Các Bài Suy Niệm Chúa Nhật Lễ Hiển Linh.

Thứ bảy - 01/01/2022 01:52

ba vua

ba vua

Các Bài Suy Niệm Chúa Nhật Lễ Hiển Linh. Năm C

Lời Chúa: Is 60,1-6; Ep 3,2-3a.5-6; Mt 2,1-12
——-
Mục lục
1. Hãy bừng sáng  (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)
2. Ánh sáng của Ngôi Lời Thiên Chúa  (Jorathe Nắng Tím)
3. Niềm tin lên đường (Lm. Thái Nguyên)
4. Bước theo ánh sáng (Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)
5. Trở nên ngôi sao dẫn đường (Bông Hồng Nhỏ, Học viện MTG.Thủ Đức)
6. Niềm vui cho dân ngoại (Thiên San, Học viện MTG.Thủ Đức)
7. Khoảng xa khoảng gần (Trầm Thiên Thu)
 
Mục lục
1. Lên đường, kiên nhẫn và hy vọng  (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)
2. Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người (Gm. Cosma Hoàng Văn Đạt)
3. Niềm tin: một chuyến đi (Cố Gm. Giuse Vũ Duy Thống)

4. Thành tâm thiện chí sẽ gặp Chúa  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)
5. Tỏa sáng bằng bác ái (Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)
6. Dấu lạ Giêsu (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
7. Lòng thương xót Chúa được trao ban cho mọi dân tộc (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)
8. Ngôi Sao Mai (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
9. Ánh sáng chỉ lòng thương xót   (Lm. Giuse Trực)
10. Lễ Hiển Linh, Lễ của Ánh Sáng  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
11. Tìm và Gặp   (Trầm Thiên Thu)
12. Ơn cứu độ cho muôn dân  (Jos.Vinc. Ngọc Biển)
13. Hãy là sao lạ dẫn đường giới thiệu Chúa  (Huệ Minh)
14. Thiên Chúa tỏ mình (Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)
15. Chúa Nhật Lễ Hiển Linh_C  (Lm. Antôn)
16. Nơi Hài Nhi Giêsu, Thiên Chúa muốn hiển linh thứ vinh quang nào?  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)
17. Ánh sao lạ dẫn đường giúp lương dân gặp gỡ Chúa  (Lm. Đan Vinh)

 
HÃY BỪNG SÁNG
Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mở đầu bằng một lời hiệu triệu rất long trọng, qua lời ngôn sứ Isaia: “Hãy đứng lên, bừng sáng lên, Giêrusalem”. Nội dung của bài sách thánh thứ nhất cho ta thấy một bầu khí sôi động, hùng hồn như lệnh triệu tập của một đại lễ, hay một cuộc tổng động viên. Giêrusalem không còn vẻ tĩnh lặng đơn điệu của ngày thường, mà trở nên điểm quy tụ của cả thế giới. Mọi vương quyền trên thế giới đều đến đây để phủ phục tôn thờ Đấng Tối Cao. Mọi sản vật quý hiếm từ mọi miền đều được chuyển tải về đây để dâng tiến Thiên Chúa, Đấng tạo dựng muôn loài. Những đoàn lạc đà nhiều chưa từng thấy, đến nỗi che rợp đất. Lạc đà là phương tiện giao thông của thời đó. Khi nói đến số lạc đà nhiều như vậy, có nghĩa là khách thập phương đông vô kể, từ muôn phương đang tiến về thành Thánh. Giêrusalem chói ngời, rạng rỡ, như cô dâu được trang điểm kỹ lưỡng, toả hào quang đến mọi miền xung quanh.
Vì lý do gì mà Giêrusalem bừng sáng đến thế? Đó là vì Đấng Cứu thế đã xuất hiện. Lời ngôn sứ Isaia bảy trăm năm trước đó đã được ứng nghiệm. Đấng Cứu thế đã hạ sinh. Người là Vua các vua và là Chúa các chúa. Thánh lễ hôm nay được gọi là lễ Hiển Linh. Từ này thường được dùng trong Kinh Thánh Cựu ước để diễn tả việc Thiên Chúa xuất hiện. Mỗi khi Ngài xuất hiện, hoặc để tỏ quyền năng tuyệt đối của Ngài, hoặc để cứu giúp dân Do Thái đang gặp tai ương hoạn nạn. Việc Thiên Chúa hiển linh cũng nói lên sự quan tâm chăm sóc đối với Dân được tuyển chọn. Trong lịch sử Cứu độ, nhiều lần Chúa đã hiển linh để cứu giúp dân Do Thái. Như thế, lễ Hiển Linh giới thiệu với chúng ta: Đức Giêsu là Vua của các vua. Người là Đấng muôn dân mong đợi. Ba nhà đạo sĩ, mà chúng ta quen gọi là ba vua, đã từ phương xa đến để chào kính và tôn thờ vị Vua mới sinh. Ba loại lễ phẩm: vàng, nhũ hương, mộc dược cho thấy ba vị này đến từ ba miền khác nhau của phương Đông. Các nhà chú giải Kinh Thánh giải thích: vàng là lễ vật tặng các vua chúa ; nhũ hương là lễ vật dâng tiến các thần linh ; mộc dược là thuốc thơm để tẩm liệm thi hài người quá cố, như một lời tiên báo Chúa Giêsu sẽ chịu chết để cứu độ nhân loại.
Khi mừng lễ Hiển Linh, Giáo hội cũng giới thiệu cho chúng ta: Đức Giêsu là Đấng Cứu độ toàn thể nhân loại. Người cũng là Vua vũ trụ. Vương quốc của Người là vương quốc tình yêu, công bình và bác ái. Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, chúng ta đã suy tư về tước vị Vua của Chúa Giêsu. Qua Chúa Giêsu và nhờ Chúa Giêsu, ơn Cứu độ được đề nghị cho toàn thể thế giới, chứ không giới hạn nơi dân tộc Do Thái như quan niệm của Cựu ước. Thực tế hôm nay đã chứng minh: trên khắp hoàn cầu, mọi quốc gia và lãnh thổ, Đức tin vào Chúa Giêsu được tuyên xưng và loan truyền. Hệ thống tổ chức của Giáo hội như các Giáo phận, các Dòng tu, các Giáo xứ, các Cộng đoàn đã chứng minh có Chúa hiện diện và điều khiển Giáo hội. Giáo hội của Chúa bao gồm mọi màu da, mọi ngôn ngữ, mọi văn hoá, mọi truyền thống. Giáo hội như một vườn hoa mênh mông với ngàn hương sắc khác nhau. Tất cả đều có chung một Phép rửa, một Đức tin, một Phụng vụ. Chất men Tin Mừng đã thấm nhập nơi mọi nền văn hoá và mọi dân tộc. Thánh Phaolô đã diễn tả trong thư gửi giáo dân Êphêsô như sau: « Trong Đức Giêsu Kitô và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại cùng được thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa muốn » (Bài đọc II).
Thánh vịnh 71 được hát lên trong phần Đáp ca đã diễn tả tình thương bao la hải hà của Thiên Chúa: « Người giải thoát bần dân kêu khổ, và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo… Mạng sống dân nghèo, Ngài ra tay tế độ”. Tác giả Thánh vịnh cũng ca ngợi vinh quang sáng ngời của vị Tân Vương: Triều đại Người, đua nở hoa công lý, và thái bình thịnh trị. Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ, từ Sông Cả đến tận cùng trái đất ». Đức tin Kitô giáo đã nhận ra vị Tân Vương này là Hài nhi Giêsu sinh hạ tại Bêlem năm xưa.
Nếu ơn Cứu độ của Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô có tính phổ quát, thì bất kể ai, nếu thành tâm thiện chí thì đều được Thiên Chúa đón nhận vào gia đình của Ngài. Dưới cái nhìn của người Do Thái, ba nhà đạo sĩ được coi là những « người ngoại », nhưng họ có trái tim chân thành và thiện chí đi tìm Chân lý. Các ông đã vượt qua đường trường với bao nguy hiểm, để tìm cho bằng được vị Vua mới sinh. Những khó khăn không làm các ông nhụt chí và bỏ cuộc, kể cả khi không nhìn thấy ngôi sao dẫn đường. Cuộc tìm kiếm của ba nhà đạo sĩ phần nào phác họa đời sống đức tin của người Kitô hữu chúng ta. Bởi lẽ tin là một cuộc lên đường tìm kiếm liên lỉ, là một chuỗi liên tục những khám phá bất ngờ. Những ai nỗ lực tìm kiếm Chúa sẽ gặp được Ngài. Đức tin trước hết đòi chúng ta phải biết chấp nhận những hy sinh. Các nhà đạo sĩ là những người trí thức uyên thâm. Họ đã chấp nhận rời bỏ quê hương lên đường vì nhận ra thông điệp của ngôi sao lạ. Trong đời sống đức tin, muốn được gặp Chúa, chúng ta cũng phải chấp nhận từ bỏ lối sống không phù hợp với giá trị Tin Mừng. Khi các nhà đạo sĩ không còn nhìn thấy ngôi sao, họ không nản lòng, nhưng kiên trì tìm hiểu để thấy hướng đi cho mình. Mục đích được gặp vị Vua mới sinh đã cho các ông quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ. Các ông nêu gương cho chúng ta về sự kiên nhẫn và hy vọng. Quả thế, trong hành trình tìm kiếm Chúa, có những lúc chúng ta cảm thấy nản chí vì những thử thách gian nan. Sự kiên trì và cậy trông chắc chắn sẽ giúp ta tìm thấy Chúa và gặp gỡ Ngài.
Khi các nhà đạo sĩ cảm thấy đứng trước ngõ cụt của hành trình tìm kiếm vị Vua mới sinh, các ông đã vào Giêrusalem. Ở đây, các chuyên gia đã khảo cứu Kinh Thánh và tìm được lời giải đáp. Nhờ hướng dẫn trong lời ngôn sứ Mika (x. Mk 5,1), các ông tiếp tục lên đường và cuối cùng đạt được điều nguyện ước của mình. Ngày hôm nay, Chúa vẫn đang ngỏ lời với chúng ta trong Kinh Thánh. Nội dung Kinh Thánh là một câu chuyện tình giữa Thiên Chúa và con người. Muốn tìm kiếm Chúa, ta phải chuyên tâm học hỏi và suy niệm Lời Chúa được ghi lại trong Kinh Thánh. Lời Chúa là ánh sáng chỉ đường cho chúng ta trên bước đường đời. Chuyên tâm suy niệm và sống Lời Chúa sẽ giúp ta sống thánh thiện trọn lành.
“Hãy bừng sáng!”. Đây là lời mời gọi ngôn sứ Isaia gửi đến thành thánh Giêrusalem. Đây cũng là lời nhắn nhủ mà Giáo Hội gửi đến các tín hữu nhân dịp lễ Hiển Linh hôm nay. Đức Kitô là Ánh sáng muôn dân. Thiên Chúa đã phán qua lời ngôn sứ Isaia: « Này đây Ta đặt con làm ánh sáng muôn dân, để con đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất » (Is 49,6). Lời này đã được thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô. Người là ánh sáng trần gian. Người đến để dẫn dắt nhân loại bước ra khỏi u tối của tội lỗi và của quyền lực sự chết. Nhờ Bí tích Thanh tẩy, mỗi Kitô hữu tiếp nhận ánh sáng của Đức Kitô, để rồi trong cuộc sống thường ngày, họ trở nên ánh sáng, phản ánh sự thánh thiện của Thiên Chúa giữa cuộc đời còn nhiều tăm tối. Trở nên ánh sáng để soi sáng cho bản thân. Trở nên ánh sáng cũng để giúp người khác từ bỏ tội lỗi, nên con người hoàn thiện nhờ thấm nhuần giáo huấn của Chúa Giêsu. Ba nhà đạo sĩ đã nhờ ánh sao soi đường để đến thờ lạy Hài nhi Giêsu, Vua muôn dân. Ơn gọi của người tín hữu là trở nên ngôi sao toả sáng trong cuộc đời. Chúng ta đang sống trong Giáo Hội, tức là sống trong thành thánh Giêrusalem mới. Nếu cá nhân mỗi tín hữu toả sáng, thì Giáo hội của Chúa cũng sẽ toả sáng và làm điểm quy tụ cho muôn dân hướng về.
Thưa anh chị em, như ba nhà đạo sĩ, chúng ta hãy đến thờ lạy Chúa Giêsu, tôn vinh Người là lý tưởng của cuộc đời chúng ta. Nhờ lòng yêu mến và chuyên tâm tuân giữ Lời Chúa Giêsu, chúng ta sẽ trở nên giống như Người. Đó là vinh dự, đồng thời cũng là bổn phận của người Kitô hữu trong bối cảnh cuộc đời hôm nay.
Về mục lục
ÁNH SÁNG CỦA NGÔI LỜI THIÊN CHÚA
Jorathe Nắng Tím 
Hầu như ai cũng thích ánh sáng và sợ bóng tối: căn phòng sáng sủa vẫn thích hơn góc tối mù u, nắng ấm ban mai vẫn thích hơn những ngày vắng bóng mặt trời, và không gì ngao ngán, bực bội hơn những buổi tối cả khu phố bị cúp điện, và nhà nhà, người người phải chìm trong bóng tối.
Nhưng không phải ánh sáng nào cũng chiếu sáng, ngọn đèn nào cũng ấm áp, vui tươi, vì có những ánh sáng làm chói mắt, những luồng sáng làm sợ hãi, run rẩy, những ánh đèn làm thui chột, mù lòa như ánh sáng phẫn nộ từ đôi mắt đe dọa của  cán bộ chấp pháp,  như luồng sáng trấn áp, khai thác lột trần từ những bóng đèn cao thế trong phòng hỏi cung, tất cả như muốn lập tức đốt cháy cuộc đời nghi can.
Khác với những ánh sáng khủng bố, tiêu diệt, các bài đọc phụng vụ trong lễ Hiển Linh hôm nay cho chúng ta thấy: Đức Giêsu là Ánh Sáng muôn dân, Ánh Sáng cho muôn dân được thấy đường ngay nẻo chính, Ánh Sáng cho mọi người được nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, Ánh Sáng soi đường chỉ lối cho nhân loại tìm gặp Thiên Chúa là Nguồn Vui vĩnh cửu, Hạnh Phúc đời đời.
Và Ánh Sáng của Ngôi Lời Thiên Chúa ấy đã được loan báo từ hàng ngàn năm trước trong Cựu Ước qua miệng các ngôn sứ, như ngôn sứ Isaia đã tuyên sấm:  “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi” (Is 60,1-2).
Chính ánh sáng vinh quang của  “Thiên Chúa làm người” đã toả chiếu và  bao phủ các mục đồng trong đêm Giáng Sinh và dắt họ đến gặp Hài Nhi “sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ” (Lc 2,12); chính ánh sáng vinh quang của “Emmanuen – Thiên Chúa ở cùng chúng ta” đã hướng dẫn các đạo sĩ từ phương xa đến Bêlem bái lậy Đấng Kitô, Đức Vua dân Do Thái, đồng thời mở lối mới cho các vị trở về nhà  an toàn, mà không trở lại Giêrusalem gặp vua Hêrôđê, vì ông này có lòng dạ nham hiểm đã sắp đặt kế hoạch truy lùng, sát hại Hài Nhi Giêsu, phòng xa nguy cơ bị tiếm ngôi (x. Mt 2,1-12).
Thánh Phaolô, người có kinh nghiệm thiêng liêng rất đặc biệt về Ánh Sáng của Thiên Chúa, trên đường bách hại các người theo đạo. Sách Công vụ Tông Đồ kể lại: “Đang khi ông đi trên đường và đến gần Đamát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông. Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông: “Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” Ông nói: “Thưa Ngài, Ngài là ai?” Người đáp: “Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ” (Cv 9,3-5). Ánh sáng ấy đã biến đổi ông từ kẻ bách hại các Kitô hữu trở thành Tông Đồ Dân Ngoại.
Nhờ kinh nghiệm bản thân được ánh sáng kêu gọi và biến đổi, tông đồ Phaolô là người hiểu rõ hơn ai hết  “mầu nhiệm Đức Kitô”, mà chính thánh nhân đã khẳng định khi viết: “Anh em đọc thì có thể thấy rõ tôi am hiểu mầu nhiệm Đức Kitô thế nào” (Ep 3, 4), và mầu nhiệm ấy chính là “Trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3,6).
Vâng, Lễ Hiển Linh là lễ của Ánh Sáng, lễ tràn ngập Ánh Sáng của Ngôi Lời Thiên Chúa toả chiếu vinh quang của Ngài trên tất cả chúng ta. Ngài là Ánh Sáng thế gian (x. Ga 8,12), Ánh Sáng muôn dân, muôn nước, “Ánh Sáng soi đường cho dân ngoại” (Lc 2, 32), Ánh Sáng của Lời Hứa cứu độ, Ánh Sáng cảnh tỉnh, thương xót, chữa lành, xóa tội, như Ngài đã ban ánh sáng cho người mù bẩm sinh. Và chính Ngài là Ánh Sáng làm cho chúng ta được biết Ngài, trở lại với Ngài, yêu mến và  hiệp nhất với Ngài trong một Thân Thể là Hội Thánh, đồng thời biến đổi chúng ta thành những người mang ánh sáng của Ngài cho đời tăm tối, và làm chứng Ngài là Ánh Sáng của Tình Yêu thương xót, cứu độ.
Xin Ngôi Lời Thiên Chúa ban cho tâm hồn mỗi người chúng ta Ánh Sáng bình an của Ngài, như lời hứa của Đấng Cứu Thế nhân hậu được các thiên thần hát giữa ánh sáng  huy hoàng của vinh quang Thiên Chúa trong đêm Giáng Sinh: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dứới thế cho người Chúa thương” (Lc 2,14).
Về mục lục
NIỀM TIN LÊN ĐƯỜNG
 Lm. Thái Nguyên
 “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3,16), nên Ngài không chỉ tỏ mình cho dân Israel, mà còn tỏ mình cho mọi dân nước, để ai tin thì đều được đón nhận ơn cứu độ.
Đoạn Tin Mừng hôm nay kể về các nhà chiêm tinh đi tìm kiếm Đấng cứu tinh vừa mới giáng sinh, họ như đại diện cho các dân ngoại nhận ra dấu chỉ lạ lùng của thiên nhiên. Matthêu viết theo lối văn khải huyền của người Do thái, nên không thể hiểu mọi chi tiết theo nghĩa đen.
Tuy nhiên, Thiên Chúa có thể dùng sự xuất hiện của một vì sao để báo hiệu cho các nhà chiêm tinh biết Con Ngài đã chào đời. Qua những dấu chỉ kỳ diệu hay đơn sơ trong vũ trụ, họ nhận thấy lời mời gọi lên đường để tìm kiếm vị Cứu Chúa của muôn dân. Chấp nhận lên đường là chấp nhận bỏ lại tất cả để bước đi trong đêm tối, chỉ còn dựa vào ánh sao của niềm tin khi tỏ khi mờ. Họ chỉ gặp được Chúa sau khi trải qua nhiều gian nan thử thách trên đường, và chỉ nhận ra Chúa với cái nhìn đức tin mạnh mẽ, nhất là khi đứng trước cảnh hang lừa tồi tàn. Thiếu đức tin, người ta vẫn thấy Chúa nhưng không nhận ra Ngài.
Các nhà chiêm tinh từ ngàn dặm xa xôi đã lên đường tìm Ðấng Cứu Thế, đang khi Hêrôđê và hàng lãnh đạo Do thái giáo cũng được báo tin, thì lại bình chân như vại. Bởi lẽ các luật sĩ hay biệt phái chỉ thao thức về lề luật; các thượng tế chỉ lo nghi lễ trong đền thờ; các kỳ lão chỉ bận tâm về truyền thống. Họ là những người lãnh đạo tôn giáo nhưng lại tự mãn và khép kín trong những cơ chế an toàn và cứng nhắc. Còn vua Hêrôđê thì toan tính để khai trừ vị vua mới sinh.
Thời nay vẫn có những triết gia chủ trương bất khả tri, coi Thiên Chúa chỉ là một phạm trù siêu việt, nếu Ngài có hiện hữu thì cũng không ăn nhập gì đến thế giới loài người. Vẫn có những nhà khoa học và những người chủ trương vô thần phủ nhận những gì là thần linh, họ cho điều huyền nhiệm cũng chỉ là huyền thoại. Vẫn không thiếu những kẻ có quyền thế tìm cách trù dập chân lý. Đối với họ, vũ trụ thiên nhiên như một đối tượng để nghiên cứu và khống chế, chứ không mang tính siêu nhiên, càng không như một dấu chỉ về sự hiện diện của Thiên Chúa.
Nhưng cũng trong thời đại này, dù không là Kitô hữu, vẫn có biết bao người đang rong ruổi tìm kiếm Thiên Chúa. Có ánh sáng nào đó soi chiếu trên đường đời của họ, khiến họ miệt mài phục vụ trong mọi lãnh vực, nhằm nâng cao đời sống tinh thần và góp phần kiến tạo một xã hội tốt đẹp hơn, hướng con người đến những giá trị tâm linh, vĩnh cửu.
Còn chúng ta thì sao? Nếu không tỉnh thức, ta dễ tự mãn với những điều mình hiểu biết về Thiên Chúa, chẳng còn thao thức tìm Ngài, nên cũng chẳng quan tâm gì đến những dấu chỉ hay thời điềm. Dường như đời sống đức tin đã được gói gọn trong các câu kinh và nghi thức. Những gì sâu xa nhất cũng đã được hệ thống hóa trong các cử hành phụng vụ, nên ta cảm thấy quá đầy đủ, không cần nhận ra Chúa nơi điều gì khác.
Cần có lòng khao khát chân lý và sự thiện hảo như các nhà chiêm tinh, để ta can đảm ra khỏi mình, ra khỏi những an toàn và tiện nghi đang trói buộc mình hằng ngày, để thấy Chúa đang tỏ mình qua mọi biến cố của đời sống. Trong ý nghĩa đó, Đức Thánh Cha Phanxicô đã mời gọi các tín hữu hãy ra khỏi chính mình để tìm đến với tha nhân: “Theo Chúa Giêsu, có nghĩa là học cách ra khỏi chính mình, để đi gặp tha nhân… nhất là những người xa cách nhất, những người bị lãng quên, những người đang cần được cảm thông, cần an ủi, giúp đỡ… Theo Chúa Giêsu, đòi ta phải ra khỏi lối sống đức tin mệt mỏi chỉ theo thói quen, ra khỏi cám dỗ co cụm trong những khuôn khổ của mình, và rốt cuộc là khép kín với chiều kích hoạt động đầy sáng tạo của Thiên Chúa”[1].
Vì thế, Đức Thánh Cha mạnh mẽ khuyến khích chúng ta:“Hãy lên đường cống hiến cho mọi người sự sống của Chúa Kitô”[2].
 Cầu nguyện
Lạy Chúa!
Chúa không chỉ tỏ mình cho Israel,
mà còn tỏ mình cho mọi dân mọi nước,
Chúa vẫn làm sáng lên những ánh sao,
không phải chỉ ở trên trời cao,
mà chính yếu là trong lòng người thế,
để cho thiên hạ luôn biết nẻo tìm về.

Chúa đặc biệt tỏ mình cho những ai,
có tâm hồn đơn sơ và ngay chính,
biết sống công bình và bác ái yêu thương,
không quá vấn vương bám víu vào trần thế,
không bị đam mê và lắng lo kiềm chế,
để sống cuộc đời trong tâm thế hồn nhiên.

Như các nhà chiêm tinh đi tìm Chúa,
xin cho con biết ra khỏi mình,
ra khỏi định kiến và lười biếng tinh thần,
ra khỏi tiện nghi và tự mãn bản thân,
để nhận ra Chúa nơi đời sống tha nhân,
và qua dấu chỉ của thiên nhiên vạn vật.

Xin cho con dám sống niềm tin lên đường,
luôn can trường và chấp nhận đau thương,
để sau khi vượt qua nhiều gai chướng,
được gặp Chúa ở cuối cuộc hành hương,
là niềm vui hạnh phúc chốn thiên đường,
mà lòng con vẫn hằng luôn mong ước.

Cho con nên dấu chỉ của Chúa ở mọi nơi,
là ánh sao giữa đời trong đêm tối,
để âm thầm luôn dẫn lối đưa đường,
là ánh sao hiền lành và khiêm nhượng,
ánh sao phục vụ với tất cả tình thương,
tỏa sáng an bình của Chúa Giáng Sinh. Amen.


[1] Buổi tiếp kiến chung đầu tiên của Đức Thánh Cha Phanxicô 27-3-2013.
[2] Đức Thánh Cha Phanxicô: Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, s. 48.
Về mục lục
BƯỚC THEO ÁNH SÁNG
Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
Khi còn nhỏ, chúng ta học cách xua đi bóng tối bằng cách vặn ngọn đèn lên. Đèn càng sáng thì bóng tối càng bị đẩy lùi. Ánh sáng còn xóa tan những sợ hãi do không gian tăm tối mang lại. Quy luật tự nhiên là ánh sáng và bóng tối không thể cùng lúc chiếm ngự cùng một chỗ. Một là chúng ta ở trong bóng tối, hai là ở trong ánh sáng. Và trong thế gian này, bóng tối thì không bao giờ ở xa. Nó luôn luôn ở ngay bên cạnh, chờ đợi cơ hội để xâm chiếm.
Bóng tối có khi đồng lõa với sự dữ. Bóng tối của không gian làm cho con người trì trệ và ngưng mọi hoạt động. Bóng tối của sự dữ làm cho con người sợ hãi có khi mất lý trí, ý chí và tự do.
Điển hình là bóng tối của Covid đã và đang bao trùm trái đất suốt hai năm qua. Bóng tối Covid gây bao đau thương của chết chóc, chia ly. Bóng tối của Covid để lại bao tổn thương tinh thần lẫn vật chất.
Nhân loại lúc này đang cần ánh sáng để đẩy lùi sự dữ. Nhưng lực bất tòng tâm. Ánh sáng con người vẫn chưa đủ để xua tan bóng tối của sự dữ.
Hôm nay Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy cùng Ba Vua bước theo ánh sao dẫn chúng ta tìm gặp Đấng là Ánh Sáng cho trần gian. Vâng, Hài Nhi  mới sinh ra trong Đêm Cực Thánh chính là Ánh Sáng, là Lửa Trời mà các ngôn sứ đã tiên báo trong Is 60:1, “Giêrusalem! Hãy đứng lên! Hãy bừng sáng, bởi ánh sáng của ngươi đã xuất hiện. Vinh quang của Thiên Chúa [giờ đây] như bình minh chiếu tỏa rạng ngời trên ngươi”.
Ánh sáng nơi máng cỏ Belem đã mang lại niềm vui cho Ba Vua để họ bước ra khỏi bóng tối của u mê, của lầm lại để đến với ánh sáng chân lý và sự thật. Khi Ba Vua lên đường vẫn gặp những cản trở của bóng tối nhưng họ kiên trì vượt qua. Điều quan trọng là sau khi đã gặp Đấng cứu thế thì họ đã chuyển sang lối khác mà về. Nghĩa là không còn đi trên con đường cũ của bóng tối sự dữ.
Mừng lễ Chúa hiển linh xin Chúa soi sáng cho chúng ta can đảm bước ra khỏi bóng tối của lòng mình còn đầy tham sân si và tội lỗi. Xin cho chúng ta cũng biết đi theo ánh sáng của Chúa để ra khỏi những bóng tối của phe nhóm, bè phái để sống hiệp nhất và yêu thương.
Chúa giáng sinh luôn mời gọi con người hãy để ánh sáng của Chúa bao phủ trên cuộc đời chúng ta. Hãy bước ra khỏi bóng tối để nhờ có ánh sáng sẽ thay đổi đời sống. Nhờ ánh sáng con người được sống trong tự do của con cái Thiên Chúa. Và nhờ ánh sáng của Ngôi Lời Thiên Chúa chúng ta được chữa lành mọi thương tích tội Adam để trở nên con cái của Chúa. Nhờ ánh sáng của Chúa sẽ xua tan bóng tối của sự dữ đang bủa vây chung quanh. Đồng thời cũng hãy trở thành kẻ dẫn đường cho anh em bước đi trong áng sáng của Tin mừng Chúa.
Mừng lễ Chúa hiển linh chúng ta hãy xin ánh sáng của Chúa xua tan bóng tối sự dữ Covid trên địa cầu. Xin Chúa mang lại ánh sáng bình an và hy vọng cho cuộc đời chúng ta. Amen
Về mục lục
TRỞ NÊN NGÔI SAO DẪN ĐƯỜNG
Bông Hồng Nhỏ
Hôm nay, ta được theo chân của ba nhà chiêm tinh tìm đến bái lạy Hài Nhi Giêsu. Hành trình đi tìm Chúa của ba nhà đạo sĩ hôm nay cho ta nhiều bài học.
Tin Mừng cho thấy ba nhà chiêm tinh đã thấy ngôi sao ở phương đông. Ngôi sao xuất hiện là một điềm báo lạ lùng. Họ hứng khởi ra đi, lòng tràn đầy hy vọng, tràn đầy tin tưởng mình sẽ gặp được một vị vua vĩ đại vừa mới sinh. Ngôi sao dẫn đường cho họ. Đường nhiều gian nan, khó khăn nhưng họ vẫn ra đi. Tin Mừng không nói rõ là họ đã đi trong bao lâu nhưng ta cũng có thể hình dung những khó khăn mà họ gặp phải: đường xa, có đoạn đường bằng phẳng và cũng có lắm đoạn gập ghềnh sỏi đá; có lúc trời mát mẻ nhưng cũng có những ngày trời nắng nóng hay mưa rơi; có khi bước đi mà ánh mắt dõi nhìn ngôi sao dẫn đường nhưng cũng có khi phải lần trong đêm tối. Họ không biết rõ điểm đến của mình ở đâu. Họ chỉ có ngôi sao trên trời dẫn lối. Trời và đất thì cách xa ngàn trùng nhưng họ vẫn chẳng chùn bước chân. Mặt đất rộng bao la, đâu sẽ là nơi họ sẽ dừng chân? Nói khác đi, đâu mới là nơi có Hài Nhi hiện diện? Đây là bài học đầu tiên ta nhận được, đừng dừng bước vì những khó khăn nhưng cứ hướng lên ánh sao mà đi.
 Họ gặp rất nhiều người nhưng chẳng ai biết tin về vị vua mới sinh. Cuối cùng họ đã đến thành Giêrusalem, vào đúng dinh của vua Hêrôđê. Họ hỏi về vị vua mới sinh. Tin mừng ấy khiến cho vua Hêrôđê bối rối và cả thành Giêrusalem thì xôn xao. Vua Hêrôđê liền triệu tập những kinh sư đến để hỏi xem vua mới sinh phải sinh ra ở đâu. Các kinh sư mở Kinh Thánh trích dẫn chính xác: “Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: “Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2, 5-6). Vua Hêrôđê như ngồi trên đống lửa, ngai vàng của ông đang bị đe dọa. Ông bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn rằng: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người” (x. Mt 2, 7-8). Con đường dẫn đến với Hài Nhi mới sinh chỉ in dấu chân của ba nhà chiêm tinh, và chỉ có họ mới thực sự được gặp Đấng họ hằng khao khát kiếm tìm. Bài học thứ hai ta nhận được là sau hành trình gian khổ, ta sẽ gặp được điều ta mong đợi.
Trong cuộc đời mình, ta cũng nhận thấy có những ngôi sao dẫn đường, giúp ta tìm đến với Chúa. Ngôi sao đầu tiên đó chính là mẹ của ta. Chính mẹ là ngôi sao đầu tiên đưa ta đến với Chúa. Bằng chính đời sống đạo đức, những yêu thương âm thầm, mẹ đã dạy ta những lời kinh đơn sơ, mẹ cõng ta đến nhà thờ, mẹ gieo vào tâm hồn ta ước mơ sống đời tu. Lúc ta gặp khó khăn trong việc học, chính mẹ là người đã động viên ta, thắp lên ước mơ trong lòng ta, để ta không bỏ dở việc học. Mẹ luôn âm thầm đi phía sau để nâng đỡ từng bước chân của ta. Ngôi sao thứ hai đó chính là người cha đã khuất của ta. Người đã luôn nhắc ta chỉ một điều: “Bám vào Chúa nghe con, đừng buông ra”. Ngôi sao ấy đã khuất bóng nhưng ánh sáng vẫn chiếu rọi nơi tâm hồn ta, đưa ta tìm về bên Chúa mỗi ngày. Bước vào đời tu, ta được hướng dẫn và đồng hành từ những vị huấn luyện, các ngài như những ngôi sao sáng chỉ lối cho ta tìm gặp Chúa. Dù cho nhiều lúc trời mưa hay bão tố, ngôi sao bị che khuất thì ta vẫn luôn tin rằng, kiên trì bước theo Chúa ta sẽ gặp được Người.
Lạy Chúa Giêsu! Chúa đã dùng ngôi sao để chỉ dường cho ba nhà chiêm tinh, cho họ được đến thờ lạy Chúa. Chúa đã tỏ mình cho dân ngoại được biết. Chúa mời gọi con hãy tìm kiếm Chúa mỗi ngày, và trở nên một ngôi sao dẫn đường cho người khác tìm đến với Chúa. Bằng chính đời sống chứng tá khiêm nhường phục vụ, yêu thương tha thứ của mình, con sẽ chiếu sáng như vì sao xưa kia đã dẫn đường cho những nhà chiêm tinh đến thờ lạy Chúa. Con được đọc và hiểu Kinh Thánh, con có khao khát tìm kiếm Chúa nhưng con phải đi xa hơn nữa, đó là lên đường như ba nhà chiêm tinh. Bao lâu con biết nỗ lực vượt qua mọi gian nan, kiên trì tìm kiếm Chúa thì chính Chúa sẽ tỏ mình cho con, cho những người đang sống cùng con. Amen.
Về mục lục
NIỀM VUI CHO DÂN NGOẠI
Thiên San
“Đức Vua dân Do thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” Câu hỏi của các nhà chiêm tinh đến từ phương Đông đã làm náo động cả thành Giêrusalem và nhất là làm náo động tâm hồn vua Hêrôđê. Các ông đã theo dấu của “ngôi sao lạ” để thực hiện một hành trình dài. Cuối cùng, “ngôi sao lạ” dẫn họ đế tận nơi Hài Nhi ở. Họ liền sấp mình thờ lạy Người (x. Mt 2, 1-12).
Qua sự kiện các nhà chiêm tinh từ phương Đông tìm đến bái lạy vị vua mới sinh, chúng ta có thể thấy rằng, Tin Mừng Giáng Sinh là tin mừng dành cho dân ngoại. Hành trình của họ quả gặp nhiều khó khăn. Chỉ một dấu từ “ngôi sao lạ”, họ mạnh dạn thực hiện một cuộc hành trình dài. Điều gì đã thôi thúc họ làm điều đó? Họ vào hoàng cung để hỏi tin tức. Dĩ nhiên, sự thường thì vua chúa phải sinh ra trong cung điện, đền đài của vua. Điều đó thật dễ hiểu. Tưởng chừng như họ có thể gặp được Vị Vua mới sinh nhưng họ đã không tìm thấy vị vua ấy nơi cung điện của vua chúa. “Xin quý ngài đi dò hỏi tưởng tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi để tôi cũng đến bái lạy Người” (Mt 2, 8). Sau khi được vua Hêrôđê ngỏ lời như vậy, họ liền ra đi. Họ tiếp tục đi dưới sự dẫn đường của “ngôi sao lạ”, lòng mừng rỡ vô cùng (x. Mt 2, 10).
Không tìm thấy Vị Vua mới sinh ở đền đài vua chúa, các ông lại được gặp một Hài Nhi mới sinh nơi máng cỏ nghèo hèn. Thật khó tin, Vua mà lại sinh nơi nghèo hèn đến thế. Vừa bước vào cửa, mùi ẩm mốc, mùi của các súc vật, rơm rạ bốc lên. Không một chút do dự, họ liền tiến đến và bái lạy Người. Chúng ta có thể hình dung được khung cảnh lạ lùng này không? Họ mở bảo tráp lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến (Mt 2, 11). Không biết, đã bao lần họ thực hiện chuyến đi tương tự. Có thể, mỗi lần nhìn thấy một “ngôi sao lạ” xuất hiện, họ đều thực hiện một chuyến đi như thế. Nhưng chuyến đi lần này thật đặc biệt. Đặc biệt về nơi chốn và cách thức vị vua được sinh ra. Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa nên đã đi lối khác mà về xứ mình.
Khi theo dõi hành trình của ba nhà chiêm tinh, chúng ta như được hòa mình vào niềm vui của họ. Con Một Thiên Chúa, Vị Vua mới hạ sinh tỏ mình ra cách đơn sơ nghèo hèn nơi máng cỏ Bêlem. Chúng ta được mời gọi đi sâu hơn vào kinh nghiệm gặp gỡ với Vị Vua ấy trong biến cố Giáng sinh để cảm nhận được tình yêu bao la Ngài dành cho mỗi người chúng ta. Tình yêu ấy không chỉ dành cho một ít người, một vài dân tộc nhưng dành cho cả nhân loại. Thiên Chúa nhân từ đến trần gian nhưng sự thật là Ngài đã bị từ chối. Như lời thánh Gioan đã từng nói: “Người đã đến nhà mình nhưng ngời nhà chẳng chịu đón nhận” ( Ga 1, 11). Trong hoàn cảnh này, có thể nói, các nhà chiêm tinh đã an ủi Thiên Chúa của chúng ta biết dường nào khi họ diễn tả được lòng yêu mến, ái mộ của mình qua một chuyến đi đầy vất vả. Thiên Chúa đã đến với dân ngoại và phải chăng Người đã được họ đón nhận?
Chúng ta tiếp tục được mời gọi nhìn về hành trình cuộc đời của mình. Chúng ta có đang hăm hở đến với Thiên Chúa mỗi ngày? Ngài vẫn luôn đến với mỗi người chúng ta qua nhiều cách thức khác nhau. Thỉnh thoảng, Ngài dùng các dấu lạ để hướng dẫn chúng ta hệt như “ngôi sao lạ” đã dẫn các nhà chiêm tinh vậy. Có khi, Ngài âm thầm, đơn sơ nhỏ bé, khiêm tốn đến với chúng ta qua bí tích Thánh Thể. Chúng ta có đang khao khát đi đến để được đón rước Người mỗi ngày? Mỗi khi không nhận đợc một “dấu lạ” nào của Ngài, chúng ta có kiên trì để tiếp tục cuộc hành trình như các nhà chiêm tinh? Khi đã gặp được Ngài, chúng ta đừng ngần ngại, hãy dâng lên Ngài những gì mình có. Ngài sẽ thương đón nhận của lễ mọn hèn của chúng ta. Bởi chúng ta cũng là dân ngoại được Thiên Chúa đoái thương, là “ôliu dại đã được tháp nhập vào đó và cùng được hưởng sự sống dồi dào từ rễ cây ôliu chính” (x. Rm11, 17).
Về mục lục
KHOẢNG XA KHOẢNG GẦN
Trầm Thiên Thu
Sao Thiêng Dẫn Đường Tới Hang Đá
Đạo Sĩ Theo Hướng Tìm Thánh Nhi
Khoảng cách xa hay gần là một khái niệm, không nhất thiết giống nhau – dù nghĩa đen hay nghĩa bóng. Về không gian, chỉ vài km có khi người ta lại cảm thấy xa hơn cả ngàn km. Cụ thể như giữa năm 2021, khi dịch bệnh lên tới đỉnh cao, cả hàng chục ngàn người phải tháo chạy khỏi Saigon mà người ta không hề ngần ngại, mặc dù đường đi cách trở – có người đi trăm km, có người đi cả ngàn km; có người phải lội bộ, có người đi xe đạp hoặc chiếc xe máy “cùi” mà thôi.
Thấy mà ngán ngẩm, nhưng với họ cũng chỉ là “chuyện nhỏ.” Cái khó ló cái khôn. Khi xác định vấn đề và quyết tâm, người ta không e ngại hoặc lo sợ gì nữa, nhất là khi bản năng sinh tồn thức dậy. Khi muốn thì người ta tìm ra phương tiện, khi không muốn thì người ta tìm ra đủ lý do để thoái thác và biện hộ.
Điều đó đã được chứng minh. Ngày xưa, có những con người khôn ngoan thông thái đã thực sự quyết tâm khi nhận ra một ánh sao rất lạ lùng. Chúng ta quen gọi họ là ba vua, nhưng thật ra không chỉ có ba người mà nhiều người, họ không phải là những quốc vương mà là các đạo sĩ, chiêm tinh gia, người khôn ngoan,… ở các nơi khác nhau từ Đông phương xa xôi. Họ đã phát hiện và theo dấu Ánh Sao Lạ đến diện kiến Vương Nhi Giêsu cùng với Song Thân của Ngài tại hang đá Belem đơn nghèo.
Họ đã làm những gì cần làm: quên mình và tiến dâng những gì quý giá nhất. Người ta thông tuệ nhờ tìm hiểu và học hỏi để biết những gì cần thiết, không cần biết những gì không cần thiết. Khôn và dại đôi khi bị hiểu lẫn lộn. Triết gia La Rochefoucauld nói: “Có ba thứ ngu dốt: không biết điều phải biết, biết không rõ ràng điều đáng biết, và biết điều không nên biết.”
Hiểu và biết “gần” nhau mà khác nhau. Hiểu nhưng có thực hiện hay không, đó mới thực sự là vấn đề. Tốt hay xấu là nguyên do bởi chính mình. Dựa vào Phúc Âm thứ nhất – Tin Mừng theo Thánh sử Mátthêu, và các nghiên cứu về lịch sử tôn giáo, có các chi tiết và các điểm khác biệt từ câu chuyện về các đạo sĩ. Có 4 điểm chính cần biết để hiểu: [1] Họ là người Ba Tư đến từ vùng đất bán thần thoại Shir – liên quan Trung quốc cổ đại. [2] Không chỉ ba mà cả chục đạo sĩ đến viếng thăm Hài Nhi Giêsu. [3] Ba đạo sĩ được mô tả là hậu duệ của Seth, con trai thứ ba của Ông Tổ Adam. Theo quy ước, người ta đồng ý gọi tên họ là Balthasar, Gaspar và Melchior. [4] Họ thuộc một giáo phái có niềm tin vào việc cầu nguyện thầm lặng nên đã chờ đợi rất lâu để có thể nhận thấy Ngôi Sao Lạ xuất hiện, và họ tin đó là dấu hiệu báo về một vị Thiên Tử.
Lịch sử là lịch sử. Sự thật là sự thật. Vấn đề quan trọng là TIN NHẬN Hài Nhi là Thiên Chúa, là Chúa Tể càn khôn, một trẻ sơ sinh nhưng là Đấng tạo dựng muôn loài và chính mình – dù chúng ta đã già nua rồi. Như Gioan Tẩy Giả xác định: “Người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.” (Ga 1:15 và 30)

  1. ĐẾN NƠI CẦN ĐẾN
Thiên Chúa đã hứa ban Ngôi Con từ ngàn xưa, và giờ đây Ngôi Hai xuất hiện. Lời hứa ứng nghiệm tỏ tường. Là tội nhân, nhưng chúng ta được Đức Giêsu tháo gỡ gông cùm tội lỗi và phục hồi cương vị là con cái Chúa. Ngôn sứ Isaia kêu gọi: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.” (Is 60:1-2) Thế thì thật hạnh phúc – đối với cả nhân loại và riêng từng người. Niềm vui khôn tả!
Không chỉ vậy, tội nhân chúng ta còn được Ngài quan tâm đặc biệt: “Con trai từ phương xa tới, con gái được ẵm bên hông.” (Is 60:4) Hài Nhi sinh ra nơi hang chiên lừa hôi tanh trong đêm tối ở cánh đồng hoang vu Belem kia lại chính là Vương Nhi, là Thái Tử của Thiên Hoàng, là Đấng Cứu Thế. Ngài đến để giao hòa đất trời, đồng thời cũng để “xét xử dân Ngài theo công lý, và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.” (Tv 72:6)
Các vua chúa trần gian được tiền hô hậu ủng, nhưng Thiên Vương Giêsu lại ĐẾN ĐỂ PHỤC VỤ chứ không được phục vụ. Ngài đến KÊU GỌI tội nhân sám hối ăn năn, (Lc 5:32) TÌM và CỨU những gì đã mất, (Lc 19:9) và BAN SỰ SỐNG dồi dào cho mọi người. (Ga 10:10) Nhân loại không thể hiểu cách Ngài thực hiện nhưng đó là sự thật minh nhiên, vả lại tư tưởng của Thiên Chúa không phải là tư tưởng của phàm nhân, đường lối của chúng ta không phải là đường lối của Ngài. (Is 55:8)
Chính Hài Nhi bé nhỏ nơi máng cỏ kia là Tạo Hóa, triều đại Ngài rực rỡ những đóa công lý và thái bình thịnh trị vĩnh viễn, (Tv 72:7) mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước phụng sự Ngài. (Tv 72:11) Ngài toàn năng nhưng rất nhân từ, luôn theo sát đồng bào, tận tụy với đám dân nghèo, công lý và sự thật được bảo vệ tới cùng, để “giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo. Mạng sống dân nghèo, Ngài ra tay tế độ.” (Tv 72:12-13) Ngài là Vua các vua, là Chúa các chúa.
Các hiền triết nhận biết có một “dị nhân” vừa xuất hiện, họ không quản ngại đường xa, mau mắn và quyết tâm lên đường tìm kiếm. Chính ánh sao đã dẫn đường và dừng lại trên một hang chiên lừa xơ xác. Không ai có thể ngờ được, nhưng họ đã tin thật đó là Đấng họ muốn tìm kiếm.
Chúng ta thật may mắn, không phải đoán già đoán non vì đã được biết đó là mầu nhiệm. Thánh Phaolô cho biết: “Về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. Người đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Đức Kitô.” (Ep 3:2-3) Thật đặc biệt, vì “Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết mầu nhiệm này, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh tông đồ và ngôn sứ của Người.” (Ep 3:5) Và mầu nhiệm đó là: trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa. (Ep 3:5-6) Một lần nữa, chúng ta lại thật may mắn và hạnh phúc vì được thừa kế gia nghiệp của Thiên Chúa, nên một thân thể và cùng chia sẻ với Ngài.
Khắp nơi ánh sáng tỏa lan Ánh Sáng Ngôi Lời. Ngôn sứ Isaia hân hoan mời gọi: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi Đức Chúa như bình minh chiếu toả, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.” (Is 60:1-2) Ánh bình minh xua tan bóng đêm đen, ánh sáng tiêu diệt bóng tối. Điều đó chỉ có thể là ánh sáng vĩnh cửu, ánh sáng đến từ Thiên Chúa.
2. LÀM VIỆC PHẢI LÀM
Thời đó là lúc vua Hêrôđê trị vì miền Giuđê. Các đạo sĩ đến Giêrusalem và hỏi: “Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” (Mt 2:1-2)
Nghe vậy, vua Hêrôđê kinh ngạc, cả thành Giêrusalem cũng xôn xao. Là vua nên Hêrôđê sợ có kẻ nổi loạn để tiếm ngôi, ông liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời: “Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có nói về miền đất Giuđa, nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel sẽ ra đời.” (Mt 2:6) Thế là vua Hêrôđê bí mật vời các đạo sĩ và hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện, rồi ra vẻ tốt lành: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy thì về báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.” (Mt 2:8) Nghe nhà vua nói thế, họ an tâm ra đi mà không hề biết vua Hêrôđê có mưu đồ đen tối.
Họ không chỉ là những người thông thái mà còn giàu có. Họ thấy Hài Nhi Giêsu nơi máng cỏ, bên cạnh chỉ có hai người nghèo và lũ chiên lừa mà họ vẫn không thất vọng, vẫn thực sự mãn nguyện. Y như truyện cổ tích vậy. Tuy nhiên, đó là sự thật minh nhiên. Và rồi họ đã dâng những lễ vật cao quý nhất mà họ đã chuẩn bị sẵn sàng. Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên họ đã đi lối khác mà về xứ mình.
Họ đã nỗ lực tìm kiếm Chúa Giêsu, gặp và tin, can đảm vào đời, tìm cách tránh “ác nhân” Hêrôđê, nỗ lực hành động tích cực và sống tốt lành. Sống tốt không chỉ là “làm lành, lánh dữ” mà còn phải tích cực hành động để bảo vệ công lý cho tha nhân – và cho chính mình. Kinh Thánh cho biết: “Một ánh sáng rạng ngời sẽ chiếu soi khắp mười phương đất; từ viễn xứ, người trăm họ kéo đến với ngươi. Và dân cư tận chân trời góc biển sẽ tới hát mừng danh thánh Chúa, tay bưng lễ vật dâng tiến Vua Trời. Muôn thế hệ sẽ làm cho ngươi hoan hỷ, và tên ngươi, thành được Chúa chọn, sẽ lưu truyền hậu thế đến ngàn năm.” (Tb 13:13)
Belem bé nhỏ nhưng chợt hóa thành nơi tràn ngập ánh sáng kỳ diệu – ánh sáng của Hồng Ân, của Đức Tin, của Yêu Thương, của Lòng Thương Xót, của Hòa Bình, của Chân Lý, của Hạnh Phúc, của Sự Sống, của Vĩnh Cửu, của Công Lý, của Tự Do,… Belem bé nhỏ mà vĩ đại vì là nơi Thiên Chúa chọn để Đấng Thiên Sai giáng sinh làm người và thực hiện kỳ công cứu độ của Ngài.
Thực sự vô cùng nguy hiểm đối với kẻ vừa ngu ngốc vừa thâm độc mà lại có quyền hành nữa. Hêrôđê mưu mô vì sợ người khác “chạm” đến cái ngai vàng của mình, vì cái ghế đó liên quan quyền lực và lợi lộc. Thời nay cũng chẳng thiếu những dạng người hoặc bóng dáng như Hêrôđê. Họ là những kẻ có mặt người mà dạ thú, chỉ sợ mất chức, mất quyền, tìm mọi cách “cố thủ” để bảo vệ “chiếc ghế” chứ chẳng có ý tốt lành gì, cố ý giữ phần tư lợi chứ chẳng là phục vụ người khác. Loại người Hêrôđê ngày nay còn độc ác và nguy hiểm hơn chính Hêrôđê ngày xưa. Biết mà làm như không biết đối với những kẻ khoác lác thì đó là khôn ngoan thực sự.
Các đạo sĩ không chỉ khôn ngoan, thông thái, mà họ còn thành tín với tầm nhìn đức tin rất sáng chói và sâu xa, bởi vì họ thực sự tin nhận Hài Nhi Giêsu là Ánh Sáng Thật, Nguồn Sống Thật, Thiên Chúa Thật. Đúng vậy, Hài Nhi Giêsu là Vị Cứu Tinh duy nhất của nhân loại. Với niềm xác tín, Thánh Piô Năm Dấu đã cầu nguyện: “Xin Chúa đến tái sinh trong linh hồn con và ở lại mãi mãi.”
Lạy Thiên Chúa nhân lành và toàn năng, xin ban tầm nhìn tâm linh cho chúng con, để chúng con thấy Ngài nơi mọi người, nhất là nơi những con người đau khổ; xin giúp chúng con theo chân các đạo sĩ đi tìm Chúa và hành động cụ thể; xin thanh lọc tâm trí chúng con để không lây nhiễm mọi sự dữ, biết phân định đúng ý Ngài. Lạy Mẹ Maria và Thánh Giuse, xin nguyện giúp cầu thay suốt chặng đường đời lữ hành. Chúng con cầu xin nhân danh Chúa Giêsu Hài Đồng, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.
Về mục lục
 
LÊN ĐƯỜNG, KIÊN NHẪN VÀ HY VỌNG
Gm Giuse Vũ Văn Thiên
Khi Chúa Giêsu sinh hạ tại Belem, những người đầu tiên được đón tiếp Chúa là Đức Maria, Thánh Giuse và các mục đồng chăn chiên. Họ đều là những người Do Thái. Tuy thế, ơn Cứu độ mà Đức Giêsu mang đến cho nhân loại không chỉ dành cho người Do Thái, mà được dành cho tất cả nhân loại trên thế giới. Cuộc viếng thăm của ba nhà đạo sĩ đến từ phương Đông đã nói lên điều đó. Chính vì vậy mà lễ này được gọi là lễ Hiển Linh, tức là Thiên Chúa tỏ mình cho muôn dân. Đây vừa là nỗ lực tìm kiếm của các đạo sĩ, vừa là lời mời gọi của Thiên Chúa gửi đến các ông để các ông đến tôn nhận vương quyền của Đấng Cứu thế. Ngôi sao lạ chính là biểu tượng của lời mời gọi đó.
 
Vào thời mà tác giả thư Do Thái gọi là “thời sau hết” này, Thiên Chúa không “hiển linh” trong ánh vinh quang và trong tiếng sấm chớp vang rền như thời Cựu Ước. Ngài tỏ mình dưới dạng một hài nhi thơ bé mới sinh, con của một gia đình nghèo nàn không tìm được quán trọ. Với ánh sao chỉ đường, ba nhà đạo sĩ đã “nhìn thấy” nơi Hài Nhi này là Vua và là Đấng Cứu độ. Họ đã đến thờ lạy Hài Nhi. Họ đã vượt đường xa dặm thẳm để đến với Belem. Cuộc gặp gỡ với Hài Nhi Giêsu đã làm họ thỏa mãn và quên hết mệt mỏi của chặng đường dài.
 
Cuộc tìm kiếm của ba nhà đạo sĩ phần nào phác họa đời sống đức tin của người Kitô hữu chúng ta. Bởi lẽ tin là một cuộc tìm kiếm liên lỉ, là một chuỗi liên tục những khám phá và những bất ngờ. Những ai nỗ lực tìm kiếm Chúa sẽ gặp được Ngài.
 
Đức tin trước hết đòi chúng ta phải biết chấp nhận những hy sinh. Các nhà đạo sĩ là những người trí thức uyên thâm. Họ đã chấp nhận rời bỏ quê hương lên đường vì nhận ra thông điệp của một ngôi sao. Trong đời sống đức tin, muốn được gặp Chúa, chúng ta cũng phải chấp nhận từ bỏ lối sống không phù hợp với giá trị Tin Mừng. Khi các nhà đạo sĩ bị lạc đường, họ không nản lòng, nhưng kiên trì tìm hiểu để thấy hướng đi cho mình. Mục đích được gặp vị Vua mới sinh đã cho các ông quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ. Các ông nêu gương cho chúng ta về sự kiên nhẫn và hy vọng. Quả thế, trong hành trình tìm kiếm Chúa, có những lúc chúng ta cảm thấy nản chí vì những thử thách gian nan. Sự kiên trì và cậy trông chắc chắn sẽ giúp ta tìm thấy Chúa và gặp gỡ Ngài.
 
Chúa vẫn đang ngỏ lời với chúng ta trong Kinh Thánh. Nội dung Kinh Thánh là một câu chuyện tình giữa Thiên Chúa và con người. Muốn tìm kiếm Chúa, ta phải chuyên tâm học hỏi và suy niệm Lời Chúa được ghi lại trong Kinh Thánh. Khi các nhà đạo sĩ cảm thấy đứng trước ngõ cụt của hành trình tìm kiếm vị Vua mới sinh, các ông đã vào Giêrusalem. Ở đây, các chuyên gia đã khảo cứu Kinh Thánh và tìm được lời giải đáp.  Nhờ hướng dẫn trong lời ngôn sứ Mika (x. Mk 5,1), các ông tiếp tục lên đường và cuối cùng đạt được điều nguyện ước của mình. Lời Chúa là ánh sáng chỉ đường cho chúng ta trên bước đường đời. Chuyên tâm suy niệm và sống Lời Chúa sẽ giúp ta sống thánh thiện trọn lành.
 
Thiên Chúa là Chúa của muôn loài. Ơn Cứu độ nhờ Đức Giêsu được ban cho hết mọi người, không có ai bị loại trừ. Mọi người đều được quyền đón nhận Tin Mừng của Chúa Giêsu. Mọi người đều có quyền được tiếp nhận vào gia đình của Thiên Chúa. Nơi người Do Thái xưa kia cũng như nơi số đông người Kitô hữu hôm nay, vẫn tồn tại một quan niệm lệch lạc về giá trị của ơn Cứu độ. Họ nghĩ rằng ơn Cứu độ chỉ dành cho những người ưu tuyển. Vì thế mà họ coi thường những người không cùng tôn giáo với mình. Qua việc Đức Giêsu tỏ mình cho ba nhà đạo sĩ, Thiên Chúa khẳng định tính chất hoàn vũ của ơn Cứu độ. Điều này được diễn tả trong Bài đọc I. Ngôn sứ Isaia được chiêm ngưỡng ngày huy hoàng của Giêrusalem. Ngày ấy, người khắp nơi sẽ tuôn về Thánh Đô. Các dân tộc, các nền văn hóa đều quy hướng về Chúa, các loại sản phẩm tượng trưng cho sự phong phú đang dạng của các dân tộc đều được dâng cho Chúa. Điều mà ngôn sứ Isaia thấy, phần nào đã được thực hiện trong thời đại của Giáo Hội hôm nay. Quả vậy, từ mọi dân tộc, mọi nền văn hóa, danh Thiên Chúa được tôn vinh ca ngợi. Việc lễ Giáng Sinh được cử hành long trọng trên toàn thế giới đã cho thấy sự huy hoàng mà ngôn sứ Isaia đã thị kiến: “Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi (Giêrusalem)… chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi…”. Khắp nơi trên toàn thế giới, các Kitô hữu trong những lễ nghi phụng vụ đều dâng lên Chúa những sản phẩm quý giá của địa phương, để tôn nhận Ngài làm Đấng Sáng Tạo và Chúa tể muôn loài. Việc tôn thờ và dâng tiến của lễ được ba nhà đạo sĩ thực hiện năm xưa, như một nghi lễ mở màn để dẫn tới phụng vụ thánh của ngày hôm nay trên toàn thế giới.
 
Thiên Chúa là Cha yêu thương. Ngài muốn cứu rỗi mọi người và mọi tạo vật. Đó là điểm nhấn trọng tâm trong giáo huấn của Đức Giêsu. Trong Mùa Giáng Sinh, giống như các đạo sĩ, chúng ta hãy đến thờ lạy vị Vua mới sinh và dâng cho Người tấm lòng đơn sơ chân thành của chúng ta. Hãy tôn nhận Người là Chúa của chúng ta, để rồi việc gặp gỡ Chúa trở nên mối ưu tiên hàng đầu, và như thế, những bận rộn lo toan cuộc đời trần thế  không làm chúng ta nản chí và ngã lòng.
 
Sau khi gặp gỡ và thờ lạy Chúa Giêsu, ba nhà đạo sĩ đã “đi lối khác mà về xứ mình”. “Đi lối khác” là kết quả của cuộc gặp gỡ với vị Vua mới sinh. “Đi lối khác” cũng là để tránh gặp Hêrôđê đang manh tâm tìm cách xuyên tạc và phủ nhận sự thật. Người tín hữu, sau khi mừng lễ Giáng Sinh cũng cần đi lối khác để về nhà mình, nghĩa là đoạn tuyệt với lối sống cũ còn đầy khuyết điểm, gian tham và ích kỷ. Đó chính là một cuộc lên đường mới, trong kiên nhẫn và hy vọng, để sống đức tin và loan báo Đức Giêsu cho mọi người xung quanh chúng ta.
Về mục lục
.

CHÚNG TÔI ĐÃ THẤY NGÔI SAO CỦA NGƯỜI
Gm. Cosma Hoàng Văn Đạt
Trên trời có muôn ngàn ngôi sao, thế mà các đạo sĩ nhận ra ngôi sao của Chúa Giêsu.
Có thể không ngôi sao nào trên trời dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu, nhưng nếu chúng ta đã đến được với Chúa Giêsu thì cũng nhờ một hay nhiều ngôi sao nào đó dẫn đường. Có thể là cha mẹ, một người bạn, một quyển sách, một biến cố… Điều quan trọng là chúng ta biết đọc những tín hiệu. Giữa trăm ngàn đĩa phim, nếu chúng ta có một đầu đĩa thì có thể xem được và phân biệt được phim về Chúa Giêsu với các phim khác. Giữa trăm ngàn đĩa ca nhạc, nếu chúng ta có một đầu đĩa thì có thể nghe được và phân biệt được đĩa thánh ca với các đĩa khác. Đầu đĩa ấy có thể là vũ trụ, có thể là Hội Thánh. Đặc biệt là Thánh Kinh. Nhưng điều cốt yếu vẫn là tôi phải xem, phải nghe. Thiên nhiên và lịch sử không bao giờ thiếu những ngôi sao tín hiệu để con người đến được với ánh sáng.
Chúa Giêsu là ánh sáng. Một khi đến được với Chúa Giêsu, chính chúng ta được soi sáng và trở thành những ngôi sao dẫn đường cho người khác. Trong lịch sử đã từng có những vì sao sáng rực: thánh Phêrô, thánh Gioan, thánh Phaolô, thánh Têphanô, thánh Inhaxiô Antiôkia, thánh Âutinh, thánh Gioan Kim Khẩu, thánh Phanxicô Assisi, thánh Phanxicô Xavier, thánh Têrêxa, thánh Anrê Dũng Lạc, thánh Philipphê Phan Văn Minh, thánh Matthêu Lê Văn Gẫm, thánh Anê Lê Thị Thành… Ngay trong thời đại chúng ta cũng không thiếu những vì sao: thánh Maximilianô Kolbe, chân phước Têrêxa Calcutta… Và ngôi sao sáng chói trong mọi thời đại: Mẹ Maria. Chung quanh chúng ta vẫn có những người đang đi tìm một ngôi sao dẫn đường. Chính chúng ta được Chúa Giêsu mời gọi nhận lấy ánh sáng của Chúa để trở thành một ngôi sao, cho bạn bè, cho con cái, cho hàng xóm láng giềng. Có thể chúng ta chỉ là một ngọn đèn dầu, nhưng vẫn hữu ích cho một ai đó đi tìm nguồn sáng trong một đêm tăm tối.
Lạy Chúa Giêsu, Ánh Sáng thần linh giữa trần gian, luôn ban cho chúng con cũng như mọi người những ngôi sao dẫn đường.
Về mục lục
.
NIỀM TIN: MỘT CHUYẾN ĐI
Gm. Giuse Vũ Duy Thống
Phúc Âm hôm nay rất sống động. Cứ như cuốn phim mô tả cuộc hành trình đầy kịch tính của những khách lạ phương xa: từ ngạc nhiên khám phá ngôi sao lạ, qua xáo động tại Giêrusalem, tới Bêlem nghiêng mình thờ kính, rồi dắt díu nhau lặng lẽ tìm đường khác về nhà. Cứ như xô đẩy nhau xuất hiện trên màn ảnh những cuộc đối đầu càng lúc càng thêm căng thẳng: giữa chính diện và phản diện, giữa lo sợ của bên này và thanh thản của bên kia, giữa tìm gặp hướng tới và lạc mất nẻo đi. Cứ như í ới cơ man nào là tiếng nhỏ to bàn bạc chen lẫn tiếng ồn ào bàn tán của những kẻ bị xem là xa nhưng lại biết bàn vào và của những người được coi là gần nhưng chỉ biết bàn ra.
Nhưng giữa những chi tiết tưởng như bất ngờ trên hành trình rất dài và rất xa ấy, người ta thấy lấp lánh hình ảnh của niềm tin như một chuyến đi với những đặc tính tiêu biểu:
1) Niềm tin: một chuyến đi biết tiếp nhận hồng ân Thiên Chúa.
Những vai chính trong cuộc hành trình tìm tới Bêlem “triều bái Vua dân Do Thái mới sinh” được truyền thống giới thiệu bằng nhiều kiểu nói khác nhau, lúc thì gọi là Vua, lúc khác là Đạo sĩ hoặc Chiêm tinh gia. Gọi sao cũng được: Vua vì những của lễ tiến dâng, Đạo sĩ vì hành trình tìm kiếm, Chiêm tinh gia vì nhìn thấy ngôi sao và dựa vào ánh sao mà xác định lối đường. Chỉ biết họ là những người thiện chí kiếm tìm chân lý và vận dụng tốt những phương tiện đang có để tìm gặp chân lý bằng cách lên đường không mỏi mệt.
Khởi điểm cuộc hành trình là một ánh sao lạ xuất hiện phía trời Đông, tượng trưng cho ơn thánh dẫn khởi từ Thiên Chúa, để ai biết tiếp nhận, sẽ trở nên ánh sáng soi đường. Nhìn thấy ánh sao hằng hà sa số trên bầu trời đêm là một điều bình thường ai cũng có thể làm được, nhưng nhận thấy giữa muôn vàn lấp lánh ấy chỉ một ánh sao lạ thôi lại là chuyện chẳng bình thường chút nào, nếu không muốn nói là do tổng hợp giữa kiếm tìm và gặp gỡ, hay đúng ra giữa ơn Trời ban và lòng người biết mở ra tiếp nhận.
Tương tự, niềm tin trước hết là hồng ân đến từ tình thương Thiên Chúa dành cho hết mọi người, nhưng chỉ những ai biết tiếp nhận với tâm thành chí thiện, họ mới có thể có được niềm tin vào Chúa để sẵn sàng khăn gói lên đường khởi sự chuyến đi. Ra khỏi nếp nghĩ thường ngày để tiếp nhận ý Chúa, ra khỏi thói quen khô cứng lâu đời do cha ông truyền lại để mạo hiểm một phen bước theo ánh sáng trời cao, ra khỏi những tiện nghi đủ đầy dậm chân tại chỗ để cơm mắm cơm muối gieo bước lữ hành.
2) Niềm tin: một chuyến đi biết chấp nhận những thử thách
Là hồng ân Chúa ban, nhưng đức tin cũng còn là nỗ lực đóng góp không ngơi nghỉ của con người, để vượt qua những thử thách và kinh qua những thử luyện được xem là những thách đố trong chiều dài cuộc sống. Đây không chỉ là chuyện “thức lâu mới biết đêm dài” để con người chứng minh sức bền tin tưởng tháng năm, mà còn là chuyện “lửa thử vàng gian nan thử đức” trong những lúc Thiên Chúa xem ra ẩn mặt và hồng ân xem ra vắng bóng, như lúc “ba Vua toan mất hướng, ánh sao bỗng vụt lặn”. Đấy là chưa kể đến những lúc phải đối diện với âm mưu chủ ý của những người đồng đạo, cũng tin Chúa nhưng không thành tâm, thậm chí còn gài bẫy ngọt ngào giả nhân giả nghĩa như Hêrôđê; hay cũng biết cách quy chiếu Thánh Kinh nhưng không để tìm ra lối sống ngay chính, trái lại, chỉ lợi dụng để toa rập lừa gạt phỉnh phờ người khác như một số thượng tế và kinh sư trong dân.
Đêm Noel Chúa sinh ra đem xuống niềm vui, nhưng thành phố nào đó của Iran chẳng những không có niềm vui mà còn phải chịu động đất làm chết nửa thành phố. Chúa như vắng mặt. Thử thách. Đêm Noel thiên thần hát khúc bình an mà tại Bêlem chính nơi Chúa sinh ra hôm nay vẫn còn chiến tranh, chết chóc. Chúa như vắng mặt. Se lòng.
Thử thách đối với đức tin như gió đối với lửa: gió thổi tắt lửa yếu, nhưng làm bừng lên lửa sáng. Vấn đề là cần biết can đảm và bền chí. Những thử thách trong cuộc sống niềm tin không phải là dấu hiệu Thiên Chúa bỏ rơi con người, mà là những cơ hội để con người chứng minh phẩm chất niềm tin. Niềm tin không thử thách: niềm tin dễ dàng; niềm tin thất bại trước thử thách: niềm tin dễ dãi; niềm tin chấp nhận thử thách mới là niềm tin đích thực cho dẫu nhiều khi chẳng dễ chịu chút nào.
3) Niềm tin: chuyến đi biết đón nhận đồng hành
Không phải vô tình mà lễ Hiển Linh vẫn được truyền thống gọi là lễ Ba Vua, có nơi kể tên các vị đến hàng chục (theo kiểu đồng bằng sông Cửu Long thì còn có cả chục 12, chục 16 cơ đấy), nhưng chừng như hữu ý cho thấy niềm tin không phải là cuộc đơn hành mà là một chuyến đi biết đón nhận đồng hành, không chỉ vì lý do “càng đông càng vui” mà vì giới luật yêu thương là biểu hiện rõ nhất của đức tin cũng là cách cụ thể sống động nhất để diễn đạt đức tin. Con người thời nào cũng thế, không thích bị chinh phục bởi giáo điều nhưng lại tự nguyện buông mình chịu khuất phục vì gương sáng đức tin. Nhớ lại ở Thăng Long thuở hạt giống Tin Mừng mới được gieo vào thửa đất Việt Nam, tín hữu thương nhau quá trời đến nỗi người ngoài đời đã gọi tín hữu là những người theo “Đạo yêu nhau”, tức là những người cùng đi với nhau trên nẻo sáng yêu thương.
“Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn”, tín hữu đồng hành bên nhau còn để nâng đỡ nhau, nhất là trong cơn nguy biến như Ba Vua gặp Chúa tại Hang đá rồi, phải dìu nhau lên con đường khác để tránh âm mưu đen tối của Hêrôđê. Ngoài miệng thì bảo là đi triều bái, còn trong hành động lại làm điều trái, tàn sát thê lương, “giết tất cả các con trẻ ở Bêlem và vùng phụ cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh”. Con đường khác ấy sẽ mới hơn, lạ hơn và cũng có thể sẽ gặp rủi ro nhiều hơn, nhưng đã có bạn bè thân quen bên cạnh đồng hành, nên cứ an lòng nương tựa vào nhau mà dấn bước.
Giống như Kinh Tin Kính, dẫu tín hữu tuyên xưng mang tính bản thân cá nhân “Tôi tin”, nhưng không là đơn độc một mình giữa nhà thờ trống vắng mà là giữa cộng đoàn Phụng Vụ một ngày lễ trọng, nên bỗng lấp lánh như thể đồng thanh tuyên tín “Chúng tôi tin”. Tôi và chúng ta chỉ là những cách biểu lộ khác nhau của cùng một niềm tin đón nhận đồng hành.
Tóm lại, dựa vào hành trình của những vai chính ngày lễ Hiển Linh để phác vẽ niềm tin như một chuyến đi biết tiếp nhận hồng ân Thiên Chúa, biết chấp nhận thử thách và biết đón nhận đồng hành là cùng lúc tích cực hòa mình vào biến cố Chúa tỏ mình ra cho muôn dân. Nếu Chúa luôn có cách tỏ mình của Ngài thì tín hữu cũng cần lên đường đúng cách Chúa tỏ ra cho mình biết. Như thế niềm tin mới là chuyến đi đẹp lên ý nghĩa kiếm tìm và gặp gỡ. Và đó cũng là những hình ảnh sinh động mang tính hiển linh của kẻ tin trước mắt người đồng thời, giống như hình ảnh của những vai chính trong chuyến đi hôm nay: ở bước truy tìm họ được mệnh danh là Chiêm tinh gia, khi đã bước lên đường họ được gọi là Đạo sĩ và khi tới đích với lễ dâng thành kính họ được xưng tụng là Ba Vua.
Về mục lục
.
THÀNH TÂM THIỆN CHÍ SẼ GẶP CHÚA
Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt
Lễ Hiển Linh là lễ Chúa tỏ mình ra. Việc Chúa sinh ra được loan báo cho mọi người biết dưới nhiều hình thức khác nhau như: lời các ngôn sứ loan báo từ nhiều thế kỷ trước, đạo binh thiên thần ca hát, ngôi sao lạ xuất hiện… Tuy nhiên không phải ai cũng gặp được Chúa.
Có những người không gặp Chúa, dù biết rõ những chỉ dẫn về Người.
Đó là những kinh sư, biệt phái. Họ hiểu biết Thánh Kinh. Khi ba nhà đạo sĩ đến hỏi thăm, họ đã đọc vanh vách lời ngôn sứ loan báo Đấng Cứu Thế sinh ra tại Bêlem. Nhưng họ không gặp được Chúa, vì họ hiểu biết lý thuyết mà không thực hành. Ngồi một chỗ mà không chịu lên đường. Chỉ chú ý tới chữ nghĩa sách vở mà không chú ý tới cuộc sống con người. Chỉ tìm trong sách vở mà không tìm những dấu chỉ trong đời thường.
Đó là Hêrôđê. Bạo vương này muốn tìm Chúa nhưng không gặp Chúa, dù ông có binh hùng tướng mạnh trong tay. Ông không gặp Chúa vì ông tìm Chúa không phải vì Chúa mà vì quyền lợi của ông. Ông tìm Chúa không phải để thờ lạy nhưng để giết chết. Ông tìm Chúa không phải để tôn vinh Chúa nhưng để tôn vinh bản thân. Ông tìm Chúa không phải để làm theo ý Chúa nhưng để bắt Chúa phải theo ý ông. Vì thế Chúa đã vượt thoát khỏi tầm tay của ông. Vĩnh viễn ông không gặp được Chúa.
Những người xem ra gần gũi nhất, hiểu biết nhất, có phương tiện nhất đã không gặp được Chúa. Trái lại, những người có vẻ nghèo hèn, thiếu thốn phương tiện, xa xôi cách trở lại gặp được Chúa. Đó là các mục đồng và đặc biệt ba nhà đạo sĩ mà ta nhớ đến trong thánh lễ hôm nay.
Họ đã gặp Chúa vì họ đã lên đường. Dù không biết lời tiên tri loan báo, không biết lời hứa, không thuộc Thánh Kinh, nhưng khi thấy ngôi sao lạ, họ đã lên đường ngay tức khắc. Lên đường nói lên thái độ ngoan ngoãn tuân theo ơn Chúa soi sáng. Lên đường nói lên thái độ dấn thân. Lên đường nói lên lòng cương quyết đi tìm. Lên đường là chấp nhận gian khổ để đạt được điều mơ ước.
Họ lên đường và đã gặp Chúa vì lòng họ khao khát. Khao khát chân lý nên đêm đêm họ không ngừng quan sát bầu trời tìm kiếm ánh sao, vì thế cả một bầu trời bao la, chỉ một ánh sao lạ xuất hiện, họ đã nhận biết. Khao khát chân lý nên khi Chúa vừa tỏ mình qua dấu hiệu ngôi sao, họ đã vội vã theo sát dấu ánh sao đi tìm. Khao khát gặp Chúa nên khi ánh sao vụt biến mất, họ đã không nản lòng, quyết tâm dò hỏi cho ra.
Họ đã gặp Chúa vì tâm hồn họ đơn sơ thành thực. Đi tìm Chúa chứ không tìm bản thân. Đi tìm Chúa để thỏa lòng khao khát chân lý chứ không để thỏa mãn những tham vọng đen tối. Đi tìm Chúa để thờ lạy Chúa chứ không vì lợi lộc cá nhân. Với tâm hồn đơn sơ, họ đã nhận ra ý Chúa, dù ý Chúa chỉ nhẹ nhàng qua một ánh sao. Với tâm hồn đơn sơ, họ đã nhận ra chính Chúa, dù Chúa có ẩn thân dưới hình dáng một em bé yếu ớt nghèo nàn, trong khung cảnh rất tồi tàn của chuồng bò hôi hám.
Đời sống đạo của tôi cũng là một cuộc đi tìm Chúa. Tôi sẽ chỉ gặp được Chúa nếu tôi noi gương ba vua, có tâm hồn đơn sơ thành thực, có lòng khao khát Chúa vì chính Chúa, và dám dấn thân thực hành những điều Chúa truyền dạy, đặc biệt là giới răn bác ái, phục vụ Chúa trong những anh em nghèo khổ.
Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường lối của Chúa. Amen.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1) Tại sao những kinh sư, biệt phái và Hêrôđê không gặp được Chúa?
2) Có những người ngoại đạo thành tâm thiện chí như ba vua. Bạn đã gặp ai như thế chưa? Bạn nghĩ gì về họ?
3) Muốn gặp Chúa, bạn phải làm gì?
4) Ba vua nhờ ngôi sao dẫn đến gặp Chúa. Bạn phải làm gì để trở thành ngôi sao đưa người khác đến với Chúa?
Về mục lục
.
TỎA SÁNG BẰNG BÁC ÁI
Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
Có một bài hát sinh hoạt đã diễn tả con người như là một ánh sao sáng cho nhau. “Đếm ánh sao đêm tôi gọi người. Hồng xanh xanh hồng xanh trắng xanh. Ngôi sao xanh kia chính là anh. Ngôi sao vàng chính là chị đây. Không có ngôi sao nào là ngôi sao đen”.
Thực vậy, sao thì phải tỏa sáng. Sao có nhiệm vụ phá tan bóng đêm thì đương nhiên sẽ không có ngôi sao đen. Cuộc đời con người là “nhân chi sơ tính bản thiện” thì cũng phải tỏa sáng bằng những việc tốt, việc thiện.  Con người đi trong tối tăm của sự ác, của tội lỗi là con người đang đánh mất căn tính thiện của mình. Con người chỉ là người khi sống theo lẽ phải, theo luân thường đạo lý mà Thượng Đế đã an bài.
Là người ky-tô hữu, Chúa Giê-su còn mời gọi chúng ta phải tỏa sáng bằng hành động yêu thương: “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau”. Yêu thương không phải trên đầu môi chót lưỡi, nhưng yêu thương biến thành hành động phục vụ. Việc phục vụ bác ái như màu cờ sắc áo, như ngọn đèn chiếu tỏa để mọi người xung quanh nhận ra chúng ta là môn đệ của Chúa Giêsu.
Phục vụ theo tinh thần ky-tô giáo là phục vụ vô vị lợi, phục vụ quảng đại mà không cần đền đáp như trong lời Bài Ca Phục Vụ, tác giả Mi Trầm đã trình bày : “Phục vụ là cho không, phục vụ là quên mình, phục vụ không đòi đền đáp, phục vụ ơn nghĩa không chờ”. Phục vụ với tinh thần là cho không, là quên mình ấy quả thực là một ngọn đuốc thiêng chiếu sáng cho thế gian còn đầy bóng tối của ích kỷ, của chia rẽ, của hận thù.
Ba Vua năm xưa đã nhờ ánh sao để đến triều bái Chúa. Muôn dân hôm nay rất cần ánh sao yêu thương nơi người tín hữu tỏa sáng để dẫn dắt anh em đến với Chúa. Nhưng tiếc thay, cuộc sống của chúng ta vẫn chưa phản chiếu tình yêu của Chúa ra bên ngoài. Chúng ta đã sống thiếu tình yêu, thiếu lòng bác ái, bao dung với nhau. Chúng ta vẫn còn mang thù hận, ghen tương với nhau. Nhiều người vẫn chưa có thiện cảm với đạo Công giáo vì chúng ta chưa sống tin mừng qua việc xây dựng tình hiệp nhất, công lý và bình an. Chúng ta vẫn sống chia rẽ, lỗi công bình, gây mất bình an qua lời nói châm chọc, kết án, bỏ vạ cáo gian anh em mình.
Đời sống của chúng ta dù ít dù nhiều luôn có ảnh hưởng trên người khác. Nhất là các bậc cha mẹ, thầy cô luôn tác động mạnh trên lối sống của con trẻ. Có biết bao gương lành của người lớn đã làm nên những con người phi thường cho nhân thế. Nhưng cũng có biết bao gương xấu của cha mẹ  hay các nhà giáo dục đã làm cho biết bao con người sa đoạ hay lạc lối.
Xã hội luôn cần gương sáng để đẩy lùi bóng tối. Xã hội luôn cần những ánh sao sáng cho bầu trời thêm trong xanh. Xin cho đời sống chúng ta luôn là ánh sao dẫn về chân thiện mỹ tình thương. Xin đừng để những lối sống tội lỗi của chúng ta trở thành gương mù cho anh em. Amen.
Về mục lục
.
DẤU LẠ GIÊSU
Lm. Jos. DĐH

Mạo hiểm để hy vọng sớm nổi danh nổi tiếng, hoặc có chí khí làm ăn để thoát nghèo, những thành phần như vậy ở đâu chúng ta cũng gặp. Cất bước lên đường tìm kiếm danh, lợi, thú, khao khát gặp “bụt thần” để xin điều ước, chắc chắn vẫn còn là câu chuyện “thời sự” đối với xã hội hôm nay. Ra trường đời “cọ sát” với : thật-giả, tốt-xấu, mưu-mô, tranh đấu-bình đẳng…., cho đến khi biết trở về với cõi lòng mình, phải chăng được như thế là nhờ gặp thấy dấu lạ ?
Ba đạo sĩ từ Đông phương lên đường tìm kiếm dấu lạ, không phải vì mưu cầu vật chất, không có ý củng cố sức mạnh tinh thần, nhưng họ vẫn phải đối diện với nguy hiểm, lung lạc mục đích khám phá dấu lạ. Các vị Đạo sĩ nhờ được trang bị số kiến thức cần thiết để biết nhìn trời, nhìn sao, nhất là đủ khôn ngoan, để không bỏ lỡ cơ hội xem bằng mắt, bắt bằng tay dấu lạ Hài Nhi. Các mục đồng, các đạo sĩ, không thể tự biết tìm đến Belem, nếu không có dấu lạ chỉ đường, cả triều thần Hêrôđê và chúng ta hôm nay, đều cần đến sự tác động của dấu lạ mang tên Giêsu.
Quyết định làm một chuyến hành hương tới Belem, ngoài ý chí, nghị lực, các đạo sĩ còn cần có thao thức và ước muốn dấn thân, lên đường. Thực ra, tới Belem không phải chỉ có một con đường, hang đá ở nhà thờ, ở gia đình và hang đá ở cõi lòng mỗi người vẫn là nơi thích hợp hơn cả, để con người gặp gỡ Hài Nhi Giêsu. Điều kiện chung cho xưa và nay vẫn là khao khát chân lý, là thể hiện được niềm tin như các nhà đạo sĩ, như các mục đồng. Hôm nay đây, bằng mắt đức tin, bằng tinh thần cầu nguyện, người ta vẫn sáng lên niềm vui, hạnh phúc, khi chấp nhận để tình yêu Giêsu đi vào mọi ngõ ngách đời mình.
Nhiều người cho rằng : một con én không làm nên mùa xuân; nhưng chỉ cần một tác động nhỏ của lắng nghe, nhiều xung đột vẫn được hàn gắn, hóa giải. Nhờ dấu lạ từ điềm trời, các mục đồng, các đạo sĩ, họ được dẫn tới Belem gặp gỡ Hài Nhi, chỉ đơn giản như vậy, nhưng tâm hồn của họ khi nhìn, xem, thấy “Trẻ Giêsu”, đều hiểu đó là dấu lạ tình thương, là ơn cứu độ. Cảnh cơ hàn ở Belem năm xưa được nồng ấm lên nhờ tình người, ở đó không ồn ào náo nhiệt do mưu kế làm ăn, nhưng âm hưởng chúc tụng tôn vinh được chung nhịp với tiếng hát thiên thần vang hòa.
Hài Nhi Giêsu đã trở dấu lạ Tin Mừng cho người nghèo khó, Hài Nhi Giêsu biến đổi các đạo sĩ từ người “đứng chót” thực sự lên hàng đầu nhận biết ơn cứu độ. Dấu lạ từ Belem đã tỏa ánh quang cho khắp muôn dân nhận biết Ngôi Lời Nhập Thể Làm Người, qua các mục động và các đạo sĩ “hang đá Belem”, “tình yêu cứu độ” bắt đầu mở ra cho muôn dân thiên hạ. Mắt sáng tinh thông là cơ may cho con người, nhưng tỏ tường đến độ dám làm một hành trình “thờ lạy Vua người Do-thái”, hẳn không phải là tình cờ, mà trước hết là nhờ tinh yêu.
Ngày hôm nay, việc gặp gỡ thờ lạy Giêsu không cần phải có kiến thức “thiên văn”, không cần phải hàng đêm nhìn lên bầu trời trông chờ “sao lạ”. Đúng hơn, “dấu lạ Giêsu” đang biến mọi đối tượng trở nên tình yêu của Ngài. Các mục đồng, các đạo sĩ phát hiện dấu lạ từ trời, họ đều nhanh chóng lên đường, và rồi họ thật vui mừng hạnh phúc khi gặp Hài Nhi. Mỗi chúng ta hôm nay, khi phát hiện Đức Giêsu là tình yêu bởi trời, nhất định phải khẩn trưởng gặp gỡ Ngài, nếu không niềm vui ơn cứu độ rồi cũng chỉ là chuyện tưởng tượng, chóng qua mà thôi.
Ngày hôm nay, người Kitô hữu được soi dẫn làm việc bổn phận đối với Chúa và Hội Thánh, nhưng nếu thiếu đi sự quyết tâm, chúng ta cũng chỉ là những luật sĩ biệt phái sống trong chờ đợi theo ý mình, lý thuyết mơ hồ. Gặp được niềm vui, thấy được con đường dẫn tới hạnh phúc là mừng, nhưng nếu không dấn thân để có Chúa để được biến đổi, để đức tin trở thành hành động, thì hoàn toàn vô ích, thất bại.
Muốn gặp Hài Nhi Giêsu, các đạo sĩ không thể ngồi nhà ung dung chờ đợi, các ngài đã lên đường, đã hành động bằng lý trí của người trưởng thành. Hành trình của các đạo sĩ có lúc sao ẩn, sao hiện, nhưng dấu lạ của tình thương không thay đổi, dù chặng đường gặp Hài Nhi của chúng ta hôm xưa và hôm nay có gian truân khác nhau. Thiên Chúa yêu thương loài người, các đạo sĩ đến Belem họ có vàng, mộc dược nhũ hương, các mục đồng đến Belem chỉ có tấm lòng, do đó bất cứ thành phần nào, đến gặp Chúa đều vui mừng hạnh phúc với tình yêu cứu độ.
Con vua thời được làm vua, chúng ta thường nghĩ như thế, nhưng tiền nhân chúng ta còn cho biết có chí thì nên, có tâm thì được. Đó phải là thao thức lên đường gặp gỡ Chúa, dù hành trình mỗi người có khổ đau, hiểm nguy giăng mắc có khác nhau, nhưng tình yêu vẫn là động lực, là dấu chỉ tự do của mỗi người. Cuộc sống của người Kitô hữu chúng ta chính “dấu lạ Giêsu”, khi mà mỗi chúng ta đều làm cuộc lên đường chia sẻ, giúp nhau gặp gỡ tình yêu ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban tặng nhân loại. Amen.
Về mục lục
.
LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA ĐƯỢC TRAO BAN CHO MỌI DÂN TỘC
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
Có một giai đoạn, nhiều người nghĩ rằng, Thiên Chúa là độc quyền của người tín hữu. Vì thế, các sinh hoạt tôn giáo gần như là sinh hoạt khép kín trong những người đồng đạo. Trải qua một thời gian dài, người Công Giáo chỉ sống thu mình trong các sinh hoạt của mình, xem nhẹ việc bổn phận giới thiệu Chúa cho anh chị em dân ngoại, vì quên rằng, Thiên Chúa cũng là Chúa của mọi dân tộc. Ngày nay, đại lễ Chúa Giáng Sinh đã trở thành ngày vui chung của nhiều người, nhiều dân tộc, trong đó, nhiều người dù không tin, hoặc không theo Chúa vẫn cảm nhận được niềm vui mỗi khi lễ Giáng sinh về.
Công đồng Vaticano II đã thúc đẩy Giáo hội bước ra ngoài với thế giới và để thế giới có thể dễ dàng bước vào Giáo hội. Thiên Chúa không còn là điều cấm kỵ, nhưng được giới thiệu dưới nhiều hình thức để mọi người có thể nghe biết về Thiên Chúa. Đặc biệt những năm vừa qua, các vị chủ chăn đã không ngừng mời gọi, thúc đẩy mọi tín hữu phải đi ra khỏi sự êm ấm, khỏi nếp sống cũ, thói quen cũ của mình để đem Chúa đến với anh em. Thiên Chúa không bao giờ chịu dừng chân, Ngài cũng không chấp nhận bị nhốt kín trong các nghi lễ. Lòng thương xót của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi những người có đạo, nhưng lòng thương xót của Ngài còn được tuôn đổ xuống trên tất cả mọi người, kể cả những người chưa biết Chúa.
Lễ Chúa Hiển Linh hôm nay muốn nhấn mạnh đến tình thương và lòng quảng đại của Thiên Chúa đối với toàn dân, tình yêu thương của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Ngày xưa, tiên tri Isaia đã nhìn thấy trước cảnh huy hoàng của vinh quang Thiên Chúa tràn ngập khắp địa cầu. Giêrusalem là nhà của Thiên Chúa ở giữa loài người trở thành nơi các dân tộc, các quốc gia quy tụ về. Thiên Chúa làm cho Giêrusalem vươn vai đứng dậy đón nhận vinh quang của Thiên Chúa và cũng là nơi chiếu toả vinh quang Thiên Chúa. Các dân tộc sẽ từ muôn phương đổ về Giêrusalem để tôn thờ, quy phục Thiên Chúa : Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi, các chư dân sẽ tiến về phía ngươi, các vua chúa sẽ hướng về ánh bình minh của ngươi. Thiên Chúa sẽ làm cho Giêrusalem trở nên phú túc phì nhiêu : Các lạc đà từng đàn che rợp đất, các dân tộc từ Sơva kéo đến, mang theo vàng bạc và trầm hương. Cái nhìn của Isaia cho thấy Giêrusalem không còn là của riêng Israel, Thiên Chúa không còn bị giới hạn trong dân Do Thái nữa mà Thiên Chúa là Thiên Chúa của mọi dân tộc.
Thánh Matthew đã thấy tình thương cứu độ của Thiên Chúa được trao ban cho dân ngoại qua đại diện là các đạo sĩ từ phương Đông tìm đến với Hài Nhi Giêsu. Nếu như với dân Do Thái, Thiên Chúa đã dùng các tổ phụ và các tiên tri để chuẩn bị cho dân đón nhận Đấng Cứu Thế, thì đối với dân ngoại, Thiên Chúa lại dùng những dấu chỉ và sự kỳ diệu của thiên nhiên để đưa họ đến với Ngài. Các đạo sĩ là các nhà chiêm tinh của Phương Đông, vùng đất có nhiều truyền thống tôn giáo. Các vị này đã nhận ra sự khác thường trong vũ trụ, đó là sự xuất hiện của một ngôi sao lạ. Theo truyền thống của Phương Đông, mỗi con người sinh ra đều gắn liền vận mệnh của mình với một vì sao. Khi thấy xuất hiện trên bầu trời một ngôi sao toả sáng khác thường, các đạo sĩ nghĩ đến vận mệnh của một vị quân vương vừa mới xuất hiện. Với lòng tin đơn sơ như thế, họ đã rủ nhau lên đường để tìm kiếm vị vua của người Do Thái mới sinh.
Sự kiện này cho thấ, tình yêu và lòng quảng đại của Thiên Chúa dành cho dân ngoại, Ngài không giới hạn lòng thương xót vào một số người, nhưng Ngài để cho lòng thương xót ấy tuôn tràn trên toàn thể nhân loại. Bằng nhiều cách, Thiên Chúa đã tạo cơ hội cho dân ngoại cũng được hưởng tình thương của Chúa. Tuy nhiên, hành trình tìm đến với Đấng giàu lòng thương xót là một hành trình nhiều gian nan, thử thách và chỉ những ai kiên trì mới có thể gặp được Thiên Chúa.
Hành trình của các đạo sĩ là một hành trình đi tìm ánh sáng đức tin. Để có thể gặp được Thiên Chúa, họ phải chấp nhận ra khỏi sự êm ấm của bản thân, từ bỏ những ràng buộc của công việc, gia đình để lên đường. Các ông đã phải trải qua hành trình rất xa và gian nan, có những lúc ánh sao như vụt tắt, nhưng các vị không chán nản thất vọng, trái lại, các ông đã tìm đến cung điện của Hêrôđê để hỏi về vị vua mới sinh hiện ở đâu. Khi được chỉ cho biết tại Belem, đất Giuđa, các đạo sĩ lại tiếp tục lên đường, ngôi sao lại xuất hiện như để khuyến khích các ông. Các ông đã tìm đến nơi. Họ vào nhà, thấy Hài Nhi và thân mẫu là bà Maria, họ liền sấp mình thờ lậy người. Các đạo sĩ bước vào nhà, là ngôi nhà nơi Thánh Gia đang sống, nhưng ngôi nhà ấy còn là hình ảnh ngôi nhà Giáo hội, là nơi Thiên Chúa đang hiện diện. Các đạo sĩ là những người dân ngoại đã tìm được Chúa Giêsu, họ được mời gọi bước vào nhà của Chúa để ở nơi đây, họ cùng với mọi người tôn thờ Thiên Chúa, được chung hưởng tình yêu và hạnh phúc với Thiên Chúa.
Các đạo sĩ đã mở kho báu để dâng cho Thiên Chúa vàng, nhũ hương và mộc dược. Với những lễ vật này, họ đã thể hiện lòng tin và sự tôn thờ của mình dành cho Thiên Chúa tối cao. Gặp gỡ Đấng là Tình yêu, đón nhận được lòng thương xót từ nơi Thiên Chúa, các đạo sĩ đã không giữ lại riêng cho mình, các ông được thúc đẩy để sống một lối sống khác, bước đi trên con đường khác để đem lòng thương xót Chúa về cho quê hương xứ sở mình.
Khác với các đạo sĩ là nhưng người lên đường tìm kiếm, Hêrôđê và các thượng tế, đại diện giới lãnh đạo và cả dân chúng đã tỏ ra vô cảm trước tin vui Thiên Chúa Giáng sinh. Mặc dù khi nghe tin Vua dân Do Thái mới sinh, họ có một chút phản ứng, nhưng lại là phản ứng tiêu cực. Phản ứng này xuất phát từ những tâm hồn thiếu vắng tình yêu, nhưng đầy tràn ghen tị, kiêu căng và hận thù. Họ sợ rằng, vị Vua mới sinh sẽ tranh giành quyền lực của họ, sẽ gây ảnh hưởng hơn họ, vì thế, họ tìm cách để triệt hạ Ngài bằng tất cả các thủ đoạn độc ác, được mặc dưới cái vỏ tốt lành. Họ bí mật lên kế hoạch thà giết lầm hơn bỏ sót, nhưng bên ngoài, họ vẫn nói với các đạo sĩ : Các ngài hãy đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, khi đã tìm thấy, xin báo lại cho chúng tôi, để chúng tôi cũng đến bái lậy Người. Một khi con người không có tình yêu thương, thiếu vắng Thiên Chúa trong tâm hồn, thì họ sẽ hành xử gian dối, độc ác như thế.
Thiên Chúa yêu thương, Ngài muốn cho mọi dân tộc trên thế giới tin và đón nhận tình yêu của Ngài. Ngài dùng nhiều cách thế để đưa họ đến với Ngài và đưa tình yêu của Ngài đến với họ. Tuy nhiên, Ngài vẫn muốn dùng mỗi chúng ta là những người được hưởng tình yêu thương của Chúa, phải tiếp tục đem tình yêu ấy đến cho những anh em khác chưa nhận biết Chúa.
Theo Đức Thánh Cha Fancis, việc đem Chúa cho anh em không phải là một chương trình quảng cáo hay tuyên truyền, cũng không phải là một cuộc rao bán như bày hàng trong siêu thị, mà phải là cảm nghiệm từ trong tâm hồn về tình thương của Chúa để sống và thể hiện tình thương ấy trên gương mặt, trên hành động và cả cuộc đời của mình. Khi mỗi người Kitô hữu sống trong hạnh phúc vì được Chúa yêu như thế, mọi người sẽ bị thu hút bởi cách sống vui và sống hạnh phúc của chúng ta, họ sẽ tìm đến với Chúa.
Điều Chúa mong đợi chúng ta khi đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa là nói về việc Chúa đã yêu và đã làm cho mình. Nói cho họ về một Thiên Chúa giàu lòng thương xót, một Thiên Chúa chạnh thương và Ngài cũng là Cha của mỗi chúng ta, Ngài muốn mỗi người quay về sống trong tình yêu thương chăm sóc của Ngài.
Giống như các đạo sĩ trở về quê với một con người đã được biến đổi, vì được gặp gỡ, đụng chạm đến lòng thương xót của Chúa, mỗi chúng ta cũng sẽ phải sống một nếp sống khác. Chúng ta sẽ không thể nói về Chúa nếu chúng ta không chịu thay đổi để nên giống Chúa, cũng như không thể nói về Chúa khi chúng ta vẫn sống theo con người cũ, thói quen cũ. Lời nói và cuộc sống của chúng ta chỉ có thể trở nên đáng tin khi chúng ta để cho Chúa biến đổi chúng ta mỗi ngày.
Qua việc tham dự Thánh lễ và các Bí tích, Thiên Chúa thêm sức mạnh cho chúng ta, giúp ta trở nên ngoan ngoãn để cho Lời Chúa uốn nắn và biến đổi nên con người mới, trở nên chứng nhân của lòng Chúa xót thương. Amen.

