Thứ ba tuần 24 thường niên.

Đăng lúc: Thứ ba - 19/09/2017 00:29 - Người đăng bài viết: Ban Truyen Thong

 

Thứ ba tuần 24 thường niên.

“Hỡi thanh niên, Ta truyền cho ngươi hãy chỗi dậy”.

 

Lời Chúa: Lc 7, 11-17

Khi ấy, Chúa Giêsu đến một thành gọi là Naim. Các môn đệ và đám đông dân chúng cùng đi với Người. Khi Người đến gần cửa thành, thì gặp người ta đang khiêng đi chôn người con trai duy nhất của một bà goá kia và có đám đông dân thành đi đưa xác với mẹ nó. Trông thấy bà, Chúa động lòng thương và bảo bà rằng: “Đừng khóc nữa”. Đoạn tiến lại gần, Người chạm đến quan tài và những người khiêng đứng lại. Bấy giờ Người phán: “Hỡi thanh niên, Ta truyền cho ngươi hãy chỗi dậy”. Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Rồi Người trao lại cho mẹ nó.

Mọi người đều sợ hãi và ngợi khen Thiên Chúa rằng: “Một tiên tri cao cả đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã thăm viếng dân Người”. Và việc này đã loan truyền danh tiếng Người trong toàn cõi Giuđêa và khắp vùng lân cận.

 

 

 

SUY NIỆM 1: Ý Nghĩa Của Cuộc Sống

Trong cuộc sống công khai, chắc chắn Chúa Giêsu đã chứng kiến nhiều cái chết cũng như tham dự nhiều đám tang. Nhưng việc Ngài làm cho kẻ chết sống lại được Tin Mừng ghi lại không quá ba lần: một em bé gái con của vị kỳ mục trong dân; Lazarô em trai của Marta và Maria; người thanh niên con của bà góa thành Naim. Cả ba trường hợp chỉ là hồi sinh, chứ không phải là phục sinh theo đúng nghĩa, bởi vì cuộc sống của những người này chỉ kéo dài được thêm một thời gian nữa, để rồi cuối cùng cũng trở về với bụi đất.

Chúa Giêsu đã không đến để làm cho con người được trường sinh bất tử ở cõi đời này, đúng hơn, Ngài đưa con người vào cuộc sống vĩnh cửu. Nhưng để đi vào cuộc sống vĩnh cửu thì điều kiện tiên quyết là con người phải kinh qua cái chết. Chết vốn là thành phần của cuộc sống và là một trong những chân lý nền tảng nhất mà Chúa Giêsu đến nhắc nhở cho con người. Mang lấy thân phận con người là chấp nhận đi vào cái chết. Chính Chúa Giêsu cũng không thoát khỏi số phận ấy. Thánh Phaolô đã nói về thái độ của Chúa Giêsu đối với cái chết: "Ngài đã vâng phục cho đến chết và chết trên Thập giá". Ðón nhận cái chết và đi vào cõi chết như thế nào để cuộc sống có ý nghĩa, đó là điều Chúa Giêsu muốn bày tỏ cho con người khi đi vào cái chết.

Một trong những cái chết vô nghĩa và do đó cũng chối bỏ ý nghĩa cuộc sống, đó là tự tước đoạt sự sống của mình. Những cái chết như thế là lời tự thú rằng cuộc sống không có, cuộc sống không còn ý nghĩa và như vậy không còn đáng sống. Jean Paul Sartre, người phát ngôn của cả thế hệ không tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống, đã viết trong tác phẩm "Buồn Nôn": "Tôi nghĩ rằng chúng ta đang ngồi đây ăn uống là để bảo tồn sự quí giá của chúng ta, nhưng kỳ thực, không có gì, tuyệt đối không có lý do gì để sống cả".

Chúa Giêsu đã vâng phục cho đến chết. Ðón nhận cái chết, Ngài đã thể hiện cho chúng ta thấy thế nào là một cuộc sống sung mãn, Ngài đã chứng tỏ cho chúng ta thấy thế nào là một cuộc sống có ý nghĩa và đáng sống. Ðón nhận cái chết như ngõ đón vào vinh quang phục sinh, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy điểm đến và vinh quang đích thực, đó là sự sống vĩnh cửu. Ngài đã vâng phục cho đến chết. Vâng phục của Ngài là vâng phục trong tin tưởng, phó thác, trong khiêm tốn và yêu thương; đó là điều mang lại ý nghĩa cho cuộc sống và làm cho cuộc sống trở thành đáng sống.

Nguyện xin Chúa Kitô Phục Sinh ban cho chúng ta niềm tin, can đảm và vui tươi để biết đón nhận và sống từng giây phút hiện tại một cách sung mãn, để tham dự vào sự phục sinh vinh hiển của Ngài.

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

SUY NIỆM 2: Người cho kẻ chết sống lại

Khi Đức Giêsu đến gần cửa thành, thì người ta khiêng một người chết đi chôn, người này là con trai duy nhất, và mẹ anh ta lại là một bà góa. Có một đám đông trong thành cùng đi với bà. Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói: “Bà đừng khóc nữa!”Rồi Người lại gần sờ vào quan tài. Các người khiêng dừng lại. Đức Giêsu nói: “Này người thanh niên, tôi bảo anh: hãy chỗi dậy!” (Lc. 7, 12-14)

Trong bốn Tin Mừng, chỉ một mình Thánh Lu-ca kể lại câu chuyện cho thanh niên con bà góa thành Naim sống lại.

Hôm đó, hai đoàn người gặp nhau ở gần cổng Naim: một đoàn có vị dẫn đầu là Đấng ban sự sống và một đoàn tiễn đưa người chết. Người chết là một con trai duy nhất của một bà góa. Tình trạng càng đau khổ hơn nữa cho bà mẹ góa này không còn người đàn ông nào đứng ra bảo lãnh tài sản mình trước pháp luật và bảo vệ danh dự mình trong xã hội trọng nam khinh nữ đó. Đó là lý do đau khổ cùng cực của bà khiến cho đoàn người đông đảo đã cảm thương đến tiễn đưa con bà, như bản văn lưu ý tới.

Đức Giêsu đã xúc động và cảm thương nỗi đau buồn lớn lao này. Người là con Thiên Chúa thấy rõ những khốn cực của loài người, người là con người nên càng vô cùng nhạy bén trước những nỗi bất hạnh và đau khổ của loài người. Nhiều trang Tin Mừng đã chứng tỏ cho chúng ta thấy rõ điều đó. Người dừng lại trước bà mẹ tuyệt vọng và thì thầm an ủi bà, với tấm lòng chân thành cảm thương nồng nàn qua giọng nói nghẹn ngào: “Bà đừng khóc nữa!”.

Rồi Người tiến về phía quan tài, sờ vào nó, Người kêu gọi với giọng nói lạ lùng: Này người thanh niên, tôi bảo anh: Hãy chỗi dậy! Người chết liền chỗi lên và bắt đầu nói. Đức Giêsu trao anh ta cho bà mẹ! một sự thật vô cùng kinh ngạc! không phải chỉ xảy ra lúc này mà còn cho đến tận cùng lịch sử loài người, mãi mãi Đức Kitô còn cho người ta sống lại, mãi mãi sứ điệp sự thật về phục sinh vẫn còn tiếp tục cho loài người. Đức Kitô, nhờ sự sống lại của Người đã mặc khải một sự sống phục sinh muôn đời: Một sự sống không bao giờ phải chết nữa, một sự sống hoàn toàn mới, vượt trên mọi xác phàm trần gian.

“Đức Giêsu đã trao anh ta cho bà mẹ”, Thánh Lu-ca đã đặc biệt chú thích thêm, để nhấn mạnh đến vai trò các phụ nữ trong thế giới đã liệng bỏ phụ nữ vào bóng tối không còn đếm xỉa gì đến công lao của họ. Người ta có thể đoán rằng chính lúc đó, Đức Giêsu đã tha thiết nghĩ đến Mẹ Người biết chừng nào! quyền năng và tâm tình tế nhị cảm thương đi đôi với nhau khi các Ngài bởi Thiên Chúa đến với nhân loại.

Suy niệm 3:

Thánh Luca đã viết câu chuyện này như một người quay phim. 
Ngài bắt đầu từ cảnh Đức Giêsu và các môn đệ cùng đi với một đám đông. 
Thầy trò và mọi người đang trên đường tiến vào thành Nain. 
Khi gần đến cửa thành thì lại gặp một đám đông khác đi ra. 
Đây là một đám tang lớn có đông người theo ra mộ. 
Sau đó là cận cảnh Đức Giêsu gặp bà mẹ của người chết. 
Cuối cùng trở lại với cảnh của hai đám đông kinh sợ ngỡ ngàng, 
và câu chuyện kỳ diệu lan ra khắp Giuđê và các vùng lân cận. 
Chuyện Đức Giêsu gặp đám tang là chuyện tình cờ trên đường. 
Nhưng điều đánh động trái tim Ngài lại không phải là chuyện người chết, 
dù anh thanh niên này chết khi còn cả một tương lai. 
Điều thu hút cái nhìn và mối quan tâm của Đức Giêsu chính là bà mẹ. 
Đó là một bà góa không còn chỗ nương tựa. 
Bà đã dự đám tang của người chồng. 
Và bây giờ bà lại dự đám tang của đứa con trai duy nhất. 
Chỗ dựa còn lại và cuối cùng cũng bị lấy đi. 
Đức Giêsu hiểu rất nhanh về nỗi đau của người phụ nữ. 
Bà biết mình bị trắng tay cả về tình cảm lẫn vật chất. 
Có lẽ bà đã nhiều lần tự hỏi: Thiên Chúa ở đâu? 
Đức Giêsu trông thấy bà, thấy nỗi đau và nước mắt. 
Ngài bảo: Bà đừng khóc nữa (c. 13). 
Dường như Ngài không có khả năng chịu được nước mắt của người khác. 
Khi thấy cô chị Maria khóc em là Ladarô đã chết (Ga 11, 33), 
Đức Giêsu đã thổn thức và xao xuyến, rồi Ngài bật khóc (Ga 11, 34). 
Sau này Ngài hỏi chị Maria Mađalêna khóc bên mộ vì mất xác Thầy: 
Này bà, tại sao bà khóc? (Ga 20, 15). 
Đức Giêsu hiểu rõ nỗi đau của sự chia ly bởi cái chết. 
Ngài cũng hiểu rõ về nước mắt của phận người, dù vì bất cứ lý do gì. 
Nhiệm vụ của Ngài là lau khô nước mắt và làm cho con tim vui trở lại. 
Đức Giêsu đã chạm đến quan tài, hay đúng hơn, 
chạm vào cái cáng khiêng xác được chôn theo kiểu người Do Thái. 
Ngài nói với anh như ra lệnh: Tôi bảo anh, hãy trỗi dậy (c.14). 
Anh thanh niên ngồi dậy và bắt đầu nói: anh đã được hoàn sinh. 
Như Êlia ngày xưa, Ngài trao anh cho bà mẹ (1 V 17,23). 
Ai là người vui nhất? Bà mẹ, người con, đám đông, hay Đức Giêsu? 
Có lẽ là Đức Giêsu, người đã đem lại hạnh phúc cho người khác. 
Khi đứa con lao vào vòng tay mẹ, 
khó lòng Ngài giấu được giọt nước mắt vì vui. 
Đám đông kêu lên: Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người (c.16). 
Thiên Chúa không chỉ thăm dân Do Thái qua Đức Giêsu (Lc 1, 68.78; 19, 44), 
Chương trình làm việc mỗi ngày của Ngài là thăm cả thế giới. 
Thiên Chúa Ba Ngôi vẫn đến thăm tôi qua bao người khác, 
và Ngài muốn tôi đi thăm để lau khô nước mắt cho người bạn gần bên. 

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giêsu, 
Khi làm người, Chúa đã nhận trái đất này làm quê hương. 
Chúa đã ban nó cho chúng con như một quà tặng tuyệt vời. 
Nếu rừng không còn xanh, dòng suối không còn sạch, 
và bầu trời vắng tiếng chim. 
thì đó là lỗi của chúng con. 
Lạy Chúa Giêsu, 
Chúa đã đến làm người để tôn vinh phận người, 
vậy mà thế giới vẫn có một tỷ người đói, 
bao trẻ sơ sinh bị giết mỗi ngày khi chưa chào đời, 
bao kẻ sống không ra người, nhân phẩm bị chà đạp. 
Đó là lỗi của chúng con. 
Lạy Chúa Giêsu, 
Chúa đến đem bình an cho người Chúa thương, 
vậy mà trái đất của chúng con chưa một ngày an bình. 
Chiến tranh, khủng bố, xung đột, có mặt khắp nơi. 
Người ta cứ tìm cách giết nhau bằng thứ vũ khí tối tân hơn mãi. 
Đó là lỗi của chúng con. 
Lạy Chúa Giêsu ở Belem, 
Chúa đã cứu độ và chữa lành thế giới bằng tình yêu khiêm hạ, 
nhưng bất công, ích kỷ và dối trá vẫn thống trị địa cầu. 
Chúa đến đem ánh sáng, nhưng bóng tối vẫn tràn lan. 
Chúa đến đem tự do, nhưng con người vẫn bị trói buộc. 
Đó là lỗi của chúng con. 
Vì lỗi của chúng con, chương trình cứu độ của Chúa bị chậm lại, 
và giấc mơ của Chúa sau hai ngàn năm vẫn chưa thành tựu. 
Mỗi lần đến gần máng cỏ Belem, 
xin cho chúng con nghe được lời thì thầm gọi mời của Chúa 
để yêu trái đất lạnh giá này hơn, 
và xây dựng nó thành mái ấm cho mọi người. 

 

(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.)

 

 

 SUY NIỆM:

1. Lòng thương xót

Để giúp đọc hiểu và cầu nguyện với bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay, trong một lớp giáo lý, Ma Soeur hỏi các em thiếu nhi: “Tại sao Chúa cho người con trai sống lại?” Các em trả lời: “Vì khi còn sống, người con đã sống đạo đức, ngoan ngoãn và học giỏi”!

Có lẽ, khi được hỏi, những người lớn như chúng ta cũng sẽ đưa ra một câu trả lời tương tự, dựa trên sự xứng đáng của con người trong tương quan ân sủng với Chúa: con người phải sống xứng đáng, phải giữ luật, thì Chúa mới ban an ơn; hay nói cách khác và một cách rộng hơn, ơn cứu độ là có điều kiện. Điều này đúng, nhưng không đúng hoàn toàn, hay ít nhất, không phải lúc nào cũng đúng, bởi vì ơn Chúa luôn vượt xa những nỗ lực của con người.

Thật vậy, bài Tin Mừng trình bày chúng ta một Thiên Chúa, được thể hiện nơi Đức Giê-su, với một khuôn mặt khác hẳn:
Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói: “Bà đừng khóc nữa”.

Chúa chạnh lòng thương trước nỗi đau của người mẹ mất người con trai duy nhất, trước mọi nỗi đau của loài người chúng ta; và Ngài chạnh lòng thương một cách nhưng không, nghĩa là không cần biết người mẹ hay người con đã từng là gì, đã làm gì, và có xứng đáng hay không. Chưa hết, tình thương của Chúa con đi xa hơn. Chúng ta nghe lại lời của Tin Mừng:

Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói: “Bà đừng khóc nữa”. Rồi Người lại gần, sờ vào quan tài và làm cho người con trai sống lại.

Như thế, vì thương người mẹ đang đau nỗi khổ mất con, hay đúng hơn, Chúa chạnh lòng vì tình yêu của người mẹ dành cho người con, nên Chúa cứu người con. Chứ không phải vì người con khi còn sống đã sống đạo đức, ngoan ngoãn và học giỏi.

3. Sự sống hôm nay

Đọc lại các Tin Mừng, chúng ta sẽ nghiệm ra được rằng, rất nhiều lần điều tương tự đã xẩy ra. Và đó cũng là trường hợp của hai mẹ con thánh nữ Mô-ni-ca và thánh Augustinô, và của vô vàn trường hợp trong đời sống của chúng ta: vì thương người mẹ, là thánh nữ Mô-ni-ca mà chúng ta mừng kính hôm nay, mà Chúa đã cứu người con, là thánh Âu-tinh, mà chúng ta mừng kính ngày mai. Như thế, Chúa cũng mến thương những người chúng ta thương mến trong Chúa. Chính vì thế mà chúng ta được mời gọi cầu nguyện cho nhau, cho những người còn sống cũng như những người đã qua đời.

Người con trai là người con duy nhất của người mẹ góa bụa. Đức Giêsu cũng là người con trai duy nhất của Mẹ Maria ; và về phương diện xã hội, Mẹ Maria của Ngài cũng « góa bụa »; vì thế, Ngài thấu suốt nỗi đau của người mẹ góa bụa mất người con duy nhất.

Sau khi cho sống lại, Đức Giêsu trao người con cho người mẹ. Như thế, người con bây giờ là quà tặng thuần túy của Đức Giê-su dành cho người mẹ. Và trong tương quan gia đình, cộng đoàn hay nhóm, chúng ta cũng được mời gọi nhận ra người này là quà tặng Chúa ban cho người kia. Bởi vì, đó chính là kinh nghiệm thiêng liêng nền tảng làm nên bầu khi yêu thương, tha thứ, bao dung và hiệp nhất giữa chúng ta.

3. Sự sống mai sau

Tuy nhiên, quà tặng này vẫn là quà tặng có giới hạn, vì đến một ngày nào đó, người con cũng phải chết một lần nữa, hay người mẹ phải lìa xa người con. Vì đó là thân phận chóng qua của loài người chúng ta. 
Đức Giê-su, Người Con Duy Nhất, cũng cảm thương thân phận phải chết của loài người chúng ta. Vì thế, trong cuộc Thương Khó, Người không chỉ « đụng vào quan tài » của người con đã chết, và của mỗi người chúng ta, nhưng còn để cho mình chịu đóng đinh và chịu chết trên Thập Giá, để cho thấy Người mạnh hơn sự chết và cả sự dữ nữa, để trao ban với tình yêu đến cùng sự sống đời đời cho loài người phải chết của chúng ta,

– để cho hai mẹ con, mà bài Tin Mừng của ngày lễ hôm nay kể lại, tìm lại được nhau và ở bên nhau mãi mãi trong sự sống muôn đời của Đức Ki-tô và Thiên Chúa Cha ;

– và để cho tất cả những ai thương mến nhau, trong đó có hai mẹ con là thánh nữ Mô-ni-ca và thánh Âu-tinh, và có mọi người chúng ta đang thương yêu nhau, bây giờ ở bên nhau, và sau này cũng được ở bên nhau mãi mãi, vì tình thương và lòng thương xót nhưng không và vô biên của Thiên Chúa.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

 

 

SUY NIỆM LỜI CHÚA MỖI NGÀY SONG NGỮ

Chúa chạnh lòng thương xót bà

con trai bà quá

Tuesday (September 19): “The Lord had compassion on her”

 

Scripture:  Luke 7:11-17  

11 Soon afterward he went to a city called Nain, and his disciples and a great crowd went with him. 12 As he drew near to the gate of the city, behold, a man who had died was being carried out, the only son of his mother, and she was a widow; and  a large crowd from the city was with her. 13 And when the Lord saw her, he had compassion on her and said to her, “Do not weep.” 14 And he came and touched the bier, and the bearers stood still. And he said, “Young man, I say to you, arise.” 15 And the dead man sat up, and began to speak. And he gave him to his mother. 16 Fear seized them all; and they glorified God, saying, “A great prophet has arisen among us!” and “God has visited his people!” 17 And this report concerning him spread through the whole of Judea and all the surrounding country.

Thứ Ba    19-9               Chúa chạnh lòng thương xót bà

 

Lc 7,11-17

11 Sau đó, Đức Giê-su đi đến thành kia gọi là Na-in, có các môn đệ và một đám rất đông cùng đi với Người.12 Khi Đức Giê-su đến gần cửa thành, thì đang lúc người ta khiêng một người chết đi chôn, người này là con trai duy nhất, và mẹ anh ta lại là một bà goá. Có một đám đông trong thành cùng đi với bà.13 Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói: “Bà đừng khóc nữa! “14 Rồi Người lại gần, sờ vào quan tài. Các người khiêng dừng lại. Đức Giê-su nói: “Này người thanh niên, tôi bảo anh: hãy trỗi dậy! “15 Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Đức Giê-su trao anh ta cho bà mẹ.16 Mọi người đều kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa rằng: “Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người”.17Lời này về Đức Giê-su được loan truyền khắp cả miền Giu-đê và vùng lân cận.

Meditation: How do you respond to the misfortunes of others? In a number of places the Gospel records that Jesus was “moved to the depths of his heart” when he met with individuals and with groups of people. Our modern use of the word “compassion” doesn’t fully convey the deeper meaning of the original Hebrew word which expresses heart-felt “sympathy” and personal identification with the suffering person’s grief and physical condition. Why was Jesus so moved on this occasion when he met a widow and a crowded funeral procession on their way to the cemetery? Jesus not only grieved the untimely death of a young man, but he showed the depth of his concern for the woman who lost not only her husband, but her only child as well. The only secure means of welfare in biblical times was one’s family. This woman had lost not only her loved ones, but her future security and livelihood as well.

 

Jesus is lord of the living and the dead

The Scriptures make clear that God takes no pleasure in the death of anyone (see Ezekiel 33:11) – he desires life, not death. Jesus not only had heart-felt compassion for the widow who lost her only son, he also had extraordinary supernatural power – the ability to restore life and to make a person whole again. Jesus, however, did something which must have shocked the sensibilities of the widow and her friends. Jesus approached the bier to make physical contact with the dead man. The Jews understood that contact with a dead body made oneself ritually unclean or impure. Jesus’ physical touch and personal identification with the widow’s loss of her only son not only showed the depths of his love and concern for her, but pointed to his desire to free everyone from the power of sin and moral corruption, and even death itself. Jesus’ simple word of command – “Young man, arise” – not only restored him to physical life, but brought freedom and wholeness to his soul as well as his body.

 

 

The Lord Jesus has power to restore us to wholeness of life – now and forever

This miracle took place near the spot where the prophet Elisha raised another mother’s son back to life again (see 2 Kings 4:18-37). Jesus claimed as his own one whom death had seized as its prey. By his word of power he restored life for a lad marked for death. Jesus is Lord not only of the living but of the dead as well. When Jesus died on the cross for our sins he also triumphed over the grave when he rose again on the third day, just as he had promised his disciples. Jesus promises everyone who believes in him, that because he lives (and will never die again), we also shall have abundant life with and in him both now and forever (John 14:19). Do you trust in the Lord Jesus to give you abundant life and everlasting hope in the face of life’s trials, misfortunes, and moments of despair?

“Lord Jesus, your healing presence brings life and restores us to wholeness of mind, body, and spirit. Speak your word to me and give me renewed hope, strength, and courage to follow you in the midst of life’s sorrows and joys.”

Suy niệm: Bạn phản ứng thế nào trước những bất hạnh của người khác? Trong Tin mừng, có vài chỗ ghi lại rằng Đức Giêsu “chạnh lòng thương xót” khi Người gặp những cá nhân hay nhóm người. Người hiện tại của chúng ta sử dụng hạn từ “compassion” không hoàn toàn lột hết ý nghĩa sâu xa của hạn từ gốc của tiếng Dothái, nó diễn tả sự cảm xúc của tâm hồn, sự “cảm thông” và đồng hóa mình với nỗi đau khổ và tình trạng thể lý của người đang đau khổ. Tại sao Đức Giêsu quá xúc động vào lúc này, khi Người nhìn thấy người góa phụ và đám tang đang trên đường tới nghĩa trang? Đức Giêsu không chỉ đau buồn về cái chết còn trẻ của người thanh niên, mà Người còn bày tỏ nỗi quan tâm sâu sắc đối với người phụ nữ đã mất đi không chỉ người chồng, mà mất cả người con duy nhất của bà nữa. Phương thế an toàn duy nhất về phúc lợi trong Kinh thánh là gia đình của họ. Người phụ nữ này không chỉ mất những người thân yêu mà cả sự an toàn và sinh kế tương lai của mình nữa.

 

Đức Giêsu là Chúa của kẻ sống và kẻ chết

Kinh thánh nói rõ rằng Thiên Chúa không vui sướng trước cái chết của bất kỳ người nào (Ed 33,11); Người muốn sự sống, chứ không phải sự chết. Đức Giêsu không chỉ chạnh lòng thương xót người góa phụ đã mất đi người con duy nhất, Người còn có quyền lực siêu nhiên đặc biệt – khả năng phục hồi sự sống và làm lại cho nguyên vẹn. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã làm một điều thật ấn tượng chắc hẳn đã gây sốc những cảm giác của người goá phụ và bạn bè của bà. Đức Giêsu đã đến gần với tư cách là một người Dothái tinh ý, đã mạo hiểm đến gần quan tài để tiếp cận cách thể lý với người chết. Người Dothái hiểu rằng theo luật ai tiếp xúc với người chết sẽ làm cho mình ra ô uế. Thế nhưng, sự đụng chạm thể lý và sự đồng hoá của Đức Giêsu với sự mất mát người con duy nhất của người goá phụ không chỉ bày tỏ tình yêu sâu thẳm và sự quan tâm của Người dành cho bà, mà còn nói tới lòng ao ước của Người để giải thoát mọi người khỏi quyền lực tội lỗi và sự huỷ hoại của cái chết, và cả chính sự chết. Mệnh lệnh đơn giản của Đức Giêsu “Này anh, hãy trổi dậy” không chỉ phục hồi sự sống thể lý cho anh mà còn đem lại sự giải thoát và toàn vẹn cho linh hồn và thân xác anh nữa.

Chúa Giêsu có năng quyền phục hồi chúng ta tới sự sống toàn vẹn – bây giờ và mãi mãi

Phép lạ này xảy ra gần phần đất, nơi ngôn sứ Êlisa đã cho con trai của một người mẹ khác sống lại (2K 4,18-37). Đức Giêsu xác nhận chính Người cũng là nạn nhân của cái chết. Bằng lời quyền năng của mình, Người đã phục hồi sự sống cho người thanh niên đã chết. Đức Giêsu là Chúa của kẻ chết lẫn kẻ sống. Đức Giêsu đã chiến thắng sự chết và Người hứa rằng vì Người sống (và sẽ không bao giờ chết nữa), chúng ta cũng sẽ có sự sống sung mãn với và trong Người bây giờ và mãi mãi (Ga 14,19). Bạn có trông cậy vào Đức Giêsu sẽ ban cho bạn sự sống sung mãn và niềm hy vọng vĩnh cửu trong sự đối diện với những thử thách, bất hạnh, và những giây phút thất vọng của cuộc đời không?

 

Lạy Chúa Giêsu, sự hiện diện chữa lành của Chúa đem lại sự sống và phục hồi cho chúng con toàn bộ tâm trí, thân xác, và linh hồn. Xin nói lời Chúa với con và ban cho con niềm hy vọng, sức mạnh, và can đảm đã được phục hồi để đi theo Chúa trong tất cả mọi sự buồn vui của cuộc sống.

Tác giả: Don Schwager
(http://dailyscripture.servantsoftheword.org/readings/)
Bro. Paul Thanh Vu – chuyển ngữ

Từ khóa:

thanh niên, bắt đầu

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
Tin mới