Thứ Ba tuần 2 Phục Sinh.

Thứ hai - 25/04/2022 08:43

T3 26 4 1

T3 26 4 1

Thứ Ba tuần 2 Phục Sinh.

"Không ai lên trời được, ngoài người đã từ trời xuống, tức là Con Người vốn ở trên trời".

 

Lời Chúa: Ga 3, 7-15

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô rằng: "Thật, Tôi bảo cho ông biết: Ông đừng ngạc nhiên vì nghe Tôi nói rằng: Các ngươi phải tái sinh bởi trời. Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng chẳng biết gió từ đâu đến và đi đâu: mọi kẻ sinh bởi Thần Linh cũng vậy".

Nicôđêmô hỏi lại rằng: "Việc ấy xảy ra thế nào được?" Chúa Giêsu đáp: "Ông là bậc thầy trong dân Israel mà ông không biết điều ấy sao? Thật, tôi bảo thật cho ông biết: Điều chúng tôi biết thì chúng tôi nói; điều chúng tôi thấy thì chúng tôi minh chứng. Nhưng các ông lại không nhận lời chứng của chúng tôi. Nếu khi Tôi nói về những sự dưới đất mà các ông không tin, khi Tôi nói những sự trên trời, các ông tin thế nào được? Không ai lên trời được, ngoài người đã từ trời xuống, tức là Con Người vốn ở trên trời. Cũng như Môsê treo con rắn nơi hoang địa thế nào, thì Con Người cũng phải bị treo lên như vậy, để những ai tin vào Người, thì không bị tiêu diệt muôn đời".

 

Suy Niệm 1: Ai tin được sống muôn đời

(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.)

Con người hôm nay vừa bị hấp dẫn bởi cái chết,

vừa bị lôi kéo bởi cuộc sống đời này.

Cuộc sống hôm nay cho chúng ta nhiều tiện nghi thoải mái.

Nó mời chúng ta hưởng thụ, mua sắm, tiêu dùng.

Luôn luôn xuất hiện những mẫu mã mới hơn, tốt hơn, đẹp hơn.

Con người vất vả làm việc để có thể mua được món hàng do mình chế tạo.

Cuộc sống vừa dễ chịu hơn, vừa mệt mỏi hơn bởi vô số những nhu cầu.

Con người hôm nay có hạnh phúc hơn xưa không?

Những thức ăn trần thế có đủ làm con người mãn nguyện không?

Người Kitô hữu quý chuộng cuộc sống ở trần thế này,

nhưng họ hiểu tính chất mau qua và tương đối của nó.

Như Đức Giêsu, họ cũng phải đi qua cuộc sống đời này,

nếm đủ mọi mùi vị của phận người, chịu đựng mọi khó khăn thách đố,

trước khi về với điểm đến chung cục là cuộc sống đời sau.

Thiên đàng, Nước Thiên Chúa hay sự sống vĩnh cửu

là những từ diễn tả hạnh phúc đang chờ đợi người Kitô hữu sau cái chết.

Họ biết mình từ đâu đến và biết mình sẽ đi đâu.

Họ biết phân biệt những ga xép với đích đến cuối cùng.

Trong bài Tin Mừng hôm qua, Đức Giêsu khẳng định

chẳng ai được vào Nước Thiên Chúa nếu không được sinh ra bởi Thần Khí.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Ngài lại khẳng định:

“Ai tin vào Con Người thì có sự sống vĩnh cửu” (c.15).

Vào Nước Thiên Chúa đồng nghĩa với có sự sống vĩnh cửu.

Như Môsê giương cao con rắn trong sa mạc để ai nhìn lên thì được khỏi,

Con Người cũng phải được giương cao để ai tin thì được sự sống vĩnh cửu.

Sự sống vĩnh cửu là hoa quả của mầu nhiệm được giương cao.

Đức Giêsu được giương cao khi bị treo trên thập giá,

được giương cao khi được Cha phục sinh,

và được giương cao khi được Cha đưa về trời.

Chính vì Đức Giêsu bị đóng đinh, được phục sinh và về trời

nên chúng ta được sinh lại từ trên nhờ Thần Khí,

được vào Nước Thiên Chúa và có sự sống vĩnh cửu.

Kitô hữu là người đang trên đường về quê hương đích thật.

Đấng từ trời xuống nay đã lên trời (c. 13),

và lôi kéo chúng ta lên với Ngài (Ga 12, 32).

Làm thế nào chúng ta thoát khỏi sức kéo xuống của vật chất?

Làm thế nào chúng ta sống nhẹ nhàng hơn để kéo thế giới quanh ta bay lên?

 

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu phục sinh

Chúa đã sống đến cùng cuộc Vượt qua của Chúa,

xin cho con biết sống

cuộc Vượt qua mỗi ngày của con,

Vượt qua sự nhỏ mọn và ích kỷ.

Vượt qua những đam mê đang kéo ghì con xuống.

Vượt qua nỗi sợ khổ đau và nhục nhã.

Vượt qua đêm tăm tối cô đơn của Vườn Dầu.

Vượt qua những khắc khoải của niềm tin.

Vượt qua những thành kiến con có về người khác...

Chính vì Chúa đã phục sinh

nên con vui sướng và can đảm vượt qua,

dù phải chịu mất mát và thua thiệt.

Ước gì con biết noi gương Chúa phục sinh

gieo rắc khắp nơi bình an và hy vọng,

tin tưởng và niềm vui.

Ước gì ai gặp con

cũng gặp thấy sự sống mãnh liệt của Chúa.

 

Suy Niệm 2: Sống theo Thần Khí tự do

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Chúa Ki-tô Phục sinh không còn thuộc thế giới phàm trần. Không có gì ngăn chặn được Người. Ngôi mộ có phiến đá to không thể nhốt kín Người. Cửa nhà đóng chặt không ngăn chặn được Người. Vì Người đã trở về thượng giới.

Người ra đi mở đường cho ta. Người được treo lên cũng kéo ta lên với Người. Những ai tin vào Người sẽ được sinh lại trong Thần Khí vào một đời sống mới. Đời sống thượng giới. Đời sống tự do.

Ta có thể đoán trước đường đi nước bước của người phàm. Nhưng ta không biết được đường đi của Thần Khí. Đó là đường đi của gió. Không ai biết gió từ đâu, đi đâu. Cũng thế ta không đoán được đường đi của những người sống theo Thần Khí tự do.

Những tín hữu đầu tiên sống theo Thần Khí tự do. Nên có những suy nghĩ và hành động khác thói trần gian. Không bị vật chất ràng buộc nên họ bán hết nhà cửa đem tiền đặt dưới chân các tông đồ. Không bị ý riêng, tự ái cá nhân ràng buộc nên họ sống hài hòa với nhau, một lòng một ý. Không còn bị thói đời trói buộc. Họ đã bay lên thế giới thần linh. Họ đã thuộc về thượng giới. Trái tim họ hoàn toàn trong sạch. Sống theo Thần Khí, họ là những con người hoàn toàn tự do.

Thật nghịch lý. Khi bon chen chỉ biết vun quén cho mình sẽ rơi vào nghèo nàn, tàn lụi. Khi quên mình, quảng đại cho đi, lại trở nên phong phú và làm cho cộng đoàn phát triển. Vì họ không còn sống cho đời tạm chóng qua. Họ sống cho sự sống đời đời.

Chúng ta đang sống trong một thời đại tục hóa. Thói trần gian xâm nhập vào những nơi linh thiêng nhất. Xâm nhập cả vào não trạng, vào những ước muốn thâm sâu trong con người. Vì thế ta bị ràng buộc, mất tự do.

Ta hãy thoát khỏi những ràng buộc của não trạng trần tục. Được sinh lại bởi nước và Thần Khí. Được trở nên như gió. Được Chúa Giê-su trên thánh giá kéo ta lên. Để chúng ta được tự do. Để chúng ta được thuộc về thượng giới. Để chúng ta làm chứng cho Nước Trời.

 

Suy Niệm 3: Ðược Sống Muôn Ðời

Chúng ta chiêm ngắm hai vị thầy gặp nhau trong đêm thanh vắng để trao đổi điều quan trọng mà không bị phiền phức. Ông Nicôđêmô là vị thầy của người Do Thái, một nhà thông thái muốn biết nhiều hơn nữa về Chúa Giêsu và ông đã nhìn nhận như Người đến từ Thiên Chúa, và nhất là có Thiên Chúa ở cùng, vì những dấu lạ được thực hiện, những dấu lạ chưa có ai làm được như vậy.

Ông Nicôđêmô là vị thầy trên trần gian này, còn Chúa Giêsu là vị Thầy từ trên cao xuống, từ cung lòng Thiên Chúa Cha mà đến: "Không ai đã lên trời ngoại trừ Con Người, Ðấng từ trời xuống". Hơn nữa, Chúa Giêsu còn xác nhận cho ông Nicôđêmô rằng: "Thật, tôi bảo thật ông. Chúng tôi nói những điều chúng tôi đã thấy", đó là uy tín của Chúa Giêsu Kitô, vị Thầy đến từ Thiên Chúa Cha. Lời quả quyết của Chúa với ông Nicôđêmô làm cho chúng ta nhớ lại lời quả quyết nơi đầu sách Phúc Âm theo thánh Gioan như sau: "Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ. Nhưng Con Một là Thiên Chúa và là Ðấng hằng ở nơi cung lòng Thiên Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết" (Ga 1,18).

Ông Nicôđêmô đến với Chúa Giêsu với khả năng trí khôn của ông, muốn hiểu biết sự thật. Nhưng Chúa Giêsu lại mời gọi ông làm một điều khác. Ðừng ỷ lại vào khả năng trí khôn của mình nữa mà hãy nhờ đến sức mạnh từ trên cao của Chúa Thánh Thần. Ông phải sinh ra lại và sinh ra từ ơn trên và tin vào Thiên Chúa: "Không ai đã lên trời ngoại trừ Con Người, Ðấng từ trời xuống. Như con rắn của Môisen, Con Người cũng sẽ phải được giương cao để ai tin vào Người thì được sống muôn đời."

Ðược sống muôn đời, đó là điều quan trọng nhất, đó là mục tiêu cuối cùng của con người, đó là một hồng ân cần được con người khiêm tốn đón nhận, chứ không phải là đối tượng để hiểu biết suông mà thôi. Trong cuộc đối thoại, chúng ta thấy Chúa Giêsu không ngừng mời gọi nơi ông Nicôđêmô nâng tâm hồn mình lên, hãy để cho Thánh Thần thanh tẩy để có thể nhìn thấy và bước vào trong Nước Thiên Chúa. Hơn nữa, cũng trong cuộc đối thoại này, chúng ta có thể ghi nhận một mạc khải quan trọng khác nữa, đó là Chúa Thánh Thần chỉ được ban xuống cho con người nhờ qua và sau cuộc vượt qua của Chúa Giêsu, qua và sau cái chết, sự Phục Sinh của Chúa. Cùng với ông Nicôđêmô, chúng ta hãy đến với Chúa Giêsu để cho Ngài dạy chúng ta biết về Thiên Chúa Cha và đồng thời sẵn sàng lãnh nhận Chúa Thánh Thần.

Lạy Chúa, xin hãy dạy cho con biết những việc trên trời. Xin hãy nói cho con biết tình thương của Thiên Chúa Cha đối với con người. Xin hãy tái sinh con trong Thánh Thần cho con được trở nên Thánh, để giống Chúa mỗi ngày một hơn.

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

Suy Niệm 4: Thánh Thần dẫn tới đâu?

Ông đừng ngạc nhiên vì tôi đã nói:

Các ông cần sinh ra lại bởi ơn trên.

Gió muốn thổi đâu thì thổi;

Ông nghe tiếng gió,

Nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu.

Ai bởi Thần Khí mà sinh ra cũng vậy.” (Ga. 3, 7-8)

Trong cuộc đàm đạo với ông Ni-cô-đem, sau khi mở cho ông thấy niềm hy vọng được sinh vào đời sống mới, Đức Giêsu đã tự tỏ mình ra, tỏ cuộc sống đã từng trải của Người ra cho ông và nói với ông rằng: “Ai bởi Thánh Thần mà sinh ra thì cũng vậy”.

Chính Người đã sinh ra bởi Thánh Thần, nghĩa là Người sống hoàn toàn dưới ảnh hưởng của hoạt động của Thiên Chúa, của động lực Thiên Chúa. Đức Giêsu nói điều mình biết. Điều Người biết về Thiên Chúa thì Người nói ra, nên chứng của Người là chân thật.

Đức Giêsu cũng nói những dự tính về sứ mệnh tương lai của Người. Nên ai sinh ra bởi Thánh Thần không phải chỉ được sống mà còn lãnh một sứ mệnh như Đức Giêsu. Ai sinh bởi Thánh Thần còn được kêu gọi lên cao.

Điều Đức Giêsu dự tính, chính là sứ mệnh cứu chuộc bằng dấu Thánh giá: “Không ai đã lên trời ngoại trừ Con Người đã từ trời xuống”, hay như thánh Phao-lô nói: “Người đồng phận với Thiên Chúa mà đã không nắm lấy địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, Người đã hủy mình đi, hạ mình xuống làm thân phận loài người”.

Tiếp nối cuộc đàm đạo với ông Ni-cô-đem, Đức Giêsu nói để được tái sinh, nghĩa là sống dưới ảnh hưởng của Thánh Thần tái tạo, thì phải theo đường lối Thánh Thần đề ra. Bất cứ ai sinh bởi Thánh Thần đều phải bắt tay hành động theo đường lối lên cao, con đường treo lên thập giá, hay nói cách khác, con đường hiến mạng sống mình cho người khác.

Cử hành Thánh lễ là chúng ta sẽ sống cuốn hút vào của lễ Đức Kitô hiến dâng mình cho muôn người, trong khiêm tốn vâng lời Đức Chúa Cha và ngoan ngoãn theo Chúa Thánh Thần. Nhận biết ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần đối với Đức Kitô có thể là lý do chính chúng ta dâng lễ tạ ơn và tiếp rước cũng một Thánh Thần đến trên của lễ chúng ta xin ơn hôm nay.

C.G

 

Suy Niệm 5: Điều kiện căn bản: "niềm tin"

Một tờ báo Công giáo địa phương ở Chicago có đăng trong chương trình "sống đạo" mẩu chuyện như sau: có đôi vợ chồng chung sống với nhau được ba mặt con. Người chồng cũng là người Công giáo, nhưng chủ trương cuộc đời chỉ có ba lần đến nhà thờ: "Rửa tội, lễ cưới và sau khi chết". Ngược lại, người vợ là một tín đồ ngoan đạo, đêm ngày bà cầu nguyện cho chồng. Lời cầu nguyện của bà hầu như vô vọng khi người chồng đổi công việc làm ăn ở tiểu bang Texas, miền Nam Hoa Kỳ.

Suốt ba tháng trời, bà và các con chẳng được tin tức gì của chồng, nếu có chăng nữa thì cũng chỉ là những tin buồn do người quen kể lại. Họ nói rằng chồng của bà kể như hư đốn hoàn toàn. Ông ta đã sa vào cảnh cờ bạc, rượu chè, chẳng còn nhớ đến ai. Mấy tin tức như thế đã làm cho bà thêm lo lắng xao xuyến. Tuy nhiên, không vì thế mà bà quên cầu nguyện.

Bỗng một đêm kia, khi gia đình đã hoàn toàn chìm vào giấc ngủ, bà nhận được một cú điện thoại từ xa gọi về. Bên kia đầu dây là giọng nói thổn thức của người chồng từ Texas gọi về cho bà. Ông ta đã nói với bà như sau: "Em yêu dấu! Ðây là lần đầu tiên trong cuộc đời anh đã thành tâm quì gối cầu nguyện. Anh đã quì gối không phải trong nhà thờ hoặc một nơi thánh nào đó. Nhưng anh đã quì gối ngay tại chốn ăn chơi. Các bạn anh cười nhạo tưởng anh đã hóa khùng. Có thể đúng. Anh đang khùng, khùng vì Ðức Kitô, vì anh đã trở về với Ngài".

Anh chị em thân mến!

Trong lúc tưởng chừng như sự việc không còn cách gì để cứu vãn, thì lòng tin bền bỉ của người đàn bà được Thiên Chúa đáp lời. Một lời đáp thật bất ngờ dưới con mắt người đời: "Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió nhưng chẳng biết gió từ đâu mà đến và sẽ đi đâu". Những câu hỏi: nơi nào, khi nào, và thế nào đã được con người đặt ra cho Thiên Chúa chắc chắn là những câu hỏi chẳng bao giờ con người được thỏa mãn vì những sự việc dưới đất họ chưa hiểu hết thì làm sao có thể hiểu được những việc trên trời.

Tuy nhiên, dù cho đang lần mò trong tăm tối của hiểu biết như thế, con người vẫn không bị thất vọng, lạc lối, vì luôn luôn Thiên Chúa đã dọn sẵn cho họ một lối đi dẫn tới vĩnh cửu. Ðường lối ấy do chính Con Một Thiên Chúa từ trời cao xuống vạch ra cho tất cả loài người. Hết thảy mọi người đều được kêu mời đến.

Như ngày xưa, Môisen đã treo con rắn đồng trên sa mạc để cho dân được chữa lành thì hôm nay Con Một Thiên Chúa cũng được treo trên cao để mọi người được cứu thoát. Ngài được treo trên cao cho hết mọi người nhìn thấy, Ngài mở lối cho tất cả bước vào nhưng rồi không phải hết thảy đều đạt mục đích.

Một nhân vật thông thái của hội đường Do Thái là Nicôđêmô đang đứng trước ngưỡng cửa dẫn vào lối sống, thế mà ông vẫn chưa tìm được lối vào chỉ vì ông thiếu một điều kiện căn bản: "niềm tin".

Thiếu "niềm tin" mọi hiểu biết đều dẫn đến sai lạc vì mọi vận hành trong vũ trụ này không riêng lẻ độc lập nhưng liên hệ với Ðấng đã tạo thành nó. Niềm tin là chiếc cầu cho phép con người bước từ cõi đất lên cõi trời. Niềm tin là ngọn đèn soi tỏ ý nghĩa của mọi sự vật và mọi biến cố xảy đến. Mọi sự vật và mọi biến cố xảy đến không đơn thuần chỉ là những gì con người có thể cảm biết, còn có những ý nghĩa tàng ẩn đàng sau mà chỉ niềm tin mới vén mở cho con người trọn vẹn ý nghĩa của chúng.

Lạy Chúa, xin cho con nhận ra được những thiếu sót trong vốn hiểu biết mà bấy lâu nay như Nicôđêmô, con vẫn hằng tự mãn bằng lòng. Xin cho con biết rằng chỉ có niềm tin mới ban cho con một sự hiểu biết trọn vẹn ý nghĩa của con. Một cuộc sống không hạn hẹp trong cõi đất nhưng được bắt nguồn từ cõi trời. Amen.

(Trích trong ‘Suy Niệm Phúc Âm Hằng Ngày’ – Radio Veritas Asia)

 

Suy Niệm 6: Tin để hiểu

Tin Mừng hôm nay tiếp nối trình thuật hôm qua, vì thế, vẫn trong bối cảnh giữa Đức Giêsu và Nicôđêmô xoay quanh câu chuyện tái sinh và sự sống đời đời.

Thật vậy, vấn đề sự sống đời đời là một chủ đề lớn và vấn nạn ấy khiến cho con người ở mọi thời không ngừng suy tư!

Thấy được Nicôđêmô là một người chân chính, lòng dạ ngay thẳng, không có gì gian dối, nên khi ông chân thành đến với Đức Giêsu và tin tưởng Ngài là vị thầy tâm linh sẽ giúp ông đạt được điều mà ông hằng thao thức! Đức Giêsu đã không ngần ngại để mặc khải cho ông biết phải làm gì và phải làm như thế nào để đạt được sự sống ấy. Ngài nói: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống. Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Ngài thì được sống muôn đời”. Nói như thế, Đức Giêsu đã mặc khải thiên tính của Ngài cách cụ thể, để như một con đường và mời gọi Nicôđêmô đi trên con đường ấy thì được cứu độ.

Tiếp theo, Đức Giêsu muốn củng đức tin thêm cho ông, nên Ngài khẳng định: “Thật, tôi bảo thật ông: ‘Chúng tôi nói những điều chúng tôi biết, chúng tôi làm chứng về những điều chúng tôi đã thấy”.

Con đường cụ thể mà Đức Giêsu đề ra cho Nicôđêmô là con đường sinh lại từ ơn trên, nghĩa là cần được tái sinh, đổi mới nhờ Thần Khí. Ai đi trên con đường ấy là đi theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, mà đường lối của Chúa Thánh Thần chính là đường lối từ trên cao, con đường Gongotha, con đường thập giá, con đường cứu độ bằng cái chết...

Qua cách thức của Đức Giêsu, Ngài đã dẫn Nicôđêmô từ chuyện cố hiểu để tin, sang tình trang tin để hiểu.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy khiêm tốn để Lời Chúa được thấm vào trong tâm hồn của mình. Bởi vì nếu không khiêm tốn, thì hồng ân đức tin không thể đến với những người kiêu ngạo.

Sự sống đời đời được trao ban là do phát xuất từ lòng thương xót của Thiên Chúa chứ không phải do kiến thức mà ta có được. Vì thế, cần phải sám hối để đón nhận mạc khải của Chúa và trung thành đi theo đường lối ấy thì mới mong được cứu độ.

Mong sao mỗi người chúng ta hiểu rằng: có ba điều cần thiết cho phần rỗi con người, đó là: hiểu biết điều nào phải tin; hiểu biết điều nào phải ước ao; và hiểu biết điều nào phải thực hiện. (Thánh Thomas Aquinas)

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, xin cho mỗi người chúng con cảm nghiệm được tình yêu của Chúa và sẵn sàng đi trên đường lối cứu chuộc mà Chúa mạc khải cho chúng con. Xin cho chúng con được ơn biến đổi hằng ngày để được trở nên con người thánh thiện nhờ được ơn Chúa thanh tẩy. Amen.

Ngọc Biển SSP

 

Suy Niệm 7: Khiêm tốn tin vào Chúa Giêsu để sống cuộc đời mới

(TGM Giuse Nguyễn Năng)

Sứ điệp: Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa từ trời xuống để mặc khải những sự trên trời cho ta. Người còn chịu treo trên Thánh giá để ta được sống đời đời. Ta hãy khiêm tốn tin vào Chúa Giêsu để sống cuộc đời mới.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, con cảm tạ Chúa vì nhờ bí tích Rửa Tội, Chúa đã cho con được sống lại với Chúa. Chúa đã đưa con vào thế giới mới, Chúa đã nâng con lên cuộc sống trên cao, cuộc sống của Chúa.

Không phải ai cũng thấy được cuộc sống trên cao, không phải ai cũng tin được những chuyện trên trời. Con thường chỉ tin những chuyện dưới đất và ham thích cuộc sống trần gian. Những chuyện dưới đất thì dễ hiểu hơn, dễ thấy hơn. Cuộc sống trần gian dù có lắm khổ đau, nhưng đối với con, vẫn lôi cuốn hơn, hấp dẫn hơn. Dù là những người trí thức và đạo đức như ông Ni-cô-đê-mô cũng chẳng thể hiểu hết những điều dưới đất, và càng không thể hiểu được những chuyện trên trời.

Lạy Chúa, xin Chúa giúp con biết khiêm tốn và mở lòng mình ra để đón nhận những sự trên trời. Xin cho con được hết lòng tín nhiệm vào Chúa. Càng tự phụ mình trí thức và đạo đức, con lại càng khó đón nhận Chúa. Xin cho con được sinh lại bởi Chúa Thánh Thần, cho con mãi mãi là một trẻ thơ để dễ vào Nước Chúa hơn.

Con khao khát xin Chúa cho con được mỗi ngày mỗi hiểu biết Chúa hơn, yêu mến những sự trên trời nhiều hơn. Con không thể xao lãng bổn phận dưới đất, nhưng nhờ hiểu biết và yêu mến những sự trên trời, con sẽ hiểu những sự dưới đất đúng đắn hơn và chu toàn bổn phận dưới đất tốt đẹp hơn. Xin Chúa dẫn con đến với Chúa. Amen.

Ghi nhớ: “Không ai lên trời được, ngoài người đã từ trời xuống, tức là Con Người vốn ở trên trời”.

 

Suy Niệm 8: Chúa Kitô được giương cao

(Lm Nguyễn Vinh Sơn SCJ)

Câu chuyện

Phi trường quốc tế Pensylvania là một trong những sân bay lớn nhất, hiện đại nhất trong các sân bay của Hoa Kỳ. Cách sân bay chỉ khoảng một cây số có một ngôi thánh đường nằm đúng vào cuối phi đạo. Đây là một trong những phi đạo nhộn nhịp đón nhiều chuyến bay nhất.

Sợ tháp chuông có thể gây nguy hiểm cho các máy bay mỗi lần đáp xuống đường bay, toàn thể giáo dân ở đây đã đồng lòng quyết định sẽ đặt trên đỉnh tháp chuông một bóng đèn neon lớn bằng hình cây thánh giá. Từ đó, mỗi lần chuẩn bị đáp xuống đường bay vào ban đêm, các phi công đều dựa vào ánh sáng tỏa ra từ cây thánh giá như thể đó là một ngọn hải đăng chỉ đường cho các con tàu cập bến an toàn.

Suy niệm

Chúa Kitô được giương cao, đã được loan báo trước bằng hình ảnh của rắn đồng trong sa mạc, để ai bị rắn lửa cắn mà nhìn lên đó thì được cứu khỏi chết (x. Ds 21,9tt). Nicôđêmô đàm đạo, biết và tin vào Chúa Kitô, Đấng Chúa Cha sai đến, là người Con đã được Chúa Cha ban cho thế gian vì yêu thương, ngõ hầu thế gian được cứu độ… Ai không tin vào Đức Kitô, đó là tự kết án chính mình, vì tự tách rời khỏi nguồn sống: “Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Ngài, mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Ngài, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa” (Ga 3,17-18).

Tin đối với Gioan là nhìn nhận Đức Giêsu là Con và là sứ giả của Chúa Cha, là đến với Đức Giêsu và gặp Ngài, là biết Ngài và cùng với Ngài biết Chúa Cha. Đức tin là hồng ân và một sự lôi cuốn của Chúa Cha khi nhìn lên Chúa Kitô, Đấng được giương cao và tin vào.

Người tin được thông phần sự sống của Thiên Chúa, và bước vào một cuộc sống mới. Tin là từ bỏ bóng tối của tội lỗi, của gian tà, của ma quỷ. Giữa đêm tăm tối của cuộc đời, người tin nhận ra ánh sáng tình thương của Thiên Chúa và bước tới, nhưng nếu khép kín lòng sẽ mãi là con cái bóng tối như Chúa Giêsu đã nói: “Sự sáng đã đến trong thế gian, mà người ta đã yêu mến tối tăm hơn sự sáng, vì việc làm họ đều xấu”(Ga 3,19).

Chiêm ngắm Đấng được giương cao, tác động chúng ta tin vào hành trình của Đức Kitô ở trần gian: Sứ mạng của Đức Giêsu đến thế gian là giáo hóa con người: Ngài đến để cải hóa người tội lỗi (x. Mt 9,13; Lc 5,32), làm cho tội nhân tin vào Ngài và nên thánh thiện (x. Rm 6,22), hơn thế nữa, giải thoát con người khỏi ách thống trị của tội lỗi (x. Mt 1,21; Mc 2,17; Rm 6,6.18; Dt 9,26b; 1Ga 1,7b). Ngài còn có quyền tha tội (Mt 9,5-6; Mt 26,28; Cv 10,43; Cl 1,14), và ban ơn cứu rỗi (x. Lc 19,9; Ga 4,42; Cv 4,12; 13,23). Nhưng Ngài cải hóa và cứu độ con người bằng đức tin: “Ai tin thì sẽ được cứu độ” (Mc 16,16; x. Cv 16,3) khi chiêm ngắm Đấng được giương cao: Giương cao để chết cho nhân loại, nhưng giương cao bên hữu Chúa Cha trong mầu nhiệm phục sinh.

Tin vào con Thiên Chúa - Đấng giương cao chết treo trên thập tự, Đấng đã được giương cao bên hữu Chúa Cha qua phục sinh, như là nội dung của giao ước mới: sự sống đời đời của Thiên Chúa được trao ban như Đức Giêsu xác định với Nicôđêmô trong buổi gặp gỡ mạc khải về niềm tin vào Con Người, Đấng được giương cao: “Ai tin vào Con Người thì được sống muôn đời”, “Ai tin vào Con của Người thì không bị lên án”. Chính trong niềm tin vào Đấng được giương cao, sau này thánh Phaolô tuyên tín: “Chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa”.

Ý lực sống:

Đấng được giương cao - treo thập tự,

Trần gian cứu độ, được nhờ Người,

Ai tin sức sống muôn đời có,

Giương cao cùng với Đấng Phục Sinh.

 

Suy Niệm 9: Tiếp tục nói về việc tái sinh

(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)

1. Bài Tin Mừng hôm nay tiếp tục kể lại cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa Đức Giêsu và ông Nicôđêmô. Ông đã để ý nghe Chúa giảng và được thấy phép lạ Chúa làm, ông bắt đầu tin Chúa, ông có nhiều thắc mắc, và hôm nay ông tới gặp Chúa để xin Chúa giải đáp. Chúa cho ông biết: muốn được tái sinh để được vào Nước Trời thì:

- Phải nhờ tác động của Thánh Linh: “Gió muốn thổi đâu thì thổi... mọi kẻ sinh bởi Thánh Linh cũng vậy”.

- Nhờ tin vào Đức Giêsu: “Không ai lên trời được ngoài người đã từ trời xuống, tức là Con  Người vốn ở trên trời”.

2. Đức Giêsu cho ông biết: “Nếu ông muốn vào Nước Trời, ông phải tái sinh, phải sinh lại trong nước và Thánh Thần”. Dĩ nhiên Chúa không bảo ông phải chui vào lòng mẹ mà sinh ra lần nữa, Chúa có ý bảo ông phải lãnh nhận phép Rửa tội. Phép rửa tội là bí tích tái sinh  làm cho chúng ta được trở thành con Thiên Chúa, tức là qua dòng nước đổ trên đầu, đó là dấu hiệu của Chúa Thánh Thần hoạt động bên trong. Nói rõ hơn, nhờ bí tích rửa tội, Chúa Thánh Thần đến với linh hồn chúng ta, Ngài cải hóa và đổi mới con người chúng ta.

3. Theo Tin Mừng của thánh Gioan, chúng ta có thể cắt nghĩa chữ “tái sinh” như sau: Tái sinh có nghĩa là người gia nhập Giáo hội Chúa qua bí tích rửa tội mà vẫn giữ nguyên bản ngã của mình. Bản chất con người đó không hề bị tiêu tan nhưng được chữa lành và bồi bổ trong ân lộc của Ba Ngôi Thiên Chúa, và cuối đời họ được sống viên mãn với chính Thiên Chúa Ba Ngôi.

Cho nên chữ tái sinh “bởi trên cao”có nghĩa là sinh lại bởi Thiên Chúa, trở nên con cái Thiên Chúa, chấp nhận nguyên tắc sống siêu nhiên, một bản tính mới như nâng hẳn chúng ta lên, vượt khỏi điều kiện tầm thường nhân loại: Từ thân phận tội lỗi đáng trầm luân mà được nâng lên làm con Thiên Chúa cùng được thừa hưởng gia nghiệp Nước Trời.

4. Được sống muôn đời, đó là điều quan trọng nhất, đó là mục tiêu cuối cùng của con người, đó là một hồng ân cần được con người khiêm tốn đón nhận, chứ không phải là đối tượng để hiểu biết suông mà thôi. Trong cuộc đối thoại, chúng ta thấy Đức Giêsu không những mời gọi ông Nicôđêmô nâng tâm hồn mình lên, hãy để cho Thánh Thần thanh tẩy để có thể nhìn thấy và bước vào trong Nước Thiên Chúa.

Hơn nữa, cũng trong cuộc đối thoại này, chúng ta có thể ghi nhận một mạc khải quan trọng khác nữa, đó là Chúa Thánh Thần chỉ được ban xuống cho con người nhờ qua và sau cuộc vượt qua của Đức Giêsu, qua và sau cái chết, sự Phục Sinh của Chúa. Cùng với ông Nicôđêmô, chúng ta hãy đến với Đức Giêsu để cho Ngài dạy chúng ta biết về Thiên Chúa Cha và đồng thời sẵn sàng lãnh nhận Chúa Thánh Thần.

5. “Như ông Maisen  đã giương cao con rắn trong sa mạc...”

Để tin nhận Đức Giêsu, con người không chỉ phải  thấy những việc làm cả thể của Ngài, mà còn phải nhìn Ngài trên Thập giá nữa. Đây là cái nhìn mà Đức Giêsu ám chỉ đến khi nhắc lại sự kiện Maisen treo một con rắn đồng trong sa mạc, để những ai bị rắn cắn nhìn lên sẽ được chữa lành. Với hình ảnh con rắn đồng chịu treo lên cao để được nhìn ngắm, Đức Giêsu ám chỉ đến cái chết của Ngài trên Thập giá. Như vậy, biết Ngài và tin nhận Ngài là có thể nhận ra vinh quang của Ngài khi Ngài bị treo trên Thập giá, đó là chân dung đích thực của Ngài mà con người cần phải nhận ra và chiêm ngắm (Mỗi ngày một tin vui).

6. Tái sinh chẳng khác gì một qui luật đòi buộc con người phải thoát ra khỏi con người cũ của mình. Không chịu thoát ra, nghĩa là không đi vào con đường tự hủy thì không thể có việc tái sinh. Hay nói khác đi, tái sinh là cởi bỏ con người cũ, là trở thành như trẻ thơ, là hoàn toàn chấp nhận lệ thuộc vào Thiên Chúa, là khước từ tự  cứu lấy mình bằng những cố gắng, những lý lẽ và phương tiện riêng của mình.

7. Truyện: Câu chuyện hai hạt giống.

Có hai hạt giống nằm cạnh nhau trong một mảnh đất mầu mỡ. Hạt giống thứ nhất tâm sự: “Tôi muốn lớn lên, tôi muốn cho rễ của tôi bén sâu dưới lòng đất và cho mầm sống của tôi vượt qua cái lớp vỏ cứng cỏi của mặt đất... Tôi muốn phô trương những cái nụ của tôi như những biểu ngữ báo hiệu mùa xuân đang tới. Tôi muốn đón nhận sự ấm áp của mặt trời trên tôi và hứng lấy những lời chúc lành của những giọt sương mai trên những cành hoa của tôi”.

Thế là hạt giống đó bắt đầu triển nở.

Hạt giống thứ hai nói: “Tôi rất lo sợ, nếu rễ của tôi đâm sâu, tôi không biết sẽ phải gặp những điều gì dưới lòng đất tối tăm kia. Nếu cố gắng trồi lên mặt đất cứng cỏi kia, sợ rằng mầm non của tôi sẽ bị gẫy dập... Nếu nụ của tôi nở, có thể ốc sên sẽ đến ăn, và nếu tôi nở hoa, có thể sẽ bị  bàn tay của một em bé tinh nghịch nhổ lên khỏi mặt đất. Thôi, tốt hơn hết là tôi chờ cho đến khi nào thật an toàn, tôi mới bắt đầu triển nở”.

Và hạt giống đó tiếp tục chờ.

Một chú gà mái đang vô tử bới đất tìm mồi, thấy hạt giống ở gần đấy, nó liền mổ ăn một cách ngon lành, và thế là hết đời một hạt giống nhát đảm.

David L. Weatherford đã nói một câu hay: “Khi đối mặt với một thử thách nào đó, hãy tim cách vượt qua nó chứ đừng tìm lối thoát”. Vì người nào càng trốn tránh thử thách, thì chính thử thách lớn nhất của con người là sự nhát đảm sẽ đè bẹp họ.

 

Suy Niệm 10: Sinh lại như thế nào

(Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)

A. Hạt giống...

Chúa Giêsu tiếp tục đối thoại với Nicôđêmô về việc tái sinh. Đại ý bài Tin Mừng hôm nay: Sinh lại như thế nào.

Nicôđêmô hỏi: “Việc ấy xảy ra thế nào được?”

Chúa Giêsu lại trả lời nhờ tác động của Thánh Linh (“Gió muốn thổi đâu thì thổi…mọi kẻ sinh bởi Thánh Linh cũng vậy”) và nhờ tin vào Chúa Giêsu (“không ai lên trời được ngoài người đã từ trời xuống, tức là con người vốn ở trên trời”).

B...Nẩy mầm.

1. “Tái sinh là cởi bỏ con người cũ, là trở thành như trẻ thơ là hoàn toàn chấp nhận lệ thuộc vào Thiên Chúa, là khước từ ý muốn tự cứu lấy mình bằng những cố gắng, những lý lẽ và phương tiện riêng của mình” (Mỗi ngày một tin vui).

2. Mục sư Rober Fangum, trong một cuốn sách được sếp vào loại best seller (bán chạy nhất), đã viết: “những gì tôi cần biết, tôi đều học được lúc tôi còn ở nhà trẻ”. Ông kể ra những bài học vỡ lòng quý giá khi còn ở nhà trẻ như sau:

Hãy chia sẻ mọi sự, hãy chơi đúng luật, đứng làm tổn thương người khác, và nếu có xúc phạm đến ai thì hãy xin lỗi.

Lấy đâu thì trả đó, dọp dẹp những gì mình bày ra, nhất là không lấy những gì không thuộc về mình.

Biết ngạc nhiên trước màu nhiệm của cuộc sống.

Chính Chúa Giêsu cũng dạy: “Nếu các con không nên giống như trẻ nhỏ, chúng con không được vào Nước trời”. (trích “Chờ đợi Chúa”).

3. Thực ra biết bao nhiêu lần tôi muốn sinh lại thành con người mới, nhưng lực bất tòng tâm. Đó bởi vì việc sinh lại không chỉ bởi do sức riêng của tôi mà còn phải nhờ ơn Chúa.

4. Một bài thơ:

“Cảm thấy mình hoàn toàn mới

Được làm mới lại

Như mùa Xuân

Nghị lực tôi bừng tỉnh dậy

Nhuệ khí mới hứa hẹn

Tôi đã ra khỏi mùa Đông

Trở thành trẻ lại

Trở thành nhỏ lại

Để có thể lớn lên(…)

Trở thành không không

Để có thể tái sinh thành người khác.

Nhưng muốn thế, trước tiên phải chết cho con người cũ

với những suy nghĩ cũ và những lề thói cũ

điều này thực khó khi mình đã già

Nhưng rất đáng làm

Phải cởi mở lòng mình như cho thứ men mới:

Đó là Thánh Linh Thiên Chúa, nguồn sống Thần linh…” (Góp nhặt).

5. “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, con người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào người thì được sống đời đời”.

Chuyện kể về hai cậu bé người An độ, một theo đạo Hin-đu và một theo đạo Công giáo. Cậu bé theo đạo Hin-đu thì luôn tìm các chê bai Thiên Chúa của cậu bé Công giáo. Một ngày kia, cậu ta lại dở giọng ra và nói: “Thiên Chúa của tôi thì quyền thế, mạnh mẽ, giàu có, chứ đâu nào như Thiên Chúa của bạn?”

Cậu bé Công giáo lắng nghe và ôn tồn đáp lại: “Nhưng Thiên Chúa của bạn thì không chết cho bạn còn Thiên Chúa của tôi thì chết cho tôi!”.

Lạy Chúa, Chúa đã chết và sống lại, để từ đây con không còn chết vì lối sống ích kỉ, kiêu căng thường gây ra chiến tranh. Nhưng được sống dồi dào nhờ biết cho đi, cảm thông và tha thứ. Lạy Chúa Giêsu, con tin Chúa đã chết và sống lại vì con. (Epphata).

6. Mầm khác.

A. Ngày xửa ngày xưa có một con búp bê bằng muối. Một hôm, búp bê muốn học hỏi, khám phá thêm về thế giớ bên ngoài, cô ta quyết định làm một chuyến du lịch. Cô đi khắp nơi và học hỏi được nhiều điều hữu ích. Ngày kia, búp bê muối lần mò đến một bờ biển, đứng trước đại dương nhưng không biết đại dương là gì. Tò mò cô ta liền lên tiếng hỏi:

- Ngài là ai vậy?

Đại dương trả lời:

- Tôi không thể nói cho cô biết tôi là ai.Nhưng nếu muốn biết thì cô hãy bước vào trong tôi, lập tức cô sẽ biết.

Tuy hơi sợ nhưng vì tò mò nên búp bê muối từ từ bước vào lòng biển. Càng vào sâu, thân thể búp bê càng từ từ tan biến. Cho đến khi chỉ còn là một hạt muối bé tí, cô mới bắt đầu la lên:

- A! bây giờ tôi mới thực sự biết tôi là ai.

B. Có hai hạt giống nằm cạnh nhau trong một mảnh đất màu mỡ.

Hạt giống thứ nhất tâm sự:”Tôi muốn lớn lên. tôi muốn cho rễ của tôi bén sâu dưới lòng đất và cho mầm sống của tôi vượt qua cái lớp vỏcứng cỏi của mặt đất...Tôi muốn phô trương những cía nụ của tôi như những biểu ngữ báo hiệu mùa xuân đang tới. Tôi muốn đón nhận sự ấm áp của mặt trời trên mặt tôi và hứng lấy những lời chúc lành của những giọt sương mai trên những cánh hoa của tôi”

Thế là hạt giống đó bắt đầu triển nở.

Hạt giống thứ hai nói: “Tôi rất lo sợ, nề rễ của tôi đâm sâu, tôi không biết sẽ gặp phải điều gì dưới lòng đất tối tăn kia. Nếu có gắng trồi lên mặt đất cứng cỏi kia, sợ rằng mầm non của tôi sẽ bị gẫy dập...nếu nụ của tôi nở, có thể ốc sén sẽ đến ăn, và nếu tôi nở hoa, có thể dẽ bị bàn tay của một em bé tinh nghịch nhổ lên khỏi mặt đất. Thôi, tốt hơn hết là tôi chờ cho đến khi nào thật an toàn, tôi mới bắt đầu triển nở.

Và hạt giống đó tiếp tục chờ.

Một chú gà mái đang vô tư bới đất tìm mồi, thấy hạt giống gần đấy, liền mổ một cách ngon lành.

(Jack Canfield and Mark Victor Hansen, Chicken Soup for the Soul)

 

Suy Niệm 11: Nhờ tác động của Thánh Linh

(Lm Giuse Đinh Tất Quý)

1. Hôm qua, chúng ta thấy Chúa Giêsu đòi hỏi phải tái sinh. Hôm nay, Chúa giải thích tái sinh hay sinh lại là sinh như thế nào.

Khi Nicôđêmô hỏi: “Việc ấy xảy ra thế nào được?” (Ga 3,9).

Chúa Giêsu trả lời là nhờ tác động của Thánh Linh “Gió muốn thổi đâu thì thổi…mọi kẻ sinh bởi Thánh Linh cũng vậy” và nhờ tin vào Chúa Giêsu “không ai lên trời được ngoài người đã từ trời xuống, tức là Con Người vốn ở trên trời” (Ga 3,13).

“Tái sinh là cởi bỏ con người cũ, là trở thành như trẻ thơ, là hoàn toàn chấp nhận lệ thuộc vào Thiên Chúa, là khước từ ý muốn tự cứu lấy mình bằng những cố gắng, những lý lẽ và phương tiện riêng của mình”. (Mỗi ngày một tin vui)

Tái sinh chẳng khác gì một qui luật đòi buộc con người phải thoát ra khỏi con người cũ của mình. Không chịu thoát ra, nghĩa là không đi vào con đường tự hủy thì không thể có việc tái sinh.

Có hai hạt giống nằm cạnh nhau trong một mảnh đất màu mỡ.

Hạt giống thứ nhất tâm sự: “Tôi muốn lớn lên. Tôi muốn cho rễ của tôi bén sâu dưới lòng đất và cho mầm sống của tôi vượt qua cái lớp vỏ cứng cỏi của mặt đất...Tôi muốn phô trương những cái nụ của tôi như những biểu hiện báo hiệu một mùa xuân đang tới. Tôi muốn đón nhận sự ấm áp của mặt trời trên tôi và hứng lấy những lời chúc lành của những giọt sương mai trên những cánh hoa của tôi”.

Thế là hạt giống đó bắt đầu triển nở.

Hạt giống thứ hai nói: “Tôi rất lo sợ, nếu rễ của tôi đâm sâu, tôi không biết sẽ gặp phải điều gì dưới lòng đất tối tăm kia. Nếu có gắng trồi lên mặt đất cứng cỏi kia, sợ rằng, mầm non của tôi sẽ bị gẫy dập...nếu nụ của tôi nở, có thể ốc sên sẽ đến ăn, và nếu tôi nở hoa, có thể sẽ bị bàn tay của một em bé tinh nghịch nào đó nhổ lên khỏi mặt đất. Thôi, tốt hơn hết là tôi chờ cho đến khi nào thật an toàn, tôi mới bắt đầu triển nở.

Và hạt giống đó tiếp tục chờ.

Một chú gà mái đang vô tư bới đất tìm mồi, thấy hạt giống gần đấy, liền mổ một cách ngon lành và nuốt ngay vào bụng. Thế là hết đời một hạt giống.

David L. Weatherford đã nói rất hay: “Khi đối mặt với một thử thách nào đó, hãy tìm cách vượt qua nó chứ đừng tìm lối thoát”. (Jack Canfield and Mark Victor Hansen, chicken)

2. Phải nói là con đường làm cho mình trở nên một con người mới là một con đường rất khó đi, nhưng chỉ khó với những ai thiếu niềm tin và thiếu ý chí, còn đối với những người có đức tin mạnh và một chí khí can cường, thì nhất định sẽ thành công.

Một hôm bà chị của thánh Thoma Aquinô hỏi một người:

- Phải làm gì để hưởng hạnh phúc đời đời?

Người ấy trả lời:

- Phải muốn được như thế.

Vâng! Đúng như vậy, trước hết là chính mình phải muốn, muốn một cách mạnh mẽ.

Khi thánh Phanxicô đệ Salê nghe tin thánh Phanxicô Xaviê được phong thánh. Ngài nói:

- Đó là Phanxicô thứ ba được phong thánh. Tôi sẽ phải là thánh Phanxicô thứ bốn.

Và người đã giữ lời hứa và ngài đã trở thành thánh Phanxicô thứ 4 của Hội Thánh.

Phải muốn và đồng thời cũng phải dám hy sinh. Chính Chúa Giêsu cũng đã cho biết con đường theo Ngài là con đường hẹp!

Ông François Piza người hùng đã chiến thắng đất Pérou trong một cuộc thám hiểm. Trong khi đi thám hiểm, có lúc phái đoàn của ông đã bị đặt vào một hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Vì không chịu được những gian nan trước mắt, đám thủy thủ đã nổi dậy đòi ông phải quay trở về, nhưng Piza trả lời:

- Phía bắc con đường chúng ta đang đi là một cuộc sống dễ dàng và không nguy hiểm. Đi theo hướng đó chúng ta sẽ thất bại và khổ sở. Trái lại, nếu hướng về phía nam, chúng ta sẽ phải cắn răng chịu đựng những khó khăn, đương đầu với những thách đố, cam chịu những thiếu thốn, nhưng thành công, hạnh phúc, giàu sang, vinh hiển sẽ tiếp đón chúng ta. Vậy, các anh hãy tự chọn con đường đi.

Gần hết đám thủy thủ đã chọn con đường phía bắc quay trở về. Chỉ có 12 người biết theo con đường Piza đã vạch. Và 13 người can đảm ấy, sau những ngày gian nan khốn khó, cay đắng trăm bề, tất nhiên là phải chịu nhiều thiếu thốn, nhưng họ vẫn không chịu lùi bước trước khó khăn, và cuối cùng họ đã thành công.

Trước khi phát minh ra bóng đèn tròn, Thomas Edison đã phải tiến hành hơn 2.000 cuộc thử nghiệm. Một phóng viên trẻ hỏi về cảm giác của ông sau khi thất bại quá nhiều lần như vậy. Ông nói: “Tôi chưa bao giờ thấy mình thất bại, dù chỉ một lần. Tôi phát minh ra bóng đèn tròn. Quá trình phát minh này có đến 2.000 bước!”

Con đường vinh quang trần thế mà đã phải trả giá như vậy, thử hỏi con đường vinh quang Nước Trời còn phải được trả giá cao hơn như thế nào.

 

They had everything in common – Suy niệm theo The WAU ngày 26.4.2022
Br. Phaolô Vũ Đức Thành, SDD chuyển ngữ

Nguồn: The Word Among Us – April 2022

Tuesday April 26th 2022
Meditation: Acts 4:32-37

They had everything in common. (Acts 4:32)

At first glance, these early believers didn’t seem to have anything in common. They came from different social classes and practiced different trades. They spoke a variety of languages. Some had been part of God’s chosen people for generations while others were newcomers.

However, when each of them heard and believed the good news of Jesus’ resurrection, they felt moved by the Holy Spirit to come together and form a new community of brothers and sisters. Suddenly one another’s well-being became their primary concern. They realized that everything they had was on loan from God, intended to help build his kingdom. So they brought everything—possessions, riches, skills, and talents—and laid them at the feet of the apostles.

As Christians, we may differ in many ways, but we have what is most essential in common: we have been baptized into the one body of Christ. All we are and have is given to us so that we can bless one another. So how can we live out this call? Let’s look at some examples.

Roger had always skipped over the notice in the parish bulletin seeking catechists, but this time he realized those CCD classes were taking place during an hour when he had no other commitments. So he took a deep breath and volunteered.

While walking with her husband, Gracie saw a woman shivering under a bridge. She immediately pictured the fur coat hanging in her closet and remembered the old saying, “The coat unused in your closet belongs to the one who needs it.” Gracie learned the woman’s name and asked her to wait while she went home to get her that coat.

Ellen often found the news depressing, but one night the image on the television of a starving child’s face pierced her heart. She pledged to pray a daily Rosary for that region of the world. Eventually, she was able to make a small, regular donation to a mission group there.

These believers found creative ways to build up the common good. How is God inviting you to be a little more generous with your brothers and sisters today?

“Holy Spirit, show me one specific way to make myself more available to someone today.”

Thứ Ba ngày 26.4.2022
Suy niệm: Cv 4, 32-37

 

Họ để mọi sự làm của chung (Cv 4,32)

Thoạt nhìn, những tín đồ ban đầu này dường như không có điểm chung nào. Họ đến từ các tầng lớp xã hội khác nhau và làm các ngành nghề khác nhau. Họ nói nhiều ngôn ngữ khác nhau. Một số đã là một phần của dân được Thiên Chúa tuyển chọn qua nhiều thế hệ, trong khi những người khác là những người mới.

Tuy nhiên, khi mỗi người trong số họ nghe và tin vào Tin mừng về sự phục sinh của Chúa Giêsu, họ cảm thấy được Chúa Thánh Thần tác động để đến với nhau và hình thành một cộng đồng anh chị em mới. Đột nhiên, hạnh phúc của nhau trở thành mối quan tâm hàng đầu của họ. Họ nhận ra rằng tất cả những gì họ có là họ mượn từ Chúa, nhằm mục đích giúp xây dựng vương quốc của Ngài. Vì vậy, họ đã mang mọi thứ – tài sản, của cải, kỹ năng và tài năng – và đặt chúng dưới chân các Tông đồ.

Là các tín hữu, chúng ta có thể khác nhau theo nhiều cách, nhưng chúng ta có điểm chung cốt yếu nhất: chúng ta đã được Thanh Tẩy vào thân thể duy nhất của Đức Kitô. Tất cả những gì chúng ta là và có đều được trao cho chúng ta để chúng ta có thể xây dựng hạnh phúc cho nhau. Vậy làm thế nào chúng ta có thể thực hiện lời kêu gọi này? Hãy xem một số ví dụ.

Roger đã luôn lướt qua mục thông báo trong bản tin của giáo xứ để tìm giáo lý viên, nhưng lần này anh nhận ra rằng các lớp giáo lý đó đang diễn ra trong một giờ khi anh không có một công việc nào khác. Vì vậy, anh ta hít một hơi thật sâu và tình nguyện đi dạy.

Khi đang đi dạo cùng chồng, Gracie nhìn thấy một người phụ nữ đang run rẩy dưới gầm cầu. Cô ấy ngay lập tức nghĩ đến chiếc áo khoác lông thú đang treo trong tủ của mình và nhớ lại câu nói xưa, “Chiếc áo khoác không dùng đến trong tủ của bạn sẽ thuộc về người cần nó”. Gracie đã biết tên của người phụ nữ và yêu cầu bà chờ đợi trong khi về nhà để lấy cho bà chiếc áo khoác đó.

Ellen thường thấy tin tức rất buồn chán, nhưng một tối nọ, hình ảnh trên truyền hình về khuôn mặt của một đứa trẻ chết đói đã đâm sâu vào trái tim cô. Cô cam kết sẽ lần hạt một chuỗi Mân Côi hằng ngày cho khu vực đó trên thế giới. Cuối cùng, cô ấy đã có thể quyên góp tuy ít ỏi nhưng thường xuyên cho một nhóm truyền giáo ở đó.

Những tín hữu này đã tìm ra những cách sáng tạo để xây dựng công ích. Làm thế nào Thiên Chúa mời gọi bạn quảng đại hơn một chút với anh chị em của bạn ngày hôm nay?

Lạy Chúa Thánh Thần, xin chỉ cho con một cách cụ thể để giúp con sẵn sàng hơn với ai đó ngày hôm nay.

Ga 3, 7-15
Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió,
nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu (Ga 3,8)

 “Gió”, một bài thơ của Robert Louis Stevenson, mô tả trải nghiệm của một người về gió như thế này:

Tôi đã thấy những điều khác nhau mà bạn đã làm,
Nhưng bạn luôn luôn che giấu.
Tôi cảm thấy bạn xô đẩy, tôi nghe tiếng bạn kêu gọi,
Nhưng tôi không thể nhìn thấy bạn tí nào cả.

Khi Chúa Giêsu mô tả hành động “vô hình” của Chúa Thánh Thần đối với Nicôđêmô, Ngài sử dụng những hình ảnh tương tự. Giống như gió, Thần Khí không thể nhìn thấy, nhưng chúng ta có thể cảm nhận được tiếng kêu gọi của Ngài và cảm nhận được “sự thúc đẩy” của Ngài. Tất cả chúng ta đều đã cảm nghiệm điều này; tất cả chúng ta đều có lúc cảm thấy bị thúc giục làm điều gì đó – hoặc không làm điều gì đó – mà trước đây chúng ta không nghĩ tới. Bạn có thể nhớ lại và muốn liên hệ với người mà bạn đã lâu không gọi. Hoặc khi bạn chuẩn bị nói điều gì đó tiêu cực, bạn nhận ra rằng bạn nên gìn giữ miệng lưỡi của mình. Đó chính là Chúa Thánh Thần!

Khi bạn tuân theo những lời thúc giục của Thánh Thần, bạn làm cho Ngài “hữu hình” cho những người xung quanh bạn. Giống như Nicôđêmô, nhiều người ngày nay đang tìm kiếm bằng chứng hữu hình rằng Thiên Chúa có thật. Thông thường, ngay cả khi bạn nói một cách thuyết phục, đó không phải là những lời thực tế thu hút mọi người đến với Chúa Giêsu. Đó là tinh thần đằng sau lời nói của bạn. Đó là cách để lắng nghe Thánh Thần. Khi bạn cố gắng làm theo Thánh Thần, mọi người sẽ thấy rằng Thiên Chúa có thật và đang hoạt động trong và qua sự chứng kiến ​​của bạn.

Bạn càng cố gắng làm theo sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, bạn càng đạt được điều đó tốt hơn. Thay vì nhắm mắt làm ngơ, bạn có thể tặng tiền hoặc một lời tốt đẹp cho một người vô gia cư. Khi ai đó nói với bạn những vấn đề của họ, thay vì khó chịu, bạn sẽ kiên nhẫn lắng nghe và đề nghị nói lời cầu nguyện với họ. Khi bị chỉ trích bất công, bạn sẽ đáp lại bằng sự dịu dàng thay vì tức giận.

Mặc dù chúng ta không thể nhìn thấy Thánh Thần bằng mắt của mình, nhưng tác động của Ngài thật khó để bỏ qua. Thông qua bạn, mọi người sẽ có thể cảm nhận được tiếng gọi nhẹ nhàng của Ngài. Tuyệt vời hơn nữa, họ có thể bị thu hút bởi vòng tay yêu thương vô hình – nhưng mạnh mẽ – của Ngài.

Lạy Chúa, xin hãy mở tai con để nghe Thánh Thần Chúa kêu gọi, và ban cho con can đảm để đi theo nơi Ngài dẫn dắt.​​​​​​​

You must be born anew – Suy niệm song ngữ Anh – Việt, ngày 26.4.2022
Tác giả: Don Schwager

(http://dailyscripture.servantsoftheword.org/readings/)
Bro. Paul Thanh Vu, SDD – chuyển ngữ

Tuesday (April 26)
“You must be born anew”

Scripture: John 3:7-15  

7 Do not marvel that I said to you, `You must be born anew.’ 8 The wind blows where it wills, and you hear the sound of it, but you do not know whence it comes or whither it goes; so it is with every one who is born of the Spirit.” 9 Nicodemus said to him, “How can this be?”10 Jesus answered him, “Are you a teacher of Israel, and yet you do not understand this? 11 Truly, truly, I say to you, we speak of what we know, and bear witness to what we have seen; but you do not receive our testimony. 12 If I have told you earthly things and you do not believe, how can you believe if I tell you heavenly things? 13 No one has ascended into heaven but he who descended from heaven, the Son of man. 14 And as Moses lifted up the serpent in the wilderness, so must the Son of man be lifted up, 15 that whoever believes in him may have eternal life.”

Thứ Ba ngày 26.4.2022
“Các ông cần phải được tái sinh”

 

Ga 3,7-15

7 Ông đừng ngạc nhiên vì tôi đã nói: các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên.8 Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy.”9 Ông Ni-cô-đê-mô hỏi Người: “Làm sao những chuyện ấy có thể xảy ra được? “10 Đức Giê-su đáp: “Ông là bậc thầy trong dân Ít-ra-en, mà lại không biết những chuyện ấy!11 Thật, tôi bảo thật ông: chúng tôi nói những điều chúng tôi biết, chúng tôi làm chứng về những điều chúng tôi đã thấy, nhưng các ông không nhận lời chứng của chúng tôi.12 Nếu tôi nói với các ông về những chuyện dưới đất mà các ông còn không tin, thì giả như tôi nói với các ông về những chuyện trên trời, làm sao các ông tin được? “13 Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống.14 Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy,15 để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.

Meditation: Do you know the healing power and victory of the cross of Jesus Christ? Jesus spoke to Nicodemus of a “new birth in the Spirit” which would come about through the victory he would accomplish through his death and rising. The Hebrew word for “spirit” means both “wind” and “breath”. Jesus explained to Nicodemus: You can hear, feel, and see the effects of the wind, but you do not know where it comes from. In like manner, you can see the effects of the Holy Spirit in the lives of those whom the Spirit touches with the peace, joy, and signs of God’s power and love at work in them.

 

The “lifting up” of the Son of Man 

Jesus explained to Nicodemus that the “Son of Man” must be “lifted up” to bring the power and authority of God’s kingdom to bear on the earth. The title, “Son of Man,” came from the prophet Daniel who describes a vision he received of the Anointed Messiah King who was sent from heaven to rule over the earth (Daniel 7:13-14). Traditionally when kings began to reign they were literally “lifted up” and enthroned above the people. Jesus explains to Nicodemus that he will be recognized as the Messiah King when he is “lifted up” on the cross at Calvary. Jesus died for his claim to be the Messiah King sent by the Father to redeem, heal, and reconcile his people with God.

Jesus points to a key prophetic sign which Moses performed in the wilderness right after the people of Israel were afflicted with poisonous serpents. Scripture tells us that many people died in the wilderness because of their sin of rebellion towards Moses and God. Through Moses’ intervention, God showed mercy to the people and instructed Moses to “make a fiery serpent, and set it on a pole; and every one who is bitten, when he sees it, shall live”(Numbers 21:8). This miraculous sign was meant to foreshadow and point to the saving work which Jesus would perform to bring healing and salvation to the world.

Cyril of Alexandria (376-444 AD), an early church father, explains the spiritual meaning of the bronze serpent and how it points to the saving work of Jesus Christ:

“This story is a type of the whole mystery of the incarnation. For the serpent signifies bitter and deadly sin, which was devouring the whole race on the earth… biting the Soul of man and infusing it with the venom of wickedness. And there is no way that we could have escaped being conquered by it, except by the relief that comes only from heaven. The Word of God then was made in the likeness of sinful flesh, ‘that he might condemn sin in the flesh’ [Romans 8:3], as it is written. In this way, he becomes the Giver of unending salvation to those who comprehend the divine doctrines and gaze on him with steadfast faith. But the serpent, being fixed upon a lofty base, signifies that Christ was clearly manifested by his passion on the cross, so that none could fail to see him.” (COMMENTARY ON THE GOSPEL OF JOHN 2.1)

Our new birth in the Holy Spirit 

The bronze serpent which Moses lifted up in the wilderness points to the cross of Christ which defeats sin and death and obtains everlasting life for those who believe in Jesus Christ. The result of Jesus “being lifted up on the cross” and his rising from the dead, and his exaltation and ascension to the Father’s right hand in heaven, is our “new birth in the Spirit” and adoption as sons and daughters of God. God not only frees us from our sins and pardons us, he also fills us with his own divine life through the gift and working of his Spirit who dwells within us.

The Holy Spirit gives us spiritual power and gifts, especially the seven-fold gifts of wisdom and understanding, right judgment and courage, knowledge and reverence for God and his ways, and a holy fear in God’s presence (see Isaiah 11), to enable us to live in his strength as sons and daughters of God. Do you thirst for the new life which God offers you through the transforming power of his Holy Spirit?

“Lord Jesus Christ, your death brought life for us. Fill me with your Holy Spirit that I may walk in freedom and joy in the knowledge of your great victory over sin and death.”

Suy niệm: Bạn có biết quyền năng chữa lành và sự chiến thắng thập giá của Ðức Giêsu Kitô không? Ðức Giêsu nói với Nicôđêmô về “sự tái sinh trong Thần Khí” sẽ đến ngang qua sự chiến thắng mà Người sẽ hoàn tất ngang qua cái chết và sự phục sinh của mình. Hạn từ “ Thần Khí” của Dothái vừa có nghĩa là “gió” vừa có nghĩa là “hơi thở”. Ðức Giêsu giải thích cho ông Nicôđêmô: “Ông có thể nghe, cảm nhận, và thấy những ảnh hưởng của gió, nhưng ông không biết nó từ đâu tới. Trong cách thức tương tự, bạn có thể nhìn thấy những ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần trong đời sống của những người Chúa Thánh Thần chạm tới bằng sự bình an, niềm vui, và dấu chỉ sức mạnh và tình yêu của TC nơi công việc của họ.

Việc “treo” Con Người lên

Ðức Giêsu giải thích cho Nicôđêmô rằng “Con Người” phải được “treo lên” để mang lại sức mạnh và uy quyền của nước Thiên Chúa hầu tác động thế giới. Danh hiệu “Con Người” có từ ngôn sứ Danien, người mô tả thị kiến đã nhận được từ Vua Messia được xức dầu, Đấng được sai tới từ trời để thống trị địa cầu (Dn 7,13-14). Theo truyền thống, khi các vua bắt đầu cai trị, họ được “đưa lên cao” và tôn phong trên mọi người. Đức Giêsu giải thích với Nicôđêmô rằng Người sẽ được nhận ra là Vua Messia khi Người bị “treo lên” trên cây thập giá ở đồi Canvaria. Đức Giêsu chết vì lời tuyên bố mình là Vua Messia được Cha trên trời sai đến để cứu chuộc, chữa lành, và hòa giải dân Người với Thiên Chúa.

Ðức Giêsu chỉ ra dấu chỉ tiên báo mà ông Môisen đã làm trong hoang địa sau khi dân Israen chịu đau khổ vì những con rắn độc. Kinh thánh nói với chúng ta rằng nhiều người đã chết trong hoang địa vì tội lỗi của họ chống đối ông Môisen và Thiên Chúa. Qua lời khẩn cầu của ông Môisen, Thiên Chúa đã bày tỏ lòng thương xót với dân và hướng dẫn ông Môisen “Hãy làm một con rắn đồng, và để nó trên cái cột; bất cứ ai bị rắn cắn, nhìn lên nó, sẽ được sống” (Ds 21,8). Dấu chỉ lạ lùng này nhằm tiên báo và nói tới công việc cứu chuộc mà Ðức Giêsu sẽ thực hiện để đem lại sự chữa lành và ơn cứu độ cho thế giới.

Giáo phụ Cyril thành Alexandria (376-444 AD) giải thích ý nghĩa thiêng liêng của con rắn đồng và cách thức nó nhắm tới công cuộc cứu chuộc của Ðức Giêsu Kitô:

“Câu chuyện này là 1 dạng mầu nhiệm tổng thể của sự nhập thể. Vì con rắn tượng trưng cho tội lỗi đem lại cái chết và cay đắng, đang ăn tươi nuốt sống toàn thể nhân loại trên mặt đất… đang cắn xé linh hồn người ta và truyền vào cho nó nộc độc của sự độc ác. Và không có cách nào để chúng ta có thể thoát thân khi bị nó chế ngự, ngoại trừ niềm tin xuất phát từ trời. Thế rồi Ngôi Lời của Thiên Chúa đến mang thân xác giống như thân xác tội lỗi chúng ta để lên án tội lỗi nơi thân xác (Rm 8,3), như đã được viết. Trong cách thức này, Người trở nên Đấng đem lại ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai tiếp nhận những học thuyết của Thiên Chúa và nhìn lên Người với niềm tin kiên vững. Nhưng con rắn, được để trên nền cao, ám chỉ rằng Đức Kitô đã biểu lộ cách rõ ràng qua cuộc khổ nạn của Người trên thập giá, để không một ai mà không nhìn thấy Người” (Chú giải tin mừng Gioan 2.1).

Tái sinh trong Thần Khí

Con rắn đồng mà ông Môisen dựng lên trong hoang địa ám chỉ thập giá của Đức Kitô, đánh bại tội lỗi và sự chết và đem lại sự sống đời đời cho những ai tin tưởng vào Ðức Giêsu Kitô. Kết quả của Đức Giêsu “bị treo trên thập giá” và sự sống lại từ cõi chết, và sự lên trời của Người bên hữu Chúa Cha, là sự “tái sinh của chúng ta trong Thần Khí” và sự được nhận làm con cái của Thiên Chúa. Thiên Chúa không chỉ giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và tha thứ cho chúng ta, nhưng còn đỗ đầy lòng chúng ta với sự sống thần thiêng của chính Người ngang qua hồng ân và hoạt động Thần Khí của Người, Đấng ở trong chúng ta.

Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta sức mạnh thiêng liêng và các ơn sủng, đặc biệt bảy hồng ân của Người về khôn ngoan và minh mẫn, mưu lược và dũng mãnh, hiểu biết và kính sợ Thiên Chúa và những đường lối của Người, và kính sợ sự hiện diện của Thiên Chúa (Is 11) để giúp chúng ta sống trong sức mạnh Người như những người con cái của Thiên Chúa. Bạn có khao khát cuộc sống mới mà Thiên Chúa ban cho bạn ngang qua quyền năng biến đổi của Thánh Thần không?

Lạy Đức Giêsu Kitô, cái chết của Chúa đem lại sự sống cho chúng con. Xin đỗ đầy lòng con Thánh Thần của Chúa để con có thể bước đi trong tự do và vui mừng trong sự hiểu biết về sự chiến thắng vinh quang của Chúa trên tội lỗi và sự chết.

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây