Thứ Sáu tuần thánh – Kỷ Niệm Cuộc Khổ Nạn Của Chúa.

Đăng lúc: Thứ sáu - 14/04/2017 02:45 - Người đăng bài viết: Ban Truyen Thong

 

Thứ Sáu tuần thánh – Kỷ Niệm Cuộc Khổ Nạn Của Chúa.

"Sự Thương Khó Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta".

 

Lời Chúa: Ga 18, 1 - 19, 42

C: Người đọc Chung, Thánh Sử; S: Người đối thoại khác, hoặc Cộng đoàn. J: Chúa Giêsu

C. Bài Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Gioan.

 

 

 

NGƯỜI CHẾT VÌ YÊU

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Con người sống phải yêu. Yêu là hơi thở, là lý do sống của con người. Có tình yêu thì cuộc đời mới đáng sống, cho dẫu phải trải qua đau thương, tan nát, sầu phiền. . . Vì yêu mà con người sẵn lòng nếm trải những đắng cay muộn phiền. Thế nên, có ai đó nói rằng:

“Yêu là một loại cảm nhận, dù có thống khổ vẫn cảm thấy hạnh phúc.
Yêu là một loại nhận thức, dù có tan nát cõi lòng nhưng vẫn cảm thấy ngọt.
Yêu là sự từng trải, dù có bị nghiền nát vẫn cảm thấy tươi đẹp.”

Có một cô gái đã kể với tôi như sau:
“Bạn con, 25 tuổi lấy chồng. 27 tuổi sinh đứa con đầu lòng. 31 tuổi xây nhà.

Cuộc đời cô ấy diễn ra luôn được hoạch định trước. Năm nay làm gì, sang năm mua gì. Mọi thứ đều nằm trong kế hoạch được lên sẵn.

Nhưng cuộc đời đâu mãi là màu hồng. 3 tháng trước, cô ấy đi khám thai lại phát hiện mình bị ung thư. May mắn là bệnh mới ở giai đoạn đầu, nghĩa là cô ấy có khả năng kéo dài sự sống. Điều lạ là con đến thăm cô ấy luôn  lạc quan yêu đời và còn đùa rằng: “Thế là tao tránh được nỗi lo tuổi già rồi. Không sợ xấu, sợ nhăn nữa…. Bệnh tật, vốn không nằm trong toan tính của đời người. Nhưng tao vẫn yêu, vẫn vui để bé ra đời trong hạnh phúc ngay từ trong trứng nước”.

Tình yêu đã chiến thắng khổ đau. Tình yêu còn mang dáng dấp của sự bất tử. Cô gái trên đang mang trong mình hoa trái của tình yêu, điều đó đã khiến cô luôn vui tươi lạc quan ngay trong đau khổ bệnh tật. Tình yêu giúp cô tận hiến cả bản thân đến nỗi quên đi cái đau của bệnh tật để sống vì mầm sống tương lai.

Cuộc đời không bao giờ theo ý ta mong đợi. Đôi khi cái xui, cái khổ, cái đắng cay cứ theo nhau chồng chất lên cuộc đời ta. Điều quan yếu là ta phải sống có mục đích, có lý tưởng, có tình yêu để vượt thắng tất cả hầu đạt được mục đích của mình.

Hôm nay chúng ta chiêm ngắm hành trình cuộc thương khó của Chúa Giê-su như là mẫu gương cho cuộc đời chúng ta. Ngài đã đi vào cuộc thương khó trong chén đắng với lời xin vâng theo thánh ý Chúa Cha. Mục đích của Ngài đến trần gian là để cứu độ nhân gian. Lý tưởng của Ngài là trở nên mọi sự cho mọi người. Tình yêu của Ngài dành trọn vẹn cho Thiên Chúa Cha. Thế nên, cuộc thương khó là “Giờ” của tình yêu mà Ngài sẽ tỏ bày với Chúa Cha. Ngài vẫn hằng mong mỏi Giờ này để tôn vinh Chúa Cha. Ngài từng nói vì “Giờ” này mà tôi đã đến thế gian.

Cuộc đời sẽ đẹp biết bao nếu mỗi người đều chọn sống cho tình yêu và vì tình yêu. Cách sống vì tình yêu sẽ mang lại cho người mình yêu niềm vui và hạnh phúc. Cách sống cho tình yêu sẽ mang lại cho đời những nghĩa cử cao đẹp khi cống hiến cho người mình yêu.

Xin cám ơn tình yêu cao vởi của Thầy Giê-su mà nhân loại được giao hòa với Chúa Cha và được trở nên con cái Ngài.

Xin cám ơn tình yêu hy sinh một nắng hai sương của cha mẹ mà con cái được no đầy hạnh phúc yêu thương.

Cám ơn tình yêu của những đôi vợ chồng son sắt thủy chung luôn chia sẻ ngọt bùi với nhau trong mọi thăng trầm cuộc đời.

Xin cám ơn tình yêu của những tông đồ nhiệt thành đang phục vụ giáo xứ, phục vụ cộng đoàn mà chẳng cần đền đáp.

Tất cả những tình yêu hy sinh ấy đã tô đẹp cho cuộc đời. Tất cả những tình yêu hy sinh ấy đã mang lại cho đời hương thơm của hạnh phúc để làm vơi đi nhứng gánh nặng khổ đau.

Xin Chúa là tình yêu giúp chúng ta biết sống theo gương Chúa luôn sống cho tình yêu và dâng hiến cho tình yêu. Xin cho chúng ta biết chết đi cái tôi của mình để sống cho người mình yêu. Amen

 

TÔN THỜ THÁNH GIÁ KHÁM PHÁ TÌNH YÊU

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Hôm nay, Giáo hội, Hiền Thê yêu dấu nhìn lên Thánh Giá nơi treo Chúa Giêsu vị Phu Quân của mình, chân tay đanh nhọn đâm thâu, cạnh sườn lưỡi đòng đâm thủng, máu cùng nước chảy ra làm cho Giáo hội nhớ đến ngày mình được sinh ra từ cạnh sườn Chúa, lúc Chúa ngủ trên Thánh Giá với tất cả tình yêu. Bởi theo thánh Ambrosiô, lúc Ađam đang ngủ Thiên Chúa đã lấy xương sườn của ông để tạo dựng Evà thế nào, thì lúc Chúa Giêsu chết nằm trên Thánh Giá, Giáo hội cũng được sinh ra từ Trái Tim bị đâm thủng của Chúa Giêsu như vậy, và Giáo hội tưởng nhớ đến tình yêu dâng trào ấy.

Giảng trong Thánh lễ sáng thứ ba ngày 15/03/2016, tại nguyện đường Thánh Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô nói : “Nếu muốn biết ‘câu chuyện tình’ mà Thiên Chúa dành cho nhân loại, chúng ta phải ngắm nhìn Thánh Giá, nơi ấy có một vị Thiên Chúa đã hoàn toàn ‘trút bỏ vinh quang’, sẵn sàng bị ‘vấy bẩn’ bởi tội lỗi con người để cứu con người khỏi chết“.

Thật không thể hiểu nổi Thiên Chúa yêu thương chúng ta biết chừng nào. Người đã yêu chúng ta bằng tình yêu vô bờ bến, tình yêu thương xót và thứ tha, khi phải mang trên mình những đau khổ vì tội lỗi chúng ta. Bài ca thứ tư của người Tôi Tớ Chúa được Isaia mô tả : “Người chẳng còn hình dáng, cũng chẳng còn sắc đẹp để chúng ta nhìn ngắm, không còn vẻ bên ngoài, để chúng ta yêu thích; bị người đời khinh dể như kẻ thấp hèn nhất, như kẻ đớn đau nhất, như kẻ bệnh hoạn, như một người bị che mặt và bị khinh dể, bởi đó, chúng ta không kể chi đến người.

Thật sự, người đã mang lấy sự đau yếu của chúng ta, người đã gánh lấy sự đau khổ của chúng ta. Mà chúng ta lại coi người như kẻ phong cùi, bị Thiên Chúa đánh phạt và làm cho nhuốc hổ. Nhưng người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta, bị tan nát vì sự gian ác chúng ta. Người lãnh lấy hình phạt cho chúng ta được bình an, và bởi thương tích người mà chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lang thang như chiên cừu, mỗi người một ngả. Chúa đã chất trên người tội ác của tất cả chúng ta” (Is 53, 2-6).

Người ta nói rằng : nếu tất cả Thánh Kinh trên trái đất này bị hủy diệt bởi tai biến nào đó hay bởi một cơn thịnh nộ phá hủy các hình tượng tôn giáo và chỉ còn một bản Kinh Thánh, và bản còn lại đó cũng bị hư hại đến mức chỉ còn một trang, và nếu trang đó nhăn nheo đến độ chỉ còn một dòng có thể đọc được, và nếu dòng đó là thư thứ nhất của thánh Gioan viết  “Thiên Chúa là Tình Yêu “, thì coi như toàn bộ Thánh Kinh được khôi phục, bởi vì toàn bộ nội dung là ở đó. Mầu Nhiệm Thập Giá mà chúng ta cử hành là bằng chứng. Vì thế, khi suy tôn Thánh giá Chúa, kính nhớ Chúa chịu chết, chúng ta cảm nhận được sự thật rằng : “Thiên Chúa là Tình Yêu“.  

Phần tiếp theo của nghi thức chiều nay là thờ lạy Thánh Giá, tiến xướng chúng ta hát : Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa… vì nhờ gỗ này mà cả vũ trụ được hân hoan. Tại sao vậy ? 

Thưa, Thánh Giá không phải là đồ trang sức, không phải là một công trình nghệ thuật được đính nhiều đá quý và kim cương lấp lánh. Nhưng như chúng ta thấy, Thánh Giá là mầu nhiệm tự hủy của Thiên Chúa vì yêu thương. Đây chính là câu chuyện về ơn cứu độ của chúng ta. Đây cũng là chuyện tình của Thiên Chúa.

Với khí giới của riêng mình là cây Thánh Giá, Chúa Giêsu đã chiến thắng cách diệu kỳ. Nếu như đã có một người nữ tên là Evà bị thất bại trước khí cụ của con rắn xưa là cây trái cấm, đem sự chết vào thế gian, Ađam phải chết. Thì nay, Đức Maria, thay thế Evà, cũng với cây sự sống, cây biết lành biết dữ làm gỗ giá treo Chúa Giêsu lên, Người đã đánh bại tử thần, sống lại hiển vinh, cứu con cháu Ađam khỏi chết. Ma quỷ đã bị đánh bại bởi cùng một phương tiện mà nó đã chiến thắng. Ma quỉ đã dùng cây để quật ngã Adam, Chúa Giêsu Kitô đã dùng cây Thánh Giá để đánh bại Nó. Cây trái cấm đã ném con người vào vực thẳm, nay gỗ Thánh Giá kéo con người lên. Cây trái cấm đã làm cho con người mất đi tình thân nghĩa thiết với Thiên Chúa, tống con người vào ngục ; nay gỗ Thánh Giá tước lấy vũ khí của ma quỉ đã chiến thắng con người, giúp con người vượt qua trần thế. Cái chết của Adam đã kéo theo con cháu mình là kẻ sinh sau ông ; sự chết của Chúa Giêsu Kitô mang lại sự sống cho những kẻ sinh ra trước Người. Quả làm một tuyệt phẩm về tình yêu giữa Thiên Chúa với nhân loại từ cây Thánh Giá.

Thánh Giá là cờ vua cả toàn thắng đã cứu chúng ta cho khỏi tay ma quỉ, là vũ khí chông lại tội lỗi, là thanh gươm sắc bén Chúa Giêsu dùng để chiến thắng con rắn xưa. Thánh Giá là ý Chúa Cha, là vinh quang của Chúa Con độc nhất, là chiến thắng của Thánh Thần Thiên Chúa, là niềm vinh dự của các thiên thần, là sự an toàn của Giáo hội, là bức tường thành của các vị thánh, niềm tự hào của thánh Phaolô, là ánh sáng chiếu soi trên toàn thế giới. Từ đây, “sự chết đã bị vùi trong toàn thắng. Tử thần hỡi, đắc thắng của ngươi đâu? Tử thần hỡi, nọc của ngươi đâu?” (1Cr 15, 54-55).

Thế giới khi nhìn xem Con Thiên Chúa chịu đóng đinh, rùng mình, trời đất động địa, đã vỡ ra ; nhưng trái tim của những người Do Thái, cứng hơn đá vẫn không động đậy. Các màn trong đền thờ bị xé ra; nhưng các âm mưu phạm tội vẫn không bị phá vỡ. Tại sao màn che bị xé ? Phải chăng đền thờ đau đớn khi chứng kiến cảnh Thiên Chúa bị giết bên ngoài trên bàn thờ Thập Giá; và khăn che trong đền thờ xé ra như muốn nói với mọi người rằng: sẽ có nhiều đền thờ trở nên hoang vắng và bị bỏ rơi. Chúng ta hãy học để chiến thắng mà không phải chiến đấu, không phải dàn trận, vũ khí không dính máu, chúng ta không bị thương vong nhưng lại giành chiến thắng : Thiên Chúa chiến đấu, còn vương niệm chiến thắng chúng ta nhận.

Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa. Xin Chúa cho chúng con khi nhìn ngắm Thánh Giá Chúa, biết khám phá ra rằng, Thiên Chúa đã chết chỉ vì yêu, để chúng con biết yêu thương nhau hầu chứng tỏ rằng chúng con yêu Chúa, vì đó là cốt lõi của Đạo Chúa. Amen.

 

THẬP GIÁ TÌNH YÊU

JB. Lê Đình Nam

Tâm điểm của Tuần Thánh chính là Thập giá, nơi Đức Kitô bị đóng đinh, chịu treo và chết vì tội lỗi của mỗi người chúng ta.

Hình ảnh thập giá luôn cho ta một trải nghiệm đau đớn, một cảm giác ghê rợn và một cái nhìn về sự thất bại. Nhưng không! Thập giá Đức Kitô thì hoàn toàn khác. Đó là đỉnh cao của tình yêu mà Thiên Chúa biểu lộ cho con người.

Chính nơi Thập giá ấy, Chúa Giêsu đã đưa ta trở lại ơn gọi làm con Chúa. Mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người được nối lại, tình người và tình Chúa được hòa quyện.

Chính nơi Thập giá ấy, Chúa Giêsu đã thể hiện lòng thương xót hải hà của Thiên Chúa với con người. Nơi đó, tình yêu đã chiến thắng tội lỗi, sự tha thứ đã chiến thắng hận thù và phận hèn mọn của con người được nâng lên.

Và cũng chính nơi Thập giá ấy, Máu Thánh của Chúa Giêsu đã tuôn trào để đem lại cho chúng ta một cuộc sống mới và một trang sử mới của nhân loại được bắt đầu.

Chiêm ngắm Thập giá Đức Kitô chính là nhận ra tình yêu của Thiên Chúa và giúp ta sống tình yêu đó giữa dòng đời lắm đau khổ và nhiều u buồn của ngày hôm nay. Tình yêu là trung tâm của đời sống Kitô hữu. Tình yêu là nền tảng cho một cuộc sống hướng đến niềm vui và bình an.

Ngắm nhìn Thập giá Đức Kitô để ta ý thức lại tương quan của mình với Thiên Chúa. Mỗi chúng ta đã đáp lại tình yêu của Ngài như thế nào? Hay chính chúng ta lại xúc phạm đến tình yêu đó bằng một đời sống đạo khô khan, tẻ nhạt; hay bằng những việc làm vô luân đi ngược với những giới răn của Ngài.

Nhìn lên Thập giá Đức Kitô để chúng ta học sống tình yêu mỗi một ngày trong đời. Là Kitô hữu, ta được mời gọi sống yêu thương, san sẻ để đốt cháy những băng giá vô cảm, vô tâm nơi xã hội. Là con Thiên Chúa, ta được mời gọi sống bao dung tha thứ để xóa tan những tranh chấp, hận thù đang xảy ra trên khắp thế giới và ngay trong con người chúng ta. Là con người với nhau, ta được mời gọi sẻ chia và giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh xung quanh mình.

Thập giá Đức Kitô chính là tâm điểm cho hành trình Đức tin, là biểu tượng niềm tin cho mỗi một người Kitô hữu. Thật vậy, nó không chỉ dừng lại ở hình ảnh của sự thất vọng nhưng là dấu chỉ của niềm hy vọng. Nó không chỉ dừng lại ở sự đau khổ và tội lỗi nhưng là bằng chứng sống động về tình yêu nhưng không của Thiên Chúa. Và nó không chỉ dừng lại ở cái chết khốn khổ ấy nhưng sẽ hướng đến sự Phục sinh viên mãn.

Thứ Sáu Tuần Thánh một lần nữa mời gọi chúng ta ngước nhìn Thập giá Đức Kitô – Thập giá tình yêu, để nơi đó chúng ta có một niềm cậy trông, một viễn cảnh hy vọng và một bài học lớn lao về tình yêu.

Hãy chiêm ngắm Thập giá Đức Kitô, tin tưởng nơi Thập giá, hy vọng vào Thập giá và sống tình yêu Thập giá mỗi giây phút trong đời!

 

ĐỈNH ĐỒI THƯƠNG XÓT

Trầm Thiên Thu

Nắng vàng nhuộm cả hoàng hôn

Biệt ly mẫu tử, đoạn trường ai gây?

Đỉnh đồi thương xót là đây

Giêsu chịu chết cứu loài tội nhân

Không gì sầu thảm hơn cuộc chia ly, nhất là cuộc chia ly đó là khoảng cách sinh tử của Mẫu Tử tình thâm, ở đây còn có sự chia ly của tình nghĩa Thầy Trò. Nỗi buồn thật khôn tả!

Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày phủ màu tím rịm, ngày u buồn của những người mang danh Kitô hữu. Tuy nhiên, trong nỗi buồn “đậm đặc” ấy lại chứa đầy ắp niềm hy vọng để bước qua cửa ải sự chết và hân hoan tiến vào Miền Vĩnh Sinh trong tiếng ca vang Alleluia. Và điều này hoàn toàn chắc chắn!

Cách nói “Thứ Sáu Tuần Thánh” của Việt ngữ không lột tả được thâm ý như Anh ngữ: Good Friday – Thứ Sáu Tốt Lành. Nhưng người Đức gọi Thứ Sáu Tuần Thánh là Karfreitag, nghĩa là “ngày đau buồn” (tiếp đầu ngữ Kar nghĩa là than khóc, sầu khổ). Thứ Sáu là “ngày chết chóc”, ngày xui xẻo, ảm đạm và thê thảm, thế mà lại được coi là Ngày Tốt Lành, thật là kỳ diệu biết bao!

Đã đành và minh nhiên là chúng ta cũng đã và đang góp phần bán đứng Đức Kitô, nhẫn tâm đóng đinh giết chết Chúa Giêsu nhiều lần qua việc những lần phạm tội, hằng ngày chúng ta còn nỡ lòng đóng đinh nhau bằng nhiều loại đinh: Chỉ trích, gièm pha, khích bác, phe cánh, ghen ghét, đố kỵ, áp bức, bóc lột,… Trong các loại “đinh” đó, có đinh gỉ sét, có đinh sắc bén, có đinh dài thoòng, có đinh xoắn,… với rất nhiều kích cỡ khác nhau.

Quả thật là không hề dễ dàng nhổ ra các loại đinh đó một khi chúng được “đóng” vào ai đó! Có lẽ vì vậy mà khi thấy các phụ nữ Giê-ru-sa-lem khóc thương Ngài, Chúa Giêsu dừng lại với cây Thập Giá trên vai và nói thật lòng với họ: “Hỡi chị em thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28). Và đó cũng chính là lời Chúa Giêsu nhắn nhủ mỗi chúng ta hôm nay. Thật vậy, đừng tổ chức đám tang cho Chúa Giêsu mà hãy làm đám tang cho chính mình, đừng lo phô trương vẻ đạo đức bình dân bề ngoài mà coi thường phần nội tâm chính yếu!

Trước đó, Chúa Giêsu đã từng xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13). Chính điều này đã được Ngài chứng minh bằng cái chết bi hùng vào chiều ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chính xác giờ thọ hình là 3 giờ chiều trên Đồi Sọ vào ngày 3 tháng 4 năm 33 (sau công nguyên). Thời điểm và ngày tháng Chúa Giêsu chịu chết đã được Tạp chí Địa Chất Quốc tế thực hiện cuộc nghiên cứu để xác định “ngày giỗ” của Chúa Giêsu. Cuộc nghiên cứu này dựa vào nền tảng Phúc Âm, đồng thời kết hợp với các tài liệu về địa chất và thiên văn học, các nhà nghiên cứu đã đủ cơ sở để xác định như vậy.

Yêu thương và thương xót có mức độc chăng? Và thế nào là mức độ yêu thương? Mức độ yêu là YÊU VÔ HẠN, yêu như điên, yêu phát khùng, yêu cuồng nhiệt, yêu đến nỗi bị coi là dại dột, đó là si tình. Chuyện đời có mối tình của Romeo va Juliet của văn hào Shakespeare (1582-1616, Anh quốc), Việt Nam có mối tình Lan và Điệp, còn văn hào Victor Marie Hugo (1802-1885, Pháp quốc) yêu say đắm cô hàng xóm Adele Foucher nhưng bị mẹ cấm, sau khi mẹ mất, ông đã kết hôn với Adele. Tuy có vợ rồi nhưng ông lại “phải lòng” cô Juliette Drouet, và Juliette Drouet đã viết cho ông khoảng 1.700 lá thư tình. Ở đây chỉ muốn nói tới khối tình si của những trái tim yêu hết mình mà thôi. Dày dạn kinh nghiệm tình trường, Victor Hugo đã kết luận: “Chết cho tình yêu là sống cho tình yêu”.

Chúa Giêsu cũng là người si tình thứ thiệt, độc nhất vô nhị, một người điên dại vì yêu, và Ngài mệnh danh là Người Tôi Trung mà ngôn sứ Isaia đã đề cập: “Này đây, Người Tôi Trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng. Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy Tôi Trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa, cũng vậy, nó sẽ làm cho muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng, vì được thấy điều chưa ai kể lại, được hiểu điều chưa nghe nói bao giờ” (Is 52:13-15). Người Tôi Trung có những động thái trái ngược rất lạ lùng, chúng ta không thể nào hiểu nổi. Người ta có si mê thì cũng si mê người đẹp, người khôn, người ngoan, người tài, người giỏi, đằng này Chúa Giêsu lại si mê kẻ không ra gì – tức là chính tội nhân xấu xa, kẻ đó là mỗi chúng ta!

Thật lạ lùng là chính Người Tôi Trung ấy lại “lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh, như khúc rễ trên đất khô cằn, chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích” (Is 53:1-2). Không chỉ vậy, Người Tôi Trung ấy còn “bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật, như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới” (Is 53:3). Đâu ai ngờ sự thật là “chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề” (Is 53:4). Đây là “điểm nóng” để chúng ta phải tự chấn chỉnh cách nhìn của mình đã và đang dành cho tha nhân.

Cuộc đời của Người Tôi Trung là Bản Trường Ca Đau Khổ, là Liên Khúc Bi Tráng Ca. Thật vậy, họa vô đơn chí, đau khổ cứ chồng chất lên đau khổ, theo cách nhìn phàm tục thì đúng là cuộc chiến bại ê chề, thê thảm.

Chính Người Tôi Trung “đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm, đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53:5). Trong tình trạng Người Tôi Trung bị coi là te tua tơi tả như vậy thì “tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả, nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu người mọi tội lỗi của tất cả chúng ta”, để rồi Người Tôi Trung tiếp tục “bị ngược đãi, cam chịu nhục, nhưng chẳng mở miệng kêu ca, như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng” (Is 53:6-7).

Mặc dù bị nhục nhã ê chề đến vậy mà Người Tôi Trung vẫn chưa yên thân: “Người đã bị ức hiếp, buộc tội, rồi bị thủ tiêu. Dòng dõi của người, ai nào nghĩ tới? Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh, vì tội lỗi của dân, người bị đánh phạt. Người đã bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa” (Is 53:8-9). Tột cùng đau khổ. Quả thật, kinh hãi quá, phàm nhân chúng ta không thể tưởng tượng nổi và không thể đủ sức chịu đựng như vậy!

Nhưng đó là Thánh Ý Thiên Chúa: “Đức Chúa đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn, và nhờ người, ý muốn của Đức Chúa sẽ thành tựu. Nhờ nỗi thống khổ của mình, người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ” (Is 53:10-11). Ý Chúa đã vậy, đáng khâm phục là đức vâng lời của Người Tôi Trung. Đúng là “vâng lời trọng hơn của lễ” (1 Sm 15:22; Tv 50:8-9).

Cả một bài đọc dài với đủ dạng đau khổ như thế mà không thấy câu chữ nào vô nghĩa, người nghe cũng không cảm thấy nhàm chán. Kỳ diệu quá sức! Nhưng câu cuối cùng thấy có màu “sáng” nhất: “Vì thế, Ta sẽ ban cho nó muôn người làm gia sản, và cùng với những bậc anh hùng hào kiệt, nó sẽ được chia chiến lợi phẩm, bởi vì nó đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra, nó đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53:12). Và đó là hệ lụy tất yếu cho những người-tôi-trung-ngay-khi-gian-khổ.

Người Tôi Trung luôn một lòng tin tưởng Thiên Chúa, dù gặp bao trắc trở nhưng vẫn trung tín và kiên tâm cầu nguyện, như Thánh Vịnh gia thổ lộ: “Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ. Bởi vì Ngài công chính, xin giải thoát con” (Tv 31:2). Ngay cả cái chết cũng không tách Người Tôi Trung khỏi lòng mến yêu Chúa: “Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con, Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín” (Tv 31:6).

Được biết rõ ràng là mình chỉ “nên trò cười cho thù địch và cho cả hàng xóm láng giềng, bạn bè thân thích đều kinh hãi, tránh xa, bị lãng quên như kẻ chết không người tưởng nhớ, hoá thành đồ hư vất bỏ” (Tv 31:12-13), nhưng Người Tôi Trung “vẫn tin tưởng nơi Chúa, vẫn can đảm thân thưa thưa: ‘Ngài là Thượng Đế của con. Số phận con ở trong tay ngài. Xin giải thoát con khỏi tay địch thủ, khỏi người bách hại con. Xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ’ ” (Tv 31:15-17). Và như Người Tôi Trung, Thánh Vịnh gia tha thiết mời gọi mỗi chúng ta: “Hỡi mọi người cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!” (Tv 31:25). Hôm nay là dịp thuận tiện, là ngày tốt, là thời điểm hợp lý để chúng ta thể hiện điều đó.

Thánh Phaolô giải thích và chia sẻ kinh nghiệm tâm linh: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin. Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4:14-16). Qua đó, chúng ta thấy Đức Giêsu đã mặc xác phàm yếu đuối như chúng ta để đồng lao cộng khổ với chúng ta, đặc biệt là để động viên chúng ta vượt qua mọi “ngưỡng” đau khổ, nhất là vượt qua cửa ải sự chết.

Tiếp tục phân tích, Thánh Phaolô cho biết thêm: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5:7-9). Bài học quá đắt giá, nhưng cái gì càng đắt giá thì càng giá trị cao!

Hôm nay, Bài Thương Khó là đoạn Phúc Âm buồn thảm nhất trong Kinh Thánh. Người Tôi Trung Đau Khổ Giêsu là nhân vật độc nhất vô nhị, nổi tiếng nhất trong lịch sử xưa nay và đến mãi tận thế. Càng ngày người ta càng phải công nhận, bằng cách này hay cách khác, ngay cả những người cố ý tỏ ra không công nhận nhưng thực ra trong thâm tâm họ vẫn công nhận.

Trình thuật Phúc Âm Ga 19:1-42 cho chúng ta biết về “chuyến đau khổ” của Chúa Giêsu bắt đầu từ Vườn Dầu, tức là Ghết-sê-ma-ni.

Sau Bữa Tiệc Ly, Ngài đi ra cùng với các môn đệ sang bên kia suối Kít-rôn, vào một thửa vườn. Giu-đa cũng biết nơi này, vì lâu nay Thầy trò thường quy tụ ở đó.

Ngay đêm Thứ Năm, Giu-đa tới đó và dẫn một toán quân với đám thuộc hạ của các thượng tế cùng nhóm Pha-ri-sêu. Họ mang theo đèn đuốc và khí giới. Đức Giêsu biết mọi việc sắp xảy đến cho mình, nên tiến ra và hỏi: họ tìm ai. Họ nói ngay là tìm Giêsu Na-da-rét. Ngài nhận ngay: “Chính tôi đây”. Mới nghe vậy, họ liền lùi lại và ngã xuống đất. Ngài hỏi lại, họ vẫn nói là tìm Giêsu Na-da-rét. Ngài vẫn nhận mình là người họ tìm, chấp nhận cho họ bắt Ngài nhưng Ngài yêu cầu không bắt bất cứ ai đi với Ngài. Điều này ứng nghiệm lời Ngài đã nói: “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai”.

Ông Phêrô có sẵn thanh gươm liền tuốt ra và chém đứt tai phải của Man-khô, đầy tớ của vị thượng tế. Ngài bảo ông Phêrô xỏ gươm vào bao, và giải thích rằng Ngài sẵn sàng uống chén mà Chúa Cha đã trao. Họ bắt Ngài và dẫn Ngài đến ông Kha-nan, nhạc phụ của thượng tế Cai-pha. Chính Cai-pha đã đề nghị với người Do-thái là “nên để một người chết thay cho dân thì hơn”. Một lời đề nghị ích kỷ và bất công vô cùng!

Mặc dù bị chất vấn và tra khảo, nhưng Chúa Giêsu vẫn nói thẳng và nói thật chứ không run sợ trước thế lực của họ, có người vả vào mặt Ngài, nhưng Ngài vẫn hỏi vặn lại: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18:23). Tất nhiên họ chẳng nói lại được gì, mà chỉ “cả vú lấp miệng em”. Rồi ông Kha-nan cho giải Ngài đến thượng tế Cai-pha trong khi Ngài vẫn bị trói.

Trong khi đó, ở ngoài sân, ông Phêrô bị người ta phát hiện thuộc nhóm của Chúa Giêsu nên ông sợ và chối thẳng thừng, không chỉ một mà tới ba lần. May có tiếng gà gáy sáng, và ông đã ăn năn.

Người Do-thái lại điệu Chúa Giêsu từ nhà ông Cai-pha đến dinh tổng trấn Phi-la-tô khi trời vừa mới sáng. Họ không vào dinh vì sợ bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. Bề trong không lo mà chỉ lo bề ngoài, thật là tồi tệ!

Ông Phi-la-tô hỏi đủ điều nhưng Ngài chỉ im lặng. Ông Phi-la-tô cũng nhận thấy Ngài không có tội gì và có ý phóng thích Ngài, nhưng ông ta vẫn không dám làm theo tiếng nói lương tâm vì ngại với đám đông, sợ mất chiếc ghế chức tước và quyền lực. Nghe Chúa Giêsu nói về sự thật, ông ta còn “giả nai” hỏi lại: “Sự thật là gì?” (Ga 18:38). Bà vợ bảo ông ta đừng nhúng tay vào vụ án xử Chúa Giêsu, ông ta đi lấy nước rửa tay, ý ông ta muốn chứng tỏ mình vô can.

Chắc hẳn chúng ta cho rằng ông Phi-la-tô đúng là một kẻ hèn nhát, coi thường công lý và làm ngơ nỗi khổ của người khác, thế nhưng chính chúng ta cũng đã từng có những lần hèn nhát y như ông ta, đó là khi chúng ta im lặng trước bất công của tha nhân. Ai sao thì sao, tôi bình an là được. Động thái của ông Phi-la-tô là lời cảnh báo đối với mỗi chúng ta là phải cảnh giác trong mỗi động thái của mình, nhất là đối với những gì liên quan sự thật và công lý.

Vào mỗi dịp lễ Vượt Qua, và theo tục lệ của người Do-thái, người ta thường tha một phạm nhân nào đó. Người ta hùa nhau xin tha cho tướng cướp khét tiếng Ba-ra-ba, nhưng lại xin giết chết Đức Giêsu. Trước đó không lâu, người ta mới tung hô “vạn tuế Đấng nhân danh Chúa mà đến” ở Thành Giê-ru-sa-lem, thế mà giờ đây lại quyết xin đóng đinh người mà họ đã tôn vinh.

Không biết xử trí ra sao, ông Phi-la-tô liền truyền đem Đức Giêsu đi và đánh đòn Ngài. Họ hành hạ Ngài với những kiểu dã man nhất. Sau đó, ông Phi-la-tô dẫn Chúa Giêsu ra ngoài cho người ta thấy Ngài thê thảm thế nào với vòng gai trên đầu mà thôi kết án Ngài. Thế nhưng họ vẫn không chút mủi lòng, cho rằng Ngài lộng ngôn khi nhận mình là Con Thiên Chúa. Họ càng thấy Ngài bị hành hạ tơi tả thì họ càng vui sướng: “Đóng đinh nó vào thập giá!”.

Nghe lời đó, ông Phi-la-tô càng sợ hơn nữa. Sơ gì? Sợ mất chức, mất chức thì mất bổng lộc và mất quyền. Ông ta bảo ông có quyền tha và có quyền đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá. Nhưng Đức Giêsu nói ngay: “Ông không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ông. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ông thì mắc tội nặng hơn”. Ông Phi-la-tô tìm cách tha Ngài nhưng vẫn không dám thực hiện vì bị áp lực của đám đông.

Họ bắt Ngài tự vác lấy thập giá đi đến Đồi Sọ, tiếng Híp-ri là Gôn-gô-tha. Cùng chung hình phạt đóng đinh vào thập giá với Ngài là hai tên gian phi khét tiếng. Phía trên thập giá có ghi: “Giêsu Na-da-rét, Vua dân Do-thái” (*). Vô tình mà họ đã phải công nhận Chúa Giêsu là Vua dân Do-thái. Bảng đó được ghi bằng đa ngữ: Tiếng Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp. Các thượng tế của người Do-thái muốn ghi kiểu khác, nhưng ông Phi-la-tô không chiều theo ý họ. Đó là ý Chúa vậy!

Từ trên Thập Giá, Đức Giêsu trao phó Đức Mẹ cho ông Gioan chăm sóc, và xin Đức Mẹ nhận chàng trai Gioan làm con. Nghe những lời trăn trối như vậy thì hẳn ai cũng phải động lòng. Sau đó, Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Ngài kêu: “Tôi khát!”. Nghe vậy mà người ta lại nhẫn tâm lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Ngài. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất! – Tetelestai!”. Rồi Ngài gục đầu xuống và trao Thần Khí.

Lời kêu khát của Chúa Giêsu nhắc chúng ta về niềm khát khao của Ngài dành cho chúng ta là chúng ta phải cố gắng NÊN THÁNH, nhắc nhở chúng ta yêu mến THÁNH THỂ, đồng thời cũng nhắc nhở chúng ta đừng làm ngơ trước những nỗi khát khao của tha nhân – nhất là đối với những CON NGƯỜI HÈN MỌN luôn ở bên chúng ta hằng ngày.

Hôm đó là ngày áp lễ, người Do-thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày đại lễ sa-bát. Vì thế họ xin ông Phi-la-tô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh cho họ mau chết để rồi lấy xác xuống cho kịp trước khi đêm xuống. Họ đánh giập ống chân hai người cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu. Khi đến gần Đức Giêsu và thấy Ngài đã chết, họ không đánh giập ống chân Ngài. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Ngài, tức thì, MÁU cùng NƯỚC chảy ra. Tứ đó, Nguồn Suối Lòng Thương Xót tuôn chảy mãi cho đến tận thế để ai nhìn lên Ngài và thành tâm tín thác thì sẽ được hưởng Ơn Cứu Độ.

Sau đó, Đức Giêsu được hạ xác xuống khỏi Thập Giá, được đưa đi an táng theo tục lệ chôn cất của người Do-thái tại một thửa vườn. Nỗi buồn “dừng lại” nhưng vẫn âm ỉ trong lòng mọi người. Tuy nhiên, Ngày Thứ Sáu Buồn Thảm này lại chính là Ngày Thứ Sáu Tốt Lành, ngày hướng về Cõi Trường Sinh. Chúa Giêsu chịu đau khổ để chúng ta được hạnh phúc, Ngài chịu thua cuộc để chúng ta chiến thắng, Ngài chịu chết để chúng ta được sống. Chúng ta tưởng niệm cái chết của Ngài nhưng không phải là để thương xót Ngài mà là thương xót chính số phận của chúng ta, nhờ đó mà cố vượt qua chính mình hằng ngày.

Quả thật là niềm hạnh phúc vô tận đối với chúng ta – những tội nhân khốn nạn, bởi vì Thánh Phaolô đã xác định: “Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với Người. Người không còn chấp tội nhân loại nữa” (2 Cr 5:19). Thứ Sáu Tuần Thánh là “cột mốc” đánh dấu lời hứa đó, như Thánh Vịnh gia đặt vấn đề: “Nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?” (Tv 130:3). Một câu nghi vấn nhưng là một cách xác định. Thật là đại phúc cho chúng ta. Tạ ơn Chúa, Deo Gratias!

Tuy nhiên, chúng ta không được “dừng chân” ở đó, mà phải cố gắng lên tới Đỉnh Đồi Thương Xót cùng với Đức Giêsu Kitô, tức là phải chết vì yêu thương và vì thương xót. Như vậy mới khả dĩ giải nghĩa hết chữ yêu.

Lạy Thiên Chúa Cha, xin thương xót và tha thứ tội nhân con. Lạy Thiên Tử Giêsu, Đấng Cứu Thế, con cảm tạ Ngài đã chịu chết để cứu chuộc nhân loại, xin giúp con nhổ bật những chiếc đinh gỉ sét mà chính con đóng vào chân tay Ngài và đóng vào cuộc đời tha nhân. Xin Chúa ban ơn dồi dào để mọi người luôn sống đúng bổn phận của mình, và xin Ngài đặc biệt thương xót Việt Nam bé nhỏ này. Con chân thành và tha thiết cầu xin nhân danh Người Tôi Trung Đau Khổ là Đấng Cứu Thế Giêsu Kitô. Amen.

 

(*) INRI: Iēsus Nazarēnus, Rēx Iūdaeōrum (tiếng Latin), Ο Ιησούς από τη Ναζαρέτ, ο βασιλιάς των Εβραίων (tiếng Hy Lạp – INBI), תשוועמנצרת, מלךהיהודים (tiếng Do Thái), Jesus the Nazarene, King of the Jews (tiếng Anh), Jésus le Nazaréen, le Roi des Juifs (tiếng Pháp).

 

BẠC NHƯ VÔI!

P.Trần Đình Phan Tiến

Vâng , kính thưa quý vị, “ Tình đời bạc trắng như vôi “, vốn lẽ thường, hay tình đời thay trằng đổi đen, vốn bản chất “tự có ” của nhân thế là vậy sao ?!

Vâng, sự bạc bẽo của thế nhân chính là những ”triết lý” mà các nhạc sĩ đã sử dụng để viết lên những ca khúc đi vào lòng người. theo đó, dường như nhân loại thật vô tình, thật thờ ơ, vô cảm dẫn đến “bạc như vôi”. Tình đời thật bạc, dường như xảy ra từng giây, từng phút trong cuộc đời.

Cũng chính vì như vậy, sự bạc bẽo của thế nhân dường như là quá quen hóa nhàm, nhưng, kỳ thực nó rất nguy hiểm, nó chính là mầm mống của “tội ác”. Sự bạc bẽo đối với cha mẹ, thầy cô, bạn bè, anh em, vợ chồng, nó chính là cái “tôi” khủng khiếp, đề tài muôn thuở, mầm mống của tội ác.

Thật vậy, hơn hai ngàn năn qua, một “Bản án bất công”, hay một “Bi kịch” đau thương vô lý của một “Con Người “ Tên là Giêsu , Nazaret , Đấng Cứu Thế làm Người, đã mang lấy.

Tứ Sáu Tuần Thánh không phải là dịp để nhắc lại sự ”thù hận“ mà là để “tha thứ”. Tại sao vậy, thưa quý vị? Thưa , bởi vì là trong chính chúng ta, kể cả môn đệ thân tín, kể cả bạn hữu của Thầy Chí Thánh Giêsu là chính chúng ta đã, đang và sẽ đóng vai trò “lên án “ và giết Chúa Giêsu. Vì mỗi lần chúng ta lên án , muốn hại ai, là mỗi lần chúng ta lên án , hãm hại chính Chúa Giêsu. Vì, Người chịu bản án bất công nhất trong tư cách của một người “yếu thế” cô độc. Rõ ràng, Chúa Giêsu đã nói : “ Nước Tôi không thuộc thế gian nầy. Nếu Nước Tôi thuộc về thế gian nầy, thuộc hạ của tôi sẽ chiến đấu…” (Ga 19, 36).

Như vậy, Chúa Giêsu bị kết án bất công trong lúc yếu thế, đơn độc. Họ bày ra một tuồng kịch, nhưng, ơn Cứu Độ là một Mầu Nhiệm được hoàn tất.

Như vậy, ơn Cứu Độ là một chân lý, hay là để biểu thị chân lý từ Thiên Chúa, một chân lý tuyệt hảo chỉ được thể hiện qua ơn Cứu Độ, ơn Cứu Độ lại được biểu thị qua cuộc Tử Nạn của Người vô tội. Rõ ràng, Ơn Cứu Độ càng hiển nhiên, càng minh bạch, càng có giá trị tuyệt đối. Bởi vì, tình yêu đáp trả tình yêu. Nhưng, tình yêu đáp lại hận thù, thì giá trị cao siêu biết mấy !

Điều nầy không dễ chu toàn, nhưng, chính Đức Kitô đã thực thi. Trên Núi Sọ, cảnh Thập giá có ba , nhưng cái chết của Chúa Giêsu cho thế giới loài người biết rằng: Thiên Chúa đã minh chứng Lời của Người, Thiên Chúa đã thể hiện sự “có mặt” nơi trần gian nầy. Thiên Chúa cứu chuộc cách nhãn tiền, chứ không phải là “ẩn mặt”.

Đấng là hiện thân của “sự thật” lại thua tên cướp khét tiếng là Barabar sao ?! Đại diện công lý trần gian lại thua những người “xảo trá” sao ?! Công lý thế trần, môn đệ thân tín, bạn hữu của Người đâu rồi?! phải chăng một sự cô độc “duy nhất” có một không hai, mà Chúa Giêsu đã vác lấy đó sao ?! Nó còn nặng trĩu và đau đớn hơn cây Thập giá và vòng gai Người chịu.

Bạc như vôi vốn dĩ tình đời, Thiên Chúa biếtt rõ , nhưng, Người đã cam tâm vác lấy. Người đời khi vui thì vỗ tay vào, khi “chẳng có lợi” thì chùi tay ra. Cùng thì “ bàn tay”, nhưng, lại ném đá, đánh đập, vả vào mặt, trói vào cột đá, đóng đinh, xé áo, đâm vào cạnh sườn. Thay vào đó, cũng bàn tay , ban ơn cứu độ, chữa lành người mù, người què được đi, kẻ bất toại lành mạnh, kẻ chết sống lại. Bàn tay bẻ bánh phân phát, trao cho môn đệ trong ngày Tiệc Ly. Cũng bàn tay ấy chữa lành đứt tai của kẻ quân dữ.

Như vậy, “Bàn Tay” Thiên Chúa và bàn tay thế nhân khác xa, một “bàn tay cứu chữa” và một “ bàn tay nhuốm máu”. Chúng ta thấy, tội lỗi nhân loại không thể dùng để xử lý bàn tay nhân loại tội lỗi, vì bàn tay tội lỗi không thể xử lý người vô tội được. Thiên Chúa không cho phép điều ấy xảy ra, bởi vì Người là chân lý. Chân lý hiện sinh ấy, Người đã trả giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh bi thương.

Chúng ta cảm nghiệm như vậy, và đặt trọn niềm tin như thế vào Đấng Cứu Độ Giêsu – Kitô.

Suy niệm Thập Gía là suy niệm cuộc khổ hình của Đức Kitô, trong đó sự cô độc, sự chịu sỉ vả, sự chịu đánh đòn, sự chịu thẩm vấn bất công, bị điệu ra trước tòa Philato, cịu sự cáo gian, chịu sự khinh miệt, chịu môn đệ bán rẻ, và chối từ, chịu đội mão gai, chịu vác thập giá, chịu đóng đinh, chịu treo lên chịu khát khao, chịu uống mật đắng, cuối cùng chịu đâm thủng cạnh sườn, để minh chứng sự sống vĩnh hằng tồn tại muôn thuở.

Chúa Giêsu “Khát” sự thật được tỏ bày, được thực thi, “Khát “ tình yêu được thể hiện , được ban tặng, ơn Cứ độ được đón nhận khắp nơi, chân lý được lan truyền và được đón nhận, qua cuộc Tử Nạn của Người. Chúa Giêsu “khát khao” ơn cứu độ của Người không uổng phí, không giới hạn. Vì, ai khát khao chân lý, thì nghe tiếng Người. Nếu không như thế, tình đời vẫn bạc như vôi, và Ơn Cứu Độ không có tác dụng gì với thế nhân.

Chúng ta suy niệm Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu trong ngày THƯƠNG KHÓ, là chúng ta soi mình vào những gương phản bội, hay chối từ, gương đánh đòn Chúa, hay gương sỉ vả Người, gương đóng đinh, hay gương đâm thủng cạnh sườn Người. Chắc chắn chúng ta không dám, hay không được phép, nhưng, chúng ta không thể không làm những hành động trên đối với Chúa Giêsu VÌ TỘI LỖI CỦA CHÚNG TA.

Bằng sự suy niệm nầy, chúng ta thật tình hết lòng ăn năn sám hối, xin Chúa thứ tha qua cuộc Thương Khó của Người, một cách sâu sắc, hầu chúng ta xứng đáng bước vào mầu nhiệm Phục Sinh của Người, nếu không chúng ta cũng bạc như vôi ./. Amen.

 

TRAO HIẾN VÌ YÊU THƯƠNG

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Phụng vụ luôn dành trình thuật thương khó của Gio-an cho ngày Thứ Sáu Tuần Thánh vì bài này có một số chi tiết khác với các Phúc âm Nhất lãm. Tuy nhiên sự khác biệt lớn hơn hết có lẽ chính là giọng văn và tình cảm của một nhân chứng đã tận mắt chứng kiến biến cố trọng đại này. Chính tác giả Gio-an đã công khai tuyên bố: “Người đã xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực; và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin”.

Tất cả các chi tiết Gio-an mô tả trong bài thương khó của ông đều rất cụ thể và sống động, chẳng hạn như chi tiết “Tôi khát!” Được chính mình trải nghiệm trong giờ hấp hối, tôi thấy điều này thật cụ thể: cơn khát của một người sắp chết thật khủng khiếp. Nói gì thì nói, trong cơn khát cháy họng, hầu như cả mạng sống của một con người lệ thuộc vào vài giọt nước mát… Cụ thể và xác thực biết bao!

Nhưng trong số các chi tiết ông ghi nhận về cuộc thương khó, Gio-an đặc biệt quan tâm tới: “một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người, tức thì máu cùng nước chảy ra”. Gio-an khảng định chính mắt mình đã chứng kiến cảnh tượng này, vì đó là biến cố hầu như đã thay đổi sâu xa lối suy nghĩ, và có lẽ chính cuộc sống của ông. Đó cũng là cốt lõi của sứ điệp mà ông đã dành trọn phần còn lại của đời mình để loan truyền cho mọi người: “Điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến… chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa.” (1Ga 1,1.3) “Phần chúng tôi, chúng tôi đã chiêm ngưỡng và làm chứng rằng: Chúa Cha đã sai Con của Người đến làm Đấng cứu độ thế gian.” (1Ga 4,14)

Để trả lời cho vấn nạn: ‘sự cứu độ đó là như thế nào?’ Gio-an đã khảng định: thưa, đó là một tình yêu dâng hiến trọn vẹn, yêu tới giọt máu cuối cùng, yêu bằng cả mạng sống mình. Và đối tượng của tình yêu đó là ai? Là một người đáng yêu, người tốt lành, cao thượng chăng? Thưa, không! Gioan tiếp tục: “Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một của Người đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống. Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta.” (1Ga 4,8-10) Nếu Gio-an đã từng được mệnh danh là Tông Đồ tình yêu, thì là vì ông đã được tận mắt chứng kiến cảnh tình yêu đó được biểu lộ cách huy hoàng và triệt để nhất trên thập giá, trên đó Giê-su đã đổ tới giọt máu cùng nước cuối cùng.

Phao-lô, tuy không có dịp được chiêm ngắm thập giá trực tiếp như Gio-an, nhưng tất cả những gì ông biết được về Đức Ki-tô Giê-su lại chính là ‘Đức Ki-tô Thập Giá’, mà ông luôn miệng khảng định: ‘tôi không biết một Đức Ki-tô nào khác’. Nhìn lên thập giá, Phao-lô đã nhận ra: “Đức Giê-su Ki-tô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2,6-8) Riêng với bản thân, Phao-lô đã cảm nghiệm cách thâm sâu: “tôi đặt niềm tin vào Đức Giê-su Ki-tô, Đấng yêu thương tôi và phó nộp mình cho tôi, ngay cả khi tôi phảm nghịch cùng Người”.

Nếu thế thì chính tôi, trong tư cách một linh mục, tôi nhận thấy điều gì nơi Thập giá? Hơn cả Gio-an chỉ đứng nhìn, hàng ngày tôi cử hành Thánh Lễ. Mỗi khi uống cạn chén Máu Thánh, được trực tiếp chạm vào máu và nước từ cạnh sườn Đức Giê-su chảy ra, tôi có nhận ra tình yêu tột cùng của Thiên Chúa dành cho một tội nhân như tôi? Đối với tôi thập giá mang ý nghĩa sống còn, hay chỉ là một biểu tượng chung chung? Tôi có còn mơ ước hay khâm phục một Giê-su nào khác, một Giê-su làm phép lạ, một Giê-su ban ân huệ này nọ, một Giê-su thông thái giảng dạy, một Giê-su uy nghi đến trong vinh quang để xét xử… hơn là một Giê-su chịu đóng đinh vì yêu thương tôi? Tôi sẽ chưa phải là linh mục của Đức Ki-tô, nếu tôi chưa chịu đóng đinh, chịu hiến mình… tới giọt máu cuối cùng. Được gọi là Linh Mục của Đức Ki-tô, và hàng ngày cử hành Thánh Lễ, thực tế tôi đang là gì và làm gì?

Lạy Đấng chịu đóng đinh và phó nộp cả mạng sống mình cho con, xin làm cho con được, như Gio-an, tựa đầu vào lồng ngực đầy yêu thương, để rồi nhận ra trong đó đang thoi thóp một quả tim đã cạn kiệt tới giọt máu cuối cùng vì yêu thương con. Con cảm tạ Chúa vì hồng ân linh mục con đã được trao ban, trước hết là vì lợi ích của chính con: được diễm phúc cử hành hiến tế Thập Giá mỗi ngày. Xin cho con có cắp mắt vả cõi lòng của Gio-an. Xin soi sáng và củng cố con để có được niềm xác tín và nhận thức của Phao-lô, nhờ thế Thập giá, phải, chính thập giá chứ không gì khác, sẽ trở nên gia sản và vinh quang lớn nhất của đời con. Amen.

 

SỐNG CAO ĐẸP CHẾT KHÔNG CÙNG

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Đời người, ai cũng chết, nghĩa là ai cũng sẽ một lần nhắm mắt xuôi tay. Từ giã bạn bè, người thân ra đi biền biệt. Cái chết là phận số của con người. Không ai mà không chết. Điều quan yếu là chết cách nào? Chết để người đời thương nhớ, lưu danh hay chết là niềm vui của xã hội vì đã loại được một người ăn bám xã hội và hại người.
Người ta nói nghĩa tử là nghĩa tận nhưng xem ra vẫn chưa tận. Vì sau cái chết vẫn còn những lời xì xầm bình loạn của thế gian. Lắm khi cái ác mà người chết gây ra quá lớn thì dẫu chết cũng chưa tận, trong nỗi đau đã khoét sâu trong lòng người sống, khiến số đông không cam lòng. Và, chỉ có thể là “tận nghĩa” giữa cuộc tiễn đưa vắng bóng người, thậm chí không có nước mắt tiếc thương. 
Có lẽ nhiều người cũng sợ cái chết của mình chưa tận với miệng lưỡi thế gian, nên trang mạng Facebook đang lan truyền ứng dụng Sát Thủ- chết bất hủ.  Sát thủ – chết bất hủ là một ứng dụng dự đoán vui về kết thúc cuối đời của người tham gia. Những lý do chết mà ứng dụng tiên đoán đều khiến người xem bật cười ngay lần đọc đầu tiên. Kiểu như Chết cháy vì táy máy vào ổ điện, Ngủm vì ngửi phải mùi thum thủm, Chết vì nghĩa tình đã hết, Ra đi vì vợ nghi cặp bồ, Thăng vì rụng hết răng không ăn được, Nghẻo vì trèo cây cao, Thăng vì quá lăng nhăng. . .
Thực ra chết cách nào không quan trọng mà là sống thế nào để khi chết vẫn còn có người thương nhớ. Người chết không “tận” nơi người sống mà họ vẫn ở lại trong trái tim người sống về những hình ảnh yêu thương phục vụ của người ra đi. Họ đã sống đẹp cho đời thì hình ảnh đẹp ấy vẫn được người đời muôn đời ca tụng.
Con người và cuộc đời Chúa Giê-su dường như không kết thúc. Ngài vẫn sống trong lòng nhân loại dầu Ngài đã hiến tế cuộc đời trên đồi Golgotha cách đây hơn 2000 năm. Ngài vẫn ở lại trong trái tim từng người vì Ngài đã hiến dâng mạng sống mình vì loài người chúng ta. 
Nhìn vào cuộc đời của Chúa Giê-su chúng ta chỉ thấy hai chữ hy sinh. Ngài hy sinh nên nhập thể làm người. Ngài hy sinh nên dong ruổi suốt dọc dài đất nước Palestine để thi ân, để cúi xuống phục vụ mọi mảnh đời khổ đau. Sự hy sinh của Ngài nên tới đỉnh điểm là chết cho người mình yêu. Ngài có thể tháo lui trước nhục hình. Ngài có thể từ chối uống chén đắng vì Ngài là Thiên Chúa, nhưng Ngài đã dùng cái chết để mở ra cho nhân loại một con đường về với trời cao. Ngài chết để minh chứng về Chúa Cha, và vì vâng phục Chúa Cha mà Ngài bằng lòng chịu chết. Sự chết của Ngài đã giao hòa con người với Thiên Chúa Cha, để từ nay nhờ hiến tế của Con Thiên Chúa mà con người được trở về nhà Cha.
Hôm nay chúng ta suy tôn thánh giá Chúa. Suy tôn tình yêu tự hiến hy sinh của Chúa. Nhờ hiến tế trên đồi Calve mà con người được sống trong ân nghĩa cùng Chúa Cha. Trong Phúc âm ghi lại: “Họ sẽ nhìn ngắm Ðấng mà họ đã đâm thâu qua” (Ga 19,37). Ngắm nhìn xem Đấng đã bị đâm thâu để thấy tình yêu hiến dâng đến quên cả tính mạng cho người mình yêu. Ngắm nhìn xem Đấng đã bị đâm thâu để thấy mình cũng có trách nhiệm trong cuộc thương khó của Chúa, trong nỗi đau của anh chị em mình. Ngắm nhìn Đấng đã bị đâm thâu để biết sống bù đắp những lỗi lầm của mình đã và đang gây đau khổ cho anh chị em mình. 
Nguyện xin Đức Giêsu, Đấng đã chết và đã phục sinh giúp chúng con mỗi lần ngắm nhìn Chúa biết giục lòng ăn năn thống hối và can đảm đứng lên làm lại cuộc đời. Xin cho cuộc đời chúng ta sẽ mãi không “tận” trong lòng anh em, mà sống mãi trong mọi người nhờ những hy sinh đóng góp của chúng ta. Amen.

 

NHÌN NGẮM THÁNH GIÁ KHÁM PHÁ TÌNH YÊU

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Hôm nay, Giáo hội, Hiền Thê yêu dấu nhìn lên Thánh Giá nơi treo Chúa Giêsu vị Phu Quân của mình, chân tay đanh nhọn đâm thâu, cạnh sườn lưỡi đòng đâm thủng, máu cùng nước chảy ra làm cho Giáo hội nhớ đến ngày mình được sinh ra từ cạnh sườn Chúa, lúc Chúa ngủ trên Thánh Giá với tất cả tình yêu. Bởi theo thánh Ambrosiô, lúc Ađam đang ngủ Thiên Chúa đã lấy xương sườn của ông để tạo dựng Evà thế nào, thì lúc Chúa Giêsu chết nằm trên Thánh Giá, Giáo hội cũng được sinh ra từ Trái Tim bị đâm thủng của Chúa Giêsu như vậy, và Giáo hội tưởng nhớ đến tình yêu dâng trào ấy.

Câu chuyện tình yêu

Giảng trong Thánh lễ sáng thứ ba ngày 15/03.2016, tại nguyện đường Thánh Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô nói : “Nếu muốn biết ‘câu chuyện tình’ mà Thiên Chúa dành cho nhân loại, chúng ta phải ngắm nhìn Thánh Giá, nơi ấy có một vị Thiên Chúa đã hoàn toàn ‘trút bỏ vinh quang’, sẵn sàng bị ‘vấy bẩn’ bởi tội lỗi con người để cứu con người khỏi chết“.

Thật không thể hiểu nổi Thiên Chúa yêu thương chúng ta biết chừng nào. Người đã yêu chúng ta bằng tình yêu vô bờ bến, tình yêu thương xót và thứ tha, khi phải mang trên mình những đau khổ vì tội lỗi chúng ta. Bài ca thứ tư của người Tôi Tớ Chúa được Isaia mô tả : “Người chẳng còn hình dáng, cũng chẳng còn sắc đẹp để chúng ta nhìn ngắm, không còn vẻ bên ngoài, để chúng ta yêu thích; bị người đời khinh dể như kẻ thấp hèn nhất, như kẻ đớn đau nhất, như kẻ bệnh hoạn, như một người bị che mặt và bị khinh dể, bởi đó, chúng ta không kể chi đến người.

Thật sự, người đã mang lấy sự đau yếu của chúng ta, người đã gánh lấy sự đau khổ của chúng ta. Mà chúng ta lại coi người như kẻ phong cùi, bị Thiên Chúa đánh phạt và làm cho nhuốc hổ. Nhưng người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta, bị tan nát vì sự gian ác chúng ta. Người lãnh lấy hình phạt cho chúng ta được bình an, và bởi thương tích người mà chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lang thang như chiên cừu, mỗi người một ngả. Chúa đã chất trên người tội ác của tất cả chúng ta” (Is 53, 2-6).

Người ta nói rằng : nếu tất cả Thánh Kinh trên trái đất này bị hủy diệt bởi tai biến nào đó hay bởi một cơn thịnh nộ phá hủy các hình tượng tôn giáo và chỉ còn một bản Kinh Thánh, và bản còn lại đó cũng bị hư hại đến mức chỉ còn một trang, và nếu trang đó nhăn nheo đến độ chỉ còn một dòng có thể đọc được, và nếu dòng đó là thư thứ nhất của thánh Gioan viết  “Thiên Chúa là Tình Yêu “, thì coi như toàn bộ Thánh Kinh được khôi phục, bởi vì toàn bộ nội dung là ở đó. Mầu Nhiệm Thập Giá mà chúng ta cử hành là bằng chứng. Vì thế, khi suy tôn Thánh giá Chúa, kính nhớ Chúa chịu chết, chúng ta cảm nhận được sự thật rằng : “Thiên Chúa là Tình Yêu“.  

Thờ lạy Thánh Giá Chúa

Phần tiếp theo của nghi thức chiều nay là thờ lạy Thánh Giá, tiến xướng chúng ta hát : Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa… vì nhờ gỗ này mà cả vũ trụ được hân hoan. Tại sao vậy ? 

Thưa, Thánh Giá không phải là đồ trang sức, không phải là một công trình nghệ thuật được đính nhiều đá quý và kim cương lấp lánh. Nhưng như chúng ta thấy, Thánh Giá là mầu nhiệm tự hủy của Thiên Chúa vì yêu thương. Đây chính là câu chuyện về ơn cứu độ của chúng ta. Đây cũng là chuyện tình của Thiên Chúa.

Với khí giới của riêng mình là cây Thánh Giá, Chúa Giêsu đã chiến thắng cách diệu kỳ. Nếu như đã có một người nữ tên là Evà bị thất bại trước khí cụ của con rắn xưa là cây trái cấm, đem sự chết vào thế gian, Ađam phải chết. Thì nay, Đức Maria, thay thế Evà, cũng với cây sự sống, cây biết lành biết dữ làm gỗ giá treo Chúa Giêsu lên, Người đã đánh bại tử thần, sống lại hiển vinh, cứu con cháu Ađam khỏi chết. Ma quỷ đã bị đánh bại bởi cùng một phương tiện mà nó đã chiến thắng. Ma quỉ đã dùng cây để quật ngã Adam, Chúa Giêsu Kitô đã dùng cây Thánh Giá để đánh bại Nó. Cây trái cấm đã ném con người vào vực thẳm, nay gỗ Thánh Giá kéo con người lên. Cây trái cấm đã làm cho con người mất đi tình thân nghĩa thiết với Thiên Chúa, tống con người vào ngục ; nay gỗ Thánh Giá tước lấy vũ khí của ma quỉ đã chiến thắng con người, giúp con người vượt qua trần thế. Cái chết của Adam đã kéo theo con cháu mình là kẻ sinh sau ông ; sự chết của Chúa Giêsu Kitô mang lại sự sống cho những kẻ sinh ra trước Người. Quả làm một tuyệt phẩm về tình yêu giữa Thiên Chúa với nhân loại từ cây Thánh Giá.

Thánh Giá là cờ vua cả toàn thắng đã cứu chúng ta cho khỏi tay ma quỉ, là vũ khí chông lại tội lỗi, là thanh gươm sắc bén Chúa Giêsu dùng để chiến thắng con rắn xưa. Thánh Giá là ý Chúa Cha, là vinh quang của Chúa Con độc nhất, là chiến thắng của Thánh Thần Thiên Chúa, là niềm vinh dự của các thiên thần, là sự an toàn của Giáo hội, là bức tường thành của các vị thánh, niềm tự hào của thánh Phaolô, là ánh sáng chiếu soi trên toàn thế giới. Từ đây, “sự chết đã bị vùi trong toàn thắng. Tử thần hỡi, đắc thắng của ngươi đâu? Tử thần hỡi, nọc của ngươi đâu?” (1Cr 15, 54-55).

Thế giới khi nhìn xem Con Thiên Chúa chịu đóng đinh, rùng mình, trời đất động địa, đã vỡ ra ; nhưng trái tim của những người Do Thái, cứng hơn đá vẫn không động đậy. Các màn trong đền thờ bị xé ra; nhưng các âm mưu phạm tội vẫn không bị phá vỡ. Tại sao màn che bị xé ? Phải chăng đền thờ đau đớn khi chứng kiến cảnh Thiên Chúa bị giết bên ngoài trên bàn thờ Thập Giá; và khăn che trong đền thờ xé ra như muốn nói với mọi người rằng: sẽ có nhiều đền thờ trở nên hoang vắng và bị bỏ rơi. Chúng ta hãy học để chiến thắng mà không phải chiến đấu, không phải dàn trận, vũ khí không dính máu, chúng ta không bị thương vong nhưng lại giành chiến thắng : Thiên Chúa chiến đấu, còn vương niệm chiến thắng chúng ta nhận.

Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa. Xin Chúa cho chúng con khi nhìn ngắm Thánh Giá Chúa, biết khám phá ra rằng, Thiên Chúa đã chết chỉ vì yêu, để chúng con biết yêu thương nhau hầu chứng tỏ rằng chúng con yêu Chúa, vì đó là cốt lõi của Đạo Chúa. Amen.

 

TIẾNG NÓI CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Nếu như người ta vẫn nói trái tim có lý lẽ của nó, thì chúng ta cũng có thể nói : Tình yêu cũng có ngôn ngữ riêng của nó. Ngôn ngữ của tình yêu không chỉ là những lời lẽ ngọt ngào, mà còn là những ngôn ngữ không lời, những dấu chỉ không thành tiếng. Ngôn ngữ của tình yêu, không chỉ được nghe bằng tai, mà còn bằng sự cảm nhận của trái tim, ngắm nhìn bằng con mắt và tiếp xúc bằng các giác quan.

Có thể nói bầu khí phụng vụ của ngày Thứ sáu Tuần thánh mang những màu sắc và cung điệu trầm buồn, nhưng trong sự trầm lắng này, chúng ta như có thể nghe được tiếng nói và đụng chạm được đến tình yêu của Thiên Chúa qua cuộc tử nạn đau thương của Chúa Giêsu.

Có những người cho rằng, phải chăng cái ác và sự bất công luôn thắng thế ? Phải chăng Thiên Chúa cũng chịu thua trước sức mạnh của ma quỷ và sự dữ ? Tại sao một Thiên Chúa vô tội lại phải chịu một bản án bất công như vậy ? Chúng ta sẽ không thể trả lời được bằng những lý lẽ thông thường, mà chỉ có thể trả lời rằng : Thiên Chúa có cách riêng của Ngài để bày tỏ tình yêu thương đối với con người.

Tiên tri Isai đã thấy trước và đã nói về Chúa Giêsu trong hình ảnh của một người tôi tớ chịu đau khổ. Người tôi tớ này một mực trung thành với Thiên Chúa. Nhìn dáng vẻ bề ngoài, người ta chỉ có thể thấy một gương mặt tan nát, một thân xác tả tơi vì bị hành hạ. Ngài hoàn toàn im lặng đón nhận tất cả sự xỉ nhục, hành hạ của kẻ dữ mà không buông một lời oán trách. Ngài đón nhận tất cả tội vạ của muôn dân, gánh chịu muôn nhục hình do tội nhân loại. Bị ngược đãi, Ngài không mở miệng phản kháng, giống như chiên cừu khi bị xén lông. Tiên tri Isai cho thấy, Người Tôi tớ của Thiên Chúa chịu tất cả những hành hạ ấy, chỉ vì một lòng hiếu trung với Thiên Chúa, để cho Thiên Chúa được vinh danh và để đem lại sự sống và ơn tha thứ cho nhân loại.

Hình ảnh Người Tôi Trung đã ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu và được thánh Gioan thuật lại trong bài thương khó hôm nay. Có người đặt vấn đề : Chúa Giêsu có thể tránh cuộc khổ nạn và dùng cách khác để cứu chuộc nhân loại không ? Chắc chắn Chúa có thể dùng cách khác để cứu chuộc nhân loại, nhưng Chúa đã không tìm cách tránh né. Ngài đối diện và đón nhận thập giá với lòng yêu mến, vâng phục tuyệt đối dành cho Thiên Chúa Cha và tình yêu vô hạn dành cho con người, là những kẻ được Chúa yêu thương.

Trong cuộc khổ hình thập giá, Chúa Giêsu không chỉ đau khổ thể xác bởi sự hành hạ dã man của những tên lính, thánh Gioan còn cho thấy, Chúa Giêsu vô cùng đau khổ trong tâm hồn bởi những người Ngài thương yêu đã gây tổn thương cho Ngài. Ngay từ bữa tiệc ly tối hôm qua, Chúa đã thể hiện tình yêu đến cùng dành cho các môn đệ, qua việc trao ban chính con người và mạng sống để làm của ăn của uống cho nhân loại. Ngài đã cúi xuống rửa chân cho các tông đồ để thể hiện tình yêu thương và dạy các ông bài học phục vụ. Trong lúc đó, các tông đồ dường như không quan tâm, họ tỏ ra dửng dưng trước hành động của Chúa Giêsu và quay sang bàn với nhau về chuyện khác.

Tiếp đến, Chúa Giêsu đau đớn với tâm trạng bị phản bội bởi kẻ Ngài yêu thương là Giuđa. Ngài đã tin tưởng anh, đã yêu thương anh như những môn đệ khác, vậy mà giờ đây, chính anh lại đưa các thượng tế và quân lính đến bắt Thầy mình. Anh đã trở thành kẻ chỉ điểm để người ta bắt Thầy, anh đã lấy cái hôn làm dấu chỉ để phản bội Thầy. Người ta chỉ hôn nhau khi thể hiện tình yêu thương, nhưng Giuđa lại dùng cái hôn để làm dấu chỉ phản bội. Cái hôn ấy chẳng khác gì cái tát vào mặt Chúa Giêsu.

Không chỉ sự phản bội của Giuđa gây đau khổ trong tâm hồn Chúa Giêsu, các tông đồ khác cũng không khá hơn. Các ông trước đây có người từng thề sống thề chết với Thầy, thì giờ đây, chỉ một chút sợ hãi, các ông đã bỏ trốn hết. Simon Phêrô là người được Chúa tin tưởng đặt làm đầu trong anh em, ông chỉ dám đi theo Chúa xa xa vì sợ liên lụy. Khi thử thách đến, Phêrô đã không ngại ngần từ chối mối liên hệ của mình với Thầy Giêsu, Đấng đã yêu thương ông.

Một đau khổ khác mà Chúa Giêsu phải chịu, đó là sự vô ơn và vô cảm của đám đông. Trong những người la hét đòi đóng đinh Chúa, không thiếu những kẻ mới mấy ngày trước họ hoan hô, vỗ tay reo mừng khi Chúa vào thành Giêrusalem, tung hô Ngài là con vua Đavít. Thế mà trước dinh Philatô, họ đã trở mặt và tuyên bố : Chúng tôi không có một vua nào khác ngoài Cesare.

 Trong lúc chịu đau khổ cùng cực trong tâm hồn và thể xác, chúng ta nhận thấy lòng thương xót của Chúa Giêsu vẫn tuôn trào qua hành động đón nhận tất cả những cực hình và qua ánh mắt yêu thương, tha thứ của Chúa. Trong lúc quân dữ đang hùng hổ tìm bắt Chúa, Chúa Giêsu hết sức ôn tồn, bình tĩnh bước ra gặp chúng và hỏi : Các anh tìm ai ? Nó đáp : Tìm Giêsu Nazareth. Ngài đáp : Chính tôi đây. Một lời nói với đầy sức mạnh và uy quyền đã khiến chúng bật ngã ra đàng sau. Lúc chúng ra tay bắt Chúa, Đức Giêsu đã không nghĩ đến mình, nhưng Ngài nghĩ đến các tông đồ và nói với chúng : Nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để những người này đi.

Lúc dân chúng tố cáo Chúa Giêsu trước mặt các Thượng tế về các bài giảng của Ngài, Chúa Giêsu đã không lên tiếng biện hộ cho mình, nhưng Ngài nghĩ đến các tông đồ và nói với những kẻ tra hỏi Người : Tôi giảng dạy công khai trong đền thờ, tôi không nói gì lén lút cả, xin các ông cứ hỏi những người đã nghe tôi, chính họ biết tôi đã nói gì. Thánh Gioan đã tinh tế cho thấy : Trong khi trong dinh thượng tế, Chúa Giêsu vẫn hết lòng tin tưởng và yêu mến những kẻ Ngài đã tuyển chọn, thì bên ngoài, Phêrô, kẻ được Ngài tuyển chọn, lại công khai từ chối Chúa tới ba lần trước mặt một đứa đầy tớ gái. Lúc này, tình yêu thương của Thiên Chúa đã thể hiện qua cái nhìn của Chúa Giêsu. Ánh mắt yêu thương của Chúa đã gặp được ánh mắt sợ hãi, phản bội của Phêrô, khiến cho Phêrô cảm thấy ân hận suốt đời trước một tình yêu quá lớn lao.

Trước dinh Philatô, Chúa Giêsu cảm nhận sâu xa và đau đớn vô cùng bởi sự bội bạc, vô ơn của đám dân chúng. Họ đã chọn đứng về phía sự ác và sự dữ khi đòi tha Baraba và giết Giêsu. Họ công khai từ chối thẩm quyền của Thiên Chúa để quy phục quyền bính của một ông vua đang đô hộ họ. Những người Do Thái đã rắp tâm loại trừ Chúa Giêsu và họ đã tìm mọi cách gây áp lực để đạt được ý đồ gian ác của họ. Khi Chúa Giêsu phải vác thập giá trên vai, bước đi những bước nhọc nhằn, thì quân lính và dân chúng hả hê, thỏa mãn vì đã đạt được mưu đồ của họ là vùi dập một con người cho đến chết. Cái ác dường như thắng thế, công lý dường như bất lực, Thiên Chúa dường như cũng im lặng trước khổ đau của Chúa Giêsu. Nhưng trong khung cảnh tối tăm của sự ác ấy, ánh sáng của tình yêu vẫn không hề bị dập tắt.

Thánh Gioan, vị tông đồ được Chúa yêu, đã cảm nhận được sự đau khổ và tình yêu của Chúa qua hành trình thập giá. Mỗi bước đi, mỗi chặng dừng, từ dinh Thượng tế Anna đến Caipha, từ dinh Philatô đến dinh Herode và từ dinh Philatô đến cái chết thảm thương trên thập giá đồi Calvariô, là một chặng đường dài của lòng xót thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Nếu chỉ nghe hoặc xem lại cuộc thương khó của Chúa, chúng ta sẽ chỉ thấy một cuộc hành hình bất công, đầy hung ác, tàn bạo và máu me. Nhưng nếu chúng ta nghe bài thương khó này bằng trái tim và bằng sự cảm nhận của tâm hồn, chúng ta sẽ được đụng chạm đến tình thương của Thiên Chúa. Và, nếu chúng ta lắng nghe cuộc thương khó của Chúa trong thinh lặng, để cho trái tim mở ra, chúng ta sẽ nhận ra hình ảnh và trách nhiệm của mình có liên quan trong cuộc hành hình này.

Cuộc thương khó của Chúa Giêsu mà chúng ta suy niệm chiều nay là cách thức Thiên Chúa nói với con người về một tình yêu bao la, về lòng xót thương vô bờ của Thiên Chúa dành cho con người. Với tiếng nói tình yêu này, chúng ta không chỉ nghe bằng tai, nhưng xin cho trái tim của chúng ta cũng biết lắng nghe, biết mở ra để cho lòng thương xót của Chúa đổ tràn trong chúng ta. Xin cho chúng ta đừng bao giờ biến mình trở thành kẻ dửng dưng vô tình trước tình yêu của Chúa và cũng đừng bao giờ đóng cửa trái tim trước nỗi khổ đau của anh chị em. Amen.

 

NGHỊCH LÝ CỦA THÁNH GIÁ

Jos. Vinc. Ngọc Biển 

Buổi chiều hôm nay, Giáo Hội tưởng niệm Đức Giêsu chịu chết để chuộc tội thiên hạ. Buổi chiều hôm nay là “giờ” của Thiên Chúa Cha đã định, và cũng là “giờ” của Đức Giêsu hoàn tất chương trình cứu chuộc nhân loại; “giờ” của người Tôi Trung mà tiên tri Isaia đã loan báo. “Giờ” đó được hoàn tất trên Thánh Giá. Vì thế, phụng vụ chiều hôm nay đều quy chiếu về Thánh Giá Đức Kitô như một sợi chỉ xuyên suốt từ đầu đến cuối.

  1.  Nghịch lý của Thánh Giá

Trong thư gửi tín hữu Philipphê, thánh Phaolô đã nói: Đức Giêsu Kitô đã hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự (x. Pl 2,8); và Ngài đã chết theo như lời Thánh Kinh (x. 1Cr 15,3).

Cái chết của Đức Giêsu trên thập giá đã là nguyên nhân để nhiều người được cứu độ, nhưng cũng không thiếu những kẻ cứng lòng, cố chấp và trai lỳ trong ích kỷ, kiêu ngạo. Những người như thế, họ coi đó như là hình phạt mà Đức Giêsu là người đáng phải chịu do tội mình gây nên.

Thật vậy, khi thập giá được dựng lên, và khi Đức Giêsu chịu treo trên đó, đã không biết bao người tin theo và suy tôn. Tuy nhiên, cũng không thiếu những lời chê bai dè bửu và khinh thường. Họ coi thập giá như là thứ đồ tể đáng sợ để trừng phạt những tử tội oái oăm, khét tiếng và nguy hiểm… Suy nghĩ như thế, thì cái chết của Đức Giêsu không có công trạng gì, mà chỉ như là một hình phạt đích đáng được dành cho một kẻ đã từng bị kết án vì tội “sách động dân chúng; tìm cách lật đổ chế độ và nói lời phạm thượng”. Và, những người theo Đức Giêsu phải chăng họ là bọn người cuồng tín khi tuyên xưng niềm tin của mình vào một kẻ bị treo trên cây gỗ như một tử tội!

Thật vậy, thập giá của Đức Giêsu hôm nay được tôn vinh, đã làm không ít người cảm thấy ngỡ ngàng, bởi vì xét theo người đời, thì đây chính là sự ô nhục, hận thù, đáng ghét… là biểu tượng của sự chết chóc và thập giá vẫn chỉ là dụng cụ ghê rợn được dùng để sử tử tội nhân mà thôi.

Nhưng đối với Thiên Chúa, thì đây chính là sự khôn ngoan khôn dò thấu của Người. Thánh Phaolô đã nói: “Con Thiên Chúa chết trên thập giá là một trong những đường lối khôn ngoan sâu thẳm mà không một ai dò thấu” (x. Rm 11,33). Bởi vì Thiên Chúa đã dùng thập giá như một sự nghịch lý để cứu độ con người.

Thực ra thập giá luôn mang tính nghịch lý, bởi vì nó tuyên dương quyền năng thượng trí của Thiên Chúa ở nơi mà người đời coi là điên rồ.

Nhưng với những người tin, hẳn sự cảm nghiệm, suy nghĩ và thái độ hoàn toàn ngược lại. Những người đó sẽ coi thập giá trở thành Thánh Giá và Thánh Giá lúc này trở thành phương dược, để qua đó Đức Giêsu chuộc tội thay con người và cứu độ nhân loại.

Nếu xưa kia trong vườn Địa Đàng, Ađam đã ngã gục trước Cây Trái Cấm, và gieo rắc tội lỗi cho nhân loại, thì giờ đây, trên cây Thánh Giá, Đức Giêsu đã chuộc lại những gì mà Ađam đã đánh mất và để lại hậu quả cho nhân loại.

Như vậy, từ Cây Trái Cấm, sự chết đã tiêu diệt thế gian, và Trái Cấm là rào cản lớn đến độ con người không thể vượt qua, thì giờ đây, từ cây Thánh Giá, Đức Giêsu đã chuộc lại những gì đã mất do Nguyên Tổ gây nên và mặc cho nó thành cây Sự Sống, quả Phúc Trường Sinh.

Chính Đức Giêsu đã khẳng định rõ điều này khi nói: Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12, 32).  Vì thế, không lạ gì khi thánh Phaolô đã khẳng khái tuyên xưng niềm tin và ơn cứu chuộc của mình nơi Thánh Giá, ngài nói: “Thật thế, lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa […] Thiên Chúa đã muốn dùng lời rao giảng điên rồ để cứu những người tin. Trong khi người Dothái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hylạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan,  thì chúng tôi lại rao giảng một Ðấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Dothái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. (nhưng) cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (x. 1Cr 1,18-25).

Vì thế, “Nhờ máu Người đổ ra trên Thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1,20).

2. Đón nhận Thánh Giá như nguồn ơn cứu rỗi

Cuộc đời của người Kitô hữu, tức là cuộc đời của những người tin và theo Đức Giêsu, hẳn mỗi người luôn nghe thấy lời mời gọi của Ngài: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì người ta nào có lợi gì? “ (Mc 8,34-36); và: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10,38).

Lời mời gọi đó đã được gióng lên ngày chúng ta lãnh nhận phép Rửa tội cũng như suốt cuộc đời của mỗi người chúng ta. Như vậy, Thánh Giá trở nên cứu cánh và việc vác Thánh Giá trở thành điều kiện cần của chúng ta trên hành trình dõi bước theo Đức Giêsu.

Thánh Giá mà mỗi chúng ta phải vác ở đây chính là bổn phận phải chu toàn; là từ bỏ những thứ không cần thiết trên hành trình tin Chúa; là từ bỏ ý riêng… và phục vụ trong yêu thương.

Làm được như thế, ấy là chúng ta sáp nhập cuộc đời của mình vào cuộc đời của Đức Giêsu. Đặt bước chân của ta vào dấu chân của Chúa, để sẵn sàng chấp nhận những đòi hỏi của Tin Mừng.

Như vậy, trong ta có Chúa và trong Chúa có ta. Thánh Phaolô đã diễn tả tâm tình ấy khi tuyên xưng:  Tôi cùng chịu đóng đinh với Ðức Kitô vào thập giá […] (Và) tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi ” (Gl 2,19-20).

Mặc lấy tâm tình của Đức Giêsu, người kitô hữu chúng ta sẽ từ bỏ con đường tội lỗi, để được hiệp thông cách trọn vẹn vào cuộc khổ nạn của Ngài, và như một định luật đối với những người tin và theo Đức Giêsu là: qua đau khổ thì mới được vào vinh quang.

Lạy Chúa Giêsu, Đấng chịu treo trên Thánh Giá, xin thương xót và cứu chuộc chúng con. Amen.

 

SUY NIỆM THỨ SÁU TUẦN THÁNH

Lm. Giuse Trực

Con là ai trong hành trình thương khó của Chúa?

Con có phải là những Thượng tế, những biệt phái và Pharisêu muốn tiêu diệt Chúa để đừng làm phiền, đừng ai nhắc nhở những sai trái của con không?

Con có phải là dân chúng bàng quang, hoặc có tâm lý hùa theo đám đông mà không dám nói lên chính kiến của mình, để sẵn sàng làm ngơ hoặc hùa theo để kết án người khác?

Con có phải là những tên lính đã đánh đòn, đóng đinh, hành hạ Chúa cho hả cơn giận của con, mặc dù con biết Chúa không có tội gì. Có những bực bội, bức bối gì, về nhà con đổ trên đầu những người thân mà con có vẻ “trên cơ” họ?

Con có phải là những người phụ nữ thành Giêrusalem khóc thương chỉ vì tội nghiệp Chúa chứ chưa biết phải làm sao để cho Chúa hết đau?

Con có phải là tên trộm oán trách cuộc đời và thách thức Chúa: “Ông là con Thiên Chúa thì tự cứu mình và cứu chúng tôi với”?

Hay con là Simon sẵn sàng vác lấy thánh giá Chúa bằng cách san sẻ nỗi đau với người khác?

Hay con là Đức Mẹ, mạnh dạn, can trường bước theo con đường đau khổ của Chúa, không một vẻ yếu nhược, không một lời than thở, không một chút kêu than?

Hay con là Gioan đón lấy sứ mạng của Chúa để sẵn sàng hiến thân mình cho những chương trình, hoạch định của Chúa?

Có lẽ, lạy Chúa, xin cho con giống như viên đại đội trưởng: “Thấy sự việc xảy ra như thế, viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa” (Lc 23, 47). Đã biết bao lần con ngước nhìn lên Chúa bị đóng đinh, nhưng con đã xác tín niềm tin vào Chúa chưa? Câu hỏi này tiếp tục vang vọng trong tâm hồn con. Vang mãi, vang mãi cho đến chết.

GIỜ THƯƠNG XÓT

Trầm Thiên Thu

Bửu Huyết Giêsu tươi màu Cứu Độ

Oan khiên thế giới hóa sắc trong ngần

Thứ Sáu Tuần Thánh là Ngày Đại Tang của Kitô giáo – nói riêng, và của cả nhân loại – nói chung. Thứ Sáu Tuần Thánh là đỉnh cao của Ơn Cứu Độ, đặc biệt là Giờ Thứ Chín (tức 3 giờ chiều), giờ của Lòng Chúa Thương Xót. Không có Lòng Chúa Thương Xót thì nhân loại chỉ là hư vô!

Cuộc chia ly nào cũng bịn rịn, lưu luyến, đau khổ và đãm đầy nước mắt, nhất là cảnh biệt ly khi người thân về bên kia thế giới. Lúc hấp hối là “phút cuối” của một con người, là lúc xúc động nhất đời người – dù người đó đáng yêu hay đáng ghét. Càng xúc động hơn khi thấy người hấp hối chịu đau nhức quằn quại từng cơn, có những người toát mồ hôi hột nhưng âm thầm chịu đựng, có những người phải la hét dữ dội. Giây phút biệt ly thường là khoảnh khắc ngắn ngủi, chỉ trong chốc lát, nhưng lại nặng nề trôi… ngỡ như thăm thẳm! Và giây phút cuối đời cũng là lúc người ta nói thật nhất.

Chúa Giêsu có hai bản tính: Thần Tính và Nhân Tính (1). Về nhân tính, Ngài cũng rất đau đớn vì đã kiệt sức do đòn roi suốt đêm, vác Thập Giá lên đồi cao theo con đường gập ghềnh, ngoằn ngoèo, Ngài té lên té xuống nhiều lần, trong khi phải chịu đói chịu khát vì mất máu nhiều, Ngài còn bị những gai nhọn đâm thấu đầu, tiếp theo lại bị đinh ghim chặt chân tay, và cuối cùng bị lưỡi đòng đâm thâu tim. Rất đau đớn. Rất nhức buốt. Chúng ta không thể tưởng tượng nổi. Thân xác Ngài tàn tạ, tiều tụy, tơi tả, đến giọt Máu và giọt Nước cuối cùng cũng chảy ra hết vì thương xót nhân loại. Chúng ta chỉ bị cái dằm đâm vào tay cũng la toáng lên rồi!

CON CHIÊN HÀM OAN

Từ ngàn xưa, qua ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa đã minh định: “Người tôi trung ca Ta s thành đt, s vươn cao, ni bt, và được suy tôđến tt cùng dù cho “tôi trung ca Ta mt mày tan nát chng ra người, không còn dáng v người ta na (Is 52:13-14). Nhưng mọi người đều phải sửng sốt khi thế cờ đảo ngược hoàn toàn. Người tôi trung đó làm cho “muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng” (Is 52:15). Người tôi trung đó là Đức Kitô, cũng chính là Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ, Người-Tôi-Trung-Đau-Khổ, “như chiên b đem đi làm tht, như cu câm nín khi b xén lông, Ngài chng m ming kêu ca (Is 53:6; Cv 8:32).

Chúng ta đã được biết về “hành trình đau khổ” của Chúa Giêsu, nhưng có lẽ khó mà cảm nhận hết mức đau khổ, thậm chí có thể nghe nhiều năm đã quen tai nên vẫn thấy… bình thường, và cũng chỉ là “chuyện nhỏ”. Kinh Thánh cũng đã nói: “Điu chúng ta đã nghe, ai mà tin được? (Is 53:1). Thật khó tin, nhưng lại hoàn toàn là sự thật!

Ngôn sứ Isaia mô tả chi tiết: “Người tôi trung đã ln lên ta chi cây trước Nhan Thánh, như khúc r trêđt khô cn. Người chng còn dáng v, chng còn oai phong đáng chúng ta ngm nhìn, dung mo chng còn gì khiến chúng ta ưa thích. Người b đi khinh khi rung ry, phđau kh trin miên và nếm mùi bnh tt. Người như k ai thy cũng che mt không nhìn, b chúng ta khinh khi, không đếm xa ti (Is 53:2-3). Tuy nhiên, “chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta lại tưởng Ngài bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề” (Is 53:4). Thật nghịch lý, có lẽ vì chúng ta quá ảo tưởng!

Bảng đối chiếu liệt kê rõ ràng: “Chính Ngài đã b đâm vì chúng ta phm ti, Ngài b nghin nát vì chúng ta li lm, Ngàđã chu sa tr đ chúng ta được bình an, Ngàđã phi mang thương tích đ chúng ta được cha lành (Is 53:5). Trí óc loài người không thể tưởng tượng nổi có một Con Người lạ lùng như vậy. Nếu cuộc đời có ai gần giống như vậy thì ắt chúng ta cho là “dại dột”, là “ngu xuẩn”, là “điên khùng”, là “mất trí”, là “tâm thần”. Thiên Chúa thấy “tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả”, nhưng Đức Chúa đã đổ tội lỗi của tất cả chúng ta lên đầu Người-Tôi-Trung kia. Người Ấy bị lũ-người-ghen-tị “ngược đãi mà vẫn cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Người Ấy chẳng hề mở miệng” (Is 53:6). Người Ấy còn “bị ức hiếp, bị buộc tội, rồi bị thủ tiêu” (Is 53:8a). Thậm chí “Người Ấy còn bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh”, và “vì tội lỗi của dân, Người Ấy bị đánh phạt” (Is 53:8b). Người Ấy chịu đủ thứ khổ hình vì các tội nhân là chúng ta, chứ Người Ấy chỉ bị hàm oan, vì Người Ấy hoàn toàn vô tội.

Cuối cùng, Người Ấy đã “bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa” (Is 53:9). Nhưng đó là Thánh Ý nhiệm mầu của Thiên Chúa, để nhờ Người Ấy mà Ý Chúa được nên trọn. Thiên Chúa xác định: “Vì đã nếm mùđau kh, người công chính, tôi trung ca Ta, s làm cho muôn người nên công chính và s gánh ly ti li ca h (Is 53:11). Đức Giêsu đã “hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra Ngài đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53:12). Trong “núi tội” đó có rất nhiều tội lỗi của mỗi chúng ta!

Thánh Vịnh đã nói lời cuối của Người Ấy – một người trong cơn hấp hối: “Con n náu bên Ngài, ly Chúa, xin đng đ con phi ti nhc bao gi. Bi vì Ngài công chính, xin gii thoát con. Trong tay Ngài, con xin phó thác hn con, Ngàđã cu chuc con, ly Chúa Tri thành tín (Tv 31:2 & 6). Người Ấy tâm sự với Chúa về cuộc đời mình: “Con đã nên trò cười cho thù đch và cho c hàng xóm láng ging. Bn bè thân thích đu kinh hãi, thy con ngoàđường, ai cũng tránh xa. B lãng quên, như k chết không người tưởng nh, con hoá thành đ hư vt b (Tv 31:12-13). Là con người thì ai cũng cảm thấy cô đơn tột cùng khi ai cũng khinh ghét và bỏ rơi mình nên nói vậy thôi, nhưng vẫn tin tưởng vào Chúa, cho nên mới dám thân thưa: “Ngài là Thượng Đế ca con. S phn con  trong tay ngài. Xin gii thoát con khi tay đch th, khi người bách hi con (Tv 31:15-16).

Người Ấy chấp nhận mọi thiệt thòi và luôn vững tin cầu khấn: “Xin to ánh tôn nhan rng ngi trên tôi t Ngàđây, và ly tình thương mà cđ (Tv 31:17), đồng thời mạnh dạn chia sẻ với những người khác như một lời khuyên: “Hi mi người cy trông vào Chúa, mnh bo lên, can đm lên nào! (Tv 31:25). Người Ấy đã nêu gương sáng cho chúng ta, vì chúng ta cũng phải nên giống Người Ấy: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rng nó đã ghét Thy trước (Ga 15:18). Người Ấy là ai? Là Đức Kitô, là Thầy Giêsu, là Chúa của chúng ta.

Thánh Phaolô minh định: “Chúng ta có mt v Thượng Tế siêu phàđã băng qua các tng tri, là Đc Giêsu, Con Thiên Chúa (Dt 4:14). Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin, và giải thích: “V Thượng Tế ca chúng ta không phi là Đng không biết cm thương nhng ni yếu hèn ca ta, vì Ngàđã chu th thách v mi phương din cũng như ta, nhưng không phm ti. Bi thế, chúng ta hãy mnh dn tiến li gn ngai Thiên Chúa là nguân sng, đ được xót thương và lãnh ơn tr giúp mi khi cn (Dt 4:15-16). Trong các ân sủng, Lòng Chúa Thương Xót là hồng ân cao cả và kỳ lạ vô cùng! Chúa Giêsu đã trải qua nỗi đau khổ tột cùng nên Ngài rất thương xót chúng ta.

Khi còn sống kiếp phàm nhân, và theo nhân tính, Đức Giêsu cũng đã từng ln tiếng kêu van khóc lóc mà dâng li khn nguyn nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Ngài khỏi chết. Ngài đã được nhậm lời vì có lòng tôn kính. Vâng phục không là điều dễ, vì phàm nhân chúng ta đầy tự ái và kiêu sa, ngay cả Con Thiên Chúa cũng đã “phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5:7). Thật không hề đơn giản chút nào! Nhưng chính lúc đó là lúc bản thân đạt tới mức thập toàn để rồi “Ngài trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Ngài” (Dt 5:9). Trước khi vinh quang và được coi là công trạng thì luôn phải trải qua chặng đường gian khổ. Đức Kitô cũng đã trải qua “chặng đàng Thánh Giá” và cái chết mới tới sự phục sinh vinh quang.

ĐÓN NHẬĐAU KHỔ

Phúc Âm hôm nay là bài trường ca đau khổ, là tấn bi kịch trầm hùng, là bộ phim dài sầu thảm, Giáo hội gọi là Bài Thương Khó, thuật lại đầy đủ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Bi kịch thảm thiết như vậy mà lại gọi là Phúc Âm, là Tin Mừng. Thật kỳ diệu biết bao!

Chúng ta thường nói: “Dòi trong xương dòi ra. Một trong mười hai đệ tử “ruột” là Giuđa đã dùng nụ hôn để “chỉ điểm” mà bán rẻ Thầy mình với giá quá bèo – không đáng bao nhiêu so với bình dầu cam tùng mà cô Maria (Ga 12:1-8; x. Ga 11:1-2) đã xức chân Thầy Giêsu tại Bê-ta-ni-a.

Người ta đã tìm mọi cách gài bẫy, lục soát, và đi bắt Chúa Giêsu như một tên côn đồ. Họ ghen tị và sợ Ngài tiếm ngôi, giành quyền lực, lấy mất “chiếc ghế quyền lực”, thế nên họ làm mọi cách hạ nhục Ngài đủ mưu đủ chước. Hàng ngày Ngài thường tụ họp với các môn đệ công khai mà họ không bắt, thế mà họ lại cấu kết với đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pharisêu để đi tìm bắt Ngài trong đêm tối, dùng vũ khí để đối với một người tay không và thân cô thế cô – vì các môn đệ bỏ trốn hết. Thật là tồi và hèn hạ!

Khi Ngài điềm nhiên hỏi họ tìm ai, họ ngang nhiên đáp: “Tìm Giêsu Nadarét”. Ngài vừa nói “chính tôi đây”, họ lùi lại và ngã xuống đất. Ngoạn mục thật! Ấy thế mà họ vẫn cố chấp, cố ý nhắm mắt chứ không chịu mở mắt. Có lẽ lúc này Giuđa là người đắc chí nhất, vì có thể ông cũng rất tin rằng Thầy mình “ngon” lắm, quyền phép đầy mình, chúng chẳng làm gì được, mà ông lại có tiền tiêu xài – tức là bọn thủ ác bị mắc lừa. Thế nhưng Ngài không dùng thần quyền của Ngài vào chuyện không cần thiết. Đó là “cách lạ” của Ngài. Trí óc phàm nhân chúng ta không thể nào hiểu nổi!

Họ lồm cồm bò dậy. Ngài lại hỏi một lần nữa: “Các anh tìm ai?”. Họ vẫn cương quyết như đinh đóng cột: “Tìm Giêsu Nadarét”. Họ vẫn không hề tởn chút nào. Gan cóc tía. Lì thật! Và rồi Đức Giêsu thản nhiên nói: “Tôi đã bo các anh là chính tôđây. Vy, nếu các anh tìm bt tôi thì hãđ cho nhng người này đi” (Ga 18:8). Ngài không muốn bất kỳ ai phải liên lụy vì Ngài. Nhưng điều đó ứng nghiệm lời Ngài đã nói: “Nhng người Cha đã ban cho con, con không đ mt mt ai (Ga 18:9). Tính nóng hơn Trương Phi, ông Simôn Phêrô bèn tuốt gươm ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế mà “chơi” một phát đứt tai phải của Man-khô. Một đường gươm tuyệt hảo y như xiếc! Thấy vậy, Đức Giêsu bảo ông Phêrô: “Hãy x gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thy, l nào Thy chng ung? (Ga 18:11). Nghe vậy chưa chắc ai hiểu ý Ngài nói.

Họ bắt trói Ngài lại, rồi điệu Ngài đến ông Kha-nan là nhạc phụ ông Cai-pha. Ông Cai-pha làm thượng tế năm đó. Chính ông này đã đề nghị với người Do Thái: “Nên đ mt người chết thay cho dân thì hơn (Ga 18:14). Nghe chừng nhân đạo nhưng lại vô cùng thâm độc. Lúc đó có ông Simôn Phêrô và người môn đệ khác (tức Gioan) đi theo Đức Giêsu. Gioan quen biết vị thượng tế nên được vào sân trong của tư dinh của thượng tế. Còn ông Phêrô phải đứng ở phía ngoài, gần cổng. Gioan ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phêrô vào. Gioan cũng “oai” thật, quen biết có khác!

Nhưng vấn đề là người tớ gái giữ cổng nhận ra ông Phêrô “thuộc nhóm của Chúa Giêsu” nên ông chối ngay: “Đâu phi. Và ông chối phắt bất kỳ ai nhận ra ông, tổng công 3 lần trước khi gà gáy. Với bản tính nhân loại nên ông rất sợ, sợ đến nỗi phát run ngay cả với mấy phụ nữ chân yếu tay mềm. Tội nghiệp! Ông Phêrô nóng tính, thẳng như ruột ngựa, nhưng cũng rất yếu đuối. Đó là “biểu tượng” của chúng ta ngày nay!

Mặc dù Chúa Giêsu bị bắt, bị trói, bị đánh đập, bị tra xét, bị hành hạ,… nhưng Ngài vẫn thản nhiên và không nói gì, không nửa lời tự biện minh cho mình là đúng, không một lời kêu oan nào!

Đến khi bị tra hỏi về các môn đệ và giáo huấn, Đức Giêsu mới trả lời: “Tôi đã nói công khai trước mt thiên h; tôi hng ging dy trong hđường và tĐn Th, nơi mi người Do Thái t hp. Tôi không h nóđiu gì lén lút. Sao ông li hi tôi? Điu tôđã nói, xin c hi nhng ngườđã nghe tôi. Chính h biết tôđã nói gì” (Ga 18:19-21). Ngài vừa dứt lời thì một tên trong nhóm thuộc hạ vả vào mặt Ngài: “Anh tr li v thượng tế như thế ư? (Ga 18:22). Hỗn láo thật! Nhưng Ngài vẫn thản nhiên lý luận: “Nếu tôi nói sai, anh chng minh xem sai  ch nào; còn nếu tôi nói phi, sao anh lđánh tôi? (Ga 18:23). Cách đối đáp và lý luận của Chúa Giêsu tuyệt vời quá!

Sau đó, ông Kha-nan cho giải Ngài đến thượng tế Cai-pha, Ngài vẫn bị trói. Lúc đó trời vừa sáng. Họ không vào dinh vì sợ bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. H ch lo gi b ngoài mà không chú trng b trong. Đó là một dạng động thái giả hình. Tổng trấn Philatô ra ngoài gặp họ và hỏi xem họ tố cáo Chúa Giêsu về tội gì, nhưng họ đáp: “Nếông này không làđiác, thì chúng tôđã chng đem np cho quan (Ga 18:30). Họ cố chấp và cố tình không thèm nhận những hành động tốt của Chúa Giêsu. Trước áp lực của dân, ông Philatô hỏi Chúa Giêsu: “Ông có phi là vua dân Do Thái không?. Đức Giêsu không nhận và nói: “Nước tôi không thuc v thế gian này. Nếu Nước tôi thuc v thế gian này, thuc h ca tôđã chiến đu không đ tôi b np cho người Do Thái. Nhưng tht ra Nước tôi không thuc chn này (Ga 18:36). Vậy mà ông Philatô vẫn không hiểu nên hỏi: “Vông là vua sao?. Đức Giêsu đáp: “Chính ngài nói rng tôi là vua. Tôđã sinh ra và đã đến thế gian nhm mc đích là làm chng cho s tht. Ai đng v phía s tht thì nghe tiếng tôi (Ga 18:37). Ông Philatô “dốt đặc cán mai” nên ngớ ngẩn hỏi: “S tht là gì? (Ga 18:38).

Theo tục lệ của người Do Thái, vào mỗi dịp Lễ Vượt Qua, họ thường phóng thích cho một tội nhân. Ông Philatô hỏi họ muốn tha Chúa Giêsu hay không, họ la to: “Đng tha nó, nhưng xin tha Baraba! (Ga 18:40). Baraba là một tên cướp khét tiếng, vậy mà họ còn thương mến và yêu quý hơn là Chúa Giêsu. Lạy Chúa tôi!

Thế là tổng trấn Philatô truyền đem Đức Giêsu đi mà đánh đòn. Họ chụp lên đầu Ngài một vòng gai và khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi mỉa mai: “Kính chào Vua dân Do Thái!”, và vả vào mặt Ngài. Như vậy, nhân v ca Ngàđã b khinh mit, nhân phm ca Ngài b chà đp, và nhân quyn ca Ngài cũng b tướđot. Ông Philatô dẫn Chúa Giêsu ra ngoài để đám đông thấy Ngài không còn hình tượng một con người mà thương. Nhưng vừa thấy Ngài, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: “Đóng đinh nó vào thp giá! (Ga 19:6). Một lần nữa, ông Philatô lại khiếp nhược nên bảo họ: “Các người c đem ông nàđi mà đóng đinh vào thp giá, vì phn ta, ta không tìm thy lý do đ kết tông y (Ga 19:6).

Một người nắm quyền trong tay và biết rõ bị cáo không có tội mà vẫn không dám tha, người đó quả là bất tài, vô dụng, ích kỷ, chỉ lo giữ “cái ghế” của mình, chỉ muốn lợi cho mình mà chà đạp người khác. Đó là một dạng bóc lột, không tôn trọng công lý. Vậy người đó có đáng được tôn trọng? Người nắm quyền lực mà không tôn trọng nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền, không lấy dân làm gốc, làm sao quốc thái dân an?

Dù ai nói ngả, nói nghiêng, nói xuôi, nói ngược, nói tới, nói lui, và họ có nói gì thì Chúa Giêsu cũng chỉ im lặng. Ngài biết rằng có nói cũng vô ích, chỉ như nước đổ lá môn, không bằng nói với đầu gối. Sau khi tòa tuyên án, bị cáo nào cũng có quyền kháng cáo, nhưng “bị cáo” Giêsu lại không có quyền tối thiểu đó. Nhân quyền của Ngài hoàn toàn bị tước đoạt! Và Chúa Giêsu nói với ông Philatô: “Ngài không có quyn gì đi vi tôi, nếu Tri chng ban cho ngài. Vì thế, k np tôi cho ngài thì mc ti nng hơn (Ga 19:11). Nghe vậy, ông Philatô cũng thấy “nổi gai óc” nên tìm cách tha Ngài, nhưng ông vẫn không dám quyết định theo quyền hạn của mình vì áp lực dân chúng. Cách xử sự hèn nhát của Philatô cũng chính là động thái hèn hạ của chúng ta ngày nay đối với tha nhân.

Cuối cùng, ông Philatô cũng đành cho thi hành án tử đối với “tử tội công chính” là Chúa Giêsu. Họ bắt Ngài tự vác Thập Giá lên đồi Gôngôtha, nghĩa là Cái Sọ – cũng gọi là Đồi Sọ, Can-vê, nơi xử tử các tội nhân. Đồng án tử với Ngài có hai người khác nữa, hai người hai bên Chúa Giêsu. Tấm bảng ghi “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái” treo phía trên đầu Ngài, được viết bằng 3 ngôn ngữ: Hípri, La Tinh và Hy Lạp (2). Các thượng tế không đồng ý gọi Chúa Giêsu là “Vua dân Do Thái”, nhưng ông Philatô nói: “Ta viết sao, c đ vy! (Ga 19:22). Philatô chỉ lăm le với người dưới quyền chứ không dám “nói mạnh” với đám đông nổi loạn, dù họ chỉ là đám dân đen!

Đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá xong, họ chia chác quần áo của Ngài. Họ muốn chế nhạo Ngài chứ có gì đáng giá đâu! Lúc đó, Chúa Giêsu bắt đầu kiệt sức. Ngài trối Đức Mẹ cho Gioan và trao Gioan cho Đức Mẹ. Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Mất máu nhiều nên Ngài nói: “Tôi khát!” (Ga 19:28). Nhưng người ta lại nỡ lấy miếng bọt biển thấm giấm chua mà cho Ngài giải khát. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tt! (Ga 19:32). Rồi Ngài gục đầu xuống và dâng trao Thần Khí.

Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày Đại Tang của Giáo hội. Sự kiện hôm nay là “nghi lễ của mọi nghi lễ”, là “hiến lễ của mọi hiến lễ”, là “thánh lễ của mọi thánh lễ”. Vì thế, Giáo hội không cử hành thánh lễ mà chỉ có phụng vụ Lời Chúa, tôn kính Thánh Giá và rước lễ.

Tình Giêsu là “tình cho không biếu không”, nhưng chúng ta thường có khuynh hướng “tội nghiệp” Chúa Giêsu hơn là tội nghiệp chính mình. Khi Chúa Giêsu thấy có nhiều phụ nữ, vừa đấm ngực vừa than khóc, trong đám đông đi xem Ngài lên đồi chịu xử tử, nên Ngài đã quay lại và nói: “Hi ch em thành Giêrusalem, đng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phn mình và cho con cháu” (Lc 23:28).

Một điểm khác chúng ta cần lưu ý là “tính a dua”, như người ta thường nói: “Người ta làm sao thì tôi làm vy, người ta làm by thì tôi làm theo. Ui da! Thật là nguy hiểm, vì đó là lối sống quá tiêu cực, không có lập trường, mạnh đâu âu đó!

Giờ Thương Xót đã điểm. Người được lãnh Hồng Ân Thương Xót đầu tiên là tướng cướp Dismas, tử tội cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu: “Hôm nay, anh s đượ vi tôi trên ThiêĐàng (Lc 23:43). Diễm phúc biết bao!

Hôm nay, khi tưởng niệm cuộc khổ nạn và sự chết của Đức Giêsu Kitô, Giáo hội cầu nguyện cho mọi tầng lớp trong xã hội, ước gì chúng ta cũng quyết tâm thực hành lời Thánh Vịnh: “Hãy bênh quyn li k m côi, người hèn mn; minh oan cho người khn kh, k bn cùng, gii phóng ai hèn mn, ai nghèo túng, cu khi nanh vut bác nhân (Tv 82:3-4). Đó là sống lòng thương xót. Chúng ta đã được Chúa Giêsu thương xót, chúng ta không thể không thương xót người khác!

Ơn Cứu Độ thật tuyệt vời: Máu Chúa đỏ tươi đã tẩy rửa tội nhân chúng ta nên trắng ngần. Xin trọn đời tạ ơn Lòng Chúa Thương Xót.

Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, chúng con tht khn nn mà vn tưởng mình tt lành hơn người khác, chúng con đã a dua và đng lõa vi cáác mà c tưởng mình chân chính hơn người khác. Chúng con chân thành thú nhn mi li lm, thành tâm xin li Chúa và xin li tha nhân. Xin thương xót chúng con và ban cho chúng con được hưởng nh Ơn CĐ ca Con Chúa. Chúng con cu xin nhân danh Thánh T Giêsu KitôĐng cđ ca chúng con. Amen.

 

 CHIẾN THẮNG ĐAU KHỔ

Lm. Jos. DĐH

Vui thì cười, buồn thì khóc, có sinh ắt có tử, đó là quy luật; trong cuộc sống có đau khổ, buồn chán, thất vọng, nhưng phía sau đó có bình an, có được vinh quang hạnh phúc, còn tùy mỗi người. Các bậc làm cha mẹ kể về thành tích cho con cháu nghe, bao giờ cũng dễ hơn là kể về thất bại của họ. Người đời cho rằng : con hư tại mẹ cháu hư tại bà, ngụ ý là con cái hư hỏng, bất hiếu là vì cha mẹ thiếu quan tâm chăm sóc giáo dục. Cũng không ít người lại đổ lỗi cho môi trường xã hội, là nguyên nhân làm thay đổi tâm tính con người : nhân chi sơ tính bổn thiện. (Mạnh Tử).

Chiều hôm nay phụng vụ mời gọi chúng ta suy niệm cuộc thương khó của Chúa Giêsu, nhằm hướng lòng chúng ta có cái nhìn lạc quan hơn về thiện ác. Trước hết, Chúa Giêsu chịu đau khổ thập giá, chịu chết, hầu cứu con người khỏi án chết, đó không phải là hận thù, cũng chẳng phải là quy luật. Cuộc thương khó nhắc nhớ con người về Đấng đến trần gian thực hiện ơn cứu độ, Thiên Chúa yêu con người đến cùng tận. Mang bản tính con người giới hạn, khi gặp đau khổ, im lặng đã là khó rồi, nói chi đủ bình tĩnh để nói đến yêu thương tha thứ.

Xung quanh chúng ta, hàng ngày biết bao người vĩnh viễn ra đi vì già lão bệnh tật, đôi khi vì tai nạn nghề nghiệp, vì giao thông…. Có những cái chết thật đau thương như câu ca dao : lá vàng đeo đẳng trên cây, lá xanh rụng xuống trời ơi hỡi trời. Cuộc thương khó chúng ta đang suy niệm cho thấy có sự kỳ lạ, ba người bị treo trên thập giá, trong đó có hai trường hợp bị kết tội trộm cướp, Chúa Giêsu thì có bản án ghi trên đầu : “Giêsu Nagiarét, vua dân Do-thái”. Dân chúng đóng đinh vua nhất định phải là phản loạn, con cái lên án cha mẹ thì gọi là bất hiếu, con người tội lỗi mà xử án chết Thiên Chúa thì gọi là gì ?

Nhiều người vẫn thắc mắc, sao Đức Giêsu không xuống khỏi thập giá để trị tội những kẻ tội lỗi dám xúc phạm đến Thiên Chúa. Xin thưa là bài thương khó cũng có nói rất nhiều người ở dưới cây thập giá lúc đó, cả anh trộm dữ treo bên tả Chúa cũng xỉ vả như vậy ! Thật ra, Kitô giáo chúng ta gọi là mầu nhiệm đau khổ, mầu nhiệm thập giá hoàn toàn chính xác. Nếu không phải là vì yêu, hẳn Đức Giêsu đã xuống khỏi thập giá để trị tội những kẻ gian ác rồi.

Với niềm tin Kitô giáo chúng ta, Đức Giêsu vô tội mà chịu đau khổ, chịu chết cho con người, nhất định phải là một minh chứng tình yêu mà họ đang mong chờ. Khi Đức Giêsu bị xét xử, số người âm thầm tin tưởng vào Ngài thì quá khiêm tốn, họ là người dân bình thường, nhưng lại trung thành theo Chúa Giêsu đến cùng. Dù sao số người tin yêu Chúa cũng là chút an ủi bé nhỏ con người danh cho Thiên Chúa, ngôn ngữ bình dân gọi là có còn hơn không.

Dưới mắt trần xác thịt, Đức Giêsu chịu bản án chết là thất bại hoàn toàn, nhưng người tin vào Đức Giêsu là Thiên Chúa, Ngài thực sự đã vượt qua được đau khổ thập giá để đến vinh quang. Thập giá cuộc đời của mỗi người hôm nay, vẫn có đau khổ, sợ hãi, có cám dỗ bỏ cuộc, chỉ khi mắt tâm hồn ta rộng mở, ta mới thấy thập giá luôn có Chúa Giêsu hiện diện nâng đỡ.

Đức Giêsu trên thập giá thật sự đã dang tay yêu thương, chờ đón con người. Ngay từ đầu, Ngài có thể từ chối đau khổ thập giá, hoặc có thể loại trừ các học trò hư hỏng, hèn nhát bỏ Thầy bán Chúa. Ngài không xử như thế, Thiên Chúa là tình yêu, và yêu đến cùng tận, là yêu đến độ dám hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu là thế ! Nếu người trộm lành năm xưa thấy được Đức Giêsu là Thiên Chúa yêu thương, lẽ nào chúng ta hôm nay lại không nhận ra Ngài đang chờ đợi mỗi người hay hành động sám hối như anh trộm lành. Xin Chúa Giêsu chịu đóng đinh, hướng dẫn từng người chúng ta biết đi sâu vào trong mầu nhiệm tình yêu hiệp thông của Ngài. Amen.

 

TÌNH YÊU CAO VỜI

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Chúa Giê-su phán: “Không có tình yêu nào cao cả cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống cho bạn hữu mình” (Ga 9,13).

Đúng vậy, Ngôi Hai Thiên Chúa đã dâng hiến mạng sống Ngài cho loài người tội lỗi để cứu họ khỏi hư mất đời đời. Vì thế, tình yêu của Ngài thật cao vời khôn ví.

Chỉ vì muốn cứu chúng ta khỏi hư mất đời đời, Ngôi Hai Thiên Chúa, là Đấng cùng với Chúa Cha tạo dựng nên vũ trụ càn khôn, tạo dựng nên mọi người trên thế gian này, đã hạ mình xuống thế làm người phàm yếu đuối, mang lấy tội lỗi của nhân loại vào thân và vì thế, phải chịu khổ nạn đau thương để đền tội thay, chết thay cho chúng ta.

Chỉ vì muốn cứu chúng ta khỏi án phạt đời đời, Ngôi Hai Thiên Chúa là Vua muôn vua, là Chúa muôn loài, đã để cho con người hèn hạ lùng bắt Ngài giữa đêm đen, buộc trói Ngài lại và điệu đi như một tên gian ác.

Chỉ vì muốn đền tội cho chúng ta, Ngôi Hai Thiên Chúa là Vị Thẩm Phán uy nghi trên cõi trời cao, là Đấng ngự trên toà tối cao phán xét cả thiên thần lẫn loài người, đã để cho những tên phàm phu tục tử, đê hèn và đốn mạt đứng ra xét xử Ngài, xỉ vả, nhiếc mắng, vung tay tát vào mặt Ngài, thậm chí khạc nhổ lên khuôn mặt cao quý thánh thiện của Ngài.

Chỉ vì muốn đền tội cho chúng ta, Ngôi Hai Thiên Chúa là Chúa Tể cả vũ trụ càn khôn, là Đấng đầy quyền năng phép tắc, đã để cho con người hèn mọn lột áo Ngài ra, quất lên thân thể Ngài những ngọn roi ác nghiệt. Ôi, những lằn roi ác nghiệt làm cho máu thánh Ngài tươm ra khắp toàn thân!

Chỉ vì muốn đền tội cho chúng ta, Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng đầy quyền năng và sức mạnh, chỉ phán một lời đủ làm cho bão tố phải lặng yên, lại chấp nhận làm “Con Chiên” đền tội, để cho người ta đóng đinh tay chân Ngài vào Thập tự giá. Một khi chịu treo lên Thập tự giá, Ngài trở nên yếu đuối hơn cả những người yếu đuối nhất: Dù muốn xua đuổi ruồi mòng bâu vào các vết thương, chích hút máu mủ của mình, Ngài cũng không làm được.

Chỉ vì muốn cứu chuộc chúng ta, Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng bá chủ đất trời, là chủ nhân của mọi kho báu trong hoàn vũ, lại trở nên người nghèo thiếu hơn mọi người nghèo nhất thế gian: Chết trần, chết trụi không mảnh vải che thân.

Chỉ vì muốn cho chúng ta được sống đời đời, Ngôi Hai Thiên Chúa là Đấng tạo dựng và thông ban sự sống cho các thiên thần và loài người, giờ đây chỉ còn là một xác chết, để cho người ta an táng trong mồ.

Một Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ càn khôn, một Thiên Chúa đầy quyền năng phép tắc, một Đấng trao ban sự sống cho muôn vật muôn loài… đã trở thành một thi hài im lìm bất động, không chút hơi thở, không còn sự sống, nằm im lìm trong lòng đất!

Tất cả chỉ vì để đền tội và cứu chuộc chúng ta.

Giờ đây, trước Thánh giá Chúa Giê-su, chúng ta hãy tự hỏi mình:

Chúa Cứu Thế đã hy sinh tột bậc, hy sinh tất cả, từ bỏ tất cả vì ta, chúng ta phải báo đáp thế nào cho cân xứng?

Chúng ta phải dốc lòng chừa tội là nguyên nhân gây ra cuộc khổ nạn đau thương của Chúa hay cứ tiếp tục phạm tội để Chúa phải đau khổ triền miên?

 

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa đã chịu đau khổ quá mức rồi, xin cho chúng con đừng tay lại, đừng phạm tội nữa để khỏi chất lên thân mình Chúa thêm nhiều cực hình và đau thương.

Chúa đã trả giá quá cao để cứu linh hồn chúng con khỏi tội lỗi và khỏi án phạt đời đời trong hoả ngục, xin cho chúng con quyết tâm chừa tội để khỏi làm lãng phí công trình cứu chuộc của Chúa.

 

THẾ LÀ ĐÃ HOÀN TẤT

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu

Suy niệm:

Vào Chúa nhật Lễ Lá chúng ta đã nghe đọc bài Thương Khó
trong các sách Tin Mừng Nhất Lãm.
Vào thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta luôn nghe đọc bài Thương Khó theo Gioan.
Thánh Gioan kể lại cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu với những nét riêng của ông.
Chúng ta trân trọng cái nhìn bổ sung của thánh Gioan cho những Tin Mừng khác.

Trong cuộc Khổ Nạn, Đức Giêsu của Gioan tỏ ra là người chủ động.
Ngài biết trước các biến cố sắp xảy ra, và Ngài có quyền năng làm chủ mọi sự.
Chính Ngài tiến ra và hỏi các kẻ đến bắt Ngài: “Các anh tìm  ai?”
Câu trả lời của Ngài đủ làm họ lùi lại và ngã xuống đất (18, 4-9). 
Đức Giêsu bình an và uy nghiêm bước vào cuộc Khổ nạn, 
vì Ngài đã chấp nhận chén đắng Cha trao (18, 11).

Khi bị vị thượng tế Khanna tra hỏi về giáo huấn, 
chẳng chút sợ hãi, Ngài đã thẳng thắn từ chối trả lời (18, 19-21).
Khi bị vả mặt, Ngài cũng đòi kẻ xúc phạm Ngài phải nói rõ tại sao (18, 23).
Đức Giêsu bị đem tới dinh tổng trấn Philatô lúc trời đã sáng.
Philatô là người xét xử Đức Giêsu, nhưng có vẻ ông là người bị động.
Ông bị giằng co giữa một bên là Đức Giêsu đang ở trong dinh,
bên kia là đám đông và các nhà lãnh đạo Do thái giáo đang ở ngoài dinh.
Một bên là ông Giêsu mà ông không tìm thấy lý do nào để kết tội (18, 38; 19, 4. 6).
Bên kia là chức tổng trấn và chức “Bạn của Xêda” mà ông đang nắm giữ (19, 12).
Philatô không biết phải theo ai, chọn ai trong tình cảnh căng thẳng này.
Vì thế ông đã đi ra, đi vào cả thảy bảy lần (18, 18, 29. 33. 38; 19, 1. 4. 9. 13).
Đức Giêsu đã đối thoại khá dài với Philatô về Nước của Ngài (18, 36-37),
một nước không có trên bản đồ, không có quân đội, không dùng bạo lực.
Nước của Ngài gồm những người biết nghe sự thật và đứng về phía sự thật,
sự thật này được Ngài làm chứng và cất tiếng nói lên. 
“Đây là Vua các người”, Philatô đã giới thiệu Đức Giêsu như thế (19, 14)
và ông đã cương quyết giữ lại tấm bảng treo trên thập giá mang dòng chữ :
“Giêsu Nadarét, Vua dân Do thái” (19, 19).

Đức Giêsu đã tự mình vác thập giá lên đồi Sọ và bị đóng đinh vào giữa trưa.
Chiên Thiên Chúa bị giết đúng vào lúc ở Đền Thờ người ta giết chiên Vượt qua.
Đức Giêsu không cô đơn trên thập giá vì có Mẹ và người môn đệ dấu yêu.
Suốt một đời Ngài đã sống cho sứ mạng Cha trao, nay Ngài biết nó đã hoàn tất.
Chủ động cả trong cái chết, Ngài “gục đầu xuống và trao Thần Khí” (19, 30).
Qua cái chết trên thập giá, Đức Giêsu cho thấy tình yêu lớn nhất của Ngài (15, 13),
tình yêu trao hiến cả Máu và Nước từ trái tim bị đâm thâu (19, 34).
Nhưng thập giá cũng cho thấy tình yêu của Cha khi ban Con Một cho ta (3, 16).

Đức Giêsu Kitô đã trở về với Cha bằng con đường khó đi.
Người Kitô hữu cũng về với Thiên Chúa bằng con đường hẹp.
Ước gì chúng ta sống cuộc Khổ nạn của mình với sự bình an, can đảm của Giêsu.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,
vì Chúa đã bẻ tấm bánh trao cho chúng con,
xin cho những người nghèo khổ được no đủ.

Vì Chúa đã xao xuyến trong Vườn Dầu,
xin cho các bạn trẻ đủ sức đối diện
với những khó khăn gay gắt của cuộc sống.

Vì Chúa bị kết án bất công,
xin cho chúng con can đảm bênh vực sự thật.

Vì Chúa bị làm nhục và nhạo báng,
xin cho phụ nữ và trẻ em được tôn trọng.

Vì Chúa chịu vác thập giá nặng nề,
xin cho những người bệnh tật được đỡ nâng.

Vì Chúa bị lột áo và đóng đinh,
xin cho sự hiền hòa thắng được bạo lực.

Vì Chúa dang tay chết trên thập giá,
xin cho đất nối lại với trời,
con người nối lại mối dây liên đới với nhau.

Vì Chúa đã phục sinh trong niềm vui òa vỡ,
xin cho chúng con biết đón lấy đời thường

với tâm hồn thanh thản bình an. Amen.

 

NGƯỜI TÔI TỚ

Huệ Minh

Hôm nay toàn thể Giáo Hội tưởng niệm việc Chúa Giêsu chịu chết. Việc tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu không phải là ôn lại một kỷ niệm trong quá khứ, nhưng để chiêm ngắm việc Người chịu chết để ta khám phá ra Tình Vô tận mà Thiên Chúa dành cho nhân loại. Cái chết của Chúa Giêsu không phải như cái chết của một ông vua, một nhà lãnh tụ của quốc gia, của một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử của loài người. Cái chết Chúa Giêsu là cái chết của Người Con Một, Người Con Duy Nhất của Thiên Chúa.

Giáo hội như muốn mời gọi chúng ta đi vào thinh lặng, từ các trang trí cho đến những bài ca phụng vụ, tất cả đều đưa chúng ta vào cõi thinh lặng. Thinh lặng để nhìn ngắm Chúa Giêsu trên Thập Giá, thinh lặng để lắng nghe tiếng nói từ Thập Giá. Thập Giá vẫn mãi mãi là một mầu nhiệm. Tại sao điều đó có thể xảy ra cho Thiên Chúa? Tại sao Con Một Thiên Chúa lại có thể chịu chết treo trên Thập Giá?

Cái chết của Chúa Giêsu mang nhiều ý nghĩa : Đó là cái chết được báo trước : “Con Người sẽ bị nộp cho các Thượng tế và Kinh sĩ. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, sẽ đánh đòn và giết chết Người.” (Mc 10, 33-34). Đó là cái chết vì yêu mến Chúa Cha, để vâng phục thánh ý Chúa Cha.

Chúa Giêsu chịu chết để tiêu diệt thần chết là ma quỷ và sự dữ.

Chúa Giêsu chịu chết vì tội lỗi của nhân loại, vì yêu thương và muốn cứu chuộc nhân loại. Nhờ sự chết của Chúa, loài người được giao hòa với Thiên Chúa. Nhờ sự chết của Chúa, con người được sống và được tham dự vào sự phục sinh của Người. Thật vậy, Chúa chịu chết để cho con người được hưởng vinh quang trong Nước Trời.

Cho dù có phải hy sinh, tủi nhục, đau khổ, bị bỏ rơi, Chúa vẫn sẵn sàng đi trọn con đường đau thương, vẫn trung thành vác thập giá và nhất là phải chết trên thập giá.

Trên thập giá, Chúa Giêsu trở nên “Chiên Thiên Chúa đến gánh tội trần gian” (Ga 1,29), mang lấy tội lỗi nhân loại nơi thân mình Người. “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người.” (2 Cr 5,21)

Thiên Chúa đã chết vì tội chúng ta. Thiên Chúa đã phải trả giá quá đắt để cứu loài người khỏi chết. Thiên Chúa đã yêu thương thế gian như thế đó! Vậy mà tôi vẫn vô tâm !

Về cuộc tử nạn và cái chết của Chúa Giêsu, thiết tưởng chúng ta chỉ nên giữ thinh lặng. Trong thinh lặng, chúng ta mới cảm nhận được cái nhìn yêu thương trìu mến của Chúa Giêsu. Và trong cái nhìn ấy chúng ta mới nghe được chính tiếng nói của Ngài. Chỉ có kẻ đau khổ mới có thể đưa chúng ta vào nỗi khổ đau của họ. Chỉ có Chúa Giêsu mới có thể đưa chúng ta vào những nỗi khổ đau của Ngài. Sự thinh lặng đưa chúng ta vào mầu nhiệm của khổ đau.

Trong hai người cùng chịu treo trên Thập Giá bên cạnh Chúa Giêsu, một người đã không ngừng lên tiếng kêu gào rửa xả, trong khi đó kẻ được mệnh danh là trộm lành chỉ biết thốt lên lời van xin cứu vớt. Ðối với chúng ta, điều đó thật là phải lẽ, xứng với tội lỗi chúng ta. Kẻ trộm lành quả thực đã đi sâu vào mầu nhiệm của Thập Giá, ông đã nhận ra thân phận tội lỗi của mình.

Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập Giá trước tiên là một bày tỏ về bộ mặt tội lỗi của nhân loại. Mãi mãi Thập Giá vẫn là biểu trưng của sự độc ác của con người. Ðó là đỉnh cao trí tuệ của con người trong việc sáng chế ra những phương thế để hành hạ nhau, để loại trừ nhau, để chém giết nhau. Ðó là bản án của tội lỗi nhân loại trải qua mọi thời đại.

Nhìn lên Thập Giá Chúa Giêsu, mỗi người chúng ta chỉ có thể đấm ngực ăn năn về chính tội lỗi của mình mà thôi. Thập Giá của Chúa Giêsu vẫn luôn có đó để chiếu rọi vào thân phận tội lỗi của con người. Thập Giá không chỉ là mạc khải về tội lỗi của con người, nhưng tội lỗi còn là mặt trái của một nguồn ánh sáng vô biên.

Ðó là ánh sáng của tình yêu. Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập Giá là biểu tỏ của một tình yêu tha thứ cho đến cùng. Có lẽ người trộm lành đã hiểu được điều đó khi ông quay nhìn sang Chúa Giêsu trên Thập Giá. Trong ánh mắt của Chúa Giêsu, người trộm lành chỉ có thể thấy bừng lên tình yêu nhân từ và tha thứ khi được tình yêu Chúa Giêsu chiếu dọi vào. Bên cạnh Chúa Giêsu, người trộm lành được ôm ấp với cái nhìn trìu mến và tha thứ của Ngài.

Ta còn được mời gọi nhìn thấy chính cây giá gỗ, trên đó Đức Giêsu chịu đóng đinh như là một dụng cụ nhục hình và tử hình. Thập giá là hình phạt tiêu biểu mà Lề Luật dành cho người phạm trọng tội. Vì thế, Thập Giá là biểu tượng cho công lí của con người.

Ấy vậy mà, người chịu đóng đinh là chính Đức Giêsu, Đấng hoàn toàn vô tội, Đấng công chính hoàn hảo; vì thế, sự công chính của con người chỉ là giả tạo, gian dối và chỉ có vẻ bề ngoài. 

Nơi Thập Giá, Đức Kitô muốn giải thoát ta một cách chính xác khỏi sự công chính giả tạo nhân danh Lề Luật, sự công chính bề ngoài đến từ chính chúng ta, để trao ban cho chúng ta sự công chính của chính Ngài, sự công chính đích thật của con Thiên Chúa.

Nơi Thập Giá, Đức Kitô mang vào mình mọi “bệnh hoạn tật nguyền” của chúng ta, để làm cho chúng ta trở nên lành mạnh, nên công chính cách nhưng không, như bài ca về “Người Tôi Tớ Đau Khổ” đã loan báo. Vì thế, trên tất cả, nơi thập giá của Đức Kitô, chúng ta được mời gọi nhìn ra trong tín thác và bình an thẳm sâu “Khuôn Mặt đích thật” của chính Thiên Chúa.

Và rồi khi khám phá ra khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa, ta thấy một Tình Yêu vô tận đã yêu thương ta. Nhận ra như vậy, ta lại sống như thế nào đó cho xứng đáng với sự hy sinh tột cùng của Tình Yêu vô tận đó.

 

NƠI THÁNH GIÁ THIÊN CHÚA TRAO TÌNH YÊU

Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

Nhìn lên thánh giá, suy nghĩ nông cạn và non nớt của loài người dễ cho rằng, đó là một thất bại to lớn.

Thực ra, đối với Kitô hữu, Thánh giá chính là hiện thân, là sự thành công lớn lao của một tình yêu tận cùng, một tình yêu vượt hết mọi rào cảng, vượt thắng tất cả sự tàn nhẫn và tội ác của con người. Đó là một tình yêu hạ mình, một tình yêu mà Thiên Chúa là Chúa trời đất hiến dâng chính mình để cứu lấy con người.

Thánh Gioan ghi nhận lời của Chúa Giêsu, cũng chính là ghi nhận lời của Tình Yêu không cùng ấy: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình, để tất cả những ai tin ở Người Con ấy thì không phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3, 16).

“Yêu… đến nỗi đã ban”, cụm từ tuy đơn giản nhưng khắc họa sự lớn lao hết sức của tình yêu, đủ nói lên tất cả sức mạnh, tất cả sự tha thiết, tất cả sự mãnh liệt của một tấm lòng yêu thương.

Còn hơn cả một lòng yêu thương, bởi tình yêu của Đấng đã “Yêu… đến nỗi đã ban” ấy không phải như tình yêu con người dành cho nhau, nhưng là tình yêu của Đấng Tạo Thành dành cho thụ tạo của mình. Đó là Tình Yêu của Thiên Chúa hiến dâng cho loài người.

Và tình yêu mà Thiên Chúa đã ban, không phải là một cái gì bên ngoài Thiên Chúa, nhưng là chính bản thân Thiên Chúa, là chính Đấng phát xuất từ giữa cung lòng Thiên Chúa. Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người, là hiện thân khôn tả của tình yêu vô cùng mà Thiên Chúa dành cho loài người.

Vì thế, khuôn mặt thập giá của Chúa Kitô là bằng chứng hùng hồn nhất, là tiếng nói mạnh mẽ nhất, là nét bút tuyệt vời nhất, là vết khắc sâu sắc nhất về một tình yêu bền vững có một không hai trong lịch sử nhân loại, tình yêu của Thiên Chúa từ trời cao dành cho người trần thế.

Bởi vậy, cái chết của Con Người chịu đóng đinh kia, cho thấy chiến thắng của tình yêu siêu phàm. Cái chết uy hùng kia biểu dương một tình yêu mạnh hơn sự chết, có sức tiêu diệt hận thù và làm phát sinh từ trong cái chết của tội lỗi loài người một nguồn sống vô tận cho cả loài người.

Hôm nay, trong nghi thức tôn thờ Thánh Giá Chúa Giêsu, nhất là cùng nhau đến hôn kính chân tượng chịu nạn, chúng ta hãy mang hết tâm hồn đặt dưới chân Chúa để cảm tạ Người.

Trao dâng Con của mình, tức là Thiên Chúa trao tặng chính mình, trao tặng chính sự hy sinh lớn lao của bản thân để cứu độ chúng ta. Vì thế, chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa đến vô cùng, hãy cảm tạ Thiên Chúa không phải bằng lời, nhưng bằng cả cõi lòng mình. Hãy ý thức thật sâu lắng và mạnh mẽ: Chúa yêu thương ta đến nỗi không còn kể mình nữa, miễn là ta được sống. Ý thức thật nhiều, để niềm ý thức ấy trở nên nung đốt tâm tình cảm tạ trong ta thật mãnh liệt, thật dồi dào, thật trào tràn.

Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa. Chúng con ca tụng Tình Yêu diệu kỳ của Chúa đã làm cho chúng con được tái sinh trong sự sống. Xin cho chúng con luôn ý thức Tình Yêu mà Chúa dành cho chúng con, để chúng con sống suốt đời cho Tình Yêu của Chúa, và ngày càng xứng đáng với mối tình siêu nhiên ấy. Amen.

 

 

SUY NIỆM:

Cả ngày hôm nay, chúng ta sẽ “đi đàng Thánh Giá” gồm bảy chặng, theo Tin Mừng của thánh Gioan. Trong bữa tiệc ly, qua cử chỉ rửa chân, Đức Giê-su muốn diễn tả tình yêu đến cùng của Người dành cho các môn đệ; nơi Thập Giá, tình yêu đến cùng của Người được thực hiện trọn vẹn. Cũng trong bữa tiệc ly, Người cũng đã muốn trở thành Tấm Bánh nuôi sống chúng ta, và “đàng Thánh Giá”, chính là “đường đi” của Tấm Bánh Hằng Sống.

So với các trình thuật nhất lãm, trình thuật Tin Mừng theo thánh Gioan không có gì lạ lùng xẩy ra, nhưng lại nêu bật chiều kích thần linh của mầu nhiệm Thập Giá, nghĩa là “Dung Nhan Rạng Ngời” của Đức Ki-tô. Sau đây là đàng Thánh Giá bảy chặng theo Tin Mừng của thánh Gioan:

1. Chặng thứ nhất (c. 17-18): Đức Giêsu chịu đóng đinh
2. Chặng thứ hai (c. 19-22): Giê-su Nazareth, Vua dân Do Thái (INRI: Iesus Nazarenus Rex Iudaeorum)
3. Chặng thứ ba: Chia áo (c. 23-24)
4. Chặng thứ tư: Sự sống mới (c. 25-27)
5. Chặng thứ năm: Mọi sự đã hoàn tất (c. 28-30)
6. Chặng thứ sáu: Máu cùng nước chảy ra (c. 31-34)
7. Chặng thứ bảy (c. 35-42): “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu”

Con số bảy nhắc chúng ta bảy Sự đau khổ của Đức Maria theo truyền thống của Giáo Hội và chúng ta được mời gọi tôn kính vào ngày 15/09, Lễ Đức Maria Đau Khổ. Sau đây là « bảy sự » của Đức Mẹ :

1. Lời của cụ ngôn sứ Simêon về Đức Maria (Lc 2, 25-35)
2. Trốn sang Ai-cập (Mt 2, 13-15)
3. Lạc mất Đức Giê-su (Lc 2, 41-52)
4. Đức Mẹ nhìn Đức Giê-su vác thập giá (Lc 23, 27)
5. Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá (Ga 19, 25-27)
6. Đức Mẹ đón nhận thân xác đã chết của Đức Giê-su (Ga 19, 38-40)
7. Đức Mẹ ở bên mộ Đức Giê-su (Ga 19, 41-42)

« Bảy Sự » trải dài suốt cuộc đời làm Mẹ của Đức Maria. Tất cả đều có liên quan đến Đức Giê-su, con của Mẹ, và đều hướng về mầu nhiệm Thập Giá của Người; một cách chụ thể, trong bảy Sự, có đến bốn Sự thuộc về mầu nhiệm Thương Khó. Như thế, cả cuộc đời của Mẹ hướng về mầu nhiệm Thập Giá, đồng hành với Đức Giê-su vác Thập Giá, hiện diện và đứng vững dưới chân Thập Giá trong thinh lặng, để chiêm ngắm, lắng nghe và “ghi nhớ tất cả mọi biến cố và suy đi nghĩ lại trong lòng”. Vì vậy, Mẹ hiểu mầu nhiệm Thập Giá và mầu nhiệm Phục Sinh hơn ai hết.

Chúng ta hãy xin mẹ dạy chúng ta biết nhìn ngắm cuộc Thương Khó của Đức Ki-tô, với ánh mắt và con tim của Mẹ. Xin Mẹ cầu bầu cho chúng ta, để chúng ta cũng được ơn « đứng vững » dưới chân Thập Giá như Mẹ Maria. Xin Mẹ đồng hành với chúng ta, để cũng như Mẹ, chúng ta nhận ra và đón nhận Chân Dung Rạng Ngời của Đức Giê-su, Con của Mẹ, để chúng ta trở thành Con Thiên Chúa, người thân của Đức Ki-tô, Con của Mẹ và anh chị em của nhau, như thánh Gioan nói : « Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa ».

* * *

Chúng ta hãy hình dung hành trình vác Thập Giá của Đức Ki-tô và Đồi Sọ, nơi Người « trở nên một » với Thập Giá cho đến khi « mọi sự đã hoàn tất ». Và xin Thánh Thần của Chúa giúp chúng ta ra khỏi mình để chiêm ngắm Đức Giê-su vác Thập Giá, soi sáng lòng trì chúng ta để nhận ra và cảm nếm tình yêu đến cùng của Đức Giê-su ; xin Thánh Thần làm con tim chúng ta bừng cháy lòng yêu mến « Đức Ki-tôi chịu đóng đinh » và ước ao trở nên một với Người. Ở mỗi chặng (có bảy chặng), chúng ta có thể dâng lên Chúa một ước ao đặc biệt.

1. Chặng thứ nhất (c. 17-18): Đức Giêsu vác Thập Giá

a. Đức Giê-su vác Thập Giá

Thánh sử Gio-an kể về hành trình vác Thập Giá của Đức Giê-su rất ngắn gọn, nhưng trong thực tế chắc chắn đã diễn ra rất dài, vừa theo nghĩa thời gian, vừa theo nghĩa nặng nhọc, đau đớn : « Chính Người vác lấy Thập Giá đi ra ». Cây Thập Giá là dụng cụ hành hình và kẻ bị hành hình phải tự vác lấy. Chúng ta có thể nghiệm ra tình trạng bị bỏ rơi tận căn của Đức Giê-su : kiệt sức và sắp phải chết, nhưng không được phép nhận bất cứ sự giúp đỡ nào. Điều này càng trở nên triệt để, khi Đức Giê-su là Đấng Vô Tội. Nhưng cây Thập Giá, đối với chúng ta còn mang nhiều ý nghĩa khác, như Đức Giê-su từng nói : « Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo » (Mc 4, 34). Vậy, chúng ta hãy dành nhiều thời giờ để suy xét về ý nghĩa của Thập Giá, Thập Giá của Đức Ki-tô và « thập giá mình ».

Tuy nhiên, chúng ta được mời gọi ngang qua lời kể này của Thánh Sử Gioan : « Chính Người vác lấy Thập Giá đi ra », nhận ra sự chủ động của Đức Giê-su, và nhớ lại một câu nói của Người khi giảng dạy ở Biển Hồ : « Các người nghe đây, người gieo giống đi ra gieo giống » (Mc 4, 3), hay nhớ lại lời ca tụng Thiên Chúa của sách Thánh Vịnh, khởi đi công trình sáng tạo :

Thái dương xuất hiện như tân lang rời khỏi loan phòng,
và vui sướng lên đường như tráng sĩ.
Từ chân trời này, thái dương xuất hiện,
rồi chuyển vần mãi đến chân trời kia,
chẳng có chi tránh khỏi ánh dương nồng.
(Tv 19, 6-7)

Thực vậy, nơi mầu nhiệm Thập Giá, Đức Ki-tô không chỉ gieo hạt giống Lời Chúa, nhưng còn gieo Hạt Giống Chính Mình, để để chinh phục con tim của chúng ta, để đụng chạm đến mọi sự, hoàn tất mọi sự và làm sinh hoa kết quả Sự Sống gấp trăm.

b. Đức Giê-su bị đóng đinh vào Thập Giá

Đến đồi Golgotha (tiếng Do-thái là cái sọ), họ đóng đinh Người vào Thập Giá : vừa nãy, Người vác Thập Giá, nhưng giờ đây ở cuối chặng đường, Người như trở nên một với Thập Giá. « Người như trở nên một với Thập Giá » là hình ảnh mà chúng ta vẫn nhìn thấy, nhưng không « ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng », để hiểu và cảm điều Thiên Chúa muốn bày tỏ cho chúng ta. Cây Thập Giá là dụng cụ hành hình tử tội, là biểu tượng của Tội, nhưng Thánh Phao-lô lại nói :

– Đức Giêsu tự nguyện trở thành « đồ bị nguyền rủa , vì có lời chép: Đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ! » (Gl 3, 13).

– Ngài lại tự nguyện trở nên “giống như thân xác tội lội” (Rm 8, 3).

– Ngài “đồng hóa mình với tội” (2 Cr 5, 21)

Chúng ta có thể dừng lại thật lâu ở cảnh đóng đinh này, để nhìn, nghe và quan sát. Tin Mừng chỉ kể có một câu, nhưng trong thực tế, chắc chắn là không quá nhanh : « tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá ». Hơn nữa, chúng ta cũng được mời gọi cảm nếm và đụng chạm nữa, vì chắc chắn có nhiều cảm xúc nơi nội tâm người đóng đinh, người bị đóng đinh và người xem cảnh người đóng đinh người. Ơn gọi của con người là làm con Thiên Chúa, qua đó hiệp nhất với nhau trong tình huynh đệ, nhưng ở đây, chúng ta chứng kiến con người sống theo thú tính : con người hành hạ và loại trừ con người, con người hành hạ và loại trừ người vô tội. Điều này không chỉ xẩy ra hôm qua, nhưng còn xẩy ra hôm nay và còn trong tương lai.

Họ cũng đóng đinh hai tử tội khác nữa, một bên phải và một bên trái : « tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giê-su thì ở giữa ». Như thế, Đức Giê-su không chỉ làm bạn và ăn uống với những người thu thuế và những người tội lỗi ; nhưng Ngài còn đi xa hơn: bị lên án và hành quyết như là tử tội và ở giữa các tử tội. Khi chúng ta chiêm ngắm Đức Giê-su chịu đóng đinh, chúng ta đừng quên hai người tử tội ở hai bên. Hình ảnh này nói với chúng ta điều gì? Có khi nào chúng ta ghi ngờ lòng thương xót, chúng ta hãy trở lại với hình ảnh này.

Trong cầu nguyện, khi chiêm ngắm thân xác càng ngày càng nát tan của Đức Giê-su trên thập giá, xin cho chúng ta nhận ra Dung Ngan Rạng Ngời của Người, Thánh Tâm của Người, sự khôn ngoan và sức mạnh của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi Người. Vì đó chính là nguồn sống, nền tảng và niềm hi vọng của hành trình đức tin đi theo Đức Ki-tô trong một ơn gọi, nhất là ơn gọi đời sống Thánh Hiến.

2. Chặng thứ hai (c. 19-22): INRI (Iesus Nazarenus Rex Iudaeorum)

Bản án được viết bằng ba thứ tiếng : Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp. Sự kiện này nói lên chiều kích phổ quát của biến cố Thập Giá, nghĩa là Thập Giá vươn xa, rộng và đụng chạm đến mọi sự, vừa về phương diện không gian và thời gian và vừa về phương diện căn tính, thân phận và ơn gọi của con người ; như Thánh Phao-lô xác tín : gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo, sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, trời cao hay vực thẳm… (x. Rm 8, 35-39); hay như lời nguyện Thánh Vịnh diễn tả: “Chẳng có chi tránh được ánh dương nồng!” (Tv 19, 7)

Nhưng đâu là thâm ý của quan Phi-la-tô, khi cho biết bản án này? Và đâu là ý nghĩ của các thượng tế khi để nghị sửa lại ?

Các thượng tế của người Do-thái nói với ông Phi-la-tô: “Xin ngài đừng viết: Vua dân Do-thái, nhưng viết: Tên này đã nói: Ta là Vua dân Do-thái”.

Ông Phi-la-tô trả lời: “Ta viết sao, cứ để vậy!” (c. 21-22)

Chữ INRI hẳn là quan trọng, vì mãi mãi gắn liền với Thập Giá Đức Ki-tô; và hơn nữa có cả một lịch sử: Triều Đại Đa-vít được sứ thần nói tới khi truyển tin cho Đức Maria; người ta muốn Đức Giê-su làm vua (x. Ga 6), quan Phi-la-tô chất vấn về Vương Triều của Ngài; người ta chế nhạo Đức Giê-su như là Vị Vua, và cuối cùng người ta đóng đinh Ngài với bản án INRI. Chữ INRI được con người dùng để diễu cợt, nhưng Chúa dùng để bày tỏ chính mình, và cách ngài làm vua, giống như lính Roma nhạo báng Chúa, trước khi đem đi đóng đinh.
Trên Thập Giá, Đức Giê-su không giảng dạy bằng lời, nhưng chữ INRI có thể được coi là một lời giảng của Ngài, vì dòng chữ này nói lên cách Đức Giêsu làm Vua Dân Do Thái và Vua loài người. Khi người ta đã từng muốn tôn Đức Giêsu lên làm vua theo kiểu Vua Chúa trần gian, thì Ngài không chịu; nhưng khi người ta muốn bắt và đóng đinh Ngài trên Thập Giá, và dùng danh hiệu « Vua Dân Do Thái » để nhạo báng, thì Ngài lại chịu. Tại sao vậy?

Bởi vì, Đức Giêsu không muốn làm vua theo kiểu loài người, bắt người khác phải phục vụ và trao ban; Người muốn làm vua theo cách thức của Thiên Chúa, đó là phục vụ và trao ban chính mình cho muôn người.

3. Chặng thứ ba: Chia y phục (c. 23-24)

Sau đó, họ chia nhau và bắt thăm y phục của Người. Theo các nhà chuyên môn, luật Roma cho phép làm điều này, nghĩa là chia nhau “của cải” người tử tội để lại. Nhóm trực tiếp thi hành hình phạt đóng đinh có bốn người:

– “Áo xống”, nghĩa là áo bên ngoài: họ chia làm bốn phần (khi rửa chân cho các môn đệ, Đức Giê-su đã bỏ áo bên ngoài ra).

– Áo dài của Đức Giê-su, chính là áo bên trong: họ bắt thăm, vì là một tấm vải dệt, không có đường khâu.
Chúng ta không cần biết hết và biết chính xác mọi chi tiết liên quan đến các loại áo; nhưng chúng ta được mời gọi chiêm ngắm biến cố, hiểu ý nghĩa và để cho mình được đánh động. Chiếc áo tượng trưng cho nhân phẩm, như người cha nói với người con trở về: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu” (Lc 15, 22) : lúc rửa chân cho các môn đệ, Đức Giêsu đã cởi áo ngoài, bây giờ thì cho luôn và cho tất cả, áo ngoài lẫn áo trong (x. Mt 4, 40). Như thế, Đức Giê-su thực sự chẳng còn gì, trao ban sự sống và trao luôn danh dự! Theo vẻ bề ngoài trên Thập Giá, Đức Giêsu mất hết phẩm giá, nhưng một cách nghịch lí và mầu nhiệm trong cùng một biến cố, phẩm giá thần linh của Người lại được “hiển dung”. Chúng ta hãy xin ơn được nhận ra và rung cảm trước phẩm giá thần tính rạng ngời của Đức Giê-su trên thập giá. Và theo lời kể của thánh sử Gioan, biến cố chia áo không hề là một chi tiết nhỏ, vì điều này làm ứng nghiệm lời Kinh Thánh:

Áo mặc ngoài chúng đem chia chác,
còn áo trong cũng bắt thăm luôn. 
(Tv 22, 19)

Theo lời nguyện của Thánh Vịnh 22, hành vi chia áo cũng là hành vi cuối cùng của cuộc rượt bắt và bách hại người vô tội; và tiếp theo, sẽ là hành động kết liễu (x. Tv 22, 20-22). Đó chính là cách Ngài “hoàn tất” nỗi thống khổ của Dân Chúa được kể lại trong Kinh Thánh và của cả loài người: “hoàn tất” là mang tất cả vào thân mình để đưa vào cung lòng của Thiên Chúa Cha, nguồn Tình Yêu và Sự Sống, với tư cách là Con yêu dấu duy nhất, là Ngôi Lời.

Chúng ta đừng quên nhìn, nghe và cảm với đôi mắt, đôi tai và con tim của Mẹ Maria, khi chứng kiến cảnh chia áo này, chiếc áo mà chính mẹ đã dệt với lòng tin, lòng mến và niềm hi vọng.

4. Chặng thứ tư: Sự sống mới (c. 25-27)

Chúng ta hãy dừng lại bao lâu có thể, để nhìn ngắm Đức Giêsu đang hấp hối, đúng hơn là đang trao ban sự sống, đang thể hiện tình yêu đến cùng; chiêm ngắm cộng đoàn nhỏ bé dưới chân Thập Giá, đại diện cho Giáo Hội và nhân loại mới, đau khổ, nhưng được Đức Ki-tô chịu đóng đinh giang tay bao bọc, mang lấy, cưu mang và làm hồi sinh cho sự sống mới.

Trong cộng đoàn này, chúng ta chú ý đặc biệt đến Mẹ Maria, nhưng cũng đừng quên để ý tâm tình của người môn đệ “Đức Giê-su thương mến” và những bà khác, nhất là Maria Magdala, được chữa lành khỏi bảy quỉ. Mẹ có sầu bi, như người ta vẫn nói, hay như chúng ta hình dung không? Tư thế “đứng” nói cho chúng ta điều gì? Chúng ta nên đi lại hành trình của Mẹ Maria, từ biến cố “Truyền Tin”, để hiểu được tại sao Mẹ đứng vững, không còn “cực lòng” như xưa (Lc 2, 48). Chúng ta cũng cần đi theo Đức Kitô như Mẹ, để có thể đứng vững dưới chân Thập Giá. Đấng Sáng Lập Dòng Đức Mẹ Đồi Can-vê, chân phước Pierre Bonhomme (1803-1861), nói : « Từ gốc cây Thập Giá, phát sinh những điều lớn lao ».

Không cần phải đợi đến biến cố phục sinh, nhưng ở tột đỉnh của sự trao ban, nghĩa là trao ban đến không còn gì, đến tận cùng, chúng ta được mời gọi nhận ra sự sống mới phát sinh, phát sinh gấp trăm thật đồi dào, phát sinh từ Lời sự sống của Đức Giêsu được thốt lên ngay nơi chết chóc và vào lúc Ngài đang chết đi:

– Đức Giê-su trao ban sự sống, thay vì đang bị lấy đi sự sống.

– Ngài cũng trao ban luôn Người Mẹ và Người Môn Đệ Ngài thương mến, vốn là hình ảnh của tất cả các môn đệ thuộc mọi thời.

Và như thế, một Gia Đình mới phát sinh. Thực vậy, Đức Giê-su, nhìn Mẹ, và nói: “Thưa Bà, đây là con của Bà”. Chúng ta hãy dừng lại để cảm nếm lời của Đức Giê-su nói với Mẹ của Người: “con của Bà”. Như thế, chính lúc Mẹ đang mất đi người con này, mẹ trở thành Mẹ của người con khác; và từ người con này, dưới sức mạnh của Đấng Phục Sinh, sẽ trở thành đông đúc, trong đó có cả con trai lẫn con gái! Chính lúc Mẹ bình an dâng hiến người con Duy Nhất, Mẹ nhận lại gấp trăm, nơi “Người Môn Đệ Đức Giê-su thương mến”. Và Mẹ cũng không mất đi Người Con Duy Nhất của Mẹ, vì Ngài sẽ chiến thắng sự chết và hiện diện luôn mãi ở nơi anh chị em mới của Ngài.

Rồi Ngài nói với người môn đệ: “Đây là mẹ của anh”. Đó là quà tặng tuyệt vời mà Đức Giê-su đang chịu chết ban cho người môn đệ, đại diện cho Giáo Hội đang được cưu mang: các môn đệ có cùng một Mẹ với Thầy Giê-su, và vì thế, trở thành anh em của nhau. Sau này, Đấng Phục Sinh sẽ nói: “Thiên Chúa của thầy của là Thiên Chúa của anh em; Cha của thầy, cũng là Cha của anh em” (Ga 20, 17). Đó chính là hành trình của hạt lúa mì, là kinh nghiệm « đảo ngược » (renversement) : cho đi → nhận lại, nhỏ bé → lớn lao, ngỏ cụt → đường đi, tan biến → sinh sôi, sự chết → sự sống… Như thế mầu nhiệm Thập Giá giúp chúng ta hiểu nhiều lời nghịch lí của Đức Giêsu. Xin cho chúng ta có được « kinh nghiệm đảo ngược » với niềm vui (x. Thông điệp Evangelii Gaudium của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô và Tông Thư về Năm Đời Sống Thánh Hiến), khi đi theo Đức Ki-tô trong ơn gọi mà Chúa ban cho mỗi người chúng ta, ở giữa bối cảnh xã hội và thế giới hôm nay.
Từ hi sinh Thập Giá, giữa cơn thử thách, ngay trong sự chết, một nhân loại mới phát sinh: những gì của con là của Mẹ; những gì của Thầy là của anh. Cái chết của Đức Giêsu đã làm phát sinh sự sống: Mẹ trở thành Mẹ của Người Môn Đệ Đức Giê-su yêu mến, đại diện cho tất cả các môn đệ thuộc mọi thời; khi dâng hiến người con duy nhất, Mẹ không mất đi, nhưng nhận lại Ngài nơi các môn đệ, nơi cả một đàn con đông đúc. Bởi vì, Đức Giê-su sẽ đi vào sự sống mới và hiện diện bên cạnh, ở giữa và bên trong các môn đệ nam nữ của Ngài ở mọi thời.

Và theo lời kể của Thánh Sử Gioan: “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình”. Như người môn đệ “được Đức Giê-su thương mến”, chúng ta được mời gọi đón nhận quà tặng tuyệt vời, mà Đức Ki-tô chịu đóng đinh ban tặng cho chúng ta, để thể hiện tình yêu đến cùng của Người. Chúng hãy rước Mẹ về “Nhà” chúng ta, vào nội tâm, cuộc đời và đời sống chung của chúng ta. Và chúng được mời gọi yêu mến Mẹ, bởi vì, chúng ta không thể yêu Con mà không yêu Mẹ, và không thể yêu Mẹ mà không yêu Con.

5. Chặng thứ năm: Mọi sự đã hoàn tất (c. 28-30)

Chúng ta hãy xin được cảm nhận sự bình an thiêng liêng của Đức Giê-su ngay trong đau khổ tột cùng về thể xác và tinh thần; Ngài đảm nhận cách tự do tất cả những gì tồi tệ nhất mà con người dành cho Ngài. Điều này được diễn tả cách đặc biệt từ chặng thứ tư.

Vì thế, theo lời kể của Thánh Sử Gioan, câu nói cuối cùng của Ngài là: “Đã hoàn tất”, chứ không phải là những thử thách, thử luyện, kiểm chứng hay là những hình phạt bởi tội, hoặc những điều không đáng có đã xong rồi, hết rồi, qua rồi. “Mọi sự đã hoàn tất”, lời này nhắc nhớ ngày thứ bảy sáng tạo, ngày đó « Thiên Chúa hoàn thành mọi công trình » (St 2, 1-4a). Câu nói cuối cùng này của Đức Giê-su trên thập giá diễn tả sứ mạng của Ngài, với tư cách là Con Thiên Chúa, đã hoàn tất mĩ mãn. Chúng ta hãy cảm nhận niềm vui sâu xa của Đức Giê-su, như Đức Mẹ chắc chắn đã nghe được và cảm được ; tương tự như khi chúng ta hoàn thành một việc lớn khó khăn mà mình gắn bó và tha thiết.

Như thế, mọi đau khổ Ngài đã chịu đều mang ý nghĩa, và là hành trình, là đường đi để “hoàn tất mọi sự”. Thương khó và Thập Giá là hành động và là tội của những con người cụ thể, và đàng sau họ là chính Satan, như ông Giuse nói với các anh: “sự ác các anh làm cho tôi”, nhưng Thiên Chúa lại dùng như là con đường, là cách thức để “hoàn tất mọi sự”. Nhưng mọi sự được Người hoàn tất là những gì?

Thánh sử Gioan nói: “Đức Giêsu biết rằng mọi sự đã hoàn tất”. Ngài đã sống cuộc Thương Khó với tất cả tự do, ý thức và sự chủ động; vì thế mà “chính Ngài đã vác lấy Thập Giá đi ra”. Ngài ý thức rất rõ mình đang hoàn tất “mọi sự” mà việc trung tín với kế hoạch của Thiên Chúa đòi hỏi. Mọi sự là những gì?

– Đó là điều Ngài vừa làm, thiết lập Gia Đình mới, trên nền tảng tương quan mới giữa Đức Maria và người môn đệ Ngài thương mến.

– Đó là cuộc Thương Khó, và toàn bộ hành trình làm người của Người, hướng tới mầu nhiệm Vượt Qua.

– Đó là toàn bộ Kinh Thánh, kể lại lịch sử cứu độ, vốn là hình ảnh của lịch sử loài người và từng người, trong đó diễn ra những thăng trầm thuộc thân phận, số phận con người, trong dó có tội và sự dữ.

Điều này giúp chúng ta cảm nhận được tâm tình sâu xa của Đức Giê-su, khi Ngài nói : « Ta khát » ; Ngài khát mong cho lời Kinh Thánh được hoàn tất (x. Ga 19, 28 ; Tv 69, 22) và Ngài cũng khát mong cho toàn bộ Kinh Thánh được hoàn tất, cho sáng tạo và lịch sử của loài người và của từng người chúng ta được hoàn tất. Vì thế, câu nói của Đức Giê-su : “Tôi khát” (Tv 69, 22 và Tv 22, 16), mang nặng ý nghĩa : khát Thiên Chúa (x. Tv 42 và 63 : « tâm hồn con khát Ngài, Lạy Chúa »), cơn khát bày tỏ ngôi vị của mình, như cơn khát xưa kia của Người bên bờ giếng Giacóp ở Samari (ở đó, không chỉ là cơn khát thể lí), khát mong cho tất cả Kinh Thánh được hoàn tất, khát mong cho công trình của Thiên Chúa được thực hiện, nghĩa là mọi người tin vào Đấng Cha sai đến, cho Thần Khí lan tràn trong lòng và trong nhóm những người tin Chúa… Hiểu như thế, chúng ta được mời gọi nhận ra rằng, không phải quân lính chế diễu bằng cách cho Người uống dấm chua, nhưng làm theo lời người, khi nghe Người thốt lên trên Thập Giá « Ta khát », và không phải Người trút hơi thở cuối cùng, những là trao banThần Khí. Thật vậy, rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.

Gục đầu, rồi trao Thần Khí ! Thay vì, bình thường, người ta trút hơi thở cuối cùng, rồi mới gục đầu. Khi tường thuật cái chết của Đức Giê-su như thế, thánh sử Gioan muốn cho chúng ta nghiệm ra rằng, Đức Giê-su chủ động trao ban sự sống, thần khí. Như thế, ơn huệ Thánh Thần chính là hoa trái đầu tiên của hành trình Ngài trở về cùng Cha ; và người nhận được đầu tiên là Đức Maria và « Người môn đệ được Đức Giê-su thương mến », Hai Đấng hiện diện dưới chân Thập Giá làm nên hình ảnh diễn tả chính Giáo Hội.

Xin cho lời của Đức Giêsu « mọi sự đã hoàn tất », được ứng nghiệm nơi cuộc đời mỗi người chúng ta, nơi ơn gọi Chúa ban cho chúng ta, trong cộng đoàn và trong Hội Dòng của chúng ta.

6. Chặng thứ sáu: Máu cùng nước chảy ra (Ga 19, 31-34)

Sau đó, theo lời kể của Thánh Sử Gioan, “Khi quân lính đến gần Đức Giêsu, và thấy Ngài đã chết, họ…”. Tuy là câu phụ, nhưng xác thực một biến cố quan trọng: Chúa đã chết, chết thực sự và được xác nhận. Thánh Mác-cô đặc biệt nhấn mạnh sự kiện này (x. Mc 15, 42-47). Biến cố mai táng được kể lại, chính là để củng cố thêm biến cố này.

Nhưng tại sao lại phải xác nhận và củng cố sự kiện Đức Giê-su đã chết? Cái chết của Đức Giêsu làm cho thành sự tất cả những gì Ngài đã nói và đã làm: đừng chống lại kẻ dữ, chiên vào giữa bầy sói, hãy yêu thương kẻ thù, không có tình yêu nào lớn hơn, Ngài đã liên đới với những người đau khổ, Ngài đã muốn trao ban chính bản thân Ngài làm lương thực cho chúng ta qua bí tích Thánh Thể, Ngài đã rửa chân cho các môn đệ…
Rộng lớn hơn nữa, cái chết của Đức Giêsu còn làm cho thành sự toàn bộ Kinh Thánh, nghĩa là lịch sử cứu độ: Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa không bủn xỉn, không tính toán hay muốn sòng phẳng, nhưng muốn cho đi tất cả, và cho đi chính bản thân mình một cách hoàn toàn nhưng không. Nhưng như hạt lúa mì, Đức Giêsu chết, nhưng không phải là hết, bởi vì Thiên Chúa mạnh hơn sự chết, nếu không Thiên Chúa không còn Thiên Chúa nữa. Và nếu Chúa không chết, thì làm sao chiến thắng sự chết? Trong kế hoạch của Thiên Chúa, cái chết là con đường dẫn đến sự sống mới, và đem lại sự sống mới cho muôn người.

Quân lính đập gãy chân để cho chết, nếu người bị hành hình chưa tắt thở. Nhưng Đức Giêsu đã tắt thở rồi, nghĩa là Ngài đã trao ban “thần khí”, chứ không phải bị lấy đi. Và lưỡi đòng đâm vào lồng ngực là cho chắc chắn, chứ không để giết chết, nhưng lại là hình ảnh mang đầy ý nghĩa:

– Máu tượng trưng cho sự chết, và cũng chứng thực mầu nhiệm nhập thể: Con Thiên Chúa thực sự làm người và đã chết.

– Nước tượng trưng cho Thần Khí (nước rửa tội). Để trao ban Thần Khí, Đức Giêsu phải đổ máu. Và thần khí sẽ làm phát sinh hoa trái Cây Thập Giá và dẫn chúng ta vào trong tất cả sự thật của Đức Ki-tô (x. 1Ga 5, 6-8). Và như Đức Giê-su đã nói với người phụ nữ Samari rằng, Thiên Chúa tìm kiếm những người thờ phượng Người trong thần khí và sự thật (x. Ga 4)

Chúng ta hãy chiêm ngắm cảnh tượng này, nhất là mỗi khi chúng ta nghi ngờ tình yêu Thiên Chúa, để cảm nghiệm được điều mà thánh Gioan đã nói trong bữa tiệc li: “Đức Giêsu yêu những người thuộc về Ngài đến cùng.”

7. Chặng thứ bảy: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu” (Ga 19, 35-42)

a. Hình ảnh của Tội và Sự Dữ

Khi nhìn lên Thập Giá, chúng ta thường bị cuốn hút vào một mình Chúa với sự đau đớn thể xác. Nhưng thánh Gioan muốn nhấn mạnh hình ảnh của “Đấng, họ đã đâm thâu”, muốn chúng ta nhìn thân thể nát tan và bị đẩm thủng của Đức Giê-su do hành động của “họ”, nhìn ra hình dạng thật sự của Tội và Sự Dữ hiện hình nơi Đức Ki-tô chịu đóng đinh.

Đức Giê-su để cho mình bị treo trên thập giá, được đặt trên đồi cao, thân thể nát tan, chính là để chúng ta nhìn thấy những điều thật hữu hình, thật cụ thể, đập vào mắt loài người chúng ta. Chúa muốn chúng ta nhìn thấy những gì loài người chúng ta đã làm cho Chúa, và vẫn còn đang làm cho Chúa qua thân thể của Ngài là những còn người bé nhỏ, bất hạnh, bị bỏ rơi, chịu thiệt thòi vì hoàn cảnh, chịu thiệt thòi ngay khi sinh ra (mù, điếc, khiếm khuyết, tâm thần), người nghèo, người vô tội…

Thực vậy, thánh Phaolô nói, Ngài lại tự nguyện trở nên “giống như thân xác tội lội” (Rm 8, 3) ; và Ngài “đồng hóa mình với tội” (2Cr 5, 21 và Gl 3, 13). Tội có bản chất là ẩn nấp, khó nắm bắt, giống như con rắn, nhưng đã phải hiện ra nguyên hình nơi thân xác nát tan của Đức Kitô. Thánh Giá Đức Kitô mặc khải cho loài người chúng ta hình dạng thật của Tội. Chúng ta được mời gọi nhìn lên:

– thân thể nát tan vì roi vọt, kết quả của lòng ghen ghét, của sự phản bội, của sự bất trung, và của vụ án gian dối;

– đầu đội mạo gai, tượng trưng cho những lời nhạo báng, diễu cợt trên ngôi vị;

– chân tay bị đanh đâm thủng và ghim vào giá gỗ, cho thấy con người đã đánh mất nhân tính, và hành động theo thú tính;

– và vết thương sau cùng: lưỡi đòng đâm thấu con tim: bạo lực của con người đã đi tới tận cùng, và tất yếu là như vậy. Sự dữ luôn muốn đi tới tận cùng.

b. Công lí của con người

Ngoài ra, chúng ta còn được mời gọi nhìn lên cây giá gỗ, trên đó Đức Giêsu chịu đóng đinh, là một dụng cụ thi hành công lí của Lề Luật. Thập giá là hình phạt tiêu biểu mà Lề Luật dành cho người phạm trọng tội. Vì thế, thập giá là biểu tượng cho công lí của con người. Thế mà, người chịu đóng đinh là chính Đức Giêsu, Đấng hoàn toàn vô tội, Đấng công chính hoàn hảo; vì thế, sự công chính của con người chỉ là giả tạo, gian dối và chỉ có vẻ bề ngoài.

THẬP GIÁ ĐỨC KI-TÔ và SỰ DỮ

Thập Giá mời gọi chúng ta không kết tội Chúa cho dù Sự Dữ ngang qua những con người cụ thể kết tội Chúa, vì Chúa vô tội, và cũng không kết tội loài người và chính mình, khi hiểu Chúa phải « chịu tội » thay cho chúng ta. Và chúng ta cũng không kết tội bản thân mình và những người khác, và không « kết tội », nghĩa là kêu trách, cả Chúa nữa, khi chính chúng ta, người khác, nhất là những người thân yêu gặp thử thách và tai họa. Bởi vì

– Kết tội tự nó là điều dữ. Khi kết tội Đức Ki-tô, Sự Dữ bị lộ nguyên hình, trong mức độ nó tự cho thấy kết tội là điều dữ ; tội ở nơi người kết tội, chứ không phải nơi người bị kết tội.

– Và cho dù mình và người khác đáng bị kết tội, thì nơi cuộc Thương Khó, Chúa đã mang hết tội lỗi của loài người chúng ta vào mình rồi với lòng bao dung, và Người ban sự công chính của Người cho chúng ta, để chúng ta đừng kết tội mình và kết tội nhau : « Trong Đức Ki-tô, không còn lên án nữa » (Rm 8, 1)

c. Ơn tha thứ và ơn chữa lành

Chúa muốn cho chúng ta nhìn thấy nơi Thập Giá, hình thù rất thật và rất cụ thể của SỰ DỮ và TỘI LỖI. Nhưng thay vì bị lên án, loài người chúng ta được mời gọi nhìn lên Đấng Chịu Đinh với lòng tin để đón nhận ơn tha thứ và được chữa lành.

Ơn tha thứ. Thánh Giá, chính là lời diễn tả tình yêu thương xót nhưng không của Thiên Chúa. Vì thế, khi nhìn lên Thập Giá Đức Kitô, chúng ta còn được mời gọi nghiệm được tình yêu nhưng không và thương xót của Thiên Chúa, một tình yêu có thể chịu đựng mọi tội lỗi của con người đến như thế trên Thập Giá.

Ơn chữa lành bởi cây Thập Giá. Thập Gía mặc khải cho con người bản chất của Tội, nhưng không phải là để lên án con người, mà là để cứu sống con người. Thiên Chúa không thể tha thứ cho con người mà không đồng thời chữa lành, bằng cách làm cho con người nhìn ra tội. Đó là trường hợp của Giuse với các anh của mình trong sách Sáng Thế: “Đừng sợ! Tôi đâu có thay quyền Thiên Chúa! Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt, để thực hiện điều xảy ra hôm nay, là cứu sống một dân đông đảo” (St 50, 19-20)

Ơn chữa lành khỏi vẻ bề ngoài. Sâu rộng hơn, nơi Thập Gía, Đức Kitô muốn giải thoát chúng ta một cách chính xác khỏi sự công chính, đến từ chính chúng ta, dựa vào việc giữ Luật; bởi vì sự công chính này, xét cho cùng chỉ có vẻ bề ngoài, không đụng chạm và không thể đụng chạm đến chốn sâu thẳm và thầm kín của đời người và của nội tâm. Và Ngài muốn trao ban cho chúng ta sự công chính của chính Ngài, sự công chính đích thật của con Thiên Chúa. Như thánh Phao-lô đã xác tín: “Tuy nhiên, vì biết rằng con người được nên công chính không phải nhờ làm những gì Luật dạy, nhưng nhờ tin vào Đức Giê-su Ki-tô, nên chúng ta cũng tin vào Đức Ki-tô Giê-su, để được nên công chính, nhờ tin vào Đức Ki-tô, chứ không phải nhờ làm những gì Luật dạy. Quả thế, không phàm nhân nào sẽ được nên công chính vì làm những gì Luật dạy.”(Gal 2, 16)

Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi. Tôi không làm cho ân huệ của Thiên Chúa ra vô hiệu, vì nếu người ta được nên công chính do Lề Luật, thì hoá ra Đức Ki-tô đã chết vô ích.
(c. 20-21)

Chữa lành khỏi hình ảnh sai lầm về Thiên Chúa. Trên tất cả, nơi thập giá của Đức Kitô, chúng ta được mời gọi nhìn ra khuôn mặt đích thật của chính Thiên Chúa. Thật vậy, Thập Giá muốn nói với chúng ta rằng thân phận con người không phải là một hành trình dẫn đến chỗ chết. Con người muốn vươn lên bằng Thiên Chúa, nhưng Con Thiên Chúa làm người và làm người đến tận cùng, để nói với chúng ta rằng, Thiên Chúa tạo dựng nên con người không phải để đầy đọa, thử thách và lên án, và thân phận con người, dù có như thế nào, là con đường dẫn đến Thiên Chúa, nguồn Sự Sống; như thánh Phaolô xác tín: “Không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa, được thể hiện nơi Đức Kitô chịu đóng đinh trên Thánh Giá”.

* * *

Ở biến cố tận cùng này, lại một lần nữa, sự ứng nghiệm của Lời Kinh Thánh được đặc biệt nhấn mạnh:

– Các việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập”, trích Tv 34, 21 và Xh 12, 46 (về chiên Vượt Qua).

– Lại có lời Kinh Thánh khác: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu”; thánh sử Gioan đã trích sách Dacaria 12, 10.

Một vài câu Kinh Thánh được trích dẫn, để mời gọi chúng ta nhận ra rằng, toàn bộ Kinh Thánh, nghĩa là lịch sử cứu độ, qua đó lịch sử cuộc đời của chúng ta được hoàn tất bởi mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô, như Đức Ki-tô Phục Sinh tuyên bố với các môn đệ:

Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng: tất cả những gì sách Luật Mô-sê, các Sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm. (Lc 24, 44)

d. Mai táng

Đi theo Đức Giê-su, có những môn đệ công khai và cũng có những môn đệ “ẩn danh”, đó là ông Gio-xếp và ông Ni-cô-đê-mô. Hai ông được Thánh Sử Gioan nêu danh ở đây, để nói với chúng ta rằng sự sống mới được lộ diện và trổ sinh, ngay từ cái chết của Chúa.

Đức Giê-su được mai táng, theo đúng tục lệ. Như thế, Ngài đã sống thân phận con người đến cùng, đến độ đi vào cõi chết như bất cứ ai trên cuộc đời này. Chúng ta có thể nhớ lại hình ảnh của La-da-rô đã chết và được Đức Giê-su cho hồi sinh; điểm khác biệt là, Ngài đi vào sự sống mới, chứ không phải trở lại sự sống này để chết một lần nữa như ông La-da-rô.

Đức Giê-su đã đi đến cùng trong thân phận con người: Người không chỉ chết, nhưng còn được mai táng, nghĩa là đi vào trong thế giới của những người chết. Đó chính là để đáp lại niềm hi vọng của chúng ta, niềm hi vọng được ghi khắc vào bản tính con người, đó là sự sống của con người quá kì diệu, và cái chết không thể mạnh hơn và kết liễu sự sống. Nếu không thân phận con người thật bi đát: có niềm hi vọng, nhưng chẳng giờ được lấp đầy.

Hình ảnh ngôi mộ mới diễn tả niềm hi vọng của con người và lời đáp của Thiên Chúa nơi Đức Giê-su Ki-tô: Người dẫn đầu những người chết hôm qua, hôm nay và ngày mai, để dẫn đầu những người được tái tạo dựng từ cõi chết, như “Trưởng Tử của một đàn em đông đúc”. Amen.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

 

 

Suy niệm Lời Chúa mỗi ngày Song ngữ

thapgiaCGS

 

Good Friday (April 14): “It is finished”

 

Gospel Reading: John 19:17-30 

“So they took Jesus, and he went out, bearing his own cross, to the place called the place of a skull, which is called in Hebrew Golgotha.  There they crucified him, and with him two others, one on either side, and Jesus between them.  Pilate also wrote a title and put it on the cross; it read, ‘Jesus of Nazareth, the King of the Jews’.  Many of the Jews read this title, for the place where Jesus was crucified was near the city; and it was written in Hebrew, in Latin, and in Greek.  The chief priests of the Jews then said to Pilate, ‘Do not write, The King of the Jews’, but, ‘This man said, I am King  of the Jews’.  Pilate answered, ‘What I have written I have written’. When the soldiers had crucified Jesus they took his garments and made four parts, one for each soldier; also his tunic.  But the tunic was without seam, woven from top to bottom; so they said to one another, ‘Let us not tear it, but cast lots for it to see whose it shall be’.  this was to fulfill the scripture. “They parted my garments among them, and for my clothing they cast lots”.  So the soldiers did this. But standing by the cross of Jesus were his mother, and his mother’s sister, Mary the wife of Clopas, and Mary Magdalene.  When Jesus saw his mother, and the disciple whom he loved standing near, he said to his mother, ‘Woman, behold, your son!’  Then he said to the disciple, ‘Behold, your mother!’  And from that hour the disciple took her to his own home.  After this Jesus, knowing that all was now finished, said (to fulfill the scripture), ‘I thirst’.  A bowl full of vinegar stood there; so they put a sponge full of the vinegar on hyssop and held it to his mouth.  When Jesus had received the vinegar, he said, ‘It is finished’; and he bowed his head and gave up his spirit”

Thứ Sáu t. Thánh   14-4  Mọi sự đã hoàn tất

 

Ga 19,17-30

17 Chính Người vác lấy thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Híp-ri là Gôn-gô-tha;18 tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giê-su thì ở giữa.19 Ông Phi-la-tô cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá; bảng đó có ghi: “Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái.”20 Trong dân Do-thái, có nhiều người đọc được bảng đó, vì nơi Đức Giê-su bị đóng đinh là một địa điểm ở gần thành. Tấm bảng này viết bằng các tiếng: Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp.21 Các thượng tế của người Do-thái nói với ông Phi-la-tô: “Xin ngài đừng viết: “Vua dân Do-thái”, nhưng viết: “Tên này đã nói: Ta là Vua dân Do-thái”.”22 Ông Phi-la-tô trả lời: “Ta viết sao, cứ để vậy! “23 Đóng đinh Đức Giê-su vào thập giá xong, lính tráng lấy áo xống của Người chia làm bốn phần, mỗi người một phần; họ lấy cả chiếc áo dài nữa. Nhưng chiếc áo dài này không có đường khâu, dệt liền từ trên xuống dưới.24 Vậy họ nói với nhau: “Đừng xé áo ra, cứ bắt thăm xem ai được.” Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn. Đó là những điều lính tráng đã làm.25Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la.26Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà.”27 Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình. 28 Sau đó, Đức Giê-su biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: “Tôi khát! “29 Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người.30 Nhắp xong, Đức Giê-su nói: “Thế là đã hoàn tất! ” Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.

Meditation: The cross brings us face to face with Jesus’ suffering. He was alone – all his disciples had deserted him except for his mother and three women along with John, the beloved disciple. And his death was agonizing and humiliating. Normally a crucified man could last for several days on a cross. Jesus’ had already been scourged, beaten with rods, and a crown of thorns pressed into his skull. It is no wonder that he died mid-afternoon. Pilate publicly heralded Jesus “The King of the Jews” as he died upon the cross, no doubt to irritate and annoy the chief priests and Pharisees.

 

Jesus was crucified for his claim to be King. The Jews had understood that the Messiah would come as their king to establish God’s reign for them. They wanted a king who would free them from tyranny and foreign domination. Many had high hopes that Jesus would be the Messianic king. Little did they understand what kind of kingship Jesus claimed to have. Jesus came to conquer hearts and souls for an imperishable kingdom, rather than to conquer perishable lands and entitlements.

We can find no greater proof of God’s love for us than the willing sacrifice of his Son on the cross. Jesus’ parting words, “It is finished!” express triumph rather than defeat. Jesus bowed his head and gave up his spirit knowing that the strife was now over and the battle was won. Even on the cross Jesus knew the joy of victory. What the Father sent him into the world to do has now been accomplished. Christ offered himself without blemish to God and he put away sin by the sacrifice of himself (see Hebrews 9:24-26).

 

Augustine of Hippo (354-430 A.D) comments on those who stood at the cross of Jesus:

“As they were looking on, so we too gaze on his wounds as he hangs. We see his blood as he dies. We see the price offered by the redeemer, touch the scars of his resurrection.  He bows his head, as if to kiss you.  His heart is made bare open, as it were, in love to you. His arms are extended that he may embrace you. His whole body is displayed for your redemption. Ponder how great these things are. Let all this be rightly weighed in your mind: as he was once fixed to the cross in every part of his body for you, so he may now be fixed in every part of your soul.” (GMI 248)

 

In the cross of Christ we see the triumph of Jesus over his enemies – sin, Satan, and death. Christian writers down through the centuries have sung the praises of the Cross of Christ. Paul the Apostle exclaimed, “But far be it from me to glory except in the cross of our Lord Jesus Christ” (Galatians 6:14).

Hear what Gregory Nazianzen (329-389 AD), an early church father and bishop of Constantinople, wrote about the triumph of Christ’s exaltation on the cross :

“Many indeed are the wondrous happenings of that time: God hanging from a cross, the sun made dark and again flaming out; for it was fitting that creation should mourn with its creator. The temple veil rent, blood and water flowing from his side: the one as from a man, the other as from what was above man; the earth shaken, the rocks shattered because of the rock; the dead risen to bear witness to the final and universal resurrection of the dead. The happenings at the sepulcher and after the sepulcher, who can fittingly recount them? Yet no one of them can be compared to the miracle of my salvation. A few drops of blood renew the whole world, and do for all men what the rennet does for the milk: joining us and binding us together. (On the Holy Pasch, Oration 45.1)

Rupert of Deutz (1075-1129), a Benedictine theologian and abbot, wrote:

“The cross of Christ is the door to heaven, the key to paradise, the downfall of the devil, the uplifting of mankind, the consolation of our imprisonment, the prize for our freedom.”

The Cross of Christ is the safeguard of our faith, the assurance of our hope, and the throne of love. It is also the sign of God’s mercy and the proof of forgiveness. By his cross Jesus Christ has pardoned us and set us free from the tyranny of sin. He paid the price for us when he made atonement for our sins. The way to peace, joy, and righteousness in the kingdom of God and the way to victory over sin and corruption, fear and defeat, despair and death is through the cross of Jesus Christ. Do you follow the Lord Jesus in his way of the cross with joy, hope, and confidence?

“Lord Jesus Christ, by your death on the cross you have won pardon for us and freedom from the tyranny of sin and death. May I live in the joy and freedom of your victory over sin and death.”

Suy niệm:  Thập giá đưa chúng ta đến đối diện với sự đau khổ của Đức Giêsu. Ngài cô đơn – tất cả các môn đệ đã lìa bỏ Người, ngoại trừ Mẹ Người, ba người phụ nữ và Gioan, người môn đệ được Chúa yêu. Cái chết của Người đầy đau khổ và nhục nhã. Thông thường, người bị đóng đinh có thể sống vài ngày trên thập giá. Đức Giêsu đã bị người ta lấy roi đánh đòn, bị lấy mão gai ấn vào đầu. Không lạ gì mà Ngài chết vào lúc giữa chiều. Philatô cách công khai đã tiên báo Đức Giêsu là “Vua dân Dothái” khi Người chết trên thập giá, rõ ràng điều này đã khiến cho các vị thượng tế và những người Pharisêu tức giận và bực bội.

 

Đức Giêsu đã bị đóng đinh vì lời tuyên bố mình là Vua. Người Dothái hiểu rằng Đấng Mêsia sẽ đến với tư cách là Vua để thiết lập vương quốc Thiên Chúa cho họ. Họ muốn một vị vua sẽ giải thoát họ khỏi ách thống trị của ngoại xâm. Nhiều người còn có cao vọng rằng Đức Giêsu sẽ là vị Vua Mêsia đó. Rất ít người hiểu được vương quyền mà Đức Giêsu đã tuyên bố. Đức Giêsu đến để chinh phục các tâm hồn cho một vương quốc bất diệt, hơn là chiếm hữu những vùng đất và quyền lực chóng qua.

Chúng ta không thể tìm được bằng chứng về tình yêu Thiên Chúa nào lớn hơn sự sẵn sàng hy sinh của Con Một của Chúa trên thập giá. Những lời vĩnh biệt của Đức Giêsu “Mọi sự đã hoàn tất!” diễn tả sự chiến thắng hơn là sự thất bại. Đức Giêsu đã gục đầu và trút hơi thở, biết rằng sự xung đột giờ đây đã chấm dứt và cuộc chiến đã thắng. Thậm chí trên thập giá, Đức Giêsu đã biết được niềm vui của sự chiến thắng. Điều mà Cha đã sai Người vào thế gian để thực hiện, giờ đây đã được hoàn tất. Đức Kitô đã hiến tế chính mình mà không ô danh cho Thiên Chúa, và Ngài đã tiêu diệt tội lỗi qua sự hiến tế chính mình (Hr 9,24-26).

Thánh Augustine (thế kỷ thứ 5) giải thích về những người đứng ở thập giá Chúa Giêsu rằng:

“Giống như họ nhìn lên, chúng ta cũng nhìn vào các vết thương của Ngài lúc bị treo. Chúng ta nhìn thấy máu Ngài khi Ngài chết. Chúng ta nhìn thấy cái giá phải trả bởi Đấng cứu chuộc, chạm vào những vết sẹo của Đấng phục sinh. Ngài cúi đầu như thể để hôn bạn. Trái tim Ngài được mở rộng ra, như nó từng mở, trong tình yêu đối với bạn. Cánh tay Ngài dang rộng để có thể ôm lấy bạn. Cả thân thể Ngài đều phơi bày cho sự cứu chuộc của bạn. Hãy suy gẫm những điều này thật lạ lùng biết bao. Hãy để cho tất cả những điều này đè nặng trong trí bạn: cũng như xưa kia Ngài đã chịu đóng đinh vào thập giá nơi mọi phần thân thể của Ngài cho bạn, thì hôm nay, Ngài cũng có thể chịu đóng đinh nơi mọi phần của linh hồn bạn.” (GMI 248)

Trong thập giá của Đức Kitô, chúng ta nhìn thấy sự chiến thắng của Chúa Giêsu trên các kẻ thù của Ngài: tội lỗi, Satan, và sự chết. Các văn sĩ Kitô giáo trải qua nhiều thế kỷ đã vang lên lời ca ngợi thập giá của Đức Kitô. “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6,14).

Hãy nghe những gì Gregory Nazianzen (329-389 AD), một giáo phụ và là Giám mục thành Constantinople, viết về sự chiến thắng khải hoàn của Ðức Kitô trên thập giá:

“Quá nhiều điều kỳ diệu xảy ra vào lúc đó: Thiên Chúa bị treo trên thập giá, mặt trời ra tối tăm và bốc cháy; vì thật xứng hợp để loài thụ tạo khóc thương Đấng tạo hóa của nó. Màn trong đền thờ xé ra làm hai, máu và nước chảy ra từ cạnh sường: một từ người, một từ Thiên Chúa; đất đai chuyển động, đá vỡ ra; người chết sống lại để làm chứng sự sống lại cuối cùng và phổ quát của người chết. Những điều xảy ra ở ngôi mộ và sau ngôi mộ, ai có thể kể lại chi tiết cách thích đáng về chúng? Nhưng không có gì trong đó có thể so sánh với phép lạ của sự cứu rỗi của tôi.  Một ít giọt máu đổi mới toàn thế giới, và cho tất cả mọi người như những gì chất men dịch vị làm cho sữa: nối kết chúng ta và hợp nhất chúng ta với nhau. (trích từ bài giảng lễ Phục sinh 45.1)

Tu viện trưởng Rupert thành Deutz (1075-1129), nhà thần học và Ðan viện trưởng dòng Biển Ðức, viết rằng:

“Thập giá Đức Kitô là cửa vào Thiên đàng, là chìa khóa vào Thiên đàng, là sự xụp đổ của ma quỷ, là sự đỡ nâng của con người, là sự an ủi của sự tù ngục của chúng ta, là phần thưởng cho sự giải thoát của chúng ta.”

Thập giá Đức Kitô là sự bảo vệ của đức tin, là bảo đảm của đức cậy, và là ngai tòa của đức mến. Nó cũng là dấu hiệu của lòng thương xót của Chúa và là bằng chứng của sự tha thứ. Qua thập giá, Chúa Giêsu đã cứu chuộc tội lỗi của chúng ta, và đền tạ cho hình phạt của chúng ta. Con đường đến bình an, niềm vui, và công chính trong vương quốc của Chúa và con đường đến chiến thắng trên tội lỗi, thất vọng, và cái chết đều ngang qua thập giá của Đức Giêsu Kitô. Bạn có sẵn sàng đi theo Chúa Giêsu trên con đường thập giá của Ngài, với niềm vui, hy vọng, và phó thác không?

Lạy Chúa Giêsu Kitô, bằng cái chết của Chúa trên thập giá, Chúa đã đem lại ơn tha thứ cho chúng con, và giải thoát chúng con khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết. Chớ gì con sống trong niềm vui và sự tự do nhờ cuộc chiến thắng của Chúa trên tội lỗi và sự chết.

Tác giả: Don Schwager
(http://dailyscripture.servantsoftheword.org/readings/)
Bro. Paul Thanh Vu – chuyển ngữ

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
Tin mới