Về mục lục
.
NGÔI SAO MAI
Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
Trên YouTube, có hơn 2 tỉ lượt vào xem ca khúc “Gangnam Style” của ca sỹ Psy, người Hàn Quốc.Với điệu nhảy phi ngựa và giai điệu vui nhộn, Psy trở nên nổi tiếng khắp nơi trên thế giới.Tên thật của anh ta là Park Jae-Sang (Psy), anh được yêu mến với tư cách là rapper đa tính cách với nhiều video và lối diễn độc đáo. Nhờ ca khúc “Gangnam Style” mà Psy được bộ văn hóa Hàn Quốc trao tặng huân chương Okgwan vì anh đã đưa văn hóa Hàn giới thiệu đến với bạn bè quốc tế. Psy trở thành ngôi sao âm nhạc thế giới và là thần tượng của giới trẻ. Trong đời sống xã hội hôm nay, có rất nhiều ngôi sao trên bầu trời nghệ thuật, đủ mọi lãnh vực. Ngôi sao nhạc rock, ngôi sao điện ảnh, ngôi sao bóng đá…đủ các loại sao !
Cách đây hơn hai ngàn năm, Thiên Chúa tỏ mình cho muôn dân qua sự dẫn dắt của một ngôi sao lạ: “Khi Đức Giêsu ra đời tại Bêlem miền Giuđê thời Vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem và hỏi: Đức Vua dân Do thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người” (Mt 2,1-2). Các nhà chiêm tinh Đông phương nhìn thấy ngôi sao xuất hiện và lên đường tìm kiếm. Họ đã tìm ra Hài Nhi mới sinh nằm trong máng cỏ hang lừa. Đó chính là vị Cứu tinh mà Israel từ lâu mong đợi. Vị Cứu tinh chào đời tại Bêlem như lời Ngôn sứ Mikha đã loan báo “Phần ngươi, hỡi Bêlem Epratha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giuđa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị lãnh tụ chăn dắt dân Israel” (Mk 5,1). Các nhà chiêm tinh vui mừng tôn kính dâng lễ vật bái thờ Người.
Ngôi sao xuất hiện ở phương Đông được ông Bilơam tiên báo: “Một Vì Sao xuất hiện từ Giacóp, một vương trượng trỗi dậy từ Israel” (Ds 24,17). Các nhà chiêm tinh đến từ vùng đất phương Đông, quê hương của Bilơam. Ngôi sao họ nhìn thấy vốn là dấu hiệu chỉ vương quyền. Ngôi sao nhắc lại lời sấm chúc phúc của Bilơam thuở xưa nói về triều đại Đavít và về chính Đấng Mêsia. Một ngôi sao lạ ở phương Đông xuất hiện trên bầu trời đầy sao.Các nhà chiêm tinh nhận ra ngôi sao lạ. Họ tin rằng có một vị vua mới sinh ra ở đất Do thái. Họ lập tức khởi hành, lên đường tìm kiếm. Con đường đi của họ dẫn qua sa mạc, bụi bặm, nóng bức và giá lạnh. Ðó là một con đường đầy chông gai khó khăn, vất vả và nguy hiểm. Họ luôn nhìn lên ngôi sao dẫn đường và tiến bước. Khi đến thủ đô Giêrusalem, các nhà chiêm tinh dò hỏi tông tích của vị tân vuơng. Nghe tin ấy, vua Hêrôđê bối rối liền triệu tập các thượng tế và kinh sư lại hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Vua phái các vị ấy đi và dặn: “xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi để tôi cùng đến bái lạy Người”. Họ ra đi “Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở mới dừng lại”. Họ mừng rỡ vô cùng. Họ gặp Hài Nhi, liền sấp mình bái lạy, với lòng thành họ dâng tiến lễ vật vàng, nhũ hương và mộc dược.
Câu chuyện Phúc âm tuyệt đẹp. Ba nhà chiêm tinh đi tìm Đấng Cứu Thế theo ánh sao lạ. Nếu Thiên Chúa đã dùng cột mây lửa để dẫn dân Do thái đi trong hoang địa về Đất hứa thì Người cũng có thể dùng ngôi sao lạ để dẫn đường cho các nhà chiêm tinh đến Bêlem để gặp Đấng Cứu Tinh.
Nhưng sự thật vô cùng trớ trêu là khi vị Cứu tinh xuất hiện sau bao thế kỷ chờ đợi thì dân Do thái lại thờ ơ lãnh đạm. Các thượng tế, các kinh sư có thái độ dửng dưng thụ động. Họ rành rẽ Kinh Thánh và biết rõ nơi sinh của Đấng Cứu Thế nhưng họ chẳng cất bước đến Bêlem. Còn Hêrôđê thì hốt hoảng bối rối, sợ ngai vàng bị lung lay nên tìm cách loại trừ với mưu mô cạm bẫy.
Tấn bi kịch cuộc đời Hài Nhi bắt đầu, bị người đồng hương từ khước, bị tẩy chay, bị giết chết. Chỉ có các nhà chiêm tinh hăng hái lên đường lao vào cuộc phiêu lưu tìm kiếm. Họ đã làm tất cả miễn sao gặp được Đấng Cứu Tinh. Cho dù Đấng ấy chẳng uy nghi ngự trong lâu đài điện ngọc nhưng họ vẫn vui mừng đón nhận, xin được bái kiến và dâng lễ vật quý giá với cả tấm lòng thành.
Phụng vụ đọc câu chuyện tuyệt đẹp này trong ngày Lễ Hiển Linh “Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại”. Các nhà chiêm tinh là dân ngoại, họ đại diện cho mọi dân tộc, họ khao khát tìm kiếm ơn cứu độ. Sau này Chúa Giêsu đã xác định: “từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng tổ phụ Abraham, Isaac, Giacop trong nước trời” (Mt 8,11). Các thượng tế và các kinh sư thông hiểu Thánh Kinh, họ giảng giải thật hay cho Hêrôđê, nhưng chỉ là lý thuyết. Họ tìm Đấng Cứu Thế trong sách vở nhưng không nhận ra Người trong thực tế vì Người không phù hợp với những quan điểm cố định của họ. Những người chuyên nghiên cứu sách vở đầy sự uyên bác thông thái, nếu không lên đường, không thao thức tìm kiếm thì chẳng bao giờ gặp được Thiên Chúa.Trái lại, những tâm hồn đơn sơ, khó nghèo như các mục đồng, hay cởi mở và khao khát chân lý như các nhà chiêm tinh lại được diễm phúc gặp gỡ Người vì họ đã dám mạo hiểm lên đường tìm kiếm, bước đi theo các dấu chỉ.
Thiên Chúa vẫn luôn tỏ mình ra cho nhân loại qua những dấu chỉ tự nhiên của trời đất, qua từng biến cố lịch sử, qua Lời Người trong Thánh Kinh, qua sự hiện diện của Dân Chúa là Giáo Hội, qua các Bí tích. Muốn gặp được Thiên Chúa, nhất thiết phải nổ lực tìm kiếm. Cho dầu có những thử thách, cam go, những hiểm nguy cạm bẫy, vẫn luôn kiên trì trong đức tin, bền đổ trong lòng mến.
Hôm nay, không có ngôi sao Đông phương nào xuất hiện trên bầu trời để soi đường cho chúng ta đi tìm Chúa. Chúng ta có một ánh sáng khác rực rỡ hơn giúp tìm gặp Người. Đó là ánh sáng của Lời Chúa: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi.” . Bước đi trong ánh sáng Lời Chúa, chúng ta sẽ trở nên ngôi sao dẫn đường cho nhiều người tìm đến Thiên Chúa. Thánh Phaolô mời gọi : “Anh em hãy chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời”(Pl 2,15).Tại sao các Kitô hữu được gọi là các vì sao ? Thánh Gioan giải thích : “Thiên Chúa chưa ai thấy bao giờ. Nếu chúng ta yêu thương nhau thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta”(1Ga 4,12). Nói cách khác, Thiên Chúa của chúng ta là một vị “Thiên Chúa ẩn mình”, nhưng Người muốn tỏ mình ra cho người ta thấy qua cách sống yêu thương của chúng ta. Nói cách khác nữa, khi chúng ta yêu thương nhau thì Thiên Chúa ở trong chúng ta, bởi vì “Thiên Chúa là tình yêu”(1Ga 4,18). Cho nên cách sống yêu thương của người Kitô hữu làm cho người ta nhìn thấy và nhận biết được Thiên Chúa tình yêu. Chính vì thế mà thánh Phaolô đã so sánh thế gian như vòm trời tăm tối, và khuyến khích các Kitô hữu hãy sống yêu thương để có thể thành những vì sao chiếu sáng trên vòm trời ấy. “Trên trời có muôn ngàn ngôi sao, thế mà các đạo sĩ nhận ra ngôi sao của Chúa Giêsu.Có thể không ngôi sao nào trên trời dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu, nhưng nếu chúng ta đã đến được với Chúa Giêsu thì cũng nhờ một hay nhiều ngôi sao nào đó dẫn đường. Có thể là cha mẹ, một người bạn, một quyển sách, một biến cố… Điều quan trọng là chúng ta biết đọc những tín hiệu. Giữa trăm ngàn đĩa phim, nếu chúng ta có một đầu đĩa thì có thể xem được và phân biệt được phim về Chúa Giêsu với các phim khác. Giữa trăm ngàn đĩa ca nhạc, nếu chúng ta có một đầu đĩa thì có thể nghe được và phân biệt được đĩa thánh ca với các đĩa khác. Đầu đĩa ấy có thể là vũ trụ, có thể là Hội Thánh. Đặc biệt là Thánh Kinh. Nhưng điều cốt yếu vẫn là tôi phải xem, phải nghe. Thiên nhiên và lịch sử không bao giờ thiếu những ngôi sao tín hiệu để con người đến được với ánh sáng.” (ĐGM. Cosma Hoàng Văn Đạt).
Thời nay, Mẹ Têrêxa Calcutta với tấm lòng yêu thương bao lao là một vì sao chiếu sáng trên vòm trời. Chúa muốn chúng ta là ánh sáng chiếu tỏa cho mọi người chung quanh: “Các con là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,14). Kitô hữu trở nên ánh sao tình yêu, ánh sao tha thứ, ánh sao hy vọng, ánh sao công bình, ánh sao bác ái, ánh sao đạo đức, góp phần dẫn đường cho người khác đến với Chúa. Ngôi sao Đông phương dẫn các nhà chiêm tinh đến gặp Chúa Hài Nhi rồi tiến dâng lễ vật. Chúng ta nhờ ánh sáng Lời Chúa soi dẫn trên hành trình cuộc đời. Lời Chúa là ánh sao chiếu soi tâm hồn giúp chúng ta sáng lên niềm tin. “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa” (Lc,11,28), Chúa Giêsu chỉ cho thấy sự cao cả đích thực của Đức Maria, như thế mở ra cho mỗi người chúng ta khả năng sống mối phúc phát sinh từ Lời được lắng nghe và đem ra thực hành. (x.Verbum Domini, số 124).
Chính Chúa Giêsu là Ngôi Sao Mai dẫn chúng ta đi vào con đường chói ngời ngọn lửa đức mến. Năm 2016 là năm tân Phúc-Âm-hóa đời sống xã hội. Bước theo ánh sáng Ngôi Sao Mai, người Kitô hữu chiếu tỏa các giá trị Phúc Âm giữa lòng trần thế. Loan báo Phúc Âm là loan báo tình yêu thương, là xây dựng “nền văn minh tình thương”. Những chứng tá đức tin cậy mến, những gương sáng đời sống gia đình, những nỗ lực thực thi các giá trị Phúc Âm chính là những ánh sao cụ thể soi đường truyền giáo trong thời đại hôm nay.
Về mục lục
.
 
ÁNH SÁNG CHỈ LÒNG THƯƠNG XÓT
Lm. Giuse Trực
Bài hát “Ngày ánh sáng” của nhạc sĩ Nguyên Kha gợi cho chúng ta về hình ảnh của ngày lễ hôm nay: “Hôm nay muôn dân đã được thấy ánh sáng. Hôm nay Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người. Người là Vua uy quyền, là Vua vinh quang, Vua Thái Bình, Vua muôn đời”.
Rõ ràng “ánh sáng đã đến thế gian để chiếu soi mọi người”. Ánh sáng này không chỉ chiếu soi cho dân tộc Do Thái, mà còn cho muôn dân, để “những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa”. Ánh sáng đó chính là Lòng Thương Xót của Chúa Cha.
I. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
  1. Bài Đọc I: Is 60, 1-6
Cách Chúa Giêsu 765 năm, Isaia đã loan báo cho Israel về “vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi”. Nhờ vinh quang này mà: “Mặt mày ngươi rạng rỡ, lòng dạ ngươi hớn hở tưng bừng”.
  1. Tin Mừng: Mt 2, 1-12
Vinh quang đó được thiên thần loan báo cho các mục đồng, để rồi họ lên đường tìm kiếm và gặp được ánh sáng nơi hang đá Belem.
Vinh quang đó hôm nay các nhà chiêm tinh ở tận phương Đông đã nhận ra và đã lên đường tìm kiếm: “Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”.
Tuy nhiên cũng có những người biết rõ vinh quang đó nhưng họ không đón nhận mà còn tìm cách để tiêu diệt, cụ thể là vua Hêrôđê.
Qua phụng vụ Lời Chúa hôm cho chúng ta thấy rõ điều mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói đến nhiều lần trong Năm Thánh này, đó là “dung mạo Lòng Thương Xót”, được thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô qua hình ảnh Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Dung mạo đó hết sức đơn sơ, gần gũi. Tuy nhiên dung mạo đó lại được ánh sáng của Chúa soi dẫn cho “mọi nước, mọi dân được nhìn thấy”. Vì vậy, ánh sáng này cũng chính Lòng Thương Xót của Chúa, giúp chúng ta nhận ơn cứu độ cho cuộc đời mình.
II. THÁI ĐỘ TRƯỚC ÁNH SÁNG CỦA CHÚA
Đứng trước ánh sáng chỉ đường của Chúa, con người sẽ có hai thái độ.
  1. Đón nhận
Thái độ của các nhà chiêm tinh ở tận phương Đông đã nhận ra vì sao lạ chính là vị cứu tinh nhân loại, nên mặc dù họ là những người ngoại giáo, họ đã không quãng ngại từ bỏ tất cả để đi tìm. Từ đây, ánh sáng này mới là ánh sáng thật, ngôi sao này mới là ngôi sao chân lý… Họ sẵn sàng từ bỏ cuộc sống đang vốn bình yên của mình để đến bái thờ một Hài Nhi do ánh sao lạ chỉ đường. Chắc chắn khi trở về quê nhà, đối tượng niềm tin của họ sẽ thay đổi, từ trước đến giờ có thể họ thờ những vị thần huyền bí của họ, nhưng hôm nay họ đã suy phục Hài Nhi Giêsu; cuộc sống của họ cũng sẽ không còn như xưa, niềm vui, tình liên đới đã tác động đến họ.
  1. Không đón nhận
Đối nghịch với các nhà chiêm tinh, các thượng tế, các kinh sư của người Do Thái thuộc lòng câu kinh thánh: “Phần người, hỡi Bê lem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành phố nhỏ nhất của Giuđa, vì người là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời”, nhưng họ không nhận ra Vị Cứu Tinh nhân loại đã sinh ra tại đó.
Hêrôđê sau khi biết rõ một Hài Nhi đã giáng sinh tại Bêlem, thay vì đến tôn thờ, ông đã bày mưu để tiêu diệt vị cứu tinh, dẫn đến một thảm hỏa là cuộc thảm sát các trẻ sơ sinh dưới 2 tuổi.
Như vậy, đứng trước ngôi sao lạ chính là ánh sáng của Chúa, sẽ có những người đón nhận và được thay đổi, nhưng cũng có những người không đón nhận nên họ cứ cố chấp và ở lì trong tình trạng cũ của mình.
III.  THÁI ĐỘ TRƯỚC LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA
Lòng Thương Xót Chúa tồn tại từ đời nọ trãi qua đời kia, đặc biệt Lòng Thương Xót đó rộng mở trong Năm Thánh này. Thế nhưng con người chúng ta đã có thái độ nào trước Lòng Thương Xót của Chúa?
  1. Đón nhận
Rất nhiều người đã nhận ra Đức Giêsu Kitô là quà tặng Lòng Thương Xót của Chúa Cha, nên họ đã “Tín thác vào Ngài” một cách tuyệt đối.
Dĩ nhiên họ đón nhận Lòng Thương Xót này với một tâm hồn thánh thiện, đơn sơ, trong sáng giống như các đạo sĩ phương Đông, chứ không phải với những lệch lạc để tìm kiếm dấu lạ hoặc thỏa óc hiếu kỳ.
Họ đến với Lòng Thương Xót để được tha thứ các tội lỗi với lòng thống hối ăn năn chân thành qua Bí tích Giải tội. Họ đến với Lòng Thương Xót để được gia tăng sức mạnh qua Bí tích Thánh Thể. Họ đón nhận Lòng Thương Xót để cuộc đời của họ được thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn.
Vì vậy, thể hiện cụ thể của những người đón nhận Lòng Thương Xót là họ biết quý chuộng và tìm kiếm những giá trị linh thánh, biết sợ hãi để tránh xa những điều sai lỗi.
  1. Không đón nhận
Tuy nhiên cũng còn nhiều người chưa đón nhận Lòng Thương Xót Chúa. Nguyên nhân chính yếu là vì họ còn sống trong lợi lộc của riêng mình. Đó là nguyên nhân vì sao Hêrôđê tìm cách tiêu diệt Hài Nhi Giêsu.
Nếu đón nhận Chúa họ sẽ phải mất mát nhiều thứ: tiền bạc, chức tước… Nếu sống theo những gì Chúa chỉ dạy đòi hỏi họ phải hy sinh. Ví dụ như không được tìm lợi ích cho mình bằng những phương tiện xấu, không được sống trong đam mê dục vọng, dù đó là thầm kín, không được sống cho riêng mình…
Họ chỉ nghĩ đến những cái “mất” mà không nhìn thấy cái “được”. Cái “được” lớn nhất của việc đón nhận Chúa, bước theo Chúa là được Chúa xót thương để sống hạnh phúc với Chúa đời đời. Còn ngược lại, họ tìm để “được” những giá trị trần gian, nhưng rồi họ sẽ mất tất cả.
Chúng ta phó thác cho Lòng Thương Xót Chúa tất cả những ai đang mãi mê với những giá trị chóng qua.
Chúng ta xin Chúa cho lòng chúng ta đừng vướng bận bởi những giá trị phù vân.
“Sự sáng đã bừng lên”. Lòng Thương Xót Chúa đang mở ra. Xin Chúa cho chúng con biết lên đường tìm kiếm để cuộc đời chúng con được biến đổi.
Về mục lục
.
LỄ HIỂN LINH, LỄ CỦA ÁNH SÁNG

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
Họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người” (Mt 2,11)
Trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Con Thiên Chúa không những chỉ xuống thế làm người trên mặt đất này, mà còn để cho con người nhìn thấy ; Người không chỉ có sinh ra, nhưng còn để con người biết đến và thờ lạy. Đây là sự thật nhãn tiền được biểu lộ trong ngày lễ Hiển Linh, ngày Chúa tỏ mình ra cách rõ nhất mà hôm nay chúng ta mừng kính.
Hôm nay, các đạo sĩ từ phương Đông đến tìm, họ tìm ai ? Tìm “sự lóe rạng mặt trời đức nghĩa” (Ml 3, 20) như Malaki đã loan báo, tìm Đấng mà chúng ta đọc thấy trong sách Dacaria: “Này có một người, hiệu là ‘Chồi lộc’” (Dc 6, 12). Ai tìm thì sẽ thấy. Họ mỏi công đi tìm theo sự hướng dẫn của ngôi sao lạ và họ đã thấy, họ đến thờ lạy Hài Nhi mới sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria. Do lòng nhân hậu, Chúa tự tỏ mình ra cho người ta thấy như thánh Phaolô viết : “Ðấng cứu thoát ta đã hiển linh… không phải do tự các việc ta làm trong đàng công chính, nhưng là chiếu theo lòng thương xót của Người” (Tt 3,4-5).
Xin hỏi các đạo sĩ : Các ngài đang làm gì, hỡi các đạo sĩ, các ngài làm chi vậy? Các ngài thờ lạy một Trẻ Thơ măng sữa, mới sinh nơi xóm nhỏ đơn nghèo ư? Các ngài tin rằng, Trẻ Thơ ấy là Thiên Chúa sao ? Nhưng “Thiên Chúa ở trong thánh điện của Người, ngai của Người đặt ở trên cao” (Tv 10,4). Còn các ngài, các ngài tìm Chúa nơi hang bò lừa đang nằm trong vòng tay mẹ ẵm sao ? Các ngài làm chi vậy? Tại sao các ngài lại dâng vàng ? Trẻ Thơ này là vua ư ? Nhưng đâu là cung điện cũng như ngai vàng của nhà vua, và đâu là quần thần của nhà vua ? Chuồng bò là cung điện, máng cỏ là ngai vàng, Đức Maria và thánh Giuse là quần thần của vua sao ? Làm sao những người thông thái không thờ lạy Hài Nhi, họ đã bị điên dồ hết rồi sao, phải chăng họ coi thường sự non nớt và cái nghèo của Trẻ Thơ ?
Để nên người thông thái, các đạo sĩ đã trở nên điên dồ; Thánh Thần đã dạy bảo họ trước : “Vì chưng một khi thế gian, đứng trước sự khôn ngoan của Thiên Chúa, đã không lợi dụng khoa khôn ngoan mà nhìn biết Thiên Chúa, thì Thiên Chúa đã quyết ý dùng sự điên rồ của lời rao giảng để cứu những kẻ tin” (1Cr 1, 21). Vì vậy, họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Hài Nhi nghèo này, thờ kính như một vị vua, vị thần. Một ngôi sao hướng dẫn họ bên ngoài đã chiếu tỏa nơi họ ánh sáng huyền nhiệm của chính vì sao.
Chúa là Ánh Sáng
Lễ Hiển Linh là mầu nhiệm ánh sáng, ánh sáng được diễn tả qua biểu tượng ngôi sao hướng dẫn cuộc hành trình của các nhà đạo sĩ. Chúa Kitô chính là Nguồn Sáng thật, là “Mặt Trời mọc lên từ trên cao” (x. Lc 1,78) chiếu tỏa trần gian và lan ra theo những vòng tròn đồng tâm. Trước hết trên Ðức Maria và Thánh Giuse được chiếu sáng bởi sự hiện diện thần linh của Hài Nhi Giêsu, kế đến là các mục đồng tại Bêlem; khi được thiên sứ báo tin, các ngài mau mắn chạy đến hang đá và gặp thấy nơi đó “dấu chỉ” đã được báo trước cho họ: một con trẻ được bọc trong khăn và đặt nằm trong máng cỏ (x. Lc 2,12). Các mục đồng, cùng với Đức Maria và Thánh Giuse, đại diện cho “nhóm nhỏ còn lại của Dân Israel”, những người nghèo, những kẻ đã được loan báo Tin Mừng.
Ánh sáng của Chúa Kitô cuối cùng chiếu toả đến các vị đạo sĩ, quả đầu mùa từ các dân ngoại : “Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng… và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người” (Mt 2,11). Trong khí đó, “cả nhà vua cùng các đại giáo trưởng và luật sĩ trong dân” (Mt 2,3) còn nằm trong bóng đêm, nơi mà tin tức về Ðấng Thiên Sai sinh ra, được thông báo một cách nghịch lý cho họ biết qua các vị đạo sĩ, và khơi dậy không phải niềm vui mừng, nhưng sự lo sợ và những phản ứng thù nghịch (x. Mt 2,3). Ý định của Thiên Chúa quả thật là nhiệm mầu: “Sự sáng đã đến trong thế gian, mà người ta đã yêu mến tối tăm hơn sự sáng, vì việc họ làm là điều xấu” (Ga 3,19).
Nhưng thử hỏi ánh sáng đó là gì đây? Nó chỉ là một biểu tượng gợi ý, hay có một thực tại thật được nói lên qua hình ảnh này? Thánh Gioan viết : “Thiên Chúa là sự sáng, tối tăm không hề có nơi Người” (1Ga 1,5). Và thêm : “Thiên Chúa là Tình Yêu. Hai lời quả quyết trên giúp chúng ta hiểu rõ hơn rằng: Ánh sáng bừng lên trong đêm Giáng Sinh là Tình Yêu Thiên Chúa, được mạc khải nơi chính Lòng Thương Xót Nhập Thể.
Chúa Giêsu “là Ánh sáng đã chiếu soi lương dân và Vinh quang của Israel dân Chúa” (Lc 2,32); Ðược Thiên Chúa linh ứng, cụ Simêon đã thốt lên như thế. Ánh sáng chiếu soi mọi dân tộc, ánh sáng của lễ Hiển Linh phát xuất từ vinh quang của Israel dân Chúa, vinh quang của Ðấng Thiên Sai, mà theo Kinh Thánh, đã giáng sinh tại Bêlem, “thành của Vua Ðavít” (x. Lc 2, 10-11). Các đạo sĩ thờ lạy một Hài Nhi đơn sơ nằm trong đôi tay Mẹ Maria, bởi vì các ngài nhìn nhận nơi Con Trẻ này nguồn mạch của hai ánh sáng đã hướng dẫn các ngài: ánh sáng của ngôi sao và ánh sáng của Kinh Thánh. Các ngài nhìn nhận nơi Con Trẻ vị Vua của người Giuđêa, vinh quang của dân Israel, và cũng là Vua của tất cả mọi dân nước.
Giáo hội là ánh sáng
Trong khung cảnh phụng vụ của lễ Hiển Linh cũng được biểu lộ mầu nhiệm Giáo Hội và chiều kích truyền giáo của Giáo Hội. Giáo Hội được mời gọi chiếu sáng trong thế giới ánh sáng của Chúa Kitô, vừa phản chiếu ánh sáng đó nơi chính mình, như mặt trăng phản chiếu ánh sáng của mặt trời. Trong giáo hội đã được hoàn tất những lời tiên tri xưa nói cho thành thánh Giêrusalem : “Hãy chỗi dậy, hãy mặc lấy ánh sáng, bởi vì ánh sáng của ngươi ngự đến… Các dân tộc sẽ bước theo ánh sáng của ngươi, các Vua Chúa sẽ đi theo vinh quang của Nguồn Sáng ngươi” (Is 60, 1-3). Người kitô hữu sẽ phải thực hiện điều này: sau khi đã được Chúa huấn luyện sống theo các Mối Phúc, nhờ qua chứng tá của tình thương, phải lôi cuốn mọi nguời đến cùng Thiên Chúa. “Như thế phải chiếu toả ánh sáng của chúng con trước mọi người, ngõ hầu nhờ thấy những việc tốt chúng con làm mà họ tôn vinh Cha chúng con trên trời” (Mt 5,16).
Về mục lục
.
TÌM VÀ GẶP
Trầm Thiên Thu
Các nhà chiêm tinh mau mắn và không ngại gian khó trên hành trình tìm kiếm Thiên Chúa, và họ đã gặp được Ngài. Họ đã dâng tiến Chúa những gì quý giá nhất. Đó là một Hành Trình Đức Tin.
Hêrôđê không gặp được Chúa vì độc ác, nham hiểm, ích kỷ, tham quyền cố vị, ưa hình thức, trọng địa vị, khoái chức tước, thích quyền lực để hành hạ người khác.
Lễ Hiển Linh trước đây được gọi là lễ Ba Vua. Thực ra không chỉ có ba người mà nhiều người, họ cũng không phải là các Quốc vương mà là các đạo sĩ, các nhà thông thái, các chiêm tinh gia. Họ từ Đông phương xa lắc xa lơ, và với con mắt “nhà nghề”, họ đã nhận biết có Ánh Sao Lạ xuất hiện, chắc chắn có sự kiện rất lạ. Ngôi sao này kỳ lạ đến nỗi họ đã phải tức tốc lên đường tìm hiểu cho rõ ngọn nguồn, nghĩa là họ đã được Ơn Chúa tác động, nhưng điều quan trọng là họ mau mắn làm theo linh hứng của Chúa Thánh Thần. Họ cứ đi theo dấu Ánh Sao Lạ dẫn đường họ đến Belem, họ được diện kiến chính Vương Nhi Giêsu và Song Thân của Ngài ngay tại nơi hang đá xa xôi, hẻo lánh, lại còn hôi tanh nữa.
Hiển linh là Thiên Chúa tỏ cho nhân loại biết Hài Nhi Giêsu là Thiên Tử, là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế. Các đạo sĩ đại diện nhân loại nhận biết và thờ lạy Con Thiên Chúa. Lời cầu nguyện “xin cho Danh Cha cả sáng” đã và đang trở nên hiện thực.
Từ hàng ngàn năm trước, Thiên Chúa Cha đã hứa ban Ngôi Con, và nay đã ứng nghiệm đúng như lời hứa đó: Ngôi Hai mặc xác phàm làm người và ở giữa nhân loại. Ngài làm người để chia ngọt sẻ bùi với thân phận con người của chúng ta. Quả thật, đó là “độc chiêu” mà Thiên Chúa dùng để tỏ mình ra cho muôn dân.
Chúng ta chỉ là những kẻ nô lệ tội lỗi, nhưng “nô tì kiếp” của chúng ta được chính Đức Giêsu đến tháo gỡ mọi gông cùm của tội lỗi, và còn được thừa nhận là con cái của Thiên Chúa. Ngôn sứ Isaia kêu gọi: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu toả, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi” (Is 60:1-2). Ánh Sáng đó là vinh quang Thiên Chúa, Ánh Sáng đó là Đức Kitô giáng sinh tại Belem, và từ nay, Ánh Sáng đó luôn chiếu tỏa khắp nơi, bóng tối phải lùi bước ở bất cứ nơi nào có Ánh Sáng.
Thật hạnh phúc biết bao! Chúng ta không chỉ được giải thoát và trở nên con cái Thiên Chúa, mà chúng ta còn được Ngài quan tâm, chăm sóc, nâng niu, chiều chuộng. Quả thật, chúng ta không thể không vui mừng hớn hở, mặt mày rạng rỡ, cõi lòng rạo rực, vui còn hơn ngày hội hoặc lễ, tết.
Và vì vậy, “chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước. Đưa mắt nhìn tứ phía mà xem, tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi: con trai ngươi từ phương xa tới, con gái ngươi được ẵm bên hông” (Is 60:3-4). Trong số chư dân đó có chúng ta, những con dân nước Việt bé nhỏ, và trong số những người Việt, chúng ta lại được diễm phúc làm con cái của Thiên Chúa. Vâng, Ánh Sáng Đức Kitô đã và đang chiếu sáng dọc suốt đất nước hình chữ S thân yêu của dân Việt chúng ta.
Thật kỳ diệu biết bao! Đúng như ngôn sứ Isaia đã tiên báo: “Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ, lòng ngươi rạo rực, vui như mở cờ, vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả, của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi. Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha: tất cả những người từ Sơ-va kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa” (Is 60:5-6).
Hài Nhi sinh ra nơi hang chiên lừa hôi tanh trong đêm tối ở cánh đồng hoang vu Belem kia lại chính là Tân Vương Nhi, là Thái Tử của Thiên Hoàng. Ngài đến để giao hòa đất với trời, đồng thời cũng để “xét xử dân Ngài theo công lý, và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn” (Tv 72:6). Các vua chúa trần gian được tiền hô hậu ủng, kẻ hầu người hạ, nhưng Ông Vua Nghèo Giêsu lại đến để phục vụ chứ không được ai phục vụ, Ngài “đến không để kêu gọi người công chính mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (Lc 5:32), Ngài “đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19:9), và Ngài “đến để cho con người được sống dồi dào” (Ga 10:10). Cách làm của Vua Nghèo quá “khác người”, nhân loại không thể hiểu hết, thậm chí là không muốn hiểu! Tại sao? Vì Chúa biết tỏng tư tưởng chúng ta thế nào, như Ngài đã nói “toạc móng heo”: “Tư tưởng của Tôi không phải là tư tưởng của quý vị, và đường lối của quý vị không phải là đường lối của Tôi” (Is 55:8).
Thế nhưng triều đại của Vua Nghèo lại “đua nở hoa công lý và thái bình thịnh trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn” (Tv 72:7), để rồi “mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự” (Tv 72:11). Ngài là Vua các vua, là Chúa các chúa, nhưng Ngài vô cùng nhân từ, Ngài luôn theo sát đồng bào, Ngài luôn tận tụy với đám dân nghèo, Ngài cương quyết bảo vệ công lý, bảo vệ sự thật. Ngài không chỉ tay năm ngón, Ngài trực ngôn và hành động để “giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo. Mạng sống dân nghèo, Ngài ra tay tế độ” (Tv 72:12-13).
Vương Quốc của Thiên Chúa là vương quốc hòa bình, mọi công dân đều sống trong cảnh thanh thản, vô ưu, vô sầu, và luôn tận hưởng niềm hạnh phúc thực sự.
Từ khắp nơi, không trừ nơi nào, ngay cả những vùng sâu vùng xa nhất, từ “các hải đảo xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống Ngài, những vua chúa cũng đều tới tiến dâng lễ vật, mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự” (Tv 72:10-11). Đức Kitô là Vua Công Lý, “Ngài giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo. Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ” (Tv 72:12-13). Đó là điều mà Giáo hội đang rất quan tâm, được trình bày qua Giáo huấn Xã hội Công giáo, nhất là từ Công đồng Vatican II.
Thánh Phaolô nói: “Hẳn anh em đã được nghe biết về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. Ngài đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Đức Kitô như tôi vừa trình bày vắn tắt trên đây” (Ep 3:2-3). Tông truyền là một trong bốn đặc tính của Giáo hội Công giáo, và đó cũng là mối dây liên kết các chi thể trong Nhiệm Thể Đức Kitô, đồng thời cũng là tình liên đới với nhau – kể cả với người không cùng tôn giáo.
Thánh Phaolô giải thích rõ ràng: “Mầu nhiệm này, Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết, nhưng nay Ngài đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông Đồ và ngôn sứ của Ngài. Mầu nhiệm đó là: trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3:5-6). Vì thế, chúng ta không có lý do gì để “chảnh” hoặc kỳ thị người khác, dù người đó là ai.
Thánh sử Mátthêu kể: Khi Đức Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem, và hỏi: “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người” (Mt 2:2). Nghe tin ấy, vua Hêrôđê mới tá hỏa tam tinh, như bị sét đánh ngang tai, vì tâm bất chính nên ông bối rối, và cả thành Giêrusalem cũng xôn xao. Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu. Họ đều trả lời: “Tại Bêlem, miền Giuđê”. Đúng như trong sách ngôn sứ có chép rõ ràng: “Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2:6).
Bấy giờ vua Hêrôđê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện, rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Ngài” (Mt 2:7). Nghe chừng tử tế quá! Miệng nam mô mà bụng một bồ dao găm. Đây là loại “đểu thật” chứ không “đểu giả”, lọc lừa và mánh khóe một cách tinh vi, người khác khó có thể nhận ra, khi biết bị lừa thì “chuyện đã rồi”. Động thái của vua Hêrôđê cũng nhắc chúng ta xem lại lời ăn tiếng nói và hành động của mình có “lệch pha” hay không, vì ai cũng có thể nói hay về mình, muốn chứng tỏ mình “tốt lành” nhưng thực ra lại đang mưu mô thâm hiểm.
Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi, vì họ ngay lành nên cứ tưởng ông vua này cũng tốt lành. không hề biết vua Hêrôđê “khẩu Phật, tâm xà”, mưu mô và thâm độc, chỉ muốn bảo vệ “cái ghế toàn năng” của mình thôi! Họ đâu ngờ rằng hôn quân Hêrôđê chẳng dễ dãi cho họ đi như vậy đâu, ông ta tính “đường dài” hơn, chơi “nước cờ” cao hơn. Chứ nếu ông ta không tính xa thì hẳn ông ta đã bỏ tù họ hoặc lệnh cho họ bị “cẩu đầu trảm” rồi.
Ra khỏi hoàng cung, ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, rồi mới dừng lại. Lạ thật! Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. Vào trong hang đá, thấy Hài Nhi với thân mẫu là Cô Maria, họ liền sấp mình thờ lạy Hài Nhi. Sau đó, họ “nựng” Bé Giêsu và trò chuyện rôm rả với Song Thân của Bé. Có lẽ lúc này lũ mục đồng vẫn tíu tít bên Bé Yêu Giêsu, không muốn rời xa…
Giả sử nếu là chúng ta là các đạo sĩ, chưa chắc chúng ta muốn bước vào, thậm chí có thể kéo nhau quay về cho nhanh, và có thể “chạy mất dép” chứ chẳng chơi đâu! Nhưng thật lạ, các đạo sĩ là những người không chỉ thông thái, có học thức, mà còn giàu có nữa. Họ thấy Bé Giêsu oe oe ngọ nguậy trong máng cỏ, bên cạnh chỉ có hai Cô Chú “nhìn thấy thương”, nghèo kiết xác, và lũ chiên lừa “ngu ngơ” chẳng biết ất giáp gì, có lẽ mới đầu họ cũng “xì xầm” bàn tán với “mắt chữ O, miệng chữ A”, nhưng họ vẫn không hề thất vọng và tin thật rằng Trẻ Sơ Sinh kia là “dị nhân” mà họ muốn tìm gặp, rồi họ can đảm bước vào triều yết Hàn Vương và kính chào Hàn Phu Thê. Thật khó tin, y như cổ tích vậy. Tuy nhiên, đó lại là chuyện hoàn toàn có thật, không phải hư cấu do óc tưởng tượng của con người. Và rồi không chỉ vậy, các đạo sĩ còn dâng những lễ vật cao quý nhất mà họ đã chuẩn bị và đem theo. Quá đỗi diệu kỳ!
Ngày nay, chúng ta được dạy cho biết đó là mầu nhiệm, không thấy cảnh Hàn Gia lúc đó nên chúng ta đã tin. Chứ nếu tận mắt chứng kiến thì chắc chúng ta không thể và không dám tin Em Bé có tên là Giêsu kia lại chính là Ngôi Hai Thiên Chúa giáng thế làm người. Vậy là chúng ta may mắn. Thánh Phaolô viết: “Về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. Người đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Đức Kitô” (Ep 3:2-3). Thật đặc biệt, vì “Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết mầu nhiệm này, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông đồ và ngôn sứ của Người” (Ep 3:5). Thánh Phaolô giải thích: “Mầu nhiệm đó là: trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3:5-6).
Một lần nữa, chúng ta lại thật may mắn và hạnh phúc vì được “thừa kế gia nghiệp” của Thiên Chúa, nên “một thân thể” và “cùng chia sẻ” với Thiên Chúa. Vì thế, mỗi chúng ta đều phải “xắn tay áo lên và hành động”. Đó là sống Đức Tin cụ thể, tức là thực hành lòng thương xót và thể hiện lòng nhân từ như Thiên Chúa Cha.
Các hiền sĩ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, thế nên họ đã đi lối khác mà về xứ mình. Họ lại tiếp tục nhận được ơn Chúa. Chắc lúc này họ mới nhận thấy mình thực sự may mắn vì thoát khỏi “nanh vuốt” của ông vua dã tâm Hêrôđê. Việc Chúa làm thật là kỳ diệu!
Các đạo sĩ đã nỗ lực tìm gặp “dị nhân” Giêsu cho bằng được, gặp rồi thì họ tin, can đảm bước vào đời, họ tránh “ác nhân” Hêrôđê là cách hành động tích cực và sống tốt. Sống tốt không chỉ là “làm lành, lánh dữ” mà còn phải tích cực hành động để bảo vệ công lý cho tha nhân. Các đạo sĩ là bài học cảnh giác cho chúng ta đề phòng ngày nay, khi mà sự ác đang hoành hành khắp nơi.
Lạy Thiên Chúa chí minh và chí thiện, xin giúp chúng con biết noi gương các đạo sĩ, luôn miệt mài tìm kiếm Chúa và can đảm hành động đúng đắn. Xin “ánh sao” Ý Chúa luôn soi đường dẫn lối chúng con suốt hành trình trần thế, để chúng con thực hiện mọi sự theo đúng Tôn Ý Ngài trong từng nhịp thở. Xin cho chúng con trở thành những ánh sao sáng để người khác có thể nhận biết Chúa, xin giúp chúng con biết mau mắn và kiên trì tìm kiếm Chúa, và gặp được Chúa ngay trên cuộc lữ hành trần gian này, nhất là được gặp Chúa trên Nước Trời mai sau.
Lạy Đức Mẹ Maria và Đức Thánh Giuse, xin thương nguyện giúp cầu thay. Xin giúp chúng con sống ngay thẳng, tâm địa tốt lành, không nhìn người khác bằng nhãn quan suy đoán theo thiên kiến. Tất cả vì sáng danh Chúa chứ không vì vinh danh chúng con hoặc tư lợi.
Chúng con cầu xin nhân Danh Đấng Thiên Sai, Thiên Chúa của chúng con. Amen.
Về mục lục
.
ƠN CỨU ĐỘ CHO MUÔN DÂN
Jos. Vinc. Ngọc Biển
Trong Tin Mừng, chúng ta thấy có nhiều lần Đức Giêsu nói về mạc khải. Tức là Thiên Chúa dùng nhiều thể nhiều cách để tỏ lộ cho con người biết về chính Ngài.
Nói cách khác, Thiên Chúa không tự mạc khải mình ra cho nhân loại, thì con người có cố gắng thế nào cũng không thể biết gì về Ngài được!
Hôm nay, Giáo Hội long trọng mừng lễ Hiển Linh, lễ này, trước kia gọi là lễ Ba Vua.
Lễ Hiển Linh mang một ý nghĩa rất đặc biệt, đó là: Đức Giêsu, Con Thiên Chúa đã nhập thể làm người, và tỏ mình ra cho nhân loại qua ba nhà Đạo Sĩ dưới một “ngôi sao lạ”.       
  1. Ý nghĩa “ngôi sao lạ”
Với người Á Đông, theo quan niệm từ ngàn xưa, mỗi khi xuất hiện một ngôi sao lạ trên bầu trời, thì dưới trần, một nhân vật sẽ được chiếu mạng. Đây cũng là lý do khởi điểm của môn chiêm tinh học thời bấy giờ.
Ba nhà thông thái mà Tin Mừng hôm nay nhắc tới, các ngài là những nhà chiêm tinh và thiên văn học, vì thế, công việc chính yếu của các ngài là nghiên cứu về những dấu lạ trên bầu trời bằng kiến thức khoa học và kinh nghiệm.
Khi thấy điềm lạ xuất hiện trên không trung qua vì sao lạ, với khả năng chuyên môn và ơn trên soi sáng, các Đạo Sĩ biết rõ ngôi sao lạ ấy là dấu hiệu loan báo về Đấng Cứu Thế đã giáng trần, vì thế, Đấng mà muôn dân mong đợi cũng là Đấng mà các Đạo Sĩ đang khao khát đợi trông, nên các ngài đã lên đường để đi tìm.
Khi đến Belem, các ngài đã tiến vào triều đình nơi vua Hêrôđê trị vì và mang hai câu hỏi để đệ trình lên vị vua sở tại: “Vua người Dothái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Ðông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người” (Mt 2,2). 
Khi hỏi vua Hêrôđê như vậy, các ngài đã chứng minh sự mạc khải của Thiên Chúa cho mình và thể hiện niềm xác tín mạnh mẽ vào Đấng Cứu Thế, nay đã đến và ở giữa nhân loại, quả đúng với lời tiên báo: “Một vì sao hiện ra từ Giacóp, một vương trượng trỗi dậy từ Israel” (Ds 24,17).
Chính sự mong mỏi, khao khát và niềm tin của các Đạo Sĩ đặt nơi Đức Giêsu là nguồn ơn cứu độ, thế nên, dù đường xa dặm thẳm, dù mệt nhọc khó khăn, phải băng rừng vượt biển, trèo đèo lội suối, dãi nắng dầm mưa, lặn lội đêm ngày, nhưng các ngài đã không quản ngại để cùng nhau đi tìm cho thấy “Đấng Mêsia xuất thân từ dòng dõi vua Đavít” để phủ phục tôn thờ và dâng tặng những kỷ vật quý giá gồm vàng, nhũ hương và mộc dược.
Qua việc Thiên Chúa tỏ mình ra cho các Đạo Sĩ hôm nay, chúng ta nhận thấy: lễ Hiển Linh mở ra cho dân ngoại một chân trời mới với biết bao hy vọng! Điều mà dân Dothái từ xưa đến nay luôn nghĩ chỉ có mình mới được cứu độ, thì với sự tỏ mình ra của Đức Giêsu cho các nhà chiêm tinh chứng minh cho nhân loại thấy ơn cứu độ không thể bị đóng khung cho một quốc gia, một dân tộc, hay một nhóm người nào, mà là cho hết mọi người, mọi nơi và mọi thời, để “… tất cả mọi người đều được chia sẻ cùng một quyền thừa kế, họ trở nên một phần của cùng một thân thể”.
  1. Sứ điệp Lời Chúa 
Mừng lễ Hiển Linh hôm nay, sứ điệp Lời Chúa gợi mở cho chúng ta thấy:
Nếu các đạo sĩ Đông Phương đã nhờ ngôi sao lạ dẫn đường để đến Belem và gặp được Hài Nhi Giêsu, thì mỗi người chúng ta khi đã lãnh nhận ánh sáng đến từ Thiên Chúa, qua Bí tích Rửa Tội, chúng ta cũng phải trở nên ánh sáng soi đường cho người khác đến với Chúa như lời dạy của Đức Giêsu: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,14); hay như lời nhắc nhở của thánh Phaolô: “Anh em hãy chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời” (Pl 2,15).
Chúa không bao giờ chấp nhận chúng ta ngồi ù lỳ trong bóng tối và nguyền rủa bóng đêm! Không! Bởi vì: “Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn lên rồi lấy thùng úp lại, nhưng đặt trên đế, và nó soi sáng cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,1516). Ánh sáng mà Đức Giêsu mời gọi chúng ta chiếu tỏa chính là đời sống bác ái, yêu thương và liên đới; sống công bình và làm chứng cho sự thật…
Ngày hôm nay, trong đời sống đạo, nhiều khi thay vì chiếu sáng, chúng ta lại ưa chuộng bóng đêm khi mang trong mình sự ích kỷ như Hêrôđê! Sợ mất quyền, mất chức, sợ mất miếng cơm manh áo, hay sợ liên lụy, phiền hà cách này, cách khác, mà không dám nhìn nhận sự thật hay làm chứng và sống cho chân lý!
Mặt khác, sự kiêu ngạo, hóng hách và tự tôn khi cho rằng mình mới xứng đáng được Chúa thương bởi vì mình xuất thân từ một gia đình đạo hạnh, nề nếp, lễ giáo gia phong… còn những kẻ đã vướng vào vòng lao lý của tội lỗi một thời, hay không cùng niềm tin với mình thì không bao giờ được Thiên Chúa đoái thương và cứu độ! Tuy nhiên, việc Thiên Chúa tỏ mình cho các Đạo Sĩ là những người dân ngoại hôm nay sẽ cật vấn lương tâm của chúng ta nếu đã có lần chúng ta an tâm tự tại để yên bề như những người Pharisêu, Luật Sĩ, Kinh Sư khi có thẻ kinh trên tay, quanh cổ, nơi gấu áo và tự cho mình được quyền đặc tuyển, thì hôm nay cần phải xem lại, bởi vì ơn cứu độ là một ơn nhưng không mà Thiên Chúa ban cho ai là tùy ý của Ngài. Mặt khác, những khái niệm đạo đức do chính mình đặt ra và mặc cho nó một tiêu chuẩn rồi uốn nắn, gán ghép Thiên Chúa phải theo thiển ý của mình… những thứ ấy không đủ để đảm bảo phần rỗi, vì nó không được xây dựng trên tình yêu và lòng mến.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con được nhạy bén và nhận biết Chúa qua các dấu chỉ, nhất là qua Lời Chúa. Xin ban cho chúng con có được lòng khiêm tốn và yêu mến Chúa như các Đạo Sĩ. Và, xin ban cho chúng con tránh xa thái độ ích kỷ, tàn ác của vua Hêrôđê khi xưa. Amen.
Về mục lục
.
HÃY LÀ SAO LẠ DẪN ĐƯỜNG GIỚI THIỆU CHÚA
Huệ Minh
Epiphany: manifestation or striking appearance có nghĩa là Lễ Hiển Linh.
Tiếng Hy-lạp cổ dùng chữ Theophaneia (Theophany meaning ‘vision of God’).
Lễ này được cử hành vào ngày 6 tháng Giêng theo truyền thống xa xưa. Vào Lễ này, các tín hữu Tây Phương tưởng nhớ ba nhà Đạo Sĩ thăm viếng Chúa Hài Nhi Giêsu và sự hiển linh của Con Chúa cho các Dân Ngoại.
Từ năm 1970, Giáo Hội Công Giáo Rôma, nghi thức Latinh đã cử hành Lễ Hiển Linh vào ngày 6 tháng 1 và là Lễ buộc. Các quốc gia khác có thể cử hành vào Chúa Nhật, sau ngày 1 tháng 1.
Lễ Hiển Linh còn được gọi là Lễ Ba Vua. Trong khi các tín hữu Đông Phương tưởng nhớ việc Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan, được xem là sự hiển linh của Con Chúa cho toàn thế giới.
Lễ Hiển Linh là lễ Thiên Chúa tỏ mình ra cho mọi người. Thiên Chúa không chỉ tỏ mình ra cho riêng Dân của Ngài mà còn cho muôn dân. Bởi đó, mọi người trong chúng ta phải cộng tác với Thiên Chúa để làm bừng sáng lên ánh sáng đã xuất hiện từ Phương Đông. Chúng ta phải là ánh sao dẫn đường cho mọi người đến với Chúa. Tiên tri Isaia trong bài đọc thứ nhất hôm nay đã mở ra cả một viễn tuợng lớn lao: đó là ngày và thời vinh quang của Thiên Chúa chiếu trên Dân Chúa và biến Dân Chúa thành điểm thu phục muôn dân. Mọi người từ mọi phương hướng sẽ cùng quy về một mối trong tiếng ngợi ca Thiên Chúa.
Lời ngôn sứ Isaia đã vang vọng từ 700 năm trước Công Nguyên về sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế: Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi (Is 60, 1).
Ánh sáng sẽ bừng lên trong đêm tối và con dân sẽ đón nhận vinh quang Thiên Chúa. Đấng Cứu Thế là ánh sáng đến trong thế gian để xua trừ bóng tối của tội lỗi và gian tà. Mọi dân sẽ hướng về nguồn ánh sáng để dõi tìm ơn cứu độ: Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước (Is 60, 3).
Theo truyền thuyết, những nhà chiêm tinh, nhà khôn ngoan, còn gọi là các đạo sĩ hay ba vua, đã chiêm ngắm bầu trời và nhận ra vì sao lạ. Họ đã dõi theo ánh sáng của vì sao lạ để tìm đến bái thờ Đấng đã được sai đến.
Ngôn sứ Isaia đã tiên báo về việc các bậc quân vương tiến về để thờ lạy Chúa Hài Nhi. Các nhà Đạo Sĩ Phương Đông cùng đến dâng Chúa của lễ là vàng, nhũ hương và mộc dược. Isaia đã có thị kiến về đoàn người từ các phương xa tìm đến bái thờ: Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Mađian và Êpha: tất cả những người từ Sơva kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa (Is 60, 6).
Các nhà Đạo Sĩ đã miệt mài kiếm tìm qua dấu chỉ mà không quản ngại gian khó. Các ngài đã được Thiên Chúa đáp trả như lòng mong ước.
Chúa Giêsu đã dạy : Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho (Mt 7, 8). Hồng ân Chúa bao la tuyệt vời, đoàn người dân ngoại đã được chứng kiến tận mắt ơn Cứu Độ đã tỏa sáng: Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến (Mt 2, 11).
Vàng được mệnh danh là vua của mọi kim loại. Vàng thường được coi là của lễ xứng hợp nhất để dâng tiến vua. Chúa Giêsu sinh ra để làm vua. Vị vua này không cai trị bằng vũ lực nhưng bằng tình yêu. Ngài cai quản lòng người không từ ngai vàng mà từ thập tự giá.
Sự có mặt của Ngài đã biến đổi thế giới loài người, mang lại hạnh phúc cho nhân loại. Bệnh tật được chữa lành (Mt 8, 16-17), tang tóc được hân hoan (Lc 7, 11-17), tội lỗi được tha thứ (Mt 2,5), ngay cả sự chết đối với Ngài chỉ là giấc ngủ bình an (Mc 5, 39). Vì vua này xuất hiện luôn ban cho con người một niềm vui, một niềm hy vọng “Phúc cho anh em, là những người nghèo, vì triều đại Thiên Chúa là của anh em. Phúc cho anh em là những người đói khát vì anh em sẽ được no nê. Phúc cho anh em là những người đang khóc vì anh em sẽ được vui cười” (Lc 6, 20-21).
Nhũ hương dâng cho Hài nhi là thứ hương liệu có mùi thơm dịu mà thầy tư tế thường dùng trong các nghi thức thờ phượng. Thầy tư tế chính là trung gian giữa Thiên Chúa và con người. Vị tư tế cũng chính là người mở đường dẫn lối để con người đến được với Thiên Chúa.
Ánh sao soi đường đến nơi thì đã tắt, bởi lẽ Chúa Giêsu chính là ánh sáng thật để soi rọi con người tìm ra chân lý. Chân lý con người tìm kiếm là tình yêu và gia nghiệp của Ngài. Chính chúa Giêsu sẽ dẫn đưa con người về với Chúa Cha.Thư gửi Ephêsô, thánh Phaolô đã khẳng định: “Trong Đức Giêsu Kitô và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại cũng được thừa kế gia nghiệp với người do thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa ban” (Eph 3,6).
Mộc dược là lễ vật dành cho người chết, là hương liệu để xông xác người. Chúa Giêsu đến thế gian để sống cho con người và cuối cùng chết cho con người. Cái chết của Ngài biểu lộ sự trung thành đối với loài người mà Ngài đã yêu thương đến tận cùng (Ep 13, 1). Chúa Giêsu không nghĩ tới mình, vì lẽ đó Ngài có thể đón tiếp mọi người và lắng nghe mọi người đến với Ngài. Cuộc sống Chúa Giêsu là một cuộc tự hiến cho con người để cứu độ con người.
Qua Kinh Thánh và lịch sử của ơn cứu độ, ta biết có nhiều tâm hồn khao khát đi tìm kiếm và mong chờ Chúa. Khi thời gian chuẩn bị đã mãn, dấu chỉ đã tỏ hiện, lòng con người thôi thúc khát mong và mùa hồng ân đã cận kề, các Đạo Sĩ tìm hỏi: “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.”(Mt 2, 2).
Thiên Chúa tỏ mình ra. Chúng ta biết được qua trang Tin Mừng, Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho muôn dân. Thánh Gioan viết: “Thiên Chúa nào có ai thấy Ngài bao giờ, và làm sao thấy Ngài được? Nhưng người Con duy nhất của Ngài đã làm người, và cho ta thấy được Thiên Chúa mang bản tính con người, làm người như chúng ta và ở giữa chúng ta”. Từ khi Ngôi Lời nhập thể, ai tin nhận Đức Kitô là tin nhận Thiên Chúa, ai từ khước Đức Kitô là từ khước Thiên Chúa.
Việc đi theo ngôi sao lạ để đến bái thờ và dâng Chúa những của lễ thật sự chẳng phải là việc giản đơn và cũng không phải ai cũng làm được như 3 nhà đạo sĩ.
Muốn như vậy, trước hết việc lên đường đòi phải ra khỏi nhà, giã từ những tiện nghi dễ chịu, từ bỏ những sinh hoạt quen thuộc, chấp nhận những thiếu thốn, những nguy hiểm, những bất tiện đường đi. Thiện chí của các Ngài rất cao, nên khi ngôi sao biến mất, các Ngài vẫn không nản lòng bỏ cuộc, nhưng tìm mọi cách vượt qua khó khăn, tìm mọi cách để đến gặp được Chúa. Chúa đã chúc lành cho thiện chí của các Ngài, nên đã cho các Ngài được gặp Chúa.
Khi người Kitô hữu chỉ đóng khung đời sống đạo của mình trong nhà thờ, giữa những nghi lễ, mà không nhận ra những nhu cầu, những đòi hỏi của xã hội chung quanh; khi một cộng đoàn Kitô hữu quá bám víu vào những thứ gọi là quyền lợi tôn giáo của mình mà làm ngơ trước những đau khổ, bất hạnh của kẻ khác thì chính họ đang làm dập tắt những ánh sáng dẫn đường tới Chúa Kitô.
Đời sống chúng ta là một cuộc đi tìm Chúa. Trong cuộc đi tìm, ta phải có thiện chí như Ba Vua, biết dấn thân lên đường, biết phấn đấu chấp nhận hy sinh gian khổ, biết kiên trì không nản lòng bỏ cuộc khi gặp thử thách.
Ba Vua không thể đến với Chúa nếu không có ngôi sao dẫn đường.
Hôm nay, Chúa muốn mỗi người chúng ta là một ngôi sao lạ. Chúa mời gọi ta loan báo tình thương của Chúa, đưa dẫn những tâm hồn thiện chí đến với Chúa. Và như vậy, ta hãy là ngôi sao sáng trong đời sống công bình. Hãy chiếu sáng đức thương yêu của Chúa. Hãy toả ánh sáng ấm áp tình người. Qua những luồng sáng tự nhiên phát ra từ ta ấy, chắc chắn mọi người sẽ nhận biết và tìm về với Thiên chúa là ánh sáng chân thật.
Về mục lục
.
THIÊN CHÚA TỎ MÌNH
Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm
Ngày xưa người ta quen gọi lễ Hiển Linh là lễ Ba Vua, sở dĩ vậy vì trong Tin Mừng đọc trong Thánh Lễ hôm nay, ba nhà đạo sĩ tìm kiếm để bái yết hài nhi Giêsu. Ba nhà đạo sĩ là những người trổi trang về kiến thức uyên bác; họ có thể đọc dấu chỉ thiên nhiên để nhận ra sự xuất hiện của những người đặc biệt. Từ ngữ “vua” được dùng trong “ba vua” là để chỉ người trổi trang hơn người khác về phương diện nào đó.
Qua biến cố mục đồng tới viếng hài nhi, người ta nhận ra Thiên Chúa đã tỏ mình cho những người Do Thái nghèo nhưng có tâm hồn mở rộng sẵn sàng đón nhận Thiên Chúa. Với biến cố ba nhà đạo sĩ đi viếng hài nhi, Giáo Hội nhận ra Thiên Chúa tỏ mình cho dân ngoại.
Người Do Thái cho rằng họ là dân được tuyển chọn, còn các dân tộc khác là dân ngoại. Với biến cố Đức Giêsu và việc các dân tộc khác đón nhận Tin Mừng, người ta nhận ra rằng tất cả mọi dân tộc đều thuộc về Thiên Chúa, tất cả các dân tộc đều được Thiên Chúa yêu thương như dân tộc Do Thái. Hôm nay với trình thuật các đạo sĩ tìm kiếm và bái lạy Đức Giêsu, Kitô hữu nhận ra Thiên Chúa cũng mặc khải cho dân ngoại. Thiên Chúa yêu thương dân ngoại như Ngài đã từng yêu thương dân tộc Do Thái. Mọi dân tộc đều bình đẳng trước Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương mọi dân tộc, mọi con người, chứ không phải chỉ riêng dân tộc Do Thái.
Kitô hữu phải là người cảm nghiệm sâu xa tình yêu Thiên Chúa dành cho con người, và đặc biệt cho chính mình. Kitô hữu cũng phải là người sống bình an và hạnh phúc, vì ý thức mình là tạo vật được Thiên Chúa yêu thương. Ngài tha thứ mọi lỗi lầm, và không chỉ vậy, còn mời gọi mọi người vào chia sẻ sự sống vĩnh cửu hạnh phúc với Thiên Chúa. Một khi phần nào cảm nghiệm tình yêu của Thiên Chúa và bình an hạnh phúc, Kitô hữu thấy mình phải chia sẻ niềm vui này, tin mừng này cho những người anh em của mình chưa biết Đức Giêsu, ngõ hầu họ cũng có niềm vui này. Bản chất Kitô hữu là rao giảng Tin Mừng, làm cho muôn dân được nghe, hiểu và sống đáp trả tình yêu Thiên Chúa.
Ngày nay nhiều người “dị ứng” với từ ngữ truyền giáo, vì từ ngữ này gợi lên nơi người ta ấn tượng rao giảng để kéo người khác bỏ đạo của họ để theo Kitô giáo. Nếu có ý hướng như vậy, người ta mang nặng tính phe phái và giành giựt nhiều hơn là chia sẻ tin mừng. Một Kitô hữu đúng nghĩa phải là người muốn chia sẻ tin mừng với người khác, vì mình nghĩ rằng biết Đức Giêsu là điều rất tốt và ích lợi cho mọi người. Tuy nhiên, Kitô hữu phải là người luôn tôn trọng người khác, tôn trọng tự do và tín ngưỡng của tha nhân; nếu ai đó đón nhận Tin Mừng, thì đó là vì chính họ thấy sự thật, họ cũng được bình an và hạnh phúc hơn khi trở thành Kitô hữu.
Khi một Kitô hữu muốn rao giảng tin mừng, họ phải tự vấn chính mình: “niềm tin vào Đức Giêsu mang gì lại cho tôi? Tin vào Đức Giêsu, có làm cho tôi sống bình an và hạnh phúc hơn không? Nếu tin vào Đức Giêsu Phục Sinh không giúp gì cho tôi, thì tại sao tôi lại muốn làm cho người khác trở thành Kitô hữu như tôi?” Lời mời gọi rao giảng tin mừng Đức Giêsu Phục Sinh đòi Kitô hữu phải xét lại niềm tin của mình, lối sống của mình. Nếu đời sống của tôi không là đời sống toát lên nét tươi vui của một người hạnh phúc, thì làm sao tôi có thể rao giảng tin mừng được! Nếu tôi sống u buồn thất vọng, tôi là phản chứng cho Tin Mừng Phục Sinh. Tôi phải sống sao, để đời sống của tôi không trở thành phản chứng.
Kitô hữu là người có Chúa Kitô nơi mình, là người bạn của Đức Giêsu Kitô, là người muốn trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài. Cách sống của Đức Giêsu Kitô phải là cách sống của mỗi Kitô hữu. Kitô hữu phải là người có cùng chọn lựa với Đức Giêsu Kitô, phải biết yêu thương con người hôm nay như chính Đức Giêsu đã yêu, phải là người yêu đến cùng anh em mình, người thân mình, những người mình gặp gỡ, và thậm chí cả những kẻ không ưa và ghét mình. Đức Giêsu đã cầu nguyện cho những kẻ giết Ngài, Kitô hữu cũng phải tha thứ cho những người làm hại họ.
Kitô hữu phải là người trung thành như Thiên Chúa là Đấng Thành Tín. Thiên Chúa không bao giờ phản bội, và Kitô hữu cũng không bao giờ được phản bội ai. Không làm hại ai. Chỉ muốn điều tốt cho tha nhân, chỉ tìm lợi ích cho người khác chứ không làm hại họ, đó phải là cách sống của Kitô hữu. Có được như vậy, nhiều người sẽ ngạc nhiên và sẽ tìm hiểu niềm tin của Kitô hữu; để rồi nếu họ muốn họ có thể chia sẻ niềm tin Kitô hữu, để họ cũng được bình an và hạnh phúc như những Kitô hữu. Kitô hữu phải là men trong bột, phải là ánh sáng cho thế gian. Kitô hữu tuy có cùng nỗi bận tâm và gian nan như bất cứ con người nào sống trên đời, nhưng ánh sáng đức tin đã soi sáng cho họ, giúp họ tuy sống giữa trần gian nhưng không thuộc về trần gian.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
  1. Bạn có muốn người khác có cùng niềm tin với bạn không? Tại sao?
  2. Nếu không tin vào Đức Giêsu, bạn có được như hiện tại không? Tại sao?
  3. Phải rao giảng thế nào để con người ngày nay dễ đón nhận Tin Mừng Đức Giêsu Kitô?
Về mục lục
.
CHÚA NHẬT LỄ HIỂN LINH_C
Lm. Antôn
Ông bà anh chị em thân mến. Lễ Chúa Hiển linh hôm nay có nghĩa là Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta biết tình yêu, lòng thương xót và ơn cứu độ của Ngài qua sự nhập thể của Ngôi Hai Thiên Chúa. Vì yêu thương nên Thiên Chúa đã khiêm nhường sinh xuống trần, mặc lấy thân phận yếu hèn của con người, và sống giữa chúng ta.
Bài Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết câu chuyện ba nhà đạo sĩ từ Phương Đông xa xôi, bây giờ là quốc gia I-ran, được ngôi sao trên bầu trời dẫn lối chỉ đường vượt núi đồi, khó khăn và nguy hiểm, tìm đến Belem và gặp Hài Nhi Giêsu đang nằm trong máng cỏ, có sự hiện diện của Đức Maria và thánh Giuse. Chúng ta có thể hình dung được trạng thái của các đạo sĩ trong những giây phút đầu tiên gặp gỡ. Có lẽ các đạo sĩ ngạc nhiên và ngỡ ngàng với khung cảnh khó tin trước mắt, không phải là nơi cung điện nguy nga hay cao sang quyền quí và đủ mọi tiện nghi. Nhưng một điều chắc chắn là các ông không lầm lạc. Như các mục đồng chăn chiên đã được thiên thần loan báo và chỉ dẫn, các ông nhận ra và tin thật đây là Vị Vua, Đấng Cứu Thế, vì đã được Kinh thánh cho biết và ngôi sao sáng dẫn đường. Sau đó các đạo sĩ đã tâm tình thờ lạy và dâng lễ vật trân quí cho Chúa.
Chúng ta biết trong ngày Ngôi Hai Thiên Chúa giáng sinh xuống trần đã không được dân Ngài đón tiếp. Họ đã từ chối khiến Ngài phải sinh ra trong một nơi ở của súc vật, đúng như Tin mừng thánh Gioan nói: “Ngài đã đến nơi nhà của Ngài, mà người nhà đã không tiếp nhận Ngài.” Vì sự từ chối của dân Chúa, tình yêu ơn cứu độ giờ đây được ban cho dân ngoại, mà ba đạo sĩ từ Phương Đông xa xôi là đại diện, như lời báo trước của ngôn sứ I-sa-i-a: “Chư dân sẽ lần bước tìm về sự sáng của ngươi, và các vua hướng về ánh bình minh của ngươi.”
Như thế, ông bà anh chị em thân mến, với sự giáng sinh nhập thể của Chúa Giê-su, Ngôi Hai Thiên Chúa, tình yêu, lòng thương xót và ơn cứu độ không còn bị giới hạn trong một dân tộc hay một miền đất nào nữa, nhưng được ban cho hết mọi người. Đây là một mầu nhiệm và là hồng ân của Thiên Chúa. Tình yêu Thiên Chúa là một tình yêu không biên giới, không phân biệt và ban cho hết mọi người, người tốt người xấu, người lành kẻ dữ, cho tất cả mọi người trần thế. Tình yêu cao cả của Thiên Chúa bao la, không biên giới, không giới hạn, và hằng tuôn đổ xuống trên mọi người. Thiên Chúa tiếp tục mạc khải tình yêu và hồng ân của Ngài cho chúng ta, và chúng ta nhận biết có người sẳn sàng tiếp đón, và có những người từ chối. Tuy nhiên, để đón nhận được tình yêu và hồng ân cao quí đó, mỗi người chúng ta cần mở rộng tâm hồn để tiếp nhận, và chúng ta có thể học được nơi ba vị đạo sĩ những phương cách để tiếp nhận.
Phương cách thứ nhất mà chúng ta có thể học được nơi các đạo sĩ là tấm lòng khao khát chân thật tìm kiếm Chúa, tìm kiếm sự mạc khải cũng như thánh ý Chúa trong Kinh thánh cho chúng ta. Chúng ta thấy các đạo sĩ có lòng khao khát tìm kiếm Vị Vua, cho nên các ngài đã dùng thời giờ học hỏi nghiên cứu Kinh Thánh để biết ngày giờ, nơi chốn và dấu chỉ. Chúng ta nhận biết mặc dù ở tận Phương Đông xa xôi và giữa bầu trời đầy sao, các đạo sĩ vẫn liên tục tìm kiếm, học hỏi để phát hiện vị sao lạ giữa muôn ngàn tinh tú. Và để nhận ra rõ và chắc chắn ngôi sao này là điềm báo vị Vua mới sinh ra, các đạo sĩ đã phải dựa vào Kinh Thánh trong sách Dân số đã cho biết “Một ngôi sao mọc lên từ Gia-cóp, một vương trượng xuất từ Israel” (Ds 24, 17)
Phương cách thứ hai mà chúng ta học được nơi các đạo sĩ để tiếp nhận tình yêu và hồng ân của Chúa là sự kiên nhẫn. Chúng ta biết trong cuộc hành trình tìm đến, ngôi sao dẫn đường đột nhiên biến mất làm cho các đạo sĩ lo sợ và phân vân “Không biết có nên tiếp tục cuộc hành trình hay trở lại quê nhà?” Họ đã phải hỏi những người Do thái: “Vua người Do thái mới sinh hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người.” Các đại giáo trưởng và luật sĩ người Do thái đã cho các đạo sĩ biết qua lời Thánh Kinh: “Tại Be-lem, thuộc xứ Giuda, vì đó là lời do Đấng tiên tri đã chép.”   Sự kiên nhẫn và lòng nhiệt thành của họ đã được đền đáp xứng đáng “Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Đông phương lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở. Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng.”
Phương cách cuối cùng mà chúng ta có thể học được nơi các đạo sĩ là: ý chí lên đường hành động, hay thực hành Lời Chúa chỉ dạy. Các đạo sĩ biết Kinh thánh và nhìn thấy ngôi sao chỉ đường, nhưng tất cả những điều đó sẽ không ích lợi gì, nếu họ không lên đường thực hành cuộc hành trình tìm đến. Họ biết cuộc hành trình xa xôi, khó khăn và nguy hiểm, nhưng với ý chí kiên cường tìm đến Vị Vua, cho nên họ đã chỗi dậy lên đường, thực hành lời Kinh thánh chỉ dạy. Các đạo sĩ tin sẽ được trợ giúp để tìm gặp được người mong ước.

Ông bà anh chị em thân mến. Trong lúc tôi đọc, suy nghiệm câu chuyện ba đạo sĩ tìm kiếm Chúa, bất thình lình tôi nghĩ đến những điểm tương đồng trong việc chúng ta đến tham dự Thánh lễ hàng tuần. Tôi tin tất cả chúng ta được chính Chúa Ki-tô chỉ dẫn trong Tin mừng, cũng như thôi thúc chúng ta tìm đến với và gặp Chúa trong Bí tích Thánh Thể, để tiếp nhận thánh ý Chúa trong Lời Chúa, và hồng ân tình yêu của Chúa trong Thánh Thể. Chúng ta tin Lời Chúa là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống cho chúng ta trong cuộc hành trình đức tin nơi trần gian đầy những sự khó khăn, thử thách và nguy hiểm, và Thánh Thể là nguồn sức mạnh bảo tồn ý chí giúp chúng ta can đảm vượt qua. Đời sống đức tin của chúng ta là một cuộc hành trình đi tìm Chúa. Trong cuộc đi tìm, ta phải có tấm lòng chân thành khao khát, kiên nhẫn và thiện chí như ba đạo sĩ, và phải can đảm thực hành Lời Chúa chỉ dẫn, biết phấn đấu chấp nhận hy sinh gian khổ, biết kiên trì không nản lòng bỏ cuộc khi gặp thử thách. Ba đạo sĩ không thể đến với Chúa nếu không có ngôi sao dẫn đường.
Hôm nay, Chúa muốn mỗi người chúng ta là một ngôi sao sáng, loan báo và chia sẻ tình yêu thương của Chúa, đưa dẫn những tâm hồn thiện chí đến với Chúa. Hãy là ngôi sao sáng toả ánh sáng lòng thương xót của Chúa đến những người sống chung quanh chúng ta, để qua ánh sáng tình yêu và thương xót Chúa, mọi người sẽ nhận biết và tìm về với Thiên Chúa là ánh sáng chân thật, và tiếp nhận ơn cứu độ của Chúa.
Nhân dịp đầu năm mới 2016, xin cầu chúc tất cả ông bà anh chị em có một đời sống đức tin trong sáng như ngôi sao sáng để đưa dẫn nhiều tâm hồn đến với Chúa.
Về mục lục
.
NƠI HÀI NHI GIÊSU,
THIÊN CHÚA MUỐN HIỂN LINH THỨ VINH QUANG NÀO?
Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Tôn giáo nào thì cũng muốn cho vị thần linh mình tôn thờ được vinh hiển; đó là một tình cảm tôn giáo đáng quí nhưng cũng thật đáng sợ, vì nó đã từng và còn đang là nguyên nhân gây nên biết bao cuộc bắt hại, chiến tranh tôn giáo, hay các thủ đoạn khủng bố ác độc hòng triệt hạ đối phương. Lịch sử nhân loại đã ghi lại không ít các cuộc chiến tranh tôn giáo khốc liệt. Có phải Hiển Linh chúng ta mừng hôm nay cũng là: làm cho vinh quang Thiên Chúa được rạng rỡ, cho quyền năng Người được hiển hách, cho dầu đang bị ẩn dấu trong hình hài một trẻ thơ bé bỏng yếu hèn? Có một thời tôi đã cảm thấy kiêu hãnh: ‘Có thế chứ… phải có những ông vua tới bái lạy, tới triều cống các lễ vật quí giá, thế mới xứng đáng danh phận vương giả của Ngài chứ! Phải có những vì sao lạ xuất hiện trên bầu trời để mà cả và thiên hạ trầm trồ ca tụng Ngài! và tôi lấy làm hả dạ về lễ Chúa Hiển Linh. Tình cảm đó thực ra là gì, một nhiệt tình tôn giáo cao quí đáng đề cao, hay chỉ là một đầu óc háo thắng thiển cận (triumphalism)?
Thật ra câu chuyện về các chiêm tinh gia (thường được dân có đạo nâng lên hàng vua chúa cho nó oai: lễ ‘Ba Vua’) đến bái lạy Hài Nhi Giê-su chỉ được Phúc Âm Mát-thêu ghi lại với chủ đích, như ông vẫn quen làm, để khảng định “thế là ứng nghiệm” những lời các tiên tri đã báo trước xung quanh việc Hài Nhi ra đời: Hài Nhi sinh ra tại Bê-lem miền Giu-đê, rồi chạy trốn qua, rồi lại trở về từ Ai-cập xa xôi v.v… Tự nó câu chuyện rõ ràng mang tính truyền thuyết tới độ tôi dám nghĩ rằng, nó được thuật lại hầu nâng cao tình cảm tôn giáo nơi các tín hữu.
Vấn nạn mấu chốt được nêu lên là: nếu Hài Nhi mới sinh tại Bê-lem được hiển linh, thì là hiển linh điều gì? Nói cách khác, đâu là thứ vinh quang đích thực mà Hài Nhi nghèo hèn này muốn bộc lộ?
Ba nhà chiêm tinh (hay đạo sĩ) là những con người uyên bác, chuyên tìm hiểu những qui luật của trời đất. Qua tinh tú chuyển vận, các ông đoán biết: một nhận vật quan trọng mới xuất hiện; nhân vật này, như các ông tính toán, có liên quan chặt chẽ tới việc thay đổi vận mạng của toàn dân thiên hạ; chính vì lẽ đó mà các ông mới cất công lên đường đi tìm Ngài. Theo lô-gích của các ông: nhân vật này hẳn phải là một vị vua đầy uy lực, cho nên Ngài phải sinh sống trong chốn cung đình; và thế là họ tìm tới Giê-ru-sa-lem – kinh thành của vương triều Da-vit; thế nhưng ở đó, họ chỉ gặp được Hê-rô-đê, một con người ham quyền đầy mưu mô hiểm độc. May mắn thay các ông vẫn còn một vị dẫn đường khác: một ‘ngôi sao lạ’; và các ông quyết định đi theo nó. Nó dẫn các ông tới một nơi chưa ai từng bao giờ ngờ: tới làng quê Bê-lem hẻo lánh, và tới một hài nhi mới sinh nằm gọn trong lòng một bà mẹ đơn sơ nghèo hèn. Tín hữu chúng ta nắm rất rõ: ngôi sao lạ đó tượng trưng cho niềm tin vào Tin mừng của mỗi chúng ta. Vâng, chỉ có Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô mới có khả năng dẫn chúng ta tới gặp một vị Thiên Chúa, không chút hiển hách, không đầy uy lực, nhưng là một Thiên Chúa quá ư gần gũi, quá là con người trong hình hài một trẻ thơ, Thiên Chúa cứu độ của lòng từ nhân và hay thương xót, chứ không phải một Thiên Chúa quyền uy, công thẳng luận phạt. Nếu ba đạo sĩ đã phải gác qua một bên cái thứ lô-gích khôn ngoan thông thái thường ngày của họ để sấp mình bái lạy một trẻ thơ trong căn lều nghèo nàn, thì Ki-tô hữu cũng vậy, càng cho mình là đạo đức chính trực bao nhiêu, họ lại càng phải để cho đức tin làm một cuộc cách mạng nơi mình, tôn thờ bái lạy vinh quang Thiên Chúa trong sự hiền lành, từ nhân, thương xót và hay tha thứ.
Câu truyện còn cho thấy có đối kháng sâu sắc giữa một bên là uy quyền thống trị và trừng phạt (điển hình là vua Hê-rô-đê), với bên kia là sự yếu đuối ẩn dật của một Hài Nhi bé bỏng nép mình bên hông mẹ. Quyền uy chinh phục có sức mạnh của nó và xem ra không thể đội trời chung với lòng trắc ẩn nhân ái; cũng như uy quyền của bạo vương Hê-rô-đê không thể đem ra chia sẻ với Tân Vương cứu độ mới sinh ra. Ở đâu có nghiêm minh, ở đó không thể có chỗ cho lòng trắc ẩn xót thương, và ngược lại: sự công thẳng nổi cộm như một quyền lực thống trị trong khi lòng nhân ái lại luôn tỏ ra quá yếu ớt và lép vế. Chính vì thế mà một khi đề cao lòng trắc ẩn thương xót thì nhiều người lại tỏ ra e dè sợ sệt; họ lo sợ sự hợp lý đầy uy lực của ‘lành thưởng dữ phạt’ sẽ bị phá đổ, và thế là họ rắp tâm ‘tiêu diệt’ lòng nhân ái xót thương, ít là trong tư duy của riêng họ. Thiên Chúa giáng trần đã chọn hình hài một thơ nhi yếu đuối ẩn dật để biểu lộ lòng xót thương cứu độ con người, đó quả là vô cùng hợp lý… Có điều lúc này đây, Người đang bị những mưu toan tiêu diệt hiểm độc của tên bạo chúa quyền uy…, để rồi hơn ba chục năm sau sẽ bị chính con của hắn đồng lõa với đế quốc Rô-ma thống trị, kết án tử đóng đinh vào thập giá.
Tôi sẽ tin vào Thiên Chúa nào: Thiên Chúa quyền uy cao cả hay Thiên Chúa nghèo hèn nhưng đầy lòng xót thương?
Lạy Hài Nhi đang ngủ yên trong vòng tay âu yếm của Mẹ hiền, xin cho con đặt cược toàn bộ cuộc sống con trên sự nhỏ bé, yếu đuối của lòng thương xót Chúa. Chính những lúc tâm hồn con lo sợ cuống quýt trước quyền lực ghê sợ của công thẳng, xin cho con can đảm lao mình vào vòng tay hiền mẫu, để con cũng có được giấc ngủ an lành trong tin tưởng phó thác vào lòng Chúa xót thương. Xin che chở để con không bao giờ bị sự công thẳng Chúa nhấn chìm trong lo âu sợ hãi, một vui hưởng sự an bình của những tâm hồn biết tín thác trọn vẹn vào lòng nhân ái yêu thương. A-men.
Về mục lục
.
ÁNH SAO LẠ DẪN ĐƯỜNG GIÚP LƯƠNG DÂN GẶP GỠ CHÚA
Lm. Đan Vinh
I. HỌC LỜI CHÚA:
  1. TIN MỪNG: Mt 2,1-12
(1) Khi Đức Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem (2) và hỏi : “Đức Vua dân Do thái mới sinh, hiện ở đâu ? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”. (3) Nghe tin ấy, vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao. (4) Nhà vua liền triệu tập tất cả các Thượng tế, các Kinh sư trong dân lại, và hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở dâu. (5) Họ trả lời : “Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách Ngôn sứ có chép rằng : (6) “Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa. Vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời”. (7) Bấy giờ Vua Hê-rô-đê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. (8) Rồi vua phái các vị ấy đi Bê-lem và dặn rằng: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người”. (9) Nghe Nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở mới dừng lại. (10) Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. (11) Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Ma-ri-a, liền sấp mình bái lạy Người, rồi mở bảo tráp lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. (12) Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp Vua Hê-rô-đê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình”.
  1. Ý CHÍNH:
Qua ánh sao lạ, Thiên Chúa đã soi sáng cho các đạo sĩ tìm đến thờ lạy Con Chúa mới giáng sinh, đang khi vua chúa và các đầu mục dân Do thái lại tỏ thái độ thờ ơ, thậm chí còn thù ghét cố tình hãm hại Người.
  1. CHÚ THÍCH:
-C 1-2: +Bê-lem: Một thị trấn nhỏ bé nằm cách thủ đô Giê-ru-sa-lem khoảng 7 cây số về phía Nam. Thị trấn này tuy nhỏ bé nhưng rất danh tiếng, vì là quê hương của vua Đa-vít. Bê-lem còn được Ngôn sứ Mi-kha tuyên sấm là nơi mà Đấng Cứu Thế sẽ ra đời (x. Mk 5,1). +Mấy nhà chiêm tinh: Là những đạo sĩ hay chiêm tinh gia đã từng đọc Thánh Kinh của Do thái giáo nên có sự hiểu biết về việc Đấng Thiên Sai sắp xuất hiện và muốn được gặp gỡ Người. Dựa vào lễ vật các ngài mang theo là những đặc sản của xứ Arabi, nên người ta đóan các ngài từ xứ Arabi mà đến. Đồng thời dựa vào số lễ vật, người ta cho rằng có 3 vị. Đến thế kỷ VIII, có người còn kể rõ tên của ba vị đạo sĩ ấy là: Men-ki-o (Melchior), Ban-thơ-da (Balthezar) và Gát-pa (Gaspar), đại diện cho ba châu lục thời bấy giờ là châu Âu (da trắng), châu Á (da vàng) và châu Phi (da đen).
-C 11-12: +Vàng, nhũ hương và mộc dược: Các giáo phụ đã giải thích: Vàng ám chỉ tước vị Vua; Nhũ hương chỉ chức vụ Thượng tế; Mộc dược chỉ con đường cứu thế của Đấng Thiên Sai chọn là sẽ bị giết chết trên thập giá và được mai táng trong mồ. Tuy nhiên, ngày nay có người lại giải thích về ý nghĩa của ba lễ vật được các đạo sĩ dâng lên Hài Nhi Cứu Thế như sau: Vàng tượng trưng đức Tin vào Thiên tính của Đấng Thiên Sai; Nhũ hương tượng trưng đức Cậy là lời cầu nguyện như hương trầm bay lên để tôn vinh Chúa; Mộc dược tượng trưng cho đức Mến là những hy sinh và quyết tâm từ bỏ ý riêng để vâng theo ý Chúa.
  1. CÂU HỎI: 1-Bạn biết gì về thành Bê-lem? 2-Chiêm tinh gia là hạng người thế nào? 3-Các ngài từ đâu đến và gồm bao nhiêu vị? 4-Ba lễ vật là vàng, nhũ hương và mộc dược được dâng cho hài nhi Cứu Thế có ý nghĩa ra sao?
II. SỐNG LỜI CHÚA
  1. LỜI CHÚA: Thánh Phao-lô dạy các tín hữu: “Giữa một thế hệ sa đọa, anh em hãy tỏa sáng như những vì sao trên vòm trời” (Pl 2,15b).
  2. CÂU CHUYỆN:
1) MÓN QUÀ CỦA AR-TA-BAN.
HĂNG-RI VĂNG ĐAI-KƠ (Henry Van Dyke) có thuật lại câu chuyện nhan đề: “CÒN MỘT NHÀ ĐẠO SĨ KHÁC NỮA”, kể về nhân vật thứ tư là người lẽ ra đã cùng ba nhà đạo sĩ đi tìm Vua dân Do thái mới sinh. Nhân vật này tên là Ar-ta-ban. Trong lúc chuẩn bị lên đường, Ar-ta-ban có mang theo một túi đựng những viên kim cương để dâng tặng cho vị ấu vương. Thế nhưng trên đường đến điểm hẹn, Ar-ta-ban đã phải dừng chân để giúp đỡ một người nghèo đói nằm bên vệ đường. Do đó khi đến nơi thì ông không còn thấy ba vị kia đâu. Dù vậy, ông vẫn kiên trì tiếp tục cuộc hành trình đi tìm Vua Cứu Thế. Trên đường tìm kiến, mỗi lần gặp một người khốn khổ, ông lại bán đi một viên kim cương để giúp đỡ. Sau nhiều năm, Ar-ta-ban đã dần dần trở thành một lão già ốm yếu, thế mà ông vẫn chưa gặp được Vua Do thái như lòng hằng mong ước.
Rồi 33 năm sau, khi đang trọ trong thành Giê-ru-sa-lem, Ar-ta-ban thấy cả thành xôn xao náo động vì cái tin nhà cầm quyền đang đem một tội nhân đi hành hình thập giá. Ar-ta-ban tò mò hoà theo dòng người đi xem. Khi nhìn thấy tội nhân đang vác cây thập tự bị té ngã nhiều lần, linh tính cho biết đó chính là vị Vua Cứu Thế mà ông hằng tìm kiếm. Ong liền đi theo Người trên đường thương khó. Rồi khi tội nhân bị đóng đinh và bị treo trên thập giá, Ông muốn đến gần ôm lấy vị Vua kia, nhưng không thể được vì bị bọn lính canh ngăn cản. Bỗng chốc Ar-ta-ban thấy vị Vua mở mắt ra nhìn ông và ông nghe thấy có tiếng thì thầm bên tai rằng: “Này Ar-ta-ban, con đừng buồn nữa. Ta cám ơn con vì bao năm qua đã nhiều lần con tặng quà cho Ta. Nhiều lần Ta đói con đã cho bánh ăn, Ta khát con đã cho nước uống, Ta rách rưới con đã cho đồ mặc, Ta là khách lạ con đã đón ta vào nhà ở trọ…”.
Nghe những lời ấy, Ar-ta-ban cảm thấy lòng tràn ngập niềm vui. Ông hiểu rằng: Các món quà xưa nay ông đã chia sẻ cho người nghèo là ông đã dâng tặng cho chính Vua Giê-su Cứu Thế. Món quà đó không nhất thiết phải là tiền bạc vật chất, nhưng còn là tình người, là sự thông cảm với những ai đang bị đau khổ, là thái độ khiêm tốn sẵn sàng phục vụ tha nhân vô vụ lợi.
2) THÁI ĐỘ KHIÊM TỐN PHỤC VỤ LÀ ÁNH SAO LẠ DẪN ĐƯỜNG HÔM NAY:
Vào một buổi chiều mùa đông, một người ngoại quốc tuổi trung niên lái xe trên con đường đèo vắng vẻ ở miền Trung Việt Nam. Đến một khúc quanh, phát hiện thấy một chiếc xe hơi chết máy đang nằm trên đường, gần bên là bốn người gồm hai vợ chồng và 2 đứa con nết mặt lo âu, vì đây là đoạn đường thường hay xảy ra cướp bóc. Do biết sửa xe hơi, nên người đàn ông ngoại quốc đã dừng xe mau mắn đến bên đề nghị giúp đõ khiến mọi người đều an tâm vui vẻ. Chiếc xe bị hỏng nặng khiến ông phải vất vả tháo rời nhiều bộ phận trong máy, thậm chí có lúc phải chui cả xuống gầm xe. Hai giờ sau thì chiếc xe đã nổ máy khiến mọi người đều mừng rỡ. Hai vợ chồng muốn trả công nhưng ông kia không lấy công. Cuối cùng họ đã xin địa chỉ và một tuần sau, hai vợ chồng có dịp đến thăm thì mới hay người đàn ông ngoại quốc giúp họ sửa xe hôm trước chính là một giám mục công giáo. Sau đó do nể phục nên cả gia đình đều xin theo đạo. Chính thái độ khiêm tốn phục vụ vô vụ lợi của vị giám mục người ngoại quốc đã trở thành ánh sao dẫn đường giúp cả gia đình lương dân nhận biết tin thờ Chúa.
3) HÃY BIẾT CẢM THÔNG CHIA SẺ CƠM ÁO VẬT CHẤT VỚI NGƯỜI NGHÈO KHỔ:
Có một bé gái đi theo mẹ đi viếng hang đá tại nhà thờ. Bà mẹ giải thích cho em rằng ba nhà Đạo Sĩ dâng tiến của lễ cho Chúa Hài Nhi là vàng, nhũ hương và mộc dược. Cô bé nhìn Hài Nhi trong máng cỏ một cách cung kính rồi quay sang hỏi mẹ: Tại sao họ không mang đến cho Chúa Hài Nhi một cái giường nhỏ để Chúa phải nằm trong máng cỏ tội nghiệp Chúa quá phải không mẹ? Do có tấm lòng nhân ái và sự quan tâm thực sự đến hài nhi Giêsu, nên cô bé đã cảm nhận được nhu cầu của cuộc sống.
Sự kiện Chúa Giêsu sinh ra nơi hang lừa, máng cỏ đã khơi dậy được tâm tư và sự cảm thông của nhiều người. Chúa đến trong nghèo hèn để mời gọi chúng ta hãy biết mở lòng chia sẻ tâm tình vật chất với những người cùng khổ nghèo đói bất hạnh. Nhu cầu thực tế của cuộc sống là miếng cơm manh áo và một chỗ nương thân. Chúa kêu gọi chúng ta hãy mở lòng cảm thông với người nghèo gần bên: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.”(Mt 25, 40).
  1. THẢO LUẬN: 1)Tại sao dân ngoại từ phương trời xa đã gặp được Hài Nhi Cứu Thế, đang khi các nhà kinh sư thông thạo Kinh Thánh ở gần Bê-lem lại không gặp được Người? 2) Trong môi trường sống và làm việc hiện tại, bạn cần phải làm gì để chiếu sáng giúp anh em lương dân nhận biết và tin theo Đức Giê-su?
  2. SUY NIỆM:
Lễ Hiển Linh theo truyền thống, được cử hành vào ngày 6 tháng Giêng. Dịp Lễ này, các tín hữu Tây Phương tưởng nhớ ba nhà Đạo Sĩ thăm viếng Chúa Hài Nhi Giêsu và sự biểu lộ thần tính của Con Chúa cho Dân Ngoại. Các ngài là những đạo sĩ hay chiêm tinh gia đã từng đọc Thánh Kinh của Do thái giáo nên có sự hiểu biết về việc Đấng Thiên Sai sắp xuất hiện và muốn được gặp gỡ Người. Dựa vào lễ vật các ngài mang theo là những đặc sản của xứ Arabi, nên người ta đóan các ngài từ xứ Arabi mà đến. Đồng thời dựa vào số lễ vật, người ta cho rằng có 3 vị. Đến thế kỷ VIII, có người còn kể rõ tên của ba vị đạo sĩ ấy là: Men-ki-o (Melchior), Ban-thơ-da (Balthezar) và Gát-pa (Gaspar), đại diện cho ba châu lục thời bấy giờ là châu Âu (da trắng), châu Á (da vàng) và châu Phi (da đen).
1) Một số nét tương phản trong bài Tin Mừng hôm nay:
– Giữa thủ đô Giêrusalem và thị trấn Belem: Giêrusalem là thủ đô hoa lệ, là trung tâm về chính trị và văn hoá của nước Do thái, nhưng lại từ chối tiếp nhận Hài Nhi Cứu thế, đang khi Bêlem chỉ là một thị trấn nhỏ bé nghèo nàn lại đón tiếp Đấng Cứu thế giáng sinh.
– Giữa những người Do thái giáo và lương dân: Các Tư tế và Kinh sư thông thạo Kinh thánh, nhưng lại lười biếng không dám dấn thân lên đường, nên họ đã không gặp được Đấng Cứu thế. Trái lại, ba vị Đạo Sĩ là những dân ngoại không hiểu biết Kinh thánh, nhưng lại có thái độ cầu thị, luôn tìm tòi và sẵn sàng dấn thân lên đường, nên đã gặp được Đấng Cứu Thế.
– Giữa vua thế tục và Vua Thiên Sai: Hêrôđê được gọi là vua, nhưng lại lo âu vì sợ bị Đấng Cứu Thế đến sẽ cướp mất ngai vàng của mình, nên ông đã tìm cách bắt bớ tiêu diệt Người. Còn Đức Giêsu Vua Thiên Sai lại chấp nhận lối sống khó nghèo, luôn mở rộng vòng tay để đón tiếp hết mọi người. Người không thích đóng khung đạo của Người trong cơ chế luật lệ cứng nhắc như đạo Do thái, nhưng Người luôn tỏ ra mềm dẻo khi tuyên bố: “Ngày sa-bát được làm ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày sa-bát” (Mc 2,27). Người không đến trong cung vàng điện ngọc sang trọng như một bậc vua chúa, nhưng chọn đến trong một chuồng bò tăm tối, hôi tanh. Người không đến như một ông vua trần thế cao sang, nhưng đến với hình hài của một hài nhi yếu đuối nghèo hèn: ”Bà lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2,7).
2) Điều kiện để gặp được Chúa: Tất cả những tương phản ấy cho thấy: Không phải cứ mang danh người có đạo là đương nhiên chúng ta sẽ gặp đựơc Chúa; Không phải cứ có sự hiểu biết giáo lý Kinh thánh là đương nhiên chúng ta sẽ gặp được Chúa. Muốn gặp được Chúa, chúng ta phải thành tâm thiện chí đi tìm và hăng hái dấn thân lên đường như ba vị đạo sĩ hôm nay.
– Ba đạo sĩ là những người ngoại giáo ở rất xa, nhưng luôn để tâm tìm kiếm dấu lạ trên bầu trời, và đã sớm nhận ra sự xuất hiện của một ngôi sao lạ của Đấng Cứu Thế.
– Việc đi theo ngôi sao lạ cũng đòi các đạo sĩ phải quyết tâm cao: rời bỏ nhà, giã từ người thân với những tiện nghi, chấp nhận cảnh thiếu thốn trong cuộc hành trình dài. Khi ngôi sao biến mất, các Ngài không nản chí bỏ cuộc, nhưng tìm hỏi trong đền vua, và cuối cùng nhờ quyết tâm cao như vậy, các ngài đã gặp được Hài Nhi Cứu Thế tại thị trấn Belem.
– Ba Vua không thể đến với Chúa nếu không có ngôi sao dẫn đường. Ngày nay, Chúa muốn mỗi người chúng ta cũng phải là một ngôi sao lạ loan báo lòng Chúa thương xót, giúp dẫn đưa những người thiện chí tìm gặp Chúa. Mỗi người chúng ta phải là một ngôi sao sáng về sự công bình và bác ái. Hãy chiếu ánh sáng ấm áp của tình người đối với mọi hạng người trong xã hội. Qua đó, anh em lương dân sẽ nhận biết và tin yêu Chúa chính là nguồn sáng đích thật.
3) Lời Chúa là ánh sao chỉ đường cho chúng ta: Tác giả sách thánh vịnh đã khẳng định như sau: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi.” (Tv 119, câu 105). Chúa Giêsu cũng đã đồng hóa với người nghèo hèn: “Tất cả những gì anh em làm cho một người trong những anh em hèn mọn nhất của Ta đây là làm cho chính Ta.” (Mt 25, 40). Những lời Chúa phán chính là ánh sáng giúp chúng ta nhận ra Chúa đang hiện thân trong tha nhân, đặc biệt trong những người nghèo hèn, đau khổ… để khuyến khích chúng ta phục vụ họ. Lễ vật của chúng ta hôm nay dâng Chúa không phải là vàng, nhũ hương và mộc dược như các đạo sĩ xưa, nhưng là bộ quần áo, chén cơm, sách vở bút mực cho người nghèo, hay là sự ân cần săn sóc người bệnh tật già cả neo đơn chung quanh chúng ta.
4) Ánh sao lạ giữa đời thường: Mỗi Ki-tô hữu phải là một ánh sao lạ thể hiện qua cử chỉ, lời nói, việc làm: Chỉ cần một nụ cười vui vẻ, một ánh mắt thân thiện, một lời khen đúng lúc, một việc phục vụ khiêm hạ của chúng ta cũng có thể phát ra ánh sáng giống như ánh sao lạ trên bầu trời đêm cho các đạo sĩ xưa, như lời thánh Phao-lô: “Giữa một thế hệ sa đọa, anh em hãy tỏa sáng như những vì sao trên vòm trời” (Pl 2,15b). Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể là những vì sao sáng thực sự khi chúng ta biết làm cho mình lu mờ đi để Ngôi Sao Mai là Đức Ki-tô có thể tỏa sáng trong chúng ta và trong lòng mọi người (x. Kh 2,28).
5. NGUYỆN CẦU:
-LẠY CHÚA GIÊ-SU. Tạ ơn Chúa đã cho chúng con ánh sáng mặt trời mặt trăng, và các lọai ánh sáng phát xuất từ các nguồn năng lượng khác nhau trên mặt đất. Tạ ơn Chúa đã gọi chúng con là “Ánh sáng cho trần gian”. Đây là một niềm vinh dự nhưng đồng thời cũng là một trách nhiệm rất nặng nề của chúng con. Xin cho ánh sáng của chúng con có sức đẩy lui bóng tối của hận thù và bất công, của buồn phiền và thất vọng ra khỏi những người chung quanh. Xin cho chúng con luôn duy trì ngọn lửa tin yêu đã được Chúa thắp sáng trong lòng chúng con, và sẵn sàng làm theo Lời Chúa dạy qua từng phút giây của cuộc sống hằng ngày.
-LẠY CHÚA. Cuộc chiến giữa ánh sáng và bóng tối vẫn đang tiếp diễn trên thế gian và ngay trong lòng mỗi người chúng con. Ước chi chúng con đừng chỉ biết nguyền rủa bóng tối tội ác, mà còn biết làm cho ngọn đèn đức tin trong chúng con luôn cháy sáng đức ái, để cả trái đất này đều được ngập tràn ánh sáng tìn yêu của Chúa, nhờ đó sẽ giúp mọi người nhận biết tin yêu Chúa và được chia hạnh phúc Nước Trời với chúng con.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.
Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây