cho việc dấn thân tông đồ trong thế giới.

Thượng Hội Đồng yêu cầu cải thiện cách hiệu quả và thường xuyên việc tham gia tích cực của người trẻ trong các lãnh vực đồng trách nhiệm của các Giáo Hội địa phương, cũng như trong các cơ quan của Hội Đồng Giám Mục và của Giáo Hội hoàn vũ. Thượng Hội Đồng yêu cầu thêm rằng cần củng cố hoạt động của Văn Phòng Giới Trẻ của Cơ Quan Toà Thánh về Giáo Dân, Gia Đình và Đời Sống ngang qua việc thiết lập một tổ chức đại diện cho người trẻ ở tầm mức quốc tế.

Các tiến trình phân định chung

124. Kinh nghiệm “đồng hành” trong tư cách Dân Chúa giúp hiểu hơn ý nghĩa của quyền bính dưới nhãn quan phục vụ. Các mục tử cần phải có khả năng cổ võ và phát triển việc cộng tác trong việc làm chứng tá và trong sứ vụ, đồng hành các tiến trình phân định chung để lý giải các dấu chỉ thời đại dưới ánh sáng đức tin và dưới sự linh hứng của Thánh Thần, cùng với sự đóng góp của các thành viên trong cộng đoàn, khởi đi từ những ai đang ở bên lề. Những người chịu trách nhiệm trong Giáo Hội với những khả năng nói trên cần một tiến trình huấn luyện đặc biệt cho sự hiệp nhất. Đồng thời, từ quan điểm này, cần hướng đến việc xây dựng các tiến trình huấn luyện chung cho người trẻ giáo dân, tu sĩ trẻ và chủng sinh, đặc biệt đối với những vấn đề như việc thi hành quyền bính hay làm việc nhóm.

Một hình thức cho sứ vụ

Sự hiệp nhất sứ vụ

125. Đời sống hiệp nhất của Giáo Hội nhất thiết hướng tới sứ mạng: đó là “dấu chỉ và công cụ cho sự kết hiệp sâu xa với Thiên Chúa và cho sự hiệp nhất của toàn thể nhân loại” (Hiến Chế Lumen Gentium, số 1) cho tới ngày Thiên Chúa trở nên “mọi sự trong mọi người” (1 Cr 15, 28). Khi người trẻ mở ra với Thần Khí, họ có thể giúp Giáo Hội hoàn thành tiến trình vượt qua của sự ra khỏi “cái ‘tôi’ cá nhân ích kỷ để hướng đến cái ‘chúng tôi’ mang tính Giáo Hội, nơi mà mỗi cái ‘tôi’được mặc lấy Đức Ki-tô (x. Ga 2, 20), hầu sống và đồng hành với anh chị em như một chủ thể có trách nhiệm và năng động trong sứ vụ duy nhất của Dân Chúa” (Uỷ ban thần học quốc tế, Sự hiệp nhất trong đời sống và trong sứ vụ của Giáo Hội, 2.3.2018, s. 107). Tiến trình tương tự, bởi sự thúc đẩy của Thần Khí và với sự hướng dẫn của các vị Mục tử, phải là tương lai của cộng đoàn Ki-tô hữu, được mời gọi ra khỏi việc quy kỷ của cái “tôi” trong chính sử bảo thủ của mình để hướng tới việc xây dựng cái “chúng tôi” trong tương quan với toàn thể gia đình nhân loại và toàn thể tạo thành.

Một sứ vụ trong đối thoại

126. Năng động nền tảng này đem lại những hệ quả chính xác đối với cách thế thi hành sứ mạng cùng với người trẻ, yêu cầu hướng tới sự đối thoại, thẳng thắn và không thoả hiệp, với tất cả những ai thiện tâm. Như thánh Giáo Hoàng Phaolô VI đã khẳng định: “Giáo Hội nói, Giáo Hội thông truyền, Giáo Hội đối thoại” (Ecclesiam suam, s. 67). Trong thế giới đa dạng về chủng tộc và văn hoá, “đồng hành” căn bản là tạo ra sự khả tín và hiệu quả trong các sáng kiến cho sự hiệp nhất, hỗ tương, thăng tiến công bình và chỉ ra đâu là nền văn hoá đối thoại và biết ơn.

Chính người trẻ, đang sống trong tương quan với những bạn đồng trang lứa với khác biệt về tín ngưỡng, tôn giáo, quan điểm và văn hoá, khuyến khích toàn thể cộng đoàn tín hữu sống tinh thần đại kết và đối thoại liên tôn. Điều này đòi hỏi sự can đảm và thẳng thắn trong phát biểu, khiêm tốn lắng nghe, bao hàm việc khổ chế và đôi khi cả việc tử đạo.

Hướng đến vùng ngoại biên của thế giới

127. Việc thực hành đối thoại và tìm kiếm giải pháp là một sự ưu tiên rõ ràng trong thời đại mà các hệ thống dân chủ bị thách đố bởi các cấp độ thấp hơn và bởi sự ảnh hưởng không cân xứng của các nhóm nhỏ ít tiếng nói trong cộng đồng, dẫn tới nguy cơ thu hẹp, chuyên quyền và tự chủ. Trung thành với Tin Mừng sẽ hướng sự đối thoại đến việc tìm ra lời giải đáp cho tiếng kêu của người nghèo và của trái đất (x. ĐGH Phan-xi-cô, Laudato si’, s. 49). Về điều này, người trẻ tỏ ra thực sự nhạy bén, thổi vào các tiến trình xã hội nguồn cảm hứng cho những nguyên tắc về xã hội, nhân phẩm, công ích, tiêu chuẩn cho người nghèo, ưu tiên đoàn kết, quan tâm đến sự hỗ trợ và chăm lo cho mái nhà chung. Không có ơn gọi nào trong toàn thể Giáo Hội có thể đứng bên ngoài năng động chung này, năng động ra khỏi mình để đối thoại. Và đo đó, mọi nỗ lực đồng hành được mời gọi mặc lấy khuôn thước này, đồng thời chú ý đặc biệt đến người nghèo và những ai dễ bị tổn thương nhất.

CHƯƠNG II: ĐỒNG HÀNH TRONG ĐỜI SỐNG THƯỜNG NHẬT

Từ hệ thống tới tương quan

Từ đại biểu đến sự tham dự

128. Sự hiệp nhất sứ mạng không chỉ liên quan đến Giáo Hội ở tầm mức hoàn vũ. Đòi hỏi phải cùng nhau bước đi, chứng tá mang tính huynh đệ của một cộng đoàn được biến đổi, nhắm đến trước tiên những cộng đoàn riêng lẻ. Như vậy, cần làm sống lại trong mỗi địa phương ý thức rằng chúng ta là dân của Chúa, có trách nhiệm làm cho Tin Mừng nhập thể vào những bối cảnh khác nhau và trong tất cả các trạng huống thường nhật. Điều quan trọng là ra khỏi tư duy của tính đại biểu cũng như điều kiện hoá hoạt động mục vụ. Chúng ta có thể lấy ví dụ là các tiến trình giáo lý chuẩn bị lãnh nhận các Bí Tích, một nhiệm vụ mà nhiều gia đình trông chờ hoàn toàn vào giáo xứ. Tâm thức này có hệ quả là các bạn trẻ có nguy cơ hiểu đức tin không phải là thực tại đang soi sáng đời sống thường ngày mà là một tổng thể những khái niệm và điều lệ đến từ một môi trường tách biệt khỏi cuộc sống của họ. Do đó, cần phải đồng hành: giáo xứ cần các gia đình giúp cho bạn trẻ kinh nghiệm được tính thực tế thường ngày của đức tin; ngược lại, gia đình cần đến tác vụ của các giáo lý viên và cơ cấu giáo xứ để giúp cho con cái họ có một cái nhìn thống nhất về Ki-tô giáo, để tháp nhập họ vào cộng đoàn và mở ra cho họ những chân trời mới. Như thế, có các cấu trúc là chưa đủ nếu nơi đó không có các mối tương quan đích thực. Chính chất lượng của mối tương quan ấy truyền giảng Tin Mừng.

Đổi mới giáo xứ

129. Giáo xứ cần tham gia tiến trình này để trở thành một cộng đoàn sinh hoa trái hơn, một môi trường từ đó sứ vụ lan toả tới những ai thấp bé nhất. Trong bối cảnh lịch sử đặc thù hôm nay, xuất hiện nhiều dấu chỉ chứng tỏ rằng giáo xứ, trong nhiều trường hợp, không thể đáp ứng nhu cầu thiêng liêng của dân chúng, nhất là bởi một vài yếu tố đã làm thay đổi sâu xa lối sống con người. Chúng ta đang sống trong nền văn hoá “không biên giới”, đánh dấu bởi tương quan không gian-thời gian mới, cũng là bởi sự truyền thông kỹ thuật số và sự di động liên tục. Trong bối cảnh đó, một viễn tượng hoạt động giáo xứ được giới hạn bởi ranh giới địa lý và không thể đón nhận những gợi ý khác nhau từ giáo dân, đặc biệt là người trẻ, sẽ cầm tù giáo xứ trong sự cứng nhắc không thể chấp nhận và trong một lối mòn mục vụ đáng lo ngại. Như vậy, cần rà xét lại hoạt động mục vụ của giáo xứ theo lối thúc đẩy việc chia sẻ trách nhiệm Giáo Hội và nhiệt tâm truyền giáo, phát triển đồng bộ tại nơi ấy. Chỉ như vậy, giáo xứ mới trở thành môi trường có ý nghĩa và có thể hỗ trợ đời sống các bạn trẻ.

Cơ cấu mở và có thể cảm thụ

130. Trong chiều hướng chia sẻ và cởi mở hơn, điều quan trọng là mỗi cộng đoàn tự tra vấn để xác định xem lối sống và cơ cấu đang dùng có truyền tải đến người trẻ một chứng tá Tin Mừng khả dĩ cảm thụ hay không. Đời sống của rất nhiều linh mục, nữ tu, tu sĩ, giám mục chắc chắn là giản dị và dấn thân cho tha nhân, nhưng lại hầu như vô hình đối với bạn trẻ. Nhiều bạn trẻ nhận thấy thế giới Giáo Hội thật phức tạp và khó diễn tả, họ giữ mình xa khỏi các chức vụ mà chúng ta mặc lấy và xa khỏi phong cách đồng hành mà chúng ta đồng hành với họ. Hãy làm cho đời sống thường ngày của chúng ta, trong mọi phương diện, trở nên dễ gần hơn. Sự gần gũi thật sự, sự sẻ chia những không gian và hoạt động sẽ tạo ra những điều kiện cho một sự thông truyền thực sự, thoát khỏi mọi thành kiến. Chính trong cách thế này mà Đức Giê-su đã loan báo Nước Trời, và chính trên con đường này mà Thần Khí đang thúc đẩy chúng ta hôm nay.

Đời sống cộng đoàn

Bức tranh ghép từ những gương mặt

131. Giáo Hội vừa có tính hội nhất vừa có tính truyền giáo, như được thể hiện qua các cộng đoàn địa phương với sự hiện diện của nhiều gương mặt. Ngay từ khởi đầu, Giáo Hội đã không có một hình thức cứng nhắc đồng nhất, nhưng đã phát triển như một khối đa diện của những con người với lối hiểu khác nhau, nguồn gốc và văn hóa khác nhau. Chính theo cách thức này mà Giáo Hội cho thấy mình như một chiếc bình sành được làm nên từ những mỏng manh của con người, và mang lấy kho tàng vô giá là sức sống của Chúa Ba Ngôi. Chính sự hài hòa là ơn của Chúa Thánh Thần để một mặt không xóa bỏ những khác biệt, mặt khác lại tạo nên sự phong phú trong hiệp nhất. Cuộc gặp gỡ trong cùng một đức tin duy nhất giữa những con người khác biệt đã tạo nên những điều kiện nền tảng cho việc đổi mới mục vụ trong các cộng đoàn của chúng ta. Cuộc gặp gỡ này lưu lại dấu ấn trong việc loan báo, cử hành, và phục vụ, nghĩa là trong các lãnh vực nền tảng của việc mục vụ thường ngày. Sự khôn ngoan bình dân cho ta biết rằng “để giáo dục một đứa trẻ, cần cả một ngôi làng”: nguyên tắc này ngày nay có giá trị trong tất cả các lĩnh vực mục vụ. 

Cộng đoàn nơi từng lãnh thổ

132. Một cộng đoàn khi được sống chiều kích đa diện một cách đích thực sẽ khắc ghi dấu ấn trên vùng lãnh thổ mà cộng đoàn ấy hiện diện, trong việc mở ra với các thực tại xã hội, và trong việc gặp gỡ các tổ chức dân sự. Chỉ có một cộng đoàn hiệp nhất và đa dạng mới biết cách mở ra và đem ánh sáng Tin Mừng vào trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đang thách đố chúng ta hôm nay. Các lĩnh vực đó là: vấn nạn về môi trường sinh thái, công ăn việc làm, giúp đỡ các gia đình, những người bị dạt ra bên lề, những đổi mới chính trị, sự đa nguyên về văn hóa và tôn giáo, sự dấn thân cho công lý và hòa bình, môi trường kỹ thuật số. Những điều ấy đang diễn ra trong các hiệp hội và trong các phong trào của Giáo Hội. Những người trẻ yêu cầu chúng ta đừng đối diện với các thách đố ấy một mình nhưng cần biết đối thoại, đừng cắt đứt mối dây liên hệ với giới cầm quyền nhưng cần biết cách đóng góp cho thiện ích chung. 

Giáo huấn và giáo lý

133. Việc loan báo Chúa Giê-su Ki-tô đã chết và đã sống lại, Đấng mặc khải cho chúng ta về Chúa Cha và ban cho chúng ta Thánh Thần, là ơn gọi nền tảng của cộng đoàn Ki-tô hữu. Một phần của việc loan báo này là lời mời gọi các bạn trẻ nhận ra những dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa trong đời sống của họ, và thấy rằng cộng đoàn là nơi gặp gỡ Chúa Ki-tô. Việc loan báo này thiết lập một nền tảng trong giáo lý của người trẻ. Giáo lý ấy luôn cần phải được làm mới, và cần được thấm nhuần bởi những giá trị từ giáo huấn tiên khởi của các Tông Đồ (ĐGH Phan-xi-cô, Evangelii gaudium, số 164). Cần có một sự dấn thân sống động để đề ra những lộ trình liên tục và thống nhất. Những lộ trình ấy có khả năng hội nhất những chiều kích: một sự hiểu biết sống động về Chúa Giê-su Ki-tô và về Tin Mừng, khả năng đọc những kinh nghiệm riêng tư và các biến cố lịch sử bằng cặp mắt đức tin, việc đồng hành cầu nguyện và cử hành phụng vụ, việc hướng dẫn Lectio divina, việc cổ võ những gương sống bác ái và thăng tiến công bằng. Và như vậy, những lộ trình ấy đưa ra một nền linh đạo trẻ trung đích thực.

Hành trình dạy và học giáo lý cần phải cho thấy mối liên kết mật thiết giữa đức tin với kinh nghiệm cụ thể hàng ngày, với thế giới của những cảm xúc và của các mối tương quan, với những niềm vui và nỗi buồn trong học tập và trong công việc. Hành trình ấy cần phải hội nhất với học thuyết xã hội của Giáo Hội, phải biết mở ra với ngôn ngữ của cái đẹp, của âm nhạc, của các loại hình nghệ thuật khác nhau và của loại hình truyền thông kỹ thuật số. Các chiều kích về thân xác, về sự hấp dẫn, về giới tính, cần được cẩn thận xem xét để có thể có được sự liên kết sâu xa giữa việc giáo dục đức tin và giáo dục tình yêu. Tóm lại, đức tin cần được hiểu như là một cách thực hành, nghĩa là một lối sống giữa lòng thế giới.

Điều cấp thiết trong việc dạy giáo lý cho người trẻ là phải đổi mới về ngôn ngữ và phương pháp, nhưng không đánh mất điều căn bản: cuộc gặp gỡ với Chúa Ki-tô, trọng tâm của việc dạy giáo lý. Chúng ta đã có các cuốn YouCatDoCat và những thứ tương tự, nhưng không làm ngơ với các điểm giáo lý đến từ các Hội Đồng Giám Mục. Cũng cần làm mới lại sự dấn thân của các giáo lý viên, vì họ thường là những người trẻ trực tiếp phục vụ những người trẻ khác như là những người đồng trang lứa. Điều quan trọng là cần phải quan tâm đến việc huấn luyện các giáo lý viên cách thích đáng, và làm sao để sứ vụ của họ được nhìn nhận cách rộng rãi trong cộng đoàn. 

Tính trung tâm của phụng vụ

134. Việc cử hành Thánh Lễ là nguồn mạch sức sống của cộng đoàn và của toàn thể Giáo Hội. Thánh Lễ là nơi thông truyền đức tin và là nơi định hình sứ mạng. Thánh Lễ minh định rằng cộng đoàn sống động nhờ ân sủng chứ không phải nhờ hoạt động của chính mình. Với cách nói trong truyền thống Đông Phương, chúng ta có thể khẳng định rằng, phụng vụ là cuộc gặp gỡ với Người Tôi Trung của Thiên Chúa, Đấng đã mang lấy những thương tích của chúng ta, chuẩn bị cho chúng ta bữa tiệc Phục Sinh, và mời gọi chúng ta cũng làm như thế với những người anh chị em của mình. Do đó, cần tái khẳng định cách minh nhiên rằng, việc cử hành Thánh Lễ cách đơn sơ và trang trọng với sự tham dự của các thành phần dân Chúa, chính là khoảnh khắc thiết yếu của việc hoán cải hướng đến sứ mạng trong Giáo Hội. Các bạn trẻ đã cho thấy rằng, họ biết cảm nếm và sống cách chân thực việc cử hành Thánh Lễ, nơi đó vẻ đẹp của những dấu chỉ, sự kỹ lưỡng trong các bài giảng và sự tham dự của cộng đoàn nói về Thiên Chúa cách thực sự. Thế nhưng, chúng ta cần khuyến khích các bạn trẻ tham dự cách tích cực, đồng thời cần gìn giữ sức sống vẻ đẹp của Mầu nhiệm. Cho dù họ có sự nhạy cảm về âm nhạc và nghệ thuật, nhưng cần giúp người trẻ hiểu rằng, phụng vụ tự bản chất không phải chỉ là một cuộc biểu diễn, nhưng là hành động của Chúa Ki-tô và của Hội Thánh. Điều cũng quan trọng không kém là cần đồng hành với người trẻ để giúp họ khám phá thấy giá trị của việc Chầu Thánh Thể như là sự nối dài của Thánh Lễ, nơi đó chúng ta sống việc chiêm niệm và cầu nguyện trong thinh lặng.

135. Một điều rất quan trọng đối với hành trình sống đức tin là việc thực hành Bí Tích Hòa Giải. Các bạn trẻ cần cảm thấy được yêu mến, được tha thứ, được hòa giải, và các bạn trẻ có một nỗi nhớ nhung thầm kín về cái ôm đầy tình thương xót của Người Cha. Do đó, điều thiết yếu là các linh mục cần quảng đại và sẵn lòng cử hành bí tích này. Việc cử hành thống hối cộng đoàn giúp ích cho các bạn trẻ đón nhận Bí Tích Hòa Giải cách cá nhân, và giúp họ cảm nhận rõ hơn về chiều kích Giáo Hội của bí tích này.

136. Ở nhiều nơi, lòng đạo đức bình dân có vai trò quan trọng trong việc dẫn người trẻ đi vào đời sống đức tin theo cách thế thực tiễn, đụng chạm, và trực tiếp. Bằng việc đề cao ngôn ngữ cơ thể và sự tham dự với lòng cảm mến, lòng đạo đức bình dân cưu mang nơi mình niềm khao khát bước vào tương quan với Thiên Chúa là Đấng cứu độ, ngang qua trung gian là Mẹ Thiên Chúa và các thánh.

Đối với người trẻ, việc hành hương là một kinh nghiệm lên đường. Kinh nghiệm ấy là một ẩn dụ về đời sống và về Giáo Hội: chiêm ngưỡng vẻ đẹp của tạo vật và của nghệ thuật, sống tình huynh đệ, kết hiệp với Thiên Chúa trong cầu nguyện, và như thế kiến tạo những điều kiện tốt nhất cho việc phân định.

Lòng quảng đại của người phục vụ

137. Các bạn trẻ có thể góp phần làm tươi mới lối sống của cộng đoàn giáo xứ, thiết lập một cộng đoàn huynh đệ, và gần gũi với người nghèo. Người nghèo, người trẻ bị gạt bỏ, những ai chịu đau khổ nhất có thể trở thành nền tảng của công cuộc đổi mới cộng đoàn. Họ cần phải được nhìn nhận như những người loan báo Tin Mừng, và họ giúp chúng ta thoát khỏi tinh thần thế gian. Người trẻ thường rất nhạy cảm với chiều kích phục vụ. Nhiều bạn trẻ chủ động dấn thân trong việc thiện nguyện, và tìm thấy cách thức gặp gỡ Thiên Chúa ngang qua việc phục vụ ấy. Việc hiến mình cho những người nhỏ bé nhất như thế, thực sự trở thành một thực hành đức tin, nhờ đó chúng ta học được loại tình yêu “chấp nhận mất mát”. Tình yêu này là trọng tâm của Tin Mừng và là nền tảng của trọn vẹn đời sống Ki-tô giáo. Người nghèo, người nhỏ bé, người bệnh tật, người già cả là thân mình Chúa Ki-tô chịu đau khổ: việc đặt mình phục vụ những con người ấy chính là cách gặp gỡ Thiên Chúa, là không gian dành riêng cho việc phân định ơn gọi của mỗi người. Một sự mở ra cụ thể để đón nhận người nhập cư và người tị nạn được đòi hỏi trong nhiều bối cảnh khác nhau. Với những nhu cầu của họ, Giáo Hội sống đón nhận, bảo vệ, thăng tiến và hội nhất. Việc đón nhận người nghèo làm cho Giáo Hội trở thành ngôi nhà của tình bác ái.

Mục vụ giới trẻ từ góc nhìn ơn gọi

Giáo Hội, ngôi nhà cho các bạn trẻ

138. Chỉ việc mục vụ có khả năng tự đổi mới, nghĩa là khởi đi từ việc chăm sóc các mối tương quan và quan tâm tới chất lượng của cộng đoàn Ki-tô hữu, mới thực sự có ý nghĩa và hấp dẫn đối với các bạn trẻ. Có như thế, Giáo Hội mới có thể cho người trẻ thấy rằng Giáo Hội như một ngôi nhà luôn rộng mở đón tiếp, đầy bầu không khí gia đình với sự tin tưởng và thân ái. Khát mong về tình huynh đệ, điều mà đã nhiều lần Thượng Hội Đồng được nghe từ chính những người trẻ, đòi hỏi Giáo Hội trở thành “mẹ của tất cả, và nhà cho nhiều người” (Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, Evangelii gaudium, số 287): việc mục vụ có nhiệm vụ tỏ bày tình mẫu tử phổ quát của Giáo Hội, ngay trong dòng lịch sử và ngang qua những cử chỉ cụ thể và đầy tính ngôn sứ, trong việc Giáo Hội trở thành một ngôi nhà tràn đầy niềm vui và chào đón người trẻ mỗi ngày.

Sức sinh động ơn gọi trong việc mục vụ

139. Ơn gọi là điểm tựa, qua đó hội tụ tất cả các chiều kích khác nhau của một con người. Nguyên tắc này không chỉ áp dụng cho từng cá nhân tín hữu, nhưng cho trọn vẹn tất cả các chiều kích của việc mục vụ. Do đó điều rất quan trọng là cần làm sáng tỏ rằng chỉ trong chiều kích ơn gọi mà tất cả việc mục vụ mới tìm thấy một nguyên tắc thống nhất. Từ góc độ ơn gọi, việc mục vụ mới tìm thấy cội nguồn và sự hoàn thiện của mình. Trên những nẻo đường thực thi việc hoán cải mục vụ, việc mục vụ ơn gọi phải được nhìn không chỉ như một nhánh tách biệt và độc lập, nhưng như là hoạt động mang lại sức sống cho toàn thể việc mục vụ trong Giáo Hội, bằng cách cho thấy sự phong phú của các ơn gọi. Mục đích của việc mục vụ là giúp đỡ tất cả và từng người, qua tiến trình phân định, đạt đến “tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô” (Ep 4,13).

Mục vụ ơn gọi cho người trẻ

140. Ngay từ những bước đầu của Thượng Hội Đồng, đã nảy sinh mạnh mẽ nhu cầu đánh giá lại việc mục vụ người trẻ từ góc nhìn ơn gọi. Trong chiều hướng ấy, có hai đặc tính bất khả tách biệt trong việc mục vụ dành cho người trẻ đó là “trẻ”, và “ơn gọi”. “Trẻ” vì đối tượng của việc mục vụ là những người ở độ tuổi đặc thù và không thể lặp lại trong cuộc đời, đó là tuổi trẻ. “Ơn gọi”, vì tuổi trẻ là giai đoạn quan trọng để thực hiện chọn lựa cho cuộc đời và để đáp lại tiếng gọi của Chúa. Tính ơn gọi trong việc mục vụ giới trẻ không nên hiểu theo nghĩa loại trừ, nhưng theo nghĩa bao hàm: Chúa kêu gọi mọi người ở mọi lứa tuổi – từ khi thành hình trong lòng mẹ cho đến tuổi già – nhưng tuổi trẻ là giai đoạn quan trọng để lắng nghe, để sẵn lòng đón nhận ý muốn của Thiên Chúa.

Thượng Hội Đồng đưa ra đề xuất rằng ở cấp độ Hội Đồng Giám Mục của các nước cần chuẩn bị “Những chỉ dẫn cho việc mục vụ giới trẻ” nhìn từ góc độ ơn gọi, để giúp các vị hữu trách trong các giáo phận và những người  cộng tác trong từng địa phương có thể lượng giá việc huấn luyện và những hoạt động của họ cùng với giới trẻ và dành cho giới trẻ.

Từ phân mảnh đến hội nhất

141. Trong khi nhận thức rằng, việc lên kế hoạch cho từng lãnh vực mục vụ là cần thiết để tránh tình trạng ngẫu hứng, nhưng nhiều lần các Nghị Phụ cũng chỉ ra sự bất cập trong sự phân mảnh mục vụ của Giáo Hội. Cụ thể, các vị đề cập đến nhiều lĩnh vực mục vụ dành cho giới trẻ: mục vụ giới trẻ, gia đình, ơn gọi, học đường, xã hội, văn hóa, công tác bác ái, thời gian rảnh rỗi, v.v. Việc có vô số văn phòng chuyên biệt nhưng lại thường tách biệt nhau không mang lại ý nghĩa gì cho đời sống Ki-tô giáo. Trong một thế giới bị phân mảnh, đầy rẫy những thứ gây chia trí và đầy những lôi kéo phe nhóm, người trẻ cần được trợ giúp để thống nhất cuộc sống, để biết đọc thấy chiều sâu của kinh nghiệm thường ngày, và để thực hành phân định. Nếu đây là điều ưu tiên, thì cần phải phát triển mạnh mẽ hơn nữa sự cộng tác và thống nhất giữa các lãnh vực khác nhau, chuyển mình từ kiểu làm việc “văn phòng” hướng đến làm việc theo “dự án”.

Tương quan hữu hiệu giữa các sự kiện và cuộc sống thường ngày

142. Trong suốt thời gian của Thượng Hội Đồng, đã có nhiều sự kiện được nhắc đến vào nhiều dịp khác nhau, như Ngày Quốc Tế Giới Trẻ và những sự kiện khác được tổ chức ở cấp độ châu lục, quốc gia và giáo phận, cùng với rất nhiều sự kiện được tổ chức bởi các hiệp hội, các phong trào, các dòng tu, và nhiều cơ sở khác của Giáo Hội. Những dịp gặp gỡ và chia sẻ ấy luôn được đánh giá cao ở khắp nơi, vì tạo điều kiện để mọi người cùng hành hương, trải nghiệm tình huynh đệ, chia sẻ đức tin cách đầy hứng khởi, và lớn lên trong cảm thức thuộc về Giáo Hội. Đối với nhiều bạn trẻ, đó là những kinh nghiệm làm biến đổi cuộc sống, nơi đó họ nhìn thấy khuôn mặt đẹp tươi của Chúa và họ đã thực hiện những quyết định quan trọng cho cuộc đời. Những hoa trái tuyệt vời của những kinh nghiệm ấy tiếp tục trải dài trong cuộc sống thường ngày. Do đó, điều quan trọng là cần tổ chức và thực hiện những sự kiện này như là những bước đi đầy ý nghĩa cho một hành trình huấn luyện dài hơn và rộng hơn.

Các trung tâm giới trẻ

143. Những khoảng không gian riêng mà các cộng đoàn Ki-tô hữu dành cho giới trẻ, như các phòng sinh hoạt, các trung tâm giới trẻ và các hình thức khác, cho thấy niềm đam mê giáo dục của Giáo Hội. Dù có những khoảng không gian bị thu hẹp khá nhiều, nhưng vẫn là nơi để Giáo Hội cho thấy mình luôn là mái nhà đón tiếp thanh thiếu niên và người trẻ, giúp họ khám phá những khả năng của mình và dùng những khả năng ấy để phục vụ. Những không gian ấy thông truyền một gia sản giáo dục rất phong phú, đáng được chia sẻ trên quy mô lớn, đáng nhận được sự hỗ trợ từ các gia đình và từ xã hội dân sự.

Tuy nhiên, trong sự năng động của một Giáo Hội biết đi ra, cần phải suy nghĩ về một cách đổi mới sáng tạo và linh hoạt đối với thực tại ấy, chuyển từ ý tưởng về các trung tâm cố định như là nơi mà các bạn trẻ có thể đến, sang ý tưởng mục vụ theo hướng di chuyển cùng và hướng về người trẻ, để có thể gặp gỡ các bạn trẻ nơi cuộc sống thường ngày của họ – nơi trường học và thế giới kỹ thuật số, nơi những vùng ngoại biên, vùng nông thôn, nơi môi trường làm việc, nơi những cuộc biểu diễn âm nhạc và nghệ thuật, v.v. – để có thể làm nảy sinh một kiểu tông đồ mới mẻ năng động hơn và tích cực hơn.

CHƯƠNG III: ĐỔI MỚI NHIỆT TÂM TRUYỀN GIÁO

Một số thách đố cấp bách

144. Việc họp Thượng Hội Đồng là phương pháp mà Giáo Hội thực hiện để có thể đối diện với các thách đố cũ cũng như mới, để có thể thu thập các thông tin, và để thực hiện cuộc đối thoại giữa các thành viên, khởi đi từ người trẻ. Xin cám ơn vì các công việc của Thượng Hội Đồng, trong Phần đầu của Tài liệu cuối cùng này, chúng tôi đã chỉ ra một số lãnh vực trong đó cho thấy sự cấp bách của việc cần phải làm mới lại nhiệt tâm của Giáo Hội trong việc thực thi sứ mạng mà Chúa Ki-tô đã ủy thác. Những điều ấy, chúng tôi sẽ đối diện cách chi tiết hơn ở đây.

Sứ mạng trong lãnh vực kỹ thuật số

145. Lãnh vực kỹ thuật số là một thách đố cho Giáo Hội, ở nhiều cấp độ: do đó nhất thiết phải đào sâu hiểu biết về những năng động của lĩnh vực này và phạm vi của nó từ góc nhìn nhân chủng học và đạo đức. Điều này đòi hỏi không chỉ cùng chung sống và thúc đẩy các tiềm năng truyền thông của thế giới kỹ thuật số theo quan điểm Ki-tô giáo, nhưng còn làm thấm nhuần Tin Mừng vào nền văn hóa và những năng động của thế giới ấy. Theo nghĩa này, có một số kinh nghiệm đã được thực hiện, được khích lệ, đào sâu và được chia sẻ. Nhiều người đã nhấn mạnh đến tính ưu việt của hình ảnh như là phương tiện truyền thông. Thực tế ấy không thể không chất vấn những hình thức thông truyền đức tin chỉ dựa trên việc lắng nghe Lời Chúa và đọc Sách Thánh. Các Ki-tô hữu trẻ, sinh ra cùng thời đại kỹ thuật, đã tìm thấy trong lĩnh vực này sứ mạng đích thực, và một số người đã thực sự dấn thân trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, chính các bạn trẻ mong muốn được đồng hành để biết phận định về những cách thế trưởng thành trong cuộc sống, để có thể biết nắm bắt những cơ hội và tránh được những rủi ro trong môi trường ngày nay đã được kỹ thuật số hóa mạnh mẽ.

146. Thượng Hội Đồng hy vọng rằng trong Giáo Hội có các cơ sở được tổ chức ở những cấp độ thích hợp, cùng với các văn phòng và cơ cấu dành cho văn hóa và việc loan báo Tin Mừng trong môi trường kỹ thuật số. Những cơ sở ấy, với sự đóng góp không thể thiếu của các bạn trẻ, có thể thăng tiến các hoạt động và các phản tỉnh của Giáo Hội trong lĩnh vực này. Trong số các chức năng của thế giới kỹ thuật số, ngoài việc thúc đẩy những thực hành tốt đẹp ở cấp độ cá nhân và cộng đoàn, cần phát triển các công cụ thích hợp cho việc giáo dục kỹ thuật số và việc loan báo Tin Mừng. Cũng cần có những hành động thiết thực để phát triển các trang web Công giáo, nhằm chống lại sự lan truyền các tin tức giả liên quan đến Giáo Hội, hoặc tìm cách thuyết phục giới công quyền cổ võ các chính sách và các phương tiện chặt chẽ để bảo vệ các trẻ vị thành niên trong thế giới web.

Người di cư: phá vỡ bức tường và xây nhịp cầu

147. Nhiều người di cư là các bạn trẻ. Việc Giáo Hội hiện diện khắp toàn cầu là một cơ hội lớn để thực hiện cuộc đối thoại giữa nơi mà người ta xuất cư với nơi mà người ta đi đến, để giúp vượt thắng những sợ hãi và ngờ vực, để gìn giữ những mối dây liên hệ mà việc di cư có nguy cơ phá vỡ. “Đón nhận, bảo vệ, thăng tiến và hội nhập”, là bốn động từ mà Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã tóm tắt để diễn tả tôn chỉ hành động đối với người di cư, và bốn động từ ấy cũng trở thành tuyên bố của Thượng Hội Đồng.

Để thực hiện những điều ấy, Giáo Hội cần phải hành động ở tất cả các cấp độ, và bao gồm mọi thành viên trong các cộng đoàn Ki-tô. Về phần mình, người nhập cư khi đã được đồng hành, sẽ có thể trở thành một nguồn lực về thiêng liêng, mục vụ và sứ mạng cho những cộng đoàn đón tiếp họ. Đặc biệt quan trọng là những dấn thân về văn hóa và chính trị, với những cách thức thích hợp, nhằm vượt qua sự vô cảm, phân biệt chủng tộc, và sự từ chối người nhập cư. Các nguồn lực của Giáo Hội là yếu tố quan trọng trong cuộc chiến chống nạn buôn người, điều này hiển nhiên rõ trong hoạt động của nhiều tôn giáo. Tổ Chức Thánh Marta, khi kết hợp những vị hữu trách của các tôn giáo và các nguồn lực của mình, đóng một vai trò then chốt và là một hoạt động có sức truyền cảm hứng. Cũng không được bỏ qua việc dấn thân bảo vệ quyền ở lại quê hương đối với những người không muốn ra đi nhưng lại bị ép phải ra đi, cũng như việc nâng đỡ các cộng đoàn Ki-tô hữu có nguy cơ bị trống vắng bởi làn sóng di cư.

Phụ nữ trong Giáo Hội Công Đồng

148. Một Giáo Hội tìm cách sống phong cách “công đồng”, không thể không phản tỉnh về thực trạng và vai trò của phụ nữ trong Giáo Hội, và ngay cả trong xã hội. Các bạn trẻ nam cũng như nữ đòi hỏi điều ấy một cách mạnh mẽ. Những suy sư phản tỉnh phát triển và đòi hỏi phải hành động ngang qua việc can đảm hoán cải về văn hóa, và và thay đổi trong việc thực hành mục vụ hằng ngày. Đặc biệt quan trọng ở đây là việc nhìn lại sự hiện diện của phụ nữ trong các tổ chức Giáo Hội thuộc mọi cấp độ, những trách nhiệm được trao cho ho, và việc tham dự của phụ nữ trong các tiến trình đi đến quyết định của Giáo Hội về vai trò của những sứ vụ có chức thánh. Đó là điều công bằng phải làm, được truyền cảm hứng từ cách thức mà Chúa Giê-su có tương quan với mọi người nam cũng như nữ trong thời đại của Người, cũng như từ tầm quan trọng nổi bật của các nhân vật nữ trong Kinh Thánh, trong lịch sử cứu độ, và trong đời sống Giáo Hội.

Giới tính: một từ rất rõ, tự do, chân thực

149. Trong bối cảnh văn hóa hiện tại, Giáo Hội gặp khó khăn trong việc thông truyền vẻ đẹp của nhãn quan Ki-tô giáo về thân xác và giới tính, như được thấy trong Kinh Thánh, trong Thánh Truyền và từ Huấn Quyền của các Đức Giáo Hoàng. Do đó cần khẩn thiết tìm kiếm các phương thức thích hợp hơn để diễn giải cách đúng đắn điều này trong những hành trình huấn luyện đổi mới. Phải giới thiệu đến các bạn trẻ một nền nhân học về cảm xúc và giới tính, có khả năng lượng giá đúng đắn về sự khiết tịnh, và bằng đường lối sư phạm khôn ngoan chỉ ra ý nghĩa chân thực của sự phát triển nhân vị trong mọi giai đoạn của cuộc sống. Để làm được điều ấy cần phải tập trung vào việc lắng nghe thấu cảm, cần đồng hành và phân định, dựa trên những chỉ dẫn gần đây của Huấn Quyền. Cũng cần phải chăm lo cho việc huấn luyện những người làm mục vụ, để họ trở nên những người khả tín nhờ vào khả năng trưởng thành tâm cảm và giới tính của mình.

150. Có nhiều câu hỏi liên quan đến thân xác, tình cảm và giới tính. Những câu hỏi ấy cần được nghiên cứu đào sâu hơn trong cách chiều kích nhân học, thần học và mục vụ để thực hiện theo những cách thế và cấp độ thuận tiện nhất, từ địa phương đến hoàn vũ. Giữa những vấn đề nảy sinh, đặc biệt là vấn đề khác biệt và hòa hợp giữa căn tính nam và nữ và các khuynh hướng giới tính. Về điều này, Thượng Hội Đồng tái khẳng định rằng Thiên Chúa yêu thương từng người một, và Giáo Hội cũng thế. Thượng Hội Đồng tiếp tục cam kết chống lại bất kỳ hình thức phân biệt đối xử và bạo lực nào trên cơ sở giới tính. Cũng thế, Thượng Hội Đồng tái khẳng định tầm quan trọng về sự khác biệt và hỗ tương giữa nam và nữ từ góc độ nhân học, và xét rằng việc xác định căn tính của một người chỉ dựa vào “sự định hướng giới tính” của họ là quá giản lược. (Thư gửi các Giám mục Giáo Hội Công giáo về việc chăm sóc mục vụ cho những người đồng tính – Bộ Giáo lý Đức Tin, ngày 01 tháng 10 năm 1986, số 16).

Đã có nhiều cộng đoàn Ki-tô hữu bắt đầu hành trình đồng hành với đức tin của những người đồng tính: Thượng Hội Đồng khích lệ việc đồng hành ấy. Khi được đồng hành, những người này sẽ được giúp đỡ để đọc lại toàn bộ lịch sử cá nhân mình, để tự do đảm nhận trách nhiệm với ơn gọi của Bí Tích Rửa Tội, để tái nhận biết ao ước thuộc về cộng đoàn và đóng góp vào đời sống cộng đoàn, để phân định về các hình thức tốt nhất để thực thi ơn gọi ấy. Theo cách thế này, cần giúp đỡ từng bạn trẻ, không loại trừ một ai, hội nhập khía cạnh giới tính vào nhân cách của mình, để phát triển các mối tương quan và vững bước đi trên hành trình trao ban chính mình.

Kinh tế, chính trị, lao động, ngôi nhà chung

151. Giáo Hội cần dấn thân thăng tiến đời sống xã hội, kinh tế và chính trị, để phục vụ cho công bằng, cho sự liên đới và cho hòa bình, như các bạn trẻ đòi hỏi. Điều này đòi hỏi Giáo Hội phải can đảm làm tiếng nói cho những người không có tiếng nói, hướng đến nhà lãnh đạo thế giới để tố cáo tham nhũng, chiến tranh, buôn bán vũ khí, buôn bán ma túy, lạm dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, v.v… và kêu gọi họ hoán cải. Trong một lối nhìn chung nhất, tất cả những điều ấy không thể tách rời khỏi việc dấn thân bảo vệ những người yếu đuối nhất, vẽ ra những con đường cho phép họ không chỉ tìm thấy những nhu cầu cần thiết, mà còn giúp họ có thể đóng góp cho xã hội.

152. Ý thức rằng “lao động là chiều kích nền tảng trong sự hiện hữu của con người trên mặt đất” (Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Laborem exercens, số 4), và rằng việc thiếu công ăn việc làm làm nhụt chí rất nhiều bạn trẻ, Thượng Hội Đồng mời gọi các Giáo Hội địa phương động viên và đồng hành với các bạn trẻ, giúp các bạn trẻ có công ăn việc làm nhờ sáng kiến của các doanh nhân trẻ. Những kinh nghiệm như thế này đã phổ biến trong nhiều Giáo Hội địa phương, và cần tiếp tục được cổ vũ và tăng cường.

153. Sự thăng tiến công bình cũng chất vấn việc quản lý các tài sản của Giáo Hội. Các bản trẻ cảm thấy như được ở trong nhà mình, trong một Giáo Hội có sự quản lý kinh tế và tài chính minh bạch và nhất quán. Những chọn lựa can đảm theo chiều hướng tôn trọng phát triển bền vững, tôn trọng môi trường, như được thấy trong Laudato si’, là rất cần thiết, vì việc thiếu tôn trọng môi trường dẫn đến kiểu nghèo mới, và người trẻ là những nạn nhân trước tiên. Các hệ thống đang thay đổi, cho thấy rằng, có thể có cách thức mới để sống trong khía cạnh kinh tế và tài chính. Các bạn trẻ hy vọng rằng chính Giáo Hội trở thành ngôn sứ trong lĩnh vực này, không chỉ bằng lời nói mà còn bằng những chọn lựa cụ thể, để cho thấy rằng có khả thể cho một nền kinh tế thân thiện với con người và thân thiện với môi trường. Cùng với các bạn trẻ, chúng ta có thể làm điều ấy.

154. Liên quan đến những vấn đề về môi trường sinh thái, điều quan trọng là đưa ra những việc thực hành cụ thể trong Giáo Hội cho Thông Điệp Laudato si’. Nhiều tham luận đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cho người trẻ một nền huấn luyện về dấn thân chính trị xã hội, cũng như cung ứng cho họ những hiểu biết mà học thuyết xã hội của Giáo Hội trình bày về vấn đề này. Các bạn trẻ tham gia chính trị cần được hỗ trợ và khích lệ trong việc làm thay đổi các cấu trúc xã hội bất công.

Trong bối cảnh đa văn hóa và đa tôn giáo

155. Sự đa nguyên về văn hóa và tôn giáo là một thực tại càng ngày càng rõ nơi đời sống xã hội của người trẻ. Các bạn trẻ Ki-tô hữu cho thấy lời chứng tốt đẹp về Tin Mừng khi họ sống đức tin trong cách thức biến đổi đời sống và biến đổi các hoạt động thường ngày của họ. Họ được mời gọi mở ra với các bạn trẻ thuộc các truyền thống tôn giáo và truyền thống tâm linh khác, nhằm duy trì các mối tương quan chân thành và giúp hiểu biết lẫn nhau, giúp chữa lành khỏi những thành kiến, khỏi những khuôn mẫu. Do đó các bạn trẻ cũng trở thành những người tiên phong cho dạng thức mới về đối thoại liên tôn và liên văn hóa, góp phần giải phóng xã hội khỏi sự loại trừ, khỏi những chủ nghĩa cực đoan, khỏi việc lạm dụng tôn giáo cho những mục tiêu phe phái và dân tộc. Là những chứng tá Tin Mừng, các bạn trẻ cùng với các bạn đồng trang lứa trở thành những người thăng tiến một nền dân sự có khả năng đón nhận những khác biệt, cũng như cổ võ một sự dấn thân tôn giáo trong xã hội một cách có trách nhiệm và có sức kiến tạo các mối liên kết xã hội và hòa bình.

Gần đây, theo đề xuất của các bạn trẻ, đã có những sáng kiến được thực hiện trong việc tạo ra một kinh nghiệm chung sống giữa những người thuộc các tôn giáo và văn hóa khác nhau, vì khi chia nhau cùng một bầu không khí sống trong sự tôn trọng đức tin của nhau, mọi người có thể trở thành những người dấn thân trong cùng một lãnh vực chung của xã hội.

Các bạn trẻ và cuộc đối thoại đại kết

156. Về hành trình hòa giải giữa các Ki-tô hữu, Thượng Hội Đồng nhìn nhận ước mong của nhiều bạn trẻ trong việc muốn phát triển sự hiệp nhất giữa các cộng đoàn Ki-tô hữu còn chia tách. Việc tham dự vào hành trình này thường giúp cho các bạn trẻ đào sâu hơn chính đức tin của mình, và kinh nghiệm về một sự cởi mở chân thực trước những gì người khác có thể trao tặng cho họ. Họ cảm nhận rằng, Chúa Ki-tô đã liên kết chúng ta nên một, ngay cả khi những khác biệt vẫn còn đó. Như Đức Thánh Cha Phan-xi-cô trong dịp viếng thăm Đức Thượng Phụ Bartôlômêô năm 2014, đã khẳng định rằng: các bạn trẻ là những người mà “ước gì ngày nay chúng ta tiến bước hướng đến sự hiệp thông trọn vẹn. Không phải vì những bước đi này xóa bỏ ý nghĩa của những khác biệt đang còn chia cách chúng ta, nhưng vì đó là những bước tiến đi trước chúng ta, có khả năng đón nhận điều thiết yếu giúp chúng ta hiệp nhất” (Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, Intervento in occasione della Divina Liturgia, Chiesa Patriarcale di San Giorgio, Istanbul, ngày 30 tháng 11 năm 2014).

CHƯƠNG IV: HUẤN LUYỆN TOÀN DIỆN

Tính cụ thể, phức hợp và trọn vẹn

157. Thực trạng hiện tại được đánh dấu bởi các hiện tượng xã hội và kinh nghiệm cá nhân càng ngày càng phức hợp. Trong những tình huống cụ thể của cuộc sống các thay đổi có ảnh hưởng trên nhau cách hỗ tương, và không thể chỉ nhìn chúng từ một góc nhìn cố định. Trong thực tế, mọi sự đều gắn kết với nhau: đời sống gia đình, nghề nghiệp, việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật, cách thế trải nghiệm về cộng đoàn, việc bảo vệ các thai nhi và những người di dân. Tính cụ thể nói với chúng ta một viễn tượng nhân học về con người như là một tổng thể, về cách thế hiểu biết không chia rẽ nhưng đón nhận những nối kết, đồng thời biết học hỏi từ kinh nghiệm sống và đọc lại những kinh nghiệm ấy dưới ánh sáng của Lời Chúa. Tính cụ thể cũng giúp chúng ta biết để cho mình được gợi hứng bởi những gương sống cụ thể hơn là những kiểu mẫu trừu tượng. Điều này đòi hỏi một phương pháp huấn luyện mới, là phương pháp nhắm đến sự hội nhất những chiều kích khách nhau, có khả năng đón nhận sự đan kết của những vấn đề, và hợp nhất những chiều kích khác nhau của con người. Phương pháp này đồng điệu cách sâu xa với viễn tượng của Ki-tô giáo, là viễn tượng chiêm ngắm sự Nhập Thể của Con Thiên Chúa, nơi đó có một cuộc gặp gỡ bất khả phân lìa giữa bản tính Thiên Chúa và bản tính con người, giữa trời và đất.

Giáo dục, học đường và các đại học

158. Trong suốt thời gian của Thượng Hội Đồng, có một sự nhấn mạnh đặc biệt về vai trò quyết định và bất khả thay thế của việc giáo dục chuyên môn, của các trường và các đại học, bởi đó là môi trường chính mà người trẻ trải qua phần lớn thời gian của mình. Tại nhiều nơi khác nhau trên thế giới, giáo dục căn bản là thỉnh nguyện đầu tiên và quan trọng nhất mà người trẻ hướng đến Giáo Hội. Do đó, các cộng đoàn Ki-tô giáo cần thể hiện vai trò của mình ngang qua sự hiện diện đầy ý nghĩa của các thầy cô giáo có chất lượng, các tuyên úy, và những dấn thân thích hợp về văn hóa. Cần quan tâm đặc biệt hơn đến các cơ sở giáo dục Công Giáo, là những cơ sở diễn tả sự quan tâm liên đới của Giáo Hội đối với việc huấn luyện toàn diện cho người trẻ. Đó là những khoảng không gian quý giá cho cuộc gặp gỡ giữa Tin Mừng và nền văn hóa của một dân tộc, đồng thời cũng là nơi thúc đẩy phát triển những cuộc nghiên cứu. Các cơ sở này được mời gọi để đưa ra những kiểu mẫu về huấn luyện có khả năng thực thi đối thoại giữa đức tin với những đòi hỏi của thế giới đương đại, với những chiều kích nhân học khác nhau, với những thách đố của khoa học và kỹ thuật, với những đổi thay của các truyền thống văn hóa và với việc dấn thân cho công bình.

Cần quan tâm đặc biệt đến việc việc cổ võ sự sáng tạo của người trẻ trong các lãnh vực khoa học và nghệ thuật, thơ ca và văn chương, âm nhạc và thể thao, kỹ thuật số và truyền thông, v.v… Để nhờ đó, người trẻ có thể phát hiện ra những khả năng của mình và cống hiến những khả năng ấy trong việc phục vụ xã hội và công ích.

Chuẩn bị những nhà huấn luyện mới

159. Trước những thử thách đầy khó khăn của hiện tại, Tông Hiến “Niềm Vui Chân Lý” mới đây, về các Đại Học và các Phân Khoa của Giáo Hội, đã đề xuất một số tiêu chuẩn nền tảng cho một kế hoạch huấn luyện: việc suy tư chiêm niệm về các chiều kích thiêng liêng, tri thức, hiện sinh nơi những giáo huấn của Giáo Hội, việc đối thoại trong mọi lĩnh vực, việc thực hiện cộng tác liên ngành với sự khôn ngoan và sáng tạo, tính thiết yếu của việc tạo lập một mạng liên kết (Veritatis Gaudium, số 4). Những tiêu chuẩn này có thể gợi hứng cho tất cả các phạm vi của huấn luyện và giáo dục; việc áp dụng những tiêu chuẩn ấy sẽ tạo thuận lợi trước hết là cho việc huấn luyện những nhà giáo dục mới, giúp đỡ họ và mở ra cho họ một viễn tượng khôn ngoan sáng suốt, có khả năng hội nhất giữa kinh nghiệm và chân lý. Các Đại Học Giáo Hoàng giữ một vai trò nền tảng ở tầm mức hoàn cầu, cũng thế các Đại Học Công Giáo và những trung tâm nghiên cứu ở tầm mức lục địa và quốc gia. Việc lượng giá định kỳ, những đòi hỏi về chất lượng, và việc đổi mới liên tục trong những cơ sở này là cả một sự đầu tư to lớn và mang tính chiến lược nhằm mang lại những hữu ích cho người trẻ trong toàn Giáo Hội.

Huấn luyện những tông đồ truyền giáo

160. Hành trình của Thượng Hội Đồng càng lúc càng nhấn mạnh hơn về ước muốn trao cho người trẻ không gian và cơ hội để giữ những vai trò thiết yếu. Rõ là việc tông đồ của người trẻ hướng đến những người trẻ khác không thể là một công việc ngẫu hứng không có chuẩn bị, nhưng phải là kết quả của một hành trình huấn luyện nghiêm túc và thích đáng: làm sao để đồng hành trên tiến trình này? Làm sao để cung ứng cho người trẻ những khí cụ tốt nhất để họ có thể trở nên những chứng nhân đích thực của Tin Mừng? Câu hỏi ấy trùng hợp với khát vọng của rất nhiều người trẻ muốn hiểu biết rõ hơn về đức tin của chính mình: khám phá những cội nguồn Kinh Thánh của đức tin, hiểu được lịch sử phát triển của Giáo Lý, ý nghĩa của những học thuyết, ý nghĩa phong phú của phụng vụ. Điều này sẽ giúp cho người trẻ có thể suy xét trước những vấn nạn thực tế thường thử thách đức tin, giúp họ thấy được sự hữu lý trong niềm hy vọng của họ (cf. 1Pr 3,15).

Bởi thế, Thượng Hội Đồng đề nghị lượng giá lại những kinh nghiệm về sứ mạng dành cho người trẻ ngang qua các trung tâm huấn luyện hướng đến việc loan báo Tin Mừng dành cho người trẻ, cũng như về sứ mạng dành cho những cặp vợ chồng trẻ ngang qua những kinh nghiệm trọn vẹn là những kinh nghiệm dẫn đến việc sai đi vào sứ mạng. Đã có nhiều sáng kiến loại này xuất hiện ở nhiều nơi, nhưng các Hội Đồng Giám Mục cần nghiên cứu về tính thực tiễn của những sáng kiến ấy trong chính bối cảnh của mình.

Một thời điểm đồng hành trong việc phân định

161. Trong phòng họp của Thượng Hội Đồng đã rất nhiều lần vang lên lời kêu gọi tha thiết về việc nên quảng đại đầu tư cho người trẻ niềm say mê về giáo dục, thời gian đủ dài và cả những nguồn lực kinh tế. Gom nhặt những đóng góp và ước mơ đã xuất hiện trong suốt thời gian của Thượng Hội Đồng, cùng với việc lắng nghe kinh nghiệm của những người từng trải, Thượng Hội Đồng đề nghị với một niềm xác tín hướng đến toàn Giáo Hội, đặc biệt là hướng đến các Dòng Tu, các phong trào, các đoàn thể và những tổ chức Giáo Hội khác nhau, hãy dành cho người trẻ một kinh nghiệm được đồng hành trong việc phân định. Kinh nghiệm ấy – dài hay ngắn tuỳ vào bối cảnh và cơ hội có thể – có thể được xác định như là một thời gian chuẩn bị hướng đến việc lớn lên trong một đời sống Ki-tô giáo trưởng hành. Kinh nghiệm này cần được chuẩn bị trước để có một khoảng thời gian đủ dài tách biệt khỏi môi trường sống và những tương quan quen thuộc, cần được xây dựng ít nhất là phải xoay quanh ba nền tảng thiết yếu: một kinh nghiệm sống và chia sẻ trong tình huynh đệ với các nhà huấn luyện trưởng thành là điều thiết yếu hướng đến sự chừng mực và tôn trọng căn nhà chung, một đề xuất tông đồ mạnh mẽ và giàu ý nghĩa để sống cùng nhau, một cơ hội sống đời sống thiêng liêng bám rễ trong cầu nguyện và các Bí Tích. Trong cách thế này có tất cả những chất liệu cần thiết để Giáo Hội có thể cung ứng cho người trẻ một kinh nghiệm sâu xa về việc phân định ơn gọi.

Đồng hành hướng đến hôn nhân

162. Cần tái khẳng định tầm quan trọng của việc đồng hành với các cặp bạn trẻ trên hành trình chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân, ý thức rằng có nhiều cách thế chính đáng khác nhau để tổ chức sắp xếp hành trình ấy. Như Tông Huấn “Niềm Vui của Tình Yêu” khẳng định ở số 207: “Không phải là việc truyền đạt toàn bộ Giáo Lý, cũng không phải đưa ra quá nhiều chủ đề… nhưng là một cách của ‘con đường khai tâm’ vào Bí Tích Hôn Nhân có thể cung cấp cho họ những yếu tố cần thiết để có thể lãnh nhận bí tích ấy với những điều kiện tốt nhất và khởi đầu cuộc sống gia đình một cách vững chắc.” Cũng cần tiếp tục việc đồng hành với các gia đình trẻ, nhất là trong những năm đầu của đời sống hôn nhân, hầu giúp họ hội nhập cách tích cực vào cộng đoàn Ki-tô giáo.

Việc huấn luyện chủng sinh và tu sĩ

163. Nhiệm vụ đặc biệt của việc huấn luyện trọn vẹn các ứng viên cho chức thánh và cho đời sống thánh hiến, nam cũng như nữ, luôn là một thách đố quan trọng đối với Giáo Hội. Cần nhắc lại về tầm quan trọng của việc có một nền huấn luyện vững chắc về văn hóa và thần học cho những người nam nữ sống đời thánh hiến. Đối với các chủng sinh, nhiệm vụ đầu tiên đương nhiên là việc thu nhận và áp dụng cách thiết thực chương trình huấn luyện căn bản cho linh mục (Ratio fundamentalis institutionis sacerdotalis). Cần nhắc đến một số điểm lưu ý quan trọng nổi lên trong suốt thời gian của Thượng Hội Đồng.

Thứ nhất là việc tuyển chọn những người huấn luyện: Được chuẩn bị về văn hóa thôi thì không đủ, những người huấn luyện cần phải có khả năng sống tương quan huynh đệ, biết lắng nghe thấu cảm, và có một sự tự do nội tâm sâu xa.

Thứ hai, để có một sự đồng hành thích hợp, cần phải có một chương trình làm việc theo nhóm nghiêm túc và có chuyên môn giữa những người có nền tảng giáo dục khác nhau, bao gồm cả sự tham gia của nữ giới. Việc lập thành nhóm giáo dục này, trong đó nhiều ơn gọi khác nhau tương tác với nhau, là một dạng thức thu nhỏ nhưng quý giá của một công đồng, sẽ tác động đến lối suy nghĩ của người trẻ trong những giai đoạn huấn luyện đầu tiên.

Thứ ba, việc huấn luyện phải nhắm đến việc phát triển nơi các mục tử và những tu sĩ tương lai khả năng lãnh đạo có thẩm quyền nhưng không chuyên quyền, dạy cho những ứng viên trẻ biết trao ban chính mình cho cộng đoàn. Cần lưu ý đặc biệt đến những tiêu chuẩn huấn luyện như: vượt lên trên xu hướng giáo sĩ trị, khả năng làm việc theo nhóm, sự nhạy cảm với người nghèo, sự trong suốt trong lối sống, sự sẵn sàng để cho mình được đồng hành.

Thứ tư, sự nghiêm túc trong phân định ban đầu có ý nghĩa quyết định, bởi vì rất nhiều trường hợp người trẻ đến với các chủng viện hoặc các nhà huấn luyện và được đón nhận ngay cả khi chưa có một sự hiểu biết thích hợp và một sự cân nhắc thấu đáo về lịch sử của họ. Vấn đề trở nên đặc biệt tế nhị trong trường hợp của các “chủng sinh lang thang”: bất ổn trong tương quan và cảm tính cùng với sự thiếu bén rễ trong đời sống Giáo Hội là những dấu hiệu nguy hiểm. Bỏ qua các quy tắc của Giáo Hội liên quan đến những điều này là một lối hành xử thiếu trách nhiệm, có thể lưu lại những hậu quả rất nghiêm trọng cho cộng đoàn Ki-tô hữu.

Thứ năm là điểm liên quan đến sự ổn định về số lượng của các cộng đoàn huấn luyện: trong những cộng đoàn quá đông người, luôn có nguy cơ những người trẻ bước theo một lộ trình thiếu tương quan cá vị và thiếu hiểu biết thích đáng lẫn nhau; trong khi đó ở những cộng đoàn quá ít người, họ luôn có nguy cơ bị bóp nghẹt và bị đặt dưới lối sống phụ thuộc. Trong những trường hợp này, giải pháp tốt nhất là xây dựng các chủng viện liên giáo phận hay các nhà huấn luyện cộng tác giữa các hội dòng khác nhau, với những kế hoạch huấn luyện rõ ràng và những trách nhiệm xác định.

164. Thượng Hội Đồng đưa ra ba đề nghị để ủng hộ việc canh tân

Đề nghị liên quan đến việc huấn luyện chung giữa giáo dân, tu sĩ và linh mục. Điều quan trọng là cần phải cho các bạn trẻ nam nữ trong giai đoạn huấn luyện có một tương quan thường xuyên với đời sống thường ngày của các gia đình và các cộng đoàn, đặc biệt lưu ý đến sự hiện diện của nữ giới và của các cặp vợ chồng Ki-tô giáo, nhờ đó việc huấn luyện có thể được bám rễ trong cuộc sống cụ thể và được định hình bởi những tương quan có thể làm cho họ hội nhập vào trong bối cảnh văn hóa và xã hội.

Đề nghị thứ hai, cần thêm vào chương trình đào tạo cho sứ vụ linh mục và cho đời sống thánh hiến một chuẩn bị đặc biệt liên quan đến việc mục vụ cho người trẻ, ngang qua những khóa huấn luyện hướng đến những kinh nghiệm sống đời tông đồ và loan báo Tin Mừng.

Đề nghị thứ ba, trong khuôn khổ của một cuộc phân định thật sự về con người và về những tình huống theo viễn tượng và tinh thần của “chương trình huấn luyện căn bản cho linh mục” (Ratio fundamentalis instituionis sacerdotalis), cần nhìn lại khả năng lượng giá hành trình huấn luyện theo cả nghĩa kinh nghiệm cá nhân lẫn cộng đoàn. Điều này đặc biệt có giá trị trong chặng cuối của hành trình, hướng đến việc đảm nhận từng bước trách nhiệm mục vụ. Các quy tắc và các thể thức sẽ được chỉ định trong các Hội Đồng Giám Mục của mỗi quốc gia, ngang qua các chương trình huấn luyện trong nước (Ratio nationalis).

KẾT LUẬN

Được mời gọi nên thánh

165. Tất cả những ơn gọi khác nhau đều hội nhất trong ơn gọi duy nhất và phổ quá là nên thánh. Ơn gọi này tự thâm sâu không gì khác hơn là việc thành toàn viên mãn lời mời gọi hướng đến niềm vui của tình yêu vẫn hằng vang vọng trong trái tim của mỗi người trẻ. Quả vậy, phải khởi đi từ ơn gọi duy nhất là nên thánh, chúng ta mới có thể phân biệt những dạng thức khác nhau của cuộc sống, biết rằng Thiên Chúa “muốn chúng ta nên thánh và không mong rằng chúng ta hài lòng với một cuộc hiện hữu tầm thường, vô giá trị và không nhất quán” (ĐGH Phan-xi-cô, Tông Thư Gaudete et exultate, số 1). Sự nên thánh có nguồn cội không vơi cạn nơi Thiên Chúa Cha, Đấng mà qua Chúa Thánh Thần đã gởi đến cho chúng ta Đức Giê-su “Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Mc 1,24). Người đến giữa chúng ta để làm cho chúng ta nên thánh nhờ vào tình bạn với Người. Tình bạn ấy mang lại niềm vui và bình an cho đời sống của chúng ta. Phục hồi lại trong tất cả đời sống mục vụ của Giáo Hội mối liên kết sống động với sự hiện hữu diễm phúc của Đức Giê-su là điều kiện nền tảng cho mọi cuộc cải cách.

Thức tỉnh thế giới với bằng sự thánh thiện

166. Chúng ta phải là thánh thì mới thể mời gọi những người trẻ nên thánh. Những người trẻ đã cất giọng bày tỏ ước muốn có một Giáo Hội thực thụ, quang minh, trong suốt và vui tươi: Chỉ có Giáo Hội của các thánh mới có khả năng vươn đến tầm vóc ấy! Đã có nhiều người trẻ lìa bỏ Giáo Hội, vì họ không tìm thấy nơi Giáo Hội sự thánh thiện, mà thay vào đó là sự tầm thường, tính tự phụ, sự chia rẽ, sự suy thoái. Đáng buồn là thế giới đã phẫn nộ vì sự lạm dụng của một vài người trong Giáo Hội, thay vì để cho mình được tiếp thêm sức sống bởi sự thánh thiện của những thành viên trong Giáo Hội. Vì lý do này, trọn cả Giáo Hội cần phải thực hiện một thay đổi mang tính quyết định tức thì và tận căn về lối nhìn. Những người trẻ cần các thánh để luyện nên những vị thánh khác, nhằm minh chứng rằng “sự thánh thiện là gương mặt đẹp nhất của Giáo Hội” (ĐGH Phan-xi-cô, Tông Thư Gaudete et exultate, số 9). Có một ngôn ngữ mà tất cả mọi người nam nữ thuộc mọi thời đại, mọi nơi chốn và mọi văn hóa đều có thể hiểu được, bởi đó là ngôn ngữ trực tiếp và quang minh, đó là ngôn ngữ của sự thánh thiện.

Được lôi cuốn bởi sự thánh thiện của người trẻ

167. Đã rõ ngay từ khởi đầu hành trình của Thượng Hội Đồng rằng những người trẻ là một bộ phận trọn vẹn của Giáo Hội. Thế nên sự thánh thiện của họ cũng là một phần trọn vẹn của Giáo Hội. Trong những thập kỷ gần đây sự thánh thiện ấy đã đơm hoa kết trái dưới nhiều dạng thức khác nhau ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới. Trong suốt hành trình của Thượng Hội Đồng, chúng tôi đã rung động khi chiêm ngắm và suy niệm về sự can đảm của vô số người trẻ, những người đã từ bỏ mạng sống của mình để trung tín với Tin Mừng. Việc lắng nghe lời chứng của những người trẻ hiện diện trong Thượng Hội Đồng, những người ngang qua việc bị bách hại đã chọn cùng chia sẻ cuộc Thương Khó của Đức Giê-su, là một kinh nghiệm có sức tái sinh. Ngang qua sự thánh thiện của người trẻ, Giáo Hội có thể làm mới lại sức nóng thiêng liêng và nhiệt huyết tông đồ của mình. Hương thơm của sự thánh thiện sinh ra từ đời sống tốt lành của rất nhiều người trẻ có thể chữa lành những vết thương của Giáo Hội và của thế giới, mang chúng trở lại với sự viên mãn của tình yêu. Đó là sự viên mãn mà chúng ta đã luôn được mời gọi: các thánh trẻ thúc đẩy chúng ta trở về với tình yêu ban đầu của chúng ta (Kh 2,4).

____________________

[1] Trong tài liệu này thuật ngữ “Thượng Hội Đồng” có khi đề cập đến toàn bộ quá trình của Thượng Hội Đồng, có khi chỉ về chính Thượng Hội Đồng đang diễn ra từ ngày 3 đến ngày 28 tháng 10 năm 2018 theo thời gian.

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.

Nguồn tin: donboscoviet.info

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây